We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 29 September 2010

Nổi buồn đàn Ông

“Sáng nay ngồi nấu nồi chè
Nhớ lại chuyện cũ nó đè trong tim
Ngồi buồn ngó xuống con... Chim
Xưa sao hùng dũng, nay im thế này
Lắc đi lắc lại mỏi tay
Mà sao nó vẫn ngây ngây khờ khờ
Bây giờ dù có ai rờ
Mà sao nó vẫn khờ khờ ngây ngây...

“Bây giờ sống cũng như không
Thôi rồi cái kiếp làm chồng làm cha
Bây giờ có sống đến già
Cho dù béo tốt cũng là công toi
Bây giờ pháo đã tịt ngòi
Gia tài còn lại một vòi nước trong
Suốt ngày nó chảy long tong
Đến khi hữu sự nó cong cái vòi...

“Ngày xưa sung sức thì nghèo
Bây giờ rủng rỉnh thì teo mất rồi
Bây giờ sức khỏe tuyệt vời
Nhưng mà nó có đàn hồi nữa đâu
Ngày xưa sức khỏe như trâu
Bây giờ “công cụ” nát nhàu như dưa
Ngày xưa chẳng kể sớm trưa
Bây giờ loáng thoáng lưa thưa buồn lòng
Ngày xưa như sắt như đồng
Như đinh đóng cột như rồng phun mưa
Bây giờ như cải muối dưa
Mười thang Minh Mạng vẫn chưa ngẩng đầu
Trải qua một cuộc bể dâu
Cái thời oanh liệt còn đâu nữa mà...!”.

- Nay mai về với ông bà
Nấp sau nải chuối ngắm gà khỏa thân...

Người giữ bí quyết làm "nem công chả phụng"

Người ta thường ngỡ những món ăn của vua chúa ngày xưa như "nem công chả phụng" chỉ còn trong những câu dân gian lưu truyền chỉ sự xa hoa của vua chúa ngày xưa.

Thế nên ít ai ngờ ở Huế ngày nay vẫn có người giữ được bí quyết làm những món ăn "trong mơ" ấy. Đó là bà Tôn Nữ Thị Hà (còn có tên là Tôn Nữ Hà), ngụ tại hẻm 28, phố Lê Thánh Tôn, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Bà Tôn Nữ Thị Hà.
Người giữ bí quyết làm "nem công chả phụng",
Ẩm thực, am thuc, nem công chả phụng, bí quyết,
món ngon, đặc sản Huế, món ăn dâng vua

Một thời thất truyền

Bà Hà kể lại, vốn là con cháu thuộc hoàng tộc, bà được những người cô ruột là những phu nhân quan Thượng thư bộ Lại, Thượng thư bộ Lễ và Đốc phủ trong triều đình truyền dạy cho những kỹ thuật, mẹo nấu ăn cung đình.

Bà Hà kể ngày xưa các vua triều Nguyễn rất chú trọng đến việc ăn uống, trong cung có hẳn một ban gọi là Thượng Thiện Đội (thời vua Minh Mạng) lên tới 50 người chuyên lo việc bếp núc, ăn uống cho Hoàng tộc. Những người này phải tuân thủ một số điều cấm nhằm đảm bảo thức ăn vừa ngon, vừa có tác dụng trị bệnh, bằng cách kết hợp những thảo phẩm trong chế biến.

Sau khi chế độ quân chủ sụp đổ, những đầu bếp trong cung vua lưu lạc khắp nơi, những món ăn cung đình vì thế bị lãng quên theo thời gian. "Thời buổi loạn lạc tiền bạc đâu mà chế biến thức ăn như trong cung. Đầu bếp phải đổi nghề kiếm sống, người về quê làm ruộng, người theo kháng chiến, không còn ai chú tâm đến chuyện gìn giữ những món ăn cung đình nữa", bà Hà nhớ lại.

Riêng bà Hà nhờ có kiến thức y tế nên được mời đến công tác tại Bệnh viện Trung ương Huế. Tại đây ngoài công việc của một y tá, bà Hà kiêm luôn nhiệm vụ đầu bếp nấu ăn cho bệnh nhân. "Bệnh nhân ăn theo bệnh lý, tức mỗi người ăn một kiểu khác nhau, tôi phải nấu 1200 suất cơm mỗi ngày có khẩu vị khác nhau", bà Hà nói. Chuyện cô y tá có tài nấu nướng, những món ăn có chế độ dinh dưỡng hợp lý góp phần giúp hàng trăm bệnh nhân sớm khỏi bệnh được nhiều người biết đến. Một lần, khi tình cờ một vị Đại sứ ghé thăm Huế và ăn các món ăn do cô nấu, ông bất chợt gợi ý: "Sao chị Hà không mở nhà hàng ẩm thực, tôi sẽ làm thực khách trung thành". "Lúc đầu nghe cũng thấy to tát, khó thực hiện nhưng nghĩ lại thấy ông ấy nói cũng phải, biết đâu mình lại có cơ hội làm sống lại nghệ thuật ẩm thực cung đình bị mai một lâu nay", bà Hà suy nghĩ. Nhờ người thân, bạn bè ủng hộ, nhà hàng của bà được khánh thành từ mùa hè năm 1993 nằm trong một con hẻm trên phố Lê Thánh Tôn.

Kỳ công nấu nướng

"Nem công chả phụng" là đây

Vốn con nhà Hoàng tộc, được đào tạo công việc bếp núc từ nhỏ nên với nghệ nhân Tôn Nữ Hà, những công thức nấu nướng đã trở thành bài học thuộc nằm lòng, từ bữa ăn chính cho đến bữa điểm tâm, ăn dặm.

Bà Hà cho biết, để chế biến món ăn người đầu bếp không chỉ có kiến thức chuyên môn mà phải có khả năng sáng tạo khi chế biến, không phải cứ nhất nhất theo công thức có sẵn bởi "công thức chỉ có tính tương đối, phải tuỳ theo đặc tính từng loại thực phẩm để nêm gia vị cho phù hợp" như lời bà nói. Khác với chế biến món ăn thông thường, khi chế biến món ăn cung đình người đầu bếp phải nêm gia vị nhiều lần nhằm đảm bảo mùi vị vừa miệng, lại giữ được chất tươi nguyên của thực phẩm. "Sau khi nêm gia vị ướp thực phẩm, đầu bếp cần nêm bổ sung lúc thức ăn đang sôi. Khi tắt lửa phải nêm thêm lần nữa và cuối cùng trước khi bày ra dĩa phải nêm lần cuối. Một món ăn cung đình phải nêm gia vị không dưới ba đến bốn lần khi nấu", nghệ nhân Tôn Nữ Hà "bật mí".

Hay như chế biến món chè kê là món ăn lỡ (ăn giữa bữa) khoái khẩu của các vua, hoàng hậu... nếu không có kinh nghiệm nấu, chè rất dễ bị cháy khét, không còn mùi vị. "Trước khi nấu, người ta lót một lớp đậu xanh ở đáy nồi. Khi đậu sôi mới cho kê vào, hạt kê được chín tới nhờ hơi nước bốc lên từ những khe hở do lớp đậu tạo ra", đầu bếp Hà chia sẻ bí quyết nấu nướng.

Theo bà Hà, khi chế biến món ăn cung đình Huế có rất nhiều "mẹo vặt" giúp món ăn ngon hơn. Ví dụ để làm mất mùi tanh khi chế biến thịt ba ba, thịt lươn, trước khi nấu người ta dùng rượu gừng, nước muối để khử qua.

Bà Tôn Nữ Hà cũng là một trong những người được cấp hàng chục bằng chứng nhận đã tốt nghiệp các khóa đào tạo về ẩm thực. Ngoài những bằng được cấp trong nước như "Bằng tu nghiệp dinh dưỡng", bằng pha chế thực phẩm, bằng pha chế rượu Bartender... bà còn được nhiều trường đại học, học viện du lịch ở nước ngoài cấp bằng danh dự như Bằng đầu bếp của trường Đại học du lịch và nấu ăn Tây Ban Nha, Hàn lâm viện Tây Ban Nha...

Sức mạnh của ẩm thực

Theo bà Hà, ẩm thực Huế nói riêng và ẩm thực Việt Nam nói chung được người nước ngoài đánh giá rất cao, đặc biệt ẩm thực cung đình Huế nổi tiếng không chỉ ở cách chế biến mà còn ở cách trình bày, trang trí món ăn bắt mắt mà không phải nơi nào cũng làm được. Khách du lịch phương Tây rất thích cách trang trí món ăn cung đình Huế. Các trường Đại học du lịch Tây Ban Nha, Pháp, Iraq... từng mời bà sang dạy cho đầu bếp của họ cách chế biến, trình bày món ăn cung đình Huế.

Trong những chuyến xuất ngoại như vậy người đầu bếp xứ Huế không quên quảng bá với bạn bè về vẻ đẹp quê hương. Bà kể rằng nhiều người lần đầu nghe bà giới thiệu, thấy bà chế biến món ăn Huế đều không khỏi tò mò và muốn đến Huế ngay để được thưởng thức. Có một kỷ niệm liên quan đến món ăn Huế khiến bà nhớ mãi là bữa tiệc hơn 200 khách tổ chức tại một khách sạn ở Tây Ban Nha nơi bà sang giảng dạy. "Hôm đó chủ khách sạn nhờ tôi làm vài món ăn Việt Nam theo yêu cầu của khách. Những món ăn Việt Nam ấn tượng với thực khách đến mức kết thúc bữa tiệc, hàng chục vị khách nán lại đòi gặp bằng được những người nấu ăn chỉ để bắt tay và nhắc đi nhắc lại một câu "Việt Nam"", bà Hà thuật lại.

Hay kỷ niệm 14 năm trước đây cũng là một chuyện đáng nhớ với bà Hà. Cuối năm 1996, trong một bữa ăn chiêu đãi hàng trăm nhân viên của một hãng kinh doanh Pháp, đến lúc tiệc sắp kết thúc, một người Pháp đứng tuổi đại diện cho các nhân viên của hãng đề nghị gặp người nấu món ăn ngay tại buổi liên hoan rồi ông nói trên micro: "Đến khi thưởng thức những món ăn này, tôi mới hiểu rằng trước đây người Pháp đã không hiểu gì về sức mạnh văn hóa Việt Nam".

Theo sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên, chế độ ăn uống của vua ngày 3 lần như sau: Điểm tâm 12 món (6h sáng); Ăn trưa 50 món mặn và 16 món ngọt (11h). Số lượng món ăn chiều cũng giống món ăn trưa.

Các món ăn cung đình lúc đầu là do truyền lại từ đời này sang đời khác, sau thì các sứ thần khi đi sứ về, họ cung tiến vua những món ăn lạ và ngon. Món nào đặc biệt sẽ được liệt vào danh sách rồi truyền tiếp sang đời sau, cứ thế, món ăn cung đình phong phú và đa dạng hơn.

CĂN NGUYÊN SUY THOÁI CỦA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN TẠI

CĂN NGUYÊN SUY THOÁI CỦA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN TẠI
(Phần 1)



Nền giáo dục Việt Nam hiện tại đang suy thoái trầm trọng. Sự suy thoái nầy không phải chỉ một sớm một chiều, mà đã bắt đầu khá lâu, có thể mấy chục năm nay, từ khi chế độ cộng sản xuất hiện ở Việt Nam. Nền giáo dục cứ đi xuống từ từ, khó nhận biết. Người ta nói đi xuống theo hình trôn ốc. Nghĩa là càng xuống thì sự yếu kém của nền giáo dục càng rộng ra, từ thế hệ nầy qua thế hệ sau. Kém đến nổi vào đầu năm 2007, hai giảng viên trường Đại học Sư phạm Thái Bình đã phát biểu rằng Tự Lực Văn Đoàn là một đoàn Cải lương và Nhất Linh là một tài tử cải lương.(1) Giảng viên ĐHSP mà như thế thì những người học trò của họ, những giáo sinh ĐHSP, tức những người thầy tương lai của Việt Nam sẽ như thế nào?

1.- CHÍNH SÁCH VĂN HÓA GIÁO DỤC QUA CÁC HIẾN PHÁP

Để tìm căn nguyên suy thoái của nền giáo dục Việt Nam hiện nay, có lẽ cần phải bắt đầu từ đầu, tức đi thẳng vào chính sách giáo dục của chế độ cộng sản Việt Nam.

Hiến pháp năm 1946 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, được Quốc hội đầu tiên thông qua ngày 9-11-1946, gồm 7 chương với 70 điều, trong đó điều 15, mục B, chương II, ghi rằng: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước.”

Đó là điều duy nhất trong hiến pháp năm 1946 quy định về nền giáo dục. Cần chú ý là lúc đó, tình hình khá căng thẳng, sắp xảy ra chiến tranh, nên tất cả mọi người đều chú trọng vào việc kháng Pháp, việc ngọai giao, quốc phòng… Việc giáo dục chẳng được chú ý là chuyện bình thường, ai cũng lo “xếp bút nghiên theo việc đao cung”.

Sau năm 1954, đất nước bị chia hai. Đảng Lao Động và Hồ Chí Minh cầm quyền ở phía bắc vĩ tuyến 17, tiếp tục chế độ VNDCCH. Hiến Pháp thứ hai của nước VNDCCH gồm 10 chương với 112 điều, được Quốc hội Bắc Việt thông qua ngày 31-12-1959, trong đó các điều 33, 34, 35 thuộc chương III nói về chủ trương văn hóa giáo dục, cũng chỉ trình bày chủ trương tổng quát gần như hiến pháp năm 1946. Có thể vì lúc đó, nhà cầm quyền Hà Nội đang chuẩn bị tấn công miền Nam, nên tránh việc quá lộ liễu “tính đảng” trong văn hóa giáo dục.

Sau khi đánh chiếm toàn bộ miền Nam năm 1975, nhà nước Hà Nội tổ chức bầu cử Quốc hội trên toàn quốc ngày 25-4-1976. Quốc hội họp phiên đầu ngày 24-6-1976 tại Hà Nội. Trong phiên họp hơn một tuần sau đó, ngày 2-7-1976, Quốc hội tuyên bố đổi tên nước thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), thủ đô là Hà Nội. Về phía đảng Lao Động, nay không còn phải tránh né dư luận trong và ngòai nước, đảng Lao Động tự đổi thành đảng Cộng Sản Việt Nam trong Đại hộI IV, từ 14 đến 20-12-1976. Lê Duẩn tiếp tục giữ chức tổng bí thư.

Ngày 27-6-1978, tại Bucarest (thủ đô Roumania), CHXHCNVN gia nhập khối COMECON (Council for Mutual Economic Assistance tức Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế) tức khối kinh tế do Liên Xô đứng đầu. Sau đó, ngày 3-11-1978, Lê Duẩn sang Liên Xô ký với Leonid Brezhnev, tổng bí thư đảng CSLX, “Hiệp ước hai mươi lăm năm hỗ tương và phòng thủ” giữa hai nước.

Nói một cách khác, từ nay, CSVN không cần ẩn danh dưới một hình thức chính trị nào và để lộ hẳn bản chất của một chế độ cộng sản toàn trị. Việc nầy thấy rõ trong chính sách văn hóa giáo dục của nhà nước Hà Nội trong hiến pháp năm 1980. Bản hiến pháp nầy gồm 7 chương với 147 điều, được Quốc hội Hà Nội thông qua ngày 18-12-1980, trong đó chương III nói về văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật.

Về văn hóa, điều 37 ghi rằng: “Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đầy mạnh cách mạng tư tưởng và văn hóa, xây dựng nền văn hóa mới có nội dung xã hội chủ nghĩa…” Điều 38 nguyên văn như sau: “Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của xã hội Việt Nam. Nhà nước tuyên truyền, giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam, Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; bảo vệ và phát triển những giá trị văn hóa và tinh thần của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới; chống các tư tưởng phong kiến, tư sản và ảnh hưởng của văn hóa đế quốc, thực dân; phê phán tư tưởng tiểu tư sản; xây dựng nếp sống xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ nếp sống lạc hậu, bài trừ mê tín, dị đoan.”

Về giáo dục, điều 40 ghi rằng: “Nền giáo dục Việt Nam không ngừng được phát triển và cải tiến theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất…” Điều 41 thêm vào: “Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thống nhất quản lý…Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình và xã hội cùng với nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.”

Về văn học, điều 44 viết: “Văn học nghệ thuật Việt Nam được xây dựng trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và theo đường lối văn nghệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam…”

Sau đó, từ năm 1989 đến năm 1991, các chế độ cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, chủ nghĩa Mác-Lênin hoàn toàn bị phế thải ở Âu Châu, nên CHXHCNVN chẳng đặng đừng phải thay đổi hiến pháp. Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua ngày 15-4-1992, gồm 12 chương và 147 điều, trong đó, chương III nói về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bỏ bớt những từ ngữ liên hệ đến chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng cũng mang tính tòan trị, đại khái như “nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa…”(điều 30), “nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung…”(điều 36).

Như thế, chỉ có bản hiến pháp năm 1946 chấp nhận hệ thống tư thục, còn từ hiến pháp năm 1959 đến hiến pháp năm 1992, là “nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục…”. Tuy rất tổng quát, nhẹ nhàng, nhưng “thống nhất quản lý” là ngôn ngữ hành chánh, ngôn ngữ chính trị, có nghĩa là độc quyền quản lý, hay nói cách khác việc giáo dục thuộc độc quyền của nhà nước, không có hệ thống tư nhân, không có các trường của các tôn giáo hay các hội đoàn. Giống như nhà nước độc quyền chính trị, độc quyền kinh tế, độc quyền tài chánh, độc quyền ngọai thương, độc quyền báo chí…

2.- CHỦ TRƯƠNG GIÁO DỤC PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ

Trong bài nói chuyện tại lớp học tập chính trị khoảng 3,000 giáo viên cấp 2 và cấp 3 miền Bắc (dạy từ lớp 6 đến lớp 12), do bộ Giáo Dục tổ chức tại Hà Nội ngày 13-9-1958, Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.”(Báo Nhân Dân ngày 14-9-1958.) Câu nầy, Hồ Chí Minh dịch của Quản Trọng thời Xuân thu (722-479 TCN) bên Trung Hoa (thập niên chi kế tại ư thụ mộc, bách niên chi kế tại ư thụ nhân). Như thế, Hồ Chí Minh và đảng CSVN thấy rõ tầm quan trọng chiến lược của việc giáo dục.

Do đó, ngay từ đầu, khi một mình đảm trách nền giáo dục toàn quốc từ sau năm 1946 cho đến nay, bộ Giáo dục nhà nước cộng sản không những chỉ quản lý chặt chẽ nền giáo dục, mà còn thi hành chủ trương giáo dục phục vụ chính trị, phục vụ đảng.

Theo những nhà giáo lớn tuổi, lúc mới chiếm được chính quyền vào tháng 9-1945, nhà nước VNDCCH vẫn còn theo chương trình giáo dục lập ra từ thời chính phủ Trần Trọng Kim. Vị bộ trưởng giáo dục trong chính phủ Việt Minh đầu tiên ngày 2-9-1945 là ông Vũ Đình Hòe. Ngày 3-11-1946, Hồ Chí Minh cải tổ nội các, một tuần trước khi hiến pháp đầu tiên được thông qua. Ông Nguyễn Văn Huyên được đưa lên thay ông Vũ Đình Hòe, giữ chức bộ trưởng giáo dục. Ông Nguyễn Khánh Toàn làm thứ trưởng.

Tuy là thứ trưởng, nhưng mọi quyền hành nằm trong tay ông Nguyễn Khánh Toàn, vì ông là đảng viên cộng sản lâu năm. Nguyễn Khánh Tòan dạy tiếng Việt ở Moscow từ năm 1927, có tên Nga là Minin, có vợ Nga, vào học ở Học viện Thợ thuyền Đông phương (Université des travailleurs d’Orient) từ năm 1928 đến năm 1931. Sau đó, Toàn ở lại Liên Xô. Năm 1939, Nguyễn Khánh Toàn cùng Nguyễn Ái Quốc qua Trung Hoa, cùng đến Diên An, căn cứ của CSTH, năm 1941. Toàn ở lại Diên An, đến năm 1946 mới trở về Việt Nam.(2)

Tất cả những thay đổi trong nền giáo dục bắt đầu khi Nguyễn Khánh Toàn trở về Việt Nam, ứng dụng triết lý giáo dục của Liên Xô, do bộ trưởng giáo dục Liên Xô là Kalenikov (?) đưa ra. Đó là “Giáo dục phục vụ chính trị”, tức giáo dục phải phục vụ chế độ do đảng Cộng Sản điều hành, hay nói cách khác, giáo dục phải có tính đảng và những nhà giáo, giáo viên, phải có lập trường đảng thật vững vàng.

Trong lúc chiến tranh tiếp diễn, Nguyễn Khánh Toàn ra lệnh tổ chức những trại huấn luyện cho giáo viên trong khu vực do Việt Minh cộng sản chiếm đóng, phổ biến nền giáo dục mới tại các liên khu. Trại huấn luyện liên khu 3 tổ chức tại Yên Mô (Ninh Bình) và liên khu 4 tại Cổ Định (Nông Cống, Thanh Hóa).(3) Sau khi được huấn luyện, các cán bộ nòng cốt trở về tỉnh của mình, tổ chức truyền đạt lại cho giáo viên cấp tỉnh, rồi từ tỉnh xuống huyện.

Chính sách giáo dục phục vụ chính trị là chủ trương cốt lõi của chế độ cộng sản, được đảng Cộng Sản (đổi thành đảng Lao Động từ năm 1951, rồi đảng Cộng sản Việt Nam năm 1976) và nhà nước do đảng nầy lập ra, thực hiện hết sức nghiêm chỉnh trong các vùng do Việt Minh kiểm sóat từ năm 1948 đến năm 1954, ở miền Bắc Việt Nam (bắc vĩ tuyến 17) từ năm 1954 đến năm 1975, và trên tòan cõi Việt Nam từ năm 1975 cho đến nay.

Chính sách giáo dục nầy gần đây được củng cố thêm bằng luật số 11/1998/QH10 của Quốc hội Hà Nội, áp dụng từ ngày 2-9-1998, theo đó: “…Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân…lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.”

3.- ỨNG DỤNG CHỦ TRƯƠNG “GIÁO DỤC PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ”

Từ chủ trương chính trị hóa giáo dục, tất cả chương trình học các cấp đều phải theo nhu cầu chính trị của đảng Cộng Sản và của nhà cầm quyền cộng sản. Tiêu chuẩn chọn lựa giáo viên là “hồng hơn chuyên”, có lập trường theo đảng vững vàng hơn là giỏi chuyên môn. Sách giáo khoa do Ban Tu thư Trung ương gồm đảng viên biên sọan, ban Văn hóa tư tưởng đảng duyệt xét, in ấn, trở thành pháp lệnh, bắt buộc giáo viên phải tuân theo.

Nhiều khi sách giáo khoa được viết sai. Ví dụ không ai có thể tưởng tượng nổi sách giáo khoa môn Văn lớp 10, khi bình luận bài “Bình Ngô đại cáo”, đã viết rằng Nguyễn Trãi là nhà bảo vệ môi trường.(Người Việt Online, 7-8-2006, “Sách giáo khoa lớp 10 ở Việt Nam”.)

Dầu vậy, dầu sách giáo khoa viết sai thế nào, giáo viên cũng phải tuân theo, không được dạy khác sách giáo khoa, ngoài sách giáo khoa. Giáo viên và cả học sinh không được suy nghĩ hay phát biểu bất cứ ý kiến gì mới lạ, ngoài những gì cộng sản chủ trương, ngòai những điều đã học ở trường lớp và sách giáo khoa. Nhà nước và nhà trường không chấp nhận cái gì mới ngoài những sách giáo khoa của nhà nước, chủ trương của đảng CSVN. Ai có ý kiến gì khác liền bị quy chụp là xét lại, phản động, chắc chắn sẽ được đưa đi cải tạo, nghĩa là vào tù.

Sách giáo khoa phải luôn luôn đề cao tính ưu việt của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ca tụng đảng Cộng Sản Việt Nam, ca tụng các lãnh tụ đảng. Không phải chỉ ca tụng đảng Cộng Sản Việt Nam, mà cả các đảng Cộng Sản trên thế giới, từ Liên Xô, Đông Âu, Trung Hoa… Và ca tụng tòan thể các lãnh tụ các đảng CS nằm trong hệ thống Đệ tam Quốc tế.

Trong lãnh vực khoa học, sách giáo khoa cộng sản luôn luôn cho rằng chỉ có những nhà khoa học cộng sản, các nước cộng sản là ưu việt, dầu những lý thuyết của các tác giả Liên Xô hay Đông Âu cộng sản đã quá cũ, đồng thời chê bai, đả kích những nhà khoa học của các nước tư bản, đế quốc.
Có một câu thơ điển hình về việc nầy:
“Người ta dạy tôi
Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ
Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ,
Tôi đã sống một phần hai thế kỷ
Để hôm nay làm đĩ với tâm hồn.”
(Trích: Cửa mở của Việt Phương)
[Việt Phương từng là thư ký riêng của Phạm Văn Đồng]

Trong lãnh vực địa lý, theo sách giáo khoa của CSVN, chỉ có những nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là thực sự phát triển dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng CS, trong khi các nền kinh tế tư bản, tự do là bóc lột, phồn vinh giả tạo.

Trong lãnh vực văn chương, người cộng sản chỉ ca tụng những tác giả xuất hiện từ thời cộng sản, ở Liên Xô, ở Đông Âu, ở Trung Cộng. Riêng ở Việt Nam, thì những tác giả cổ điển bị sách giáo khoa cộng sản cho là mang đầy tư tưởng phong kiến, hưởng lạc trong khi nhân dân đau khổ. Thậm chí, Nguyễn Du vẫn còn tư tưởng lạc hậu, phản động, và thân phận nàng Kiều là một bản cáo trạng đanh thép đối với chế độ phong kiến.(4) Văn học sử Việt Nam dưới chế độ cộng sản luôn luôn đề cao Hồ Chí Minh, Sóng Hồng (Trường Chinh), Tố Hữu…Đề thi trung học quanh quẩn giữa các tác giả cộng sản.

Về lịch sử, thì lịch sử đất nước hay lịch sử thế giới đều được sách của chế độ Hà Nội giải thích theo quy trình của chủ nghĩa công sản, từ xã hội nguyên thủy cho đến ngày nay. Lịch sử được vo tròn bóp méo theo nhu cầu của đảng CS. Người ta còn sáng tác những chuyện hoang tưởng rồi đưa vào lịch sử, và bắt học sinh phải học. Như chuyện Lê Văn Tám, chuyện Tôn Đức Thắng ở Hắc Hải, chuyện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

Trần Huy Liệu là người đã sáng tác chuyện Lê Văn Tám trong sách giáo khoa Việt sử của cộng sản. Trước khi chết, ông Liệu hối hận vì mình đã bịa chuyện Lê Văn Tám, nên ông Liệu nhờ ông Phan Huy Lê cải chính. Phan Huy Lê đã công khai cải chính trong một cuộc họp của hãng phim truyền hình Việt Nam tại Hà Nội vào cuối tháng 2-2005, bảo rằng chuyện Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật (Người Việt Online, Chủ Nhật 20-3-2005). Tuy nhiên, hiện nay học sinh trong nước vẫn phải học “anh hùng Lê Văn Tám” (?). Tại Sài Gòn vẫn còn công viên Lê Văn Tám trên đường Hai Bà Trưng.

Ở bậc trung tiểu học, các em học sinh Việt Nam phải học “Năm điều bác Hồ dạy”. Đó là: “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Học tập tốt. Lao động động tốt. Giữ gìn vệ sinh thật tốt. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.” Trong năm điều nầy, không có điều nào dạy cho trẻ em có hiếu với cha mẹ, thuận thảo với anh chị em, biết kính nễ người lớn tuổi. Người ta còn buộc học sinh học tập theo gương “đạo đức Hồ Chí Minh”(?). Điều nầy làm cho các bậc phụ huynh rất lo ngại, vì các phụ huynh và cả học sinh hiện nay ở trong nước, qua báo chí sách vở hải ngọai, qua internet, đều đã biết Hồ Chí Minh là người như thế nào?

Như thế, ngay từ căn bản, giáo dục dưới chế độ cộng sản đồng nghĩa với giáo dục nhồi sọ, giáo dục giáo điều. Học sinh chỉ biết vâng lời chứ không tập suy nghĩ, không được phê phán, không học suy luận. Từ đó, óc sáng tạo của học sinh bị xơ cứng, dần dần đi đến chỗ thui chột. Sau đây là lời phát biểu của tiến sĩ sử học Phạm Ngọc Tùng, giảng viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội: “Quan niệm giáo dục và thực hành sư phạm phổ biến hiện nay vẫn là truyền thụ, “nhồi” một chiều chứ không phải trao đổi kiến thức. HS hiếm khi phải tư duy, khi đến lớp chủ yếu là... chép bài. Đến lúc gặp phải đề thi có chút tổng hợp, liên kết là lúng túng, không biết lắp ráp thế nào.”(báo Tuổi Trẻ, ngày 28-7-2006) (còn tiếp)

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 11-3-2007)

CHÚ THÍCH:

1. Trong chương trình “Ai sẽ là triệu phú?”, đài VT3 của Hà Nội ngày 9-1-2007, khi được hỏi về liên hệ giữa các nhân vật trong Tự Lực Văn Đoàn, ứng viên Nguyễn Thị Tâm, giảng viên trường ĐHSP Thái Bình trả lời rằng TLVĐ là một đoàn cải lương, Nhất Linh là một tài tử cải lương. Người bạn của ứng viên nầy, cũng là một giảng viên ĐHSP Thái Bình, được giới thiệu là rất giỏi về văn học, cũng trả lời không đúng.(Chương trình nầy được đưa lên Internet.)
2. Hòang Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản [nguyên bản Anh văn], Mặc Định dịch, Paris: 1962, tt.79-81.
3. Theo lời kể của giáo sư N.Đ.N. ở San Diego, một người có tham dự trại huấn luyện ở Thanh Hóa.
4. Hà Huy Giáp, “Giới thiệu về Nguyễn Du và Truyện Kiều, trong Truyện Kiều, Hà Nội: Nxb. Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1973, tt. XXXV và XLI
-----------------------------
(Phần 2)

Trần Gia Phụng


4.- NHỮNG CĂN BỆNH CỦA NỀN GIÁO DỤC PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ

Chế độ cộng sản độc tài toàn trị cũng như nền giáo dục giáo điều, chỉ có thể tồn tại bằng khủng bố, bạo lực, áp đặt và bưng bít. Tuy nhiên, ngày nay có hai trở ngại chính cho các chế độ độc tài toàn trị là cuộc cách mạng thông tin toàn cầu và xu hướng dân chủ hóa trên thế giới. Các nước trên thế giới đều kêu gọi thực hiện dân chủ, nên bất cứ một hành động độc tài nào đều bi lên án. Hơn nữa, những hành động độc tài không thể che giấu, bưng bít nhờ việc thông tin tân tiến, dễ dàng, thuận lợi và nhanh chóng.

Ngày nay, do mạng lưới thông tin toàn cầu phát triển, những sự thật lịch sử dần dần được đưa ra ánh sáng, nên không còn ai tin những chuyện bịa đặt trong các sách giáo khoa cộng sản Việt Nam. Ngòai ra, trong khi thực hiện chủ trương giáo dục phục vụ chính trị, nền giáo dục Việt Nam lại nẩy sinh ra những tệ nạn đi kèm, những căn bệnh khó có thuốc trị.

Căn bệnh đầu tiên là bệnh lý lịch. Vì giáo dục phục vụ chính trị nên đầu tiên giáo dục phải phục vụ đảng, đảng viên và gia đình đảng viện, tức con em đảng viên, có lý lịch tốt đối với cộng sản. Tất cả các kỳ tuyển sinh đều dựa trên căn bản lý lịch. Lý lịch học sinh được chia thành 14 bậc. Lý lịch càng hồng, càng đỏ thì điểm tuyển càng thấp, nên càng dễ đậu. Con “ngụy quân”, ngụy quyền” ở bậc thứ 13 hay 14, nên có khi điểm rất cao, nhưng vẫn không được tuyển chọn.

Năm 1975, khi mới đánh chiếm miền Nam, những ngành nghề như Sư phạm, Y khoa, chỉ chọn con đảng viên, cán bộ, vì giáo viên là kỹ sư của tâm hồn, bác sĩ là người nắm mạng sống của thiên hạ, nên chỉ những người lý lịch thật tốt mới được học. Trong trường hợp có học bổng, nhất là học bổng ra nước ngoài, lại càng rất khó. Bệnh lý lịch đi kèm theo bệnh thân thế. Con mấy ông càng lớn, thì càng hồng, càng đỏ, càng dễ thi đậu, có thể học dốt cũng đậu.

Bệnh thứ hai là bệnh thành tích, chỉ tiêu. Trường nào, lớp nào cũng phải đạt “chỉ tiêu trên giao”, nghĩa là học sinh phải lên lớp thật đông, phải đậu thật nhiều. Có trường hợp biết con mình học yếu quá, phụ huynh đến xin nhà trường cho con mình ở lại lớp, để học lại cho chắc chắn, liền bị nhà trường quy tội là phá hỏng chỉ tiêu của lớp.

Theo báo điện tử VNExpress, trong cuộc họp lãnh đạo các Sở Giáo Dục và Ðào Tạo trên toàn quốc ngày 22-8-2006, ông Lê Xuân Ðồng, giám đốc Sở Giáo Dục và Ðào Tạo Thanh Hóa, cho biết: “Chúng tôi mắc bệnh thành tích là có phần của bộ. Chỉ tiêu phấn đấu, thi đua do bộ đưa ra, và để đạt được những chỉ tiêu đó, chúng tôi phải mắc bệnh thành tích.”(Người Việt Online ngày 22-8-2006).

Bệnh thứ ba là bệnh nói không đúng sự thật và bất cần thực tế cuộc sống: Căn bệnh thứ ba bắt nguồn từ công tác phục vụ đảng là bất chấp sự thật, bất cần thực tế, chỉ cần theo đúng đường lối chủ trương của đảng. Nói không đúng sự thật hay nói láo để tô hồng chế độ, để hạ thấp giá trị của tất cả những gì không phải cộng sản, để nhồi sọ thanh thiếu niên, để lập thành tích cho nền giáo dục phục vụ chính trị.

Bệnh nầy thấy rõ trong các môn nhân văn, như văn chương, địa lý và sử học. Ông Hà Văn Thịnh, giảng viên Trường Đại học Khoa học Huế, đã viết: “Còn mình thì chỉ một chiều, lúc nào cũng chỉ địch thua ta thắng, địch bao giờ cũng hèn nhát, ta bao giờ cũng cao thượng, dũng cảm. Một chiều như vậy mãi thì HS cũng không thích, thậm chí tạo mặc cảm lừa dối.”( Tuổi Trẻ, 28-7-2006.) “Tất cả những trận đánh mà Cộng sản thực hiện đều “thắng lợi vẻ vang”, tiêu diệt rất nhiều tên địch, phá hủy nhiều phương tiện vũ khí trong khi đó số thương vong của Cộng sản không bao giờ được liệt kê. Phần nguyên nhân của tất cả các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ bao giờ cũng được dùng để ca ngợi sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và ông Hồ Chí Minh. Trong khi đó không có một bài nào mô tả cuộc sống và tình hình thực chất ở miền Nam Việt Nam.”(Hoàng Duy, “Vì sao học sinh Việt Nam dốt sử?”, Đàn Chim Việt, ngày 4-8-2006.)

Khi được ký giả Trà Mi hỏi: “Những cái đang đựơc giảng dạy trong nhà trường có phù hợp với những gì đang diễn ra thực tế bên ngoài hay không?” Một sinh viên tên Tòan, cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh thuộc trường đại học kinh tế TPHCM, trả lời rằng: “Nếu sinh viên học theo chương trình của Bộ thì ra ngoài khi đi xin việc làm, các công ty hoặc là phải đào tạo lại từ đầu hoặc cho ra nước ngoài học tập, theo yêu cầu công việc của doanh nghiệp.” (Phỏng vấn của phóng viên Trà Mi, đài RFA ngày 22-11-2006)

Hiện nay, chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành đồ phế thải trên thế giới, nhưng ở trong nước, học sinh các khối thi tốt nghiệp trung học phải chọn một trong hai bộ môn sau đây: Thứ nhất: Triết học Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Lịch sử đảng CSVN, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Thứ hai: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học.

“Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam vẫn bắt buộc sinh viên phải học chủ nghĩa Mác-Lê nin, ngay cả các trừơng đại học liên kết giảng dạy tại Việt Nam đều phải có chương trình giảng dạy về các môn này. Thực tế, 99% sinh viên học theo kiểu đối phó vì không hiểu nỗi và học xong không biết để làm gì. Các môn này mang tính chính trị nhằm định hướng tư tưởng người dân. Chính quyền muốn duy trì thể chế nên phải đưa những môn này vào bắt buộc người dân học.”(Sinh viên Toàn trả lời phỏng vấn của phóng viên Trà Mi, đài RFA ngày 22-11-2006.)

Ngòai các căn bệnh căn bản trên đây, nền giáo dục Việt Nam hiện tại còn có những căn bệnh phụ, vừa do chủ trương giáo dục phục vụ chính trị, vừa do hòan cảnh xã hội đói kém, như các bệnh lạm phát bằng cấp, bệnh tham nhũng trong giáo dục...

Do nhu cầu chính trị, các chức sắc từ cấp giám đốc trở lên cần có bằng cấp, học vị, nên theo học chuyên tu hay tại chức. Ở trong nước hiện nay có câu tục ngữ thời danh: “Dốt chuyên tu, ngu tại chức.” Thế mà các ông vẫn có bằng thạc sĩ (tương đương với cao học trước năm 1975) và tiến sĩ. Theo thống kê của nhà nước CSVN, từ sau năm 1975, Việt Nam đào tạo được 8,400 tiến sĩ và 39,000 thạc sĩ, gấp 3 lần Thái Lan. Tuy nhiên, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa 9 năm 2002 đã cho rằng: “Ngày nay, giáo dục đại học của ta đang tụt thấp hơn 50 bậc so với đại học Thái Lan.” Trong cuộc họp báo ngày 5-1-2006 ở Hà Nội ông bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo thú nhận rằng: “Trong số 8,400 tiến sĩ đào tạo từ năm 1976 cho đến nay, thì đã có 2,500 có trình độ yếu. Bằng cấp đối với nhiều người chỉ làm đẹp hồ sơ, tạo cơ hội cho sự thăng tiến.”(Mai Thanh Truyết, “Giáo dục Việt Nam”, báo Sống, Houston, tháng 3-2006.)

Bệnh tham nhũng không phải chỉ riêng ngành giáo dục, mà đó là bệnh của chung tòan thể bộ máy cầm quyền cộng sản, có thể xem là bệnh xã hội, như bệnh hoa liễu, bệnh Sida (Aids). Bệnh hoa liễu, bệnh Sida chỉ giết một số cá nhân, trong khi bệnh tham nhũng làm hại cho tòan bộ xã hội và bệnh tham nhũng trong giáo dục tác động đến trí óc của trẻ em, gây ảnh hưởng lâu dài trong đời sống văn hóa của đất nước.

Tham nhũng giáo dục xảy ra ở mọi cấp bậc, từ tiểu học lên trung học và đại học. Tham nhũng tiểu học có tính cách “cò con”, như phụ huynh hối lộ để xin con em chọn trường mẫu giáo hay lớp 1, như giáo viên buộc học sinh phải học thêm với mình tại nhà, nếu không thì không được lên lớp… Tham nhũng trung học để học sinh chạy điểm lên lớp, thi lấy bằng. Chuyện nầy báo chí trong nước nhiều lần đề cập đến. Thê thảm hơn nữa, vào đầu năm 2007, lại xảy ra việc sách nhiễu tình dục ở bậc trung học, tại trường trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Tham nhũng đại học cũng có nhiều hình thức, từ thi tuyển sinh, đến thi lên lớp hoặc thi tốt nghiệp.

5.- KẾT QUẢ NỀN GIÁO DỤC PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ

Trong một nền giáo dục như thế, ngoài việc đào tạo những người biết vâng lời hơn là biết suy nghĩ, thì làm thế nào có thể xây dựng nhân tài được, làm thế nào đất nước có thể tiến bộ được? Kết quả của nền giáo nầy được các báo trong nước sơ kết như sau: “Báo Thanh Niên viết tựa: “Học sinh lớp 6 ở Bạc Liêu chưa biết đọc!” Báo Tiền Phong kể chuyện từ Kiên Giang tới Cà Mau: “Nhiều học sinh Trung Học Phổ Thông không đọc thông, viết thạo,” trong đó có: “Học sinh lớp 7 nhưng đọc chưa thạo,” có đăng cả hình em học sinh đó đang tập đánh vần. Báo Tuổi Trẻ: “Kontum: Học sinh lớp 6 chưa đọc thông viết thạo,” có 18 em như vậy. Báo này đăng hình một học sinh lớp 6 ở Phù Cát, Bình Ðịnh, đứng ngơ ngẩn trước tấm bảng đen vì không biết làm con tính chia đơn giản. Báo Sài Gòn Giải phóng cũng loan tin 26 học sinh lớp 6 ở một trường tỉnh Phú Yên chưa đọc chưa viết được chữ quốc ngữ và chưa biết làm 4 phép tính cơ bản. Có học sinh lớp 6 chưa biết đọc 24 chữ cái, vào lớp “cứ ngồi im thin thít.” Có em khác, cô giáo viết chữ cái lên bảng, bảo em chép lại, cũng không viết được! Một học sinh lớp 6 ở Sóc Trăng không viết được tên mình, làm bài toán cộng 7 + 3 cũng sai. Báo Sài Gòn Giải phóng còn kể chuyện có học sinh lớp 9 ở Việt Trì, Phú Thọ, cũng chưa biết đọc trôi chảy một đoạn trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Báo Người Lao Ðộng kể có những “học sinh tiên tiến” ở một trường tại tỉnh Lâm Ðồng, học lớp 6, nhưng trong số 25 em trắc nghiệm có tới 23 em không làm được những con tính đơn giản, như 1005 chia cho 5! Khi thi viết chính tả, một bài có 39 chữ thì tất cả đều viết sai. Có em viết sai 19 chữ, có em nhìn bạn viết để “cóp pi” thì sau đó chính chữ mà mình mới chép cũng không đọc lại được là gì! Kể những chuyện đó thì kể mãi không hết….” (Người Việt Online, California, ngày 12-12-2006.) Xin lưu ý là không phải chỉ kém ở học sinh hạ tầng, mà dốt cả ở thượng tầng nữa, như trường hợp bà Nguyễn Thị Tâm và bạn của bà, đều là giảng viên trường Đại Học Sư Phạm Thái Bình, đã kể ở trên.

Việc học sinh trong nước yếu kém, hay không chịu học, phần lớn là hậu quả của chủ trương giáo dục phục vụ chính trị. Chúng ta hãy nghe một người trong nước viết ra: “Một em học sinh khi lên mạng và dùng một chương trình tìm kiếm thông dụng như Google để tìm hiểu về lịch sử Việt Nam sẽ có kết quả đầu tiên là bài Lịch sử Việt Nam trên Wiki. Sau khi đọc xong bài sử được viết một cách khách quan và trung lập như thế chắc chắn em học sinh sẽ đặt ra trong đầu rất nhiều câu hỏi về môn học lịch sử: sách giáo khoa viết có đúng không, thầy cô dạy có đúng không? Và càng tìm hiểu thì em học sinh đó sẽ nhận ra rằng sách giáo khoa lịch sử Việt Nam đã viết sai sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam. Phản ứng tất yếu của em học sinh đó sẽ là chán nản và không thèm học lịch sử Việt Nam bởi vì biết rằng mình đang bị “nhồi sọ”. (Hòang Duy, “Vì sao học sinh “dốt” sử”, Đàn Chim Việt ngày 4-8-2006.)

Ở cấp bậc cao hơn, theo World Investment Report của Liên Hiệp Quốc, trong báo cáo “2005 Transnational Corporation & The Internationalization of R&D”, công bố vào tháng 9-2005, nhằm mục đích đánh giá năng lực sáng tạo của một quốc gia qua chỉ số năng lực sáng tạo II (Innovation Index), thì trong 117 quốc gia được thăm dò, Việt Nam đứng hạng thứ 82 và bị xếp vào nhóm các quốc gia còn kém về khoa học phát triển, sau hai nhóm quốc gia có trình độ cao và trung bình trên thế giới gồm 78 nước.(Mai Thanh Truyết, bài đã dẫn.)

Ngoài ra, chúng ta cần chú ý thêm một điểm, người Việt Nam nói chung tương đối đều như nhau về trình độ thông minh, dù ở trong hay ở ngòai nước. Trong nước hiện có trên 80 triệu dân. Nhiều em học sinh lúc nhỏ thật xuất sắc. Ngay từ nhỏ, các em đã đạt được nhiều giải thưởng lớn, hoặc các cuộc thi về toán học quốc tế, các cuộc thi về cờ vua quốc tế, mà ở nước ngoài rất ít em học sinh Việt Nam có thể đạt được. Ở nước ngoài, người Việt hiện lên đến khỏang 3 triệu người, (chưa được một phần hai mươi lăm so với dân số trong nước), sống rải rác khắp thế giới. Lúc nhỏ, các em học sinh hải ngọai học hành bình thường như bao trẻ em khác, nhưng khi lớn lên, học sinh Việt Nam hải ngọai khá xuất sắc, đỗ đạt đủ các ngành nghề và đỗ đạt hạng cao cấp nữa. Một trong những lý do chính có thể vì các em không bị nhồi sọ, không bị ép buộc vào các giáo điều, các em được tự do nghiên cứu, tự do học hành, không bị bất cứ một thứ ràng buộc nào cả.

TẠM KẾT

Kể mãi cũng không hết, nên nếu muốn chấm dứt sự suy thoái của nền giáo dục Việt Nam hiện tại, để đào tạo nhân tài giúp đất nước theo kịp đà tiến hóa trên tòan cầu, thì chỉ còn có các cách:

Thứ nhất, đảng CSVN và nhà nước CSVN phải bãi bỏ chủ trương giáo dục phục vụ chính trị, phục vụ chế độ cộng sản, bãi bỏ việc dạy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, chấm dứt việc nhồi sọ, việc học hành theo giáo điều. Đồng thời bãi bỏ luôn chủ trương lý lịch trong tuyển sinh. Các điều nầy xem ra rất khó thực hiện đối với đảng CSVN hiện nay, nhưng nếu không mạnh tay và can đảm cắt cục ung bướu nầy, thì nền giáo dục Việt nam sẽ tiếp tục trì trệ và suy thóai.

Thứ hai, nếu đảng CSVN và nhà nước CSVN không chịu sửa đổi, thì dân chúng và nhất là thanh niên sinh viên sẽ phải tự tìm lối thóat, đòi hỏi cải cách, vì tiền đồ dân tộc, vì tương lai đất nước. Như sinh viên Pháp vào tháng 5-1968 và sinh viên Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào tháng 5-1989. Sinh viên Pháp đã thành công, trong khi sinh viên Trung Cộng bị đàn áp tàn bạo và đẫm máu tại Thiên An Môn. Hình ảnh người thanh niên đứng trước chiếc xe tăng ở Thiên An Môn có lẽ là hình ảnh hào hùng và bi thảm nhất của thanh niên Trung Hoa dưới chế độ tàn bạo của Cộng sản. Ngày nay, CSVN có dám và có đủ sức đàn áp sinh viên Việt Nam như CSTH đàn áp sinh viên Trung Cộng hay không?

Thứ ba, nếu cuối cùng CSVN vẫn cương quyết duy trì chủ trương giáo dục phục vụ chính trị, làm hỏng biết bao nhiêu thế hệ thanh niên đã qua, và làm hỏng những thế hệ sắp đến, thì dân chúng Việt Nam muốn tìm ra sinh lộ tương lai cho chính dân tộc mình, chỉ còn con đường duy nhất là phải tranh đấu chấm dứt chế độ cộng sản. Đây là việc làm khó khăn, nhưng dưới bầu trời nầy, dầu độc tài tàn bạo như Quốc Xã Đức, hay Cộng Sản Liên Xô, rồi cũng có lúc bị quật ngã. Khi chế độ cộng sản không còn, thì chủ trương giáo dục phục vụ chính trị, chủ trương cốt lõi của đảng CSVN, cũng tự nhiên mất luôn.

Những sai lầm về chính trị và kinh tế có thể sửa đổi trong một thời gian ngắn, nhưng những sai lầm về văn hóa phải tốn nhiều thế hệ mới khắc phục được. Lão Tử đã từng bảo: “Làm văn hóa sai thì hại muôn đời.” Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về tình trạng suy thoái của nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Những nhà lãnh đạo CSVN ở trong nước có nghĩ như thế không?

TRẦN GIA PHỤNG - (Toronto, 11-3-2007)

SỐNG PHÚC ÂM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Bài này được gởi riêng đến những người đồng đạo của người viết nhân cái gọi là Đại Hội Dân Chúa sắp được tổ chức)

SỐNG PHÚC ÂM

THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Sau ngày CS vào Saigon, tất cả mọi sự đều thay đổị. Sự thay đổi này người CS gọi là cách mạng, còn người dân miền Nam gọi một cách mộc mạc dễ hiểu là đổi đời. Công cuộc cách mạng của người CS tại Saigon điển hình và rõ nét nhất, ai cũng thấy được, là biến cái bảng hiệu của nhà thương Từ Dũ trên đường Cống Quỳnh từ “Bảo Sanh Viện” thành “Xưởng Đẻ”. Còn sự đổi đời của người dân Saigon thì đâu đâu cũng thấy, rất đa dạng và đa vẻ. Câu đồng dao một thời "Đầu đường đại tá vá xe, cuối đường thiếu tá bán chè đậu đen" có thể diễn tả đầy đủ và linh hoạt nhất cuộc đổi đời sau năm 75 của người dân miền Nam. Nhưng cho dù là cách mạng hay đổi đời thì ý nghĩa thực nhất của cuộc sống con người miền Nam có lẽ nó nằm đâu đó trong mớ Lý Thuyết Tiến Hóa Theo Sự Lựa Chọn Tự Nhiên (Theory of Evolution by Natural Selection) của Charles Robert Darwin để cầu mong được sinh tồn mà thôị. Nói khác đi thì đó là cách phản ứng thích nghi để tồn tạị. Đó là bản năng tự nhiên mà mọi người, mọi sinh vật đều có. Người bình dân chất phác thì cứ để cho sự thích nghi xẩy ra một cách tự nhiên, chẳng cần màu mè, hoa lá hầu che đậỵ. Nhưng trong đời sống chánh trị thì lại khác. Thích nghi cũng cần phải che đậy vì một mục đích nào đó, và thường là để cho đỡ mất thể diện. Ta thấy khi người CS ở vào cái thế đường cùng và trong hoàn cảnh thập tử nhất sinh, khi cần phải thích nghi để sống thì cho dù là giáo điều CS, chúng cũng vứt bỏ hết để áp dụng lối làm ăn của tư bản. Chúng đưa ra chiêu bài Đổi Mới. Chúng làm kinh tế tư bản để sống nhưng vì sợ người ta cười chê là quân nhổ ra rồi lại liếm, nên phải móc thêm cái đuôi "Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa vào mấy chữ kinh tế thị trường cho đỡ bẽ mặt.

Phải thành thực và công bằng mà nhìn nhận rằng bọn cộng sản Vietnam có ngu, có dốt thế nào đi chăng nữa thì nó vẫn là một tay trùm trong lãnh vực chơi chữ. Chơi chữ ở đây nói khác đi là lừa bịp thiên hạ bằng ba cái thứ khẩu hiệu này nọ. Hoàn cảnh nào, thời nào chúng biết tung ra khẩu hiệu thích hợp cho hoàn cảnh đó, thời dó. Không phải chỉ có đám dân ngu cu đen mới bị bỏ bùa vì mấy cái trò bịp của VC, mà cả đến những thứ khoa bảng, đại trí thức, bằng cấp bề bề cũng chết mê chết mệt với những khẩu hiệu của CS. Thời đánh Pháp, VC trương khẩu hiệu ĐỘC LẬP thật là ăn khách. Đến thời chúng gây chiến tranh ở miền Nam, đem vào cả hàng chục sư đoàn, cùng với xe tăng, đại pháo để đánh dân miền Nam thì chúng lại lớn tiếng đề cao chiêu bài HÒA BÌNH. Chúng vừa đánh người lại vừa hô hoán bị người ta đánh. Thế mà vẫn không thiếu kẻ tin. Và như trên vừa nói, trong lúc thập tử nhất sinh khó mong sống nổi nữa thì chúng lại dở trò ĐỔI MỚI. Mà đổi cái nỗi gì. Chỉ là học đòi bắt chước lại những gì của miền Nam mà trước đó đã bị chúng chối bỏ. Khổ nỗi là bắt chước cũng chẳng thành thân. Chưa xứng đáng là thằng học trò hạng bét của tư bản. Khẩu hiệu của VC ngoài đặc tính thời trang, còn chắc lý như đinh đóng cột nữạ. Ta hãy lấy một một câu làm thí dụ : "Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Đảng là nhà nước, và nhà nước là đảng. Như thế thì VC nắm toàn quyền sinh sát rồị còn gì. Ông Chủ Nhân Dân kia còn làm chủ cái gì? Bất cứ cái gì CS cũng dán nhãn hiệu Nhân Dân, làm ra vẻ ta đây dân chủ lắm: nào quân đội nhân dân, nào ủy ban nhân dân, nào công an nhân dân v.v., nhưng về tiền bạc thì lại là Ngân Hàng Nhà Nước. Cái gì cũng là của nhân dân cả, nhưng riêng tiền bạc thì dứt khoát không thể là của nhân dân được. Như thế thì ai bảo là VGCS ngu!

Nhưng nếu bảo rằng chỉ có thằng VC mới biết chơi khẩu hiệu thì là lầm to rồi đấỵ. Một tay chơi (khẩu hiệu) mới bước vào nghề nhưng đã tỏ ra có hạng, và lão luyện không kém. Thật lạ lùng, đó lại chính là Hội Đồng Giám Mục Vietnam (HĐGMVN). Thật vậy, trước năm 75, khi đất nước còn chia cắt, Giáo Hội Công Giáo VN (GHCGVN) chưa thống nhất, thì chẳng ai thấy Giáo Hội có khẩu hiệu gì, kể cả ngoài Bắc cũng như trong Nam. Nhưng từ ngày CS chiếm được miền Nam, Giáo Hội hợp nhất lại rồi thì người ta mới thấy trong đời sống của Giáo Hội xuất hiện những khẩu hiệụ. Trong khá nhiều khẩu hiệu được HĐGM nêu lên, câu "Giáo Hội Đồng Hành Cùng Dân Tộc" có thể nói được là một khẩu hiệu đứng hàng đầu mang tính chiến lược của Giáo Hộị.

Cần để ý đến hai chữ "Dân Tộc" ở đâỵ. Nhiều người có cảm tưởng là có nhiều từ ngữ chung trong kho tàng ngôn ngữ Vietnam đã bị CS chiếm độc quyền mất rồi, chữ "đồng-chí" hay chữ "dân-tộc" này đâỵ chẳng hạn. Cái gì CS cũng trương mấy chữ dân tộc ra làm chiêu bài, làm như chỉ có CS mới là dân tộc. Chữ Dân Tộc theo nghĩa chung nhất ngày nay là tập thể các sắc dân, các thành phần dân chúng cùng chung sống trong một quốc gia và làm chủ quốc gia đó. Nhưng theo thuật ngữ CS dùng thì dân tộc đồng nghĩa với đảng cộng sản: dân tộc là CS, và ngược lại, CS là dân tộc. Vì thế mới có câu: yêu nước (dân tộc) là yêu xã hội chủ nghĩạ. HĐGMVN kể ra thì cũng rất đáng khen. Đáng khen ở chỗ đã biết mau mắn cuốn theo chiều gió, và dám bỏ đi cái điểm câu nệ của một con người có tư cách và biết tự trọng mà học đòi kiểu cách lòe thiên hạ của lũ bịp hạ cấp nàỵ. Các Ngài cũng đã trương được cái bảng hiệu Dân Tộc trên nhiều khẩu hiệu của các Ngài, như: Sống Phúc-Âm trong lòng Dân Tộc. Hoặc, GH đồng hành cùng Dân Tộc v.v.. Như vậy ai bảo các cố đạo không thuộc câu: Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy? Điểm thắc mắc ở đây là nếu hiểu dân tộc là đảng CS thì hóa ra GHCG đồng hành cùng đảng CSVN sao?

Thực ra thì nói dzậy mà không phải dzậy.... nhưng lại đúng là như dzậỵ. Cái gì mà ba phải và lắt léo rứa? Rồi, muốn nói cho ra lẽ thì cũng phải bàn sơ qua về mấy chữ Đồng-Hành trước cái đã.

Đồng hành nói nôm na là cùng đi chung với nhaụ. Một ông đồ nho đi hát cô đầu hay đến nhà bạn chơi tổ tôm có dăm ba chú tiểu đồng lếch thếch theo sau, đứa cầm ô (dù), đứa cắp tráp, đứa sách giỏ trầu, đứa mang bầu rượu v.v. thì có phải họ đồng hành không? Xin thưa ngay rằng họ cùng đi với nhau thật đấy, nhưng không phải đồng hành, vì ông đồ đi du hí, còn đám tiểu đồng đi hầu hạ phục dịch cho ông. Hay như một đám quan lính điệu một tử tội ra pháp trường có phải họ đồng hành không? Cũng không phải, vì lính thì đi canh gác pháp trường, còn tử tội thì ra đó để bị chém đầu.

Như vậy thế nào mới được hiểu là đồng hành? Trong ý nghĩa sâu xa của từ ngữ này, những thành phần tham dự cuộc hành trình phải là tự do và trong nhiều trường hợp còn phải đồng đẳng nữạ. Và, cái đích tiến tới của họ cũng phải là mục tiêu chung. Đối với đảng CS, Giáo Hội không phải là một thực thể tự do, cũng chẳng đồng đẳng, và dĩ nhiên mục tiêu tiến tới của cả hai cũng khác nhaụ. Như thế Giáo Hội không thể nói là đồng hành với CS được. Đối với các thành phần dân tộc khác, cụ thể là các giáo hội của các tôn giáo bạn, thì tuy Giáo Hội cùng đi chung trên một con dường và cùng tiến đến mục tiêu chung là phục vụ xã hội, nhưng lại thiếu yếu tố tự do làm cản trở ý thức chọn lựa cách đi và cả mục tiêu đến. Như vậy thì Giáo Hội cũng không thể nói là đồng hành cùng dân tộc. Vả lại trong ý nghĩa tích cực của nó, chữ đồng hành còn hàm ý một sự ràng buộc tinh thần giữa những người cùng đi. Nghĩa là, nói theo người bình dân, có vui cùng chia, có khổ cùng chịu, sống chết có nhau. Trong ý nghĩa này, GH có bao giờ tự xét mình xem có thực sự đồng hành cùng dân tộc không? Trong khi tất cả các tôn giáo bạn đang bị CS đàn áp, tước đoạt quyền tự do hành đạo, tịch thu tài sản và các phương tiện phụng tự, cấm giảng kinh sách, bỏ tù hàng loạt các vị lãnh đạo, thì GH giữ thái độ im lặng, dửng dưng như người bàng quan, đã thế còn đi lậy lục, xin xỏ CS từng chút ơn huệ riêng tư cho mình. GH như thế rõ ràng đã tự chứng minh là kẻ phá rào ăn mảnh và thủ lợi riêng. Làm sao bảo là GH đồng hành với dân tộc? Nói đồng hành như thế (xin cho được nói thẳng) là nói xạo. GH đã không đồng hành với tuyệt đại đa số nhân dân Vietnam thì câu hỏi được đặt ra là GH đồng hành với ai như câu khẩu hiệu muốn ám chỉ? Chữ dân tộc trong khẩu hiệu của HĐGM chỉ còn có thể hiểu ngầm là đảng CSVN mà thôi. Mặc dầu như trên chúng tôi đã trình bầy, GH không đủ tư cách để đồng hành với đảng CS. Mọi người đều hiểu rằng, khẩu hiệu của HĐGM trong hoàn cảnh khó khăn hiện tại mang ý nghĩa là sự rút gọn lại những lời giáo huấn của các đấng bề trên được coi như kim chỉ nam cho mọi tín hữu tuân theo. Nếu như vậy thì khẩu hiệu có sao đâu, miễn là mọi sự đều tốt đẹp cả. Nhưng vấn đề là khẩu hiệu có thật sự hàm chứa nội dung lời dậy dỗ trung thực của các đấng bề trên hay lại chỉ là trò chơi chữ, tức là dùng chữ nghĩa để che đậy những cái gì không tiện nói ra, hoặc giả để sơn phết cho một sự thực trần trụi khó coi nào đó cần dấu diếm? Nếu là khẩu hiệu của CS thì đánh chết cũng chẳng ai tin, nhưng lại là của HĐGM thì việc tìm ra ý nghĩa đích thực của nó hoặc dụng ý trong đó hẳn là điều cần phải làm.

Có khá nhiều khẩu hiệu của HĐGM, và căn cứ vào các khẩu hiệu đó, người ta có thể nhìn thấy rõ toàn bộ chủ trương lối sống của Giáo Hội trong chế độ CS. Đạo Chúa là một tôn giáo nhập thế. Sống trong một quốc gia, người tín hữu là tín đồ, đồng thời còn là công dân, có trách nhiệm và bổn phận với dất nước, vì thế họ phải sống hòa nhập với tất cả mọi thành phần dân tộc. Sống đầy đủ bổn phận và trách nhiệm của mình, người tín hữu như thế là đã hòa đồng cùng mọi người, và như thế có thể được coi là tốt đạo đẹp đời rồi. Đồng hành cùng dân tộc chính là cuộc hành trình tới mục tiêu trần thế của Giáo Hội. Mục tiêu đó là con người được tự do về tinh thần, và hạnh phúc ấm no cho thân xác. Đạt tới mục tiêu đó, con người có thể coi là sống Thiên Đàng nơi trần thế rồi.

Nhưng ở Vietnam hiện nay, cảm tưởng chung là người tín hữu chỉ được sống trong một thứ thiên đường vẽ. Đành rằng ở trần gian này chẳng ai hưởng được thiên đường hiện thực cả, nhưng ít nữa làm sao cái minh họa và cái hiện thực thể hiện được nguyên lý hỗ tương bổ túc cho nhau, chứ không phủ định nhau. Vậy thì tại sao các ngài giám mục lại nêu ra những khẩu hiệu nghe rất nổ kia để làm gì? Có phải để ru ngủ các tín đồ không? Hay là lặp lại lời hứa hẹn “gắng hy sinh đời ta tươi thắm hơn” như CS chăng? Câu trả lời công bình nhất chắc không phải là một câu xác định, nhưng hầu như có đủ lý do để nghi ngờ rằng mục đích việc nêu khẩu hiệu là để nhắm che đậy một cái gì đó. Đến đây thì chúng tôi lại phải trở lại câu trả lời ba phải và lắt léo đã được nêu ra ở trên. Câu đó là: Nói vậy mà không phải vậy... nhưng đúng là như vậy.

GH không đồng hành với Dân Tộc Vietnam thì cách duy nhất chỉ còn có thể hiểu là GH đồng hành với đảng CS. Nhưng như trên đã phân tích, GH không thể được coi là đồng hành với đảng CS, vậy thì mục đích việc nêu câu khẩu hiệu "GH đồng hành cùng dân tộc" phải nói huỵch toẹt ra là GH muốn xác định đã tự nguyện phục tùng CS rồi, và khẳng định cùng đảng CS đi theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nói rõ hơn là để làm vừa lòng CS, qua câu khẩu hiệu này, GH đã phủ nhận lập trường chống cộng của các bậc tiền nhiệm của các Ngài trước đây, đồng thời xác nhận lập trường đứng về phía đảng CSVN. Nên nhớ rằng HĐGMVN năm 1951 đã ra thư chung xác định CS vô thần là một mối đe dọa lớn nhất hiện nay và công khai cấm tín hữu hợp tác hoặc làm bất cứ việc gì có lợi cho CS. Phân tích trên đã tìm ra được ý nghĩ đích thực của câu khẩu hiệu "GH đồng hành với dân tộc". Đây chính là sự chuyển hướng lập trường của HĐMGVN ngụy trang một cách khéo léo dưới một dòng văn tự bóng bẩy. Kết qủa của sự chuyển hướng này đã đem đến cho GH một chút không khí dễ thở hơn trong sinh hoạt của GH. Nói khác đi là chiếc thòng lọng trên cổ của GH đã được CS nới lỏng hơn một chút so với các tôn giáo khác. Nếu không có sự chuyển hướng này, làm sao các đức cha được phép xuất ngoại ồn ào như đã thấy, làm sao các cha, các sơ có thể lũ lượt chu du nước ngoài thăm thân nhân, bạn bè, con chiên bổn đạo để xin tiền náo nhiệt đến thế? Tuy nhiên cũng phải nói cho rõ, có người được đi thoải mái, nhưng cũng có người bước ra khỏi ngõ cũng còn khó, nói chi đến chuyện ra nước ngoài.

Theo sách lược đấu tranh tiêu diệt kẻ thù của CS, thì việc kẻ thù chịu đầu hàng tư tưởng mới chỉ là bước đầu. Bước kế tiếp và là bước quan trọng là việc kẻ thù bị khuất phục bằng hành động, nghĩa là đối phượng phải tự nguyện làm những gì mà CS muốn. Công thức của bước kế tiếp áp dụng vào hành động nằm gọn trong câu thần chú thường thấy : Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, HĐGM (nhân dân) làm chủ. Việc HĐGM tuyên ngôn đồng hành với đảng CS mới chỉ là bước đầu trong âm mưu CS công cụ hóa GH. Chúng ta có thể gọi đó là công tác định hướng xã hội chủ nghĩa đời sống Phúc Âm của GH giai đoạn một. Giai đoạn này tuy cần thiết nhưng không quan trọng, vì các giám mục có nói gì thì nói, CS cũng chẳng tin, chúng coi đó như chuyện nín thở qua sông của các Ngài mà thôi. Điều quan trọng đối với chúng là các Ngài phải thể hiện ý muốn đồng hành qua hành động. Việc quan trọng nhất trong các việc quan trọng mà HDGM đã thực hiện để được kể là thực lòng đồng hành với CS là các Ngài đã tự động trao trọn Quyền Tổ Chức GH vào tay đảng CS. Quyền Tổ Chức là quyền tuyển chọn, huấn luyện và đào tạo các cấp lãnh đạo cho GH, đặt để họ vào những vị trí thích hợp trong cơ chế GH; hoạch định đường lối và các chánh sách của GH, duy trì sự hiệp nhất trong GH, và hơn nữa là trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ sự trong sáng và thống nhất của giáo lý Phúc-Âm của Chúa. Những trách nhiêm trọng đại và cao cả này HĐGMVN đã chu toàn đươc ra sao?

1. Trách nhiệm tuyển chọn, đào tạo, truyền chức, và bổ nhiệm.

Vấn đề này đã được rất nhiều con cái có thiện chí của Giáo Hội nêu lên một cách quyết liệt và nghiêm túc, đòi hỏi HDGM phải dành lấy quyền làm chủ trong vấn đề này chứ không thể vô lý trao trọn vào tay CS như hiện nay. Có người lý luận là CS cướp lấy quyền này chứ không phải HDGM tự động trao. Thật ra cũng có phần nào đúng. Nhưng suy cho cùng thì nếu GH tạm thời không công khai tuyển sinh, không bổ nhiệm, nghĩa là tạm thời đình chỉ thi hành quyền, thì CS lấy gì mà tước đoạt? Tuy có khi phải tù đầy hoặc đổ máu, nhưng GH vẫn sinh động và phát triển tại những quốc gia mà ta thường gọi là “GH sau bức màn sắt” qua cách thức tuyển sinh, truyền chức, và bổ nhiệm chui. Mới đây ĐC Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch HĐGM, làm đơn xin CS bỏ bớt đi một vài cửa aỉ sàng lọc, nhưng CS đâu có chấp thuận. Với tiến trình tuyển chọn và đào tạo chủng sinh hiện nay của HĐGM, có người gọi đại chủng viện là trường đào tạo cán bộ nhà nước qủa là không sai chút nào.

2. Trách nhiệm hoạch định đường lối và các chánh sách của GH.

Mỗi khi họp HĐGM, văn phòng Tổng Thư Ký phải xin phép nhà nước, nạp trước nghị trình và các vấn đề thảo luận, khi họp phải có sự hiện diện của cán bộ CS, sau khi thảo luận, nghị quyết phải được nhà nước thông qua và chấp thuận thì mới được thi hành. Như vậy thử hỏi HĐGM còn có thể đề ra đường lối, chánh sách riêng của mình theo nhu cầu của GH được sao?

3. Trách nhiệm duy trì sự hiệp nhất trong Giáo Hội.

Khỏi nói thì ai cũng thấy hiện nay GHCGVN phân hóa và lung lay hơn bao giờ hết. Sự hợp nhất chỉ có ở bề mặt. chia rẽ Bắc Nam, chia rẽ vì quyền lợi, chia rẽ về ý thức trách nhiệm của GH trong các vấn đề phải bảo vệ công lý và sự thật, chia rẽ về lập trường của GH trước các vấn đề của đất nước cũng như của GH, chia rẽ vì sự ù lỳ của HĐGM và sự lộng hành của bọn linh mục quốc doanh v.v. Sự thể hiển nhiên này nếu biết khiêm tốn nhìn nhận để sửa sai thì mới mong hàn gắn lại được.

4. Trách nhiệm bảo vệ Giáo lý.

Có thể nói được rằng chính vì GH đã được định hướng theo XHCN, một đảng chính trị vô thần, nên trong GHCGVN đã thấy có nhiều biểu hiện xa rời giáo lý của Phúc-Âm. Lm Nhuận Đức viết trên báo Công Giáo và Dân Tộc: "Tôn giáo là một khí cụ bóc lột áp bức tinh vi nhất, kinh khủng nhất. Thực vậy khi con người bị con người khác bóc lột thì hy vọng giải phóng dù sao cũng tồn tại, vì sức lực quyền năng của kẻ thống trị vẫn có giới hạn. Trái lại nếu đã tin rằng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, quyền phép vô cùng và cũng tin rằng Thiên Chúa đó thống trị áp bức, bóc lột thì làm sao còn hy vọng giải phóng? Tôn giáo là con dao hai lưỡi. Đức Giêsu chấp nhận cuộc chơi, chấp nhận thách đố, và trả bằng giá máu của mình. Vậy những ai ngày hôm nay tiếp tục giải phóng con người thoát khỏi xiềng xích gông cùm dưới danh nghĩa tôn giáo là những kẻ tiếp nối sự nghiệp Đức Kitô. Cuộc cách mạng Vietnam chứng minh điều đó". Cũng trên tờ báo này, Lm Trương Bá Cần viết: "Ý định của Thiên Chúa qủa đã bắt đầu thực hiện trên đất nước Vietnam nhờ công lao của Hồ chủ tịch. Nếu Hồ chủ tịch muốn vào nước Trời, người sẽ vào trước hơn ai hết". Đức Cha Nguyễn Sơn Lâm còn mạnh bạo hơn: "Đảng CSVN luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh gía đúng vào sự thật, nói rõ sự thật." Những phát biểu trên của một số cấp lãnh đạo của GH cho ta thấy một điều: người ta muốn đồng hóa công cuộc cứu độ của Chúa Cứu Thế với việc làm cách mạng của người CS. Nói khác đi, những đấng làm thầy và đồng thời làm quốc doanh này cho rằng Chúa Giêsu chẳng qua cũng chỉ là một nhà cách mạng vô sản như những người CS ngày nay mà thôi. Vậy Chúa và các tay tổ CS như Karl Marx, Lenin, Mao Trạch Dong, Hồ Chí Minh cũng “the same” chứ chẳng ai khác ai. Chính các Tông Đồ của Chúa ngày nay đã kéo Thầy mình là Thiên Chúa xuống ngang tầm những người CS, thậm chí còn không được bằng người CS như GM Nguyễn Sơn Lâm khẳng định "Chỉ có đảng CS mới nói rõ sự thật". Chẳng thế mà Nước Trời là nơi mà Hồ Chí Minh muốn ra muốn vô là tùy ý hắn như Lm Trương Bá Cần khẳng định! Thật không còn thể tượng tượng nổi. Nên nhớ là những vị trên là những người đã gia nhập vào hàng ngũ lãnh đạo GH trong thời chánh quyền Quốc Gia quản lý đất nước, chứ không phải thời CS sau này. Dưới chế độ Cộng Hòa mà VC còn chui vào GH không mấy khó khăn như thế, phương chi lúc này đây, CS nắm toàn quyền sinh sát GH thì việc biến một cán bộ CS thành một ông cha, thậm chí giám mục, nào có khó khăn gì? Không phải chỉ có bấy nhiêu, mà còn xuất hiện nhiều biểu hiện khác nữa xem chừng khá xa lạ đối với Giáo Lý của Phúc Âm mà vì sợ dài dòng chúng tôi không dám trình bầy hết ra đây.

Việc CS cho cán bộ xâm nhập vào GH là điều có thật, chứ không còn phải là sản phẩm tưởng tượng của những đầu óc chống cộng cực đoan như một số người thường nghĩ. Có rất nhiều tài liệu mật của thế giới CS đã được phanh phui chứng minh điều đó. Báo cáo năm 1961 của KGB tiết lộ: “Có khoảng 600 người dự các lớp đào tạo giáo sĩ trong giáo phận Moscow và 5 chủng viện. Phải khai thác để đáp ứng nhu cầu của chúng ta. Chúng ta phải gài người của chúng ta vào hàng ngũ các chủnh sinh này, để về sau họ sẽ gây ảnh hưởng lên các hoạt đông của GH Chính Thống Nga. Họ sẽ là nhân viên của chúng ta để gây ảnh hưởng đến tín đồ các tôn giáo..." Qua năm sau (1962), Gribanov, phụ tá giám đốc KGB báo cáo: "KGB đã thành công trong việc cho xâm nhập những điệp viên có khả năng, và giá trị vào các chức vụ cao cấp của giáo phận Moscow và các giáo phận của Công Giáo, và của GH Armenian Gregorian". Ông ta còn tuyên bố: "Với những điệp viên này, chắc chắn chúng ta sẽ loại bỏ được bọn tu sĩ và giáo hội phản động ra khỏi chức vụ của họ".

Ở Vietnam, những tài liệu thuộc loại tuyệt mật như trên tin rằng không thiếu, nhưng CS chẳng bao giờ dám khui ra, mà chỉ mới thấy những tài liệu học tập tuy cũng mật nhưng đã được tiết lộ. Một tài liệu học tập của CS viết: "Làm cho Giáo Hội Thiên Chúa từ chỗ làm công cụ của chủ nghĩa đế quốc chống cách mạng, chống CS, trở thành một tôn giáo phục tùng nhà nước, có tinh thần yêu nước, đi với dân tộc và chủ nghĩa xã hội, và biến cải giáo lý, tổ chức, luật lệ, lễ nghi theo hướng tiến bộ." Hoặc một tài liệu dùng cho cán bộ làm công tác tôn giáo giáo dục cán bộ: "Giúp đỡ các giáo hội xây dựng tổ chức và duy trì đường hướng hành đạo theo đúng tinh thần của nước Vietnam độc lập, có chủ quyền. Làm tốt công tác nắm các chức sắc, chức việc, giáo sĩ để tranh thủ ho...." (Nên lưu ý chữ "giúp đỡ" bọn CS thường dùng có nghĩa là khống chế). Hiện nay, CS không cần phải gài người hay cấy người của chúng vào GH, vì chúng đã có toàn quyền việc tuyển chủng sinh, chọn người làm linh mục, và thậm chí quyết định việc bổ nhiệm giám mục. Thời kỳ trước khi khi chiếm được miền Nam CS mới phải nhọc công làm chuyện gài hay cấy người. Việc đó có vẻ khó khăn trên lý thuyết, vì công việc đào tạo giáo sĩ của CG rất thận trọng và khó khăn. Nhưng CS cũng đã thành công được phần nàọ. Những ông cha ngày nay giáo dân gọi chính xác là linh mục chính uỷ không thiếu tại Vietnam đã nói lên sự thành công của CS.

Sự thành công của CS trong vấn đề này bất luận thế nào đi chăng nữa cũng có nghĩa là sự thất bại của GH, và đều mang lại thiệt hại. Nếu HĐGM chỉ dẫn dắt GH đồng hành với CS "bằng miệng" không thôi thì sự thiệt hại nếu có cũng chẳng đáng kể. Bất qúa bản thân các giám mục mất mát chút đỉnh uy tín thôị. Nhưng khi đã hết lòng đồng hành với CS trong tất cả mọi khía cạch của đời sống Giáo Hội thì sự thiệt hại không thể không có. Cứ cái đà này mà tiến, tương lai GH sẽ đi về đâu, người ta đã có thể nhìn thấy được. GH của Chúa sau này biến thành một hình tượng quái dị nào đó kiểu "Hồn Trương Ba, da hành thịt" là chuyện có thể lắm.

Làm thầy thuốc sai lầm giết một ngườị. Làm chính trị sai lầm giết một dân tộc. Làm văn hóa sai lầm giết nhiều thế hệ. Còn làm tông đồ của Chúa mà sai lầm thì không biết kết qủa sẽ ra sao? Xin để quí bạn đọc tự tìm lấy câu trả lời.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt

Bài đọc suy gẫm:
Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt-
(Tạp Chí Quê Mẹ).

L.T.S. : Chúng tôi gặp Lê Thành Trung ở trại tị nạn Spandaw Tây Berlin vào đầu tháng bẩy năm nay. Anh vừa từ Tiệp Khắc chạy qua Đức xin tị nạn chính trị, nhân chuyến đi do Đài Tiếng Nói Việt Nam cử sang tìm hiểu tình hình người Việt ở Đông Âu. Tốt nghiệp đại học Tổng hợp và đại học Báo chí Hà nội, Lê Thành Trung hành nghề phóng viên ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Anh đã phụ trách các chương trình phát thanh thời sự, Văn nghệ, Khoa học và đời sống, Tiếp chuyện bạn nghe đài, Chương trình dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc v.v..

Quê Mẹ : Xin anh cho biết về cơ cấu hoạt động và mục đích của chương trình phát thanh dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc của Đài Tiếng nói Việt Nam ?

Lê Thành Trung : Câu hỏi khái quát quá… Tôi sẽ trả lời từng phần. Về tổ chức thì Đài TNVN chia làm hai Ban chính. Ban đối nội và Ban đối ngoại. Trên thực tế phần đối nội được coi trọng hơn. Ban đối ngoại phụ trách các chương trình phát thanh ra nước ngoài bằng 11 thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung, Tây Ban Nha, Đức, Nhật, Lào, Campuchia, Thái, Phi-líp-pin và tới đây sẽ phát thêm tiếng Hin-đi. Chương trình phát thanh dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc bằng tiếng Việt là một bộ phận của Ban đối ngoại. Ở nhà, chúng tôi gọi tắt là Phòng Việt kiều.

Quê Mẹ : Phòng Việt kiều cũng nằm ở 58 phố Quán Sứ ?

L.T.T. : Không. Đài có 3 trung tâm chính. Tòa nhà 58 Quán Sứ là trụ sở của Bộ Tổng biên tập và Ban đối nội. Ban đối ngoại ở số 39 phố Bà Triệu, nhà bên phải là trung tâm thu thanh, còn bên trái là Thư viện Hà nội. Phòng Việt kiều ở tầng 3, trong số nhà 39 đó. Nhỏ thôi, cả phòng có 8 người làm việc. Mỗi người phụ trách một mục cho chương trình phát sóng hàng ngày là một giờ đồng hồ. Giờ phát ở nhà vào 22 giờ 30 tương đương 7 giờ ở châu Âu. Trạm phát sóng Mễ Trì chuyển đi và trung tâm âm thanh của Đài Mát-xcơ-va chịu trách nhiệm tiếp âm sang châu Âu.

Thời gian đầu, đối tượng chính của chương trình là Việt kiều sinh sống ở các nước Tây Âu, nhiều nhất là ở Pháp. Sau này số lượng người vượt biển gia tăng, số lượng du học sinh và công nhân lao động xuất khẩu ngày một nhiều, nội dung chương trình cũng được bổ sung thêm. Không thể ước tính được số lượng người nghe nhưng chắc rằng trên tất cả các quốc gia ở châu Âu đều có người theo dõi chương trình này.

Quê Mẹ : Anh cho biết nội dung những giờ phát sóng ấy ?

L.T.T. : Có thể nói phòng Việt kiều như một cái Đài con. Nó lượm nhặt tất cả các bài vở của các chương trình khác phát trong ngày rồi gọt ra, cắt xén thành chương trình của mình. Cũng đủ cả thời sự âm nhạc, văn thơ, du lịch v.v… Mỗi chỗ lấy một ít. Thêm tí này bớt tí kia.

Quê Mẹ : Anh có thể cho biết kỹ hơn về khía cạnh này. Chương trình dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc có những đặc điểm gì so với các chương trình phát thanh trong nước ?

L.T.T. : Đặc điểm chính là ở sự cóp nhặt, cắt xén đó. Mọi chương trình phát trên sóng trong nước đã được gọt tỉa kỹ càng so với thực tế đời sống. Sang phòng Việt kiều lại được gọt tỉa tắm gội một lần nữa. Trên tinh thần : đem chuông đi đấm nước người, tốt đẹp phô ra, xấu xa che lại. Chẳng hạn không bao giờ trên sóng phát ra nước ngoài đưa tin về các tệ nạn xã hội, về tham nhũng, hối lộ, ăn xin, cướp bóc… Trái lại, những tin chung chung như tiềm năng dầu khí ở Việt Nam, triển vọng phát triển ngành du lịch, đất nước Việt Nam giàu đẹp, tiền rừng, bạc bể, các gương mặt tài năng trẻ, các phát minh sáng chế v.v… được triệt để khai thác, bất kể có giá trị thực tế hay không. Để làm gì ? Để cho đồng bào ở xa quê hương luôn có một hình ảnh lạc quan về Việt Nam. Để gợi nhớ, gợi thương, gợi lên tình tự dân tộc ray rứt trong lòng những người con dân Việt đang sống tha hương nơi những chân trời xa lạ. Phải khơi nhói vào chỗ này. Làm cho ý thức đối kháng của Việt kiều phôi pha theo thời gian. Thời gian của những lần nghe liên tục. Theo đấy, cái sâu xa, cái đầu tiên, cái còn lại và cái sau cùng vẫn là tình tự dân tộc. Vả lại, có thông tin phiến diện, tô hồng thì người ở xa nước làm sao biết được, lấy gì mà kiểm chứng? Không tin rồi cũng tin, nghe mãi cũng chịu ảnh hưởng. Từ tin đến yêu. Đài độc quyền tiếng nói Việt. Một Việt Nam của sự dối trá và lừa đảo

Quê Mẹ : Vài khi chúng tôi cũng nghe trên sóng một ít tin về nạn mất mùa, thiên tai, lũ lụt ?

L.T.T. : (cười) Đó là khía cạnh khác. Khía cạnh độc đáo, được ưu tiên đấy. Lỗi đó đâu là lỗi của chính quyền, của đảng. Lỗi do ông Thiên lôi, ông Hà bá, ông Sơn tinh, Thủy tinh gì đó. “Cần phải đặc biệt tung mạnh lên để đồng bào cảm thông với những khó khăn của đất nước.” – lời ông trưởng Ban chỉ đạo thường nhấn_mạnh. Đúng là bão lụt hay thăm viếng rẻo đất miền Trung của nước ta. Song không phải cơn bão nào cũng “gió giật trên cấp 12, cấp 13 – Hàng trăm héc-ta lúa bị ngập nước, hàng trăm ngôi nhà đổ, hàng nghìn người đói rét không có chỗ ở … v.v.”. Lấy ví dụ đưa tin ở huyện Vạn Xuân tỉnh Thanh Hoá cơn bão số 6 làm đổ 180 nóc nhà, chưa đầy tháng sau cơn bão số 7 lại làm đổ nát 200 nóc nhà nữa, đồng ngập trắng nước, nhiều trâu bò lợn gà bị chết… Mấy hôm sau có anh bạn quê ở Vạn Xuân ra Hà nội chơi, tôi ân cần hỏi thăm, thì anh bảo có thấy gì đâu, chỉ mưa rào vài trận và gió làm đổ mấy cái lán tre làm nhà phơi của lò gạch.

Vui thế đấy. Thực tế thì chưa một phóng viên nào của phòng Việt kiều có mặt ở vùng lũ lụt cả. Đơn giản là lấy xe đâu mà đi, tiền đâu mà ăn đường, vả lại ba cái chuyện vẽ mây vẽ rồng ấy chỉ có lợi cho công việc tuyên truyền thôi. Trái lại, nạn mất mùa, sâu bệnh là có thật. Nhưng đâu phải là ông trời chơi ác nông dân ta quá quắt. Chẳng qua là thuốc trừ sâu bị đánh cắp, phân bón luân chuyển lung tung qua các cấp quản lý, các kho hàng, rồi từ kho ra đến ruộng, mỗi người lấy một phần, thằng lớn cuỗm cả tấn, bán cả kho, thằng nhỏ nhất là nông dân cũng bốc vài nắm giấu đi trước khi tung rắc lên mặt ruộng. Đất xác khô, cây chết non, chết cằn là vì thế.

Thế nhưng việc ưu tiên tung lên sóng những tin tức kiểu bão lụt này cực kỳ có lợi cho chính quyền. Một mặt làm lẫn lộn, làm mờ đi những khó khăn thúc bách của đời sống vốn là sản phẩm của một cơ chế quản lý kinh tế quan liêu, dốt nát. Mặt khác kêu gọi được lòng nhân đạo của các tổ chức từ thiện quốc tế, tranh thủ lòng trắc ẩn và nỗi xót xa quê hương của kiều bào.

Viện trợ tiền bạc, gạo, thuốc men, quần áo từ các nguồn trên liên tục gửi tới cứu giúp đồng bào vùng bão lụt. Càng kêu gào to, tiền gửi về càng nhiều. Không có cách gì xin tiền và làm tiền dễ hơn cách ấy.


Quê Mẹ : Ngoài việc đưa tin cắt xén, loan lin thất thiệt ra, chương trình dành cho đồng bào VN ở xa tổ quốc còn có những đặc điểm tuyên truyền gì đáng chú ý không ?

L.T.T. : Ở phần văn nghệ. Văn nghệ đây bao gồm cả thơ, văn, âm nhạc, sân khấu, hội họa, kiến trúc chùa chiền… Trong đó bộ môn nhạc dân tộc, cải lương, dân ca, ngâm thơ được chú trọng. Vì sao ? Vì cái mục đích gợi thương gợi nhớ ấy. Mà ở điểm này các bộ môn nghệ thuật cổ có sức lay động gọi về ghê gớm. Gọi người trở về ư ? Không phải đâu. Nhà đông con, đuổi đi không hết, về mà làm gì. Gọi đây là gọi gửi tiền về, gọi nhớ, gọi thương mà quên đi các nguyên nhân dẫn đến thảm kịch hôm nay của đất nước. Tôi xin được hát cho các anh nghe bài Quê Hương, nhạc Giáp Văn Thạch, thơ Đỗ Trung Quân, một bài hát được phòng Việt kiều triệt để khai thác, phát trên sóng cả ngàn lần trong bảy, tám năm qua. (Hát)

“Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương mỗi người chỉ một
Nhà là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người”

Đẹp không? Đẹp lắm chứ. Có phải quê hương Việt Nam thân yêu của ta đó không ? phải lắm chứ. Có phải là chùm khế, cánh diều, bướm vàng, khúc sông, con đò, là chiếc cầu tre nhỏ, là vành nón lá nghiêng che của mẹ ta, trong lòng ta nhớ thương đó không? phải lắm chứ. Chẳng kể gì đồng bào ở xa. Vâng, chính tôi và các bạn bè tôi khi đang sống trên quê hương Việt Nam bằng xương bằng thịt hẳn hoi mà chợt nghe bài hát ấy cũng rưng rưng muốn khóc. Tôi mông lung nhớ về một quê hương ấm êm thủa thái hòa xa xôi nào bây giờ không còn nữa. Tác động vào đồng bào nước ngoài hẳn còn ghê gớm hơn. Đồng bào ở nước ngoài sẽ man mác nhớ thương về mảnh đất mà tôi đang sống. Chúng ta đều bị cái tình tự quê hương dắt chạy quanh những nhớ thương ray rứt đến mụ mị, mù lòa mà quên đi rằng chúng ta đang bị mất quê hương. Cứ như là dải đất hình chữ S còn nguyên vẹn đó, mẹ Việt Nam còn nguyên vẹn đó. Bài hát hay, có giá trị muôn đời, phi thời gian, đem ra phục vụ giai đoạn che chắn cho một nước Việt Nam đồi bại. Bài hát được sử dụng tinh vi, nguy hiểm là ở chỗ đó. Lấy cái quê hương trong nhớ thương, trong ước mơ để thay thế cái quê hương hiện tại tiêu điều. Làm trỗi dậy cái quê hương Việt Nam ngân nga, ngất say trong long người, trong hồn người, để che đậy và làm quên đi cái quê hương Việt Nam hiện tại của đói nghèo và nhà tù, của chắp vá, hỗn loạn, của những ông cụ non, những “thần đồng” dao búa tuổi 15 và những đứa trẻ “hoàn đồng” tuổi 60 bơ vơ, bám sống ở vỉa hè, bám sống tình thương, miếng ăn, bám sống vào sự tử tế của những khúc ruột mình ! Trong sự mơ màng rên rỉ ấy, đảng độc quyền, đảng củng cố và đảng thủ lợi.

Quê Mẹ : Chúng tôi xúc động nghe những lời tâm huyết của anh. Xin hỏi thêm, khi bị chỉ đạo phải làm các công việc như thế, anh có ý thức được là nính đang tiếp tay cho đảng dối gạt mọi người không ?

L.T.T. : Có chứ. Lúc đầu thì chưa đâu. Dần dần nhận ra thì thấy chán. Chán đời, chán mình.

Quê Mẹ : Chán nhưng có phản ứng gì không ?

L.T.T. : Vô ích. Đúng ra là chúng tôi cũng phản đối, cũng cưỡng chống lại cách này, cách khác, nhưng rốt cuộc đều bất lực. Chả riêng chúng tôi. Bất lực, chán nản, lãng công, vô trách nhiệm là trạng thái phản ứng tiêu cực của hàng triệu người trong nước. Chính quyền độc tài, thằng bạn cùng phòng với mình rất có thể là thằng công an. Sự giả dối lâu quá rồi cũng quen đi, không ý thức là mình đang giả dối nữa. Vả lại khi làm cái công việc ấy, chính tôi cũng như bị bỏ bùa mê, chính tôi cũng bị lừa gạt.

Quê Mẹ : Anh bị lừa gạt chuyện gì vậy ?

L.T.T. : Nhiều, nhiều lắm. Bị lừa gạt mà không biết. Nhưng ở đây tôi muốn nhắc tới một câu chuyện riêng. Chuyện lừa gạt trong nghề, thú vị như một câu chuyện trinh thám vậy.

Quê Mẹ : Xin anh kể lại chi tiết cho độc giả cùng nghe….

L.T.T : Được chứ (Ngừng – uống nước – chậm rãi kể) – Việc xảy ra sau Tết Nguyên Đán năm ngoái thôi. Tôi được ông Phan, tổng biên tập mới của đài gọi lên phòng riêng. Ông ta dặn dò và giao nhiệm vụ cho tôi tổ chức cuộc tiếp xúc giữa một ông Việt kiều từ Pháp về thăm quê hương và nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Ông Việt kiều này tên là Huỳnh Tấn Hải, đã sống ba chục năm ở Pháp, dân trí thức thuần túy, rất có lòng với đất nước. Ông Phan nhắc tôi phải tranh thủ mọi thiện cảm vì ông Việt kiều này rất có uy tín, ảnh hưởng khá rộng trong cộng đồng người Việt ở Pháp, làm tốt vụ này có thể lôi kéo nhiều đồng bào khác. Việc ông Huỳnh Tấn Hải tôi không lo. Lo nhất là phải gặp dàn xếp với Nguyễn Huy Thiệp về nội dung buổi tiếp xúc. Cái chuyện văn chương nó phức tạp lắm, lại nhè đúng cái ông nhà văn quái đản, lớ ngớ là tội vạ mình chịu. Tôi chỉ mới đọc được vài truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nghe người ta tán tụng hoặc chửi bới anh ta thì nhiều, nhưng chưa bao giờ thấy mặt anh ta. Anh ta là một người lẩn khuất. Hôm sau tôi lấy địa chỉ, giấy giới thiệu của ông Phan, tìm đến nhà Nguyễn Huy Thiệp, nhằm đúng giờ ăn cơm mà gõ cửa. May là anh ấy có nhà, lại biết trước cuộc gặp. Đúng ngày dự định tôi bảo cậu lái xe ở đài chở đi đón ông Huỳnh Tấn Hải, ghé qua đón Nguyễn Huy Thiệp, rồi cùng kéo ra quán bánh tôm ngoài trời ở Hồ Tây. Trời nắng đẹp, không khí buổi tối đối thoại rất thoải mái cởi mở. Ông Hải có vẻ xúc động và hài lòng lắm. Ông đã tìm ra nhiều điểm tương đồng và càng thêm tin tưởng vào nguyên lý hòa hợp hòa giải đang ăn khách ở Paris, là người Việt ở trong nước và ngoài nước cùng bắt tay vào xây dựng đất nước, xóa bỏ mọi tị hiềm, hàn gắn những vết thương cũ. Ông cũng phát biểu những đề nghị với đảng cộng sản VN phải sửa chữa những sai lầm, mở rộng dân chủ, đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị v.v… Ông Hải đặt rất nhiều niềm tin đặc biệt vào mũi nhọn xung kích của những nhà văn trong phong trào văn học phản kháng như Nguyễn Huy Thiệp. Ông ta xin toàn bộ tác phẩm có chữ ký của anh ta. Vui vì kết quả cuộc gặp gỡ như mong muốn, ông Hải hào phóng tặng Nguyễn Huy Thiệp 5 nghìn quan, tặng phòng Việt kiều 20 nghìn quan Pháp để trang bị thêm phương tiện làm việc. Buổi nói chuyện vậy là thành công, gặt hái được cả tình, cả tiền. Tôi đem cuốn băng ghi âm về báo cáo và cho ông Phan nghe. Ông chỉ gật gù cười cười. Khi tôi nói thêm là ông Huỳnh Tấn Hải tỏ ra rất cảm kích và hứa tới đây sẽ vận động thêm nhiều bà con ở Pháp về thăm quê hương và góp ý cho Đảng, thì ông Phan bật cười thành tiếng, và hình như ông có thốt ra câu gì nghe như chữ : con vịt !

Chuyện đó qua đi. Hai tháng sau một hôm tôi có việc phải cùng thằng bạn vào Sở Công an ở phố Trần Bình Trọng. Lúc trở ra, bất ngờ tôi gặp Nguyễn Huy Thiệp ở chân cầu thang. Tôi gọi to để chào. Nhưng trái hẳn với sự cởi mở dạo trước, anh ta chỉ nhìn lướt tôi gật nhẹ một cái rồi đi khuất ngay. Tôi hơi bị hẫng, quay sang bảo thằng bạn :

- Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đấy.

Nó tròn mắt nhìn tôi :

- Ơ mày điên à?

- Sao ?

- Bố ơi… Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là người khác cơ. Còn đó là lão Bảy, phó phòng Công an văn hóa đấy. Tao lạ gì thằng cha này.

Chuyện thật như đùa. Tôi kéo thằng bạn ra quán nước chè kể lại đầu đuôi và cùng cười phá lên. Cái trò chính trị nó đểu thế. Mười mấy năm làm nghề rồi mà còn bị lừa. Bất giác tôi nhớ đến nụ cười tủm tỉm và cái từ : “Con vịt” thốt ra ở cửa miệng ông Phan. Chẳng hiểu ông ấy định ám chỉ tôi hay là ông Huỳnh Tấn Hải đây.

Tạ Quân (Quê Mẹ 1991)
Nguồn : http://muoisau.wordpress.com/2010/09/26/778/

Bài Xem Nhiều