We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 15 November 2010

Kinh tế mới Đức Linh, mồ chôn tập thể người Phan Thiết


Viết nhớ đồng đội và đồng bào Phan Thiết - Bình Thuận
đã chết thảm tại Trại cải tạo Huy Khiêm và Kinh tế mới Đức Linh.


Hơn ba thế kỷ thăng trầm, một vùng đất rộng mông mênh lần lượt bị cắt chia, tan hợp. Rốt cục Bình Thuận trước sau gì cũng vẫn là Bình Thuận, cũng cát, gió, tháp Chàm, những con sông mùa nắng cạn nước và biển xanh sóng dậy ven bờ Mọi người bảo Bình Thuận là đất vua ở, vì nơi đây có Lạc Trị, Hâu Quách, Tịnh Mỹ, Phố Hải, Ma Lâm Chàm...



... còn lưu dấu đầy bia ký, lăng mộ, cùng nhiều kỷ vật thời xưa của các vị tiên vương Chiêm quốc, đó là chưa kể Phố Hải từng là nơi phát tích của thị tộc Cau Kramucavamca ở phương nam vào thế kỷ thứ VI sau Tây Lịch, mà di tích còn sót lại tới ngày nay là hai tháp Chàm trên đồi Ngọc Lâm.


Mọi người cũng bảo Bình Thuận là đường vua đi vì khắp nơi từ Bảo Sơn tự ở Tuy Phong vào tới Bửu Sơn tự trên núi Cố,ra tới đảo Phú Quý, đều có vết chân của chúa Nguyễn Ánh trong thời gian tẩu quốc. Bình Thuận là nơi Nguyễn tất Thành trong lúc bị dồn vào đường cùng vì cha là Nguyễn sinh Sắc bị bãi chức tri huyện Bình Khê, Bình Định do uống ruợu say đánh chết người, nên Thành phải tìm đường mưu sinh và được vào dạy học tại trường Dục Thanh Phan Thiết. Bình Thuậân là nơi cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm từng làm quan hai lần, Tri Phủ Hoà Đa và Tuần Vũ Bình Thuậân. Ninh Chử, Phan Rang, trước khi tách ra tỉnh Ninh Thuận, cũng thuộc đất Bình Thuận cổ, là sinh quán của cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.


Tất cả những người đã đặt chân qua Bình Thuận như Nguyễn Ánh, Nguyễn tất Thành, Ngô Đình Diệm và Nguyễn văn Thiệu về sau đều làm Vua, Chủ tịch, Tổng Thống. Ngày nay nhắc tới vua Gia Long Nguyễn Ánh, người Bình Thuận hoài niệm về những công trình dựng và mở nước Việt, trong đó có đất Thuận Thành, và những quốc tự khắp nơi trong tỉnh, qua những cai tên trang trọng ý nghĩa được Ngài sắc tứ ban tặng.


Ngày nay nhắc tới Hồ chí Minh - Nguyễn tất Thành, ngoại trừ phe đảng và VC, thử hỏi có ai muốn nhắc tới trường Dục Thanh bởi vì những chứng tích của nó làm nát hồn mọi người khi đau lòng nhớ lại nỗi đời dâu biển, thế thái nhân tình của những tên ăn chén đá bát Việt gian Bình Thuận Thôi thì cứ quên để khỏi nhớ thêm hổ thẹn trăm chiều trước nỗi vẽ rắn thêm chân, chỉ hươu nói ngựa.


Ngày nay nhắc tới Ngô Đình Diệm, người Bình Thuận lại nhớ tới những xóm làng thôn ấp mọc lên từ các vùng lau sậy hoang vu, những nơi có thần cây đa ma cây gáo, những đồi hoang biển vắng khắp Phan Thiết, La Gi, Đức Linh , Sông Mao, Thanh Hải... nhưng kỹ niệm ấm lòng nhất của người quá cố, là câu chuyện của hai người bạn tri kỷ, tri tâm: Ngô Đình Diệm - Hoàng Tỷ, trong những ngày cuối năm, ông Tổng Thống của một nước đứng trước mồ cố nhân, sụt sùi kể lễ, nhắc nhớ tâm tình. Và cuối cùng, ngày nay nhắc nhở tới Nguyễn văn Thiệu, người Bình Thuận thường nhắc tới một giai đoạn lịch sử thăng trầm, trong đó có một khoảng thời gian ngắn ngủi từ 1967-1975, khi người làm Tổng Thống, ít ra người dân xứ biển cũng được no cơm ấm áo trong cảnh hạnh phúc thanh bình.


Hỡi ôi Bình Thuận là bãi chiến trường ba trăm năm cũ, người đến người đi dấy lên rồi tàn lụn, xô nghiêng hay tạo dựng sông núi để được tiếng đời là minh quân hay bạo chúa, thì nay đổi đời đã rỏ, dù sử sách hôm nay hay ngày mai ghi không hết kịp, thì đã có bia đời, bia miệng như người Bình Thuận đã ghi những chuyện Việt Minh, Tây Tà qua suốt bao năm. Ngày nay khách phương xa tới chơi Bình Thuận, nơi từng là đất vua ở, đường vua đi, vào giữa độ xuân về hay trong các mùa lễ hội, không có gì thích thú cho bằng leo lên chiếc xe ngựa cũ kỹ hiện vẫn còn chạy đầy Phan Thiết. Bởi vì chỉ có trong khoãng không gian này, rất có thể giữa tiếng vó ngựa lộp cộp xen lẫn tiếng lục lạc len keng, bác xà ích sẽ kể cho mọi người nghe những giai thoại thật đẹp của miền biển mặn mấy mươi năm về trước và sự đổi thay của mấy mươi năm về sau, nhưng sau trước gì thì Bình Thuận cũng vẫn là chốn thân quen của mọi người, với những buồn vui, nhất là những năm tháng bị đoạ đày trên núi rừng ma thiêng nước độc, mà VC gọi là Kinh tế mới. Đời đã khác đi nhiều nhưng vẫn là cái nền mờ tỏ của bao đời tạo dựng, cho nên đâu có ai xóa được ?


1- KINH TẾ MỚI ĐỨC LINH, MỒ CHÔN TẬP THỂ NGƯỜI PHAN THIẾT


Tháng bảy ở Phan Thiết, trời hay hờn dỗi nên cứ trút mau những cơn mưa ngày thật buồn. Phường phố quẩn quanh nhỏ nhoi thêm ngụp lặn dưới màn nước xám mù mịt nên càng tiêu điều, tĩnh mịch. Mấy hàng phượng vỹ ven đường, hoa đã rụng hết, chỉ còn trơ lại ít cụm lá hoang, co rúm ngả nghiêng với gió. Ve sầu rên khóc trong hốc cây, sóng vổ ỳ ầm xoáy mạn bờ sông Mường Mán, có tiếng người ca sĩ nào đó, từ chiếc loa khuếch thanh trên đỉnh lầu nước giữa vườn hoa độc lập, nức nở ngậm ngùi qua ca khúc ‘đêm buồn tỉnh lẽ’ của Tú Nhi, bất chợt khiến cho ta bâng khuâng héo hắt.


Nhưng buồn rầu mấy mấy rồi cũng qua khi trời dứt cơn gió mưa, mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Người người rộn rịp, vui vẻ vì tháng bảy là thời điểm tốt nhất trong năm của dân Phan Thiết. Mùa cá nục, cá chim đã kết thúc sau sáu tháng vất vả vật lộn trên sóng nước. Ngư phủ giờ đây hoan hỉ với túi tiền rủng rỉnh được chia, tha hồ mua sắm. Thật vậy kể từ ngày Việt Nam Cộng Hòa có chương trình cải tiến nông ngư nghiệp, dân làm biển được vay tiền trả góp dài hạn, lãi suất thật nhẹ để đóng tàu, thuyền, mua thủy động cơ và ngư cụ, mà khỏi phải qua trung gian đầu cơ cắt cổ thuở xưa.


Nhờ cải cách này, đời sống của ngư dân được cải thiện, những túp lều tranh vách lá xiêu vẹo tồi tàn được thay thế bằng những căn nhà tôle vách gạch tuy cổ điển nhưng khang trang ấm cúng. Thuyền bè chạy bằng buồm cổ lỗ bị phế thải, nghìn trăm tàu đánh cá nhỏ, lớn đóng theo kiểu Thái Lan, gắn máy kéo Nhật, sơn phết lòe loẹt, san sát xuôi ngược trên sông, biển. Thanh niên nam nữ trong giới này đã biết hưởng thụ vật chất theo thành thị. Khu phố 6, 7, 8, 9 của phường Đức Thắng, dọc bến Ngư Ông, là một trong nhiều xóm làng kiểu mẫu, sau cơn đại hỏa hoạn năm 1956, nói lên sự thành công mỹ mãn của ngư dân.


Ven thị xã, đồng ruộng bát ngát đang ngút ngàn trổ hạt, hương lúa mới thoang thoảng bốc thơm trong gió, đó đây trai gái vui vẻ gặt hái. Lúa đầy kho, khoai sắn la liệt nằm phơi khắp sân, thêm vào đó có đàn heo con ủn ỉn bấu níu vú mẹ trong chuồng, là những món tiền đáng kể. Như ngư dân, nông gia cũng được hưởng chương trình trợ vốn trả góp của Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp và Ty Nông Nghiệp, Ty Khuyến Nông... để mua lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu rầy và nái giống. Riêng xi măng xây chuồng và thực phẩm dành cho gia súc, được cấp không. Sau ba tháng chăn nuôi, chỉ hoàn lại chính phủ ba con heo con mà thôi, nái được giữ lại. Quỷ phát triển của ngân hàng Á Châu bán máy cày, máy gặt trả góp, trâu bò nay bớt nhọc nhằn phần nào. Mái ngói đỏ chen chúc mọc, nhà nhà vang tiếng nhạc lời ca, phát ra từ chiếc máy thu thanh xinh xắn. Đời sống êm đềm hạnh phúc nơi thôn dã, với những mối tình chân mộc mạc.


Hoa quả chen chúc trên đất, gỗ quý bất tận chốn rừng hoang, cá tôm hải sản đầy sông biển với khí hậu quá điều hòa thích hợp. Phan Thiết - Bình Thuận đúng là miền đất hứa lý tưởng đời đời của mọi người, nếu không có cuộc chiến tranh trường kỳ do cộng sản quốc tế đề xướng. Rồi thì chiến tranh và máu người dân bất hạnh triền miên chảy suốt non sông, cơ hồ tưới xanh luống mạ. Mộ chí hoang vu lũ lượt chớm mọc khắp nơi, sang hồ, xừ sang, hồ sang xế... tiếng đàn nhị hồ đưa đám não nuột như bất tận. Miền đất hứa biến thành vùng biển động, sự sống và nỗi chết không phân biệt ranh giới với thời gian, thấy đó chết đó vì mìn bẫy, bom đạn, pháo kích, ám sát và nạn đạn lạc, bắn lầm. Buồn ngồi nhai lại các bài hát thời thượng năm nào của cả hai phía, để thêm tức tủi, ngậm ngùi: ‘đời ta thêm vui thắm tươi, vườn mộng xanh khắp nơi, hòa theo tiếng hát tươi vui, mừng thay chúng em nay sống nơi tự do... là rế rế la phà, mì rề mì, mì mì rề rề rề la mí...’ hay ‘... bài phong kiến bốc lột, diệt thực dân, đem ấm no hạnh phúc...’ Được sống sót trong đêm rã ngũ 18-4-1975 để đối mặt nhận diện bọn việt cộng nằm vùng hay a dua theo kẻ thắng trận, cờ lọng, đèn đóm, phủ phục hai bên vệ đường đón mừng giặc Hồ phương Bắc vào hoan hỉ với túi tiền rủng rỉnh được chia, tha hồ mua sắm. Thật vậy kể từ ngày Việt Nam Cộng Hòa có chương trình cải tiến nông ngư nghiệp, dân làm biển được vay tiền trả góp dài hạn, lãi suất thật nhẹ để đóng tàu, thuyền, mua thủy động cơ và ngư cụ, mà khỏi phải qua trung gian đầu cơ cắt cổ thuở xưa.


Nhờ cải cách này, đời sống của ngư dân được cải thiện, những túp lều tranh vách lá xiêu vẹo tồi tàn được thay thế bằng những căn nhà tôle vách gạch tuy cổ điển nhưng khang trang ấm cúng. Thuyền bè chạy bằng buồm cổ lỗ bị phế thải, nghìn trăm tàu đánh cá nhỏ, lớn đóng theo kiểu Thái Lan, gắn máy kéo Nhật, sơn phết lòe loẹt, san sát xuôi ngược trên sông, biển. Thanh niên nam nữ trong giới này đã biết hưởng thụ vật chất theo thành thị. Khu phố 6, 7, 8, 9 của phường Đức Thắng, dọc bến Ngư Ông, là một trong nhiều xóm làng kiểu mẫu, sau cơn đại hỏa hoạn năm 1956, nói lên sự thành công mỹ mãn của ngư dân.


Ven thị xã, đồng ruộng bát ngát đang ngút ngàn trổ hạt, hương lúa mới thoang thoảng bốc thơm trong gió, đó đây trai gái vui vẻ gặt hái. Lúa đầy kho, khoai sắn la liệt nằm phơi khắp sân, thêm vào đó có đàn heo con ủn ỉn bấu níu vú mẹ trong chuồng, là những món tiền đáng kể. Như ngư dân, nông gia cũng được hưởng chương trình trợ vốn trả góp của Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp và Ty Nông Nghiệp, Ty Khuyến Nông... để mua lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu rầy và nái giống. Riêng xi măng xây chuồng và thực phẩm dành cho gia súc, được cấp không. Sau ba tháng chăn nuôi, chỉ hoàn lại chính phủ ba con heo con mà thôi, nái được giữ lại. Quỷ phát triển của ngân hàng Á Châu bán máy cày, máy gặt trả góp, trâu bò nay bớt nhọc nhằn phần nào. Mái ngói đỏ chen chúc mọc, nhà nhà vang tiếng nhạc lời ca, phát ra từ chiếc máy thu thanh xinh xắn. Đời sống êm đềm hạnh phúc nơi thôn dã, với những mối tình chân mộc mạc.


Hoa quả chen chúc trên đất, gỗ quý bất tận chốn rừng hoang, cá tôm hải sản đầy sông biển với khí hậu quá điều hòa thích hợp. Phan Thiết - Bình Thuận đúng là miền đất hứa lý tưởng đời đời của mọi người, nếu không có cuộc chiến tranh trường kỳ do cộng sản quốc tế đề xướng. Rồi thì chiến tranh và máu người dân bất hạnh triền miên chảy suốt non sông, cơ hồ tưới xanh luống mạ. Mộ chí hoang vu lũ lượt chớm mọc khắp nơi, sang hồ, xừ sang, hồ sang xế.... tiếng đàn nhị hồ đưa đám não nuột như bất tận. Miền đất hứa biến thành vùng biển động, sự sống và nỗi chết không phân biệt ranh giới với thời gian, thấy đó chết đó vì mìn bẫy, bom đạn, pháo kích, ám sát và nạn đạn lạc, bắn lầm. Buồn ngồi nhai lại các bài hát thời thượng năm nào của cả hai phía, để thêm tức tủi, ngậm ngùi: ‘đời ta thêm vui thắm tươi, vườn mộng xanh khắp nơi, hòa theo tiếng hát tươi vui, mừng thay chúng em nay sống nơi tự do... là rế rế la phà, mì rề mì, mì mì rề rề rề la mí...’ hay ‘... bài phong kiến bóc lột, diệt thực dân, đem ấm no hạnh phúc...’ Được sống sót trong đêm rã ngũ 18-4-1975 để đối mặt nhận diện bọn việt cộng nằm vùng hay a dua theo kẻ thắng trận, cờ lọng, đèn đóm, phủ phục hai bên vệ đường đón mừng giặc Hồ phương Bắc vào thành phố, có thấy cảnh xử giảo, có nghe tiếng rên xiết của hàng loạt nạn nhân quằn quại dưới trận đòn thù trong đêm tiếp thu và nhiều đêm liên tiếp, mới biết sự đổi đời rất có ý nghĩa, nhất là đối với đám âm binh 30-4, với những kẻ cầu an lừng khừng, với bọn trí thức không tưởng quen bóp méo sự thật, qua cái lăng kính, bất lương, bất bình thường....


Nụ cười hy vọng ngày nào đã tắt hẳn trên môi giới ngư dân, khi tàu thuyền đánh cá vào hợp doanh, chủ nhân là đảng. Song song nhà phố, cơ sở công thương nghiệp, rạp hát, bệnh viện tư, ruộng vườn, nông cơ, nông cụ cả trâu bò... hoặc vào hợp tác, hoặc là tài sản xã hội chủ nghĩa. Dân làm chủ không, nhà nước, cán bộ đảng xử lý. Cơ cấu phường xã cũng lần lượt thay đổi, anh Chín bí thư, chị Ba phụ nữ mấy hôm đầu, sau đợt cướp ngày, kiếm được cái xe, căn lầu, vàng bạc đô la, lần lượt biến mất hay cũng chỉ như ta sống phất phơ bên lề thế sự, dù vẫn dép râu, nón cối, vai lũng lẳng cái xà cột cho oai.


Cán Bắc, công an răng thưa má hóp vùng Nghệ Tĩnh, thanh niên nam nữ cán bộ đảng chánh hiệu, đầy Bình Thuận, nhởn nhơ dòm ngó, vây bủa đồng bào kín hơn thiên la địa võng. Người Phan Thiết giờ phờ đi với gạo, dầu, phân bón, thuốc men, thức ăn và quần áo. Tay trắng hoàn tay trắng vì sản lượng chi tiêu quái ác. Đời sống văn minh của xã hội miền Nam như cái xe không phanh, vun vút tuộc dốc cầu Mường Mán, từ chết cho đến bị thương thê thảm. Nhiều mẹ Việt Cộng, nhất là miền đất thành đồng Đại Nẩm, Bình Lâm, Tường Phong... uất ức tự tử vì biết dại, biết hối thì đã quá muộn màng trong cảnh trắng tay, chồng con thành liệt sĩ, còn gia đình thì nghèo đói mạt rệp. Thương ai cho bằng thương thân, những người còn chút phương tiện vội vã bồng bế nhau liều chết vượt biển tìm tự do. Rốt cục lãnh đủ vẫn là giới bần cố nông, vô sản, chỉ được đảng ban phát cho cái vỏ sơn phết, mà bụng thì trống rỗng hơn bao giờ hết vì bế tắc công ăn việc làm. Đói rách, bệnh tật và tuyệt vọng hằng hằng thường trực hành hạ họ.


Như cả nước, năm 1977 người Phan Thiết hoàn toàn sạch hết ngoài cái nhà trống bó buộc phải giữ để lây lất sống, giữa lúc cướp giựt bốc cao, Thuận Hải (Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Tuy) được đảng ưu ái chọn làm thí điểm 101 ‘KINH TẾ MỚI’.


Phan Thiết hoang vắng như bãi tha ma, đường phố khắp nơi thay tên chất ngất. Những anh hùng liệt nữ dày công đối với xã tắc sơn hà như Nguyễn Hoàng, Lương ngọc Quyến, Huyền Trân Công Chúa, Trần quý Cáp... được thay bằng những tên Trương Tam, Lý Tứ lạ hoắc, không biết đâu mà mò lý lịch, vì trong dòng sử Việt không hề nói tới. Các phố chính trước năm 1975 như Lê văn Duyệt, Nguyễn văn Thành, Gia Long, Đồng Khánh... chỉ còn là cái bóng mờ với hằng loạt căn nhà bị niêm phong khép kín. Một vài tiệm buôn của người Hoa còn bị kẹt lại, chưa vượt biên hay đi nước ngoài bán công khai, co rúm sau cánh cửa sắt thu hẹp, buôn bán vặt vãnh chờ thời như chổi, dép râu, cờ đảng, ảnh ‘bác’. Thầy giáo Thành, nay là cố chủ tịch nước có hình treo khắp nơi. Cờ đỏ, bảng vàng sơn phết, giăng mắc che kín mặt trời, làm vẩn đục không khí trong lành nơi miền biển mặn. Vườn hoa hoang phế, rạp hát bẩn thỉu vì phim ảnh VC và khối cộïng sản tuyên truyền hạ cấp, rẻ tiền, ngày qua tháng lại với hình ảnh Điện biên Phủ, bắn máy bay Mỹ, Anh Trổi, chị Sáu... Tòa Hành Chánh Bình Thuận cũng như các Ty sở, Tiểu Khu ngày xưa là nơi chốn khang trang lịch sự, nay thành chỗ sống chung hòa hợp, hòa giải, trung lập giữa Cán Bộ từ miền Bắc vào và dòng họ Trư bát Giói. Mùi cám lợn, phân heo và thuốc lào, bốc ra tận đường Chu Mạnh Trinh, Hải Thượng nơi đài chiến sĩ Quốc Gia Việt Nam, khiến khách bộ hành phải nhanh chân rời xa vùng xú uế. Nghĩa trang QLVNCH cạnh QYV Đoàn mạnh Hoạch, tượng Phật Bà Quan Âm lộ thiên trên triền đồi Lầu ông Hoàng bị san bằng, đập bỏ. Chợ lớn trên đường Gia Long vẫn xám đen màu khói từ đêm binh biến 2-4-1975, cầu sắt trên sông Cà Ty gãy nhịp nào ai ngó tới, dù vàng ngọc, tiền bạc và tài sản của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa để lại đã không cánh mà bay mất. Các nhà lều sản xuất nước mắm danh tiếng nhất nhì của Việt Nam từ thời tiền chiến tại Đức Thắng, Bình Hưng, Lạc Đạo sập tiệm vì ngày lại ngày, hàng hàng lớp lớp các xe vận tải, Molotova, GMC giải phóng đưa về Bắc, cho tới nước bổi cũng không chừa. Người người dửng dưng như kẻ lạ xa, mặc sâu bọ cầm quyền trị nước.


Nhớ lại chương trình tị nạn cộïng sản của Bộ Xã Hội và chính sách an cư Việt kiều Kampuchia hồi hương năm 1970 của bác sĩ Quốc Vụ Khanh Phan quang Đán, thời Việt Nam Cộng Hòa mà ngao ngán cho kinh tế mới của Việt Cộng tại Đức Linh. Đây là tên ghép của hai quận Tánh Linh và Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy thời Việt Nam Cộng Hòa. Vào năm 1961, Tổng Thống Ngô Đình Diệm vì có tình cảm liên quan mật thiết với Bình Thuận khi giữ chức Tri Huyện Hòa Đa và Tuần Vũ tỉnh, hơn nửa có tình bạn sâu nặng với nhà giáo lão thành Hoàng Tỷ, nên Ông đã cấp một ngân khoản lớn đểâ cho đồng bào nghèo tại các quận Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vào khẩn hoang lập ấp tại vùng hoang sơn trù phú của huyện Tuy Định, sau này là quận Tánh Linh. Vùng đất mới được tách thành một quận mới, đó là Hoài Đức, quận lỵ đóng tại Vỏ Đắc. Đây là vùng đất đỏ cao độ hoang vu của tỉnh Đồng Nai Thượng xưa, được tách ra từ tỉnh Bình Thuận, nằm trong sơn hệ Di Linh - Lâm Đồng, phần cuối cùng của rặng Trường Sơn, thuộc cao nguyên nam Trung Phần. Toàn vùng lúc đó chỉ là núi rừng hiểm trở, lắm ác thú như cọp, voi, heo rừng, mảng xà, rắn độc. Khắp nơi muỗi mòng, đỉa vắt sền sệt như bánh canh, đâu có thua gì vùng U Minh, Đồng Tháp. Giang sơn của người thượng Roglai và Chàm, khí hậu ẩm thấp, phong thổ độc địa. Sông La Ngà lắm ghềnh thác, thường gây lũ lụt bất thường vì lưu lượng nước lên xuống không đều, ảnh hưởng của triền núi nơi sông chảy qua. Do trên mực độ dân số trong vùng rất thưa thớt, ngoại trừ Võ Đắc, Lạc Tánh... là nơi các Trung Đoàn thuộc SĐ18BB thường tạm đóng trong lúc hành quân.


Ngay khi có lệnh đi kinh tế mới, ba câu hỏi đã được đồng bào bàn tán lén lút: đi hay là ở lỳ, cưỡng lệnh sẽ ra sao và Đức Linh là chốn nào nhỉ? Một số còn tiền, chạy vội cái giấy về đất cũ nơi các thôn xóm ven đô như Phú Lâm, Phú Hội, Lại An, Phú Long... Số khác may mắn hơn được xuất ngoại chính thức bằng tàu của Đảng đậu trước Trường Nữ tiểu học năm 1977, sau khi đóng hết vàng, đô la và hiến nhà cửa cho cán bộ. Chiếc tàu này sau đó đến được trại tị nạn Pulau Bidong của Mã Lai Á, mang số 67, hầu hết là người Việt gốc Hoa giàu có của Bình Thuận. Những người không có tên đi kinh tế mới, thì phải đi nghĩa vụ lao động tại Đức Linh, không phân biệt nam nữ, số tuổi hạn định 17-50, đó là chưa kể tới các nghĩa vụ thanh niên xung phong và nghĩa vụ quân sự, điều kiện ắt có để làm dân thường trú Phan Thiết có sổ gia đình, hộ khẩu và tem phiếu mua nhu yếu phẩm chỉ có bán tại cửa hàng quốc doanh. Viết sao cho hết đây, nỗi thương tâm đau khổ trong những ngày cuối cùng của dịch kinh tế mới. Khắp nơi vang tiếng khóc, người người ủ rũ tựa hồn ma. Chống đối dữ dội lệnh trên, cũng vẫn là những kẻ được đảng nâng niu dụ dỗ buổi trước, đó là mấy bác phu xe, gánh mướn, các chị bán mẹt buôn bưng, anh thợ nề, chú dân biển... ở các khu phố xôi đậu ven đô buổi trước tại Đức Long, Đức Nghĩa, Phú Trinh, Hưng Long... Vì là thành phần vô sản chuyên chính và có công với đảng, nên các cán bộ khu, phường đều lánh né, mặc sức cho họ tru tréo, trong lúc sắp đi xa. Những người khác, nhất là thành phần bị gán bậy là ngụy quân, ngụy quyền, tư sản mại bản... thì biết phận, vặt vãnh bóp chắt những thứ còn lại sau cuộc phong trần, bán để có tiền mua đinh, lá, dây lạt và thức ăn khô dự trữ, để bắt đầu làm một cuộc hành trình mới như cha ông ta đã làm từ 300 năm trước, có điều lúc đó tiền nhân ra đi trong phấn khởi đầy lạc thú và hy vọng, còn giờ con cháu lên đường bởi cùm gông và bạo lực. Để gọi là ưu ái với dân, nhà nước tại Bình Thuận cấp tem phiếu mua thuốc phải trả tiền và như thế, lớp lớp người nối đuôi nhau trước nhà thuốc tây quốc doanh duy nhất, trước là nhà thuốc Phạm tư Tề, để mua vài thứ thưốc nội chế bằng võ cây đường bột, ký ninh nivaquine và những loại thuốc chống sốt rét nước độc tại chợ đen đều lên giá vùn vụt theo ngày cách mạng từ rừng vào tiếp thu Phan Thành, để không bị cảnh trâu sau uống nước bùn trâu trước, nhưng biết làm sao hơn?


Phút cuối bị súng đạn bó buộc phải xa rời nơi chôn nhao cắt rún, sao mà buồn quá đổi. Mười ba năm sống đời quân ngủ, ta đã đi cùng khắp mọi nẻo đường đất nước, từ biển lên rừng, chốn đồng quê cho tới thành thị, vẫn được trở về, dù về trong nỗi đau phải mất mát một phần thịt da của mẹ. Nay thì hết thật rồi, nhà xưa thành hoang phế, sự nghiệp nát hơn tương, thân nhân, bằng hữu... kẻ chết kẻ còn bị tù đầy, còn ta tuổi xanh chịu đời vất vưởng, bất lực. Chỉ còn biết lau nước mắt, cắn nát môi và uất nghẹn căm hờn, lần chót nhìn lại mảnh tường đổ của mái ấm vừa bị hạ, nếp sống cũ bị xóa mờ, chấp nhận làm kẻ lưu vong trên chính quê hương mình.


Một đêm không ngủ, một đêm náo loạn tập thể, kẻ ở người đi gạt lệ an ủi quyến luyến. Các gia đình ‘ưu việt’ thuở trước tru tréo đảng và nhà nước không tiếc lời. Trưởng khu, chủ tịch, bí thư kể cả công an khu vực trốn mất suốt đêm, vì sợ bọn điên cùng đường trả thù. Cảnh tử biệt sinh ly sao mà buồn lắm thế.


2-ĐƯỜNG LÊN SƠN CƯỚC :


Năm giờ sáng ngày 17-7-1977, trong lúc nạn nhân chưa được hoàn hồn sau một đêm thức trắng thì máy nói, từ đỉnh cao của lầu nước, mở hết tốc độ âm thanh, tru tréo, ra rã thúc hối đồng bào sẵn sàng lên đường. Đoàn thanh niên nam nữ 30-4 theo lệnh hối hả, khuân vác đồ đạc của các nạn nhân ra xe. Phường khóm, tổ khu phố lũ lượt kéo tới chúc mừng, có cả phóng viên, nhà báo, quả là một chuyện ngược ngạo lì lợm, kinh thiên động địa, chưa từng thấy trong lịch sử con người.


Đúng 7 giờ sáng, tất cả xe cộ của chín phường trong thị xã, sau khi hốt đủ người, tập trung tại vườn hoa nhỏ đầu đường Gia Long. Năm Lý, Trung Tá Việt Cộng, chủ tịch ủy ban Kinh Tế Mới Đức Linh, một người phát xít nhưng được hầu hết dân chúng bị đi Kinh Tế Mới rất ái mộ vì ông hiền từ, chân thật, còn có nhân tính con người, trong xã hội hết tình người, đã đọc diễn văn, cắt băng khánh thành rồi ban lệnh khởi hành. Ngay từ đó, hàng trăm tên du kích, công an hầm hầm áp tãi 10.000 người Phan Thiết và 2500 nạn nhân KTM miền Trung trốn trại, lên Kinh Tế Mới Đức Linh để xây dựng cuộc đời mới trong thiên đàng xã nghĩa.


Đoàn xe dài lê thê, hàng nối hàng, chạy vòng quanh vườn hoa nhỏ trước nhà sách Vui Vui, ngược chiều phố Gia Long, Đồng Khánh, Trần quý Cáp với tốc độ chậm, để các nạn nhân được nhìn lại nơi chốn thân yêu lần chót, sau đó nhấn hết ga, mặc kệ đồng bào đang bị chèn ép sau thùng xe vận tải, khiến cho người, đồ đạc, gia súc chen chúc ngồi đứng, dở khóc, dở cười.


Phan Thiết - Đức Linh cách xa 178 km, trừ đoạn đường 58 km trên quốc lộ 1 tráng nhựa tốt, số còn lại từ căn cứ 6 đến Võ Đắc, gọi là Tỉnh lộ 1, chỉ là đường đất đá gồ ghế, nhiều chỗ cầu bị gẫy chưa được sửa chữa, phải chạy vòng dưới lòng suối sâu vô cùng nguy hiểm. Rừng lá tuy được khai quang, nhưng nhiều nơi xe vẫn chui luồn dưới những tàn cây mịt mù sương khói, không nhìn thấy mặt trời, khắp nơi vượn khỉ nhảy nhót trong lùm cây, đa đa gù vang đây đó. Một vài chú sóc tinh nghịch, khi biến, lúc hiện trước đầu xe như trêu chọc người phố thị. Bình Tuy đang mùa nắng cháy, hơi núi bốc nóng như thiêu, cộng với bụi đường đất đỏ, khiến cho ai cũng rã rượi, mệt nhừ vì khát nước, nhồi xốc, chen lấn và tủi phận.


Đường bộ băng ngang thiết lộ tại ga Suối Kiết, muôn năm nằm ngủ quên dưới chân núi Ông mịt mù mây phủ. Từ đây đường bắt đầu lên dốc xuống đồi, nhiều quãng cây cối mọc be ra tới ngoài che kín lối đi. 12 giờ trưa cùng ngày, xe mới tới phố huyện Lạc Tánh, cũng là cửa ngõ vào thiên đàng Kinh Tế Mới Đức Linh. Có tất cả 8 khu vực, 1 nằm bên nam sông là Vỏ Su, kế cầu Lăng Quăng, nối tiếp với Kinh Tế Mới Duy Cần dành cho đồng bào các quận 8, 9, 10 Sài Gòn và Trại cải tạo dân quân Huy Khiêm. Các khu vực khác đều ở bên bắc sông La Ngà, gồm có Đồng Kho, Tà Pao, Bắc Ruộng 1, 2, Nghị Đức, Mê Pu và Sùng Nhơn. Sự sắp xếp tùy theo đoàn xe tới sớm hay chậm, không cần biết khu, phường hay liên hệ gia đình, khiến cho nhiều hộ, cha mẹ ở nam, con cái tại bắc, nhưng đã đến đường cùng, đành cắn răng, bấm bụng, gạt nước mắt mà sống qua ngày.


Lối về đất chết đầy ghê rợn, cồn mây heo hút chắn lối đi, thêm trận mưa rừng đầu mùa, khiến mọi người càng đứt ruột. Xe đã vào truôn, đây là Đồng Kho tre mây nối vòng tay lớn che mát đường đi, lố nhố khắp nơi từng dãy nhà sàn của bộ lạc Roglai xơ xác rã rời với cát bụi thời gian. Rồi thì bờ bụi, lau lách như muốn nuốt trửng con lộ đất đỏ ngoằn ngoèo đầy ổ gà, ổ voi, len lỏi hai bên vách núi cao ngất, dẫn tới thung lũng Đoàn Kết, ủ rủ cheo leo dưới chân rặng núi Ông, đang chực chờ đón người Kinh Tế Mới. Nhiều xe lại bị tách rời, lại những bàn tay khẳng khiu đau khổ đưa vội, vẫy vẫy chào chào, hẹn ngày tái ngộ. Rồi Tà Pao, vùng đất úng thủy, mệt mỏi ngủ lỳ giữa tiếng thác ghềnh gào thét. Chiếc cầu sắt vừa mới được bắc ngang sông La Ngà, còn thơm mùi sơn đỏ, từ xe nhìn xuống thăm thẵm vực sâu, kẻ ở người đi ngàn trăm lưu luyến. Rừng núi cũng hân hoan đón người lạc bước nhưng dân địa phương, đa số là Quảng Ngãi thù ghét ra mặt, lòng dạ sâu hiểm hơn rắn rết, một ngụy hai ngụy, xin nước uống cũng không cho, làm cho ai nấy thêm não nùng cho thân phận con người bại trận, mất nước.


Huy Khiêm, Bắc Ruộng, Nghị Đức, Mê Pu, Sùng Nhơn, Madogui, đèo Chuối trên quốc lộ 20, những địa danh một thời in mòn gót giầy của người lính trận Trung Đoàn 43, SĐ18BB, nay thành chỗ giam giữ nô lệ Phan Thiết. Ngày nóng, đêm lạnh, gió núi, sương rừng se sắt buốt lịm thịt da. Sơn cốc bị đá xanh, mây xám, bụi đỏ miên viễn mịt mờ. Rừng già, rừng xanh chằng chịt, từ đây chúng ta thành sơn nhân, dã thú, ngày ngày ngắm mây trắng la đà ngâm câu ‘Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại’ của Hàn Dũ khi bị đầy, cho bớt nhớ nhà... Bắc Ruộng 2, hay Tà Lễ 2 sau là thôn 3, xã Bắc Ruộng, quận Tánh Linh, lừng danh nhất trong 9 địa điểm giam cầm người Phan Thiết. Đây là một làng chiến đấu cũ của Việt Cộng trước năm 1975, vùng oanh kích tự do nên quanh quẩn khắp nơi còn in dấu nhiều nền đất xám, bìm cỏ rậm rịp, đụn mối cao ngất, hầm chông hố bom còn nguyên vẹn chưa được lấp lấy. Thêm vào đó rừng sát đường nên ban đêm văng vẳng tiếng cọp gầm, voi rống, cú vạc tru tréo cầm canh, thay thế tiếng chó gà báo thức. Pháp trường cây xoài quéo, nơi ngã ba vào Nghị Đức như còn ẩn hiện các hồn ma oan khiên Việt Nam Cộng Hòa bị Việt Cộng kết tội Việt gian, đem xử giảo rồi quăng xác xuống suối cho thú dữ ăn. Máu người hòa với nước mưa làm cho nước lạch lúc nào cũng đỏ thắm không bao giờ cạn và đổi màu.


Nhiều dãy lều Kinh Tế Mới được các nghĩa vụ lao động dựng vội vã cho đạt chỉ tiêu, dọc theo hai bên đường cho tới bìa rừng. Không biết phải dùng cái danh từ gì để gọi nó cho hợp lý, vì láng cũng chẳng phải là láng mà nhà lại càng kỳ cục vì chỉ có mái lá lợp thưa thớt nên các tia nắng mặt trời ban ngày hay ánh trăng đêm tha hồ nằm bên trong thưởng thức. Thảm nhất là hàng cột con ốm yếu, khẳng khiu như kiếp cơ hàn của người dân Việt trong xã nghĩa, chỉ chực gãy mỗi khi gió rừng nổi giận. Chỉ có cái nền nhà là được khai quang, còn bên ngoài cỏ lau xanh ngắt. Đồ đạc, người ngợm bị vứt bên đường, ỳ ạch khuân vác vào địa điểm vừa bốc thăm nhà, đã muốn ngất ngư chết xỉu. Tội nghiệp và thảm thê vô cùng là các gia đình quân công cán cảnh Việt Nam Cộng Hòa có chồng đang còn tù tội, chỉ có một góa phụ và mấy đấng trẻ nít, làm sao đúng tiêu chuẩn lao động sản xuất đây, vậy mà cũng bị hốt lên rừng để xây dựng kinh tế mới.


Mọi sự rồi cũng phải qua, dù thích hay không muốn. Lấy sức người sỏi đá cũng thành cơm, thì sá gì phần ruộng dành cho người Phan Thiết. Kinh Tế Mới lúc đó vẫn còn đắm chìm dưới biển lau sậy, tận hồ Lạc, dưới chân núi Bảo Đại mù mịt hơi sương. Ngày tháng vùn vụt lướt nhanh, người người phờ phạc vì lao tác và thiếu dinh dưỡng. Dầm mưa đội nắng, suốt ngày ngâm mình trong bùn, sình, nước đục, cuốc, đắp, phát quang... quanh đi quẩn lại, từ 5 giờ sáng thức giấc theo tiếng kẻng gọi hồn cho tới tối mù mịt mới mò về nhà, cũng bấy nhiêu thôi. Tình cờ soi gương, thấy mình như đổi khác, ta đã thành sơn nhân, thành tên ma đói chập chờn vất vưởng trong cõi đời trầm thống não nùng. Thương sao là thương mấy bà, mấy cô em học sinh trung tiểu học năm nào, ngây thơ, bé bỏng, phải xếp bút nghiên theo cha mẹ đi lao động. Mệnh phụ, tiểu thơ, thanh tân, đài các, mắt phượng da ngà, chỉ sau một thời gian ngắn dầu dãi phong trần, tất cả biến thành cô gái lọ lem, quần áo rách rưới, da dẻ xám xịt gầy gò, khấp khểnh vác cây cuốc xã hội chủ nghĩa cao hơn đầu người, tức tủi thương cho phận hồng nhan đa truân, giữa buổi đất trời nổi cơn gió bụi, khóc thét khi đỉa vắt bám vào chân, đùi, nước mắt ràn rụa như không bao giờ vơi trên các khuôn mặt đẹp của một thời hoa bướm, nay chỉ còn hốc hác, héo mòn. Đàn ông, thanh niên, thương gia, trí thức, dân lao động, làm biển... cũng đâu có sung sướng gì. Tất cả lết lê quằn quại trong địa nguc trần gian. Thần chết cũng đánh hơi bạo lực, bắt đầu đến với người Kinh Tế Mới. Thôi thì đủ thứ, từ chuyện phong thổ u uất ẩm thấp, nước uống thức ăn thiếu vệ sinh và chất bổ dưỡng, muỗi rừng ào ạt tấn công người gây bệnh thổ tả và các loại sốt chết bất đắc kỳ tử. Ngoài bệnh tật, còn chết vì đốn cây, chặt tre vô ý, đi ruộng không coi chừng bị rắn độc cắn cũng chết, đói quá ăn rau nấm bậy bạ trúng độc cũng chết, mìn chông hố bom lựu đạn ngày xưa để lại, thỉnh thoảng nổ bậy, ai bất hạnh trờ tới đúng lúc cũng chết.


Tang tóc, lầm than, khổ đau và nhục nhả vây kín người Phan Thiết bị hốt đi Kinh Tế Mới trong giai đoạn này. Hỡi ơi những năm tháng đời quân ngũ, ta đã chôn người thật nhiều, chôn xác bạn trên chiến trường vội vã, chôn xác thù giữa trận địa hoang liêu. Rồi qua nhiều lò cải tạo, nay đến miền kinh tế mới, lại tiếp tục lo việc chung thân cho bao nhiêu người, nào đồng đội, đồng bào, thân nhân, bằng hữu, tất cả chỉ có hai bàn tay, vài thanh tre, một cái hố thẳm, gói ghém một đời người bất hạnh trót sinh nhằm thế kỷ, ngủ yên trong manh chiếu rách hay chiếc mền tả tơi, bụng rỗng xương sống xương sườn đếm đủ. Tất cả chỉ là cát bụi, ‘sinh ký tử qui’, thế gian là cõi không không miên trường. Chôn người đâu có gì khó? nhưng đứng nhìn xác chết lạnh tanh, với cảnh thống khổ biệt ly giữa biển nước mắt, nghe lời nỉ non kể lể của quyến thuộc người xấu số, để làm như một kẻ dửng dưng không hề có tình người như người Việt Cộng là một điều cười ra nước mắt:


‘... sao thấy cay xè trên chót môi

rờ tay mới biết lệ mình rơi,
đời người, sinh tử là qui, ký
thì có gì đâu phải rã rời?’

Thế là hết, những người Phan Thiết một đời bỏ đi làm cách mạng, chỉ mong mang lại no cơm ấm áo cho đồng bào mình nhưng họ đã lạc lầm chạy theo chủ nghĩa ngoại lai, nhắm mắt tuân theo mệnh lệnh của cộng đảng quốc tế từ Mạc tư Khoa, Bắc Kinh, Hà Nội, mang thương đau về cho xứ sở, chốn chôn nhao cắt rún, cho thâm tình bằng hữu và mọi gia đình, để đổi lấy chút tem phiếu và quyền lợi thừa mứa do đảng và nhà nước vung vãi khi đã ôm ngập tới đầu. Đói, chết, tuyệt vọng trùng trùng đã khiến cho người Phan Thiết quật cường trở lại. Thế là bất chấp du kích công an, đồn canh trạm gác, kiểm soát khắp nơi như thiên la địa võng, mọi người khăn gói bồng bế nhau trở về. Đây là cuộc di tản cuối cùng của người Việt Phan Thiết sau ngày mất nước 30-4-1975.


Từ đó Phan Thiết trở thành quê hương của đói rách lầm than. Người người dửng dưng trước thời cuộc, nhắm mắt xuôi tay chấp nhận kiếp số. Phó mặc cho đảng và cán bộ đẩy đưa, xếp đặt, coi như mình không có hiện diện trong cõi đời này. Phố Gia Long, nay đổi thành Nguyễn Huệ, nhưng có mang cái tên gì chăng nữa thì đó cũng thành khu chợ trời công khai, người ta, kể cả cán bộ Bắc hồi kết Nam, mang những thứ của công chiến lợi phẩm hay mua rẻ hoặc móc ngoặc từ quốc doanh, nhà kho... ra bán cho phó thường dân với giá cắt cổ. Đây cũng là chốn bàn bạc áp phe và toan tính chuyện vượt biên, vượt biển. Aùo rách bạc mầu vá víu chen lẫn với bò vàng cán ngố, cười đó rồi trở mặt đó, tuồng hát cứ quay tít trong sự lường gạt đấu trí với nhau để sống còn. Riêng các nạn nhân Kinh Tế Mới, bắt rồi thả, sáng nay đẩy lên xe về rừng, mai mốt đã thấy xuất hiện nơi phố chợ. Nhà tù chật cứng, tư cách gì bắt dân thường đi cải tạo, hơn nữa chỉ tiêu Tỉnh đã đạt được 150%, nhà của Họ cũng đã bị chiếm, thôi làm lơ cho yên việc. Từ đó quán cà phê mọc lên như nấm vẫn không đủ chỗ cho người thất nghiệp. Nhà ga xe lửa Phan Thiết, vườn hoa đường Nguyễn Hoàng, bến cá Cồn Chà... thành khách sạn miễn phí của người tay trắng từ Kinh Tế Mới chạy về. Ngày tỏa ra khắp nơi kiếm ăn, tối tụ lại ngủ chung tập thể khắp sân ga, hiên người, tắm nước sông, uống nước máy, biến thành con ma chơi, kẻ tha nhân ngay chính trên quê hương do Tổ tiên, cha ông và ngay bàn tay gầy dựng của mình.


3-RỦ NHAU BỎ XỨ MÀ ĐI VƯỢT BIỂN :


Người Bình Thuận đã bỏ xứ mà đi ngay khi giặc về đêm 18-4-1975, đa số là người Bắc di cư ở các phường ven biển như Thanh Hải, Phan Rí, Vĩnh Thủy, Vĩnh Phú và nhất là Bình Tuy. Từ những năm 1977 tới 1980, đảng Cộng Sản qua công an và hải quan ‘bán chính thức’ tổ chức vượt biển để lấy vàng, dù trước đó, luật pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, luật hình sự, điều 85, mục 2 và điều 88, xử phạt nặng kể cả công an, cán bộ cưỡng ép, xúi giục người trốn ra nước ngoài. Năm 1977 khởi đầu thử nghiệm chuyện xuất cảng người, mà đối tượng là giới tài phiệt Việt-Hoa, theo thời giá mỗi đầu người 10 lạng vàng y, trị giá 4000 đô la Mỹ. Cũng trong năm này, Phan Thiết có tổ chức đi bán công khai nhưng sau đó dẹp luôn vì ai cũng muốn đi chui, vừa rẽ lại an toàn.


Có một điều tréo cẳng ngỏng là Bình Thuận là nơi có nhiều cửa sông, bến cảng, ghe thuyền lớn và rất nhiều, nhưng hầu như có ít tầu ghe vượt biên, ngoại trừ số ra đi năm 1975. Tại trại Pulau Bidong, từ năm 1977 cho tới 1980, có tới mấy trăm tàu vượt biên, nhưng ghe Bình Thuận chỉ có chừng 5 chiếc, một là tàu đi bán công khai năm 1977, số còn lại là chiếc giã Nùng Phan Rí, I chiếc khác mang số Phan Rí là tàu quốc doanh và chiếc duy nhất có 32 người Phan Thiết, đi ngày 31-10-1978 tại bãi Thương Chánh, mang số PT1109, là tàu số 100 của trại Bidong, Mã Lai Á. Vào tháng 9/1978, lợi dụng Việt Cộng Bình Thuận no say ăn mừng, một chiếc tàu đánh cá hạng trung tại Bình Hưng, chở trên 200 người, công khai ra biển vào ban ngày. Chiếc tàu vượt biên may mắn trên lại gặp may mắn lần nữa khi tiếp cận với một chiếc tầu dầu Mỹ, tất cả được vớt và gởi tạm thời tại một trại tị nạn ở thủ đô Jakarta, Nam Dương.


Sau này, nhiều người Phan Thiết vượt biển kể rằng sở dĩ họ không dám vượt biên ở tỉnh nhà vì hầu hết những người có tàu thuyền tại địa phương rất gian xảo, đồng ý tổ chức lấy vàng, rồi đi báo công an, sau đó tiếp tục làm lại từ đầu. Nhưng theo dân biển, thì họ cũng bị người đi vượt biên gạt bằng cách chung vàng giả, chỉ có lớp vàng mạ ở bên ngoài, bên trong là chì, bạc hay là đồng. Tóm lại ai thật ai giả, không biết đâu mà mò. Nhưng có điều chắc chắn là từ sau năm 1980, gần 90% các chủ ghe tàu Bình Thuận đã đem tàu thuyền của họ ra đi không trở lại, mãi tới đầu năm 1990, khi Đông Aâu, Liên Xô giã từ thiên đàng xã nghĩa, Việt Cộng đói quá chịu mở cửa đón Việt kiều khúc ruột xa khơi trở về, các chương trình đoàn tụ gia đình, diện con lai, HO... và trên hết quốc tế chấm dứt nhận người vượt biển, người Bình Thuận mới chịu chấm dứt mộng du học ngoại quốc bằng đường biển.


Lai thêm một năm buồn ly xứ sắp tới, đêm nay trời Xóm Cồn bổng lạnh buốt, như những lời thơ thảm tuyệt của bạn già gửi từ Kinh tế mới Đức Linh tới :


‘thư bạn gửi từ vùng kinh tế mới

đến tay ta hơn sáu chục ngày dài
giọng đùa cợt như thuở chớm đôi mươi
nhưng bút mực làm sao che nước mắt
Đọc thơ bạn giữa đất trời cô độc
đêm nay buồn thổn thức với quê hương
thảm thương ơi bao bè bạn đoạn trường
giờ vẫn trả nợ trai thời tao loạn.

4- PHAN THIẾT SAU MƯỜI MẤY NĂM VƯỢT BIỂN


Trở về Phan Thiết sau mười mấy năm vượt biển, về để nhìn bằng mắt, nghe tận tai cuộc đổi đời bi thiết của quê hương Việt Nam qua thời gian sống dưới ách nô lệ của nhà cầm quyền cộng sản quốc tế Hà Nội.


Đường về quê hương trùng trùng vạn nẻo, chín giờ sáng máy bay rời Hạ Uy Di, bay vòng quanh Hán Thành, Đài Bắc, ghé Vọng Các trước khi về Sài Gòn. Mỗi địa danh tới như trăm nhát dao trí mạng, hằn sâu nhức nhối, khi tận mắt nhìn thấy xứ người nơi nào cũng sang giàu rạng rỡ, xe cộ dập dìu, người người ấm yên hạnh phúc. Còn Việt Nam chỉ mới có 20 năm qua, sống dưới gót sắt của cộng sản, mà tan nát đói nghèo, ngu ngơ lạc hậu, còn thua xa cái thời bị nô lệ giặc Pháp.


Thế mới biết:


‘đôi dép râu dẳm nát đời trai trẻ,

mũ tai bèo che kín nẻo tương lai’

Hăm ba tháng chạp trời chớm vào xuân, nhưng có lẽ vì còn tiếc rẻ nên vẫn có những giọt mưa rơi rớt. Tại Hán Thành, tuyết rơi trắng muốt, đứng trong phòng đợi của phi trường, vẫn còn nhìn thấy rõ những lâu đài, dinh thự san sát như nêm, xe cộ nối đuôi nhau trên xa lộ tưởng chừng như bất tận. Phi trường rộng thênh thang, hành lang dài ngút mắt, sạch sẽ ngăn nắp, tối tân và lịch sự. Rồi thì Đài Bắc, mọi thứ cũng văn minh to lớn như Đại Hàn, người người phương phi, áo quần tề chỉnh. Sau rốt là Vọng Các, kinh đô của Thái Lan, xứ mà năm nào Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn coi là nơi lạc hậu, nay vươn mình lên thật lớn, thật cao như anh khổng lồ, đứng bên chú lùn Cộng Sản Xã Nghĩa Việt Nam, chuyện y như tuồng cổ tích mà lại là sự thật.


Đợi chờ, hồi họp lo sợ rồi cũng phải đến, khi 2 giờ 15 phút, máy bay Thái Lan rời Vọng Các đi Sài Gòn. Năm đó là năm 1995, trong phòng đợi có hơn 300 Việt kiều từ muôn phương hồi hương. Trai như gái, già lẫn trẻ, ai cũng diện thật đẹp, áo quần chải chuốt, dung nhan diễm lệ, vòng vàng chói mắt và cười nói vui vẽ. Y chang như cảnh quan trạng hồi hương vinh quy bái tổ mà trong các tuồng tích, kịch, cải lương xưa nay trình chiếu. Nhìn quái tượng này, đố ai biết được họ đã là nạn nhân của một chế độ bạo tàn, đã dở sống dở chết khi đi kinh tế mới, trốn vượt biên, vượt biển, bị bão tố, sóng gió và hải tặc Thái Lan hành hạ trăm chiều. Nay thì tất cả trở thành quá khứ, giàu có văn minh, bằng cấp cao, địa vị xã hội nơi đất nước được trọng vọng, khiến cho tất cả vội lau đi những giọt lệ chưa khô của kiếp đời nhược tiểu Việt Nam, biết rằng có nhiều thương đau còn đón đợi nhưng vẫn cứ cho đó là một giấc chiêm bao miên trường.


Vọng Các - Sài Gòn 1 giờ 45 phút bay vòng ra vịnh Thái Lan. Đây là quê hương thân thương miền Nam, bốn hướng ngút ngàn vườn tược ruộng đồng, sông ngòi và kênh rạch. Nơi làm chơi ăn thiệt, kể cả thời Pháp thuộc bị thực dân và cường hào ác bá bốc lột. Vậy mà người vẫn đói xanh mặt, khiến cho nhiều người phải chen chúc trong làn sóng tị nạn để tị nạn kinh tế. Nếu không nghe chính miệng các nạn nhân xác nhận, thì ai cũng bảo đó là chuyện phong thần.


Rồi thì cũng tới phi trường Tân sơn Nhất, máy bay đang hạ thấp từ từ để vào phi đạo, nên ai ai cũng tranh giành ghé mắt vào các ô cửa kính để nhìn lại quê hương dấu yêu sau bao nhiêu năm xa cách, nhưng ai cũng ủ dột trước nỗi tang dâu. Cảnh vật vắng vẽ dường như chưa được sửa chữa nhiều. Phi cơ độ chừng vài chục chiếc đậu rải rác khắp nơi. Giờ này mới thật là giây phút nghẹt thở, khiến cho cả máy bay im lặng như tờ. Thì ra ai cũng sợ, vì có ai biết được chuyện gì phải xảy ra dưới chế độ xã nghĩa? Hai chiếc xe ọt ẹt của Air Việt Nam cũ ra đón khách, quang cảnh khắp nơi có phần thay đổi, quẩn quanh vắng bóng công an bộ đội áo vàng áo xanh, răng thưa má hóp, cũng không còn các bảng hiệu vô duyên vàng đỏ năm nào, không có hình Hồ và cờ liềm búa giăng giăng. Tất cả đã được ngụy trang và sơn phết gọn ghẻ, đã mang mặt nạ người, đã trở nên hiền khô, làm cho khách hồi hương phần nào yên tâm trở lại.


Về thủ tục nhập nội, đầu tiên là màn nộp giấy tờ để kiểm soát đóng dấu. Sài Gòn đang cuối đông nhưng vẫn nóng chết người, tội nghiệp nhất là mấy ông mấy bà, các cô các cậu diện đồ lớn và tô son trét phấn hơi dày, mồ hôi chảy như suối vì phòng không được rộng và hệ thống quạt máy không đủ sức điều hòa không khí nên bị nóng chết bỏ. Có tất cả sáu ngõ nhập nội, mỗi ô một công an kiêm hải quan, dòm dòm ngó ngó lật qua lật lại sổ thông hành để kiếm tiền hối lộ của nạn nhân. Sau màn đó chỉ vào sáu cái bàn cuối cùng có sáu cán gái ngồi kiểm tra hành lý. Cũng có máy dò tìm như ở Mỹ nhưng ở đây ai hơi đâu làm chuyện ruồi bu, tốn công, mất thì giờ vì có đô là xong mọi chuyện. Vì vậy trước khi hồi cư bái tổ, bạn bè về trước, mách thuốc ‘phải bỏ đô vào sổ thông hành để đóng tiền mãi lộ qua ải mới xong’, thế nhưng dù có bỏ 10 đồng, cô Bắc Kỳ nho nhỏ vẫn la ó ‘sao mà ít quá vậy, anh tới hai va ly’, nghe rét quá, vội góp thêm một chục nửa, mới được em ra lệnh ‘đủ rồi mau ra để cho người khác còn vào’. Miệng em nói, hai tay xua đuổi như thầy pháp đuổi tà, khiến hai tay phải khệ nệ khiêng hai va ly nặng ra cửa muốn ngộp thở.


Sài Gòn đây rồi, Sài Gòn năm xưa của thời tuổi nhỏ, khi ta cùng dăm đứa bạn bè Phan Thiết rong chơi, hí hửng chọc phá những cô em gái nhỏ cùng quê đang theo học tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Mùa hạ ngày xưa ở nay là những hạnh phúc thần tiên đong đầy, qua từng trang lưu bút, ấp ủ các cánh hoa phượng nở mềm với đôi giọt lệ nhỏ tình cờ của đám học trò sắp lớn, sắp bước vào đời để bỏ nhau mà đi. Rồi còn những mùa thu tựu trường, mùa thu ở Sài Gòn cũng giống mùa tựu trường tại Phan Thiết, hay thường có mưa bụi lất phất bay bay, làm kẻ tình si lại phải rớt những giọt lệ tương tư bất chợt trong các bài thơ ướt sũng sầu buồn. Nhưng tất cả đã rơi vỡ trong những ngày lửa loạn quê hương. Trai trẻ xếp bút nghiên lên đường, lao vào cơn mộng dữ, lửa cát, trận mạc và nỗi thương đau chất chứa hằng hằng. Sau đó là những ngày phép ngắn ngủi từ Củ Chi, Trảng Bàng, Tây Ninh, Bình Long, Bến Cát... vội vã về Sài Gòn để một mình lang thang trong đêm trường cô tịch, rét ngọt của Sài Gòn, qua từng con phố cũ, mái trường xưa và nơi chốn thân thương suốt thời gian trọ học mà nay chẳng biết đã lưu lạc phương nào. Phi trường Tân sơn Nhất trước năm 1975 là một trong những phi cảng sầm uất nhất tại Đông Nam Á. Năm 1995, cũng khá đông đảo náo nhiệt, có nhiều xe hơi đưa rước du khách và Việt kiều. Đứng trên phần đất cũ của SĐ5KQ buổi trước mà hồn không khỏi bùi ngùi, khi nhớ tới bạn bè một thời tuổi lính, chén tạc chén thù tại câu lạc bộ Huỳnh hữu Bạc, mỗi lần có dịp ghé ngang hay về phép. Đời biển dâu vẫn còn đó mà cố nhân thì đã biền biết bốn phương trời, ai còn ai mất nào ai đã nhớ đến ai? Chỉ còn ta nay đứng bơ vơ giữa Sài Gòn, nhìn chiếc lá vàng cuối đông tả tơi rụng úa. Hỡi ơi Sài Gòn đã già nua thật rồi, dù đã được son phấn trét vá loẹt lòe và sự quảng cáo quá mức của những tâm hồn xã nghĩa đang sinh sống nơi đất tự do. Nhiều Việt kiều mang tiền về quê hương để trả thù lại hồi lao lực, đều không tiếc lời ca tụng Sài Gòn nay văn minh tiến bộ gấp trăm lần Sài Sòn năm 1975. Phải, Sài Gòn đã đổi mới hoàn toàn, từ cung cách ăn chơi, chữ nghĩa cho tới mọi thứ. Chỉ việc tìm đường cũng thấy ngổn ngang với những cái tên vừa lạ hoắc, lại cục mùa như từ muôn trăng thế kỷ hay ở một hành tinh nào khác, khiến khách lữ hành không biết đâu mà mò, dù trong tâm thức mơ màng, man mác cho đó là nhà của người quen. Rồi tơ vương lại nhớ tới hai con đường đã đi vào lịch sử của Sài Gòn qua hai câu thơ bất hủ của tác giả vô danh nào đó nơi chốn nhân gian, lúc Sài Gòn bị cưỡng hiếp tập thể để đổi tên, thay đường:


‘Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tiêu Công Lý,

Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do’

Sài Gòn văn minh nơi các khách sạn, khu du lịch và khắp các chốn giải trí công cộng, dành cho người giàu sang, du khách, Việt kiều. Còn tuyệt đại đồng bào Sài Gòn đổi mới, càng lúc càng bị xua đuổi mất hút trong các hẻm hóc ngõ cụt, xóm lao động nghèo cực tối tăm như hàng trăm năm trước. Những nơi này chắc chắn những nhà báo ngoại quốc, những Việt kiều thân thương chẳng bao giờ dám đặt chân tới, dù trước khi vượt biển, vượt biên, số lớn Việt kiều như hình xuất thân từ chốn bùn lầy nước đọng hay nơi các xóm nhỏ đìu hiu nghèo nàn.


Thôi tạ từ Sài Gòn đổi mới, cũng xin tạm biệt phi trường Tân sơn Nhất với vô vàn quá khứ thân thương, chiếc taxi thuê bao cũ từ thời Bảy Viễn còn làm trùm sòng bạc Kim Chung, cũng bon bon đi Phan Thiết. 1975-1995, vậy mà cũng hai chục năm rồi đó, giờ mới lại đi trên những con đường quen thuộc đô thành. Cũng cảnh xe cộ đủ loại len lách, chen lấn, qua mặt, rượt đuổi giống như trên truyền hình Mỹ, đôi lúc làm cho người ngồi phải xanh mặt vì hãi sợ tai nạn xảy ra, nhất là lúc xe ra tới xa lộ Biên Hòa. Đường về miền Trung mịt mù sương khói, bao nhiêu năm dời đổi, nay mới hít lại được hương hoa đồng nội, mùi hoa bưởi, hương lúa mới, khiến cho hồn viễn xứ bâng khuâng chìm đắm trong màn lệ dỉ vãng, qua những giây phút tử chiến cuối cùng của người lính trận Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Rồi thì Long Bình, Hố Nai, Bầu Cá, Trảng Bom, Hưng Lộc, Dầu Giây... in đầy gót giầy sô của Trung Đoàn 43 BB, nơi nơi giờ vẫn cũ kỹ như năm nào. Nhiều chứng tích của cuộc chiến cũ, nguyên vẹn qua nhiều nhà phố với sự tàn phá của bom đạn, theo thời gian trơ gan cùng tuế nguyệt. Nhưng bạn bè, đơn vị thì xa rồi, doanh trại hoang vắng bước chân người. Xe đã về tới Xuân Lộc, phố vẫn đìu hiu như buổi xưa, rừng cao su bao quanh ngun ngút, bụi đường mù mịt bóng mây, ngang qua đường xe lửa, cố tìm trong khoảnh khắc mông mênh một chút dư hương ngày cũ mà ta nhớ đã gói ghém và gởi trọn nơi này một phần tuổi mộng trăng sao với thơ rượu và người tình không trọn vẹn. Giờ trở lại thì tóc xanh đã ố với màu thời gian, và mảnh vườn hồn của người lính trẻ năm nào đã bị gió mưa bão táp của cuộc đời làm cho tan tác tiêu sơ.


Trời gần tối, xe mới về tới căn cứ 10 cũ nơi cây số 46, ngã ba Phan Thiết – La Gi. Từ xưa người Phan Thiết có thói quen, khi đi xa về lại cố hương, hễ nhìn thấy hai hòn Tà Dôn (bắc) hay Tà Cú (nam), thì coi như đã tới nhà, dù từ hai nơi đó về Phan Thiết còn xa lắc, xa lơ tới mấy chục cây số. Bởi vậy nên mãi tới tám giờ tối xe mới vào tới cổng chữ Y, phía nam thành phố. Thế là đúng mười lăm năm vượt biển, nay mới được về thăm quê mẹ với tâm hồn ngổn ngang trăm mối, lo sợ cho số phận bèo bọt của mình, dù rằng mấy ông bà đầu đội cối chân dép râu, vai lung lẳng cái xà cột năm nào, mà người Phan Thiết hay cả nước gọi là ma vương, ác quỷ, dù đó là công an, bộ đội hay là cán bộ phường xã, du kích tự vệ gì gì đó, khi bước vào nhà ai đều mang tới nỗi hãi hùng bất hạnh bởi không bị hạch sách, tra hỏi chuyện này chuyện nọ, thì cũng kiếm cho ra chuyện để moi tiền. Người dân miền Nam nói rằng, sà cột đi tới đâu, giống như chim cú báo điều tang tóc, điêu linh tới đó. Năm 1995, về Việt Nam, tại Sài Gòn rồi Phan Thiết, hết thấy quái tượng này, cũng bớt lo phần nào trong cuộc đời.


Phan Thiết đây rồi, bao nhiêu nhớ thương chờ mong háo hức dồn lên đôi mắt, dẫn ta về lại con phố cũ, thời gian xưa của tuổi thơ hoa bướm ngọt ngào. Như đâu đó có ai vừa ru lên một bản tình ca, chào đón ta nay trở lại Phan Thành. Con đường Trần quý Cáp trước mặt, một đàng leo dốc dẫn tới nghĩa trang, QYV Đoàn mạnh Hoạch và phi trường, nhìn tới nhìn lui vẫn buồn bã âm u như thuở nào. Trái lại nẽo vào thị xã thì rực rỡ với hai hàng đèn lòe loẹt màu sắc của các gian hàng buôn bán đủ loại, nhưng nhiều nhất vẫn là quán nhậu và tiệm cà phê với nhạc vàng vọng ra tới phố. Trên đường chen chúc xe cộ từ ô tô, xe gắn máy, xích lô, xe đạp cho tới chiếc xe bò cũ kỹ, lóc cóc vành bánh gỗ lăn trên mặt nhựa. Rồi thì đại lộ Trần hưng Đạo, rạp Hồng Lợi, Trường Nam, cầu mới, tòa Hành Chánh, Tiểu Khu, xa lộ... tất cả lần lượt hiện ra như một cơn mơ khiến ta thêm bỡ ngỡ khi quê hương hiện ra trước mắt, một quê hương đổi thay xa lạ quá não nùng.


‘Cọp cán bộ vừa tàn thì ma chủ hụi hiện đến’, trong vở tuồng ‘HỤI’ mà tất cả nạn nhân đều là dân nghèo và hậu quả cùng khốn của cái dịch giật này khiến cho cả nước rung động, người Phan Thiết hay chữ đã nói một lời chí lý: ‘Hụi nhẹ nhàng như quay tơ, thế mà sức tàn phá còn kinh khiếp hơn B52’. Theo tài liệu từ báo chí và bia miệng, thì dịch hụi bắt đầu hoành hành từ khi Nguyễn văn Linh ban lệnh đổi mới từ đầu năm 1990. Cũng bắt đầu từ đó, hầu hết tại các thành phố, đô thị lớn của Việt Nam từ Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẳng, Nha Trang, Sài Gòn xuống tới Mỹ Tho, Cần Thơ... mọi người từ dân chúng tới cơ quan, đơn vị công an, bộ đội,nhà máy, xí nghiệp, học đường... ai ai cũng bỏ hết công việc để theo hụi. PHAN THIẾT đứng đầu cả nước về hậu quả tai hại của trận dịch HỤI. Theo các báo xuất bản tại Bình Thuận, thì ngay khi hụi bể, mọi hoạt động tại thành phố coi như ngưng trệ, có 30 người phải tự tử vì lâm cảnh cùng khốn, không thể nào giải quyết nổi nợ nần, nhữngngười khác hoặc bỏ nhà cửa đi nơi khác trốn nợ hay xin vào tù để tránh cảnh hằng ngày bị các con nợ dày xéo, hành hung vì không biết đào đâu ra tiền để trả nợ cho mọi người. Cái đỉnh cao của vở bi hài kịch giật hụi tại Phan Thiết là do chính bọn cán bộ cao cấp nhất tại tỉnh là thủ phạm. Hai ổ hụi lớn nhất làm dân Phan Thiết ói máu, đều do cán bộ lãnh đạo tỉnh và ngành tòa án, công an chủ xướng: đó là chủ hụi THÁI NGỌC AN - TRẦN THỊ LÝ và băng DIỄM PHƯƠNG của vợ chồng Phan thị Xuân Phương. Cho đến nay không ai biết được các ông bà lớn của tỉnh, đã cướp giật của các ngân hàng và dân chúng là bao nhiêu, nhưng theo báo chí trong nước đăng tải, thì nạn nhân, hầu hết là người Phan Thiết, bị cướp giựt khoảng 2 tỷ đồng tiền Hồ và ngân hàng tỉnh Thuận Hải thì mất khoảng 70 tỷ đồng tiền Hồ, vì trong số 110 tỷ cho vay năm 1990, thì 95% số tiền cho vay được dân chúng đem chơi hụi. Số tiền lời có từ các chủ hụi trả lúc đầu, được dân chúng dùng ăn chơi và mua sắm phung phí. Các đường phố chính tại Phan thiết như Gia Long, Trần quý Cáp, Trần Hưng Đạo, Đồng Khánh... hằng ngày ứ nghẹn xe gắn máy, vì số xe tại các tiệm đều bán sạch. Các tiệm ăn, bia ôm, quán nhậu mọc lên như nấm và đông khách vì ai cũng có tiền hụi. Thế rồi tin cặp vợ chồng AM-LÝ bỏ trốn, ôm theo số tiền 2 tỷ 597 triệu tiền Hồ, làm Phan Thiết như nghẹt thở vì Thái ngọc An là bí thư Đảng tại Phan Thiết. Do trên hàng chục ổ hụi nhỏ tiếp tục cuốn gói và sau chót là băng Diễm Phương vở nợ. Băng Diễm Phương là băng hụi lớn nhất tại Phan Thiết, do Trần thị Tuyết, thẩm phán tòa án nhân dân Phan Thiết và vợ chồng Lê minh Quang, Lê thị Xuân Phương làm chủ. Đây cũng chỉ là một trong muôn ngàn tai họa mà người Bình Thuận gánh chịu từ năm 1940 tới nay. Riêng số phận của những cán bộ cao cấp sau vụ hụi không còn nghe ai nhắc tới, vì sóng sau đùa sóng trước, hàng hàng lớp sóng cách mạng đã tràn tới đây và lớp nào cũng cuồng bạo, hung ác, tàn phá dân hiền, khiến cho Phan Thiết cuối cùng chỉ còn trơ lại bộ xương khô, được tô son trét phấn, để có vẻ mới mẻ hầu câu khách du lịch và vốn đầu tư của ngoại quốc, Việt kiều.


Thực sự người Bình Thuận, Phan Thiết ngày nay, càng ngày càng đói rách thảm hại vì tất cả các nguồn lợi biển rừng sắp cạn kiệt. Người Bình Thuận xưa bây giờ chỉ là nhân chứng của một thời đại, còn chủ nhân ông đích thực từ rừng xuống biển, tại Phan Thiết cũng như ở thôn quê, đâu đâu cũng lọt vào tay cán bộ miền Bắc và thương nhân ngoại quốc, với các hợp đồng hợp doanh ký thế chấp đất đai vô tội vạ. Cái gì cũng phải trả thuế, kể cả việc đi bộ và cỡi xe đạp trên quốc lộ 1 vừa mới hoàn thành, đoạn đường ngang qua lãnh thổ Bình Thuận.




(trạm thu thuế trên quốc lộ 1 tại cây số 21, nam PT)


Sau ngày vượt biển trở về, nhìn Phan Thiết cái gì cũng thấy lạ và một trong những điều lạ lùng nhất là sự bệ rạc của các ông hoàng bà chúa một thời tại khu phố, ấp phường, kể cả mấy ông vua không ngai công an khu vực. Họ bây giờ còn tệ hơn phó thường dân, vì nghèo đói thất học và lết lê không ai muốn nhìn, bởi trót gây quá nhiều nợ với đồng bào mình. Còn mới thì cái gì cũng mới, ngay cả con hẻm dẫn vào xóm nhỏ ngày xưa, vì lớp bạn bè cũ trước năm 1975, phần lớn đã lưu lạc bốn phường trời, còn những người hàng xóm cũng thế, hầu hết đều lạ hoắc. Tuy nhiên dù cũ hay mới, là người Phan Thiết hay tới từ một địa phương khác, tất cả đều để lộ sự chán ghét và khinh bỉ cộng sản ra.


Xóm Cồn, Chạp 2005

MƯỜNG GIANG/viet.no

những tiếng khóc hờn ai oán

30-4-1975
và những tiếng khóc hờn ai oán


Tôi đang đứng trên một bờ ruộng cạnh quốc lộ 1 hướng về Tây Ninh. Phía sau tôi là cây cầu cũng mang tên là cầu Bông trùng tên với cây cầu trong khu Đa Kao của thành phố Sài gòn. Cây cầu này là mốc địa giới giữa quận Hốc Môn của tỉnh Gia Định và quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa. Trên các thửa ruộng sau hàng cây Trâm bầu thấp thoáng những chiếc xe tank M 113, M 48 mà binh sĩ Sư đoàn 25 Bộ binh đã bỏ lại sau khi tan hàng tập thể trong hơn tháng trước. Trí óc của một thanh niên mới vừa 18 tuổi tôi và Trí người em con cậu háo hức rảo bước vào các chiếc xe này. Trèo vào các chiếc xe tăng mà nghĩ về hình ảnh những người lính đã từng ngồi tại đây trong các chiến trận. Súng đạn vẫn còn nguyên trong xe và trên các bờ ruộng.

Là dân sống ở Sài gòn tôi theo mẹ về dưới vùng Hốc Môn này để tìm mua ruộng đất làm ăn trong buổi giao thời thay vì chờ nhà nước CS đưa đi vùng kinh tế mới. Có tiếng lên đạn. Tôi nhìn chung quanh và thấy vài thanh niên khác cũng chạc tuổi tôi đang cầm một cây M 16 trên tay. Một thanh niên đang chỉ dẫn cho bạn mình cách sử dụng cây súng rồi tiếng bấm cò, tiếng kim hoả mổ vào chỗ trống. Súng không có gắn đạn. Lập lại các động tác đó vài lần rồi họ vất cây súng đó trên bờ ruộng, kéo nhau đi.

Trí nói với tôi: Mình ráng kiếm xem coi có cây Côn nào không. Trí óc thanh niên ai cũng thích sở hữu một súng lục trong tay nhưng chúng tôi lục tìm trong các chiếc xe nhà binh này mà không tìm được cây súng Côn nào cả. Chúng tôi đi trở ra ngoài đường lộ. Một phụ nữ mặc áo trắng đang lui cui nhặt tìm một cái gì đó gần lề đường. Tiến lại gần người phụ nữ này. Bà đang xem từng tấm thẻ Căn cước quân nhân, Thẻ bài kim khí, Thẻ giấy lãnh lương của lính...nằm vương vãi trên đường và các cạnh bờ ruộng. Mắt người phụ nữ này đỏ hoe. Tôi hỏi :

- Dì kiếm gì vậy hả dì?

Nhìn chúng tôi, người phụ nữ trả lời: Chị xem coi có giấy tờ của anh ấy không? Chiến tranh chấm dứt rồi mà không thấy ảnh về. Thì ra chồng người phụ nữ này là một chiến binh Biệt động quân tăng phái chiến đấu trong khu vực Hốc Môn-Thành Ông Năm này trong những này cuối của chiến. Rồi nhìn chúng tôi, người phụ nữ kể :

- Ảnh tên Tia, Nguyễn văn Tia... Các em có thấy tấm thẻ bài hoặc giấy tờ nào tên Nguyễn văn Tia thì đưa cho chị nha. Rồi lầm bẩm: Anh Tia ơi* Anh ở đâu sao không về. Một mình em với các con biết làm cái gì bây giờ đây hả anh? Chúng tôi đi dọc theo các bờ ruông này. Dưới ngay một trụ điện ven đường, một hố cá nhân đã được ai đó lấp vội nhưng vẩn còn thấy các mảnh thân xác của một tử sĩ nằm bên dưới. Chúng tôi vội lùi xa khi luồng gió đồng từ đâu thổi đến làm bốc lên mùi tử thi bị rữa. Nằm không xa, một nấm đất mà ngay phía trên đầu là một cây súng M 16 cắm ngập xuống đất với chiếc mũ sắt lính chụp trên báng súng. Hình ảnh nấm mồ với cây súng này y chang trong một cảnh phim chiến tranh lúc tàn cuộc. Có tiếng người phụ nữ khi nãy gọi chúng tôi. Chúng tôi quay lại. Tôi nhìn khuôn mặt bà. Một phụ nữ miền Nam tuổi khoảng 40. Vẻ nhẫn nại chịu đựng với chút thoáng buồn của người vợ lính làm tôi tự dưng có cảm tình với bà. Bà hỏi chúng tôi :

- Các em có biết lính còn đóng quân ở đâu nữa không? Các em có nghe có thấy nơi nào trong vùng này lính quốc gia vẫn còn chiến đấu chưa ra hàng không? Chỉ cho chị biết đi.

Trí trả lời: Lính hay đóng trong khu rừng Điều lắm... Mà khi đó chứ bây giờ chắc không còn ai nữa đâu dì ơi.

Mắt người phụ nữ sáng lên, nhìn Trí, miệng lắp bắp hỏi dồn: Rừng Điều* Lính đóng ở đó hả? Cách đây bao xa? Làm sao đi vào đó được? Hay là em vào đó tìm anh Tia giúp chị đi. Chị gửi tiền cho em ngay bây giờ. Đi ngay đi em, giúp chị đi mà. Tội nghiệp chị.

Rồi người phụ nữ khóc nhìn chúng tôi. Tôi nhìn thằng Trí dò hỏi. Nó im lặng chốc lát rồi lắc đầu nói:

- Không còn ai trong đó nữa đâu dì ơi * Cháu biết rõ như vậy với lại muốn đi vào đó phải có xuồng chứ lội bộ sình lầy không được.

Người phụ nữ mắt đỏ hoe vẫn cứ nài nỉ thằng Trí giúp rồi thấy không được bà quay qua nắm tay tôi van nài:

- Giúp chị nha em. Tôi nghiệp chị mà. Chị đâu có biết đường đi vào đó đâu.

Tự nhiên nước mắt bắt đầu rỉ ra từ mắt tôi. Tôi nói với bà:

- Dì ơi* cháu ở Sài gòn mới về đây có ít ngày hà. Cháu cũng không biết chỗ đó đâu. Nếu biết thì... nhưng chưa nói hết câu thì thằng Trí đã kéo tôi đi chỗ khác. Đi một quãng khá xa nó nói:

- Anh đừng nhận lời giúp bả. Làm sao mà đi vào đó được. Gần hai tháng giải phóng rồi, không còn lính nào sống ở trong đó hết. Em biết rõ như vậy.

Tôi quay đầu nhìn lại, người phụ nữ tay vẫn vẫy chúng tôi trong tiếng khóc.

Tiếp tục đi dọc theo trên đường. Đằng trước mặt có một chiến xa M 113 nằm sát bên rặng cây Bình bát ngay gần vệ đường. Tôi và Trí tiến lại. Nhìn qua cửa mở toang phía sau, chiến xa này có nguyên cả một cây súng Cối khá lớn còn nằm trong lòng xe. Tôi định trèo vào xe thì mũi ngửi một mùi xác chết. Nhìn kỹ một thi hài lính chiến nằm ngay trên sàn xe sát cạnh chân đế của cây súng Cối. Tiếng ruồi vo ve gần bên. Không có dấu vết đạn nào trên thân xe tăng. Như vậy, người chiến binh miền Nam VNCH này chắc chắn đã tự sát chết.

Bỏ chiếc xe tăng, chúng tôi trèo lên cây cầu nhỏ tiến vào một con rạch thông thương với con kênh chính sát gần mặt đường. Dọc theo con rạch này, những bụi hoa Sim dại tím sẫm đung đưa theo gió chiều. Có cái gì nổi lùm xùm trong các bụi Năng. Chúng tôi tiến lại xem. Một xác người đang trong giai đoạn rữa nát. Kinh quá* Chúng tôi đi tiếp để thấy thêm vài xác chết nổi dập dềnh đây đó. Những người này là thường dân. Chắc chắn như vậy vì họ mặc thường phục. Hầu hết là đàn ông nhưng cũng có xác của phụ nữ nữa. Trí kéo tay tôi chỉ về một cái xác nổi gần bờ hai tay bị trói chặt. Bước chồm sát tới để xem cái xác, chân thằng Trí đạp vào vài viên đất trên bờ làm chúng lăn tòm xuống nước. Nghe động, một đàn cá Rô bơi ra từ dưới bụng của xác người này . Trên lưng áo trắng bỏ vào quần vẫn còn dấu những vết đạn, máu loang lổ. Họ là ai và bị ai giết?

Rồi tôi thấy ở khá xa tuốt trong phía sâu có bóng hai người đang lui cui làm cái gì khuất sau các hàng cây Dứa dại cạnh bờ rạch. Tôi và Trí tiến lại. Một người phụ nữ và một cô gái tuổi thiếu niên đang cúi đầu đọc kinh lâm râm. Một tờ báo trải ngay trên mặt đất với ít bánh ngọt trên đó. Vài cây nhang đang cháy khói nghi ngút cắm gần một dép nhựa loại có dây quai gót phía chân trái. Tôi nhìn xuống con rạch. Xác một người đàn ông áo sọc ca rô nổi phình trên các bụi cây Năn-Lác mà chân phải vẫn còn mang dép. Tôi và Trí đứng yên lặng trong chốc lát rồi quay ra. Gió đồng mang mùi xác chết đến mũi chúng tôi. Một cái mùi đặc biệt không lẫn vào đâu được. Sau lưng tôi bây giờ là tiếng khóc than của hai mẹ con người này. Tôi nhìn cảnh vật chung quanh. Đồng quê buổi chiều thật êm ả. Vài cánh cò trắng bay chập chờn xa xa như trong các câu chuyện, hình ảnh về các cảnh đồng quê yên bình. Nhìn ra phía đường lộ, vài chiếc xe hai bánh, xe đò vẫn bình thản chạy qua. Không ai biết trên đường, người đi tìm tung tích chồng mình và trong con rạch này, người đang khóc than cho số phận của thân nhân mình. Hết chiến tranh mà sao vẫn mầu thê lương tại đây?

Trời đã chiều trên cánh đồng tàn cuộc chiến. Tiếng gió bây giờ thổi mạnh, rít từng cơn qua các cành cây kẽ lá như lời đang than van của các quả phụ miền Nam VNCH bại trận.

Tiếng ai oán hờn căm trong gió
Một tấc quê hương, một tấc người.

Viết để tưởng nhớ ngày 30-4-1975.
Phạm thắng Vũ
April 14, 2008.

" Dân Chủ là Tự Do Ngôn Luận " !

Về lại nhà tù lớn

The Economist, ngày 13/11/2010 Xuyến Như chuyển ngữ

Một lần nữa, Aung San Suu Kyi, lãnh tụ đối lập Miến được trả tự do trên lí thuyết. Đợt quản thúc mới nhất vừa kết thúc hôm nay, 13/11/2010, khi bà vừa mới được trả tự do tại Yangon lại bị bắt lại ngay vì bà dám tiếp xúc ngay với hàng nghìn người ủng hộ bà. Những lần trước, gọi là trả tự do thực ra cũng chỉ là nói mà chơi thôi. Nhà cầm quyền quân phiệt đã hết sức hạn chế hoạt động của bà nên chỉ xem như là họ trả bà về với nhà tù lớn thôi.

Bà Aung San Suu Kyi

Lần này, bà Suu Kyi trở về trong một bối cảnh chính trị đã có phần thay đổi. Hôm 07/11/2010 vừa rồi, lãnh đạo quân phiệt Miến tổ chức tuyển cử lần đầu sau 20 năm gián đoạn. Họ làm vậy chẳng phải là để giao quyền lại cho các chính khách dân sự đâu, mà thực ra chỉ là để cho đám quân phiệt tiếp tục giữ lại quyền lực. Thật thế, chính đảng của giới quân phiệt đã tuyên bố thắng lớn. Tuy nhiên, cuộc tuyển cử này ít ra cũng dè xẻn màu mè đa đảng trong một định chế toàn trị.

Câu hỏi đặt ra lúc này là bà Suu Kyi sẽ xoay xở thế nào trong bối cảnh chính trị mới này. Nếu dựa theo kinh nghiệm quá khứ thì có lẽ bà phải ứng xử như một chính khách. Theo lời luật sư của bà thì bà Suu Kyi sẽ không chấp nhận bất kì một hạn chế hoạt động nào trong thời gian tới. Bà đã hẹn với công chúng ủng hộ bà chiều nay rằng ngày mai, 14/11/2010, bà sẽ có lời tuyên bố chính thức với đồng bào.

Tuy vậy, chính đảng Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) nay đã chính thức bị giải thể, và giới quân phiệt trước nay không hề nhân nhượng với các hoạt động chính trị của bà. Họ rất căm giận vì bà có uy tín lớn với quốc tế – bà được giải Nobel Hoà Bình năm 1990 – nên đã ra sức trấn áp đối lập chính trị tại quốc nội, họ lo sợ rằng tiếng tăm của bà có thể đe doạ vị thế quyền lực của họ.

Ngay trước khi bà được trả tự do, hàng trăm người đã tụ tập gần nhà bà và quanh trụ sở của Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân Chủ (NLD) trước kia. Đây là một sự kiện đáng chú ý trong hoàn cảnh giới quân phiệt cố tình muốn thủ tiêu hình ảnh bà trên hệ thống truyền thông đại chúng do chính họ kiểm soát.

Nhưng bà Suu Kyi là một khuôn mặt đặc biệt. Sự kiện bà là con gái của Aung San, người anh hùng giải phóng cho độc lập quốc gia Myanmar, là một lợi điểm. Kế đó là vẻ duyên dáng của bà đã thu hút khối lớn công chúng khi bà từ Anh Quốc trở về nước năm 1988 để chăm nom thân mẫu bị yếu mệt. Ngay cả trong thời gian bị quản thúc tại gia, uy thế của bà đã giúp cho Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ thắng cử vang dội trong cuộc tuyển cử năm 1990, nhưng kết quả bầu cử không được tôn trọng. Và sự kiên trì sắt đá của bà trong suốt thời gian hai thập niên bị trấn áp càng khiến bà được công chúng quý trọng thêm.

Tuy vậy, không phải là bà không bị phê phán đâu. Đám quân phiệt xem ra quyết tâm giữ quyền lực, ngay cả sau khi đã tổ chức tròn trịa một cuộc tuyển cử giả hiệu để lập một chính phủ dân sự. Người ta trách bà là đã từ chối thoả hiệp. Năm 1995, bà đã rút Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ ra khỏi “nghị hội quốc gia” để thảo ra hiến pháp mới. Cuối cùng thì, như đã đoán trước, đám quân phiệt đạt được toan tính ban đầu: họ tiếp tục nắm quyền lực. Cuộc trưng cầu ý dân gian lận tổ chức năm 2008 đã thông qua kết quả này.

Năm nay, bà Suu Kyi lại quyết định là Liên Đoàn tẩy chay cuộc tuyển cử. Điều này dẫn đến việc Liên Đoàn bị giải thể, rồi dẫn đến phân hoá, vì một nhóm tách ra để tham gia tuyển cử. Có thể là họ có nguyên tắc, nhưng cả hai lần tẩy chay hẳn nhiên là sai lầm. Nó cho đúng, cả hai lần tẩy chay kia có thể tạo nên phần nào tính chính đáng nhưng cũng không tránh khỏi bị loại trừ.

Đây là lần thứ ba bà Suu Kyi được trả “tự do”, kể từ khi bà bị quản thúc năm 1989. Lần bà được trả tự do năm 1995 đã nhen chút hi vọng, khi giới quân phiệt cho phép thông tấn nước ngoài được gặp bà. Đã có lúc tưởng chừng bà được phép hoạt động chính trị. (Lần này thì thông tấn nước ngoài bị cấm, như là họ bị cấm trong ngày tuyển cử vừa rồi, và các toà đại sứ và tổng lãnh sự khá cực nhọc khi loại những kẻ thâm nhập dưới danh nghĩa “du khách”).

Giới quân phiệt chắc sẽ không cho bà đi lại thoải mái để gặp gỡ thành viên và những người cảm tình viên với Liên Đoàn. Năm 2000, bà đã bị giữ suốt 19 tháng. Mới được trả tự do vào tháng 12/2002, bà lại bị bắt lại năm 2003 vì họ quy tội cho bà là đã can dự vào cuộc tàn sát khi đoàn xe bà đi cùng lại bị bọn đầu gấu do phe quân phiệt thuê tấn công. Họ lại còn kéo dài thêm hạn giam lỏng bà vào tháng Năm năm ngoái khi quy tội cho bà vốn chỉ là nạn nhân của một vụ đột nhập mà một người Mỹ hơi bất bình thường, bơi qua hồ gần nhà bà và bảo rằng ông đến thăm bà theo lệnh truyền của thượng đế!

Lần giam giữ này hết hạn vào ngày 13 tháng Mười Một. Giới quân phiệt vẫn tỏ ra kiên định với sự cứng rắn của họ khi họ thiết định luật lệ trán áp. Có lẽ vì thế mà cuộc tuyển cử vừa qua đã được sắp xếp một tuần trước ngày trả tự do cho bà, cho đến ngay lúc này đây giới tướng lĩnh quân phiệt cũng chưa thể lường trước được là bà sẽ tác động đến công luận ra sao.

Đến đây, chúng tôi xin bày tỏ đôi ba ý kiến riêng. Chúng tôi đã hân hạnh được gặp bà vài lần vào những năm 1990, và vô cùng ngưỡng phục sự dũng cảm, vẻ nghiêm nghị và cả sự dí dỏm của bà. Người ta cứ vẽ ra hình ảnh của một Suu Kyi nguyên tắc nhưng cố chấp, chẳng biết nhân nhượng giới quân phiệt, quên rằng bà từng bị chính cánh đối lập chê trách. Lần bà được trả “tự do” năm 1995, lúc ấy ai ai cũng nghĩ tới thiện ý đối thoại và thoả hiệp với những người vẫn còn mơ tưởng rằng với thành quả tuyển cử vang dội năm 1990 thì sẽ chẳng bao lâu có thể quét sạch bọn quân phiệt. Bà Suu Kyi thực sự vẫn bám chắc nguyên tắc của Gandhi. Bà dứt khoát loại trừ giải pháp bạo động mà một số người theo bà hi vọng bà sẽ lãnh đạo để tạo ra cuộc cách mạng đối đầu giữa quần chúng và giới quân phiệt.

“Nên nhớ rằng sự linh hoạt và sự nhu nhược là hoàn toàn khác hẳn nhau”, bà đã nói với The Economist như thế vào lúc đó. Một sợi thép mạnh được là nhờ nó linh hoạt, chiếc đũa thuỷ tinh xem ra cứng cỏi đấy nhưng có thể gãy dễ dàng. Trong ngần ấy năm, bọn quân phiệt đã làm đủ trò để mong bà trở thành chiếc que thuỷ tinh. Xem ra họ chưa thành công.

------------


Aung San Suu Kyi : " Dân Chủ là Tự Do Ngôn Luận " !
- Nhữ đình Hùng -

Từ ngày thứ sáu 12.11,đã có những tin tức loan truyền là nhà cầm quyền quân sự ở Miến Điện sẽ trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi,nhiều người đã nghĩ rằng đây tiếp tục là đòn tuyên truyền của chánh phủ.Nhưng đến sáng thứ bảy,người ta được biết đó là sự thực khi cảnh sát bắt đầu giải toả các chướng ngại vật trên các đường phố dẫn đến tư thất của bà.Cuối cùng,bà đã được tự do.Một cuộc trả tự do "không điều kiện" theo như luật sư của bà.
Dân chúng vui mừng reo hò khi Bà được Tự Do

Theo lời luật sư của bà Aung San Suu Kyi,ông Nyan Win,nói với đặc phái viên AFP vào ngày chủ nhật, bà Aung San Suu Kyi hoàn toàn được tự do,việc trả tự do cho bà vào hôm thứ bảy là hoàn toàn không có điều kiện! Ông cũng cho biết thêm là bà rất "sung sướng".

Ông Nyan Win cũng cho biết thêm là bà Aung San Sư Kyi đã trải qua 15 năm tù trong thời gian 21 năm ở Miến Điện sẽ tiếp xúc với các giới ngoại giao lúc 11 giờ (giờ địa phương) và với các thành viên trong tổ chức chánh trị của bà vào lúc 12 giờ và họp báo vào 13 giờ.

Miến Điện hiện nay đặt dưới sự lãnh đạo của giới quân sự và chịu ảnh hưởng của Trung Hoa.Việc trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi ,người được giải hoà bình năm 1991,liệu rằng có phải là dấu hiệu báo trước cho việc Trung Hoa sẽ cho trả tự do cho Liu Xiaobo,người vừa được giải hoà bình cho năm 2010.?

Nhưng trước hết,việc trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi không gây nguy hại gì cho nhà cầm quyền quân phiệt tại Miến Điện.Bà tuy có được tự do hơn,nhưng không có khả năng chống lại họ.Việc trả tự do cho bà nằm trong khuôn khổ một chiến dịch truyền thông, có lẽ nhằm để hướng sự quan tâm của thế giới đến trường hợp của bà hơn là việc chú tâm vào nhà cầm quyền Miến Điện. Việc trả tự do này khó có thể là việc ngẫu nhiên khi người ta nhớ lại là gần đây,một thương nghị sĩ Mỹ đã đến thăm viếng Miến Điện và nhà lãnh đạo Miến cũng đã làm một chuyến công du sang Ấn Độ và được đón tiếp trọng thể. Có phải là Miến Điện muốn ra khỏi sự cô lập?

Ngày thứ bảy,vài phút sau khi được trả tự-do,bà đã xuất hiện ngay tại vòng rào tư thất,gương mặt bình thản,đã ngỏ lời với hàn ngàn người tụ tập ở đó: "Chúng ta phải làm việc cùng nhau,kết hợp với nhau cho tương lai đất nước...tôi muốn nói với các bạn rằng có một lúc để đi ra?Đừng có câm lặng lúc khi thời cơ đến"

Chù Nhật 14.11.2010
Một ngày sau hôm được trả tự do,bà Aung San Suu Kyi đã đọc một bài diễn văn trước các cán-bộ của Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ (Ligue nationale pour la démocratie = LND) trong đó bà bày tỏ "tôi muốn làm việc với mọi lực lượng dân chủ".

Trước những cán bộ đã từng tranh đấu với bà từ hơn 20 năm qua,trong bộ y phục cổ truyền màu xanh nước biển,bà tiếp tục bày tỏ các ý kiến:"Tôi không có một buồn phiền nào đối với những người đã bắt giữ tôi,tôi tin tưởng nơi nhân quyền và các qui tắc của pháp luật...tôi cần đến nghị lực của nhân dân...Tôi muốn nghe tiếng nói của nhân dân và sau đó, chúng tôi sẽ quyết định những gì chúng tôi muốn làm ...Để gia tăng mức sống của đất nước."

Được biết LND đã tẩy chay cuộc bầu cử do chánh quyền tổ chức vừa qua,cuộc bầu cử lập pháp đầu tiên sau 20 năm dưới chế độ quân phiệt và LND đã bị giải tán!

Trước sự được tự do của và Suu Kyi,đảng đã được tái lập một cách vội vã nhưng khó có thể nói đó là sự sống lại Một số đảng viên của LND đã li khai,thành lập một chánh đảng mới Lực-lượng dân-chủ quốc-gia (Force démocratique nationale = NDF) để tham gia bầu cử.Nói một cách khác,có sự phân hoá trong đối lập và điều này khiến phe chính quyền mạnh hơn lên.

Trước khi ngỏ lời với LND,bà đã có một cuộc tiếp xúc với giới ngoại giao và sau cuộc tiếp xúc với LND,bà sẽ có một cuộc họp báo.Những hoạt động mạnh mẽ này của bà như thể để lấy lại thời gian đã mất trong mười lăm năm quản thúc!Tuy nhiên,nhóm quân phiệt cầm quyền đã càng ngày càng mạnh!

Ngày nay,Aung San Suu Kyi đã 65 tuổi.Tuy là một biểu tượng tranh đấu cho tự do,được thán phục vì tính bền bĩ,sự cương quyết và hi sinh,đó là chưa nói đến sự thu hút,lôi cuốn. Nhưng liệu rằng bà ta có thể làm gì.Bà Aung San Suu Kyi muốn hoà giải và đối thoại với phe cầm quyền quân sự? Nhưng liệu rằng phe Than Shwe có chấp nhận? Bà tố cáo cuộc bầu cử,đòi trả tự do cho những tù nhân chánh trị?

Nhưng đảng của bà đã bị giải tán,và để hoạt động,phải có tài chánh! Và những đảng viên li khai đã tham dự bầu cử.Nếu cuộc bầu cử bị tây phương chỉ trích,các quốc gia đông nam á và Trung Hoa đã coi đó là một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng dân chủ.Trong cuộc bầu cử lập pháp hồi đầu tháng mười một, phe chánh quyền chiếm 80% số ghế. Các tướng lãnh và những người thuộc phe thân chính chia nhau các lợi lộc,họ phải bảo vệ chánh quyền. Và chánh quyền này được Trung Hoa ủng hộ;nước Trung Hoa không mong muốn có một trung tâm 'bất ổn' nằm sát cạnh họ,bởi vì đó là một sự truyền nhiễm nguy hiểm!

  • *Trước việc trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi,phản ứng của thế giới có tính cách tích cực,đã ca ngợi sự phóng thích này nhưng đồng thời đòi hỏi phóng thích các tù nhân chánh trị khác (ước lượng trên 2000 người) .

Ông Obama cho rằng "đây là một nữ anh hùng dưới mắt tôi và là một nguồn cảm hứng cho những ai hoạt động để làm tiến triển vấn đề nhân quyền ở Miến Điện và trên thế giới.Hoa Kỳ chào đón sự giải phóng này lẽ ra đã phải đến từ lâu"

Tổng thư ký LHQ Ban Ki-mơn ca ngợi "phẩm cách và sự can đảm" của bà Suu Kyi đồng thời lưu ý giới quân sự Miến Điện về những khuynh hướng nhằm giảm thiểu tư do hoạt động của nữ đối lập.
Về phiá Pháp,ông Nicolas Sarkozy cảnh cáo "mọi ngăn trở cho sự tự do hoạt động hoặc phát biểu của bà là một diều không thể chấp nhận".

Với bà Merkel,Aung San Suu Kyi là một biểu tượng tranh đấu có tính cách toàn cầu về sự tranh đấu cho nhân quyền.

(Nhữ Đình Hùng/14.11.2010)

  • Tham khảo:
*Aung San Suu Kyi est un peu plus libre, mais la Birmanie est verrouillée/Jean Claude Pomonti/Slate.fr/13.11.2010
*Libération de San Suu Kyi: «C'est une héroïne et une source d'inspiration»/N. B. avec Reuters /20minutes.fr/13.11.2010
*"Aucune condition" à la libération de Aung San Suu Kyi/Romandie.com/14.11.2010
*Aung San Suu Kyi : "La démocratie, c'est la liberté d'expression"LEMONDE.FR/14.11.10

Sao hôm, Sao Mai.

Có một hành tinh mang bốn tên rất đẹp, sao Mai, sao Hôm, sao KimVệ Nữ.

Chúng tôi đậu xe trước ngôi nhà của ba má Sơn tọa lạc bên đoạn đường Vàm Cống ‒ Long Xuyên. Đó là ngôi biệt thự bằng gạch trắng bề thế ba từng (tầng), nóc bằng với những song an toàn vây quanh. Trong khoảng sân rộng, nhiều loại cây mới trồng dọc hàng rào. Phía trước mặt tiền, một bên là những chậu hoa đủ loại đang nở rộ và bên kia là những chậu kiểng được chăm sóc công phu. Khi chúng tôi vừa bước đến cửa chính, cánh cửa tự động mở rộng cùng với tiếng reo hò happy birthday, happy birthday… Rồi những tiếng vỗ tay đồng loạt. Tôi choáng mắt với vô số ánh đèn, những giây chăng long lanh ngũ sắc. Chiếc bánh sinh nhật hai tầng màu trắng với những đường viền màu xanh tôi ưa thích. Tôi thực sự bị bất ngờ đến ngỡ ngàng.


Nguồn: Thanh Tâm
Giữ lời đã hứa, buổi sáng cuối tuần anh đưa tôi về miền Tây. Vùng này, nơi xa nhất tôi từng đến là Bến Lức, nhân một chuyến công tác. Kể cũng khác thường, trong khi thiên hạ hướng về Thăng Long mừng Lễ hội ngàn năm thì chúng tôi lại tung tăng lang thang về miền sông nước Cửu Long thăm dân cho biết sự tình. Ra khỏi Phú Lâm, tôi tấp vào lề giao tay lái cho Sơn. Tôi không muốn đau đầu với hai dòng xe xuôi ngược hối hả, xô bồ. Vả lại tôi cũng cần thảnh thơi để nhìn ngắm quê hương. Suốt hai năm từ ngày về xứ tôi cứ chạy đôn chạy đáo để chọn một nơi làm vừa ý, một chốn ở hài lòng nên chưa thực sự bắt đầu nghĩ xem phải làm gì như ông....(?) mong muốn. Hôm nay thì tôi bắt đầu thảnh thơi… Sơn thản nhiên vừa lái vừa diễn giải vắn tắt đặc điểm và lịch sử của từng địa danh viếng qua làm tôi ngạc nhiên. Anh bảo cũng ráng học chút nghề tour guide cho tôi vui. Tôi nhủ thầm có là khùng mới vui khi anh nhớ đến cả năm mất của các danh nhân mà lại quên hẳn hôm nay ngày tôi sinh ra đời. Hóa ra anh đã dành sẵn cho tôi một ngạc nhiên lớn....

Sau những lời chúc mừng, ba má Sơn mời mọi người nhập tiệc. Bữa tiệc được tổ chức quy mô hơn tôi có thể tưởng. Căn nhà rộng thoáng mà như không đủ cho nhiều người. Theo lời Sơn, ba Sơn trước chỉ là du kích xã, nhưng từ sau ngày “đổi mới theo kinh tế thị trường” đã sớm trở thành nhà thầu lớn cho các hợp đồng của nhà nước. Có lần anh nói về những móc ngoặc, chia chác. Tôi như thấy một phần phúc lợi của dân nghèo nằm trong từng viên gạch của căn nhà ba Sơn. Sơn gắp thức ăn cho tôi. Có nhiều loại thức ăn khá cầu kỳ, lạ miệng và ê hề. Tôi chỉ nếm mỗi thứ một ít đã đủ no. Tôi chợt nghĩ đến những trẻ em ăn mày ăn nhặt dọc các hàng quán vùng ven biển.

Bữa cơm chấm dứt trong sự ồn ào nhạt nhẽo. Tôi tưởng là đến lúc nghỉ ngơi nhưng lại là khởi đầu cho màn ca hát. Ban nhạc đờn ca tân cổ có đến trên mười người và họ biểu diễn tận tình. Cổ nhạc chen lẫn các bài nhạc vàng được nhiều ưa thích. Sơn lên hát tặng tôi bản Biết Đến Thuở Nào của Tùng Giang. Tôi hiểu là anh muốn gửi một thông điệp, “Phút đầu gặp em, tinh tú quay cuồng…” Hát xong anh mời tôi cùng góp vui. Tôi miễn cưỡng bước lên, cầm máy vi âm. Tôi lại bị bất ngờ. Tôi hát bản gì đây. Cái bài thích nhất hiện ra và tôi bám lấy:
‒ Tôi xin hát bài Ngôi Sao Hà Nội của nhạc sĩ Vĩnh Cát.
Ban nhạc không biết bài này. Tôi cất giọng để ban nhạc hòa theo:
“Những vì sao lấp lánh. Giữa bầu trời Hà Nội. Những vì sao không nói. Nhưng biết chờ biết đợi. Là sao Anh, là sao Em. Là sao Anh, là sao Em.
Anh không làm sao Hôm. Em chẳng làm sao Mai. Phải tìm nhau mãi mãi…
Em không làm sao Mai. Anh chẳng làm sao Hôm. Chỉ làm ngôi sao không tên. Để gần nhau suốt đời. Để được gần nhau suốt đời. Được gần nhau suốt đời.
Tôi đứng hát mà tâm hồn bay bổng đâu đâu. Tôi và ông.... đã cách nhau nửa vòng trái đất. Nơi ông ở, sao Mai đang mọc. Nơi tôi sống, sao Hôm đang lên. Nghìn trùng xa cách thì sao gần nhau suốt đời, chỉ có tiếng hát này gửi theo gió mây ngàn bay? Tôi nhìn Sơn. Anh đang ngây ngất nhìn tôi. Đây là lần đầu anh nghe tôi hát. Hẳn anh tưởng là tôi đang hát cho anh. Lại đến lúc tôi cất tiếng, lần này nồng nàn hơn, tha thiết hơn. Giọng tôi có phần nghẹn ngào trước khi chấm dứt câu sau cùng. Khói thuốc quá dầy làm hồn tôi chơi vơi. Dường như cũng khá lâu tôi mới được yêu cầu hát thêm bản nữa. Lần này tôi đã chuẩn bị. Tôi hát bài Giết Người Trong Mộng như một biểu lộ ước mong thầm kín. Tiếng vỗ tay nồng nhiệt hơn lần đầu…

Sáng hôm sau, phải khó khăn lắm chúng tôi mới từ biệt được ba má Sơn và gia đình. Sự chân thành quyến luyến của họ gieo trong tôi mối thân tình. Tôi đã nghĩ rằng thỉnh thoảng cuối tuần về đây nghỉ ngơi chắc hẳn sẽ hưởng được sự êm ả, thi vị hơn là ở các phố biển xô bồ. Chúng tôi tiếp nối cuộc hành trình đã định. Viếng thăm Châu Đốc, miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu, Tây An Cổ Tự. Rồi vượt phà Châu Giang, qua thị trấn Tân Châu, chạy dọc con đường làng quê Long Sơn về Tổ đình Hòa Hảo. Từ đây, chúng tôi dùng phà vượt qua sông Tiền về lại Sài Gòn. Kiểm điểm lại thì dù miền Tây được tiếng là vùng đất trù phú, cái nghèo vẫn đậm nét có thua gì Bình Dương quê mẹ.

Về đến nhà vừa quá nửa đêm, tôi nói Sơn có thể ngủ lại rồi đi thẳng vào buồng tắm. Tôi đứng dưới vòi nước thật lâu và cảm thấy cơn mệt mỏi tan dần. Khi tôi trở ra, Sơn đang nằm dài trên chiếc sofa. Tôi bước lại gần hơn. Anh đang ngủ say sưa. Hai ngày lái xe và một đêm thức gần sáng không để dấu vết gì trên khuôn mặt rắn rỏi đẹp trai. Du học Mỹ trước tôi mười năm, có bằng tiến sĩ, có chức giám đốc trong chính quyền, linh hoạt, trẻ trung, nhiều cô đeo đuổi nhưng trừ tôi. Anh có lần ngỏ ý muốn cưới tôi, tôi chỉ cười đùa hứa hẹn rằng chừng nào Việt Nam bằng Mỹ, thì tôi nhận lời. Tôi có điên không vậy? Trong vài cuộc tranh luận về tình hình đất nước, về nhu cầu
tự do dân chủ , anh dễ dàng đồng ý là tôi có lý nhưng vẫn hân hoan tìm danh phận trong bộ máy nhà nước! Có lần tôi làm mặt giận mặt hờn, anh cười hỏi tôi muốn anh làm gì trong khi bao người đã bị bắt bị nhốt tù chỉ vì chống đối công khai như Nguyễn Tiến Trung. Anh bảo trong anh đang là thùng chất nổ, chỉ chờ một tia lửa !!?? Tôi chưa dám tin anh nhưng ít ra sự hiện diện của anh cũng giúp tôi đỡ cô đơn…


Miền Nam Việt Nam
Nguồn: hotelvietnamonline.com
Tôi thả người xuống chiếc ghế nệm màu xanh êm ái. Động tác của tôi như được điều khiển từ tiềm thức hằn sâu một dáng điệu lần đầu gặp ông. Hơn bốn năm trước, mấy tháng trước khi tốt nghiệp đại học, nhà trường thông báo tặng tôi cấp bổng 15 ngàn đô cho chương trình thạc sĩ. Khi tôi vui mừng báo tin cho ba tôi, ông tỏ ra hết sức hãnh diện. Chừng tôi nói cần thêm một trăm năm mươi ngàn đô cho hai năm học kế tiếp thì ông buông tiếng thở dài. Ba tôi bảo mới xây nhà, khả năng chỉ có thể cung ứng tối đa trăm ngàn. Tôi đành phải ngày đêm tính toán tới lui. Chỉ còn cách không ở nội trú. Nhưng không ở nội trú thì ở đâu? Mà đi làm để đóng nội trú thì không đủ thì giờ học. Tôi trút nỗi lo rầu với người bạn học rất thân. Huyền đã cười bảo là chuyện nhỏ. Căn buồng ngủ của Huyền thừa rộng cho hai người. Nhưng phải gặp, nói chuyện với ba Huyền. Tối thứ bảy rỗi rảnh tôi theo Huyền về nhà. Ngôi nhà của ba Huyền có bốn buồng ngủ đều lớn rộng. Gian buồng của ông thì quá sang trọng, thênh thang. Khi chúng tôi đang trò chuyện ở phòng khách thì ông mở cửa bước vào. Ông quơ quơ tay chào trước cả khi chúng tôi kịp đứng lên. Trong chiếc sơ mi trắng với chiếc cà vạt màu xanh nước biển, ông thư thả bước tới chiếc sofa cùng màu cà vạt. Người và chiếc cặp da cùng rơi nhẹ nhàng lên mặt nệm. Hình ảnh đơn giản thế mà tôi cứ nhớ hoài. Ông ra dấu cho chúng tôi ngồi. Nụ cười tươi tắn ông dành cho Huyền vẫn giữ nguyên khi ông hướng về phía tôi. Gần bốn năm ở Mỹ tôi cố học cách nhìn thẳng vào mắt người đối thoại vậy mà khi bắt gặp ánh mắt của ông, tôi vội cúi mặt. Có thể vì thói lề Hồng Lạc vẫn còn cắm sâu cội rễ trong tôi. Nhìn ba của bạn mình theo cách của Mỹ, tôi vẫn thấy là một hành động vô lễ. Tôi cố giữ vẻ tự nhiên bằng cách liếc sang Huyền. Huyền mỉm cười khuyến khích tôi. Tôi nghe giọng ấm áp của ông ngay trước khi tôi định mở lời. Giọng ấm áp mà nghiêm túc:

‒ Bác đã biết cháu muốn tiếp tục ở lại Mỹ học. Bác rất vui được giúp cháu nhưng với ba điều kiện: Thứ nhất là cháu phải dành hết thì giờ vào việc học. Thứ hai là cháu tuyệt đối không được đưa bạn trai vào buồng ngủ. Thứ ba là mỗi tối thứ bảy, cháu phải tham dự bữa cơm hợp mặt gia đình. Nếu cháu đồng ý tuân theo ba điều kiện đó, cháu sẽ được dành một phòng riêng cạnh phòng của Huyền. Và như con của bác, cháu đương nhiên được phép xử dụng bất cứ máy móc, vật dụng trong nhà và thức ăn thức uống bất cứ món gì có sẵn trong tủ lạnh.

Ông nhìn đồng hồ, có vẻ nôn nóng muốn đứng lên. Học là đam mê duy nhất của tôi. Nếu không học thì đọc. Thậm chí không có đủ thì giờ để đọc. Bạn trai thì tôi có nhiều nhưng cho tới nay chưa người bạn nào chiếm đủ tình cảm để tôi theo về phòng họ thì nói chi đưa họ về phòng tôi. Hai điều kiện đầu coi như là… không điều kiện. Còn điều kiện thứ ba xem ra lại là một đặc ân, lẽ nào tôi từ chối.

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông:
‒ Cháu hứa tuân hành nghiêm túc ba điều kiện của bác.
Ông cười vui vẻ đứng lên:
‒ Trước tiên, cháu hãy chứng tỏ là người biết giữ lời hứa bằng cách tuân hành ngay một điều. Hôm nay là thứ bảy. Cháu không từ chối bữa cơm gia đình chứ?

Tôi cười gật đầu. Huyền mở điện thoại di động, thông báo người bạn trai lên đường gặp nhau ở nhà hàng.
Trong bữa ăn Huyền hỏi tôi sẽ học tiếp thế nào. Tôi bảo là học tiếp lấy bằng thạc sĩ điện toán. Huyền cho biết cả Huyền và Thạch cùng chuyển sang ngành quản trị kinh doanh lấy bằng MBA. Thạc sĩ điện toán thì kiếm nhiều tiền nhưng bằng MBA, tuy bắt đầu với đồng lương ít mà dễ thăng tiến lên chức chủ tịch với tiền lương bạc triệu kèm vô số quyền lợi và phúc lợi. Tôi còn đang đắn đo thì ông lên tiếng:

‒ Dù với cái từ huê dạng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng thực chất vẫn là kinh tế tư bản. Tương lai Việt Nam sẽ có thêm nhiều công ty, nhiều hảng xưởng và ngày một đa dạng quy mô. Bác thấy cháu nên chọn MBA, tương lai ngon lành.
Tôi ngần ngừ:
‒ Nhưng cháu mê điện toán.
Ông cười:
‒Thì học lấy luôn hai bằng…
Tôi nhớ là cha mẹ đã không còn tiền, tôi lắc đầu:
‒ Thôi, cháu chọn MBA để được học chung với Huyền và Thạch.

Tiếng ngáy của Sơn bị tiếng điện thoại ngắt ngang. Anh trở mình. Tôi vội chụp ống nghe. Tiếng mẹ tôi từ Bình Dương reo mừng. Cả hai ngày nay bà đã nhiều lần gọi tôi bằng đủ các số bà biết nhưng đã không gặp được tôi. Tôi cố ý bỏ điện thoại di động ở nhà để cuộc đi chơi không bị quấy rầy. Tôi kể mẹ nghe chuyến đi và bà hết sức tán thành việc tôi ghé thăm ba má Sơn và tỏ ra hân hoan khi tôi được tiếp đãi ân cần. Mẹ tôi đã gặp Sơn nhiều lần trong hai năm qua. Nói cho đúng, mỗi khi bà có dịp xuống Sài Gòn, Sơn là người tình nguyện đưa đón bà. Và xem ra mẹ tôi cũng đã ngầm xem Sơn là cậu rể tương lai. Bà hỏi ba mẹ Sơn thế nào, nhà cửa ra sao. Bà hỏi đủ chuyện, cuối cùng bà nói một câu đùa trước khi cúp máy, “Sơn không đang nằm trên giường với con đó chứ? Các cô bây giờ ghê lắm!” Tôi mỉm cười nhìn Sơn đúng lúc anh mở mắt. Thấy tôi đang cười, anh ngượng ngập hỏi:
‒ Bộ anh ngủ xấu lắm hả. Thật là quê.
Tôi nói vội, thành thật:
‒ Không, càng thấy đẹp trai hơn.
Anh ngồi bật dậy:
‒ Xin lỗi đã ngủ quên. Thôi anh về …
Tôi cười:
‒ Giận hay sao mà về. Anh nên đi tắm rồi… ngủ tiếp.

Sao Mai
Nguồn: Nguyên đơn
Anh nhìn tôi tủm tỉm gật đầu. Tôi đi lấy khăn và bộ đồ ngủ của ba tôi trao cho anh rồi bước đến khung cửa sổ nhìn ra ngoài. Ánh sáng mù mờ của ngọn đèn đường đưa tôi vào những ý nghĩ vu vơ. Giả sử sau khi tắm, anh ngỏ ý muốn vào ngủ cùng giường với tôi thì liệu tôi phản ứng thế nào? Tất nhiên là tôi từ chối. Nhưng nếu anh van xin? Nếu anh liều mạng? Không, Sơn là người tự trọng, sẽ không làm như vậy. Tôi đã một lần cực lực phản đối khi bị anh ôm bất ngờ. Tôi an tâm và thầm cho là đã đến lúc không nên xử tệ với anh. Lúc tôi nói đêm nay anh có thể ngủ lại là tôi nghĩ anh ngủ trên chiếc sofa. Giờ nghe giọng vui mừng của mẹ, tôi sẽ mời anh vào căn buồng tôi vẫn dành riêng cho cha mẹ. Căn buồng ngủ này và cả căn buồng ngủ của tôi, dù kích cỡ nhỏ hơn nhiều, vẫn được trang trí y như căn buồng tôi được dành cho suốt hai năm cuối cùng du học ở Hoa Kỳ. Tường quét vôi trắng. Các màn cửa, vải trải giường, các áo gối đều cùng một màu xanh biêng biếc. Một bàn viết loại gỗ quý với bộ máy điện toán đắt tiền. Một giá sách đặt hẳn vào tường. Một màn ảnh truyền hình 50”. Rõ ràng màu xanh và màu trắng vượt trội và nổi bật. Có lần tôi tò mò hỏi thì ông ngậm ngùi cho biết là để nhớ màu biển và màu mây của một thời binh nghiệp. Tôi chả dính dáng gì binh nghiệp của ông. Cái tôi mang ơn ông là mảnh bằng thạc sĩ và căn nhà này. Cả hai đều chất chứa những kỷ niệm tôi không quên bao giờ.

Ở nhà ông được vài tháng, trong bữa cơm gia đình tối thứ bảy, ông bất ngờ hỏi tôi:
‒ Cháu Diễm đang làm thêm việc gì ngoài giờ học?
‒ Dạ, một số dịch vụ của nhà trường…
‒ Họ trả bao nhiêu đô la một giờ?
‒ Dạ, 10 đô.
‒ Cháu làm bao nhiêu giờ một tuần?
‒ Dạ bốn tiếng.
‒ Cháu có thể làm thêm được mấy tiếng mà không trở ngại việc học?
‒ Dạ không thể thêm hơn. Cháu chỉ cần đủ tiền cho các thứ tối cần. Vả lại, làm thêm sợ vi phạm điều kiện thứ nhất của bác.

Ông mỉm cười, giọng nửa đùa nửa thật:
‒ Nếu phải làm gấp đôi số giờ mà vẫn có bốn tiếng học bài, lại được trả tiền gấp đôi thì cháu có vui lòng giúp bác không?
Tôi xăng xái:
‒ Bác thừa biết là cháu lúc nào cũng sẵn sàng giúp bác miễn phí!
Ông nghiêm mặt:
‒ Bác nói thật. Cái cô đang làm cho bác vừa xin nghỉ việc. Nếu cháu thích, cháu có thể thế chỗ.
Tôi không giấu vẻ vui mừng:
‒ Nếu thật vậy, bác chỉ cần trả cháu bằng với tiền nhà trường. Thế là cháu cũng được gấp đôi rồi.
‒ Không, việc của bác đáng giá gấp đôi việc ở trường. Nếu cháu OK, cháu có thể bắt đầu từ… ngày mai và tiếp tục mỗi chủ nhật kế tiếp.
Việc ông cho tôi dễ dàng và nhàn hạ. Tôi chỉ cần chụp vài kiểu hình ngôi nhà chủ nhân nhờ bán, ghi thêm đặc tính của nó có sẵn trong văn kiện rồi đưa lên quảng cáo trên mạng. Copy một số bản cho khách hàng quan tâm đem về nhà nghiên cứu. Hướng dẫn người mua xem xét ngôi nhà. Trừ phi khách đông thì thường chỉ mất dăm ba giờ. Ông không có lợi tức cố định mà từ hoa hồng, càng nhiều người mua càng nhiều hoa hồng. Mỗi căn nhà, dù đứng bán giúp hay mua giùm, ông cũng đều được hưởng hoa hồng ít nhất ba phần trăm. Ông bảo tôi:

‒ Cháu thử tính, ba phần trăm của căn nhà một triệu.
Tôi không kềm được tiếng kêu:
‒ Quào! Ba chục ngàn đồng. Quả là ngon xơi! Một năm bác bán được bốn căn là thành khá giả.
Ông lắc đầu:
‒ Nếu dễ thế thì ai cũng theo nghề địa ốc. Thường thì chủ nhân những ngôi nhà bạc triệu đều đã quen biết sẵn ai đó, mình chen vào khó lắm. Hai nữa người có thể mua nhà bạc triệu, họ rất kén chọn. Lắm khi chở họ đi xem mười căn nhà, tốn xăng, tốn công cả tháng rồi cuối cùng họ say sorry, goodbye! Nhưng bác tin vào thời vận. Hết cơn bĩ cực, tới hồi thới lai. Nhờ Trời, năm nào bác cũng bán được một căn bạc triệu. Còn lẻ tẻ trị giá

Bài Xem Nhiều