We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 5 October 2010

Chuyện người rơm 1&2

Tội Ác VGCS
 Chuyện người rơm (1)
Thật kinh hoàng, khó mà tưởng tượng cô gái Việt Nam nằm trốn trong khoảng nhỏ xíu trong thùng xe bị phát hiện ở Cảng Dover*.
*Chuyện người rơm 1&2

Tôi có anh bạn rất mộ đạo, Chủ nhật nào cũng đưa vợ con đến Linh Sơn Tự, bảo: “Người Việt rơm đến chùa đông lắm.”

Tôi hỏi: “Sao biết?”

Anh cười: “Cứ đến khắc biết, họ đến xin đức Phật phù hộ độ trì, đi may về mắn, gặp nhau thông báo tin cậu A, cô B vừa bị tóm, chị C., anh D. mới sang.”

“Sao lên chùa toàn nói chuyện động trời ấy?”

“Chuyện này chịu, biết làm sao trả lời.”

“Người rơm đông không?”

“Đông, đông hơn mình, toàn dân Hải Phòng, muốn gặp, chịu khó lên chùa.”

“Sao biết dân Hải Phòng?”

Anh cười: “Nói ngọng, l, n tùm lum.”

“Tôi đâu có nói ngọng.”

Không trả lời tôi, anh cười, rồi hỏi: “Có phải chính phủ chấp nhận họ được định cư không?”

“Không rõ, chỉ thấy nhiều người rơm lẩn trốn nay ra đầu thú, có giấy gọi đi tiếp kiến tìm việc làm.”

Chuyện như thế này: tháng 2-2010, trong chiến dịch tổng bầu cử Quốc hội, có nghị sĩ phe Tory đưa ra ý kiến, “hơn 3 triệu người rơm (không riêng người Việt) lẩn trốn, khó mà truy quét, nếu được, trục xuất cũng mất vài chục tỷ bảng. Cho họ nhập cư, bắt họ đi làm đóng thuế”. Nhiều nghị sĩ không tán thành, “đó là tiền lệ xấu, bất cứ ai vào được Anh, lẩn trốn một thời gian sẽ được định cư thì mười năm nữa Anh quốc sẽ có 30 triệu dân nhập cư bất hợp pháp.” Tổng tuyển cử lần này (5-2010) không có đảng nào thắng tuyệt đối, Đảng Bảo thủ (Tory Party) liên minh với Đảng Tự do (Liberal Party) lập chính phủ mới.Chính sách ân xá (amnesty) người nhập cư lậu không thấy công bố trên báo, đài phát thanh truyền hình, nhưng mấy tháng nay, dân Việt Nam nhập cư lậu ùn ùn đua nhau đi trình diện. Họ đồn, chính phủ cho phép dân nhập cư lậu cư trú vĩnh viễn.

Khi chưa có chính sách cho “rơm” định cư, mỗi tháng có tới hàng trăm người nhập cư lậu bị bắt và trục xuất; nếu chính sách dễ dàng như thế, chắc chắn chỉ một thời gian ngắn, Anh quốc trở thành thiên đường cho những người nhập cư lậu toàn thế giới, băng đảng tội phạm khắp nơi đổ về, dân số tăng lên chóng mặt, người bản xứ hết việc làm, thiếu nhà ở không biết chừng.

Nick Thorpe, phóng viên BBC, trong bài “EU’s biggest crackdown on Vietnamese illegal migrants” ngày 26/6/2010, viết: “Người Việt định cư hợp pháp khoảng 30 ngàn, nhưng số người bất hợp pháp lên đến 35 ngàn”.

Trong trang Web Wikipedia ghi: “Điều tra dân số Vương quốc Anh năm 2001 ghi nhận có 23.347 người sinh tại Việt Nam, người miền Bắc chiếm 65% dân số. Theo tài liệu khác, dự đoán gần đây, ít nhất có tới 55 ngàn người Việt định cư tại England và xứ Wales, trong đó có 20 ngàn không có giấy tờ cư trú và 5 ngàn sinh viên du học.”

Có nghĩa, chính phủ Anh cũng không biết rõ con số chính thức có bao nhiêu người Việt nhập cư bất hợp pháp!

Vậy người Việt rơm nhập cư vào Anh từ bao giờ?

Trước năm 1975, Anh quốc có chừng 250 người, từ sau 30-4-1975, khi có cuộc chạy trốn cộng sản Việt Nam bằng đường biển, năm 1979 chính phủ Anh chấp nhận khoảng 20 ngàn thuyền nhân từ các trại tỵ nạn Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Ma Cao, Hong Kong, Phi Luật Tân…

Đến năm 1990, khi khối cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, kinh tế Việt Nam bên bờ vực thẳm, chính phủ Việt Nam buộc phải “đổi mới”, cho phép “bọn phản động lưu vọng” được về thăm quê, thân nhân trong nước dễ dàng nhận “tiền và đồ” của hải ngoại, mở rộng cấp hộ chiếu du lịch, du học, thăm thân nhân ở “các nước đế quốc”. Từ đó, người Việt rơm bắt đầu đổ bộ vào Anh, tuy chưa có tổ chức hay đường dây lớn như ngày nay.

Tết Nguyên đán năm 1992, vợ chồng tôi đến thăm gia đình X., cô vợ cười tươi, giới thiệu, “thằng cháu con bà chị sang đây du học (đưa hàng may) anh chị có định làm thông gia với bà chị em không?” Theo vợ chồng X., khu Hackney, Peckham, Camberwell (Southward), Brixton… các cháu sang “du học” đông lắm.

Có cậu, tôi biết từ hồi ở Scotland, cựu “lính B quay”, trốn sang Hong Kong từ 1979, định cư ở UK 1980, năm 1990 về Việt Nam thăm gia đình, chả biết “ba hoa chích chòe” thế nào, hàng xóm có hai đứa con gái đang ở trại cấm Thái Lan chuẩn bị hồi hương đến nhờ vả, về London lên Bộ Nội vụ, khai hai đứa con hàng xóm là cháu gọi bằng cậu. Thế là được đoàn tụ!

Thời bấy giờ Luật Di dân ở Anh còn nhiều khe hở, chính luật sư đã tiếp tay cho dân nhập cư lậu. Từ năm 1994, sau khi Tổng thống Bill Clinton bỏ lệnh bao vây kinh tế, lượng người Việt rơm sang Anh tăng nhanh. Nhưng phải kể từ năm 1998, người Việt “tỵ nạn kinh tế” mở tiệm Nails, họ đã ồ ạt đưa thân nhân sang, từ Hải Phòng, Quảng Ninh, đến Hải Hưng, Thừa Thiên, Huế… bằng các con đường: du học, du lịch, thăm thân nhân, xuất khẩu lao động rồi trốn ở lại, nhiều câu chuyện gây tai tiếng cho cộng đồng người Việt.

Việt Nam, một đất nước nổi tiếng tham nhũng hàng đầu trên thế giới, vì thế tất cả bằng cấp, giấy khai sinh, giấy li hôn, giấy kết hôn… kể cả bằng đại học người ta có thể mua được bằng tiền. Vì vậy, em ruột biến thành vợ, thành con, lương tâm, đạo lý và nhân phẩm của một số người Việt đã nhấn xuống bùn đen chỉ vì muốn đưa người sang Anh.

Tôi biết, có anh li dị (giả), về Việt Nam kết hôn (giả) với chính em gái mình, năm sau đón được “vợ” sang. Sau khi được nhập tịch, họ ly hôn, cô em gái lấy chồng (thật), chồng (hờ) “cưới” vợ cũ. Có chị, mua được giấy khai sinh, em gái (út) thành con đẻ, lên Cục Di dân xin đoàn tụ. Sau nhiều lần phỏng vấn, không đủ điều kiện, buộc hồi hương. Ngay hôm sau, cô ta biến như bóng ma từ 2002, đến nay, hiện nguyên hình ra trình diện Cục Di dân. Hôm nọ gặp, khoe, “Cháu được ở lại, sắp được như bác!”

Những người rơm này, họ làm nghề gì để kiếm sống?

Đầu thập niên 1990, làm chân đưa hàng (may), thợ may, thợ ủi, đóng khuy, bồi bàn, bồi bếp, từ năm 2000 cho đến 2005 đa số làm trong tiệm Nails, bồi săm khách sạn gần phi trường Heathrow và Gatwich do người Việt làm cai thầu. Thời bấy giờ nghề trồng cỏ chưa nhiều. Đầu năm 2005, trước khi một số nước cộng sản Đông Âu (cũ) nhập EU, chính phủ Anh gửi giấy cảnh báo các cửa hàng Nails, nhà hàng, khách sạn… nếu tuyển dụng người nhập cư lậu sẽ bị phạt 5000 bảng/người và truy tố trước pháp luật. Người rơm không chịu chết đói, chuyển sang trồng cỏ. Từ đấy, trang trại trồng cỏ (cannabis farm) của người Việt phát triển nhanh chóng.

Theo chỗ tôi được biết, lương người trồng cỏ hiện nay từ 500 bảng/tuần trở lên, tùy thuộc số lượng cỏ. Chủ trại dán giấy tuyển người công khai tại các shop người Việt ở M. Street, Hackney và Southward, London với danh nghĩa “Cần thợ làm Nails, lương từ 500 bảng/tuần, ăn ở miễn phí. Ghi chú, làm tỉnh lẻ.” Không có tiệm Nails nào thuê thợ với giá 500 bảng trở lên, trừ trồng cỏ! Lương thợ Nails hiện nay, trả theo giờ (7 bảng/giờ), hoặc 50/50; thợ Nails giỏi, lương 350 bảng/tuần là hết cỡ và phải nộp thuế. Năm trăm bảng 1 tuần, 15 triệu tiền Việt, 60 triệu một tháng, một năm 700 triệu, ăn ở miễn phí. Một người không nghề nghiệp, không biết Anh ngữ, ai thuê với lương 2.000 bảng/tháng nếu như không phải là nghề trồng cỏ? Lương bảy trăm triệu một năm, được đồng nào bỏ túi đồng ấy, không mất một xu thuế, không mất tiền ăn, tiền nhà, tiền điện, tiền gas sưởi, tiền thuế cộng đồng, thuế ti vi…, vài năm có bạc tỷ. Mai kia về Việt Nam thành “đại gia, doanh nhân thành đạt”, biết đâu lại được Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, tay cầm ly rượu vang, đi tìm như đã từng “Anh Kỳ, anh Kỳ (Nguyễn Cao Kỳ) đâu nhỉ?” trong buổi gặp mặt đầu Xuân của Đảng, chính phủ gặp gỡ doanh nhân Việt kiều yêu nước.

Tiệm bán tạp phẩm ấy còn dán thông tin “Nhận gửi tiền về 64 tỉnh Việt Nam”! (Việt Nam có 63 tỉnh, nhận gửi về 64 tỉnh, thế mới lạ.) Có nghĩa, yên tâm đi, chịu khó trồng cỏ, có tiền chúng tôi “rửa” cho, kể cả gửi cho người ở tỉnh thứ 64 (tỉnh âm phủ)!

Nhiệm vụ của người rơm trồng cỏ: tưới nước, điều khiển hệ thống điện (ăn cắp) chiếu sáng, thông hơi, chăm sóc cỏ, có trục trặc báo cho chủ. Nhiều trại bị bắt, cảnh sát cho biết, họ ăn ngủ ngay tại bếp, vật dụng chỉ có ấm đun nước, nồi nấu cơm và các thùng mỳ gói.

Năm 2007, trong một buổi liên hoan Tết ta ở nhà một người bạn, lúc ngà ngà say, một cậu “khoe” với tôi: “Tháng trước tí nữa cháu bị tóm.”

“Làm thế nào mà thoát?”

Hồn nhiên, cười thật tươi, kể: “Không hiểu sao, tối hôm ấy tự nhiên mất điện, cháu vội a-lô báo cho ông chủ.”

Nâng cốc rượu vang, nhấp một ngụm, lấy tay quệt mép, cười: “Thuốc lá lại hết, cháu ra phố mua. Trên đường về, thấy xe cảnh sát đèn nhấp nháy chứ không nổi còi hụ, phóng như bay trên phố nhà cháu. Cháu sinh nghi, không về nhà, đứng xa nhìn. May thật, cảnh sát tông cửa, chủ chưa đến, không tóm được ai. Vụ ấy ông chủ mất gần nửa triệu bảng.”

Ngừng một lát, lại cười: “Cháu biết, số cháu có quý nhân phù trợ, tóm sao nổi.”

Tôi tò mò: “Sao biết có quý nhân phù trợ?”

“Chủ nhật nào tụi cháu chả đến chùa cầu trời khấn Phật. Rằm, mồng một cháu toàn ăn chay niệm Phật. Tháng trước, cháu xóc được quẻ thẻ, thánh dạy, cháu có quý nhân phù trợ. Chùa Linh Sơn thiêng lắm, cầu gì được nấy.”

“Nghe tin anh sang London theo đường ngon lành lắm, chứ không chui trong xe tải, phải không?”

Có lẽ ngấm men, khi người ta say dễ phơi bày gan ruột, tay cầm ly rượu vang, tợp một ngụm, lại cười.

“Vâng, bác có tin cháu đi theo đoàn của sứ quán không?”

Tôi đưa anh lên mặt trăng: “Trông anh chững chạc, phong độ, giống cán bộ ngoại giao lắm.”

Mặt đỏ vì sung sướng hay vì men không rõ, vẫn cười tươi, nói: “Cháu cầm hộ chiếu (tên giả) đi theo hai nhân viên đại sứ. Nhập cảnh xong, ra sảnh đường sân bay, cháu nộp cho người đến đón với chị cháu.”

“Thế sao nữa?”

“Cháu lên xe, bà chị trả nốt tiền, thế là xong.”

“Từ hồi đó có liên lạc với sứ quán không?”

“Biết ai mà liên lạc.”

“Đi mười mấy tiếng trên máy bay mà không nói chuyện?”

“Họ kín lắm, họ làm gì cháu làm theo, không hỏi, không nói chuyện.”

“Anh đến lâu chưa?”.

“Cháu đến 2002.”

“Làm sao anh đưa được chị nhà sang?”

“Nhà cháu đi theo đường dây qua Tiệp, sang Đức, đến Pháp phải đợi hơn 6 tháng ở Calais, cuối năm 2004 mới qua đấy.”

“Sao lâu thế?”

“Người đông, mỗi tuần không quá 10 người.”

Làm như ngố, tôi hỏi: “Thế là thế nào?”

“Bác không biết thật à?”

“Tôi đã đi bao giờ đâu mà biết.”

“Thế bác không cho thuê passport?”

“Thế là thế nào?”

Anh ta cười: “Cụ thể thế này, người trong đường dây thuê hộ chiếu của những người như bác, giá 500 bảng/ngày. Chúng cháu hoá trang, đội tóc giả sao cho na ná giống người trong ảnh hộ chiếu, chờ trời tối qua hải quan bên Calais, lên phà P&O sang Dover.”

“Đơn giản thế thôi?”

“Chứ sao!”

Muốn biết rõ hơn, tôi ra vẻ nghi ngờ, “Thật không?”

“Ô hay, bác không tin à? Trong ánh đèn pin, hải quan Tây làm sao mà nhận dạng được người Việt mình giữa ảnh trong hộ chiếu với người trong xe. Đường dây này chưa ai bị bắt bao giờ, chỉ tội tốn kém lắm.”

Ra vẻ thán phục, hỏi: “Tốn là bao nhiêu?”

Anh ta chỉ cười.

“Mười ngàn bảng?”

Anh lắc đầu, cười.

“Hai mươi ngàn bảng?”

“Gần như thế!”

Có lẽ biết lỡ lời hay anh đi làm tỉnh xa, nhiều cuộc liên hoan sau này vắng mặt vợ chồng anh, hơn 3 năm không gặp, không phải anh đã bị tóm hay “phắn” (chuồn khỏi Anh), theo chỗ tôi biết, anh chị còn sinh thêm được một cháu gái. Thế mới lạ, cháu gái (biến) thành con (đẻ) của một gia đình người Việt ở Catford có giấy khai sinh hợp pháp. Hệ thống tổ chức gian manh nào đã làm được chuyện này?

Mấy năm trước, chợ trời ở Catford, ở East Street (Camberwell Green) hay Dartford, nơi đông người Việt, có những chuyện động trời nhưng qua mặt nhà chức trách Anh một cách ngoạn mục.

Một cháu người Việt nhỏ thó, (tuổi thật 17), đứng khóc giữa chợ đông người qua lại. (Bác gái nó đứng trên lầu một cửa hàng người quen gần đấy theo dõi.) Thấy lạ, dân da trắng, da đen xúm lại xem, có người thương tình hỏi, đứa bé chỉ khóc, không trả lời. Người ta gọi 999, cảnh sát đến, nó vẫn khóc, chưa biết xử lý thế nào, vì nó không biết tiếng Anh, định đưa lên xe, lập tức có người phụ nữ Việt, dáng “mệnh phụ phu nhân” ở đâu đi đến, làm “tình nguyện viên” thông dịch. Bà phiên dịch, “Nó người Việt Nam, mới 13 tuổi, bà nó chết, không nơi nương tựa, nhờ người đưa sang London tìm cha mẹ, nhưng không thấy, người ta dắt đến đây rồi bỏ”. Nó là đứa trẻ tội nghiệp, cần được giúp đỡ, cần nơi ăn chỗ ở và học hành. Có nghĩa, nó cần một mái nhà, một gia đình nương tựa.

Tiền bạc chính phủ cung cấp được, còn mái ấm gia đình chịu, họ kêu gọi cộng đồng người Việt giúp. Chỉ sau vài hôm, nó về ở với chính bác ruột nó, nhưng bây giờ, bác nó khoác chiếc áo choàng mới, “người bảo trợ” (foster), được lĩnh tiền trợ cấp nuôi dưỡng nó và cả tiền trợ cấp cho bản thân, khỏi đi ký thất nghiệp!

Cũng có trường hợp bạn thân của cô dì chú bác nhận nó về nuôi, rất ít đứa ở với gia đình cha mẹ nuôi da đen hay da trắng. Chiêu này xảy ra thường xuyên ở khu đông người Việt, qua mặt nhà chức trách dễ dàng. Đến tuổi 18 (+ 4 tuổi), “phải hồi hương”, nó như con giúi đất, tìm lỗ chui một mạch xuống “hầm ngầm”, mất tăm. Chính quyền địa phương đành bótay.com.

Theo thống kê (chưa đầy đủ), London có trên dưới 300 cháu người Việt ở dạng này. Tôi biết có gia đình đưa hai đứa trẻ từ Việt Nam sang và được định cư theo “chiêu quái quỷ” này!

Lang thang khu Hackney, Woolwich, Southward, Lewisham, Brixton… gặp rất nhiều người Việt rơm, họ nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, công khai nói chuyện trồng cỏ bằng tiếng (Việt) lóng. Ngày 20-9-2010, trên chuyến tàu từ Hackney về Victoria, giọng cô gái nói tiếng Việt qua điện thoại di động trả lời ai đó, vô tình lọt vào tai tôi, “500 bảng 1 tuần chấp nhận được, giá chung đấy, tính ra bằng 15 triệu tiền Việt. Được, tầu đến ga, chị sẽ đến ngay.” Cô không ngờ có người Việt ngồi hàng ghế sau.

Ngày 18-8-2010 tờ Metro London đăng tin “Theo báo cáo, 2009, cảnh sát đã bắt được 6.866 vụ trồng cần sa, tăng 30% so với năm 2008, 4.951 vụ”. Như vậy, chỉ trong hai năm 2008 và 2009, số “trại trồng cỏ” bị phát hiện gần 12 ngàn, do người Việt điều khiển. Có nghĩa, mỗi tuần cảnh sát bắt gần 140, mỗi ngày 20 vụ trồng cần sa! Chưa kể những trang trại chưa bị phát hiện! Con số trang trại cần sa của người Việt tại Anh phải vài vạn! Kinh hoàng chưa!

Tờ Evening Standard London số ra ngày 02-9-2010 đăng tít “Vietnamese crooks have turned the home-grown drug trade into big business.” Không những trồng cỏ, do cạnh tranh làm ăn, các băng nhóm tội phạm còn giết lẫn nhau, một tờ báo khác có tiêu đề “Untold profits fuel the violent gang word of London’s cannabis farms” ngày 02/9/2010, đưa tin và ảnh về vụ giết nhau cướp cần sa. Xin trích một đoạn:

Đây là một tội ác thật nghiêm trọng. Một nhóm tội phạm đường phố phía Nam Luân Đôn có hẹn mua một lượng hàng cần sa cao cấp trị giá 30 ngàn bảng, do nhóm người Việt trồng trong nhiều năm qua ở quanh vùng. Theo thỏa thuận, giao nhận hàng ở bãi đậu xe gần cửa hàng ăn nhanh McDonald quận Sutton, nhưng thay cho việc trả tiền, nhóm tội phạm dùng súng ngắn dọa, cướp số hàng. Nếu như không có chuyện xảy ra tiếp theo, Nguyễn Khắc và Trần Phác sẽ không bao giờ báo cho cảnh sát.

Nguyễn và Trần về Hackney báo lại với chủ trại, Kim Học Khoa, nhưng chủ trại không tin, cho rằng biạ chuyện bị cướp, bắt phải nộp đủ số tiền, hai người bị đưa đến một trang trại hẻo lánh ở Surrey, bị tra khảo đánh đập đến gần chết.*[1]

Hầu như tuần nào báo địa phương của Vương quốc Anh đều đăng tải tin người Việt bị bắt vì trồng cần sa và nhập cư bất hợp pháp. Xin trích dẫn vài nguồn tin.

“Teenage Vietnamese immigrant is discovered hiding behind car dashboard at Dover” (Daily Mail Reporter) ngày 04/2/2010:

Thật kinh hoàng, khó mà tưởng tượng cô gái Việt Nam nằm trốn trong khoảng nhỏ xíu trong thùng xe bị phát hiện ở Cảng Dover*.

Máy chiếu xạ tia X ở cảng Dover và Calais phát hiện người nhập cư bất hợp pháp*.

Vietnamese illegal immigrant ran cannabis farm (Emily Harman) ngày 28/8/2010:

Một người nhập cư bất hợp pháp, trốn sau xe tải bị tòa kết án hơn 2 năm tù giam vì tội trồng cần sa.

Phạm Thanh, 47 tuổi, hôm thứ Ba bị Tòa Thượng thẩm Kingston (London) buộc tội sản xuất và tham gia trồng cần sa (chất gây nghiện loại B)*.

Special unit to tackle Vietnamese cannabis farms in Lancashire ngày 07/6/2010:

Đội cảnh sát đặc nhiệm được thành lập đối phó với bọn trùm các trang trại trồng cần sa ở phía Đông Lancashire.

Trong vòng hai năm qua, cảnh sát đã khám phá một khối lượng sản xuất cần sa lớn trong khu vực do một số trùm tội phạm khét tiếng Đông Nam Á đứng đầu.

Bốn người Việt nhập cư bất hợp pháp, trồng cần sa với số lượng rất lớn trong nhà, ở Nelson, gần quán rượu Burnley, khu The Duke of York, bị tống tù 2 năm về tội trồng 1.350 cây cần sa*.

Người Việt không chỉ gây tội phạm ở Anh mà còn ở nhiều nước khác. Xin trích bản tin của Nguyen Hung, phóng viên BBC tại Mạc Tư Khoa ngày 04/4/2010, “Secret world of Vietnamese workers in Russia” (Thế giới ngầm của công nhân Việt Nam tại Nga):

Người Việt nhập cư làm việc đến 20 giờ mỗi ngày tại xí nghiệp này*

Trafficker of illegal Vietnamese immigrants extradited (Kẻ buôn người nhập cư lậu bị dẫn độ) ngày 13/7/2010:

Nguyễn Đỗ Huân

Nguyễn Đỗ Huân bị dẫn độ giao cho Hungary ngày 29-6-2010, một tay sai đắc lực trong tổ chức tội phạn buôn người, đã đưa hơn 50 người Việt nhập cư bất hợp pháp vào làm trong các trại trồng cần sa ở Vương quốc Anh. Những người Việt này qua Nga vào Hungary nơi có cộng đồng đồng người Việt. Bọn buôn người thường dùng hộ chiếu người Hung gốc Việt rồi hóa trang, đội tóc giả sao cho gần giống người trong ảnh.*

Trang Thế giới và Việt Nam ngày 16/8/2010 có đăng tải chuyện “Kết cục của kẻ trồng cần sa”.

Tôi phạm buôn người và những trang trại trồng cần sa ở Vương quốc Anh cũng như ở nhiều nước khác ngày một gia tăng cả về số lượng cũng như về thủ đoạn buôn người độc ác. Ai đứng đằng sau các tổ chức đó? Đây là câu hỏi không dễ gì có câu trả lời.


Lâm Hoàng Mạnh

Theo Talawas


Người rơm – phần 2: Từ đâu tràn đến những niềm bi thương

Huỳnh Tâm


Chúng tôi đi hơn một phần tư đường, chưa đến điểm hẹn phi trường Ruzyné, bỗng cậu Ba hỏi:

– Thưa bác, cháu đi thăm người bạn ở tại hạt Pruszkow, Ba Lan (Poland). Bác có muốn đi luôn không?

Tôi vừa nghe dứt câu hỏi của cậu Ba thì trong lòng như liền bị thu hút, bởi đó là một động lực hấp dẫn mở đường cho tôi lao tới Ba Lan. Tôi liền gật đầu mấy cái để thay lời quyết định vì làm sao tôi có thể từ chối được. Đây không còn là chuyến đi phải liều lĩnh, gian nan mà là chấp nhận mạo hiểm, đầy rủi ro cho bản thân. Cùng lúc cậu Ba cho biết “lần này đi Ba Lan có ít nhiều lo âu, hiện không biết người bạn đồng hương của cháu sẽ thế nào”.

Về phần tôi thì muốn nhân cơ hội này đi tìm hiểu sinh hoạt cộng đồng người Việt tại Ba Lan. Trong lúc này cũng cần gợi ý để cho cậu Ba nói chuyện nhiều hơn, có như vậy mới lái xe không biết mệt mỏi và không buồn ngủ dọc đường, nhất là với khí hậu oi bức của mùa hạ quái lạ ở Đông Âu:

– Cậu Ba à, mọi việc cần phải điềm tĩnh và thong thả, có như vậy mới phân định thế nào là lợi hại, dù có lo nhưng đừng âu, cậu Ba cho tôi biết tình trạng thế nào mà lo âu dữ vậy?

Đôi mắt của cậu Ba chú ý ngó về phía trước, tay lái xe, miệng nói:

– Thưa bác, hôm kia cảnh sát Cục điều tra trung ương (CBS) khám phá 2 vườn “hoa màu” cần sa, tịch thu tất cả tài sản, khoảng 220 ngàn tiền Ba Lan (tương đương 85 ngàn USD) và 31kg cần sa sấy khô. Trong đó có một người chủ vườn là bạn đồng hương của cháu. Cháu lo âu là vì có cổ phần trong một vườn đó. Chưa biết hoàn cảnh của cậu ta thế nào. Mất tài sản thì không nói gì, nhưng vào tù thì không hy vọng đứng dậy được. Nếu vào tù thì mọi việc gì cũng bị lộ và khai ra hết. Chỉ ở điểm này thôi mọi liên hệ cần sa khó mà qua mặt được với cảnh sát Ba Lan và Tiệp Khắc (Cộng hoà Czech, Czech Republic )...

Âu cũng có nguyên nhân của nó, nếu không phải đảng và bác khuyến khích thì làm gì có cảnh nơm nớp như ngày nay. Hiện chúng cháu sống không khác nào như một đám kiến kéo nhau tràn đến bao vây một bãi phân phế thải của Tiệp Khắc.


Thực ra chúng cháu đi lao động không phải vì trồng cỏ như thế này đâu.
Nguồn: Huỳnh Thiện Tâm
Chúng tôi đến biên giới làng Bohumin, cho xe dừng lại tại bãi đậu để đổ xăng và nghỉ ngơi, chuẩn bị đi tiếp đến Ba Lan. Chúng tôi chọn một cái bàn ngoài trời có bóng mát để ngồi giải lao. Từ xa có một phụ nữ Việt mảnh mai, tuổi độ 23, đến chào hỏi:

– Thưa quý anh, có phải đi Warsaw, Ba Lan không, có thể nào cho em quá giang với, vì không có tiền cho nên em đi nhờ được chặng đường nào hay chặng đó, em xin cảm tạ quý anh trước.

Chủ xe gật đầu đồng ý, đáp:

– Mời chị ngồi xuống ghế uống nước với chúng tôi rồi cùng nhau lên đường. Nhưng chúng tôi chỉ đến hạt Pruszkow, sau đó chị tự đi Warsaw nhé.

– Hôm nay em may mắn, gặp được quý anh thương tình, đa tạ.

Người phụ nữ ngồi cùng bàn, ăn mặc phấn son rẻ tiền, phảng phất trong người tính chất đồng nội. Qua suy nghĩ của tôi, đây vẫn là chân dung cháu bé gái, vì con trai út của tôi đã 37 tuổi.

Thế mà tôi bắt gặp đôi mắt ấy chứa đựng một kỳ bí như mời gọi chiêu hiền đãi ngộ, hay muốn trao đổi thâm tình bi ai gì đó, cũng có thể đôi mắt Điêu Thuyền giăng ra cạm bẫy làm tôi mất tự nhiên. Tôi liền hỏi vài câu xã giao tầm thường để trấn định tinh thần:

– Cô ở đâu mà xin quá giang xe để đến Ba Lan ?

Người phụ nữ thu mình lại, bẽn lẽn ngập ngừng đáp:

– Em ở Tiệp qua Ba Lan để tìm việc làm, nếu trong tháng không tìm được việc thì phải trở lại Tiệp và tiếp tục đi cày, còn anh hình như không phải người ở Tiệp?

Cậu Ba trả lời thế cho tôi:

– Đúng thế, bác này đến từ Paris.

Cảnh đi quá giang ở Paris rất là bình thường đối với người Pháp. Lắm lúc tôi cũng quá giang du lịch miền Nam nước Pháp, đi quá giang cũng có cái thú vị của nó v.v… Lần này tôi gặp một đồng hương quá giang từ Tiệp qua Ba Lan, tự dưng có một gần gũi và cảm thông. Tôi đặt vấn đề “Một miếng khi đói bằng một gói khi no” liền tay mở ví ra với ý chân tình, tặng cho cô 50 euros để làm chi phí người đi lỡ đường. Lúc này đôi mắt của cô như thay lời cảm ơn một người đồng hương trên lộ trình Ba Lan. Tôi trầm tiếng nói đôi lời:

– Cô thông cảm nhé, tôi tặng cô 50 euros với mục đích là tạo phương tiện cho cô đến Warsaw, còn chúng tôi phải đến Pruszkow cho kịp hẹn, thực ra khi chấp nhận chở cô là phải đưa đến nơi, đến chốn. Bây giờ cô an tâm đừng lo ngại, hy vọng cô sẽ tìm được việc làm ở đó.

Người phụ nữ trẻ cầm trên tay 50 euros với một cử chỉ trịnh trọng, rồi nói:

– Thưa quý anh, em có tiền nhưng phải cần kiệm và tính toán từng chi tiêu một, để dành dụm tí ti tiền, sau đó gửi về quê nuôi cả gia đình, em xin cảm ơn quý anh.

Nghỉ ngơi được 10 phút chúng tôi lên đường, xe lăn bánh, tôi hỏi:

– Xin lỗi cô nhé, cho phép tôi hỏi đôi lời chân tình, tùy cô trả lời hay không cũng được.

Khi ở quê nhà, cô đi lao động với hợp đồng nào, đến Tiệp đã bao lâu rồi, đời sống và hội nhập có thích hợp với hoàn cảnh chưa? Có thường xuyên liên lạc với gia đình chứ và đã về thăm quê hương mấy lần rồi?

Cô ngó tôi không chớp mắt, rồi đáp như nước chảy:

– Thưa anh, em ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, đi lao động qua hợp đồng của Bộ tư lệnh Quân khu 1. Em phải trả mọi chi phí và trà nước cả thảy là 15.000 đô la. Em phải thế chấp sổ đỏ cho ngân hàng để vay 14.000 đô la. Người tổ chức là ông Trung tướng Vi Văn Mạn.

Sau khi qua lớp tư vấn thì chúng em được chia thành 5 nhóm, nhóm em đi đầu tiên cả thảy 75 người. Đến nước Nga trước, rồi em và 14 người nữa vào Tiệp, em không biết 60 người kia đi đâu.

Lúc đầu, em lao động nông trường được 2 tháng, lương trả chết đói, không đủ sống, đương nhiên không có tiền để trả cho ngân hàng. Sau đó, thất nghiệp, em và các bạn rủ nhau bỏ việc về Praha tìm việc làm khác. Tìm mãi đến 1 tháng sau mới có việc làm, từ đó em trở thành phu khuân vác tại chợ Sapa. Giai đoạn này rất là cực khổ. Thân em trôi nổi, có lúc tinh thần xuống thấp, muốn tự tử cho rồi đời, nhưng em phải sống vì cha mẹ già và chồng con đang chờ hy vọng ở nơi em sẽ đem lại cho gia đình một sĩ diện sống. Đến nay, em đã gửi tiền về gia đình ở quê nhà với khả năng khiêm tốn.


Người phụ nữ Việt Nam nằm co ro trên vỉa lè Đông Âu.
Nguồn: Huỳnh Thiện Tâm
Em đã lê bước chân khắp xứ Tiệp được hơn 2 năm, chịu biết bao là tủi nhục, tiền không có, em phải đổi thứ trân quý nhất bằng một gói mì ăn liền. Khi đó, em tiếp nhận nó như một giá trị cầu sống, em phải cần kiệm tối đa để gửi quà về cho gia đình! Từ đó mở đường cho em tiến vào môi trường làm cô gái gọi. Buổi đầu em tiếp khách mua vui còn e thẹn, đến nay thì đã là nghề dạy nghề.

Em chỉ hội nhập vào đoàn binh mãi dâm hè phố, đó là môi trường thích hợp nhất mà em phải chấp nhận. Ngoài ra, em không còn ước mơ nào cao hơn nữa. Những chị em khác đồng cảnh ngộ bán dâm như em không hơn gì mấy, họ cũng trăm chìm ngàn nổi. Còn hội nhập vào xã hội Tiệp thì khó lắm, nhất là hồ sơ định cư và công ăn việc làm tất cả đều một chữ “không”!

Còn liên lạc với gia đình thì rất dè dặt vì tự biết thân phận không mấy trong sạch, cho đến nay sự thận trọng đó có phần nào kết quả, bởi cha mẹ và chồng con không hề biết em đang làm gì ở Tiệp, mỗi khi liên lạc về nhà phải gửi tiền, nhất là gần Tết, cả nhà xem em như là một bà Noel nho nhỏ.

Ngày về thăm quê hương có lẽ là điều em không bao giờ ước mơ đến! Lý do trong người của em chẳng có một thứ giấy tờ gì cả, công ăn việc làm cũng không, còn tiền chỉ đủ gửi về nhà cho họ tạm sống qua ngày. Muốn về thăm quê hương ít nhất phải buôn lậu, trồng cần sa. Trong túi dết phải có trên 200.000 euros mới dám nghĩ đến, trừ phi em trúng số độc đắc.

Trước nhất là phải liên lạc với lãnh sự quán Việt Nam tại Tiệp, nhờ họ lo thủ tục phải trả trên 150.000 euros, còn lại 5.000 euros để trang trải vé máy bay và làm quà cho gia đình. Như em đây đã trải qua 4 chặng đường, mỗi chặng đường đều phải thay tên đổi họ. Tên họ do cha mẹ cho là Nguyễn thị … đến Nga đổi tên họ Trần thị Lài, đến Ba Lan tên họ Lý thị Cúc, đến Tiệp vào tù ra khám tên họ Lê thị Mai, xem ra em là con cháu của bốn họ Nguyễn, Lý, Trần, Lê. Tên của em là những bông hoa, tuy là đẹp nhưng thực tại, đời em không đẹp tí nào. Thế thì làm gì mà về thăm gia đình được chứ.

Hiện tại, những người quen biết gia đình của em, họ cho rằng gia đình nào có người ở hải ngoại sẽ được cơ may phất tài trong nay mai, nhưng nào ai biết gian truân, uất ẩn một sự thật rất phủ phàng cho đời phụ nữ chúng em, đang phải làm thêm bằng sức hiện có, như đổi thân cho kẻ mua vui đi tìm hoa cỏ lạ.

Tôi giật mình vì chuyện đời lâm ly bi đát của phụ nữ này, liền cắt ngang câu chuyện để tìm hiểu chi tiết hơn:

– Thế thì cô có tiền nhiều rồi, đời sống khá hơn, ở quê nhà gia đình cũng thấy vui lắm phải không và mỗi ngày phải kiếm bao nhiêu tiền mới đủ sở cầu?

Cô trầm mặt xuống đáp:

– Không phải dễ dàng kiếm tiền đâu, ngày thì em phụ khuân vác, đêm thì làm gái điếm mãi dâm, cho đến hôm nay em mới thuần thục hành nghề mãi dâm. Tuy không vốn nhưng không thể khai thác hết được vì sức người có chừng mực. Sở cầu thì nhiều không biết bao mà cho đủ. Nhưng ở quê nhà cứ bảo em phải gửi tiền nhiều về để mua lại nhà cửa, con của em cần đến trường học, thuốc men cho cha mẹ già yếu v.v...

Ở đây, mỗi lần em làm cho giới đàn ông được vui, họ chỉ trả 30 euros cho đến 40 euros, nhưng không ăn trọn số tiền này vì phải chia cho đồng hương trung gian, nguyên là chủ quán café hết 10 euros, chủ nhà trọ 5 euros. Có một lần người chủ quán café nói với em trung bình mỗi ngày giới thiệu trên 20 người khách mua vui. Em tính nhẩm như thế họ thu được mỗi ngày là 200 euros, trong khi đó bán mỗi ly café chỉ lời được 2 xu, còn phải đóng thuế nữa. Thực ra quán café của người Việt ở Tiệp hoạt động trá hình, đích thực nó là động mãi dâm. Còn em thì mỗi ngày thu được 3 mối là đủ rồi.

Ở Tiệp có rất nhiều đại tập đoàn kinh doanh mãi dâm, hoạt động khắp Đông Âu, có trên 25.300 công nhân do bác Hồ và con cháu đảng quản trị. Đặc biệt kinh doanh loại hàng mãi dâm không cần có kho chứa, không khai báo thuế má. Khách hàng đến và đi không bao giờ biết văn phòng hành chánh, kể cả không hề biết ông giám đốc là ai.

Những chợ thịt người này nhỏ hơn chợ Sapa 1/10 nhưng sinh hoạt tấp nập ngày cũng như đêm, những đại tập đoàn này đang phát đạt, lên cao như diều. Nếu tính nhẩm mỗi ngày tập đoàn mãi dâm thu vào 628.500 euros, qui ra mỗi ngày thu hơn 3kg vàng cho mỗi tập đoàn.


Trung tâm thương mại SAPA
Nguồn: Hoa Phạm
Theo em biết có cả thảy 4 tập đoàn kinh doanh mãi dâm do đảng và nhà nước chia nhau cướp máu trắng của phụ nữ và cướp luôn sinh mạng nếu phản đối chỉ tiêu, họ không tha cho bất cứ ai. Đó là đảng cộng sản và nhà nước biết nhìn sắc mặt của người dân, rồi đè ra trấn lột một cách táo bạo và trắng trợn, đúng là ăn cướp theo kiểu trên đầu thiên hạ.

Còn em thì ở ngoài luồng mãi dâm cho nên buôn bán lẻ tẻ. Em có một bạn đi qua đây cùng chuyến đang làm công nhân cho đại tập đoàn mãi dâm, thường tâm sự: Mỗi lần bán thân cho khách với giá 40 euros, nộp cho đại tập đoàn 30 euros. Theo hợp đồng của đại tập đoàn mãi dâm đưa ra chỉ tiêu, mỗi nhân công phải phục vụ 10 người khách mỗi ngày. Nhưng cô ấy không hài lòng vì nhu cầu của gia đình tại quê nhà quá cao do lúc trước làm hồ sơ đi lao động thế chấp sổ đỏ quá lãi, cho nên bây giờ cô phải phục vụ đến 15 người khách mỗi ngày và còn làm thêm ở ngoài luồng chưa tính.

Tôi bồi hồi trước thân phận người phụ nữ đang trôi nổi khắp Đông Âu, hỏi:

– Sao em nói chi những lời thực tình này với chúng tôi và tại sao em không đi tìm lao động khác mà cứ làm nghề này vậy? Em không sợ bệnh hay sao?

Cô không ngần ngại đáp:

– Thưa quý anh, đã ở Tiệp thì nói làm nghề này đâu xấu xa gì đâu, vì em sinh ra trong xã hội chủ nghĩa là thế đó, nói thực tình cũng là lối quảng cáo đó mà, có như thế mới tiếp được những khách biết cảm thông. Sau này, em không còn ở Tiệp thì ai nào có biết quá khứ của mình đâu. Tìm việc không có thì phải chịu thôi, chứ ai mà muốn sống cái nghề khỉ gió này làm gì! Em không sợ bệnh, mà chỉ sợ cả gia đình chết trước em vì bệnh dịch nghèo!

Tôi lắc đầu không đồng ý cách nói của người phụ nữ này, hỏi:

– Cô không sợ chết vì bệnh Sida hay sao?

– Thưa, em sợ bố mẹ, chồng con ở quê nhà chết đói trước khi em chết vì bệnh Sida. Bệnh Sida chết rất chậm, nó kéo dài cả năm. Hơn nữa, bệnh Sida ở đây có cách chữa, còn chết đói chỉ có bảy ngày thôi, anh ạ!

Một lần nữa, tôi lại lắc đầu với lòng quá xót xa, tưởng rằng người phụ nữ Việt Nam kiêu hùng nơi xứ lạ, không ngờ sao mà ôm nhiều niềm bi thương, do đảng cộng sản Việt Nam ban cho một số mệnh nghiệt ngã lao động mãi dâm!

Tôi vội hỏi một câu cuối, vì xe đã vào hạt Pruszkow:

– Ở tại Praha có nhiều chị em làm mãi dâm và có ai bị ở tù vì hành nghề này không?

– Thưa anh, em đi ra từ cửa nhà tù mãi dâm Praha. Ngày nay tại Tiệp đã lập lao tù phục hồi nhân phẩm cho phụ nữ Việt Nam. Con số không phải nhỏ! Cứ mỗi lao động phụ nữ ở Đông Âu là một niềm bi thương cùng tận và đã hết hy vọng nhìn đời đẹp. Thế mà chị em cứ xếp hàng thứ tự và từ từ bước vào động mãi dâm với con số trên 50% như đảng bác đã tuyên bố xuất khẩu lao động nước ngoài trên đà phát triển ngoạn mục.

Tôi mở cửa cho người phụ nữ xuống xe và cậu Ba tặng thêm 50 euros, nói:

– Tôi cũng ở Tiệp, hiểu được tình cảnh của cô và cảm mến cho nên xin gửi cô, của ít lòng nhiều, để làm lộ phí. Chúc cô thành công.

– Em đa tạ quý anh, tạm biệt, hẹn ngày tái ngộ.

Tôi muốn biết cậu Ba phản ứng thế nào về phụ nữ quá giang xe, hỏi:

– Cậu suy nghĩ gì về cô ấy?

– Thưa bác, cô ấy không che dấu những va chạm trong xã hội hiện sống. Cố ấy thực thà kể hết cho bác nghe những việc hoàn toàn là sự thực và chính cháu cũng đã chứng kiến nhiều lần cảnh đời này.

Thưa bác, nếu mình đối xử với cô ấy không rộng rãi thì e rằng cô ấy không bao giờ nói ra lời thực đó. Bác đối với cô ấy bằng tình người và lòng không khinh miệt, thì người ta không bao giờ che được tâm sự chân tình nhất của người phụ nữ, cũng như chúng ta tặng cho cô ấy 100 euros mà không cần hồi báo. Cậu Ba ngó tôi rồi nói tiếp:

– Theo nhận xét của cháu, cô ấy nói về thực trang của cộng đồng ở Tiệp rất chính xác, nhưng vẫn còn đơn điệu, chưa nói hết thực trạng của nó cũng vì thời gian có hạn, bởi còn trăm ngàn sự kiện khác chưa phơi bày.

Còn một nguyên nhân khác, như nhập cư lậu và lao động bất hợp pháp tự nó nằm trong tay lãnh sự quán Việt Nam tại Tiệp. Có những bức hiếp tàn bạo đến từ lãnh sự quán, nhưng cộng đồng Việt không có phản ứng nào. Muốn phản ứng phải biết họ là thiểu số xuất thân đê tiện và tính gian trá của họ lớn như vung trời, mình phải nhẫn nhục để đối phó với họ bằng nhiều cách khác nhau. Sợ nhất là lòng dạ ty tiện của đảng cộng sản, họ không giống như người lương thiện.

Một chân dung phụ nữ Việt Nam lưu lạc xứ lạ, đến rồi đi, cô để lại trong chúng tôi một ánh mắt tình người trìu mến. Với đôi hàng lệ rơi trên gò má của cô em gái nhỏ rất cảm động, chúng tôi nhận được nơi cô Trần thị Phượng một cái cúi đầu xin đa tạ và tạm biệt.

Xe chúng tôi tiếp tục tiến vào thủ phủ của hạt Pruszkow. Từ đâu tràn vào chúng tôi những niềm bi thương. Thì ra chỉ có đảng và bác tạo dựng thế đời nay, để rồi ăn mòn bản chất lương thiện và vét nạo, cạn sạch, tận gốc ý chí của người dân. Có bao giờ họ ngó xuống mà xem đau lòng một dân tộc Việt Nam đang lặn hụp cơm thừa cá cặn của bọn quan cách mạng tham nhũng thải ra, trong xã hội ngày nay khác nào một địa ngục vừa xuất hiện ở đầu thế kỷ 21.

Tiếng của dân đang vang động trong lòng đất nước, tuy có lần vô vọng, nhưng trước sau gì cũng trừ khử được tập thể các đảng cô hồn! Nay lòng dân héo hắt đã dâng cao, thì càng ôn miệt bọn quan đảng ác ôn tham nhũng.

Sau rèm bí mật cần sa

Người rơm – phần 1: Sau rèm bí mật cần sa


Tại công viên Villemin quận 10 Paris, Pháp Quốc, tôi được một thanh niên Việt nhập cư bất hợp pháp gọi là ân nhân, chỉ vì tặng cho họ một phần ăn McDonald’s mà trở thành ân nhân tình cờ. Từ ấy cho tôi một bất ngờ để viết bài phóng sự Sau rèm bí mật cần sa.

Người thanh niên trong công viên Villemin cho biết quê quán Hải Phòng, nguyên là chủ của một trang trại trồng hoa màu phụ tại Tiệp Khắc. Tôi vẫn bình thản xem như không để ý và tỏ vẻ không tha thiết gì về trồng hoa màu của họ. Thực tế chính họ là người trồng thảo mộc cần sa, vì tôi đã khám phá thấy trên thân thể của thanh niên này có dấu đặc biệt “chính hiệu con nai” cần sa.

Người thanh niên cầm một số tiền Euros đưa cho tôi và nói :

– Cháu có tiền, nhưng mấy hôm nay không dám đi mua đồ ăn, vì sợ cảnh sát truy nã. Có tiền thế này mà khi gặp hoàn cảnh sống chết thì tiền lại hóa ra vô dụng. Cũng may cho cháu gặp được bác mới qua khỏi cơn đói khát, tuy của ít mà tình nhiều, tuy xa lạ mà bao dung, chúng cháu đa tạ bác và xin hoàn lại bác số tiền này.

Tôi không nhận tiền của bốn phần ăn McDonald’s, và đáp:

– Bạn trẻ à, bốn phần ăn McDonald’s này chẳng là bao, tình người Việt gặp nhau ở xứ người còn lớn hơn nhiều, chúng ta trợ giúp nhau được một việc, tuy nhỏ, là lòng vui rồi. Bạn trẻ hãy an tâm, đừng để lòng làm khách sáo với tôi.

Người thanh niên với nét mặt thiện cảm hơn, xem tôi như một ông già từ thiện, rồi nói:

– Bác có bao giờ đi Tiệp Khác chưa ?

Tôi không bỏ lỡ cơ hội liền đáp thực thà :

– Tôi chưa có dịp đến Tiệp vì không có bạn bè và thân nhân. Tôi nghe nói đồng hương của mình ở đó buôn bán, làm ăn rất là vất vả, cũng vì muốn đổi đời. Tôi đã dự định đi một chuyến cho biết thủ đô Praha, nhưng đến nay vẫn chưa đi được.

Người thanh niên không ái ngại tình sơ, kẻ thân, hay thù liền đáp :

– Nếu bác đi Tiệp thì ở nhà cháu. Hiện nay anh ruột của cháu đang ở Tiệp sẽ đón tiếp bác về nhà rất là chu đáo. Cháu xem bác như trong gia đình. Cháu đây không sợ bác thì bác cũng đừng lo ngại gì cả. Cháu tin bác là ân nhân tốt, không làm phương hại nào đối với gia đình cháu.

Tôi muốn tận mắt thấy người Việt trồng cần sa tại Tiệp, mà lòng rất sợ rủi ro. Cũng như trước đây chúng tôi đã chuẩn bị một kế hoạch xâm nhập nông trại cần sa của người Việt tại Anh Quốc, nhưng không thực hiện được. Lý do khi anh Lê liên hệ với cảnh sát Anh Quốc thì phải giải quyết phóng sự trong 24 giờ. Phần khác, khi đi làm phóng sự với cảnh sát là việc đã kết thúc, cho nên chỉ diễn lại tại hiện trường, làm những phóng sự này không lý thú lắm vì được cảnh sát bảo vệ.

Từ đó tôi lấy quyết định thử đi làm phóng sự cần sa tại Tiệp Khắc thì may ra khám phá chiều sâu và súc tích hơn, nhưng rất nguy hiểm. Thừa dịp bất ngờ này, tôi liền nhận lời đề nghị của cậu thanh niên ấy. Tôi vẫn biết đây cũng là một ván bài liều lĩnh, nhưng lòng đã quyết định, không cần chọn lựa đỏ đen, tôi vui vẻ đáp:

– Cũng được, đây là một dịp tốt và được lợi cả hai, biết thủ đô Praha và thăm viếng gia đình của cháu.

Cậu ta liền dùng điện thoại di động, gọi về Tiệp Khắc, báo tin cho gia đình biết sẽ có ân nhân đến thăm nhà. Bên kia đầu điện thoại đồng ý tiếp đón ân nhân. Tôi liền cho biết ngày giờ đến và điểm hẹn tại Tiệp Khắc, dấu hiệu của tôi là người đứng tuổi, đầu đội mũ nỉ đen.

Đến Tiệp Khắc

Hai ngày sau, vào lúc 23 giờ. Tôi có mặt tại tại Ruzyné, thủ phủ Hostivice gần phi trường cách thủ đô Praha 20km thì thấy một thanh niên khuôn mặt như là anh em sinh đôi với cậu ở công viên Villemin. Chúng tôi nhận diện hình hài và chào nhau, trao đổi vài câu thân mật. Cậu ta hướng dẫn lối đi ra bãi đậu xe hơi trong phi trường. Khi tôi cúi đầu vào xe thì thấy có hai thanh niên lạ mặt, cùng chào nhau bằng giọng xứ Nghệ. Người tôi se lại, có cảm giác bất ổn, lòng nghĩ thầm “Không lẽ tính mạng tôi đang trên đường phiêu lạc chín suối sao?”

Xe lăn bánh ra khỏi phi trường áng chừng 5 phút, thì cậu ngồi kế bên trịnh trọng thưa :

– Thưa bác, trước khi đến nhà, chúng cháu mạo phạm xin bịt mắt của bác lại vì đây là luật Việt giang hồ Tiệp Khắc, dù ân nhân hay thân sơ cũng phải bịt mắt, bác đừng sợ, đây chỉ là cử chỉ bảo vệ cho nhau mà thôi. Chúng cháu bảo đảm khi vào cũng như ra đều an toàn.

Tôi thấy họ lấy ra một ca–vat đen, thì người tôi thực sự ngạc nhiên và lấy làm sợ. Đúng là "Sợ mẹ sợ cha, chẳng bằng sợ bịt mắt". Tôi lấy lại điềm tĩnh và sự thản nhiên phải có để tồn mạng, liền đáp:

– Quý bạn trẻ cứ tự nhiên. Tôi hiểu mà. Chúng ta tin nhau cũng nửa chừng thôi, sơ thân không biết lòng người, bảo vệ cho nhau để sống đó là việc cần làm. Quý bạn cứ bịt mắt tôi lại đi. Tôi rất tin quý bạn là thiện nhân và nay tôi tình cờ đến với quý bạn bằng chân thực không đem đến phương hại nào đâu.

Bản thân tôi như đang bị ngạt thở từng hồi, đã đến đây rồi không biết cầu cứu ai, nên tự nhủ chính mình rằng “Mầy phải nhớ, ở sa trường không bao giờ bỏ mạng, đã đến hang hùm thì chỉ ngang ngọn giáo, vào ngàn hang beo, hy vọng không đến nỗi bỏ xác trong hang cùng ngõ hẻm này”. Tuy nhiên tôi vẫn cầu nguyện lý trí sáng trong tâm, bởi ở đây chưa phải là cửa thiên đàng hay địa ngục.

Bỗng người anh của cậu mà tôi đã gặp tại công viên Villemin, đang lái xe nói :

– Thưa bác, ai cũng phải bịt mắt như vậy, trừ người trong nhà. Bác an tâm. Chúng cháu tiếp đón bác không đến nỗi tệ đâu. Hơn nữa, bác là ân công của em cháu, bác giúp cho em cháu cũng đâu có tính toán gì nào, đây cũng là dịp để cháu thay mặt gia đình báo ân, tình nghĩa với bác, nợ giang hồ phải trả là vậy đó, bác cảm thông.

Trong đêm, hồn vía phân ly, sợ chưa hết tái mặt thì sợ nửa thực nửa hư, từ cung cách tiếp đón quái dị này, lần đầu tiên trong đời bị rơi vào hoàn cảnh hung kiết khó phân và chưa biết thực lòng của họ được bao nhiêu phần trăm. Rồi thầm “thôi đành phải chờ đến chiều ngày mốt hy vọng ra khỏi ổ mafia cần sa, lúc ấy mới biết họ thực tâm thế nào”.

Lại một lần nữa bộc phát trong người ớn lạnh, bây giờ tôi mới biết đâu là cõi chết để tìm ra cõi sống. Lúc này tứ chi đã mềm nhũn mà miệng cứng, nhưng vẫn ung dung nói đùa:

– Thân già này đã gác kiếm giang hồ từ lâu rồi, chỉ muốn sống ẩn, nay đây, mai đó mà thôi. Ân tình nghĩa đáp làm chi nặng nề để rồi các cậu bận tâm.

Tất cả ba người thanh niên lạ mặt cùng cười. Tôi đánh hơi, biết họ rất mê đọc kiếm hiệp. Xe đã chạy trên 40 phút mà vẫn chưa nghe nói đến nơi, đường sá xa xôi lại gồ ghề, trong lòng mỗi lúc tăng lên sợ hãi, đêm khuya trời lạnh buốt hơn, không biết vì sao. Bụng nhỏ, lòng lo lại bâng quơ nghĩ thầm “Bây giờ mình đi vào ổ mafia thì thân đứng thẳng, không biết lúc đi ra thì thân có nằm thẳng không?”

Cầu nguyện ơn trên phù hộ cho con, lỡ khôn một lần, con xin hứa sau này không xía vào chuyện trồng cỏ của người ta nữa. Hy vọng bĩ cực linh thiêng chứng lòng, ngày mai thái lai con xin hứa một đầu heo, giò thủ hậu tạ !

Tôi đang đê mê hung kiết, thì người thanh niên tài xế, bảo người trẻ kế bên:

– Long, mầy mở khăn bịt mắt cho bác, đêm nay mầy và Sáu ở đây nhé. Cậu ấy nói tiếp, Thưa bác, đã đến nhà rồi, vừa đúng 1 giờ 30 phút sáng. Mời bác nghỉ đêm ở đây và hẹn 7 giờ 30 phút sáng mai, bác cháu mình gặp lại.

Tôi liền đáp:

– Cảm ơn cậu em, chúc quý cậu và cả nhà ngủ thấy tiên thấy tiền, hẹn sáng mai hạnh ngộ.

Tất cả đồng cười vì câu chúc đêm nay của tôi ngồ ngộ, riêng tôi thì trằn trọc thâu đêm, suy nghĩ về người lạ, việc lạ, tứ bề đều lạ, cảnh vật lạ, cả tiếng âm ba trong đêm vù vù cũng lạ (tiếng quạt máy trong nhà trồng cần sa phát ra), mùi cây cần sa xông vào mũi khó chịu, trong nhà chỉ có một đèn điện 15w leo lét, còn ở bên kia khe cửa thì rực sáng màu vàng của hừng đông và hơi nóng hanh khô từ khe cửa phát ra như núi lửa đang hoạt động.

Miệng tôi ngáp dài, mắt híp lại thế mà ngủ nghê không được vì trong lòng quá lo âu, chuyện bất trắc, nhỡ ngày mai bị bắt về tội trồng cỏ thì oan uổng lắm, ngồi tù bỏ con vợ già không biết ai yêu! Đêm khuya suy nghĩ quá nhiều, rồi người cũng mỏi mệt, thả thân ru ngủ một hơi đến sáng.

Sáng hôm sau, người anh của bạn trẻ tại công viên Villemin Paris thiện đãi tôi như một ân công đúng nghĩa. Riêng trong lòng, tôi để ý theo dõi cử chỉ của họ và ngạc nhiên rất nhiều, tôi phải lấy bình thản và không để ý sinh hoạt của họ, nhất là cử chỉ của tôi không được luộm thuộm, phải thận trọng từ lời ăn tiếng nói, nếu không thì hỏng hết mọi sự, tôi hy vọng đem đến cho họ một cảm giác thân thiện nào đó.

Họ cũng quan sát một người lạ như tôi, vì đến với họ một cách tình cờ qua người em giới thiệu, thử hỏi ai mà tin được ai, nhất là họ đang sống trong hoàn cảnh bảo vệ quyền lợi, cho nên mọi nghi ngờ là lẽ thường tình. Sau buổi ăn sáng thì đến lúc trà dư tửu hậu, tâm tình rộng mở nhận nhau bằng lòng người chứa ít nhiều lâm ly bi đát. Mải đến đã 9 giờ sáng, có một thanh niên ngồi cùng bàn lên tiếng:

– Anh Ba à, hôm nay chúng em làm việc gì?

Tên anh Ba là người chủ nhà, tức là anh sinh đôi của thanh niên mà tôi đã gặp tại công viên Villemin Paris, đáp :

– Cậu Tư lấy chậu mới vô đất, cô Tư đi mua chậu, cậu Sáu thì đi mua đất, còn việc nhà có tôi lo.

Riêng phần tôi vẫn ngồi như phỗng đá, đang nhâm nhi café, cậu Ba hỏi:

– Bác đến thăm chúng cháu trong 2 ngày, vậy ngày đầu tiên mới bác đi thăm thành phố ở đây hay là đi Praha cũng được tùy ý bác quyết định ?

Tôi hiểu ý của họ, muốn tránh né sự hiện diện của tôi và phòng hờ việc làm ăn nếu có trở ngại, họ không thể tin hết ân nhân, quỉ thần một khi viếng nhà thì phải tống đi nhanh không để ở lâu. Riêng tôi thì muốn tiếp cận họ càng nhiều càng tốt, nên từ chối khéo:

– Bác đến đây chủ yếu là thăm gia đình em của cháu mà thôi. Còn đi thăm thành phố thì ở Âu Châu này có cùng kiến trúc như nhau, chỉ có thôn trang mới lạ đối với người mình, vì văn hóa của họ ẩn tàng trong đó, nếu mình có dịp tham dự lễ hội của người Tiệp thì rất hay. À bao giờ chúng ta đi thăm em dâu của cháu đây?

Người thanh niên lặng lẽ một hồi lâu rồi đáp :

– Đúng rồi từ đầu bác có nói đi thăm gia đình em của cháu, nhưng em dâu của cháu muốn tiếp Bác vào sáng mai. À hình như bác đã đi hết Âu Châu cho nên biết nhiều về kiến trúc và văn hóa. Bác nói cũng phải cháu thường thấy họ tổ chức lễ hội nhưng không biết thế nào là văn hóa của họ, cứ tưởng rằng họ ca hát và nhảy múa cho vui thế thôi, cháu nhớ ở quê mình chỉ rước cộ đèn hay rước bài vị thần linh của đình làng, lễ hội rất trang nghiêm, chứ không như ở đây hát múa lung tung và quần áo ăn mặc sặc sỡ, lạ mắt hơn ngày thường.

Tôi lấy máy quay phim để trên bàn, rồi đáp:

– Thật tình mà nói, các nước Âu Châu tôi chỉ đi phía Nam, Tây và Bắc. Còn phía Đông thì chưa đi, nay đến Tiệp là lần đầu tiên, nhưng không chủ đích là đi thăm thủ đô Praha.

Thừa lúc này tôi muốn chuyển ý vào trọng điểm hơn, nói tiếp:

– Các bạn mua đất, vô chậu, làm tôi nhớ tác dụng của đất xốp, vừa thấm nước và không úng tắc gốc cây, công thức đơn giản mà thành công lớn, nhất là nuôi thúc hoa màu rất kết quả.

Sau khi nghe tôi trình bày thì đôi mắt cậu Ba này sáng ngời, xem ra tôi đã giải tỏa được thành lệ của người trồng cần sa, mà cậu Ba cũng đã có ít nhiều buồn bực khi tôi hiện diện.

Cậu Ba bèn hỏi:

– Ngày trước bác trồng hoa màu có khó không ?

Đúng lúc mở cờ thì gió lộng tung bay. Tôi chỉ chờ câu hỏi này và lời đáp đúng khớp sẽ khiến được lòng người trở về lương thiện, dù hoàn cảnh khó tránh cho mấy, tôi cũng phải vận dụng hòa nhã để thuyết phục họ, đáp:

– Trồng hoa màu trong chậu khó hơn trồng ngoài đất, nhất là trồng trong chậu mà lại để trong nhà hay nhà lồng kiếng, đương nhiên sự tăng trưởng sẽ kém rất nhiều, bởi đất ít cho nên rễ hút màu mỡ nhiều để nuôi cây, trồng như vậy người ta gọi là phép ép cây, tất cả vật gì cũng vậy, sống thiên nhiên thì bao giờ cũng tốt hơn.

Lúc này cậu Ba gật đầu từng hồi, chú ý theo dõi từng câu nói, tỏ vẻ tâm đắc lắm. Đôi mắt của cậu Ba đang chú ý cái máy quay phim hình dạng như máy điện thoại di động, hỏi :

– Bác muốn gọi điện thoại cho người nhà hả? xin bác cứ tự nhiên.

Tôi hiểu ý và cảm thấy cậu Ba này khó chịu vì cái máy để trên bàn. Còn tôi thì cố ý tạo ra tự nhiên, để cậu Ba không phát hiện được lúc tôi làm việc trong nhà bằng cái máy quay phim này, đáp:

– Bạn trẻ à, đây là cái tật của người sử dụng điện thoại di động, lúc nào điện thoại cũng trong tư thế, hay để trên vật nào đó thuận tiện nhất cho sự hồi âm. Từ hôm nay và ngày mai tôi không gọi và không hồi âm cho ai cả, nếu có cầm cũng chỉ là để làm cảnh mà thôi, cũng như bạn đang cầm điện thoại di động trên tay vậy.

Bạn trẻ cười thoải mái, nói qua chuyện khác :

– Bác phân tích trồng hoa màu rất hay và cách nhận xét không sai về thói quen của người có điện thoại di động, như cháu đây có những lúc không gọi điện thoại, nhưng vẫn cầm nó trên tay theo tư thế sẵn sàng bấm nút hồi âm, lâu ngày trở thành thói quen.

Cậu nói tiếp:

– Bác có thể chỉ cho cháu kinh nghiệm về trồng hoa màu được không ?

Quả thực tôi đang “khao khát” câu hỏi này để bước vào tình cảm của họ, lòng tôi vui vẻ như gặp luỵ duyên, còn trên khuôn mặt cậu Ba như lòng tưởng rằng đang gặp nghiệp lớn, trả lời:

– Nếu như trao đổi bằng lời chưa đủ, chi bằng học và tập một lúc, có thế mới rút ra nhiều kinh nghiệm, trong ngành nông nghiệp học hành liền tay.

Bạn trẻ mặt sáng, nụ cười ẩn chứa sự hài lòng, liền mời :

– Cháu mời bác đi ra sau vườn, để xem vô đất có đúng cách không ? Và nhờ bác hướng dẫn hộ.

Tôi nhủ thầm “Đương nhiên, ai mà từ chối cho đành, cá mập đã vào lưới thì phải kéo lên bờ chứ, điên gì mà bỏ chài chì”. Chân tôi bước theo chủ nhà, đi ra khỏi phòng khách, thấy ba ngôi nhà lớn xây cất san sát với nhau và nối liền với phòng khách, cửa đóng, then cài. Đi một chặp thì đến sau vườn thấy đất và chậu ương lớn nhỏ.

Gặp lại thanh niên tên Tư đang lấy chậu vô đất, tất cả cùng chào tôi. Rồi cậu Ba giới thiệu từng loại đất như đất bột cá có chất lân, đất đạm, sỏi v.v…

Cậu Ba đưa mắt ngó tôi, hỏi :

– Thưa bác, làm đất theo phương pháp nào để cho thu hoạch cao?

Lúc này thấy đôi mắt của chủ nhà chăm chiêu dành cho tôi một tình cảm khác thường, tuy nhiên tôi phải có cách nói để thuyết phục hơn nữa, vì những bí ẩn khác ở trong ba gian nhà mà tôi muốn trực tiếp thấy, nhất là diện tích mặt bằng, thiết kế và phương tiện nuôi trồng cần sa, liền đáp:

– Tôi thấy cậu Ba chú ý về cách thức làm đất, điều này không sai đối với một nhà nông chuyên nghiệp, nhưng đất này có khác vì sử dụng quá ít chất đạm, như vậy chăm sóc và thúc cây không đạt kết quả cao. Cậu Ba phải thay đổi công thức trồng, phải dùng đất đạm đặc biệt để thúc cây cảnh và không cần phải trộn sỏi làm cho xốp đất. Cậu mua đất xốp có bán sẵn, nếu không có thì lấy cỏ xanh ủ oi, đây cũng là công thức tạo ra phân xanh, rồi trộn với đạm rẻ tiền để làm xốp đất như vậy thì thu hoạch nhiều kết quả hơn. Nhà nông có nói “Rẻ tiền kết quả cao”.

Khi làm đất vào chậu thì phân thành ba phần. Thứ nhất, lân và đạm rẻ tiền trộn chung lại, cho vào chậu ba phần. Thứ nhì, đất xốp một. Thứ ba, cho vào chậu đất đạm đặc biệt một phần, khi tưới nước tùy theo thời tiết trong nhà ngoài sân, như vậy cây cảnh mới phát triển hợp lý, làm đất đúng công thức thì biết kết quả trước khi cây chưa nẩy mầm, bạn trẻ hãy chú ý đạm đặc biệt là chất thúc hoa màu, cho ra sản phẩm giá trị cao.

Cậu Ba khoái chí, cười hít mắt, miệng khen:

– Thưa Bác, cháu vô tình gặp được may, bác đúng là một chuyên gia nông nghiệp, nói đâu ra đó, cháu đã từng học hỏi những người trồng cây, nhưng họ không có kinh nghiệm bằng bác, nhất là họ chưa sử dụng đúng mức về đất xốp, phân xanh và đạm thúc hoa màu, cảm ơn bác. Mời bác vào nhà dùng cơm rồi sau đó viếng thăm cơ sở sản xuất hoa màu phụ của cháu.

Tôi tự nhủ thầm :

– Trồng cần sa thì nói toẹt mẹ ra cho rồi, còn bịa đặt rằng trồng hoa màu phụ. Xem ra gã thanh niên này cho tôi là một ông già ngờ nghệch. Thôi mặc kệ chuyện ai nấy làm, miễn chấp, mỗi người mỗi mục đích để theo đuổi.

Vào đến phòng ăn lớn, thực ra nơi này là phòng khách, ăn, ngủ và vệ sinh cũng là một, vì đêm trước tôi ngủ ở nơi này.

Sau bữa cơm, chủ nhà mời tôi qua phòng kế bên, chân bước theo sau, vừa vào ngạch cửa, rèm màn vén trên ánh sáng vàng hừng hực nóng, tôi liền cho máy quay phim OK, không bỏ qua một chậu gốc cây cần sa nào. Máy quay phim vô tư thu hình và thu âm thanh tại hiện trường, thay tôi quan sát tường tận trại trồng cần sa như hệ thống đèn điện chiếu sáng, ống thông gió, dụng cụ tưới, đo nhiệt độ, cây và chậu lớn nhỏ. Đặc biệt mỗi gian nhà thiết kế khác nhau theo tuổi cây nuôi trồng, không khác nào phòng thí nghiệm của trường đại học Nông Lâm Súc tọa lạc tại Thủ Đức trước 1975.


Sau rèm bí mật cần sa.
Nguồn Ảnh: Huỳnh Tâm
Trong gian nhà thứ nhất trồng cần sa từ một ngày đến mười tám ngày, gian nhà thứ hai trồng cần sa sau 18 ngày đến bốn tháng, gian nhà thứ ba thu hoạch lá và hoa cần sa. Diện tích nhà 50m x 6m, nhiều tầng kệ từ đất lên trần nhà và một hầm ngầm, diện tích chứa cây trồng tổng cộng khoảng 400 – 500m², tổng cộng trong 3 gian nhà nuôi trồng trên 19.650 gốc cần sa, thu hoạch 375 kg cần sa khô mỗi tháng. Trị giá tiền đầu tư thiết bị trên 450 ngàn đô la, còn sản phẩm bán ra, vốn lời thu vào thì khó mà biết được giá của mỗi kg là bao nhiêu.

Tiếp cận người trồng cần sa.

Cuối cùng cậu Ba cũng mở lòng, không còn giấu diếm đối với tôi nữa và càng không thể đối xử tệ với ân nhân, xem ra người thanh niên Hải Phòng này cũng còn tính thành thực, cho biết:

– Thưa bác, đây là cây cần sa, chứ không phải loại hoa màu như cháu đã giấu diếm với bác. Ở xứ Tiệp Khắc này có trên mấy ngàn địa điểm, tất cả do người Việt mình lập ra, hiện nay bọn Tiệp nhức đầu về vụ trồng cần sa của người Việt.

Tôi lắng nghe lời nói của cậu Ba, mà trong lòng muốn nhảy bổ lên, vì bí mật cần sa đang chuẩn bị mở màn, hỏi :

– Tôi hoàn toàn không biết, vì trước 1975 ở miền Nam Việt Nam, trong chương trình học không nghe thấy hoa màu này và cũng không biết chủng tánh và họ của nó. Hôm nay, lần đầu tiên, tôi thấy mà không biết loại cây gì. Cậu nói thì tôi chỉ biết vậy. Có thể cậu Ba cho tôi biết tỉ mỉ hơn về cây cần sa và xuất sứ của nó được không ?

Lời nói của tôi đương nhiên là phụ họa vào câu hỏi trên, để đo lường sự thành thực đến đâu của cậu Ba này. Cậu ta cho biết:


Những chậu cần sa trồng trong nhà
Nguồn Ảnh: Huỳnh Tâm
– Đúng thế. Cháu mua đất và chậu từ các trại trồng cây cảnh ở Ba Lan, Slovakia và đôi khi còn ở Đức nữa, chia thành nhiều lần đi mua có chừng mực. Còn giống cần sa thì mua từ mối lái trung gian. Chúng cháu đã hoạt động trong nghề này trên bốn năm, mà vẫn lờ mờ không rõ tướng mạo người giao hàng vì trong đêm họ bịt mặt kín mít từ đầu đến cổ. Mỗi lần giao hàng, hai bên phải đứng xa. Mua bán giá cả đều do họ. Chọn lựa địa điểm khác nhau và giải quyết trong giờ. Tuy nhiên, theo sự tò mò dò hỏi thì nghe đâu như người của sứ quán Việt Nam tại Praha bán ra.

Tôi để ý từng lời nói của cậu Ba và không ngần ngại khuyên để lấy lòng:

– Từ nay, cháu phải cẩn trọng lời nói trong sinh hoạt và bảo vệ gia đình. Nhất là khi mua bán, đừng để vốn lãi bốc hơi hoá khói, hay nữa, khi di chuyển đất và chậu ương cây phải cẩn thận hơn. Nhất là phân đạm nó có mùi dễ dàng phát hiện. Khi mua giống thì phải đề phòng bất trắc v.v...

Lúc này tôi vờ ngạc nhiên, nhưng lòng hiểu tâm trạng của thanh niên này lúc nào cũng sợ hãi. Cậu Ba thấy tôi thực lòng lo lắng, liền đáp:

– Bác an tâm. Chúng cháu đã đề phòng việc này hơn bốn năm rồi. À thưa bác, hôm nay tại hai tỉnh Bydgoszcz và Torun ở Ba Lan cảnh sát khám phá hai trại trồng cần sa, ở đó có một người bạn đồng hương, không biết họ thế nào. Cháu lo lắm vì có liên hệ.

Tôi móc vào chuyện trên để tìm cơ hội xâm nhập ổ trồng cần sa tại Ba Lan:

– Nếu cháu muốn biết, thì nên đi Ba Lan càng sớm càng tốt.

Cậu Ba do dự một hồi rồi nói:

– Thưa bác, cháu muốn đi gấp vào chiều ngày mai.

Trong lòng tôi có chủ kiến liền, nhất định phải đi cheo cậu Ba đến Ba Lan. Đây cũng là dịp tốt, ngàn năm một thuở, mà không có lần thứ hai. Thấy trên khuôn mặt có nỗi buồn riêng, rồi cậu Ba nói tiếp:

– Thưa bác, cháu tự lòng không nói dối với bác và cũng không tự biện hộ cho mình là phải. Chúng cháu đang sống ở trong xã hội này, lúc nào cũng ăn ngồi không yên, mỗi giờ trôi qua là nỗi sợ nơm nớp. Từ khi đảng và nhà nước Việt Nam đưa đi lao động rồi xô đẩy đến hoàn cảnh thế này. Bác có biết không, thực chất cộng sản không công bố giết dân Việt Nam, nhưng dân Việt Nam thực sự đã chết vào tay của đảng cộng sản Việt Nam. Một kẻ thân bạo đồ như đảng cộng sản Việt Nam, dựng ra nguyên nhân lường gạt người dân, gạt quá lâu ngày, cái gì dân cũng tin là thiệt. Bởi vậy người dân cứ sống trong háo hức mà không bao giờ có hạnh phúc, cho nên hậu quả hôm nay không ai đo lường được, gia đình cháu là một trong những người bị cộng sản gạt, đã ba đời rồi cho đến nay vẫn chưa hoàn hồn.

Đi thăm gia đình người em của cậu Ba

Sáng hôm sau tôi được gia đình người em của cậu Ba mời. Được biết, gia đình họ vẫn liên lạc với nhau mỗi ngày bằng điện thoại di động từ Anh Quốc và Tiệp Khắc. Sự tiếp đón chào nhau rất lịch sự, thân thiện. Đặc biệt là hai cháu trai và một gái vòng hai tay thưa:

– Chúng cháu kính chào ông ạ, chúc ông khoẻ mạnh.

Hai cháu có giọng hót nho nhỏ của tuổi thơ rất dễ thương, thân hình chúng bụ bẫm, làm cho tôi cảm tưởng gia đình hạnh phúc, đúng mẫu mực gia giáo. Lúc này, quanh tôi và trước mắt không còn ý niệm nào về hình ảnh của những người trồng cần sa.

Hiện trong nhà này có hai gia đình ở chung, gồm gia đình cậu Ba và gia đình cậu em đang ở Anh Quốc. Phòng ăn và ở riêng biệt, phòng khách rộng rãi, họ thiện đãi tôi như một ân nhân từng đem đến cho họ một hài lòng nào đó…

Trong buổi thiện đãi chủ khách, kể cho nhau nghe về ký ức của quê hương, kẻ kể Nam người kể Bắc và thành bại trong cuộc đời. Tôi chú ý nhất về cuộc đời của họ trên đất Tiệp Khắc, phải trải qua biết bao là gian truân để rồi gia đình được ổn định, nhưng họ vẫn nơm nớp sợ hãi một ngày trắng tay.

Họ nghe tôi kể về xã hội, tình tự con người miền Nam và Sài Gòn trước 1975 như một thế giới hiền hòa và thanh bình, tuy lúc ấy có chiến tranh giữa Nam Bắc, thảm họa là miền Nam không biết trân quý nó, cho nên bị mất vào tay người cướp chính quyền.

Họ kể cho tôi nghe nhiều chuyện động trời của người Việt Nam sống ở Đông Âu, nghe qua không thể chấp nhận được, nhưng ai đã ở Đông Âu rồi thì xem đó là chuyện bình thường trong cộng đồng sức mạnh của máu, mồ hôi và nước mắt. Họ còn kể về chuyện mafia Việt Nam sát phạt trong giới thầu cần sa, cách thức vay tiền mở trang trại và buôn bán thế lực cần sa trong đại sứ quán Việt Nam tại Tiệp Khắc.

Đến 13 giờ họ mời tôi thăm trang trại cách nhà 5 phút đi xe hơi, vào đến cửa nhà là gian phòng khách, đầu tiên họ hướng dẫn tôi đi qua một cánh cửa nguỵ trang bằng cái tủ đứng cao, dùng đựng quần áo, rồi đi qua hai lớp màng mới thấy toàn bộ trang trại. Ở đây họ thiết kế trồng cần sa cũng như những ngôi nhà hôm qua mà tôi đã thấy, chỉ có khác là đồ sộ hơn, thu hoạch cần sa mỗi tháng là 485 kg. Họ cho biết hai trang trại cần sa là tài sản của chú em tên Tư đang ở Anh Quốc, còn cậu Ba là người quản lý. Hai cơ sở trồng cần sa của cậu Tư có đến tám nhân công làm việc.


Để biết thế nào là cần sa
Nguồn Ảnh: Huỳnh Tâm
Đặc biệt người chủ trồng cần sa có dấu hiệu riêng, chỉ có cảnh sát mới khám phá được. Cho nên mỗi khi cảnh sát bắt, phải bắt cho được trọn ổ, chứ không bắt lẻ tẻ từng người một. Tôi rất tiếc không thu được phim ảnh và âm thanh ở đây.

Sự thân thiện không còn ngăn cách chủ khách, tôi đánh liều hỏi:

– Có lẽ chú Tư không hài lòng việc làm này, cho nên đi Anh Quốc để mạo hiểm chứ gì ?

Vợ của chú Tư đáp:

– Thưa bác, mạo hiểm thì ít, nhưng nguy hiểm thì nhiều. Cháu và anh Ba cũng có thảo luận với nhà cháu, để phân giải chừng mực, cháu sợ anh Tư phóng quá sẽ bất lợi. Thế mà anh Tư không để lòng. Từ khi anh Tư đến Anh Quốc đã thay đổi cách nhìn rất nhiều và anh cho biết sẽ về lại Tiệp Khắc vì lý do “rừng nào cọp đó”. Nay cháu hy vọng anh Tư về sớm hơn.

Có tiếng điện thoại reo, cậu Ba nói chuyện và cho biết hiện ở nhà có bác ân nhân ghé thăm, em có gì hỏi thăm bác không ? Rồi cậu Ba đưa điện thoại cho tôi:

– Chào cậu, thế nào có khỏe không. Những người cùng đi với cậu có gặp lại không. Làm việc thế nào và bao giờ về lại Tiệp?

Những câu hỏi của tôi rất dồn dập, cậu Tư đáp:

– Thưa bác, trước hết cháu cảm ơn bác đến thăm gia đình cháu. Anh của cháu mến mộ bác lắm và xem bác như người nhà, cháu cũng an tâm. Mấy hôm nay cháu vẫn điện về nhà hỏi thăm bác luôn. Cháu khỏe nhưng lo âu nhiều là do (...) những người cùng đi hôm ấy, đến nay cũng chưa có dịp gặp lại bởi họ (...) Cháu có liên lạc trong nghề nghiệp nhưng không khá vì (...) Trong tháng này, cháu nhất định về lại Tiệp. Hy vọng gặp lại bác, cháu sẽ nói nhiều về Anh Quốc nhất là an ninh và sinh hoạt trồng cỏ, như (...) Chúc bác vui khoẻ, tạm biệt.

Nhờ cú điện thoại của cậu Tư, mới thấy chuyến đi Tiệp Khắc lần này rất đặc biệt, biết được nhiều tổ chức và đường dây buôn người theo dạng lao động bất hợp pháp, nhập cư lậu và trồng cần sa từ Anh Quốc đến Tiệp Khắc và Slovakia. Trước mắt cũng có thể ngày mai sẽ tiếp cận được giới trồng cần sa tại Ba Lan.

Hai ngày trôi qua, tình cảm thấm thía. Cậu Ba cho số điện thoại:

– Thưa bác, bác lấy điện thoại di động để cho số điện thoại của cháu vào, từ đây bác cháu mình không còn ái ngại nữa, lấy phương tiện này để làm liên lạc tốt hơn.

Cũng may sáng hôm qua, tôi đã chuẩn bị trước tình trạng bất trắc có thể đưa đến nguy hiểm, bởi vậy đã vứt máy quay phim Sony HD vào bao rác nilông tại địa điểm đến đầu tiên và xe rác đã đưa đi từ sáng sớm, chỉ còn giữ lại thẻ Sony, memory stick 4gb (1) lưu trữ phim ảnh tại nhà của cậu Ba. Khi cậu Ba hỏi về cái máy điện thoại di động, đó là cái máy quay phim mà mấy hôm nay cậu Ba cứ ngỡ rằng cái máy điện thoại di động, tôi xem ra rất an lòng vì tránh được hậu quả mà tôi không thể nào lường trước được. Khi đi Tiệp Khắc, tôi ăn mặc đơn giản, chỉ một bộ đồ trên mình và đem theo máy quay phim để làm vốn. Tôi giả vờ tìm kiếm mãi cái máy điện thoại, cả nhà đều thấy sự lo lắng của tôi cho nên họ cảm thông, cậu Ba hỏi tiếp:

– Bác còn nhớ máy điện thoại cầm trên tay vào lúc nào không, từ đó suy ra là biết rơi ở đâu.

Tôi liền đáp:

– Không sao cả, cũng có thể điện thoại rơi hôm qua, nhưng không biết ở đâu, nếu có mất thì cũng không có gì quan trọng. Vậy cậu cho tôi số điện thoại viết trên giấy cũng được.

Thế là tôi có điện thoại của cậu Ba v.v… Trưa hôm đó, tôi từ giã cả nhà cậu Tư, còn cậu Ba thì chở tôi đến phi trường. Theo lịch trình đã hẹn, bạn Kha sẽ chờ tôi tại phi trường Ruzyné vào lúc 20 giờ.

Từ cõi lòng bức xúc

19 giờ tối, cậu Ba đưa tôi đến phi trường Ruzyné. Trên đường đi với một nỗi lòng bức xúc, lúc này, cậu Ba mới chân tình nói:

– Bác thử nghĩ xem, hiện nay Việt Nam có 86 triệu dân, thế mà trên toàn quốc có đến 59,4 triệu lao động đang ngáp gió cho nên người dân mới túa ra đi tìm đường tự sống. Ngay tại xứ Tiệp này có trên 44.970 người Việt Nam nhập cư bất hợp pháp, chưa kể 63.430 người thuộc chương trình “Xóa Đói Giảm Nghèo” và “Đề án hỗ trợ các Huyện nghèo đẩy mạnh Xuất Khẩu Lao Động”. Có trên 29.600 người Việt du lịch ở lậu đang xếp hàng từ đằng xa để tìm kiếm sống. Trên 39.500 người xin đoàn tụ thân nhân lậu, họ đang bán thân mua vui, trồng cần sa, bán lậu thuốc lá, khuân vác hàng hóa lậu, mua bán chợ lậu, hôn nhân lậu, nay đã trở thành luồng nước vô gia cư quốc tế. Cùng lúc có người Việt đến từ Nga, Ba Lan, Đức, Hungary cũng đang tham gia sinh hoạt tại đây v.v… Còn lao động chính thức và định cư tại Tiệp với con số ổn định không là bao, muốn biết số người Việt tại Tiệp Khắc là bao nhiêu thì chỉ nhìn vào chợ Sapa sẽ thấy một khối lớn trên 173.900 người Việt.

Nguyên nhân đơn giản, đảng bác đẩy người dân vào đường cùng cực, mới có sự lưu lạc hải ngoại ngày nay. Họ sống rải rác từ thủ đô Praha, Tiệp Khắc, đến ngoại ô và những thành phố nhỏ tận biên giới Tiệp – Đức và Tiệp – Áo v.v… Một xã hội chủ nghĩa nghèo đói cùng tận, một chính quyền tham nhũng không tạo được công ăn việc làm cho dân. Đảng bác tổ chức và khuyến khích nhiều hình thức xuất khẩu người để đẩy dân ra nước ngoài, đây là một phương thức móc ruột dân, họ được quyền ngồi trên xơi hưởng tài sản và thu lấy đô la trên xác người.

Bác có biết không, tinh thần người Việt ở đây không được bình tĩnh lắm. Đời họ xem ra rất là đen tối, nhất là các chị em đi lao động, nhỡ có mang bầu với người yêu thì phá thai liền, nếu không phá thai thì bị chủ hãng đuổi về nước. Như vậy, muốn ở lại thì phải lập tức âm thầm giải quyết cho sạch sẽ và gọn nhẹ, nhất là không cho người mình yêu biết. Cũng có những ca thương tâm hơn, chị em lao động phải bỏ hợp đồng để đi làm gái điếm, hay tham gia vào những tổ chức buôn lậu, lý do là kiếm tiền nhiều để trả nợ cho ngân hàng ở Việt Nam vì cầm sổ đỏ để mua chỗ đi lao động, nay họ phải vùng vẫy ở xứ người chỉ mong đổi đời, nhưng đổi đời thì xa vời vợi vì thế cõi lòng hy vọng một thời nay phải chết dần hồi. Họ trở thành người ăn thời ở thì, tranh nhau ánh sáng cuộc đời để sống, như con thiêu thân.

Bác có biết không, đảng cộng sản Việt Nam tạo ra một cộng đồng Việt Nam ở Đông Âu để rồi biến họ thành mảnh đời chua xót, có người còn nói “Trên danh nghĩa, nhà nước Việt Nam xuất khẩu lao động, đó chỉ là che đậy sự thực. Thực tế là họ xuất khẩu dân Việt ra nước ngoài để làm nô lệ cho họ!”

Bác đã đến Tiệp Khắc, thì cần phải biết việc đầu tiên là “tiền đâu”, có thế mới hiểu được ông quan đảng rất thèm khát ngân lượng. Đó là cá tính của đảng cộng sản chỉ biết cướp mà thôi, dù đã tỷ phú đỏ cũng không bỏ qua tranh nhau cướp bóc tài sản của dân và tham nhũng trong những đầu tư và tài nguyên quốc gia, đảng rút ruột ngân hàng nhà nước để rồi thiếu nợ khắp thế giới, người dân phải gánh nợ cho đảng bác.

Kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, đưa ra “Định hướng XHCN” để tham nhũng, từ đó tự do cho vào hỏa táng để phi tang và những tập đoàn, tổng công ty, kho đụn, nhà máy trở thành như túi tiền của riêng cá nhân của đảng. Nay nước Việt Nam lưu hành hai loại tiền, thứ nhất tiền âm binh không giá trị, đang lưu hành trong quần chúng. thứ hai Đô la và Euros lưu hành trong giới đảng cộng sản, nhà nước Việt Nam và Việt kiều. Đau lòng nào hơn, đảng cộng sản Việt Nam cầm dao cắt từng miếng thịt Việt Nam dâng hiến cho hổ đói Trung Hoa. Thế đó bác ạ!

Ngồi trên xe hơi, nghe cậu Ba lên án đảng cộng sản Việt Nam quá đã, làm cho tôi cũng phải đờ người ra sững sờ. Thực ra chúng tôi đã nghe những lên án về tội ác của đảng cộng sản Việt Nam rất đã tai như thế này từ mấy mươi năm qua, ấy mà chưa hề thấy đảng cộng sản Việt Nam bưng mặt sám hối, còn thua loài khỉ mỗi khi xấu hổ hai tay bưng mặt để tỏ ra hổ thẹn trước mọi người. Lời lên án này rất giá trị vì người đi ra từ trong lòng cộng sản, nhưng rất tiếc người dân còn vô cảm, không tìm ra phương thuốc diệt côn trùng rận Việt cộng, hay là cả thảy dân tộc Việt Nam vẫn ỳ ạch và còn ngủ trong mê hồn cộng sản. Chỉ cần chịu khó nấu nước sôi là luộc được cái chăn rận bẩn thỉu ấy.

Nghĩ cho cùng phải kính mộ các quốc gia Đông Âu lấy quyết định từ giã cộng sản, để ngồi lại hòa giải hòa hợp dân tộc, rồi cùng nhau đưa đất nước trở thành quốc gia tiên tiến đa nguyên đa đảng.

Đi hơn một phần đường cậu Ba hỏi:

– Thưa bác, cháu đi thăm người bạn ở hạt Pruszkow, Ba–Lan. Bác có muốn đi luôn không ?

Lòng tôi háo hức. Đây cũng là cơ hội tốt đưa tôi gần với giới trồng cỏ. Suy nghĩ trong lòng điên sao là từ chối. Mi mời ăn thịt cọp? Thì đi. Không ngại tôi liền đáp:

– Tôi không bận bịu vì thời gian, đi thì đi, chứ không có dịp lần sau. Vậy cậu Ba đi mấy hôm ?

Cậu Ba miệng cười nói:

– Thưa bác, sáng mai là đến hạt Pruszkow, sau 14 giờ chiều về lại Tiệp, đương nhiên cháu sẽ chở bác đến phi trường Ruzyné vào lúc 20 giờ.

Tôi gật đầu đồng ý, xe hơi thẳng hướng Ba Lan và đành lỡ hẹn với bạn Kha tại phi trường.

Tôi đến Tiệp Khắc đã hai ngày trôi qua, sống trong môi trường ngạt thở từng hồi, nhờ vậy mới hưởng được những thú vị nguy hiểm, nhưng rất tiếc không có dịp thăm viếng chợ Sapa của cộng đồng Việt Nam ở đây, nhất là chiêm ngưỡng sơn thanh, thủy tú, lệ tùng của thủ đô Praha. Tôi đành từ giã để lên đường đi Ba Lan, hẹn mai này có dịp sẽ tái ngộ thủ đô Praha.

Huỳnh Tâm

Bài Xem Nhiều