We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 20 October 2010

Giải Nobel Hoà Bình 2010


Vào đầu tháng 10 năm 2010, Hội Đồng tuyển chọn giải Nobel của Na-Uy vừa công bố ông Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo), một nhà bất đồng chính kiến TQ đã được chọn để trao giải Nobel Hòa Bình năm 2010. Sự công bố này đã gây ra nhiều phản ứng khác nhau trên thế giới. Chính quyền TQ thì tỏ ra vô cùng phẫn nộ, và đã ngăn chặn bản tin của CNN tại TQ loan báo kết quả cuộc tuyển chọn. Phóng viên BBC tại Bắc Kinh, Martin Patience nói: “TQ đã coi quyết đinh này là cú tấn công của Tây Phương vào TQ.” Giới học gỉa, Luât sư, và những người hậu thuẫn ông Lưu Hiểu Ba thì vô cùng vui mừng vì sự vận động của họ đã đạt thắng lợi. Ông Shang Baojun, Luật sư của ông Lưu Hiển Ba thì lo ngại là có thể vì giải thưởng này mà nhà cầm quyền TQ sẽ tìm cách lưu giữ ông trong tù lâu hơn. Bà Lưu Hà, vợ ông thì phát biểu rằng: “bà vô cùng vui mừng và xúc động vì chưa bao giờ dám mơ tới một thành quả to lớn như vậy.”

Ông Lưu Hiểu Ba đã bị chính quyền TQ kết án 11 năm tù vào ngày 25/12/ 2009. Ông bị chính quyền bắt giữ một tuần lễ sau khi bản Hiến Chương 08 của ông được công bố. Hiến Chương 08 kêu gọi cải tổ chính trị để đi tới dân chủ đa đảng, và tôn trọng nhân quyền ở TQ. Có trên 300 người ký tên vào Hiến Chương 08 của ông.

Chủ Tịch Hội Đồng tuyển chọn Giải Nobel Na-Uy, ông Thornjoem Jagland nói rằng “Ông Lưu xứng đáng được trao giải Nobel Hòa Bình do quá trình bền bỉ tranh đấu bất bạo động cho dân chủ và nhân quyền tại TQ”.

Ông Lưu Hiểu Ba, 54 tuổi là một Giáo Sư Đại Học, một nhà bình luận văn học nổi tiếng, và là Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Trung Quốc độc lập (hội viên của hội văn bút quốc tế), và hiện nay là Chủ Tịch danh dự của Trung Tâm này. Năm 1989, vì tham gia tuyệt thực để ủng hộ sinh viên biểu tình Thiên An Môn, ông đã bị bắt giam 18 tháng. Ngày 8/12/2008, ông lại bị bắt và bị biệt giam vì lý do công bố Bản Hiến Chương 08. Ông Lưu Hiểu Ba còn bị buộc tội đã viết nhiều bài phê phán, chỉ trích chính thể độc tài, độc đảng tại TQ từ năm 2005.

Ngày Chủ Nhật 20/12/09, ngày đầu tiên của phiên tòa xử ông Lưu Hiểu Ba, các hội viên Trung Tâm Văn Bút, trên 300 người ký tên trong hiến chương 08 đều bị cảnh cáo, hoặc quản thúc tại gia để ngăn chặn sự công khai chống đối bản án. Ngay cả bà vợ ông Lưu Hiển Ba là bà Lưu Hà cũng không được phép dời khỏi nhà. Bà Lưu Hà đã phát biểu: “Chúng tôi không hề hối tiếc về chuyện đã làm. Đó là điều chúng tôi chọn lựa, và sẵn sàng nhận lãnh hậu quả của sự lựa chọn này.” Tuy vậy cũng vẫn còn hàng trăm người tụ tập trước Tòa án để bày tỏ sự ủng hộ và đoàn kết với ông Lưu Hiểu Ba, nhưng họ bị cảnh sát giải tán. Giới truyền thông và báo chí chỉ được làm nhiệm vụ bên ngoài tòa án. Các nhà ngoại giao nhiều nước thuộc Liên Hiệp Châu Âu cũng tới, nhưng không được phép vào trong tòa.

Ngay từ cuối tháng 9/2010, khi nghe tin nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba có tên trong danh sách tuyển chọn, TQ đã mạnh mẽ khuyến cáo Ủy Ban tuyển chọn là đừng nên trao giải Nobel Hòa Bình cho ông Lưu Hiểu Ba. Bộ Ngoại Giao TQ nói rằng: “việc trao giải Nobel Hòa Bình cho ông là đi ngược với nguyên tắc của giải Nobel. Ông Lưu Hiểu Ba ở tù vì vi phạm luật pháp TQ, trao giải Nobel Hoà Bình cho ông là quảng bá ra thế giới một thông điệp sai lầm, là đi ngược lại mục tiêu của người sáng lập ra giải này, tức là xây dựng hòa bình giữa các dân tộc”

Chính quyền TQ gọi ông Lưu Hiểu Ba là “một tên tội phạm”. Phát ngôn viên của TQ cũng nói thêm: “Quyết định trao tặng giải thưởng cho ông Lưu Hiểu Ba sẽ làm phương hại tới quan hệ ngoại giao giữa TQ và Na Uy”.

Bà Lưu Hà đã tới thăm chồng tại trại tù ở miền Bắc TQ và báo cho ông tin vui này. Theo lới tường thuật của bà Lưu Hà thì ông Lưu Hiểu Ba muốn tặng số tiền thưởng của giải Nobel Hoà Bình khoảng 1 triệu rưỡi đô la cho các liệt sĩ hy sinh trong cuộc biểu tình đòi Dân chủ tại Thiên An Môn.

Mặc dầu sự chống đối của chính quyền TQ, việc quyết định trao tặng giải Nobel Hòa Bình cho một người đang ở trong tù, cho thấy sự Hội Đồng tuyển chọn không chịu lùi trước áp lực ngoại giao của TQ.

Tờ Straight Times ở Singapore nhận định: “ông Lưu Hiểu Ba là một ngôi sao vận động cho nhân quyền ở TQ”.

Ngày 8/10/2010 Văn phòng báo chí Tòa Bạch Ốc đã cho công bố lời phát biểu của TT Hoa Kỳ, Barrack Obama về việc trao giải Nobel Hoà Bình cho ông Lưu Hiểu Ba: “Hơn 30 năm qua, TQ đã đạt những tiến bộ về kinh tế, nâng cao đời sống của người dân, nhưng giải thưởng này nhắc nhở chúng ta rằng sự cải cách chính trị của TQ chưa đạt được tiến bộ nào. Nhân quyền cần phải được tôn trọng. Chúng tôi kêu gọi chính phủ TQ phải trả tự do cho ông Liu càng sớm càng tốt.”

Đảng đối lập, Dân Tiến tại Đài Loan ra thông báo: “Chúng tôi đề nghị chính quyền TQ đáp ứng yêu cầu của cộng đồng quốc tế, hãy thả ông Lưu và tôn trọng các quyền căn bản của ông, để ông có thể tự mình đi nhận giải thưởng.”

Chính phủ Pháp cũng yêu cầu nhà cầm quyền TQ thả ông Lưu Hiểu Ba trong thời hạn sớm nhât để ông đi nhận giải vào ngày 9 tháng 12 năm nay. Dư luận báo chí từ Âu sang Á đều hỗ trợ việc chọn ông Lưu Hiểu Ba cho giải Hòa Bình Nobel. Nhiều tờ báo đã đề nghị TQ, nếu không chịu tha ông LHB thì cũng nên để bà Lưu Hà, vợ ông, đi Oslo, Na Uy nhận giải thưởng cho chồng.

Sáng ngày 9/10/2010, ông Thorbjorn Jagland, chủ tịch Ủy Ban Nobel nói với báo giới rằng: “Theo di chúc của Alfred Nobel thì nhân quyền gắn liền với hòa bình và tình ái hữu giữa các dân tộc. Ủy Ban Nobel về Hòa Bình hy vọng TQ tham dự cuộc tranh luận về nhân quyền.”

Việc trao giải Nobel Hòa Bình cho một tù nhân đấu tranh cho dân chủ và dân quyền không những là một tiếng chuông cảnh cáo cho TQ độc tài, đảng trị, mà còn là bài học cho các nước CS có chung một đường lối chuyên chế, dùng cường quyền để đàn áp những nhà dân chủ.



Giao Tiên
October 18, 2010

Ải Nam Quan Trong Lịch Sử Tộc Bách Việt

Ải Nam Quan Trong Lịch Sử Tộc Bách Việt

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Từ ngàn xưa, ải Nam Quan là của tộc Bách Việt xây dựng, bảo vệ. Xương máu của tổ tiên đã đỗ xuống để giữ gìn từng tấc đất, ngọn rau, từng khoảng rừng, bờ biển cho đến đỉnh núi cao v.v... nơi đâu trên đất nước Việt Nam cũng còn bàng bạc anh linh của tổ tiên Bách Việt từ hơn 5000 lịch sử lưu truyền.


Một trong những địa điểm chứng kiến tinh thần quật cường bất khuất chống ngoại xâm phương Bắc của dân tộc chúng ta, cũng như những đau thương mất mát chính là ải Nam Quan hay cửa Nam Quan. Tức là cánh cửa đi vào đất nước ở phương Nam. Nam Quan còn có thể được giải thích là người phương Nam cần phải đề phòng quan sát người phương Bắc để bảo vệ đất nước cho có hiệu quả.

Đấy chính là sự phân biệt rất rõ ràng giữa Nam phương và Bắc phương.


Những sự kiện lịch sử sau đây đã kết nối ải Nam Quan với tộc Bách Việt là một:

- Năm 981, vua nhà Tống là Tống Thái Tông (tức Triệu Khuông Nghĩa) sai Hầu Nhân Bảo tấn công Đại Cồ Việt qua đường Lạng Sơn, đi qua ải Nam Quan.


- Năm 1077, Tống thần Tông sai Quách Quỳ tấn công nước Đại Cồ Việt, quân Tống theo đường Nam Quan, xuống ài Quyết Lý rồi đến ải Chi Lăng. Quân Tống đã bị Hoàng đế Lê Đại Hành đánh tan tác, Hầu Nhân Bảo bị tử trận.


- Các năm 1284, 1287 Vua Hốt Tất Liệt của nhà Nguyên sai thái tử Thoát Hoan mang 50 vạn quân tấn công Đại Việt, qua ải Pha Lũy (tức ải Nam Quan). Quân Nguyên đã bị Hoàng đế Trần Nhân Tông cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh tan tác, khiến Thoát Hoan phải chui ống đồng qua ải Pha Lũy mà về Tầu.


- Năm 1774, Đốc trấn Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Đang cho trùng tu Ngưỡng Đức Đài, nằm về phía nam của Trấn Nam Quan.


- Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh xâm lăng Đại Việt. Vua Càn Long cử Tôn Sĩ Nghị mang 30 vạn quân tấn công nước ta. Quân tiến vào qua ba ngã: Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh vào cửa Nam Quan qua Lạng Sơn đi xuống; Sầm Nghi Đống tiến quân bằng đường Cao Bằng; đề đốc Vân Nam là Ô Đại Kinh bằng đường Tuyên Quang. Quang Trung Hoàng đế đã đánh tan 30 vạn quân Thanh trong mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789.


- Năm 1885 xảy ra trận chiến Pháp - Thanh tại trấn Nam Quan và Lạng Sơn.


- Ngày 26/06/1887, bản Công ước Về Hoạch Định Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung quốc được ký kết. Ngày 21/04/1891 hai bên Pháp - Thanh tiến hành cắm cột mốc tại vùng biên giới gần ải Nam Quan.


- Năm 1907, Bác sĩ Tôn Dật Tiên và Hoàng Hưng phát động khởi nghĩa tại Trấn Nam Quan chống nhà Mãn Thanh, nhưng bị thất bại.


- Năm 1957, Chính phủ tỉnh Quảng Tây đã chi tiền trùng tu lại thành lầu Hữu Nghị quan, trở thành một kiến trúc ba tầng như hiện nay.


- Từ ngày 17 tháng 2 năm 1979, trong chiến tranh biên giới Việt-Trung, Tầu cộng tung 200 ngàn quân tấn công Việt Nam. Sáu tỉnh biên giới bị tấn công đó là: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Quân Tầu cộng đã chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng và Lạng Sơn. Lính Tầu cộng vào thị xã Lào Cai bằng thung lũng sông Hồng; thị xã Cao Bằng theo thung lũng sông Bằng; và vào thị xã Lạng Sơn theo thung lũng sông Kỳ Cùng qua ải Nam Quan.


- Ngày 30 tháng 12 năm 1999, tại Hà nội, hai ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm của Việt cộng và Đường Gia Triền của Tầu cộng chính thức ký ‘Hiệp ước biên giới trên đất liền’, theo đó ải Nam Quan (tức Hữu nghị quan) thuộc về nước Tầu. Bản hiệp ước này được quốc hội Trung quốc thông qua ngày 29 tháng 4 năm 2000, và quốc hội Việt cộng thông qua ngày 9 tháng 6 cùng năm, và việc cắm mốc biên giới được tiến hành từ năm 2001 đến cuối năm 2008 là xong.


Từ cuối năm 1999, nhà văn Dương Thu-Hương trong bài phỏng-vấn của đài Phát-thanh RFI đã cảnh báo rằng sau trận chiến-tranh biên-giới Việt-Trung năm 1979, các nhà lãnh-đạo đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Tầu cộng nhiều phần đất-đai dọc biên-giới hai nước với chiều dài khoảng 1.300 km và nhiều nơi còn bị lấn sâu vào nội-địa Việt Nam khoảng 3 cây-số.


Chính nhà văn Dương Thu Hương là người đầu tiên cảnh báo dư luận về việc Việt cộng đã nhường mất ải Nam Quan cho Tầu cộng.


Qua những sự kiện nêu trên, ải Nam Quan đã hiện diện và tồn tại hơn 1000 năm qua (chứ không phải mới từ thời vua Gia Tĩnh nhà Minh) đồng thời đã mang nhiều tên gọi khác nhau.


Từ Úng Kê Quan, Kê Lăng Quan, Giới Thủ Quan, Pha Lũy Quan, Trấn Nam Quan, Mục Nam Quan (1953-1964), và Hữu Nghị Quan: từ năm 1965 cho đến nay. Cho dù ngày nay ải Nam Quan hay Hữu nghị quan đã bị Việt cộng bí mật nhượng cho Tầu cộng, nhưng mãi mãi ải Nam Quan vẫn còn trong tâm khảm của người Việt chúng ta "Nước Việt Nam chúng ta chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau".

Hy vọng một ngày nào đó, khi điều kiện cho phép, tộc Bách Việt sẽ lấy lại những phần đất, vùng biển, và hải đảo mà ngày nay Việt cộng đã bí mật nhượng bán cho Tầu cộng.

lịch sử việt nam

Bản đồ Đại Cồ Việt chống quân Nam Hán năm 938, ải Nam Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn vốn đã thuộc quyền cai quản của nước ta. Và mũi tên nhỏ ghi dấu ải Nam Quan tỉnh Lạng Sơn nơi mà năm 981, quân Tống của Hầu Nhân Bảo xâm nhập Đại Cồ Việt đã bị Hoàng đế Lê Đại Hành đánh bại.

lịch sử nhà Trần

Bản đồ nhà Trần chống quân Mông Cổ năm 1285, quân Thoát Hoan xâm nhập Đại Việt qua ải Pha Lũy (ải Nam Quan) rồi vào Lạng Sơn đến ải Chi Lăng

bản đồ Việt Nam

Bản đồ do Nha Địa Dư Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa ấn hành năm 1956 và hiệu đính xuất bản lần thứ 6 năm 1972 vẫn còn ghi ải Nam Quan (hình 1)

ải Nam Quan

quốc gia Việt Nam

Hình 2 ghi dấu ải Nam Quan, bản đồ tỷ lệ xích : 1:2.000.000

Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu trân trọng giới thiệu đến quý thân hữu, độc giả trong và ngoài nước hai bài viết liên quan đến ải Nam Quan.


1/ Chứng Minh Lịch Sử Ải Nam Quan Là Của Việt Nam, tác giả Trịnh Quốc Thiên
2/ Ải Nam Quan Trong Lịch Sử, tác giả Mai Thái Lĩnh


Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu hoạt động độc lập (nhưng hoà đồng với cộng đồng đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam) với chủ trương biên khảo và phổ biến lịch sử Việt Nam trong tinh thần khách quan, trung thực và khoa học.

Chân thành cảm ơn quý thân hữu và độc giả đã ủng hộ tinh thần cho chúng tôi trong thời gian qua, mong rằng sự ủng hộ này sẽ được tiếp nối trong thời gian tới.

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Kính thưa quý vị,

Ngoài những dữ kiện nêu trên, còn có nhiều bài viết khác, như của Yên Tử Cư Sĩ Trần Ðại Sỹ, là người đã đích thân đến viếng Ải Nam Quan, đi bằng con đường nằm trên lãnh thổ Trung Hoa chứ không thể đến Ải Nam Quan từ phía Việt Nam, đã chứng kiến tận mắt Ải Nam Quan như bao hình ảnh xưa, hiện nay đã nằm sâu vào trong lãnh thổ Trung Hoa, cách đường biên giới hiện tại với cột mốc số 0km được gọi là Hữu Nghị Quan 200 mét, đã là một bằng chứng, minh chứng cho tất cả người con dân Lạc Việt chúng ta hiểu thêm rằng đất nước đang cơn nguy biến trước bàn tay của lông lá của Hán Tặc Bắc Phương, và đau thương hơn nữa, có những phần tử không hiểu vì một lý do nào đó đành tâm quên đi công lao của cha ông trong công cuộc dựng nước và giữ nước!.


Và cuối cùng xin cho chúng tôi một lần nữa, chân thành cảm tạ Học giả Nguyễn Việt Phúc Lộc nói riêng và Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam Và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử Tại Âu Châu nói chung, đã gửi đến LLCSCHPG chúng tôi tài liệu quý báu này!!.

Tuệ Kiếm

TTK-LLCSCHPG - Oct 18, 2010.


Ải Nam Quan Trong Lịch Sử Tộc Bách Việt



NHỤC BÁN ĐẤT



Cộng Sản Việt Nam bán đất rồi

Nhục nầy sao rửa quốc dân ơi!?

Nam Quan, mà hiến cho Tàu Phỉ?

Lãnh hải, quỷ dâng để tiếng đời

Ranh giới ngày xưa giờ đã mất

Hồn thiêng sông núi mãi sầu rơi

Lạng Sơn cửa ải còn đâu nữa

Khấn vái Tổ Tiên, khóc mấy lời!



Hoài Việt – OK




Hựu họa đảo vận:




Tổ Tiên nghe rỏ thấy muôn lời


Hậu Duệ kêu cầu, chẳng bỏ rơi

Quyết lấy quyền uy trừng phạt đảng

Tru di bọn quỷ để răn đời

Dân lành gom sức cùng tranh đấu

Nội ngoại kết đoàn chẳng đợi ơi

Cửa ải Nam Quan chung bảo vệ

Rạng danh con cháu Lạc Long rồi



Hoài Việt - OK






Kính hoạ: 1.




Cộng Sản phi nhân quá mức rồi


Phen nầy lật chúng đồng bào ơi!

Nhị Hà xưa thắng oai muôn thuở (*)

Bản Giốc nay dâng nhục vạn đời (**)

Đại phá quân Nguyên dòng sử đẹp

Hiến dâng đất Tổ, lệ sầu rơi!

Thù nhà, nợ nước ta vùng dậy

Giận Đảng gian manh gởi mấy lời ./.



Phạm Hoài Việt




(*) Vua Quang Trung đại phá Quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt bỏ chạy thoát thân với


20 vạn quân kéo qua cầu sông Nhị Hà. Cầu sập đã chôn vùi xác giặc và địa danh ấy

đánh dấu trang sử oai hùng của tiền nhân để lại.



(**) VC hiến dâng 789km2 đất biên giới cho Tàu qua HƯ 30/12/99.






Kính họa: 2




Từ Bắc Trung Nam thống nhất rồi


Khổ đau chồng chất hỡi trời ơi

Dân lành mất hẳn nguồn vui sống

Đảng ác lòi ra mánh hại đời

Nhà nước chủ trương kìm xiết chặt

Công nông bị lột lệ trào rơi

Tiếng kêu cứu cấp vang sông núi

Quang phục giang sơn phải đáp lời ./.



Minh – Trí




Tái họa:




Phần đất biên cương quỷ bán rồi


Cùng nhau đứng dậy Việt dân ơi

Biểu tình phản kháng phường vong quốc

Tranh đấu đập tan bọn báo đời

Tên Nguyễn Tất Thành cùng đảng ác

Tụi Nông Đức Mạnh lũ con rơi

Đồng bào nội ngoại đều câm phẫn

Nguyền rủa Cộng nô chẳng tiếc lời...



Minh - Trí






Kính họa: 3




Cộng phỉ hôm nay bán đất rồi


Dân tình khốn khổ quá trời ơi!

Nam Quốc Sơn Hà(*) chúng hiến trọn

Bắc phường Bộ phủ nhục để đời!

Dâng đất mong liếm gót Tàu Cọng

Hiến nhà cầu thực máu dân rơi…

Công sức Cha Ông nay chúng hủy

Đau lòng Thường Kiệt(*), khóc mấy lời



Hoài Nam Phạm Văn Giáo




(*) Lý Thường Kiệt với bài “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư. Tuyệt nhiên định phận tại Thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”






Kính họa: 4




Họ Nông Đức Mạnh ăn “fund” rồi


Cả đảng lưu manh Tổ Quốc ơi !

Dòng suối Phi Khanh tình cốt nhục

Nam Quan Nguyễn Trãi hận muôn đời

Máu xương Tiên Tổ ra công đổ

Da thịt Cha Ông bảo quản rơi

Gấm vóc giang sơn dâng hiến giặc

Toàn dân hận tủi biết bao lời.



Khai Trinh






Kính họa: 5




Ranh giới quê hương đổi khách rồi


Nhân tâm san nhượng hỡi người ơi

Ông Cha gìn giữ bao xương máu

Con cháu buông trôi hận vạn đời

Bản Giốc âm thầm dòng thác bạc

Nam-Quan buồn tủi giọt sương rơi

Một phần thân thể sao đem cắt

Nói với ai đây những nghẹn lời !



Nguyễn Phú Long






Kính họa: 6




Đất biển, quê hương chúng cắt rồi


Cống dâng cho địch Tổ Tiên ơi!

Lao tâm, khổ trí, bao công khó

Nát thịt, tan xương, biết mấy đời

Gầy dựng non sông bao gấm đẹp

Đảng đem triều cống, lệ dân rơi

Cùng nhau đứng dậy tiêu quân Cộng

Can đảm vùng lên, chớ phí lời (*)



L.T. Diep




(*) Kháng thư – thỉnh nguyện thư – kiến nghị – đơn xin trả đất – đơn khiếu tố – đơn khiếi nại ...v...v..tất cả đều vô ích trước tập đoàn cướp nước, bán nước CSVN.






Thái Dương Thành, OCT-17-05




* Xin theo gót các thi hữu Hoài Việt (OK), Minh Trí, Hoài Nam, Nguyễn Phú Long và L.T.Diep. Kính họa thi phẩm "NHỤC BNÁN ĐẤT" của nữ sĩ Phạm Hoài Việt :




RÉO GỌI TOÀN DÂN






Vận mạt non sông đã đến rồi,


Cả kêu chủng tộc Việt Nam ơi !

Khắp nơi nổi dậy dù phơi xác,

Toàn cõi xông lên dẫu hiến đời .

Ngăn lũ Tàu Ô muôn kế rắp,

Chém bầy Bác Đảng vạn đầu rơi .

May ra gìn được bờ cương thổ,

Réo gọi nhân dân đáp ứng lời .



TDT, OCT-17-05


Ngô Phủ


1000 NĂM THĂNG LONG


Là người Việt xa xứ lâu năm, nghe đến những chữ : “Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long” lòng đã thấy rưng rưng, đã thấy kéo theo nó bao nhiêu tình quê hương, tình đất nước, tình dân tộc rồi. Làm sao không xúc động khi mỗi ngày nhận được ở trên cái khung hình trước mặt mình bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu chữ, nghĩa, nhắc nhở về nguồn gốc của cha ông mình. Những hình ảnh nhắc nhở lại “Hà Nội ngày xưa” từ thời Pháp thuộc được chuyển cho nhau xem, lại càng làm cho ngày 1000 năm thêm ý nghĩa. Người ở xa hy vọng, chắc trong dịp đại lễ này người dân nghèo ở vùng xa, vùng sâu, tha hồ được hưởng những ân huệ của giới lãnh đạo ban phát xuống như câu “ơn vua lộc nước” ngày xưa mỗi lần có dịp vui mừng quốc thái dân an.

Chương trình to tát, khua chiêng, đánh trống rung cả tâm can những người Việt xa xứ và lôi kéo sự hấp dẫn du khách ngoại quốc. Những tưởng sẽ thấy linh hồn những trang sử về một thành phố cổ được mở ra cho con dân cả nước chiêm ngắm, noi theo và hãnh diện. Nhưng thật đáng buồn, sự xúc động đó mỗi ngày một bị cuốn băng đi như tuyết lở, đất chuồi.

Chưa bao giờ lịch sử được làm lại lạ lùng như bây giờ. Thoạt tiên, hai bà Trưng được mang sang Tầu làm giỗ Tô Định, rồi đến cuộn phim về vua Lý Công Uẩn không dám mang ra trình chiếu trong dịp đại lễ vì ai đó đã biến ngài ăn mặc, nói cười thuộc dòng dõi Trung Hoa, và vương quốc của ngài cũng ở đó luôn. Tổ tiên còn là người Hoa thì làm sao không sanh ra con cháu Hoa tộc.

1000 năm đại lễ với những xa xỉ vượt bậc, chi phí lên tới gần 100 ngàn tỷ. Trước tiên, đồng hồ điện tử cũng được gắn lên để “count down” ngày đại lễ cho theo kịp văn minh Mỹ, giống như ở New York, họ đếm ngược giờ để đón giao thừa. Pháo bông nở tung trên trời ở ba chục địa điểm trong thành phố, có nghĩa là tiền bạc mang ra mồi lửa, rắc xuống không gian; hát ca nghe nói đến mười vạn người, tiền may khăn, áo, lập dựng sân khấu, bao nhiêu là đúng nhỉ? Các nhà thiết kế thi nhau lập kỷ lục “Nhất Thế Giới” kéo cái đuôi áo dài của phụ nữ Việt Nam ra đến cả mười thước, hai chục thước, thêu vào đó cả ngàn con rồng chi chít. Có một chiếc áo dài, tổng cộng số vải dùng may vạt áo là 1000 mét, cho thích hợp với chủ đề đại lễ. Thật ra cái đuôi áo của phụ nữ Việt Nam đã được kéo sang Đại Hàn, sang Singapore, sang Đài Loan cả hơn mười năm nay rồi, chỉ có điều khác là, khi sang đến đó áo của các phụ nữ Việt này không còn vạt nào nữa, thân trước, thân sau cùng rách bươm theo phận người.

Vào ngày đại lễ thì một vở tuồng do nghệ sĩ hát chèo đóng vai vua Lý Công Uẩn đi thuyền rồng trên sông Hồng từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội.) Trên thuyền có đầy đủ Hoàng Hậu, cung tần, mỹ nữ và lính tráng, cờ xí rầm rộ tháp tùng.

Nhà nước còn nghĩ ra những điều phô trương rất lạ: cả ngàn con rồng gắn mắt bằng đá quý mua tận Phi Châu, đem tặng cho người ngoại quốc đến dự, số rồng tặng lên đến một ngàn con, nghe đâu người được tặng cậy mắt rồng ra làm nhẫn. Chưa có nước nào trên thế giới sang bằng nước Việt Nam. Các gian hàng trưng bán hình ông Hồ, bên cạnh hình Marx, Lenin cùng với những lá cờ nhuộm đỏ cả thành phố, làm người ta liên tưởng đến hàng mã bán trong ngày cúng tế, hóa vàng. Nhà, nhà, cắm cờ, có người mang cờ đến tận trước cửa cắm và chủ nhà bắt buộc phải mua, phải trả tiền dù muốn hay không.

Những người trí thức, những người có tấm lòng yêu nước thương dân chỉ biết ngửa mặt kêu trời.phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu.” Đối với họ, 1000 con rồng thêu trên vạt áo không nói lên được điều gì cả. Con rồng vốn là một con vật không có thật, một con vật vua Trung Hoa thêu lên áo để hù họa thứ dân, vì cho nó từ trời giáng xuống, người Việt chỉ biết rập khuôn làm theo.
Có bao nhiêu điều đáng làm cho kỷ niệm 1000 năm này đúng ý nghĩa của nó sao không có đến một người trong giới lãnh đạo nhìn ra thì quả thật đáng buồn.
Sao trong dịp kỷ niệm 1000 năm này, thay vì phô trương sự hào nhoáng vô nghĩa, không dùng những món tiền đó để tu bổ cho các bệnh viện, xây các ngôi trường làng, các trạm y tế ở vùng quê nghèo đói, đào giếng, đặt ống nước cho những nơi thiếu nước sạch; cụ thể hơn nữa lập những trung tâm huấn nghệ cho các thiếu nữ, ít học, có một cái nghề lương thiện giữ được phẩm giá con người, cho những thanh niên không phải bán thân lao động nước ngoài, sống vô gia cư, chết vô địa táng.
Còn bao nhiêu dự án được nêu trong danh sách kỷ niệm 1000 năm Thăng Long không biết đến bao giờ được hoàn thành. Cứ đập ra, làm phần khởi đầu, rồi dừng lại. Đến bao giờ mới tiếp tục, không biết? Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt cũng nằm trong dự án 1000 năm Thăng Long là một điển hình. Hồ Xuân Hương ở giữa thành phố, là linh hồn của Đà Lạt, một cái hồ trong veo như giọt lệ, nhỏ bé nhưng thơ mộng, là nơi hấp dẫn du khách và nơi hò hẹn của bao nhiêu cặp tình nhân từ đời nọ đến đời kia. Bỗng nhiên hô hào làm rộng, làm sâu thêm.Vét cho cạn kiệt, cá không còn chỗ nương thân chết dần từng chiếc vẩy chết đi, lau sậy khóc thương bờ xơ, bãi xác. Bây giờ chiếc hồ trông như một vết sẹo khô, nhăn nhúm trên gò má thành phố.

Việt Kiều sau ba mươi lăm năm, học được bao nhiêu bài học lừa dối đau lòng, cũng đã biết khuyên nhủ nhau không làm thiện nguyện nữa, nhưng cuối cùng cái tâm vẫn thắng cái trí; vẫn bằng cách này, hay cách khác không làm trực tiếp được với chính quyền địa phương thì họ làm riêng tư, đơn lẻ, hay từng nhóm nhỏ một, chuyển tiền về đóng góp giúp đỡ người dân yếu thế, nghèo hèn. Có từng nhóm Việt Kiều ở Pháp, ở Mỹ rủ nhau chung tiền gửi về để làm vốn cho chị em ở quê nhà đi buôn gánh, bán bưng, để giúp họ không phải buôn bằng cái vốn thân xác mình. Việt Kiều nuôi sinh viên Y-Khoa để các em đủ ăn, đủ sách, cho đến ngày ra trường. Hy vọng cấy vào tâm hồn các em chữ “Lương y như từ mẫu” qua sự giúp đỡ của Việt Kiều, để mai này các em biết giúp đỡ đồng bào mình, đừng hành xử như những y sĩ hiện nay, chờ tiền cho vào túi mới cầm dao đến người đang nằm trên bàn mổ.
Những người “năm cũ” ở tuổi ngoài tám mươi, nay được hỏi đến cảm tưởng 1000 năm, thì họ chỉ muốn nói đến một Hà Nội thanh lịch từ tiếng nói đến cách đứng, cách ngồi, một Hà Nội với “

Việc xây trường học, nguyên nữ tài tử Kiều Chinh trong vòng 17 năm đã cùng hội “The Vietnam Children’s Fund” (*) xây được hơn 46 trường học, trong suốt chiều dọc Bắc Trung Nam.

Việc xây bệnh xá, đào giếng, đặt máy lọc nước, xây chùa, giáo đường, đem kể ra thì vô cùng. Hầu như Việt Kiều nào cũng quan tâm đến mái chùa, nhà thờ, ngôi trường, giếng nước cho làng mình. Họ coi đó gần như một bổn phận thiêng liêng của người xa xứ.

Phải chăng, nhà nước lợi dụng tấm lòng nhân ái của những khúc ruột ngàn dặm này, đã hầu như bao khoán cho Việt Kiều những công việc kể trên. Có người ở hải ngoại đã phải thốt lên: Cộng Sản trong nước đặt ba Bộ ở hải ngoại, đó là: Bộ Giáo Dục, Bộ Y Tế và Bộ Xã Hội và họ không cần tốn một đồng nào cho những nhân viên cần cù, lương thiện này.

Con số 1000 năm thủa xa xưa mỗi lần nói đến dính dáng đến niềm uất hận “Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu” . Bây giờ Tầu là anh, Việt là em. Anh Tầu xuống biển cắm cờ sao không rủ em Việt cùng xuống chia nhau.


Chao ôi, ước gì trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long này, những nhà lãnh đạo trong nước biết nhìn ra cái thiếu thốn, nghèo kém của người dân mà bù đắp cho họ, và những người có chức quyền đã từng lên tiếng kêu gọi Việt Kiều về nước đóng góp cho sự phát triển hưng vong của đất nước, thì cũng nên đủ cái trí sáng suốt, cái tâm nhân hậu, hành xử một cách “mã thượng” (chữ Hán-Việt đó) kêu gọi Việt Kiều về nước, cho trùng tu lại Nghĩa Trang Quân Đội VNCH thì cái hành vi đó đẹp đẽ và xứng đáng biết bao!

Trần Mộng Tú
Viết cho 1000 năm Thăng Long

(*) Hội The Vietnam Children’s Fund sáng lập bởi một Trung Úy Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, Lewis B. Puller đã mất cả hai chân, và gần hết những ngón tay trong cuộc chiến Việt Nam. Trước khi ông chết một năm, ông trở lại Việt Nam và ông muốn thành lập hội chuyên xây trường học này để vinh danh những người đã hy sinh cho cuộc chiến. Ông thương nhất những đứa trẻ sau chiến tranh vẫn không được đến trường. Ông được trao Purple Heart và Silver Star trong quân đội; Giải Book Pulitzer cho cuốn Fortunate Son của ông.

Mùa Thu Cho Em



" Sống cho người mình yêu thương vẫn tốt đẹp nhất trần gian "
Richelieu




Tôi bước vào giảng đường lớn của trường luật khoa Sàigòn thì đối diện ngay một thiếu nữ khả ái, có làn da trắng và tóc đen huyền ngang bờ vai. Tôi khẻ gật đầu chào nhẹ và nàng mỉm cười chào đáp lễ. Sau đó trong một sự tình cờ ngẫu nhiên tôi lại ngồi kế bên dãy ghế mà nàng ngồi. Chúng tôi nghe thầy Lê Ðình Chân thuyết giảng về môn Luật Hiến Pháp và các định chế chính trị. Tôi nghe thoáng qua những điều cơ bản mà giáo sư giảng về các quy tắc và định luật xã hội, sự phân biệt giữa quy tắc công pháp và tư pháp, và rồi ông giảng về những ý niệm chính trị do luật gia kiêm văn hào Montesquieu đưa ra và nhiều điều thuộc về lý thuyết chính trị làm nền tảng cho luật pháp. Thật ra ban nãy tôi chú ý đến người bạn gái ngồi gần tôi hơn là ngó về phía trên bục giảng mà giáo sư đang hùng biện diễn giảng cho những lý thuyết chính trị của môn này.


Sau giờ học tôi đợi cô bạn học đi ra cùng với tôi, tôi bắt chuyện làm quen và biết được nàng tên là Thùy Trang, nhà nàng ở quận ba, đường Phan Ðình Phùng, cách trường luật không xa lắm. Tôi đọc thoáng trong ý nghĩ cái tên cuả nàng, tên thật hay, mà người lại đẹp, đúng với sự thùy mị và đoan trang mà tôi nhận xét trong buổi gặp gỡ này. Những ngày tháng sau đó chúng tôi mặc nhiên quen nhau và đồng ý quen nhau trên căn bản trao đổi bài vở và học hành chung với nhau. Tôi thường gạo bài trước để làm bản tóm tắt soạn bài cho Thùy Trang học. Ngược lại nàng có cái đức tính rất cẩn thận, tỉ mỉ khi ghi notes của thầy giảng trong lớp học. Mỗi người chúng tôi vui vẻ với cái nhiệm vụ riêng khi học chung với nhau. Sau khóa học chung đầu tiên, tôi đã quen thân với Thùy Trang hơn, tôi có cảm giác nàng đã mến tôi hơn. Mùa hè năm đó nàng rũ tôi về thăm cả quê ngoại và nội của nàng để cho biết đời sống ở các tỉnh lỵ. Tôi vui lòng chấp nhận.

Quê ngoại nàng ở vùng Lái Thiêu thuộc tỉnh Bình Dương, nhà bà có vườn cây ăn trái bao la với trái dâu, bòn bon, măng cụt, chôm chôm, nhãn và sầu riêng. Trong vườn có ao nuôi cá mà tôi rất thích thú dạo quanh vườn và cùng nàng đạp xe đạp trên những con lộ hoang vắng vào buổi chiều. Vùng quê thật êm ả và có gió mát thổi tạo cho chúng tôi một cảm giác yêu đời hơn. Chiều hôm đó tôi leo lên cây hái nhãn và bị té trầy sướt tay trái, nàng tỏ vẻ lo lắng cho tôi. Tôi bất thần hôn nhẹ lên má nàng, nàng mắc cở đẩy nhẹ tôi ra. Tôi bảo rằng nàng phải đền tôi vì chính nàng mượn tôi hái nhãn cơ mà. Ở chơi tại nhà ngoại nàng 2 tuần lễ, nàng và tôi chuẩn bị đi Long An để thăm nội nàng. Bà nội lớn tuổi hơn, bà bị chứng mắt cườm nên thị lực rất kém. Nhà nội nàng ở khoảng giữa Bến Lức và châu thành Long An. Nhà bà Nội có cô Út làm mắm đồng rất ngon. Nhà Nội có vườn cây ăn trái xum xuê nhưng không rộng bằng vườn cây của Ngoại. Vườn nhà Nội có khóm, mía, xoài cát, mận hồng đào, bưởi khế, vú sữa và mãng cầu.

Những năm đầu sang đến Mỹ, tôi nhớ lại vườn cây của Nội và Ngoại nàng, luyến tiếc kỷ niệm đi thăm vườn cây ăn trái, lòng thương con, cháu của hai Bà và nhất là nồi mắm kho của cô Út thết đãi: có tôm bạc thẻ, cá bông lau, cùng các loại rau thơm của đồng quê. Cô Út sống độc thân và lo cho bà Nội của Thùy Trang. Cô Út cũng rất thương mến con cháu. Bữa ăn đó tôi càng cảm mến nàng hơn. Nàng hầu như ăn rất ít mà lo cho tôi rất nhiều. Nàng thật vui khi thấy tôi sống hòa đồng với các thân nhân của nàng. Trong phòng khách của nhà Nội, có chưng những bức ảnh của Thùy Trang khi nàng được mười ba tuổi. Bức hình rất hồn nhiên, vô tư lự với đôi mắt tròn xoe đen huyền cạnh bên hai bím tóc cột nơ. Tôi ngắm mãi với nhiều thích thú. thảo nào ông thi sĩ Nguyên Sa lại ca tụng cái tuổi mười ba rất ư là đẹp và dễ thương. Cô Út thích âm nhạc, nàng bảo tôi hãy hát một bài để cảm ơn bữa ăn do cô Út làm. Tôi mượn cây đàn guitar cũ kỹ, có lẽ còn sót lại từ đời Pháp thuộc từ bên nhà hàng xóm. Tôi ngắm bức hình tuổi mừơi ba của Thùy Trang và ngâm bài thơ trước khi dạo đàn ca bài này:

" Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng
Mưa tôi trả về bong bóng vở đầy tay
Trời nắng ngọt ngào tôi ở lại đây
Như một lần hiên nhà nàng diụ sáng
Trời hôm ấy 15 hay 18
Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ 13
Tôi phải van lơn ngoan nhé! Ðừng ngờ
Tôi phải van lơn ngoan nhé! Ðừng ngờ
Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Anh thay mực cho vừa màu áo tím
Rồi trách móc trời không gần cho tay với
Và cả nàng hư quá sao mà kiêu...?
Nên đến trăm lần nhất định mình chưa yêu
Nên đến trăm lần nhất định mình chưa yêu".

Dứt tiếng hát thì nội, cô Út, các láng giềng, hàng xóm và Thùy Trang vỗ tay khen tặng tôi. Tôi bảo với họ ước gì có cô Thái Thanh ở đây để hát thế tôi. Bài nhạc "Tuổi 13" do nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc, với tôi chỉ có ca sĩ Thái Thanh hát mới lột hết những ý nhạc, lời thơ một cách tuyệt vời, vì giọng hát của cô hàm chứa một chút gì nủng nịu, một chút gì làm dáng trong sự nhõng nhẽo của tuổi mừơi ba của Thùy Trang. Tôi chỉ kết luận một điều về lứa "Tuổi 13" như sau: Thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên, tiếng hát Thái Thanh và bức ảnh Thùy Trang.

Những ngày tháng cuối niên khóa học ở trường luật, chúng tôi bận rộn với thi cử, hai đứa gặp nhau thường xuyên hơn. Nơi chúng tôi họp để học bài là thư viện Quốc Gia trên đường Gia Long. Chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe honda hai bánh của tôi, chúng tôi thực sự như đôi chim liền cánh và như cây liền cành. Tôi còn nhớ đoạn đường từ trường luật khoa ở trên đường Duy Tân, xe chạy ra hướng Bưu Ðiện và nhà thờ Ðức Bà, rồi vào đường Tự Do, quẹo phải trên đường Gia Long để tới thư viện nằm bên trái. Ðoạn đường thật sự quen thuộc trong trí nhớ của tôi, đoạn đường có quá nhiều kỷ niệm êm đềm. Khi Thùy Trang cứ mãi hôn lên lưng của tôi khi tôi chở nàng, đoạn đường có những hàng cây cao ở Duy Tân hay hàng me rợp bóng mát ở Gia Long và trường luật có bài hát " Trả Lại Em Yêu" của nhạc sĩ Phạm Duy. Trả lại em yêu những yêu thương, những hẹn hò, những giây phút hồn nhiên nhưng rất thần tiên khi chúng tôi bên nhau, để chúng tôi uống nước dừa bên vệ đường và uống môi em ngọt ở một góc vắng thư viện Gia Long. Ôi, khung trời kỷ niệm cũ của tôi!

Biến động tháng Tư năm 75 chia cách hai chúng tôi, duyên tình lỡ làng khi chia ly. Tôi ra đi cùng gia đình của người anh họ tôi, ông vốn là một sĩ quan không quân, theo máy bay xuống vùng 4 phi trường Trà Nóc. Tại Sàigòn, nàng bị kẹt lại với gia đình cha mẹ nàng. Tôi mường tượng cảnh nàng thiếu vắng tôi nàng sẽ vô cùng đau khổ và nàng sẽ khóc nhiều lắm. Tôi đợi phi cơ bay qua căn cứ không quân Mỹ ở Utapao bên TháiLan. Tôi thực sự đã ra khởi nước Việt Nam ngày 29/04 trong nỗi hoang mang và lưu luyến. Khi rời Cần Thơ tôi cảm thấy nỗi cô đơn và nước mắt ấm tự nhiên lăn dài. Tôi cố giữ bình tĩnh khi phi hành đoàn yêu cầu chúng tôi buộc dây lưng an toàn trên chiếc vận tải cơ C-130. Tôi nhớ ba mẹ, anh em tôi, tôi nhớ bạn bè tôi, tôi nhớ trường luật, tôi nhớ chợ Sàigòn và thư viện Quốc Gia. Bên cạnh đó, nổi nhớ nhung khủng khiếp nhất là hình ảnh Thùy Trang đã gặm nhấm tâm hồn của tôi từng ngày, từng giờ. Tôi đến Mỹ và định cư yên ổn tại California. Thùy Trang theo mẹ về quê ngoại nàng ở Lái Thiêu. Cha nàng bị lùa đi trại cải tạo như bao nhiêu quân nhân hay công chức của chính phủ VNCH. Nàng cố gắng liên lạc qua Pháp và viết thơ cho cô tôi. Khi đó cô đang đi du học tại Paris. Tôi vui lắm vì được biết gia đình nàng được bình yên. Những lá thơ nàng gởi, nàng viết rất dài kể lại kỷ niệm cũ và viết bằng nước mắt thương yêu. Nàng bảo tôi hãy chờ nàng vì đối với nàng, nàng không thể yêu ai khác ngoài bóng hình của tôi. Nàng trích hai câu nói mà ngày xưa nàng đã chép vào sách cho tôi như là: " Sống cho người mình yêu thương vẫn là điều tốt đẹp nhất trần gian " của một chính khách người Pháp Richelieu; Và câu nói thứ hai là: " Một tình yêu khi đã chết thì nó vẫn là tình yêu, vì một khi đã yêu nhau thì dù tình đã chết hay còn sống vẫn chỉ là một trạng thái yêu nhau mà thôi", lời nói của nhà thần học người Ðức GertrudVon Le Fort. Những lá thư tình của Thùy Trang gởi tôi tạo cho tôi một niềm tin yêu và một hy vọng sẽ gặp lại nàng. Vâng, hy vọng gặp lại nàng. Tôi đã hứa lòng sẽ chờ đợi nàng và tôi đã hứa nhiều lần trong những lá thơ gởi về quê nhà cho nàng.

Bẵng đi một thời gian nàng bặt tin tức với tôi và thời gian đó đồng bào vượt biên bằng đường biển khá nhiều, tôi vẫn trông chờ tin tức của nàng và vô vọng vì nàng không còn liên lạc với tôi nữa. Tôi bỏ San Jose ở miền bắc Cali để dọn về nam Cali sinh sống vì công ăn việc làm. Hình ảnh của nàng từ từ được thay thế bởi những bận rộn của cuộc sống thường nhật ở đây.
Tết Nguyên đán năm 87, tôi đi hội chợ Tết ở Orange County cùng với gia đình của người bạn thì tình cờ tôi xoay người đụng phải một người đàn bà, bà đánh rơi ly nước xuống đất. Tôi vội vàng xin lỗi bà. Kế bên bà ngẫu nhiên là người yêu của tôi, Thùy Trang trong một phút ngỡ ngàng nàng chợt ôm chầm lấy tôi và khóc thật nhiều. Tôi hôn lên tóc nàng. Ðã lâu lắm rồi tôi mới tìm lại cái hạnh phúc với người tôi đã chờ mong trong cuộc sống. Nàng xoay qua giới thiệu dì Minh Thảo, tôi gặp dì vài lần ở Sàigòn trước 75. Ngày nay dì thay đổi nhiều về trọng lượng. Thùy Trang lại ốm hơn vì nàng vừa trải qua một cuộc giải phẫu ruột dư. Tôi vuốt tóc nàng và lau nước mắt cho nàng. Trong tôi vẫn có cái cảm giác vui mừng thật khó diễn tả chẳng hạn như:

" Trên đời có những ước mơ,
Lòng tôi xao xuyến ngẩn ngơ gặp nàng."

Thật đúng như vậy, nàng cho biết nàng đã lập gia đình, hiện ở Boston. Nàng sang Bắc Cali thăm dì Minh Thảo, gia đình dì Thảo xuống Nam Cali nghỉ tết âm lịch. Ðó là lý do chúng tôi trùng phùng hội ngộ mà chẳng hề biết trước. Tôi mời Thùy Trang và dì Thảo về nhà tôi thăm viếng cho biết cuộc sống của tôi. Hai dì cháu to nhỏ và thầm khen tôi sống độc thân, nhưng giữ nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp. Sau đó tôi đưa dì Thảo về nhà người bà con của dì. Thùy Trang theo tôi đi thăm một số bạn bè cũ ở trường Luật. Trên xe nàng thố lộ lý do nàng lấy chồng vì chồng nàng là người ân nhân đã bao thầu chuyến tàu cho cả gia đình nàng vượt biên, nàng có đứa con trai năm tuổi với người ân nhân này. Lòng tôi đau nhói vì ngày hôm nay tôi không thể tiến đến với nàng vì luật pháp và đạo lý. Tôi thông cảm với nỗi khổ tâm của nàng. Trong ba ngày gặp gỡ, chúng tôi tìm lại những giây phút vui tươi của cuộc sống phẳng lặng bấy lâu nay. Khi tiễn nàng và gia đình dì Minh Thảo lên chiếc Van trở lại San Jose, rồi từ đó nàng bay về Boston. Dì Thảo đã linh tính cho sự kiện "tình cũ không rủ cũng đến" này và dì khuyên lơn Thùy Trang nên dứt khoát với tôi, tôi nghe thoáng ý của dì. Ðây là điều làm tôi suy tư.

Về lại Boston, nàng vẫn trao đổi liên lạc với tôi không chính thức. Nàng làm cho một công ty bảo hiểm rất lớn có văn phòng chính tại Boston. Thường thì nàng gọi tôi tại sở hay tôi gọi nàng tại văn phòng của nàng. Một hôm sáng Chủa Nhật nàng gọi tôi vì nàng định sang Cali dự đám cưới con gái dì Thảo, chồng nàng tình cờ nghe bên dây thứ hai và mọi việc đổ bể. Vợ chồng nàng xô xát nhau. Tôi tỏ ra ân hận vì những phiêu lưu về tình cảm này cứ tiếp diễn. Thùy Trang bỏ gia đình sang tạm trú tại nhà dì Thảo. Tôi từ Nam Cali lái xe lên rước nàng ở phi cảng San Francisco. Nàng bị bầm bên mắt trái tôi biết do hậu quả của xô xát, tôi ôm chầm lấy nàng trong nổi thông cảm, ngậm ngùi và quá bi thương. Ngày hôm nay chúng tôi vẫn yêu nhau vì tình yêu vẫn như Richelieu nói và tình yêu của chúng tôi vẫn chưa chết, vẫn yêu đương như GV Le Fort quan niệm. Ðiều tôi nghĩ đến trong cuộc tình của Thùy Trang và chồng nàng là đứa bé năm tuổi kia khi cháu vắng mẹ thì sẽ như thế nào. Chồng nàng gởi con cho mấy cô em chồng. Gia đình chồng nàng không có thiện cảm với nàng ngay lúc đầu vì những sự lo lắng thái quá của chồng đối với nàng. Tôi đưa nàng về San Jose vì ngày hôm sau là lễ cưới của Minh Thùy con gái dì Minh Thảo. Tiệc cưới lại tổ chức ở San Francisco gần nhà đàng trai.

Chúng tôi trở lại cái thành phố nhiều đồi núi duyên dáng này. Tiệc cưới đông đúc người, thật lớn chiếm cả một lầu hai của nhà hàng khá sang trọng. Trong cái không khí cởi mở và vui nhộn của tiệc cưới, thân phụ cô dâu là dượng Toàn, chồng dì Thảo, kéo tôi lên sân khấu ca một bản chia vui với cô dâu và chú rễ. Tôi đáp lời dượng và ngỏ lời với quan khách tôi hát bài " Mùa Thu Cho Em " vì sáng nay trên đường đi đến San Francisco, lề đường có những cây có lá úa vàng nhất là hàng cây maple trụi lá vào mùa thu lưu luyến của thành phố San Francisco. Khi người ta yêu nhau thì mọi vật đều cho nhau từ kỷ niệm nhớ nhung, sính lễ cầu hôn, con tim trao nhau, và cho cả mùa thu rực rỡ yêu đương đang về với nhân loại và hôm nay là ngày cưới. Tôi nhìn về hàng ghế ở dưới có Thùy Trang, tôi muốn nói nhỏ cho nàng tôi đã gặp nàng vào mùa thu tại trường Luật khoa Sàigòn, bao nhiêu mùa thu tôi đã chờ đợi nàng rồi và hôm nay thu lại về tôi muốn hát cho nàng nghe khúc ca yêu đương muôn thuở là "Mùa Thu Cho Em"


"Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
Mang ái ân mang tình yêu tới
Em có nghe, nghe hồn thu nói
Mình yêu nhau nhé
Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ
Em có hay thu về hết dấu cô liêu
Và em có hay khi mùa thu tới
Bao trái tim vương mùa xanh mới
Em có hay, hay mùa thu tới
Hồn anh ngất ngây
Em có mơ mùa thu cho ai nức nở
Em có mơ, mơ mùa mắt ướt hoen mi
Và em có mơ khi mùa thu tới
Hai chúng ta sẽ cùng chung lối
Em với anh mơ mùa thu ấy
Tình ta ngát hương."

Tôi liếc thấy niềm vui hiện trên nét mặt của Thùy Trang vì khi xưa nàng thường yêu cầu tôi hát bài này khi đi picnic hay họp mặt cắm trại với bạn bè tại Sàigòn. Sau tiệc cưới trời bên ngoài đã khuya chúng tôi quyết định thuê khách sạn trú ngụ qua đêm tại San Francisco. Trời bên ngoài càng về khuya càng lạnh tôi ôm ngang vai của Thùy Trang đến chỗ đậu xe khá vắng vẻ ở dưới hầm. Tôi khuyên nàng hãy trở về với chồng con nàng. Ngày hôm nay chúng tôi thật sự sống với nhau những đêm cuối cùng. Nàng ôm tôi và bật khóc vì nàng đứng giữa hai sự chọn lựa đều khó khăn. Tôi hôn lên hai hàng mi đẫm lệ của nàng, rồi hôn môi nàng thật nhiều, siết chặt lấy nàng, tôi nói với nàng tôi vẫn yêu nàng tha thiết. Tuy nhiên, đứa bé thơ ngây có thể không muốn cha mẹ xa nhau. Tôi chấp nhận hy sinh tiếp tục và tôi đề nghị sẽ giữ sự liên hệ xa cách hơn trong những ngày sắp tới.

Sáng hôm sau tôi đưa nàng ra phố Chinatown ăn điểm tâm và mua cho nàng những món quà lưu niệm và mua tặng phẩm cho con trai nàng. Chúng tôi ghé qua văn phòng công ty hàng không đổi vé máy bay cho nàng sớm về lại Boston. Nàng muốn ghé đến chụp hình lưu niệm tại cầu Golden Gate và Pier 39 Marina. Tôi đưa nàng đến thăm những thắng cảnh độc đáo này. Ðó là chiếc cầu treo màu đỏ bắc ngang vịnh Cựu Kim Sơn nối liền hai thành phố Sausalito và San Francisco, chúng tôi chụp nhiều hình. Tôi nhìn thẳng vào ánh mắt đắm đuối của nàng. Nàng thật đẹp trong tôi, giờ đây tôi muốn gởi những yêu đương trên đôi môi nàng và trả lại cho nàng những kỷ niệm cũ yêu thương qua bờ môi ngọt lịm của nàng. Chúng tôi tâm sự về những gì đã qua ở trường Luật, ở quê nội và quê ngoại nàng và bao nhiêu mùa thu của cuộc đời đã qua. Hình như nàng rất sợ đối diện những ngày nếu tôi chấm dứt hẳn sự liên lạc với nàng. Tôi cảm thấy điều tương tự như vậy trong những câu nói của nàng. Thùy Trang gọi cho dì Minh Thảo thông báo là nàng sẽ trở về Boston vào ngày mai nên sẽ ở lại San Francisco để tiện cho chuyến bay sáng ngày mai.

Hôm sau đó tôi lái xe đưa nàng ra phi cảng. Trên đường đi tôi mở nhạc phẩm mà tôi rất thích trong số những nhạc phẩm của Ngô Thụy Miên "Giọt nước mắt ngà". Tiếng hát của ca sĩ Thanh Lan thật lưu luyến và buồn vời vợi, tôi thấy mắt Thùy Trang long lanh những dòng nước mắt. Có lẽ vì chúng tôi sắp phải xa nhau và có thể vì bài hát "Giọt nước mắt ngà" buồn vời vợi trong nổi xúc cảm của nàng:

Em đứng bên song buồn
Nhìn cuộc tình trôi qua và lòng người phôi pha
Trên hai đóa môi hồng
Nụ cười đã đi xa
Ôi giọt nước mắt nào cho cuộc tình đầu
Em ngỡ như cơn mộng người tình về bên em
và gọi thầm tên em
Nhưng trên đóa mi sầu ngày dài vẫn qua mau
Em tựa lá úa mầu cho cuộc tình dài sau
Thôi một giọt nước mắt này cho cuộc tình đam mê
cho người tình trăm năm...
Ôi giọt nước mắt ngà cho cuộc tình đầu tiên.

Tôi ngước mắt nhìn lên trời cao, chiếc phi cơ DC-10 chở nàng vụt cánh trên không trung. Lòng tôi tràn ngập những vấn vương với hình ảnh của Thùy Trang và những giọt nứớc mắt ngà thương tâm. Tôi biết nàng đã cho tôi con tim trong ý tưởng của Richielieu và cũng như của Gertrud Von Le Fort đã quan niệm tình yêu của tôi với nàng là sự chấm dứt hay tiếp tục vẫn chỉ là một. Tôi sẽ bơ vơ, lạc lõng trong những giọt nước mắt ngà của người tôi yêu...





Việt Hải - Los Angeles

CHUYỆN Ở NƠI CÓ NGHỀ BÁN DÂM GIA TRUYỀN


Ấp Vĩnh Quy (Vĩnh Trinh, Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ) từng được giới ăn chơi gọi bằng nhiều cái tên nghe rất buồn, như “ấp bán thân nuôi miệng”, “ấp cave”, “ấp gái”, “ấp sung sướng”, thậm chí thô thiển hơn chút là “ấp đĩ”. Tại ấp này, có rất nhiều đàn bà, con gái làm nghề bán thân tại gia. Nghề này đã có từ mấy chục năm trước, nổi tiếng miền Tây một thời.

Từ mấy chục năm trước, ấp Vĩnh Quy đã nổi tiếng miền Tây vì 2 nghề: cào hến và “bán thân”. Đàn ông, đàn bà ấp này sắm ghe, thuyền đi khắp miền Tây làm nghề cào hến, rồi nấu loài thân mềm này như kiểu công nghiệp.

Xưa kia, chưa có ghe thuyền máy thì họ phải ngâm mình xuống các dòng sông, kênh rạch để cào hến. Làm cái nghề này, con người mắc đủ thứ bệnh như nhiễm lạnh, thấp khớp, ngoài da, phụ sản… Vất vả như vậy, nên người ta thường gọi đùa nghề cào hến là nghề “bán thân nuôi miệng” và dân ấp này thường bị trêu là dân ở “ấp bán thân nuôi miệng”.

Chiếc biển hình bao cao su nằm ngay đầu ấp Vĩnh Quy.

Tuy nhiên, ngoài nghề cào hến, thì ấp Vĩnh Quy còn nổi tiếng từ mấy chục năm nay vì có nhiều cô gái hành nghề bán dâm ngay tại ấp. Mấy từ “ấp bán thân nuôi miệng” vốn để nói vui về nghề cào hến, thì lại phản ánh một câu chuyện buồn, buồn hơn cả cái nghề vất vả dầm bùn, ngâm nước quanh năm.

Quốc lộ 80 chạy cắt qua ấp Vĩnh Quy. Ấp Vĩnh Quy lại nằm ngay cạnh ngã ba giao cắt giữa quốc lộ 91 và 80. Đây là địa bàn giáp ranh với huyện Thoại Sơn và Thành phố Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang, là nơi xe cộ qua lại, nên tình hình an ninh trật tự khá phức tạp.

Tệ nạn mại dâm ở ấp Vĩnh Quy có từ ngày giải phóng. Đây là nơi nổi tiếng cung cấp gái cho Sài Gòn, các khu vực phồn hoa miền Tây, Cambodia và cả các nước trong khu vực và Châu Âu . Người vui miệng gọi nghề bán dâm ở ấp này là nghề gia truyền, vì có nhiều gia đình từ đời bà, đời mẹ, đến đời con cháu đều hành nghề bán dâm kiếm sống.

Một nàng Kiều ở Ấp Vĩnh Quy đang ngóng khách.

Nổi tiếng nhất trong “ấp bán thân nuôi miệng” này phải kể đến gia đình má mì Bùi Thị B., hiện 50 tuổi. Bà B. từng là gái bán dâm có tiếng từ ngày mới giải phóng. Dù bao nhiêu năm bán trôn nuôi miệng, song bà B. vẫn có được một tấm chồng đàng hoàng.

Chồng bà B. là ông Đoàn L. Ông L. là chồng kiêm bảo kê cho vợ hành nghề… bán dâm. Khi bà B. trở thành gái xề, cũng là lúc hai cô con gái Kim Đ. và Kim G. phổng phao xinh đẹp. Hai cô được mẹ truyền cho nghề bán dâm. Được mẹ dạy dỗ, đào tạo bằng bí quyết làm gái mà bà rút ra từ mấy chục năm kinh nghiệm, nên hai cô nhanh chóng nổi tiếng, khách đến nườm nượp. Bà B. trở thành má mì, ngày đêm rao bán phẩm giá hai đứa con gái cho khách làng chơi.

Công an xã, huyện đã nhiều lần đột nhập triệt phá ổ bán dâm gia truyền này mới thành công. Bà B. đi tù về tội môi giới, tổ chức bán dâm.

Tưởng ổ chứa đã bị triệt phá, nào ngờ, vợ đi tù thì chồng làm thay. Ông chồng Đoàn L. lại tiếp tục công việc “cha mì”, tổ chức bán dâm cho hai đứa con gái.

Dân trong ấp làm nghề cào hến vất vả mới có được miếng ăn, nhưng gia đình này, cũng như nhiều gia đình hành nghề bán dâm gia truyền khác, vốn quen thói ăn trắng mặc trơn, nên khó có thể hoàn lương trong một sớm một chiều. Lão L. cũng thế, đã quen thói hưởng lạc mất rồi. Lão không còn liêm sỉ, chấp nhận cho vợ con đi bán dâm để có tiền nhậu nhẹt, say xỉn.


Chờ khách.

Tưởng vợ chồng bà B. ngồi tù là xong chuyện, nào ngờ hai cô con gái G. và Đ. lại thay bố mẹ thành bà chủ, quản lý cả chục cave. Khi nào “cháy hàng” thì hai cô cũng bán dâm luôn.

Rồi Đ., G. cũng lại dắt nhau vào tù vì tội như bố, mẹ. Ra tù, vào khám mãi, nhưng cái nghề “bán trôn nuôi miệng” vẫn không bỏ được, vì đã ngấm vào máu dòng giống này rồi. Với gia đình này, có lẽ họ quan niệm nghề bán dâm cũng là một nghề để kiếm sống bình thường, cũng như những gia đình khác làm nghề cào hến. Hai từ phẩm giá có lẽ là quá xa xỉ, hoặc chả có ý nghĩa gì.

Còn rất nhiều gia đình ở ấp Vĩnh Quy tổ chức bán dâm kiểu “mẹ truyền con nối” như gia đình bà B.. Phần lớn những bé gái sinh ra ở đây, sống trong môi trường này, đã bị nhiễm thói sống sa đọa, rồi lớn lên đều tự nguyện hành nghề. Một số cô gái thì bị bố mẹ cưỡng ép bán dâm để có tiền tiêu xài.

Điều nhức nhối là số người trong ấp Vĩnh Quy này biết đọc biết viết chỉ đếm được trên đầu ngón tay thôi, nên chẵng bao giờ họ biết được thế nào là nhân phẩm là đức hạnh của một con người, cả ấp, cả xã dường như chẵng ai bao giờ từng để ý đến những hệ lụy mà "nghề" bán dâm mang lại cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội, đó là lý do khiến người ta quan ngại rằng nghề bán dâm gia truyền sẽ không bao giờ chấm dứt ở cái ấp Vĩnh Quy này... Giá như 4,5 tỷ Mỹ Kim để tổ chức lễ hội 1000 năm Thăng Long mừng Quốc Khánh Trung Quốc vừa qua để xây dựng cho Vĩnh Quy vài ngôi trường và đầu tư cho giáo dục ở các địa phương để nâng cao dân trí thì mới mong có thể... dân ta không ai còn coi bán dâm là một nghề mưu sinh nữa... và mới mong Vĩnh Quy sẽ không còn là ấp có nghề làm đĩ gia truyền nữa... Mong lắm thay!

Bài Xem Nhiều