We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 1 October 2010

Đại lễ 1000 năm Thăng Long để mừng quốc khánh Tầu cộng.


"Năm 1075, Vua Tầu Tống Thần Tông lệnh cho tướng Tầu Lưu Gi chuẩn bị binh lương chờ ngày Nam chinh đánh Đại Việt theo lời tâu của tể tướng Vương An Thạch với sớ tâu rằng “nếu không đánh lấy đất Giao Châu thì về sau thành ra một điều lo cho nước Tầu”. Được tin chính xác, vua Đại Việt triều Lý Nhân Tông mới cho sứ mang thư qua Tầu để hỏi và dò ý Tống triều. Lưu Gi giữ sứ Việt không đệ về kinh…, vua Lý của Đại Việt tức giận xuống chỉ truyền cho hai tướng Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem 10 vạn binh theo hai đạo thủy, bộ Bắc tiến vượt biên giới phía Bắc đánh nhà Tống…

Lý Thường Kiệt vây Khâm Châu và Liêm Châu (nay là Quảng Đông), Tôn Đản vây đánh Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Châu bây giờ)… Tướng Tầu Trương Thủ Tiết đụng trận với Lý Thường Kiệt chết ở trận tiền, quan tri châu tên Tô Đàm sau 40 ngày giữ thành Ung Châu, thành thất thủ Tô Đàm phải tự tử chết… "
(Tóm lược trích đoạn Việt Nam Sử Lược/Trần Trọng Kim)

Tháng 8 Dương lịch 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về La Thành, và theo truyền thuyết thì khi vua thấy rồng vàng hiện ra ở La Thành nên vua cho đổi Đại La Thành ra Thăng Long Thành, tức Hà Nội bây giờ. Vậy thì tính ra, đến tháng 8 dương lịch năm 2010, Thăng Long thành đã trải qua 1000 năm. Thế thì tại sao tập đoàn cộng sản Hà Nội không tổ chức mừng Đại Lễ 1000 năm Thăng Long trong tháng 8/2010 mà lại ký văn thư ra lệnh tổ chức vào ngày quốc khánh Tầu cộng với chi phí hàng tỷ đô la? Tiền này của dân Việt Nam, của đảng cộng sản Việt Nam, hay của Tầu cộng chi ra?

Việc dời ngày “1000 năm Thăng Long” cho trùng ngày quốc khánh Tầu cộng hoàn toàn không phải vô tình, nó là một quyết định có tính chính trị, giống như lời phát biểu của tướng VC Nguyễn Chí Vịnh:

“Phát biểu trước báo giới trong chuyến thăm Trung Quốc, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định chính sách "ba không" của Việt Nam, và nhấn mạnh rằng mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước láng giềng là "tốt đẹp".

Tôi nghĩ bộ trưởng quốc phòng Lương Quang Liệt của Trung cộng rất hài lòng về lời tuyên bố của VC Nguyễn Chí Vịnh, và Tầu sẽ khắc ghi lời tuyên bố này vào sách vở như họ đã giữ kín công hàm dâng Hoàng Sa, Trường Sa cho Tầu của Phạm văn Đồng gửi Chu Ân Lai theo lệnh của Hồ Chí Minh năm 1958. Và họ sẽ dùng điều này :
« Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, đảng và nhà nước ta thà giao Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung quốc và các nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em còn hơn là giao cho bọn ngụy Sài Gòn quản lý. »

(Lời Hoàng Tùng, Ủy Ban Tư Tưởng Đảng Cộng Sản, tuyên bố tại Hà Nội năm 1958 sau khi Hà Nội công bố công hàm của Phạm Văn Đồng gửi cho Chu Ân Lai về vụ Hoàng Sa, Trường Sa.)

Thế nhưng, theo tôi, cái nhục nô lệ của bộ ba Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Tùng năm 1958 và mới đây, thái độ cúi đầu của thứ trưởng quốc phòng CSVN Nguyễn Chí Vịnh trước bộ trưởng quốc phòng Tầu cộng Trương Quang Liệt... nó không tàn nhẫn, ô nhục bằng đại lễ 1000 năm Thăng Long mừng quốc Khánh Tầu phù 01.10.2010. Lý do tại sao tôi có ý nghĩ này ?

Việt Nam bây giờ, Đại Việt khi xưa, điều mà triều đình Tống Thần Tông/Vương An Thạch lo âu năm 1075 rằng “nếu không đánh lấy đất Giao Châu thì về sau thành ra một điều lo cho nước Tầu” và tham vọng của cộng sản Tầu triều đình Hồ Cẩm Đào ngày nay 2010 với Việt Nam vẫn y nguyên, vẫn không thay đổi. Suốt chiều dài lịch sử 1000 năm qua, mộng của người Tầu vẫn không thành, mộng của người Tầu vẫn không tan. Giấc mộng đánh chiếm Việt Nam muốn thực hiện, Hán cộng Bắc phương phải nắm được tập đoàn cộng sản đang cầm quyền cai trị đất nước. Họ đã làm được điều đó qua tiến trình “gậm nhấm” Việt Nam của Bắc triều, song song với tiến trình âm thầm này, phục hận lịch sử trả thù nhà Lý của chúng ta là điều Hán cộng phải làm.
Bắc phương vẫn mang nỗi nhục 1000 năm chưa tan với cuộc Bắc tiến vượt biên thổ Đại Việt tấn công qua đất Tầu năm xưa của Lý Thường Kiệt và Tôn Đản. Quang cảnh hoang tàn, thất thủ của Khâm châu, Liêm châu và Ung châu nằm trong tay quân Đại Việt phải chăng đó chính là một mối quốc nhục không bao giờ tàn phai trong lịch sử Tầu, nhất là trong đầu các lãnh tụ Hán cộng phương Bắc hiện nay đang có trong tay một nhà cầm quyền nô lệ, bạc nhược là đảng cộng sản Việt?

Phải chăng để rửa mối quốc nhục nghìn năm đó, nhà nước Hán cộng phương Bắc hiện nay, Bắc Kinh đã buộc chế độ Hà Nội phải tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long 2010 của Việt Nam phải dùng ngày quốc khánh 1 tháng 10 của Hán cộng để đốt pháo ăn mừng?! Cùng một lúc, những tiệc mừng, những trò vui, những trời đầy pháo bông rực rỡ cùng lúc diễn ra rực trời Bắc Kinh/Hà Nội. Dân Hà Nội ham vui không hay quốc nhục, tập đoàn lãnh đạoBắc Kinh hả hê cụng rượu trong niềm vui trả thù?!!!

“Xén nửa vầng trăng trời Thăng Long
Soi nghiêng thành quách dấu Tiên Rồng
Miếu đường ủ mục mầu hoang phế
Hà Nội cúi đầu, em biết không?!”
(Lê Khắc Anh Hào)

Tập đoàn cộng sản Việt Nam đã lăng nhục tiền nhân, bôi đen lịch sử để làm vừa lòng quan thầy phương Bắc, và đồng thời nhờ đó mà triều đình Hán cộng Bắc Kinh dung tha , bảo bọc cho họ được ngồi trên đầu của muôn dân, trên nỗi đau của dân tộc…

Đại lễ 1000 năm Thăng Long 1/10 chính là mối quốc nhục do CSVN tạo ra, mà một ngày nào đó trong tương lai gần, tập đoàn phản quốc này sẽ phải trả giá cho những tội ác và phản bội của họ bằng cách này hay cách khác, kể cả cái giá máu xương… Dân tộc đã bị CSVN dồn đến cùng đường, và trong đêm nay, nghĩ về quê hương oan khuất, bất hạnh bên kia bờ đại dương, tôi dường nghe âm vang vọng lại từ linh sử đau thương của dân tộc lời của nhà cách mạng Nguyễn Thái Học … “Hoa tự do phải tưới bằng máu!”

Hải Triều
Nhóm Nhà Văn Quân Đội
604 879 1179/Sáng 5/9/2010

AN NINH VIỆT CỘNG LẠI GIỞ TRÒ HÈN HẠ

AN NINH VIỆT CỘNG LẠI GIỞ TRÒ HÈN HẠ, ĐỐN MẠT VỚI CÁC NHÀ DÂN CHỦ QUỐC NỘI

Kính thưa quý độc giả, quý vi hữu, quý chiến hữu và quý niên trưởng,

Vừa qua cơ quan an ninh Việt cộng lại giở trò hèn hạ và đốn mạt đối với các nhà dân chủ quốc nội, ngoài việc vu khống các nhà dân chủ, các thành viên của khối 8406 rằng họ tham gia đảng Việt Tân mà chúng gọi là một tổ chức khủng bố, nhằm bắt bớ giam cầm và tra tấn cròác nhà dân chủ theo một cách mà chúng cho là hợp pháp thì mới đây vào cuối tháng 9 năm 2010 khi cơ quan theo dõi nhân quyền của Quốc Hội Hoa Kỳ muốn tiếp kiến các nhà dân chủ và bất đồng chính kiến tại Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài gòn, thì cơ quan an ninh Việt cộng bắt đầu giở trò hèn mạt đối với những người bất đồng quan điểm với chúng.




Để mở đầu cho “Chiến Dịch Hồ Chí Minh” khủng bố dân lành này, vào ngày 18 tháng 9 năm 2010 cơ quan an ninh thuộc cục an ninh khu vực phía nam đã tổ chức mưu sát nhà bất đồng chính kiến, thành viên khối 8406, cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Quang tại khu vực Định Quán, Đồng Nai, bằng một tai nạn giao thông nghiêm trọng may mà nhà dân chủ Nguyễn Ngọc Quang đã thoát chết trong gang tấc, mà chỉ bị trọng thương.












Rồi đến sáng sớm ngày 30 tháng 9 vừa qua, chỉ một ngày trước khi đến gặp gỡ các viên chức theo dõi Nhân Quyền Quốc Tế tại tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài gòn, một lực lượng an ninh khác cũng thuộc bộ công an Việt cộng đã phá cửa nhà chị Dương Thị Tân, vợ Blogger Điếu Cày, nơi nhà bất đồng chính kiến Tạ Phong Tần đang tạm trú, tại đây, chúng tiếp tục phá luôn cửa nhà vệ sinh, mà trong đó nhà bất đồng chính kiến Tạ Phong Tần đang làm vệ sinh buổi sáng và bắt cóc Tạ Phong Tần, đưa đến văn phòng tổng cục an ninh giam giữ, điều tra, khủng bố và đe dọa, cho đến 22 giờ đềm mới thả về nhà với lời đe dọa là sẽ không toàn tính mạng nếu dám tiếp xúc với các nhân viên theo dõi nhân quyền quốc tế tại Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ.


Đến sáng sớm hôm nay, ngày 01 tháng 10 một kịch bản tương tự lại xãy ra với Luật sư Lê Trần Luật và nhà dân chủ, kỹ sư Phương Nam Đổ Nam Hải. Cho đến giờ này khi chúng tôi chuyển những tin này đến quý vị, thì số phận của hai nhà bất đồng chsinh kiến này hiện vẫn chưa biết ra sao, bởi hôm nay là đúng ngày hẹn đến Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài gòn để trao đổi về vấn đề nhân quyền tại Việt nam với các viên chức theo dõi nhân quyền quốc tế của quốc hội Hoa Kỳ.

Điều khiến chúng tôi không thể nào hiểu nổi là tại sao cộng sản Việt nam lại tỏ ra sợ hãi, úy kỵ đối với các nhà dân chủ trong tay không một tấc sắt, là những người thực sự yêu nước, thương nòi, mà chúng lại không một chút quan ngại trước họa mất nước vào tay Hán Ngụy.



SÀI GÒN ngày 01 tháng 10 năm 2010, Nhóm Phóng Viên PHONG TRÀO PHỤ NỮ VIỆT NAM HÀNH ĐỘNG CỨU NƯỚC - Quốc Nội

Người ta nói đàn ông ăn hiếp đàn bà?

Theo nhà nhân chủng học người Pháp, Bà Françoise Hérétier, cựu Giáo sư Trường Collège de France ở Quận V Paris, “đàn ông xưa nay khống chế đàn bà vì đó là một quy luật xã hội loài người”. Khi nói như vậy, phải chăng điều đó có nghĩa là trong lịch sử nhân loại chưa bao giờ có xã hội mẫu hệ?



Vài nét về Giáo sư nhân chủng học Françoise Hérétier




Bà Françoise Héritier sinh năm 1933, làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu Pháp (CNRS, Centre National de Recherche Scientifique). Năm 1982, bà được bầu vào Collège de France , một cơ sở giáo dục ngoại hạng, độc lập, không thuộc Viện Đại Học nào hết, thành lập năm 1592 dưới thời vua François Đệ I. Các giáo sư giảng dạy ở đây là những nhân vật ưu tú và uyên bác của nước Pháp. Nhưng Collège de France chỉ truyền đạt sự hiểu biết, không dạy để cấp phát văn bằng. Bà là giáo sư thuộc bộ môn “Nghiên cứu so sánh các xã hội Phi châu”. Cho tới ngày về hưu năm 1999, Bà đã cho xuất bản nhiều sách, như “Hai chị em và người mẹ, Nhân chủng học về sự loạn luân” (Les Deux Sœurs et leur mère, Anthrpologie de l’inceste, Edition Odile Jacob,1994),…Bà được dư luận đặc biệc quan tâm tới các tác phẩm sau này của bà: “trị giá về sự khác nhau” của giới tính gồm hai phần: “Nam / Nữ, suy nghĩ về sự khác nhau” ( Masculin / Féminin, La pensée de la différence, Edition Odile Jacob, 1996 ), và “Nam / Nữ II, Giải thể sự tôn ti” (Masculin / Féminin II, Dissoudre la hiérarchie, Edition Odile Jacob, 2002 ). Đến năm 2003, Bà được giải Irène-Joliot Curie, tưởng thưởng các công trình do Bà thực hiện để nhằm đề cao địa vị của nữ giới trong địa hạt khoa học.

Nữ ký giả Anne Chemin của nhựt báo Le Monde của Pháp đã phỏng vấn Giáo sư Françoise Hérétier về nguyên nhân sâu xa của hiện tượng “Đàn ông khống chế đàn bà”. Bài phỏng vấn được đăng trên ấn bản Magazine của nhựt báo Le Monde phát hành ngày thứ sáu hằng tuần (03/02/2007, Paris). Dưới đây là nội dung sơ lược của cuộc nói chuyện của nữ ký giả Anne Chemin với Giáo sư Françoise Hérétier.



1. Đàn ông khống chế đàn bà là một quy luật trong xã hội loài người.


Một xã hội mẫu hệ là một hệ thống nhân xã trong đó mọi quyền hành từ chính trị, tôn giáo đến kinh tế đều nằm trong tay đàn bà. Trong lịch sử nhân loại, quan điểm cho rằng đã có những xã hội mẫu hệ khá phổ biến. Một vài tác giả cho rằng, từ nguyên thủy, trong giai đoạn phát triển mạnh của nhân loại, thì tất cả xã hội loài người đều thuộc mẫu hệ. Lý do là người đàn bà sinh con, điều đó ban phát cho họ một quyền uy hầu như phù thủy. Từ đó, các tác giả này cho rằng người đàn bà mặc nhiên chiếm hữu tất cả các quyền lực khác.
Tuy nhiên, chúng ta – vẫn theo các tác giả này - có thể khẳng định rằng, trên thế giới, chưa bao giờ có xã hội mẫu hệ. Những điều làm cho người ta nghĩ đến xã hội mẫu hệ, thực ra, đó là những xã hội tôn trọng người đàn bà vì sự mầu mỡ ở họ, cụ thể là sự sinh nở bảo tồn chủng tộc, hoặc các xã hội với tập quán giữ quan hệ huyết thống theo dòng mẹ. Nhưng trong các xã hội tôn thờ sự sinh nở, đàn bà không nắm quyền lực và cả trong các xã hội gọi là mẫu hệ, anh em trai của các bà mẹ vẫn áp đặt quyền thống trị.



2. Huyền thoại về xã hội mẫu hệ




Đúng là có nhiều huyền thoại cho rằng thời xa xưa, đàn bà có quyền lực nhưng các huyền thoại đó cũng nói rằng đàn bà đã sử dụng các quyền lực ấy không giỏi, thiếu bản lãnh, mà lại độc đoán, bất công nên đã làm cho đàn ông tức giận, phải nổi dậy, tàn sát đàn bà và giành nắm lấy lại quyền lực về cho mình.




Một huyền thoại khác kể lại rằng vào thời rạng đông của nhân loại, tại bộ lạc thổ dân Onas, đảo Đất Lửa (Terre de Feu), cực nam Châu Mỹ La tinh, bây giờ đã bị tiêu diệt, đàn bà đã khống chế đàn ông và sai khiến đàn ông như tôi đòi, nhờ một thứ vũ khí, gọi là rhomes. Dụng cụ này quay chung quanh một sợi dây sẽ phát ra tiếng rống lên làm inh tai, nhức óc. Khi nghe tiếng rống, đàn ông sẽ khiếp sợ một cách vô cùng đáng thương vì họ nghĩ rằng các bà đang chung sống với thần linh đầy quyền lực. Huyền thoại cũng kể rằng một ngày đẹp trời, một người đàn ông đã khám phá ra thứ vũ khí này chỉ là một trò bịp bợm, bèn cùng các đàn ông khác vùng lên chém giết tất cả đàn bà, chỉ chừa lại con gái là được tha cho sống để làm các bà vợ gia nhân.


Các bà Amazones cũng là một huyền thoại tương tự. Huyền thoại này được dựng lên từ những dữ kiện có thật, đó là sự hiện hữu của các nữ chiến sĩ của giống người Man rợ (Barbare) (1), tương tự như những nữ chiến sĩ của người Pháp cổ (Gaulois). Nhưng theo người Hy lạp thì huyền thoại về các nữ chiến sĩ này đã biến thành các dân tộc nữ chiến sĩ khống chế và sử dụng đàn ông như tôi mọi, nô lệ.

Trong mọi trường hợp, các huyền thoại về nữ quyền đã được sáng tạo như một hình ảnh trái ngược lại hiện thực, được vận dụng để giải thích cho quần chúng hiểu sự bất công tột bực của hệ mẫu quyền và để từ đó, người ta tạo dựng lên tính chính thống của phụ quyền.



3. Đàn ông khống chế đàn bà không dựa trên sinh học.




Nhiều người cho rằng sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà là theo một trật tự tự nhiên. Đặc biệt, họ viện dẫn tính ưu việt về thể xác của đàn ông như một yếu tố nổi bậc của trật tự tự nhiên ấy. Sự sinh đẻ cũng được xem như là một quyền lực của đàn bà nhưng là một yếu điểm. Một số nhà nghiên cứu khác tìm cách giải thích nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà bằng cấu trúc bộ óc. Hiển nhiên, họ không tìm thấy gì cả vì bộ óc hai giới nam nữ đều vận hành hoàn toàn giống nhau. Thật ra, đàn bà và đàn ông đều có cùng khả năng thể xác và tinh thần bằng nhau. Nhiều người nghĩ rằng đàn ông khống chế đàn bà vì vào thời đại đồ đá, trước khi trồng trọt và chăn nuôi được phát minh, đàn ông nắm lấy trọng trách săn bắn, nuôi sống được nhiều người trong nhóm giỏi hơn đàn bà với công việc hái lượm. Thật ra, sự quan sát những sắc dân hiện đang sống bằng săn bắn và hái lượm - khoảng 30 sắc dân sống như vậy tại Canada, Úc và Phi châu - đã dẫn đến kết quả ngược lại. Thật vậy những nhận xét của các nhà dân tộc học cho biết ở người Bochimans (2), sống tại sa mạc Kalahari (Botswana) hay người Pygmées (3), sự thu hoạch bằng hái lượm của phụ nữ đã nuôi sống 80% người của nhóm. Điều này được giải thích rất đơn giản: săn bắn là một sinh hoạt khá bấp bênh, trong khi đó lượm củ và hái trái cây hoặc bắt các thú vật nhỏ như rùa, loài gặm nhấm, rắn… bằng gậy gộc đem lại lương thực đều đặn hơn. Các nghiên cứu này cũng chứng tỏ rằng, ngược lại với các định kiến, đàn bà đi bộ xa và giỏi hơn đàn ông trong việc kiếm sống, thường thu hoạch nhiều hơn đàn ông vì họ có giác quan định hướng nhạy bén hơn đàn ông.




4. Tại sao đàn bà bị gạt ra ngoài nghề săn bắt thú?




Đàn bà sở dĩ bị cấm không được đi săn trong một số lớn xã hội săn bắt vì những lý do hoàn toàn trừu tượng. Các thành viên của các xã hội này nhận thấy rằng đàn bà có những chu kỳ kinh nguyệt, và họ mất kinh khi họ có bầu hoặc trong thời gian cho con bú. Từ đó, người ta mới suy diễn ra rằng máu là chất làm ra cơ thể đứa con hoặc làm ra sữa nuôi dưỡng đứa bé. Từ khởi thủy, họ nghĩ rằng nếu đàn bà làm đổ máu thú vật trong các cuộc đi săn, họ có thể bị xuất huyết kinh niên do hậu quả của sự tương tác tưởng tượng giữa vũ trụ và cơ thể con người. Máu của các con vật bị giết có thể làm chảy máu ở người đàn bà, bằng một giao cảm, theo nghĩa triết lý, giữa người với thiên nhiên và về lâu về dài, có thể làm cho đàn bà không sinh nở được nữa.




Đó là những lý do mang tính tín ngưỡng dân gian cổ thời mà đàn bà không được quyền làm đổ máu thú vật, nghĩa là đi săn. Sự cấm kỵ này, trước hết, là để bảo vệ khả năng sinh nở của đàn bà.




5. Sự khác biệt về hình vóc giữa đàn bà và đàn ông




Priscille Touraine, một nhà nhân chủng học trẻ tuổi, đã nghiên cứu sự khác biệt về hình vóc giữa đàn ông và đàn bà. Ông trích dẫn những giải thích về sự khác biệt này của các nhà khoa học, sinh học và di truyền học đã được phổ biến từ thế kỷ nay. Công trình khảo cứu của ông đã chứng tỏ rằng, qua quá trình hàng nghìn năm, hình vóc người của đàn bà không ngừng giảm sút, trong khi đó hình vóc người đàn ông tăng trưởng. Hiện tượng này được giải thích một cách rất đơn giản: sự dinh dưỡng giữa đàn ông và đàn bà hoàn toàn khác nhau.




Thật vậy, sự dinh dưỡng căn cứ trên một tập quán xã hội cho rằng đàn ông cần nhiều protéine hơn đàn bà. Theo dòng lịch sử, đàn bà được nuôi nấng bằng ngũ cốc, cháo, tức thức ăn nhẹ, đi đôi với bản chất yếu đuối và mong manh của họ. Các món ăn như thịt, mỡ, muối khoáng được ưu tiên dành cho đàn ông. Khi những khiếm khuyết này tích lũy trong suốt thời gian dài, hậu quả đương nhiên là thể xác phải thích ứng theo nên làm biến dạng cơ thể, thay đổi về vóc dáng người đàn bà. Cuối cùng, hiện tượng này được xem như là tự nhiên, chớ không thấy đó là thực tế mang nặng tính nhân xã.




Chỉ trong gần đây, tại Pháp những sự khác biệt về dinh dưỡng đã mất đi. Thời đệ nhị thế chiến, tại nhiều vùng quê, đàn bà hãy còn đứng hầu bàn trong bữa ăn và sau đó mới được ăn những món ăn thừa của đàn ông để lại trên bàn ăn. Nhờ từ lúc xã hội được thật sự bình đẳng mà những khác biệt về vóc người càng ngày càng giảm bớt. Ngày nay, ở khắp các quốc gia phát triển, cả ở những quốc gia vừa trỗi dậy, đàn bà chẳng những có vóc dáng không thua kém đàn ông, mà trái lại, còn vượt hẳn đàn ông nữa là khác.




6. Khác biệt bất biến giữa đàn bà và đàn ông




Sau cùng và muôn thuở chỉ còn lại một khác biệt độc nhất giữa hai phái là sự sinh đẻ. Phải chăng đây là một sự bất bình đẳng về sinh học? Vì chỉ có đàn bà mới sinh đẻ con cái. Thế mà không thấy có ai kêu gào sự bất bình đẳng này? Ngoài ra, đàn ông và đàn bà đều có cùng khả năng tinh thần, vật chất, tâm thần và trí thức hay đạo đức hoàn toàn như nhau.




7. Nam - nữ trở thành nguyên lý văn hóa xã hội




Từ thời nguyên thủy, con người luôn luôn tìm tòi ý nghĩa về sự khác nhau ở các bầy thú và con người. Họ nhận thấy ở đó có hai loại giống khác nhau: con đực và con cái. Sự suy nghĩ của con người không thể vượt qua được dữ kiện này. Đây trở thành một bế tắc thật sự trong việc khám phá, nhưng lại hướng dẫn tư duy con người xây dựng thành nguyên lý trên sự giống nhau và khác nhau. Thật vậy, từ mô hình đực/cái này, con người đã sáng tạo ra hàng trăm loại khác tương tợ với cặp đôi, đối lập nhau, từ thông thường như trên/dưới, nóng/lạnh, thụ động/hoạt động, đến trừu tượng như hợp pháp/bất hợp pháp, thuần lý/phi lý, lành mạnh/nguy hại v.v…Sự khác biệc được kết hợp trên cơ sở cặp đôi: đực và cái. Nhưng trong mọi trường hợp, giá trị đực lúc nào cũng được đánh giá cao, còn giá trị cái lúc nào cũng bị đánh giá thấp. Ý niệm này qua đông phương trở thành triết lý Âm-Dương.




Tại châu Âu, chẳng hạn, sự hoạt động được xếp theo giá trị đực và sự thụ động theo giá trị cái. Giá trị đực, tức hoạt động, được đánh giá cao vì nó được nối liền với sự làm chủ thế giới, và chi phối các sự việc. Trong xã hội Ấn độ và Trung hoa, ngược lại, sự thụ động được liên kết với đực và sự hoạt động với cái. Nhưng mặc dù có sự đảo ngược này, đực đã được đánh giá cao. Sự thụ động của đàn ông được hiểu như sự làm chủ chính mình, làm chủ các xúc động và các ham muốn, trong khi đó, sự hoạt động của đàn bà được xem như một sự náo động bừa bãi, vô trật tự. Phải chăng sự khác biệc này muốn nói bản chất văn hóa đông phương là nền văn hóa tĩnh?




8. Đàn bà bị đánh giá thấp trong xã hội




Có một bế tắc khác cho tư duy. Đàn bà sinh con thuộc cả hai giới tính. Đó là một nhận thức thoạt nhìn có vẻ bình thường, không theo một phiến diện nào. Nhưng người ta nhận thấy đàn bà có thể tạo ra con gái, tức giống như đàn bà. Nhưng đàn ông, trong lúc đó lại không thể sanh ra được con trai giống như đàn ông. Người thời tiền sử khi thấy các bà sanh ra được cùng một thứ giống y như mình, nghĩa là con gái, thì nghĩ đó là cái khuôn sao chép lại từ một cái mẫu sẵn có, nhưng họ không hiểu rằng đàn bà có thể làm ra cái khác đàn bà như sanh ra con trai. Sự hiểu biết về cơ chế sinh sản của con người rất chậm. Đến thế kỷ 20, người ta mới khám phá ra rằng trong việc thụ thai, phần đóng góp của đàn bà cũng quan trọng như của đàn ông. Chớ trước kia, loài người còn cố tìm hiểu làm sao đàn bà có thể sinh sản ra được cái khác hơn mình, tức là sanh ra con trai. Mọi người đều hiểu là đàn bà, trong việc này, không làm gì hết. Thật vậy, thời đó, người ta cho rằng đàn bà, lúc sinh ra, đã có sẵn trong người họ những hình nhân nhỏ là con trai hay con gái. Những hình nhân này do các sức mạnh siêu nhiên, như ông bà, thần linh đem cài đặt vào bụng đàn bà. Một vài tranh vẽ của Âu châu vào thế kỷ 17 trình bày bụng đàn bà với nhiều ngăn nhỏ trong đó, các hình nhân được sắp xếp thứ tự. Có hai mô hình giải thích sự sinh sản của đàn bà. Theo mô hình thứ nhất, đàn ông chớ không phải đàn bà nắm vai trò quyết định. Muốn cho các hình nhân này lớn lên và ra đời, cần phải có những hạt giống do đàn ông gieo vào bụng đàn bà. Hơi thở cùng sự sống không sinh ra từ người đàn bà mà từ hạt giống của đàn ông.




Theo mô hình thứ hai, được Aristote lý thuyết hoá, đàn bà chỉ là một khối vật chất, phát triển một cách hỗn loạn, bừa bãi, nếu không có đàn ông. Nhờ những hạt giống của họ đã đem đến cho khối vật chất này hình hài và mặt mũi. Trong mô hình này, sự sinh ra con gái là một thất bại, một thứ quỷ quái, nhất là nếu nó giống mẹ, trong khi đó, nếu sinh con trai thì đó là một thành tựu, nhất là nếu nó giống cha. Rất nhiều xã hội Châu Phi lấy lại quan điểm này khi khẳng định rằng đàn bà là những cái nồi hoặc những cái đãy hai túi. Họ cho rằng cái bụng của đàn bà là một cái chậu mà đàn bà dùng để nấu chín, tức nuôi dưỡng con cái. Trong mô hình thứ hai này, một lần nữa, đàn ông giữ vai trò quyết định bởi vì chính họ đã đặt đứa con vào bụng đàn bà.


Nói tóm lại ,với bất cứ sự tưởng tượng nào về sinh sản, đàn bà đã bị tước đi quyền sinh con và được xem chỉ là một thứ dụng cụ để chứa, để mang mà thôi. Từ lâu, cơ thể phụ nữ chỉ được xem như một cái bồn chứa dùng để nhận những hạt giống của đàn ông và đàn bà như là đồ vật mà đàn ông có quyền sử dụng để làm ra cho họ những đứa con trai.



9. Hiện tượng khống chế của đàn ông




Có ba lý do.


Một là đàn ông lấy cơ thể đàn bà để có con trai. Điều này đã làm cho thân phận của đàn bà và mối quan hệ phụ thuộc của họ đối với đàn ông từ hằng ngàn năm qua không thay đổi. Đàn ông đã chiếm hữu đàn bà bởi vì đàn ông vẫn là nguồn sống còn của nhóm.



Hai là cả một chuỗi phong tục đã đưa đến việc người đàn bà không thể nào tự do sử dụng cơ thể của mình vì lý do cấm loạn luân. Nên họ đã bị cha hoặc các anh em trai đem họ cho người khác để đổi lấy những người đàn bà của các nhóm khác. Giống như những cuộc cưới hỏi, kết hôn, ngày nay thực hiện với người ngoài gia tộc.




Ba là người đàn bà cũng bị tước đoạt sự tiếp xúc với tri thức. Loại hiểu biết độc nhất được phép là những hiểu biết cụ thể về cách dùng thực vật, nội trợ, bếp núc, chăm sóc con cái. Đàn bà đã bị tước đi, trong tất cả các xã hội loài người, sự tiếp xúc với tập thể các chức năng quyền lực.




Ba cấm đoán này đã tạo nên một tâm lý tự ti mạnh mẽ và triền miên ở người đàn bà. Căn bịnh này không phụ thuộc vào sư thay đổi tập quán từ xã hội này sang xã hội khác. Sự khống chế của đàn ông là một mô hình phổ biến chi phối toàn thể các xã hội loài người.


Chắc chắn thế giới sẽ khác đi nếu đàn ông có thể sinh ra con trai và đàn bà chỉ sinh ra con gái!



10. Hiện nay còn sự khống chế của đàn ông?




Mô hình này còn hiện hữu rất mãnh liệt trong đầu chúng ta, tại các xã hội mà chúng ta xem là “cổ truyền” hay ngay tại các xã hội tân tiến của Châu Âu. Tại Burkina Faso (4), đàn bà nhóm Samos, bỏ tất cả công việc đang làm để cho một đứa bé trai bú khi nó khóc. Nếu là một đứa bé gái khóc, họ tiếp tục việc đang làm, xong rồi mới cho đứa bé gái bú. Theo tập quán xã hội ở đó, người ta hiểu con trai có một “trái tim đỏ”, nó sẽ dễ dàng nổi giận và sẽ bị nguy hiểm nếu để nó tiếp tục khóc. Phải thỏa mãn nó ngay khi nó có nhu cầu. Trái lại, với một đứa con gái, họ cho rằng nó phải kiên nhẫn suốt đời. Do đó phải tập cho nó biết chờ đợi khi mới sinh ra. Xã hội người Samos đã có rất sớm hai mẫu ứng xử trong cuộc đời: con trai có thói quen đòi hỏi được thỏa mãn tức khắc các ham muốn, con gái phải chờ đợi người ta đem đến những điều cần thiết, nếu họ muốn.




Trong các xã hội tiên tiến, những dấu ấn chế ngự của đàn ông vẫn còn tồn tại. Trong một cuộc thí nghiệm về tâm lý do một trường đại học Mỹ điều khiển, các nghiên cứu gia đã hỏi hai nhóm sinh viên khác nhau bình luận về một tấm hình một đứa bé đang gào thét, mồm mở to và bàn tay nắm lại. Nếu các nghiên cứu gia cho biết đó là một đứa bé trai, các sinh viên sẽ trả lời rằng đứa bé đang giận dữ, không chịu đựng bị phật ý. Với nhóm sinh viên thứ hai, các nghiên cứu gia cho biết đó là một bé gái, thì họ cho rằng đứa bé đang sợ hãi, buồn phiền, người ta đã làm cho nó đau đớn, và cần được an ủi. Một cách tự phát, trước cùng một tấm ảnh, chúng ta đã liên kết giống đực với cơn giận, hành động hay sự chống đối, và giống cái với kêu ca, rên rỉ, sợ hãi hay phiền muộn.




11. Nguồn gốc đàn ông khống chế đàn bà




Hiển nhiên, chúng ta không thể quên đi sự quan trọng của bình đẳng về kinh tế, giáo dục, nghề nghiệp hay chính trị mà phụ nữ đã đạt được. Nhưng thuốc ngừa thai mới thật sự là một cuộc cách mạng nữ quyền vĩ đại bởi vì nó đã áp đặt từ thượng nguồn sự ưng thuận tất yếu của người đàn bà khi lập gia đình. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, phụ nữ có thể lựa chọn, cùng một lúc, người đàn ông mà họ muốn sinh con đẻ cái, số con mà họ muốn cho ra đời, thời điểm mà các đứa con được sinh ra. Họ trở thành chủ thể toàn bộ. Thuốc ngừa thai là một công cụ giải phóng người đàn bà tuyệt vời bởi vì nó đã tác động vào đúng huyệt của sự cưỡng chế đàn bà. Thật vậy, chính khả năng sinh con đã đưa đến sự giám hộ đàn bà và mưu toan chiếm đoạt họ để đặc biệt làm vật trao đổi giữa các nhóm dân trong mục đích tối hậu là sanh con cái.



12. Phản ứng về một người đàn bà muốn làm Tổng thống



Muốn cho sự canh tân xã hội có thể thành công, nhiều khi phải cần cả hàng thế kỷ và tiến trình thành công có thể trải qua ba giai đoạn.




Một là nó phải theo mạch suy nghĩ một cách logic, nghĩa là nó được quan niệm, tưởng tượng và trở thành ý niệm.




Hai là nó phải có thể tư duy một cách có trí tuệ, nghĩa là nó đến trong đầu óc một số người ngay cả khi nó gây nên những mỉa mai cay độc, châm chọc của người khác.



Ba là nó phải trở thành sự xúc cảm rộng lớn. Nghĩa là được đa số chấp nhận và quen dần với nó.
Nếu thỏa mãn được ba điều kiện này, về mặt kỹ thuật, sự canh tân mới có thể thực hiện được.
Hiện tượng một người đàn bà trở thành Tổng thống, như tại Pháp, xứ mà đàn bà chưa làm được linh mục, có thể nói là đã đạt đến giai đoạn ba, nghĩa là nó đã được tưởng tượng một cách đầy xúc cảm. Đó là chuyện xảy ra trong thời gian gần đây đã làm cho những nhà chính trị, hoặc bình luận gia chính trị đã chưa kịp có phản ứng nhận thức. Sự ứng cử Tổng thống của Bà Ségolène Royal (thuộc đảng Xã hội) trong thời gian đầu đã làm bùng nổ những phản ứng trọng nam khinh nữ thông thường của xã hội Pháp. Người ta phê bình với giọng đầy châm biếm: “Đâu phải là một cuộc thi sắc đẹp”, “Ra làm Tổng thống, ai giữ con cho?”,…

Nhưng những nhà chính trị gào thét những lời đó đã nhận thấy một cách nhanh chóng rằng nhũng thành kiến cố hữu trọng Nam, khinh Nữ nay đã không còn thật sự đứng vững nữa.



Thực tế xã hội đã diễn tiến một cách nhanh chóng, nhưng tinh thần muốn tiếp tục khống chế người phụ nữ của đàn ông vẫn còn như nguyên vẹn, ít nhứt, cụ thể, trong hai thành trì: đàn bà chỉ có vai trò làm vợ, làm mẹ, và đảm đang đời sống nội trợ. Đàn bà phải gánh vác phần lớn (80%) công việc nội trợ tuy họ đã tham gia tích cực vào đời sống lao động ngoài xã hội, sát cánh với đàn ông.




Nhưng chúng ta hãy lạc quan. Cái gì đã được cấu trúc theo những hệ tư tưởng cổ hủ dù đã có hàng nghìn năm đều có thể bị phá vỡ dễ dàng, nhanh chóng, khi con người ý thức được tính giả tạo của cấu trúc ấy.








Nguyễn thị Cỏ May






______________________________________________________________


Ghi chú



(1) Người Hy Lạp xưa kia gọi tất cả các dân tộc khác, ngay cả người La mã, sống ở ngoài văn minh Hy lạp là Man rợ.


(2) Người Bochimans hay Boschimans (tiếng Anh Bushmen) là dân tộc du mục sống tại sa mạc Kalahari, cực nam Châu Phi. Người Bochimans vóc nhỏ bé, có những đặc tính nhân chủng học và văn hóa rất cổ xưa.

(3) Người Pygmées sống tại Châu Phi xích đạo, vóc người nhỏ bé, còn được gọi là Négrilles. (4) Homoncule: người nhỏ, không cơ thể, không giới tính có những khả năng siêu nhiên, do các phù thuỷ sáng tạo ra. Tự điển Larousse của Pháp

(4) Tên mới của xứ Cộng Hòa Haute-Volta, thuộc miền tây châu Phi.

Bài Xem Nhiều