We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 26 September 2010

Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt

Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi lượng huyết cầu tố trong máu thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng trong quá trình tạo máu.

Ở các nước đang phát triển, thiếu máu dinh dưỡng chủ yếu do thiếu sắt. Bệnh hay gặp ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và trẻ em làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người mẹ và giảm năng lực trí tuệ ở trẻ.

Ảnh hưởng của thiếu máu dinh dưỡng đến sức khỏe

- Ảnh hưởng tới khả năng lao động: Thiếu máu do bất kỳ nguyên nhân nào cũng gây tình trạng thiếu ôxy cao. Tình trạng thiếu máu làm năng suất lao động của người bệnh giảm, khi có tình trạng thiếu sắt nhưng chưa có bộc lộ thiếu máu cũng đã làm giảm khả năng lao động.

- Ảnh hưởng tới năng lực trí tuệ: Người thiếu máu thường có biểu hiện mệt mỏi, kém tập trung tư tưởng, mất ngủ, tình trạng dễ bị kích thích. Ở trẻ em, thiếu máu làm giảm năng lực trí tuệ, kết quả học tập giảm sút.

- Ảnh hưởng đến thai sản: Thiếu máu là tăng nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc các bệnh và tử vong, người mẹ dễ bị chảy máu thời kỳ hậu sản. Do vậy, thiếu máu dinh dưỡng được coi là một đe dọa sản khoa.

Chế độ ăn nhiều rau quả làm tăng khả năng hấp thu sắt.
Ảnh: TL
Vai trò của sắt trong cơ thể:

Sắt là thành phần quan trọng của huyết cầu tố, thu nhận ôxy để máu đưa đến nuôi dưỡng tế bào, đảm bảo sự sống cho cơ thể.

Trong thức ăn, sắt ở dưới 2 dạng:

+ Dạng trong thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt, cá, gan, trứng... khả năng hấp thu vào cơ thể cao (20-30%).

+ Dạng trong thức ăn có nguồn gốc thực vật như đậu, đỗ, rau lá có màu sẫm (rau muống, rau đay, rau ngót, rau dền) trong một số hoa quả như dưa hấu, đu đủ chín... khả năng hấp thụ vào cơ thể khoảng 5-10%.

Nhu cầu sắt: Sắt trong cơ thể rất ít, khoảng 2,5g ở nữ, 4g ở nam, nhưng có vai trò sinh học to lớn. Chuyển hóa sắt trong cơ thể gần như khép kín, cơ thể rất tiết kiệm sắt, nhưng hằng ngày vẫn bị hao hụt theo các đường khác nhau.

Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt

Ở người trưởng thành, lượng sắt mất đi mỗi ngày khoảng 0,9% ở nam 65kg và 0,8mg ở nữ 55kg.

Ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, lượng sắt mất theo chu kỳ kinh nguyệt trung bình mỗi ngày 1,25mg và có khoảng 5% phụ nữ cao hơn 24mg.

Ở phụ nữ có thai, tuy không mất sắt theo kinh nguyệt nhưng cần để bổ sung cho thai nhi, rau thai, để tăng khối lượng máu của người mẹ, cần khoảng 1.000mg sắt.

Nhu cầu đó không rải đều mà tập trung vào những tháng cuối, tới 6,3mg/ngày. Nhu cầu này không thỏa mãn nếu chỉ dựa vào chế độ ăn, trừ khi cơ thể có dự trữ sắt lớn. Do đó, rất cần thiết phải bổ sung viên sắt cho phụ nữ có thai nhất là vào các tháng cuối thai thời kỳ có thai.

Các biện pháp phòng chống thiếu máu dinh dưỡng

- Đa dạng hóa bữa ăn: Khuyến khích đa dạng hóa bữa ăn. Chế độ ăn phải cung cấp đủ năng lượng, dùng các thức ăn giàu sắt trong thành phần thức ăn động vật, đậu, đỗ. Tăng khả năng hấp thụ sắt bằng các thức ăn giàu vitamin C như rau quả. Khuyến khích ăn các thức ăn lên men như giá đỗ, dưa chua, các thực phẩm nẩy mầm có nhiều vitamin C và giảm được lượng tanin, acid phitic trong thực phẩm.

- Bổ sung bằng viên sắt: Bổ sung viên sắt cho phụ nữ có 15-30 tuổi, phụ nữ có thai, trẻ em dưới 2 tuổi đều đặn, đủ liều.

BS. Sa Chí Tình




Đông y hỗ trợ chữa trị gan nhiễm mỡ


Bệnh chứng gan nhiễm mỡ có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em nhưng hay gặp nhất ở tuổi trung niên thừa cân hay béo phì, người bệnh đái tháo đường, những người có nồng độ cholesterol và triglyceride cao. Có rất nhiều phương cách để hỗ trợ chữa trị gan nhiễm mỡ, tùy theo triệu chứng.

Thể chứng can khí uất

Biểu hiện tức ngực, trướng bụng, đau tức hạ sườn phải, ăn chậm tiêu, ợ hơi, người bực dọc, dễ cáu gắt. Chọn một phương thích hợp:

- Dùng 100g gạo tẻ nấu thành cháo nhừ rồi cho vỏ quýt khô (15g phơi khô tán nhỏ) trộn đều, hạ lửa nhỏ nấu sôi lại, chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

- Ép 100g củ cải trắng lấy nước, 5 quả quất bỏ hạt, giã nát. Trộn đều nước củ cải và quất, thêm 20g mật ong, hòa với 300ml nước sôi. Chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Thể khí trệ huyết ứ

Đau tức hạ sườn phải, gan sưng to có thể sờ thấy được, lưỡi đỏ tía, mạch căng như dây đàn:

- Củ tam thất 3g sấy khô, tán vụn, trà xanh 3g. Hai thứ hãm với 200ml nước sôi trong 10 - 15 phút. Uống thay trà và có thể ăn luôn cả xác.

- Nghệ vàng 10g, vỏ quýt khô 10g. Hai thứ phơi khô tán nhỏ cùng 3g trà xanh. Chia 2 lần sắc uống.

Thể bệnh chứng đàm thấp

Thường gặp ở người béo phì, bụng to, tay chân nặng nề, yếu mỏi không có sức, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng dày:

- Sơn tra 15g xắt mỏng, lá sen 15g phơi khô, bóp vụn. Trộn hai thứ nấu chung với 600ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày.

- Ý dĩ nhân 30g, lá sen tươi 50g thái nhỏ. Hai thứ nấu chung với 100g gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

Thể chứng tì khí suy

Biểu hiện cơ thể suy nhược, mệt mỏi không có sức, hơi thở ngắn, ăn uống kém, bụng đầy, đại tiện phân lỏng:

- Sơn tra 15g xắt mỏng, bột bắp 100g trộn đều với nước nóng. Nấu sơn tra với 1 lít nước, đun sôi nhỏ lửa khoảng 20 phút. Cho hồ bột bắp vào nồi, vừa đổ vừa khuấy đều cho tan bột. Dùng ăn điểm tâm.

- 20g củ mài ngâm nước cho mềm. Cà rốt 50 - 80g bỏ vỏ, xắt lát. Hai thứ nấu cùng 100g gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

Thể can thận âm hư

Biểu hiện đau tức vùng hạ sườn phải, chóng mặt, ù tai, đau lưng, mỏi gối. Lòng bàn tay, bàn chân và ngực đều nóng, người gầy, da khô, khát nước, tiểu tiện vàng:

- Hà thủ ô 30g nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml. Dùng nước vừa đủ để nấu với 100g gạo tẻ và đại táo (4 - 6 trái bỏ hạt) thành cháo nhừ. Cho đường phèn hoặc mật ong vào khuấy đều. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

- Hải sâm 15g ngâm nước ấm, mộc nhĩ trắng 15g ngâm nước nửa ngày cho mềm, bỏ cuống. Hai thứ nấu với 100g gạo tẻ thành cháo nhừ, thêm gia vị. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

Thể thấp nhiệt, đàm ứ

Biểu hiện gan sưng to đau tức; mắt vàng; da vàng; miệng khô, đắng; nước tiểu vàng; người buồn bực, dễ cáu gắt; rêu lưỡi vàng, dơ. Thường gặp ở người bị viêm gan vàng da, viêm gan siêu vi (B, C), người nghiện rượu. Nếu gan nhiễm mỡ do can đởm thấp nhiệt thì dùng:

- Cúc hoa 15g, thảo quyết minh 30g sao vàng, tán nhỏ. Hai thứ hãm với 200ml nước sôi trong 15 phút. Chia nhiều lần uống thay nước trà.

- Bí đao 350g bỏ vỏ, hạt, nấm rơm tươi 150g. Cho nước rau củ vào chảo cùng với bí đao và nấm rơm. Nấu lửa lớn cho sôi, hớt bỏ bọt, nêm gia vị, hạ lửa nhỏ liu riu cho sôi đến chín đều. Rưới bột ướt và dầu vừng vào, trộn đều. Ăn với bữa cơm hoặc ăn riêng.

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI



Sun Sep 26, 2010 6:51 am

tmyloan@...
Send Email Send Email

Cá trê - bổ thận, bổ huyết, tráng dương

Cá trê là loài cá nước ngọt, sống ở ao hồ, ruộng bùn, những chỗ tối tăm. Trong 100g thịt cá trê có 16,5g protid, 11,9g lipid, 20mg Ca, 21mg P, 1mg sắt, 0,1mg vitamin B1, 0,04mg vitamin B2, 1,4mg vitamin PP và cung cấp 178 calo. Theo y học cổ truyền, cá trê vị cam, tính ôn, có tác dụng ích âm, khai vị, thúc đẩy việc tạo sữa, lợi tiểu tiêu thũng, bổ huyết, tráng dương.

Dưỡng huyết điều kinh: cá trê 250g, đậu đen 150g, bột canh, nước đủ dùng. Cá trê làm sạch, bỏ mang, ruột, chặt khúc. Đậu đen rửa sạch, đậu đen hầm chín rồi cho cá trê vào hầm cùng với đậu đen tới khi cá chín nhừ, nêm bột canh là dùng được. Món ăn có tác dụng kiện tì, dưỡng huyết, điều kinh.

Bổ thận: cá trê 1 - 2 con, đậu đen 150g. Cá trê khử mùi tanh, nhờn, làm sạch, giữ nguyên đầu, lọc bỏ xương riêng. Ninh xương cá với 300ml nước để làm nước dùng. Đậu đen xay thành bột, cho vào nước xương quấy đều rồi đun sôi, để nhỏ lửa, cho cá vào nấu chín, nêm gia vị là dùng được. Ăn trong 15 ngày, bệnh sẽ cải thiện rõ ràng.

Chữa loạn kinh: cá trê 300g, ngải cứu 100g, hồng hoa 12g, bột đậu đen 120g, trần bì 6g. Cá trê làm sạch, cho vào nồi cùng bột đậu đen. Ngải cứu, hoa hồng, trần bì cho vào túi vải, buộc kín, cho nước vào đun nhỏ lửa, khi các thứ trong túi vải nhừ bỏ ra, nêm gia vị là dùng được.

Chú ý: Không nên ăn cá trê với rau kinh giới.

BS. Đào Minh Sơn




Úc Châu Trong Sứ Mạng Dân Chủ Hóa Việt Nam .

Úc Châu Trong Sứ Mạng Dân Chủ Hóa Việt Nam .

Nguyễn Quang Duy

Mỗi hai năm Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc châu lại tổ chức Đại Hội nhằm thảo luận, quyết định hướng đi chung và bầu ra một tân Ban chấp hành liên bang để thi hành Quyết Nghị Đại Hội. Tiêu đề Đại Hội lần này là “35 Năm Người Việt Định Cư tại Úc: những thành tựu và thử thách” đựơc tổ chức tại Melbourne trong ba ngày 17, 18 và 19 tháng 9 năm 2010, với sự hiện diện tất cả 8 Cộng Đồng tiểu bang và lãnh thổ.

Chiều 17/9/2010, một buổi tiếp tân để chào mừng các phái đòan Tiểu bang và Lãnh thổ về tham dự Đại Hội đã được tổ chức tại dinh Toàn Quyền tiểu bang Victoria, do Tòan Quyền Giáo sư Tiến sĩ David De Ketser chủ toạ. Thủ hiến Victoria và lãnh tụ đảng Đối lập tiểu bang cũng đã cử đại diện tham dự. Ông Toàn Quyền đã bày tỏ lòng ngưỡng phục đến những đóng góp và thành công của cộng đồng người Việt tự do tại Úc châu.

Đại Hội đã chính thức khai mạc sáng 18/9/2010. Từ Quốc Nội hai vị lãnh đạo Phong Trào Dân Chủ: Hòa Thượng Thích Không Tánh và Linh mục Nguyễn văn Lý (Khối 8406) đã gởi thơ chúc Đại Hội thành công để đẩy mạnh diễn trình giải thể chế độ cộng sản. Diễn văn của quan khách Úc gồm dân biểu Luke Donalleland đại diện Chính Phủ Lao Động Victoria, dân biểu Gorden Phillip đại diện đối lập, Thị Trưởng thành phố Dandenong, bà Jenny Tan đại diện Ủy Ban Sắc Tộc Sự Vụ. Ngòai ra còn có sự hiện diện của dân biểu Murray Thompson đảng Tự Do. Hai dân biểu Luke Donalleland và Murray Thompson là những người bạn luôn gắn bó với cộng đồng và với Phong Trào Đấu tranh cho Dân Chủ tại Việt Nam .

Ông Nguyễn thế Phong chủ tịch CĐNVTD tại Úc châu đã chào đón, đáp lời quan khách và khai mạc Đại Hội. Trong bài phát biểu ông Phong đã nhấn mạnh đến việc cộng đồng chúng ta đang gặp nhiều thử thách do Nghị Quyết 36 của đảng Cộng sản Việt Nam đề ra. Sau đó trước Đại Hội ông Phong đã thuyết trình đề tài này: “Đối Phó với Nghị Quyết 36”.

Theo ông Phong trong 35 năm qua Việt cộng vẫn luôn luôn gởi người ra hải ngọai đánh phá gây chia rẽ để chúng ta không còn khả năng hướng đến việc hổ trợ phong trào đấu tranh cho tự do và dân chủ tại quê nhà. Sự trưởng thành trong đấu tranh chính trị với cộng sản chính là thành tựu to lớn nhất và do công sức của nhiều người thuộc nhiều thế hệ trong suốt 35 năm qua. Ông nhấn mạnh việc Việt cộng sử dụng NQ 36 để hướng dẫn và những khỏan tài chánh to lớn trợ cấp cho bọn cộng sản nằm vùng tăng cường họat động gây bất ổn cộng đồng.

Chúng ta nay là người Úc, mọi đe dọa và phá họai cộng đồng chúng ta là trực tiếp đe dọa và phá họai an ninh nước Úc. Do đó việc chống lại NQ 36 không phải chỉ là trách nhiệm của cộng đồng chúng ta mà là trách nhiệm chung của nước Úc. Ông kêu gọi cộng đồng chúng ta hãy tố cáo, hợp tác với chính phủ và các cơ quan công quyền để đập tan những hoạt động phạm pháp, đe dọa đến sự tự do và an nguy của người dân và nước Úc do nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam gây ra.

Thứ bẩy tuần này ngày 25/9/2010 tại Footscray Victoria, cộng đồng chúng ta sẽ xuống đường đến từng cơ sở của cái gọi là “Hội Doanh Nhân Việt Nam – Australia” để lên án các thành phần trở cờ như Trần Bá Phúc, Phan văn Danh khởi động một cao trào tích cực chống NQ 36 của Việt cộng tại hải ngọai.

Ông Phong đã đề ra nhiều giải pháp và đã nhấn mạnh việc việc CĐNVTD hải ngọai cần tổ chức thành một cơ cấu thế giới thì mới có thể chống lại NQ36 một cách có hiệu quả.

Một cơ cấu CĐNVTD hải ngọai, một tiếng nói chung là đề tài thuyết trình kế tiếp của ông Võ Minh Cương “Nghị Hội Cộng Đồng Người Việt Hải Ngọai”. Ông Cương nhấn mạnh việc một cơ cấu thống nhất mới có thể tập trung được nội lực để hướng đến giải thể chế độ cộng sản tại Việt Nam . Đề tài này đã tạo ra khá nhiều tranh luận. Tựu chung mọi người đều đồng ý đây là một chuyện phải làm. Nhưng cần làm thế nào để cơ cấu này có thể làm việc hiệu quả vì vậy cần phải bàn luận kỹ lưỡng, phải thăm dò và tham khảo các Cộng đồng hải ngọai trước khi tiến hành tổ chức Nghị Hội.

Một số tham dự viên đại diện các Tổ Chức Chính Trị đóng góp rằng mọi diễn trình để hình thành cơ cấu này cần có sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị. Vì chính các tổ chức chính trị là một phần của cơ thể cộng đồng. Phần cơ thể này lại rất năng động và kinh nghiệm trong quá trình đấu tranh giải thể chế độ cộng sản. Một số tiểu bang, như Victoria, NSW,..., từ lâu đã xây dựng một cơ cấu Ban Chấp Hành làm việc với sự cố vấn của các Hội Đòan Tổ Chức đây là một mô hình rất khả thi có thể áp dụng vào cơ cấu CĐNVTD Hải Ngọai.

Thực ra đề tài này đã được thảo luận trong kỳ Đại Hội trước đây và cũng có thể vì lo sợ sự thành công của cơ cấu CĐNVTD hải ngọai sẽ góp phần giải thể chế độ cộng sản mà trong vòng hai năm qua CĐNVTD tại Úc châu đã bị cộng sản tăng cường nỗ lực đánh phá. Hai năm qua là hai năm đầy thử thách để chứng tỏ sự trưởng thành trong khói lửa của CĐNVTD tại Úc châu.

Đương nhiên khi chúng ta đã quyết tâm chống lại NQ36 và đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa Việt Nam thì chúng ta phải trực tiếp lên án và trực diện đối đầu bọn Việt gian Việt cộng. Và cũng vì đang sống tại Úc chúng ta cần phải có những cố vấn về luật pháp và phải có tài chánh để sẵn sàng khi bị bất cứ ai đưa ra tòa. Những điều nêu trên là đề tài của ông Lê Công và Đại Hội đã quyết định sẽ thành lập một Ủy Ban Cố Vấn Pháp Lý và Quỹ Pháp Lý cho Cộng Đồng.

Nhân tham dự Đại Hội lần nay tối 18/9/2010 các thành viên Khối 8406 tại Tây Úc, New South Wales và Victoria đã tổ chức một cuộc họp Khối 8406 tại Úc châu nhằm thảo luận đẩy mạnh một số công tác: văn nghệ, thông tin và ngọai vận nhằm phục vụ Quốc Nội từng bước đứng lên giải thể chế độ độc quyền độc đảng cộng sản.

Bài thuyết trình cuối cùng của luật sư Lưu Tường Quang về nhu cầu phải hòan tất một bản Nội Quy mới đáp ứng hiện tại và tạo một hướng đi cho tương lai. Luật sư Quang cho biết Bản Nội Quy hiện tại chưa có hai phần Sứ Mạng và Viễn Kiến , tòan Đại Hội đã đồng thuận thêm vào như sau:

Mission / Sứ mạng: Kết hợp các thế hệ người Việt tự do trong nỗ lực đóng góp vào xã hội đa văn hoá đa nguyên Úc Châu và đấu tranh cho một nền dân chủ pháp trị và nhân quyền tại Việt Nam .

Vision / Viễn Kiến: Hướng đến một xã hội định cư hài hòa Úc Châu và đất nước cội nguồn Việt Nam độc lập, dân chủ, tự do và phú cường.

Người Việt tại Úc châu luôn luôn hướng về Quê Cha Đất Tổ và vận động dân chủ hóa Việt Nam . CĐNVTD tại Úc châu chỉ chấp thuận một chính quyền Việt Nam dân chủ do dân bầu ra dưới sự giám sát Quốc tế.

Để thực hiện được Sứ Mạng đã đề ra luật sư Quang cũng đưa ra một bản nháp Nội Quy để thảo luận. Bản nháp này hướng đến việc xây dựng lại cơ cấu bằng cách trao thêm trách nhiệm và quyền lực cho Ban Chấp Hành. Luật sư Quang đã đề nghị thay cơ cấu Hội Đồng Quản Trị với “Chủ tịch Cộng đồng Liên Bang mãn nhiệm, Chủ tịch đương nhiệm, các vị chủ tịch Cộng Đồng cấp tiểu bang và lãnh thổ là thành viên đương nhiên của của Hội đồng Quản Trị”. Bằng một Hội Đồng Cố Vấn với chỉ “Chủ tịch Cộng đồng Liên Bang vừa mãn nhiệm, Chủ tịch đương nhiệm, các vị chủ tịch Cộng Đồng cấp tiểu bang và lãnh thổ là thành viên đương nhiên của của Hội đồng Cố Vấn”.

Đề nghị nói trên khác với Nội Quy hiện nay về vai trò cố vấn và chỉ một (1) Chủ tịch Cộng đồng Liên Bang vừa mãn nhiệm. Đề nghị này giúp Nội Quy của Cộng Đồng tương tự hơn với các Tổ Chức Hiện Đại Tây Phương và để tránh việc các cựu Chủ tịch Cộng đồng Liên Bang vì một lý do gì không thể tiếp tục sứ mạng đã được cộng đồng giao phó mà theo Nội Quy đang sử dụng thì vẫn còn quyền lực.

Luật sư Lưu Tường Quang còn nhấn mạnh việc chúng ta cần thay đổi cách làm việc nặng văn hóa Việt Nam không còn thích hợp với thời đại hay môi trường sinh họat dân chủ tại Úc. Thí dụ trước đây khi có hai vị đồng phiếu thì vị lớn tuổi sẽ đắc cử. Luật sư Quang đề nghị ngược lại Nội Quy sẽ chính thức công nhận nếu hai vị đồng phiếu thì vị nhỏ tuổi sẽ đắc cử và nếu hai vị cùng tuổi thì vị thuộc phái nữ sẽ đắc cử.

Các thay đổi đều gây nhiều bàn thảo và tranh luận vì thế Đại Hội đã quyết định giao cho CĐNVTD tại NSW bàn thảo và sọan lại.

Phần cuối của Đại Hội là Ban Chấp Hành tiểu bang và lãnh thổ bầu ra một Ban Chấp Hành Liên Bang. Kết quả Đại Hội đã tín nhiệm một Ban Chấp Hành rất trẻ trung nhưng đầy kinh nghiệm cộng đồng và đấu tranh. Ở độ tuổi dứơi 50 có hai ông Ông Nguyễn Thế Phong (VIC) Chủ tịch và Ông Lê Công (ACT) Phó Chủ tịch Ngoại Vụ. Ở độ tuổi dưới 40 có Luật sư Võ Trí Dũng (NSW) Phó Chủ tịch Nội Vụ và Cô Trịnh Mailan (VIC) Tổng Thư ký. Vừa qua 20 tuổi có Cô Kim Sunhi ( VIC ) Thủ Quỹ . Tính ra trung bình quý vị Tân Ban Chấp Hành chỉ ở khỏang 35 tuổi cùng tuổi với 35 Năm Người Việt Định Cư tại Úc để đủ năng lực và khả năng tiếp nhận sứ mệnh dân chủ hóa Việt Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

22/09/2010

Hình số 131 (Tân Ban Chấp Hành từ trái sang phải Ông Lê Công, Cô Kim Sunhi, Cô Trịnh Mai Lan, ông Nguyễn Thế Phong và Luật sư Võ trí Dũng.) các hình khác từ link.

http://picasaweb.google.com/n.9oo9le/DaiHoiCongDongNguoiVietTuDoUcChau2010#

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỰ DO ÚC CHÂU

ĐAỊ HỘI LẦN THỨ 20

QUYẾT NGHỊ

Đaị Hội lần thứ 20 của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu tổ chức tại Melbourne trong ba ngày 17, 18 và 19 tháng 9 năm 2010, đã đồng thuận những quyết định sau đây:

1- Về Nghị Quyết 36 của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam :

1.1 Cực lực lên án âm mưu xâm nhập và phá hoại các cộng đồng người Việt hải ngoại của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam qua Nghị Quyết 36, mà cụ thể là sự thành lập gần đây của những tổ chức ngoại vi của CSVN nhằm tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ và xáo trộn trong cộng đồng người Úc gốc Việt.

1.2 Yêu cầu chính phủ Úc phải có thái độ và biện pháp ngăn chặn đối với những hoạt động dưới mọi hình thức của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nhằm gây bất ổn trong cộng đồng người Úc gốc Việt, ảnh hưởng tai hại đến xã hội đa văn hóa Úc nói chung.

2- Về dự án tổ chức Nghị Hội Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại , Đại Hội ủy nhiệm cho một Ủy Ban Nghiên Cứu và Liên Lạc do ông Võ Minh Cương phụ trách thành lập, với một Ban Cố Vấn gồm tất cả các vị cựu Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu. Ủy Ban này có nhiệm vụ:

2.1 Soạn bản dự thảo cơ cấu và cơ chế điều hành của Nghị Hội;

2.2 Liên lạc, tham khảo và thăm dò sự ủng hộ cũng như tham dự của các tổ chức Cộng Đồng người Việt hải ngoại trên toàn thế giới;

2.3 Đúc kết và trình bày kết quả thăm dò một khi hoàn tất, để Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do - Úc Châu có quyết định chung cuộc.

3- Thành lập một Ủy Ban Cố Vấn Pháp Lý và Quỹ Pháp Lý, mời gọi sự cộng tác của những chuyên gia về pháp luật có lập trường và quan điểm phù hợp với bản Nội Qui của CĐNVTD-UC, ngõ hầu có thể đối phó với những tấn công về mặt pháp lý trong tương lai.

Làm tại Melbourne , ngày 19 tháng 9 năm 2010

Nguyễn Thế Phong , Chủ tịch CĐNVTD/Liên bang Úc Châu

Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch CĐNVTD/NSW

Nguyễn Văn Bon, Chủ tịch CĐNVTD/Victoria

Bùi Trọng Cường, Chủ tịch CĐNVTD/QLD

Đoàn Công Chánh Phú Lộc, Chủ tịch CĐNVTD/Nam Úc

Peter Lê, Chủ tịch CĐNVTD/ Tây Úc

Nguyễn Kim Dung, Chủ tịch CĐNVTD/Wollongong

Lê Công, Chủ tịch CĐNVTD/ACT

Lâm Bình Bắc. Tổng Thư Ký CĐNVTD/Bắc Úc

Trân trọng kính chào

BÀI THAM LUẬN CỦA ÔNG NGUYỄN THẾ PHONG TẠI ĐẠI HỘI LẦN THỨ 20 CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VI ỆT TỰ DO LI ÊN BANG ÚC CHÂU TẠI MELBOURNE NGÀY 17, 18,19 THÁNG 9 NĂM 2010

“NGHỊ QUYẾT 36 VÀ NHỮNG THỦ ĐOẠN CỦA CSVN TRÊN CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI”

Kính thưa quý vị,

  • CSVN đã âm thầm gầy dựng cơ sỡ nhân lực và kế hoạch đánh phá, gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt tự do hãi ngoại trên 30 năm qua chứ không phải chỉ qua nghị quyết 36

  • Nghị quyết 36 chỉ là mặt trận nổi, là mặt tiền của kế hoạch tấn công của CSVN. Nó ví như mặt nỗi của một tảng băng hà. Dưới tang băng nhô lên mang tên nghị quyết 36 ấy, CSVN đã, đang và sẽ tấn công CĐNVTN bằng nhiều chiến dịch, hình thức và phương cách khác quan trọng hơn nữa. Nói một cách khác, cộng sản sẽ không từ một thủ đoạn hay hình thức nào để đánh phá cộng đồng của chúng ta.

  • CS cũng không từ bất cứ một mục tiêu nào hay một phần tử nào trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, bất kể già trẻ lớn bé và bất kể giới nào: thương gia, học sinh sinh viên, bác sĩ, kỷ sư công nhân, nội trợ. Nói một cách khác là họ nhắm đến toàn bộ và mọi người không trừ ai.

CS đã và đang xây dựng hạ tầng và thượng tầng cơ sỡ của chúng tại hải ngoại ngay từ lúc làn sóng người Việt tỵ nạn bỏ nước ra đi cho đến nay. Chúng đã lợi dụng mọi cơ hội, mọi kẽ hở, mọi hình thức, mọi tiêu chuẩn thành phẩn mà luật di trú Úc cho phép để đưa người của chúng ra hải ngoại hoạt động phá hoại và kinh tài cho chế độ.

Các toà lãnh sự và đại sứ của CSVN (kể cã Hàng Không VN) là những cơ sỡ đìều hợp và bộ chỉ huy của những hoạt động đánh phá cộng đồng người Việt tỵ nạn hãi ngoại cũng như là nơi phân phối, rữa tiền, phân phối bạch phiến, kinh tài và điều hành các hệ thống chi bộ, đảng, đoàn của CSVN tại các tiểu bang và lãnh thổ Úc châu.

Cũng chính từ những toà đại sứ, sứ quán này, đảng CSVN đã điều hành và thành lập những ủy ban đặc trách người Việt nước ngoài của chúng. Mọi việc mọi đường hướng nhất nhất đều nhận chỉ thị và kiểm soát chặc chẽ từ trong nước.

Rất ít người trong chúng ta biết được rằng CSVN vẫn thường xuyên họp đảng hàng tuần hàng tháng và hệ thống đảng của chúng tại Úc châu đầy đủ như ở VN. Nói một cách khác là mọi việc chúng làm tại hải ngoại đều có tính toán và có kế hoạch kỷ lưỡng và mọi chỉ thị đều có phối hợp chặc chẽ với đảng CSVN tại VN, chỉ khác một điều là chúng làm một cách lén lút và chưa dám chính thức công khai ra mặt mà thôi.

Trong số những thành phần đảng viên và cảm tình viên/ tay sai tình nguyện hay bị ép buộc theo chúng không thiếu những phần tử như: sinh viên du học trước 1975, du học sinh từ VN, những thương gia đang có thương vụ tại VN, đảng viên tỵ nạn trá hình và những tên Việt gian trở cờ trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc châu.

  • Về hình thức đối với người Việt không cộng sản trong cộng đồng hải ngoại, cs dùng mọi thủ đoạn từ ngọt bùi đến chua cay như; dụ dỗ, mua chuộc, đe doạ, blackmailing, khủng bố tinh thần, nói xấu, dèm pha, bôi bẩn, bới móc đời tư, mạ lỵ v.v để biến họ thành công cụ cho chúng: nghe theo thì được lợi, không nghe theo thì sẽ bị tấn công, bôi bẩn và đánh phá một cách tàn bạo, bất kể hình thức hay thủ đoạn đê hèn nào.

Chúng đặc biệt lưu ý và nhắm vào những thành phần gặp khó khăn về tài chánh, mê gái, thích ăn chơi, ghiền cờ bạc, nghiện ngập ma tuý, hám danh, tham tiền, muốn làm ăn tại VN, đã hoặc đang có chức vụ hay sinh hoạt trong cộng đồng người Việt hải ngoại đi về VN lần đầu tiên hay thường xuyên về VN và các chủ nhân của các cơ sỡ truyền thông, báo chì Việt ngữ để móc nối và mua chuộc làm việc cho chúng. Bên cạnh đấy chúng cũng làm áp lực và đặt điều kiện trên những tổ chức hay cá nhân muốn hay đang thực hiện những chương trình từ thiện tại VN buộc họ phải im lặng, tuyệt đối không được chỉ trích chế độ và phải xữ dụng chiêu bài “chúng tôi làm từ thiện chứ không làm chính trị” để biện minh cho việc im lặng và “do nothing on the cause of poverty and injustice” của mình. Tệ hơn nữa, có những người còn ca ngợi Đảng và Tà quyền CSVN là nhơn đạo, là một chánh quyền tốt khi cho họ về làm việc từ thiện tại VN và lý luận rằng phải hợp tác với tà quyền CSVN thì mới làm từ thiện được.

Chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy CSVN lấy những sòng bài Casino tại Úc làm tụ điểm và xữ dụng những doanh nghiệp chuyển tiền và các dịch vụ du lịch, di trú do chúng kiểm soát để tuyển mộ tay sai, rửa tiền, buôn bán ma tuý, đưa người ra nước ngoài và kinh tài cho đảng cướp của chúng. Lý do chúng đặc biệt nhắm vào các casino của Úc là vì tiền thắng sổ xố và casino của Úc không phải đóng thuế khiến cho chúng có thể rửa được trọn gói. Vô số những cuộc bố ráp và khám phá của cảnh sát liên bang Úc về ma tuý, rửa tiền và tội phạm trong cộng đồng VN “cách biệt” những năm gần đây cho thấy hệ thống tổ chức và số lượng tiền mà CSVN đã và đang làm ăn tại Úc châu có hệ thống, quy mô và to lớn đến chứng nào.

Tôi dùng chử “cách biệt” ở đây vì đa số những phần tử VN bị cảnh sát bắt giử và đang bị giam trong những nhà tù trên nước Úc về những tội danh này là những thành phần thân Cộng, đến từ miền Bắc sau năm 1975, đội lốp tỵ nạn và không tham gia hoặc coi họ là một thành viên của cộng đồng người Việt Tự Do của tiểu bang hoặc lãnh thổ mà họ cư ngụ.

Đây chính là một hình thức “Một ná bắn hai chim” của CSVN tại Úc châu. Vừa tạo tiếng xấu, phá hoại danh nghĩa của cộng đồng người Việt tỵ nạn, vừa kiếm đưọc lợi lộc từ hình sự và lôi kéo được những phần tử bất hảo về làm tay sai cho chúng. Điều này rất phù hợp với tinh thần của nghị quyết 36 mà không phải bị chống đối một cách ồn ào bỡi cộng đồng người Việt hải ngoại. Thật là “nhất cử, lưỡng tiện”

  • “Nhất cử lưỡng tiện hơn nữa” là khi CSVN chuyễn và rữa tiền được ra nước ngoài một cách hợp pháp để mua và thành lập cơ sỡ thương mại có tầm vóc lớn thì chính những cơ sỡ kinh tài này trở thành những trung tâm, địa điểm hội họp và tổ chức sinh hoạt ngấm ngầm (với hy vọng một ngày nào đó sẽ công khai hoá) của Đảng tại Úc, tránh đưọc việc CĐ yêu cầu chủ nhân huỷ bỏ booking.

  • Chúng ta cũng không quên nghị quyết 36 và tôn giáo. Về phương diện này, CS đã và đang bành trướng một cách báo động và công khai núp dưới chiêu bài tôn giáo mà chúng biết rằng rất có lợi cho chúng về cả tiền lẫn quyền ảnh hưởng trên tuyệt đại đa số quần chúng VN tại hải ngoại vốn dĩ sùng đạo và rộng tay đối với chù chiền, nhà thờ hay thánh thất.

Ai trong chúng ta cũng đã biết vai trò và sách lược của cái gọi là “Mặt Trận Tổ Quốc” của CSVN từ bao thập niên qua trong việc đánh, phá thối, bôi bẩn và băng hoại các tôn giáo tại VN. Nay chúng đã chính thức cho gia nhập vào mặt trận này những tay sai trở cờ trong cộng đồng người Việt hải ngoại để làm công cụ cho chúng.

Riêng về Phật giáo, trong thời gian gần đây, số lượng tăng ni Phật giáo trong nước được bảo lãnh ra hải ngoại để tu học rồi ở lại luôn theo diện tu sĩ đang gia tăng đến mức báo động vì con số những tự viện, chùa, am đủ cỡ, đủ loại và đủ khắp mọi nơi trên toàn nước Úc cũng tiệm tiến gia tăng với mức độ lạm phát với một vài nơi có đến 3 ngôi chùa VN trên cùng một con đường. Bình thường thì cộng đồng chúng ta có thể hãnh diện và vui mừng về sự phát triển mạnh mẽ này, nhưng với sự ký kết Chương Trình Phối Hợp Công Tác ngày 16/7/2009 vừa qua giửa giáo hội Phật giáo quốc doanh do Thích Thanh Từ đại diện và Chủ nhiệm ủy ban Nhà Nước về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài Nguyễn Thanh Sơn, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao thì cộng đồng ngưòi Việt tỵ nạn của chúng ta có quyền đặt dấu hỏi về sự hiện diện và gia tăng của các tăng ni này và vai trò của họ trong việc thi hành nghị quyết 36 tại hải ngoại của CSVN.

Nguyễn Thanh Sơn tuyên bố “Theo chương trình phối hợp công tác, Ủy Ban sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GH thực hiện công tác Phật sự đối với người Việt Nam ở nước ngoài, mỡ rộng quan hệ, hoạt động của GH sang các nước có đông kiều bào sinh sống, góp phần xây dưng hình ảnh và uy tín của Gh trên thế giới. Về phần mình, Gh sẽ tích cực và chủ động phối hợp, tham gia vào các hoạt động vận động Người VN ở Nước Ngoài do Ủy ban chủ trì”

Phát biểu tại buổi ký kết, Thích Thanh Từ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (Quốc Doanh) cho biết phương châm hành động của GHPGVN luôn là “Đạo Pháp, Dân Tộc và Chủ Nghĩa Xã Hội”.

Công giáo cũng không tránh khỏi bị nghị quyết 36 này chi phối và lợi dụng qua những linh mục tu sĩ quốc doanh, tuy không lập được nhà thờ tu viện như Phật giáo ở nước ngoài vì hệ thống khác biệt và chặc chẽ hơn của GHCG, nhưng CSVN đã tạo mọi điều kiện dễ dãi cho những linh mục, tu sĩ và thậm chí đến Hồng Y Phạm Minh Mẫn đi ra hãi ngoại để đánh bóng cho chế độ và khuyên giáo dân và các hàng giáo phẩm tại hãi ngoại nên tập trung vào tôn giáo và không nên làm chánh trị.

Các tôn giáo khác như Cao Đài, Hoà Hảo và Tin Lành cũng bị CS gài người vào trong nội bộ để gây chia rẽ, hiềm khích và nghi kỵ lẫn nhau. Nói chung, CS coi đây là một trong những mục tiêu và mặt trận chính chúng ở hải ngoại.

  • Một trong những chiến lược chính và kế tiếp của CSVN là tận dụng cơ sỡ hạ tầng mà chúng đã kiên nhẫn gài vào cộng đồng người Việt Úc Châu trong hơn 3 thập niên qua để bắt đầu bước sang giai đoạn: “tạo rắn 2 đầu” hay “tổ chức song phương” mà chúng đã manh nha thí nghiệm khá thành công tại Hoa Kỳ. Chúng tin rằng với con số hơn 40 ngàn du sinh (mà chúng nghỉ rằng chúng kiểm soát và sai khiến được) và hàng ngàn cán bộ và Việt gian trở cờ tại Úc, chúng có thể bắt đầu giai đoan cho công khai thành lập và ra mắt những tổ chức có danh xưng ngang hàng hay trùng hợp với những tổ chức của CĐNVTD tại Úc. Điển hình là sự ra đời của cái gọi là: “Hội Doanh Nhân Việt Nam Úc Châu” dưới sự chứng kiến và tham dự của Toà Đại sứ CSVN tại Melbourne .

  • Những hình thức mà chúng ta đã biết qua nhiều trước đây như sự du nhập các sản phẩm văn hoá như: băng nhạc, sách báo, một vài ca sĩ lẻ tẻ trong nước ra hải ngoại trình diễn nay đã bước qua một giai đoạn mới quy mô hơn, có tổ chức hơn, trực diện, trắn trợn và rầm rộ hơn, xữ dụng tối đa những thành phần hạ tầng cơ sở và Việt gian mà chúng đã có được ở trong cộng đồng chúng ta. Khi chúng bị thất bại trong việc thử nghiệm ở cấp chính phủ như: VTV4 và Duyên Dáng VN, thì cộng sản đổi chiến lưọc đúng như chúng đã từng làm: “cứu cánh biện minh cho phượng tiện” nói như Đặng Tiểu Bình “mèo nào cũng là mèo, miễn là bắt được chuột” chúng chuyễn sang hình thức nguyên đoàn gồm đủ cã MC, ban nhạc và công an trá hình bảo vệ đi kèm, nói một cách khác chúng là: Duyên Dáng VN nhưng theo hình thức tư nhân hoặc pha trộn với những ca sĩ hải ngoại.

Chúng xữ dụng tối đa lực lượng du sinh tại địa phương để làm công cụ tuyên truyền cho những đoàn văn công lưu diễn này qua hình thức cho vé xem miễn phí hay giá đặc biệt. Chúng cũng phân phối vé với hình thức này qua hệ thống Casino để rửa tiền và để cho Casino dụ khách hàng VN của họ theo chiến lược “Nhất cữ lưỡng tiện – Đôi bên cùng có lợi” Casino bao mua vé và trả thù lao thì ca sĩ từ VN sang sẽ không phải rắc rối với sở thuế vụ. Với những hành vi hình sự và những số tiền khổng lồ mà bọn tội phạm và tay sai của CSVN đã và đang rữa tại các casino ở Úc, đời sống và sinh hoạt của cộng đồng người Úc gốc Việt tự do và tỵ nạn của chúng ta sẽ phải đối đầu với nhiều tấn công và thủ đoạn của những thế lực đen tối do CSVN giựt dây và chủ mưu trong những ngày tháng sắp tới.

Theo thiển ý của tôi thì những đoàn văn công chỉ là mặt trận nổi của CSVN trong kế hoạch đánh phá và chiêu dụ CĐNVQG tại hải ngoại. Mặt trận chính vẫn là: làm vô hiệu hoá và tạo cho đồng bào hải ngoại mất niềm tin hay chán nản đối với các nhà lãnh đạo tôn giáo, tổ chức hay cộng đồng, các cơ chế cộng đồng, các tổ chức đấu tranh chánh trị và các tôn giáo có uy tín qua hình thức: gây chia rẽ, tạo mâu thuẩn nội bộ, khuyến khích tách biệt, tạo ra hay tung tin đồn thất thiệt, ném đá giấu tay (đặt biệt là trên các mạng điện tử), đồn hay tạo ra những scandals, bôi nhọ, kích động, biến những hiềm khích nhõ giửa cá nhân trong cộng đồng hay tôn giáo thành chuyện lớn, lôi kéo thêm nhiều người khác vào cuộc.

  • Một trong những chiến thuật gần đây nhất mà CSVN bắt đầu dùng đến để mong đánh gục ý chí, khả năng và nhất tâm chống Cộng của CĐ chúng ta đó là xữ dụng và lợi dụng những kẻ hỡ của luật kiện tụng tại các quốc gia có người Việt cư ngụ. Các nơi từ Đức, Mỹ, Úc đều bị kiện hay doạ kiện khi cộng đồng đứng ra tổ chức biểu tình chống CS. Với những thành phần sẳn hám danh hám lợi sẳn có ở hải ngoại và tài lực khổng lồ trong tay, CSVN đã và sẽ xữ dụng hình thức hù doạ và kiện tụng pháp luật nhiều hơn nữa nhằm làm nản lòng, bịt miệng, tạo sự rụt rè và lo ngại, giảm thiểu tiềm năng chống Cộng, ước muốn tham gia vào các ban chấp hành cộng đồng và làm thiệt hại về tài chánh, thì giờ và công sức của cã cộng đồng qua các vụ kiện để cộng đồng dù có thắng cũng bị kiệt quệ, nản lòng và lo lắng.

Đứng trước những kế hoạch và thủ đoạn đa dạng, nổi chìm, ngày càng gia tăng cộng với khả năng tài chánh dồi dào của CSVN tại hải ngoại, cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta có thể làm được gì để đối phó với nghị quyết 36 và những đánh phá chủ yếu khác của CSVN và tay sai?

Tôi tin chắc rằng với sự khôn ngoan và trí tuệ của toàn thể đại hội chúng ta sẽ có được những biện pháp và đường hướng cụ thể để vô hiệu hoá, ngăn chặn hay giảm thiểu tối đa sự tác hại của nghị quyết 36 trên cộng đồng của chúng ta. Tôi chỉ xin liệt kê một số ý kiến và suy nghĩ thô thiển của cá nhân tôi sau đây như là một chất xúc tác góp vào cho cuộc hội luận và điều nghiên của đại hội. Nếu có điều chi không đúng, kinh xin qu ý vị niệm tình bỏ qua hoặc góp ý thêm cho.

Theo thiển ý của riêng tôi, chúng ta cần phải:

  • Lên tiếng báo động đến chánh phủ Úc và chánh phủ các nơi có người Việt chúng ta cư ngụ về hành động vi phạm chủ quyền, mặc nhiên cho mình có quyền kiểm soát, theo dõi, hù dọa, dạy dỗ, thưởng phạt, tuyên truyền chánh sách đối với những công dân Úc gốc Việt bất kể luật pháp độc quốc tịch của Úc Đại Lợi.
  • Cho các vị dân biểu, chính phủ và cảnh sát Úc biết rằng chúng ta bị cộng sản nằm vùng theo dõi, quyền hạn và các sinh hoạt dân chủ của chúng ta tại Úc qua các cuộc biểu tình, hội thảo lên án chống nhà cầm quyền CSVN vi phạm nhân quyền bị đe dọa và trấn áp khi phải có việc về lại VN. Chúng ta cảm thấy bị đe doạ và không an toàn khi về VN vì nghị quyết 36 này của CSVN.
  • Yêu cầu chính quyền và Bộ Ngoại Giao của Úc lên tiếng phản đối về ảnh hưởng của nghị quyết 36 này trên cuộc sống của người dân Úc gốc Việt và yêu cầu CSVN phải huỷ bỏ nghị quyết này hay loại bỏ những ngôn từ ám chỉ sự kiểm soát hay đe doạ đến chủ quyền và tư cách công dân độc lập của người dân Úc gốc Việt của nghị quyết này.
  • Tích cực hợp tác cùng với cộng đồng người Việt tự do để cung cấp tin tức, giúp đỡ cho các cơ quan công quyền Úc châu như sỡ di trú, sỡ thuế, các cơ quan bài trừ tội phạm như cãnh sát, crime stopper để phá vỡ những đường dây buôn lậu người, ma tuý, cần sa, nhà thổ và rửa tiền bất hợp pháp của CSVN và tay sai tại Úc.
  • Chống lại mọi hình thức rỉ tai chia rẽ của cs bằng cách luôn luôn gặp gỡ, liên lạc, kiểm chứng và hỏi tận gốc những người liên hệ, không nên cã tin ngay những tin tức loan truyền qua người khác, đặc biệt là khi những tin tức ấy được chuyễn qua qua hệ thống internet.
  • Tránh tham gia tranh luận hoặc góp ý trên các diễn đàn về những người chống Cộng hoặc các vị lãnh đạo cộng đồng hay các hội đoàn đoàn thể chống Cộng trong khi cá nhân mình chưa biết tường tận, chưa kiểm chứng hay chưa có thấy những chứng cớ hiển nhiên.
  • Khoan dung và cảm thông cho những nhà tranh đấu dân chủ và chống Cộng, có cái nhìn toàn diện hơn là chi li, bắt bẻ đủ điều. Đặt quan điểm và lập trường quốc gia của cá nhân hay hội đoàn ấy lên trên những lổi lầm hay thiếu sót không quan trọng
  • Nên tìm hiểu về tư cách, lập trường và quá khứ sinh hoạt của những người đưa tin hay đưa ra ý kiến, đặc biệt là khi những ý kiến của người ấy không mang tính cách xây dựng mà chỉ muốn đả phá và chia rẽ.
  • Những tin tức liên quan đến cộng đồng, nên liên lạc trực tiếp với vị chủ tịch cộng đồng đương nhiệm để kiểm chứng. Những thắc mắc hay vấn đề khúc mắc nên tham dự và trình bày một cách công khai tại các phiên họp của cộng đồng và không nên phỏng đoán hay cho rằng những tin tức hành lang hay rỉ tai là có l ý.
  • Nếu không giúp được để cho chánh nghĩa quốc gia và cộng đồng chống Cộng thăng tiến thì cũng tuyệt đối không đánh phá hay làm bất lợi cho công cuộc chiến đấu chung cho TỔ Quốc và Đồng Bào
  • Trân quý, ủng hộ những lập trường, sinh hoạt và quan điểm chống Cộng đứng đắn và xây dựng của mọi cá nhân và đoàn thể dựa trên nguyên tắc căn bản là: bao lâu cá nhân hoặc tổ chức ấy còn tiếp tục nói đúng và làm đúng đường, có lợi cho công cuộc chống Cộng thì chúng ta “welcome”. Cẩn trọng nhưng không vì thế mà nghi ngờ tất cả hay nhìn đâu cũng thấy CS. Ủng hộ quan điểm và hành vi chống Cộng của cá nhân hay đoàn thể, tổ chức nhưng không nhất thiết phải ủng hộ riêng cá nhân hay đoàn thể ấy..
  • Hiểu rỏ định nghĩa chính xác và đúng đắn của 2 chử “chánh trị” và làm chánh trị để không rơi vào bẫy của những lập luận tuyên truyền “phi chánh trị” để rồi đứng bên lề, thờ ơ với vận mệnh của dân tộc, đồng bào, đất nước và để yên cho CSVN tiếp tục tồn tại, cai trị v à bán nước.
  • Xác định được rằng làm chánh trị là bổn phận và nghĩa vụ phải có của một con người, bất kể người ấy là tu sĩ hay giáo dân, có học hay không có học, giàu hay nghèo, có chức hay không có chức, già hay trẻ, nam hay nữ, tu hay không tu vì làm chánh trị đúng theo định nghĩa của 2 chử “Chánh Trị” thì chử “Chánh” có nghĩa là có nghĩa là “Đúng” và chử “Trị” có nghĩa là “làm” hay “sửa” do đó Chánh Trị có nghĩa là: “làm hay sửa lại cho đúng’ thế thôi. Thế thì việc làm chánh trị có gì xấu đâu, ngược lại nó phải là bổn phận cao quý và trách nhiệm cao cã mà mọi người có bổn phận phải làm.
  • Có thái độ truởng thành hơn về vai trò của chuà chiền, nhà thờ, thánh thất và hàng giáo sĩ, tu sĩ. Đặc biệt là khi họ giảng dạy rằng: “Giáo hội không làm hay muốn dính líu đến chánh trị, hoặc khuyên giáo dân chỉ nên tập trung vào việc giử đạo của mình không nên đem việc tranh đấu chống Cộng vào tôn giáo, chùa hay nhà thờ vì đó là chánh trị. Đây là những lý luận vô trách nhiệm và nguỵ biện để cốt bảo vệ quyền lợi riêng tư của giáo hội thay vì bảo vệ cho đồng bào, giáo dân và dân tộc. Nếu cần, đồng bào hải ngoại có thể giử đạo tại gia để không ủng hộ hay làm lợi cho những cơ sỡ hay vị lãnh đạo của giáo hội nào có lập trường hay hành động làm lợi cho tà quyền cộng sản đánh phá đạo pháp và gây thêm quốc nạn cho dân tộc.
  • Riêng về việc cộng sản xữ dụng thế lực của đồng tiền và tay sai để dùng luật pháp đe doạ và ngăn chận những sinh hoạt hay biểu tình dân chủ chống cộng, chống Việt gian c ủa CĐNV hải ngoại. Quyền biểu tình và phản đối một cá nhân, một thương vụ hay một tổ chức là một quyền hạn được luật pháp cho phép và bảo vệ tại hầu hết các quốc gia dân chủ Tây phương: “Freedom of speech” là một trong những trụ cột của quyền tự do căn bản của người dân trong các quốc gia này, miễn là sự chống đối hay biểu tình xãy ra trong ôn hoà và người tổ chức có được những bằng chứng cụ thể để làm căn bản cho sự phản đối chánh đáng của mình.

Đã đến lúc cộng đồng người Việt hải ngoại phải trở thành một khối toàn cầu v ề nhân lực (Tổng Luật Sư Đoàn Liên Quốc của người Việt tỵ nạn) và tài lực (Quỹ Pháp Lý Liên Quốc của người Việt tỵ nạn) để bảo vệ nhau và tạo nên một thế lực đối trọng với mọi cuộc tấn công về tài lực của CSVN. Điều này có thể được đưa ra làm một trong những đề tài nghị sự của Nghị Hội Người Việt Hải Ngoại nếu chúng ta triệu tập được.

  • Đối với những du sinh, trong đó có cã những các bộ cs trà trộn để ra hải ngoại hoạt động và một số khá đông con cháu của các bộ CS cao cấp, một hiện tượng rỏ ràng nhất đã và đang xãy ra: đó là hầu như tuyệt đại đa số du sinh VN và ngay cã cán bộ CS đều tìm đủ mọi cách để ở lại ngoại quốc chứ không ai muốn chui đầu về trở lại VN cã. Điều này chính tà quyền CSVN cũng phải thú nhận là chỉ có khoảng 10%-13% tổng số du sinh trở về lại nước sau khi ra trường trong số hàng trăm ngàn đi du học.

Điều này đã nói lên hiện thực của vấn đề. Đó là du sinh và gia đình của họ nữa đã “vote with their f eet” v ì chán ghét hoặc sợ chế độ CS tại VN. Một cách nào đó họ cũng đã chọn ở lại với tự do thay vì trở về phục vụ cho chế độ CS. Cộng đồng của chúng ta nên có những thông điệp nhắn gởi đến những du sinh này mời goị họ hãy tham gia và đứng hẳn về phía cộng đồng tỵ nạn của chúng ta, chấp nhận đứng dưới lá cờ vàng tự do, lên tiếng chống lại chế độ độc tài độc đảng CSVN một cách rỏ ràng và dứt khoát hầu cứu nước cứu dân và đưa xứ sỡ trở lại phú cường, tự do, dân chủ và độc lập thật sự.

Nói tóm lại, để chống lại nghị quyết 36 và những hành vi và chiến lược đánh phá người Việt tỵ nạn của chúng ta, chúng ta trước hết phải nhận thức một cách rỏ ràng và tóm gọn mục tiêu chính của CSVN là: chia rẽ, gây nghi kỵ, dùng tội phạm để đe doạ, gây tiếng xấu, kinh tài, tạo thái độ và khuyến khích những lý luận tiêu cực, chán nản, buông xuôi và dùng chiêu bài “phi chánh trị”để vô hiệu hoá tôn giáo và các cơ quan, tổ chức hay cá nhân làm từ thiện phi chính phủ (NGO) hãi ngoại trong việc chỉ trích hay lên án chế độ gây ra nghèo đói và bất công do CSVN gây ra.

Để hoá giải hoặc giảm thiểu sự tác hại của nghị quyết 36 và những sự tấn công khác của CSVN, chúng ta phải làm và có thái độ NGƯỢC LẠI với tất cã những điều này, đó là:

  • đoàn kết, kiện toàn cơ chế của Cộng Đồng chống Cộng và kiến tạo tiềm năng tài chánh tổng hợp của khối người Việt chống Cộng Sản tại hải ngoại
  • tham khảo, tìm hiểu tận nơi tận gối, tuyệt đối không cả tin những kẻ rỉ tai hay tin tức trên báo chí hay mạng lưới toàn cầu
  • hợp tác với các cơ quan bài trừ tội phạm và chính phủ các cấp
  • luôn luôn chú ý và đặt trong tâm vào những điều tích cực và quan điểm và hành động đứng đắn của các cá nhân, cộng đồng, tôn giáo, tổ chức chống Cộng có uy tín thay vì chỉ chú tâm vào những lổi lầm hay khuyết điểm nhỏ nhặt.
  • hiểu rỏ về hai chử “chánh trị” và ý nghĩa đích thực của nó để rồi tích cực lên tiếng, tham gia và đấu tranh cho việc “chánh”
  • không để cho tiền bạc và cá nhân của mình bị lợi dụng bỡi bất kỳ cá nhân, tôn giáo hay, hội đoàn từ thiện nào có quan điểm rằng “chúng tôi chỉ làm từ thiện, tôn giáo chứ không làm chánh trị”. Phải đòi hỏi hoặc đặt điều kiện với nhũng tổ chức hay cá nhân này rằng họ đã, đang hoặc sẽ làm gì để góp phần GIẢI QUYẾT hoặc GIẢM THIỂU nguyên nhân và tà quyền đã và đang gây ra sự nghèo đói, tham nhũng và bất công cho nạn nhân trước khi quyết định ủng hộ hay đóng góp.

Bài Xem Nhiều