We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 16 November 2010

CÁM ƠN CÁC ANH : NGƯỜI TPB/VNCH


NHÂN MÙA TẠ ƠN TRÊN ĐẤT MỸ (2010),
XIN ĐƯỢC CÁM ƠN CÁC ANH : NGƯỜI TPB/VNCH
Mường Giang
Kính tặng tất cả TPB/VNCH


Những ngày tháng Tư năm đó, không biết sao mà trời bỗng đổ mưa thật sớm và lớn hơn bao giờ hết. Mưa làm ngập những chiếc hố tránh đạn và giao thông hào của những người lính trận, tại các chiến trường máu lệ Phước Long, Phan Thiết, Long Khánh, Hậu Nghĩa, Long An, Phước Tuy, Biên Hòa và Sàigòn.

Trong cơn mưa nước mắt năm ấy, có máu, thây người và xác của những cánh hoa học trò, làm nhuộm hồng áo người lính và đồng bào chiến nạn, chạy theo cơn mưa, mịt mù đạn pháo.

"Bồ Đào mỹ tửu, dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà, mã thượng thôi
Tuý ngọa sa trường, quân mạc vấn?
Cổ lai chinh chiến, kỹ nhân hồi"

Bốn câu thơ cổ trong bài "Lương Châu Từ" của Vương Hàn (687-726) đã nói lên thân phận của người lính chiến, sống và chết không có biên giới, nên mấy ai dám nghỉ tới chuyện trở về? Và giọt mưa nào đây vừa lăn trên má, đã khiến cho người lính già bồi hồi nhớ lại, một thời chinh chiến cũ, những căn hầm tránh pháo ngập mưa, những nấm đất đào đấp vội vàng, để vùi bạn vữa ngã gục và những thương binh rên xiết, đang chờ cấp cứu.

Tất cả đã thành cổ tích. Giờ chỉ còn biết ngồi đây mà nhớ lại những ngày xa cũ. Chúng ta, tất cả đều là những người VN tội nghiệp, trót đầu thai lộn trong thế kỷ này, nên đã cùng nối vai lần lượt bước lên những giàn lửa đỏ. Cuối cùng, kẻ chết thì bị dầy mồ, tan xác, còn người sống, nếu không sống kiếp mây chiều lang thang, thì cũng lết lê phận bèo trong vùng giặc chiếm, để gục đầu thương hận, mà khóc cho quê hương vì đâu máu xương chất ngất, vì đâu mà kiếp sống của con người, tới nay vẫn không bằng cây cỏ bên đường.

Tất cả chỉ còn là kỷ niệm trong nhớ, vào những ngày đầu đời, mẹ bỏ con trong gánh, dầm mưa chạy loạn, giữa tiếng bom đạn, máy bay gầm thét, của Việt Minh và Pháp. Tóm lại, chúng ta đều ra đời và trưởng thành trong tiếng súng, cùng với bom đạn làm rách vỡ da thịt của quê hương. Rồi cũng vì người, vì tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, mà giốc cả tuổi trẻ, đời trai, vào cốc men đắng cay, uống cạn hạnh phúc của chính mình.

Đất nước hai mươi năm chinh chiến, hai mươi năm dài hờn hận, đã dày vò người lính miền Nam, trong mưa bom đạn xéo trùng hằng. Rốt cục những người nằm xuống, những kẻ ra đi hay ở lại chịu cảnh ngục tù khổ sai của VC, ai nấy cũng đã trả xong cái nợ "da ngựa bọc thây", tủi nhìn từng trang lịch sử của nước nhà, bị giặc thù bôi nhọ và khép kín.
Trưa 30-4-1975 Sàigòn thất thủ, miền Nam VN từ bên này cầu Hiền Lương, trên sông Bến Hải, chạy ngang vĩ tuyến 17, tới mũi Cà Mâu, đã chính thức thuộc về lãnh thổ Xã Hội Chủ Nghĩa đệ tam quốc tế cộng sản, có tổng đài ở tận Nga Sô. Cũng từ giờ phút đó, khi mà chiếc mặt nạ hòa bình của người cộng sản đã cởi, để lộ những khuôn mặt thật của các thây ma vô hồn, lạnh băng và hung hiểm, thì cũng là lúc, đồng bào mới sực tỉnh và thương tiếc người lính VNCH. Nhưng than ôi tất cả đã muộn rồi, họ đã ngã gục không phải tại chiến trường vì đạn pháo của VC, mà ngay trên hè phố Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết, Sàigòn... bởi chính những viên đạn ích kỷ, hám danh, những miệng lưỡi ngòi bút, của chính phe mình.

Ai chẳng một lần về với đất? khác chăng là sớm hay muộn, vinh với nhục và sống chết sao cho ý nghĩa của một kiếp người. Chỉ tội nhất là những người lính chưa chết nhưng coi như đã chết vì thương tật chiến trận và những vết thương lòng. Họ không chết mà chỉ bị thương nặng và tất cả đã gởi lại chiến trường một phần thịt da của mẹ, ở Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Xuân Lộc... và ngay tại Sàigòn, vào lúc mà cây cột đèn cũng muốn chạy, để khỏi bị VC nhổ đem đi bán. Họ ở lại làm vật hy sinh cản xe tăng, hứng đại pháo của giặc thù, để kiếm thêm một chút thời gian, một bầu trời an toàn, một dòng sông lặng sóng, giúp cho mọi người từ dân tới lính, bình yên di tản ra nước ngoài, để tiếp tục sinh con đẻ cháu, ăn học thành tài và thành người ngoại cuộc..

Nay thì từ quan tới lính, ai cũng kiếm cách đi khỏi quê nhà, bỏ lại những bóng ma của quá khứ và những người thương phế binh sống sót, tủi hờn, đang lê lết phận bèo khắp đầu đường xó chợ. Thời gian có thay đổi, lịch sử cũng sang trang nhưng thân phận của người thương binh và gia đình của họ, chẳng có gì mới lạ, vẫn lấy nước mắt làm mưa rửa mặt hằng ngày. Buổi trước, khi VC tràn vào, họ bị bỏ lại ở những quân y viện, làng phế binh, không còn đại bàng, đồng đội và hậu phương. Bây giờ thì dần hồi chết đói, chết nhục trong thiên đàng xã nghĩa, trước sự xa hoa thừa mứa của VC, Việt Gian và Việt kiều muôn phương, vinh quy bái tổ, áo gấm về làng, mà trong dòng người đổi đời này, không làm sao mà đếm hết, những cấp chỉ huy và đồng đội cũ.

Có làm lính mới cảm thông cho kiếp lính nghiệt ngã đoạn trường. Có làm dân thời ly loạn mới biết được thế nào là mạng sống của con người, giữa bom đạn vô tình, héo úa còn thua cây cỏ. Có là người thương phế binh sau khi xuất viện, bỏ lại một phần cơ thể, mới thật tội nghiệp cho tuổi trẻ bạc phước vô phần. Thê thiết tận cùng là đời của người lính về chiều lại còn mang thương tật. Hỡi ôi những mảnh đời cùng khốn ấy rồi sẽ đi về đâu, trong cảnh mưa gió phũ phàng của cuộc đời? "ngày xưa, là lính vì đời chiến đấu là cầu đem người sang sông, hôm nay làm ma cô đơn, gục chết bên vệ đường..."

1.Thân Phận Người Lính VNCH :

Đọc Congressional Record, một trong những tài liệu tuyệt mật của Tòa Bạch ốc vừa được công bố, đã làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt và thương xót cho những đồng đội, đồng bào, suốt hai mươi năm qua, vì chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, mà chết oan hay bị mang thương tật do đạn bom và bàn tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như Lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được dội bom vào xe của VC khi chúng ở cách đường mòn Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không dội bom các phi cơ VC đậu yên tại phi trường. Cuối cùng, nghiêm cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lào và Kampuchia.

Chính phủ Hoa Thịnh Đốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Đồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn báo trước những bí mật quân sự, quốc phòng cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719... Đó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng QP Mỹ Phil Golding, thời TT. Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ: "Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với những mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được".

Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là "đánh không cần thắng", nên dân chúng đã xuống đường, đả đảo mà báo chí thời đó, gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự, người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Đốn "Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này."

Tóm lại qua cuộc chiến VN, do đầu óc con buôn, người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55,000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300,000 quân nhân các cấp bị thương tật. Trong khi đó, người lính VNCH, dù là một quân đội bất hạnh nhất thế giới, theo báo cáo của MACV, Command History hay Dwight Owen, một cố vấn Mỹ tại VN, thì đối với các quân nhân VNCH, Chỉ Có Chết, Tàn Phế Hay Đào Ngũ, mới mong giải thoát được cái thân phận bọt bèo của người Lính chiến trong thời loạn lạc.

Ngoài ra, tài liệu cũng có nói tới việc lính Nam VN đào ngũ, nhưng không phải họ đầu hàng VC, mà trở về quê nhà gia nhập lực lượng ĐPQ+NQ, để được chiến đấu bên cạnh vợ con, gia đình. Sau rốt, tính đến đầu năm 1975, QLVNCH đã có 231,508 tử sĩ và 95,371 phế binh. Thương tủi nhất là những ngày tháng sau đó, cho tới khi Nam VN sụp đổ vào ngày 30-4-1975, đã có hằng vạn dân lính vô tội gục ngã trên chiến trường và khắp các nẻo đường chạy loạn. Nhiều tử sĩ cũng như thương binh đã bỏ thây, bỏ xác tại chỗ, vì đồng đội không thể làm gì hơn giữa chốn loạn quân. Chính Nhảy Dù từ ngày thành lập cho tới khi tan hàng, cũng đã phải nuốt lệ, bỏ lại xác đồng đội, tại Mặt Trận Xuân Lộc tháng 4-1975, như Phạm Huấn đã viết, khi được lệnh rút quân bất ngờ trong đêm, mịt mù lửa đạn.

Trước sự sụp đổ nhanh chóng và vô lý của Nam VN không phải tại chiến trường, mà ngay ở các thành phố lớn Ba Lê, Hoa Thịnh Đón, New York, Luân Đôn, La Mã, Huế-Đà Nẵng và Sàigòn, khiến cho nhiều trí thức ngoại quốc đã phẫn nộ và bày tỏ thái độ khinh miệt, đối với một số người trong cũng như ngoài nước, một thời lợi dụng tự do, dân chủ và nghề nghiệp, để bẻ cong ngòi bút, xuyên tạc sự thật, phỉ báng đồng bào và quân đội Nam VN với mục đích đầu độc dư luận thế giới, giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH. Đề tài quen thuộc, được một số báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương viết lách, đem lên truyền thanh truyền hình, đó là người lính VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nên bị mất tự do và bị người Mỹ khinh miệt.

Hai câu hỏi trên cách đây vài chục năm được bịa chuyện là có, nhưng bây giờ sự thật đã xác nhận "Không". Hoa Kỳ khi tới chiến đấu tại Nam VN, có đủ phương tiện tinh thần cũng như vật chất, vẫn nhiều lần bị thương vong, bại nhục, vẫn không thiếu những binh sĩ đào ngũ, bỏ chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn có tham nhũng và chính cựu TT. Bill Clinton, vì hèn nhát nên đã trốn quân dịch pháp định. QLVNCH chỉ mới thành lập, được coi là một quân đội nghèo nhất trên thế giới, lại bị chiến đấu trong một cuộc chiến không có giới hạn chiến trường, hậu phương, bạn địch.

Thế nhưng những người lính nghèo đó, mà lương năm cộng với tiền tử tuất, phế tật, không bằng một cuốc rượu của những ca ve, me Mỹ, vậy mà họ vẫn một đời đem máu đào xương trắng, phụng sự chính nghĩa, bảo vệ màu cờ, sắc áo và từng sinh mạng cũng như tất đất của quê hương. QLVNCH là sinh mạng của muôn người, nên khi thiếu vắng hay không còn họ, mạng người Nam VN chỉ còn là lá rụng, đã gục ngã tại Mậu Thân Huế-Sàigòn, trên các đại lộ kinh hoàng quốc lộ 1, Kontum, An Lộc mùa hè đổ máu và sau rốt là cùng nhau chết tập thể vào ngày 30-4-1975. Như sử gia Edward S. Creasy viết trong tác phẩm nổi tiếng "Fifteen Decisive Battle Of The World" năm 1851 "Tầm quan trọng của một cuộc chiến, là những gì ta có hôm nay, đối với người thắng cũng như kẻ bai". Những gì đã xảy ra tại Nam VN, sau 35 năm bị cộng sản cưỡng chiếm, đã đủ trả lời về tấn thảm kịch của VN, mà lần nữa Robert S. McNamara, cựu bộ trưởng QP. Thời TT Kenedy, đã giải thích một chiều, trong hồi ký của mình "In Retrospect-The Tragedy and Lesson of VN".
Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều mù quáng và tin tưởng vào truyền thông báo chí lúc đó. Chính những giờ phút cuối cùng, nhìn cảnh đời bi thảm của phận lính bọt bèo Nam VN trên màn ảnh, tờ The New York Times Service, đã thay thế người nhược tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền Mỹ là hèn nhát, bỏ đồng minh tháo chạy về nước trước sự tấn công của VC. Họ cũng nêu đích danh Henry Kissinger là kẻ bán đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ ký vào bản hiệp ước giả mạo 1973, sau đó tàn nhẫn cúp viện trợ, phủi tay đứng nhìn miền nam sụp đổ.

Không có gì tồn tại với thời gian trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston chủ tịch đảng cộng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sàigòn thất thủ: "cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ".

Đây là tất cả sự thật, vừa được một cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ là Harry H. Noyes, thay mặt những người lính VNCH, qua tác phẩm "Heroic Allies" nói lên vinh quang và sự hãnh diện của một quân lực, từ lâu đã bị bọn trí thức vô liêm sỉ, tước đoạt một cách hèn hạ, bất nhơn và vô nhân đạo. Sự tuyên truyền lố lăng và cuồng ngạo của Hà Nội cùng những mặt mo bưng bợ, làm cho thiên hạ năm châu chán ghét, sau khi cái thây ma VNCH chỉ còn trơ lại bộ xương gầy đét, không còn gì để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín và một số quạ đen, diều hâu, bu tới rỉa rói như lúc chợ còn đông khứa.

Trong tài liệu đặc biệt "How Media Bias Distorts Our View of the World" của ký giả Allan Brownnfiels, nói rằng vì hầu hết giới truyền thông Tây Phương, quá mù quáng, ca tụng một chiều về Mao Trạch Đông và Fidel Castro, trong lúc thẳng tay sỉ nhục bôi nhọ Tưởng Giới Thạch và chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô tình nhưng đã làm cho cộng sản tại hai nước này chiến thắng mau lẹ. Bài học của lịch sử sau đó lại tái diễn ở Nam VN. Lần này do chính những thành phần được ưu tiên trạng trọng trong xã hội lúc đó, là những công tử tiểu thư đài các của giới địa chủ, địa hào, thương gia, chủ vựa nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tiên theo thực dân Pháp bóc lột đồng bào, nên có tiền, có thế, cho con trai, con gái qua Pháp, Mỹ du học thành luật sư, bác sĩ, giáo sư, những thành phần mà Hồ Chí Minh và đảng VC ở miền Bắc, chém giết và khinh bỉ tận tuyệt, sau khi được làm chủ nửa miền đất nước vào năm 1954.

Nhờ cái mặt nạ trí thức và sự tự do quá trớn của Nam VN, những thành phần ăn chén đá bát này, luôn bẻ cong ngòi bút, làm cho thế giới tự do lầm lạc, nghĩ rằng giặc Cộng tại Nam VN là những người bình thường, yêu nước, nên nổi dậy chống lại sự độc tài tham nhũng của chế độ. Tóm lại nhờ những trí thức này, mà VC nằm vùng sau ngày tập kết 1954, VC chính thống từ Miền Bắc xâm nhập, kể cả Tàu Cộng, Liên Xô, Cu Ba, Đông Âu... trong bộ đội Hà Nội đang chiến đấu tại Nam VN, đều không có dính líu tới Hồ và cộng sản đệ tam quốc tế. Sự độc ác trên, nhờ tuyên truyền ngay ở miền Nam và các mạng lưới quốc tế, khiến cho cuộc chiến chống xâm lăng cộng sản, của người Việt quốc gia Nam VN, mất đi cái ý nghĩa chính thống, làm cho Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn khi sang chiến đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn Việt đều đại bại trước mặt trận thông tin ca ngợi VC, của báo chí, truyền thông ngoại quốc và ngay trong nước.

Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu ở hậu phương. Đây cũng là thời kỳ ăn nên làm ra, của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật, có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi nhọ những quân đội, đang trực diện với cộng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin "ăn khách", theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây Phương lúc đó. Cũng nhờ báo chí phản tuyên truyền về cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968 “ VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng, chiếm được ngay cả Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sàigòn “. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề có một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bạo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 trên Đại Lộ Kinh Hoàng tại KomTum, Bình Đinh, An Lộc, Quảng Trị và những ngày di tản máu lửa hận hờn.

Người lính VNCH vừa đánh giặc phương Bắc, vừa chống đỡ búa rìu truyền thông báo chí trong nước cũng như phong trào phản chiến tại Mỹ và tây phương, được liên kết bởi trí thức, sách báo và tuyên truyền. Đó cũng là lý do đưa đến sự sụp đổ tất yếu của một dân tộc hiền hòa, lễ nghĩa nhưng bất hạnh vì mang thân phận nhược tiểu

2. Thương Quá Người Phế Binh VNCH:

Tất cả hình như chỉ còn có kỷ niệm sau cuộc đổi đời. Là định mệnh mà chúng ta, những kiếp trai thời loạn phải gánh chịu theo vòng đời nổi trôi của dòng sông lịch sử, dù vô lý, dù hờn căm, dù bất công thương hận.

Mất nước nhà tan, nguời lính sống sót sau cuộc chiến, rã ngũ tan hàng đầu sông cuối bể, tha phương thì dần chết trong men đời cay đắng, còn tù ngục chịu cảnh nhục hờn. Nhưng tất cả giờ cũng đã đi hết rồi, chỉ còn ở đây là những thương phế binh xa cũ, những hồn ma cô quạnh, sống với quá khứ liệt oanh, qua những vết thương đời không hề hối hận:

"Di tản khó, sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên
Người chết mấy ngày không lấy xác
Thây sình mặt nát, lạch mương tanh..."
(Tô Thuỳ Yên)

Ta thán phục, ta hãnh diện biết bao, khi đọc được những trang sử cũ. Sẽ vui cười hớn hở cùng với tiền nhân qua những lần giết đuổi giặc Tống, Mông, Minh, Thanh..tận ải Chí Lăng, trên sông Bạch Đằng, đốt tàu Pháp tại Vàm Nhật Tảo. Không biết những trang quân vương dũng tướng thời xưa, hành xử thế nào mà muôn người như một, khiến cho người trong nước, già trẻ lớn bé, đều nguyện một lòng giết giặc cứu nước tại Hội Nghị Diên Hồng. Sau này mới vỡ lẽ, thì ra đó là tinh thần trách nhiệm, cũng như bổn phân của kẻ sĩ thời tao loạn. Hay đúng hơn, đó là đức tính cao quí của thanh niên-sĩ phu, dù họ chỉ là những người bình dân ít học.

"Tôi không là tôi nữa,
Từ khi được xuất ngũ
Có quạ đen đậu trên đầu
Có bao nhiêu đợi chờ đau khổ.
.."
Thanh niên VN thời nào cũng vậy, tất cả đều đặt trách nhiệm làm trai trên hết, nên chúng ta ngày nay mới còn có đất nước, để mà vui sướng, đau khổ. Hỡi ơi, có làm lính mới hiểu phận bèo của lính, có là thương phế binh, sau khi được xuât ngũ, mới thấm thía được nỗi buồn của một kẻ tàn tật, mất tất cả, ngoài người mẹ già từ quê xa, đang đợi con trở về. Thê thiết quá cũng như đau đớn tột cùng, kiếp lính chiều tàn là thế. Sự thật là vậy, có khi còn đau đớn trăm chiều. Ai đã tùng thấy chưa, cảnh vợ lính hay người yêu, chỉ một lần vào thăm người thân nơi quân y viện, rồi chẳng bao giờ quay lại, ngoài những giọt lệ cá sấu, vô tình còn vương vãi đó đây. Ai có một lần ngược xuôi trên các nẻo đường thiên lý, tình cờ hội ngộ những chàng trai tàn tật còn rất trẻ, những người mù, què, mặt mày in đầy thương-sẹo bởi đạn bom, đang lần mò ngửa tay chờ bố thí của mọi người. Họ là lính chiến của một thời oanh liệt, là thương phế binh QLVNCH đó, họ đau khổ mang thương tật không phải do bẩm sinh, mà vì đời, vì người gánh chịu:

Theo sử liệu, ta biết Nha Cựu Chiến Binh và Nạn Nhân Chiến Cuộc, trưc thuộc Bộ Quốc Phòng. Đầu tiên Nha này là một Bộ được thành lập vào tháng 8-1952, có một An Dưỡng Đường dành cho Thương Phế Binh. Sau đó, bộ này bị hủy bỏ, tất cả các vấn đề liên quan tới cựu chiến binh, đều giao cho Bộ Y Tế, với một Nha riêng gọi là Nha Tổng Thư Ký, Cưu Chiến Sĩ và Phế Binh đãm trách.

Thời VNCH, qua một Đại Hội Cựu Chiến Sĩ toàn quốc tại Toà Đô Sảnh Sàigòn. Ngày 29-5-1955, Nha Tổng Giám Đốc CCB và NNCC được thành lập, trụ sở ở đường Đoàn Thị Điểm. Sau Tết Mậu Thân 1968, Nha được cải thành Bộ, gồm các Nha Sở Trung Ương và các Ty trực thuộc.

Năm 1969, một biến cố lớn đã xảy ra tai thị xã Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đó là vụ Y Sĩ Đại Uý Hà Thúc Nhơn, trưởng trại 12 tai, mắt, mũi, họng, thuộc Quân Y Viện Nguyễn Huệ. Vì dám tố cáo Chỉ Huy Trưởng QYV là Thiếu Tá Phùng Quốc Anh, với sĩ quan hành chánh Đặng Mai, toa rập tham nhũng, ăn xén tiền ẩm thực của thương bệnh binh, cũng như mờ ám trong các vụ cứu xét, phân loại trợ cấp, miễn dịch. Đại Uý Nhơn đã cầm đầu các bệnh binh nổi loạn, nên bị Tỉnh trưởng Khánh Hòa lúc đó là Đại Tá Lý Bá Phẩm, nguyên Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 Biệt Lập, ra lệnh cho ĐPQ bắn trọng thương và đã chết khi chở vào cấp cứu tại Cam Ranh.

Ngày đưa tang người xấu số, cũng là thời điểm Phế Binh Khánh Hòa đứng dậy đòi quyền sống. Taị Sàigòn, Trung Úy mù BĐQ Đỗ văn Lai cùng một số phế binh nặng, đang dưỡng thương tại Trung Tâm Chỉnh Hình đường Bà Huyện Thanh Quan, cũng biểu tình, cắm dùi khắp Đô Thành, đòi Chính Phủ phải cứu xét lại quyền lợi của họ, trước vật giá leo thang đắc đỏ, do sự hiện diện của Mỹ và Đồng Minh, vung đô la xanh đỏ qua cửa sổ như khói thuốc. Phong trào tranh đấu bùng nổ khắp nước, làm cho chính quyền trung ương cũng như tại các tỉnh bối rối, vì không thể dùng bạo lực để chèn ép hay khóa miệng, bởi phế binh cũng là lính, nên ai nỡ xuống tay.

Rồi Tổng Hội Thương Phế Binh ra đời tại Sàigòn, bầu PB Nguyễn Đinh làm Hội Trưởng, PB Nguyễn Bính Thịnh, tức nhà văn An Khê, làm phó và PB Đinh Trung Thu, tổng thư ký. Ngoài ra còn có một Hôi Ái Hữu Thương Phế Binh, do cựu Thiếu Tá Nguyễn Văn Hàng thành lập.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975) bắt đầu năm 1969 trở về sau, quyền lợi của Phế binh, cô nhi quả phụ càng ngay càng được cải tổ, chăm sóc và dễ thở hơn trước. Nạn chèn ép, dìm sổ trợ cấp để làm tiền cũng chấm dứt. Từ năm 1972, chính phủ cho thành lập Ty Cựu Chiến Binh tại các Tỉnh, có quyền hạn rất rộng rãi, ngoại trừ sổ trợ cấp đầu tiên được ký cấp từ Bộ. Cũng từ đó, người cô nhi, quả phụ và thương phế VNCH, được sống an nhàn hơn trước, với các quyền lợi thiết thực, tương xứng, từ trợ cấp, xin việc làm, y tế, cho tới các kỳ thi, tất cả đều ưu tiên cho họ.

Rồi thì hằng loạt Làng Phế binh, lần lượt ra đời tại quận cũng như thị xã. Riêng những phế binh đã có nhà, không muốn vào Làng, được trợ cấp một ngân khoản 60,000 đồng. Tất cả các làng trên, đều bị VC cướp giựt sau ngày 30-4-1975.

Làm người bình thường, sống trong thời loạn, đã phải khốn khổ vì miếng cơm manh áo, huống chi phận lính nghèo, lãnh đồng lương chết đói, vậy mà còn bị trí thức nguyền rủa, là lính đánh thuê cho Mỹ.
"Giọt mưa trên lá, nước mắt mặn mà, thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về..."
"Mẹ lần mò, ra trước ao, nắm áo người xưa, ngỡ trong giấc mơ, tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ..."
(Phạm Duy).
Nhưng chiến tranh chứa dứt và vẫn còn khốc liệt, nhưng người xưa nay đã thành tàn phế, vô dụng, lê lết đời tàn xuân héo, lần mò trở về làng xưa, với những kẻ thân yêu, mong chút tình thân đùm bọc.

Ai có cảm thông chăng người lính mù trẻ tuổi vì đạn B40, lần mò trên chiếc xe lăn, quanh bến phà, bến xe, miệng hát tay đờn kiếm sống? Có thương không những người lính trận, bán thân bất toại, lê lết khắp các nẻo đường phố thị, để bán vé số, sách báo, đắp đổi qua ngày. Và còn nữa, còn trăm ngàn thảm kịch của tuổi thanh niên thời loạn, chân gỗ tay nạng, mắt mũi vàng khè, khô nám, luôn đau đớn bởi những hậu chứng, sau khi giải phẫu. Nhưng họ vẫn lao động để sinh tồn, đi biển, làm nông, lết lê trên ruộng trên sóng, đội nắng tấm mưa. Kiếp sống phận bèo của người phế binh là thế đó, nên phải chiếm đất cắm dùi, cũng là chuyện bình thường.

Hai mươi năm chinh chiến, dù có gọi bằng một thứ danh từ gì chăng nữa, thì xác của nam nữ thanh niên hai miền đất nước, cũng đã chất cao như núi, máu chảy thành sông. Rốt cục chỉ có cái vỏ độc lập, hòa bình, tự do, thống nhất. Người cả nước đói vẫn đói và đời sống càng bị tù hãm tứ phiá, bởi cổ được mang nhiều thứ gông, cả cộng sản, lẫn tư bản và đảng cầm quyền.

Nhưng thê thiết nhất vẫn là những người phế binh VNCH. Ngày xưa lúc chế độ cũ còn, được nói, được hưởng đủ thứ quyền lợi, thế nhưng họ vẫn sống bèo bọt, cực nghèo. 30-4-1975, VC vào tóm thu tất cả, thêm vào đó là chuyện trả thù. Lính sống thì đi tù, lính chết thì cầy mộ, còn lính què đui tàn phế, thì bị xua đuổi ra khỏi các quân y viện, làng phế binh và ngay cả ngôi nhà của mình.

19-4-1975 tại Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết. 30-4-1975 tại Tổng Y Viện Cộng Hòa-Sàigòn. Thảm họa gì đã đến với các thương bệnh binh còn đang điều trị, khi giặc về? Có ai cầm được nước mắt trong cảnh đoạn trường máu lệ, khi từng đoàn thương binh, nối gót đắt dìu ra cổng. Người sáng dắt kẻ mù, kẻ bị thương nhẹ cõng người trọng bệnh. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi với nước mắt đoanh tròng của những nạn nhân bị bỏ rơi, không đại bàng, chẳng đồng đội và cũng hết hậu phương. Một số chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị. Đời thê thảm quá, cũng may lúc đó quanh họ, còn có những cô gái bán phấn buôn hương ở Ngã ba Chú Iá, Gò Vấp, những người xích lô ba gác, kẻ cho tiền, người giúp công, đưa hết những bệnh nhân xa xứ, tới bến xe về quê sống tiếp kiếp lính bèo.

Cuộc đổi đời nay đã xa lắc nhưng mỗi lần nhớ cứ tưởng mới hôm qua hôm nay. Ba mươi lăm năm rồi ta còn sống được, để nói chuyện văn chương chữ nghĩa trên đất người, đã là điều đại phúc. Trong lúc đó nơi quê nhà ngàn trùng xa cách, những người phế binh năm nào, không biết nay ai còn ai mất. Nhưng chắc chắn một điều, dù họ có sống hay đã chết, thì hận nhục, thương đau cũng đâu có khác gì bóng ma trơi, những mảng đời nghèo hèn tăm tối. Đâu có ai muốn nhắc tới những thân phận hẩm hiu trong vòng đời tục lụy, kể cả những cấp chỉ huy cũ, hiện đổi đời giàu sang, mồm to miệng thét ở hải ngoại.

- Xin hãy thương lấy họ, hãy cứu vớt họ đang trôi nổi trong ngục tù nghiệt ngã.
- Phế binh cũng là một phần của tập thể cựu quân nhân hải ngoại.
- Hãy rớt một chút ân thừa cho những thây người còn sống sót trong bể hận trầm luân.
- Hãy cho họ một chút tình thương trong cơn hấp hối.
- Hãy dành cho họ một chút không gian nho nhỏ, trong căn nhà VN to lớn, đã được các cộng đồng tị nạn hoàn thành trên khắp nẻo đường viễn xứ, để họ an tâm chờ đợi luân hồi và một vòng hoa tặng người chiến sĩ ca khúc khải hoàn, mà chắc chắn phải có trong thời gian gần.

Ngày xưa người chinh phụ, giữ sạch tâm hồn và băng trinh tuổi ngọc, để đợi chồng ngoài quan tái, hy vọng cuộc chiến mau tàn, để phu phụ trùng phùng, kết lại mối duyên xưa:

"Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
Xin vì chàng giũ lớp phong sương
Vì chàng tay chuốc chén vàng
Vì chàng điểm phấn, đeo hương não nùng
Liên ẩm, đối ẩm, đòi phen
Cùng chàng lại kết, mối duyên đến già..."
(Chinh Phụ Ngâm)

Nhưng người chinh phụ VNCH lại không có cái diễm phúc đó, vì khi quê hương vừa ngưng tiếng súng, lập tức từ quan quân cho tới sĩ thứ, những người bại trận, lớp lớp vào tù. Lính chết đã rục tử thi vẫn bị dầy mồ, lính bị thương tàn phế bị xua đuổi ra khỏi cuộc sống. Thử hỏi trên thế gian này, có kiếp người nào, đáng thương hơn người lính VNCH?

"Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương"
(Chinh Phụ Ngâm)

Cuộc đời thanh niên thời loạn ly, rốt cục chỉ còn lại nỗi buồn thiên cổ, xin hãy nâng ly rượu sầu lên môi mà nhớ. Nghiêng mình, cúi đầu cảm tạ những vị ân nhân, đã và đang hết lòng cưu mang, giúp đỡ tận tình "Thương Phế Binh, gia đình kể cả cô nhị quả phụ VNCH", hiện đang sống kiếp trầm luân rách đói, trong địa ngục VN.
Xóm Cồn Ha Uy Di
Tháng 11-2010

NHỮNG CON BÒ SỮA VIỆT KIỀU = VIỆT GIAN.


Cứ về đi,cứ tin vào chúng nó.
Sẽ có ngày mắt hoa nhìn cờ đỏ.
Mà ước mơ thèm một miếng cám heo.
Ở Hải Ngoại,dù Homeless,dù nghèo.
Hay đi tù cũng không khi nào đói.
Sao độc lập,dân chủ xa vòi vọi.
Cho dân tộc mang hai tiếng Việt Nam.
Dân cong lưng lao động suốt đời làm.
Cho Đảng hưởng rồi cha truyền con nối.
Trung ương Đảng cầm đôla nóng hổi.
Vung tiền tiêu như lũ lụt Miền Trung.
Dân chết oan trong tiếng thét hãi hùng.
Chẳng đứa nào tiếc thương và coi ngó.
Đồ cứu trợ bán luôn dân chết bỏ.
Mặc dân kêu Đảng hưởng tới bến luôn.
Hỡi Hải Ngoại ,Quốc Nội noi cội nguồn.
Nắm tay nhau đứng lên đập tan Đảng.
Vén làn mây cho nước nhà tươi sáng.
Hẹn nhau về để xây lại quê hương
VHT

Thời ấy nay còn đâu. ........???????

Xin cúi đầu mình xuống
Khóc quê hương, trói trong tay bạo cường.
Xin cúi đầu một phút
Nhớ anh em, sống trong ngục, trong tù
Nuôi cho sâu hận thù
Mong và chờ, về Việt Nam ước mơ
Một ngày bảy lăm, đứng ở cuối đường
Loài quỷ dữ xua con ra đại dương
Đời hai lần ta bỏ quê, bỏ nước
Phải nuôi ngày sau về ôm tổ quốc …
Ta phải về, ta chiếm lại quê hương
Ta phải về xây lại đời ta
Ta chống Cộng, ta không trốn Cộng
Ta và cả trăm ngàn đồng hương
Mai nay rồi, ta về VN mến yêu.

Thời ấy nay còn đâu. ........???????

Rồi cứ như thế sau thời kỳ mở cửa mà số lượng người Việt về nước cũng như kiều hối đã bắt buộc mọi người phải thay đổi lại thế nhìn, thế bắn. Không ai có thể từ chối được những món quà, không phải 10 đô la trong ngày lễ Noel mà là 3 tỉ đô la. 3 tỉ đô la tình nghia hàn gắn những vết sứt sẹo, những lời nói mà bình thường chỉ được coi như kẻ thù.

Gió đã đổi chiều, nên ngôn ngữ cũng đã đổi theo. Những chiếc thảm đỏ đã trải dài từ phi trường Tân Son Nhứt đến Nội Bài, chạy thẳng vào Bắc bộ Phủ. Thật là trớ trêu đến nực cười. Lúc ra đi trốn chui, trổn nhủi, lúc trở về thảm đỏ dưới chân.

Những thành phần rác rưởi ta vừa nói ở trên, những con bò sữa đã vắt cạn chẳng bao lâu sau trở thành rác quý mà người ta có thể chế biến thành những sản phẩm, những vật liệu để xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh. Ðã chẳng ai ngờ điều đó đã xảy ra. Rác rưởi cứ thể đổi hình, đổi dạng mà tính ra tiền bằng những sản phẩm mới.

Những anh thuyền chài có thể ra đi vỏn vẹn chiếc quần đùi nay chễm trệ ngồi Mercedes. Những mệnh phụ nói tiếng Mỹ oe oé. Kể gì đến những hiện tượng nhỏ nhoi đó. Ðã có rất nhiều thay đổi tràn đầy hy vọng như thế đối với giới người Việt di tản, nhất là noi người trẻ. Họ không còn là cô nữ sinh cười e lệ, hỏi không dám mở lời. Ngày nay họ là những chuyên viên hàng đầu của xã hội Mỹ. Có những người trong bọn họ đã làm ra số vốn bạc tỷ. Có người trong bọn họ, cùng với bạn đầu tư nửa tỷ đô la tại noi mà trước đây được coi là thánh địa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Củ Chi với những địa đạo, noi tự hào về cuộc chiến thần thánh trong tương lai trở thành biểu tượng "thung lũng của ngành tin học".

Và cái kim chỉ đường cho người Việt tương lai là hãy nhìn vào giới trẻ đang lên. Họ chiếm đa phần. Tương lai thuộc về họ, đời sống thuộc về họ, cộng đồng VN là họ. Không phải do một thiểu số những người lớn tuổi. Những người bỏ nước ra đi đã chỉ nhớ cái phần đầu câu chuyện mà quên phần cuối. Những câu truyện do người lớn kể ngày càng nhạt phèo như nước ốc. Phải chăng thời của họ đã hết? Họ bám víu vào những bèo bọt mà chính họ cũng chẳng còn thiết tha gì. Nhưng nếu không bám víu vào đó thì họ còn gì là họ?

Phải chăng cuộc ra đi bất hạnh nay đã trở thành đại hạnh cho chính mình, cho con cháu mình, cho cái noi mình đi tới và cả cái noi mà từ đó mình đã ra đi?

Hãy nhìn vào những con số để nhận ra câu chuyện thần thoại về người Việt di tản. Năm 1987, mới chỉ có 8 ngàn người về thăm quê hương, đến năm 1993 thì con số tăng lên 160 ngàn người, đến năm 2002 là 380 ngàn người. Con số tự nó nói lên điều gì rồi và người ta bắt đầu vỡ lẽ ra. Bên cạnh đó, kiều hối đem lại một sốn tiền tươi là 2 tỷ 6 đôla trong năm 2003. Hãy làm một so sánh cho rõ. Năm 2003, Việt Năm xuất khẩu được 20 tỉ đôla, trừ vốn liếng cho sản xuất, lời ròng của 20 tỷ vị tất đã được 5 tỷ?

Có một điều, nhiều người vô tình quên là năm nay có 2 triệu lượt khách đến Việt Nam . Cứ giả dụ, mỗi người khách tiêu 2000 đô la đầu người. Số tiền thu được sẽ là bao nhiêu? Trong số 300.000 người Việt về thăm quê hương, cứ cho là vừa tiêu xài, vừa cho bà con họ hàng, ở từ hai tuần đến một tháng, mỗi người đổ đồng chi tiêu 4000 đô la cho một chuyến về thăm quê hương, cán cân ngân sách cũng như nền kinh tế Việt Nam đã được kích cầu lên không nhỏ.

Tiềm năng thật lớn. Tương lai cũng đầy hứa hẹn. Ðó là nền kinh tế sống nhờ trên những kỹ nghệ không khói. 10 năm nữa, dự đoán số khách du lịch là 10 triệu người mỗi năm như Thái Lan hiện nay, với các đường bay thẳng Sàigòn-Mỹ, Sàigòn-Âu Châu. Chuyện đã xảy ra và chắc sẽ xảy ra. Lúc đó, tiền đổ vào qua du lịch không phải là nhỏ nên hiện nay trên hầu hết 60 tỉnh thành của VN đều có khu du lịch đủ kiểu.

Điều đáng nói hon nữa là nay có một số Việt Kiều về nước kinh doanh đầu tư với gần 100 dự án được chấp nhận với số vốn đầu tư con số xấp xỉ một tỉ đô la. Những Việt kiều như Nguyễn Chánh Khê với phát minh chế tạo thành công Carbon Nanotube (áp dụng vào việc sản xuất mực in và các sản phẩm công nghệ cao khác) không phải là hiếm. Dự án khu khách sạn Sofitel Vinpearl Resort–Spa, 5 sao, tại đảo Hòn Tre nay đã thành sự thực. Nha Trang đã khánh thành khu Vinpearl Resort vào cuối năm với số tiền đầu tư là 500 tỉ đồng. Phần lớn các số tiền đầu tư này tập trung vào linh vực công nghiệp, tin học, lắp ráp, du lịch.

Cũng vì thế, nhà nước đã chẳng tiếc lời gọi Việt Kiều là những người con của đất nước. Những lời lẽ trân trọng mật ngọt đã hẳn là không thiếu.

Gió chướng đã không còn nữa. Gió đã đổi chiều, ngôn ngữ đổi chiều, giọng lưỡi đổi giọng. Không còn có chữ nghĩa làm đau lòng nhau nữa. Trên tất cả các sách báo, trên các trang nhà, không còn có thể tìm thấy bất cứ thứ chữ nào nói xa nói gần đến chế độ miền Nam trước đây nữa. (1) Những chữ như bọn ngụy quân, ngụy quyền và bọn tay sai đã không tìm thấy trong tự điển của bộ chính trị nữa. Ngược lại không thiếu những chữ mật ngọt như "Tổ quốc Việt Nam , quê hương thân thiết luôn giang rộng vòng tay chào đón những người con xa xứ." "Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt nam định cư ở nước ngoài giữ gìn quan hệ gắn bó với quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước".

Luật quốc tịch điều hai thì viết rõ ràng thế này: "Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam . Người Việt nam ở nước ngoài là bộ phần không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam ."

NHỮNG KẺ TỰ THIÊU


Sau nhiều năm tuyên bố vung vít để mong Việt Cộng (VC) cho phép về Việt Nam để thực hiện giấc mộng cuồng rồ là được VC cho làm “Đại sứ lưu động” đi khắp nơi để “ăn mày viện trợ” cho VC, ngày 15 tháng 1 năm 2004, ông Nguyễn Cao Kỳ đã được toại nguyện.
Ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng là Tư Lệnh Không Quân của QLVNCH. Từng giữ chức Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức Thủ Tướng của cái gọi là “Chính phủ của dân nghèo”. Chức vụ cuối cùng của ông là chức Phó Tổng Thống là một chức vụ… ngồi chơi xơi nước!
Những lời tuyên bố ca tụng chế độ cộng sản, gọi những người Việt hải ngoại chống Cộng là “một lũ”, thách thức cộng đồng người Việt chống Cộng tại hải ngoại là sẽ không làm được gì ông ta, cùng những lời tuyên bố nhố nhăng, vung vít khác đã tạo nên một làn sóng phẫn nộ từ hải ngoại đến trong nước. Đã có quá nhiều lời phê phán của nhiều người, nhiều giới, từ già trẻ bé lớn, từ hải ngoại đến trong nước, từ những người mà cửa miệng chưa bao giờ biết đến hai chữ “chống Cộng”, cũng như những người thường coi mình thuộc thành phần “thầm lặng” đến những người coi chuyện chống Cộng là để yểm trợ trên 87 triệu đồng bào trong nước được hưởng một chế độ tự do, dân và nhân quyền là lẽ sống của đời mình… về những việc làm phản bội, vô liêm sỉ, khốn nạn của ông Nguyễn Cao Kỳ.
Trong một bài báo được đăng tải trên tờ New York Times thấy ông Kỳ có khoe mẽ là chuyến du hành của ông “phát xuất từ những khuyến khích nơi hậu trường của chính quyền Bush”; nhưng, qua bài báo phỏng vấn của Thông tấn xã VC, cho thấy chuyện vậy mà không phải vậy! Việc ông Nguyễn Cao Kỳ trở về Việt Nam không phải là “xuất phát từ những khuyến khích nơi hậu trường của chính quyền Bush” mà chỉ là xuất phát từ bà vợ mới, người con gái riêng của bà này và chuyện làm ăn với VC của ông Kỳ và những người này.
Nghe ông Nguyễn Cao Kỳ nhũn như con chi chi trả lời phóng viên Thông tấn xã VC: “Bây giờ tôi đã 75, chắc là cũng chỉ có thể cố gắng được trong khoảng 3 năm nữa để góp phần xây dựng những nhịp cầu của sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc mà phát ứa gan! Làm ăn thất bại ở Mỹ, theo bà vợ “mới sắm” về VN làm nghề dẫn đường, dắt mối để kiếm sống thì cứ lẳng lặng mà làm, khoác lên cái lớp sơn “xây dựng sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc” làm quái gì cho nó thêm lỡ loét hào quang “lái phi cơ vượt sông Bến Hải hô hào Bắc tiến” thuở nào.
Càng bệ rạc hơn khi lại phải vâng lệnh VC trồi đầu về Mỹ, tới khách sạn Dana Point nói lời bợ đỡ Chủ tịch nước VC Nguyễn Minh Triết trong khi bên ngoài hàng ngàn người Việt tỵ nạn cộng sản biểu tình phản đối.
Bằng những việc làm đốn mạt, tự tay ông Nguyễn Cao Kỳ đã nổi lửa thiêu rụi cái hào quang, cái uy tín ngày nào khi còn là một Tư Lệnh Không Quân, là một Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, là một Phó Tổng Thống - dù chỉ là bù nhìn!
Sau 6 năm
“Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra chi!”
cho đến nay, cựu Phó Tổng Thống, cựu Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, cựu Tư Lệnh Không Quân/QLVNCH chỉ còn là một cái thây ma chính trị. Và đã bị bọn cầm quyền VC vất bỏ như một cái vỏ chanh đã hết nước!
*
Sáu năm sau, tháng 10 năm 2010, một cựu lãnh đạo cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và QLVNCH lại bước theo bước chân ô nhục của cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đó là ông Trần Thiện Khiêm, cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, cựu Đại Tướng QLVNCH. Sau 35 năm im hơi, lặng tiếng trước những đau thương, mất mát cho người dân miền Nam mà trong đó ông cũng có một phần trách nhiệm. Sau 35 im hơi, lặng tiếng trước những biến động của thời cuộc, trước những tranh đấu của những người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, trước những đòn thù của VC liên tục tấn công vào người Việt tỵ nạn. Đùng một cái, vào những này cuối tháng 9 năm 2010, ông lại xuất hiện tại Quận Cam, miền Nam California, trong cái gọi là “Đại hội Bất thường” của Tập Thể Chiến Sĩ VN/HN. Trên truyền thanh, truyền hình, báo chí và trên các diễn đàn điện tử đã có nói nhiều về chuyện xuất hiện của ông Trần Thiện Khiêm. Những lời bênh vực gượng gạo của những người đã từng thọ ơn ông cưu Thủ Tướng, cựu Đại Tướng của chế độ VNCH đã không át nỗi những âm thanh cuồng nộ của LẼ PHẢI VÀ SỰ THẬT!
Chuyện ô nhục nhất là chuyện ông Trần Thiện Khiêm đã trả lời trong cuộc phỏng vấn 60 phút của xướng ngôn viên Việt Dzũng của đài truyền hình SBTN.
“Dù Cộng sản hay không Cộng sản thì họ cũng có tinh thần dân tộc yêu nước. Kết án bây giờ hẳn có sự sai lầm chăng?”
Nghe câu trả lời rất ư là “lịch sử” này của ông cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, chắc chắn những người lính đã chết trong cuộc chiến bảo vệ cho tự do, dân chủ của chế độ miền Nam chắc chắn không yên lòng mà nhắm mắt. Nếu có một phép lạ nào mà họ có thể làm được, chắc chắn hàng vạn oan hồn uổng tử sẽ hiện lên để đòi mạng ông cựu Đại Tướng vô cùng khốn nạn này là cái chắc! Nó theo cách nói của phim bộ Hồng Kông thì ông không trả lời đâu có ai nói ông câm!
Chưa hết chuyện khốn nạn của một ông cựu Thủ Tướng của chế độ VNCH!
Khi được xướng ngôn viên Việt Dzũng hỏi:
“Đại Tướng có thông điệp gì cho tuổi trẻ trong nước và hải ngoại”
thì ông Trần Thiện Khiêm trả lời ngon ơ:
“Đảng Cộng sản Việt Nam đang tổ chức họp đảng và đang lấy từng ý kiến của người dân để thay đổi chế độ. Người dân cứ việc đưa ý kiến cho đảng cộng sản VN”.
Theo bà Tôn Nữ Hoàng Hoa diễn tả trong bài “Nghe Nói Mà Mắc Cỡ” thì:
“Nghe như vậy Việt Dzũng lúynh quýnh thấy mà tội bèn phản ứng:
“Đưa ý kiến sao được, Công An chúng sẽ tóm hết”.
Cụ Thủ Tướng TTK thấy thái độ của Việt Dzũng bèn nói trớ là :
“Ở bên Pháp đã đưa ý kiến”.
Thiệt đúng là… “hết nước nói” với ông Trần Thiện Khiêm, người đã từng là Đại Tướng của QLVNCH và là Thủ Tướng của chế độ VNCH.
*
Năm 2004, cựu Thiếu Tướng, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống VNCH là ông Nguyễn Cao Kỳ theo bà vợ mới về VN buôn bán, làm ăn để sống nốt những ngày cuối đời. Ông đã tự nổi lửa thiêu rụi cái quá khứ của ông là một sĩ quan cao cấp trong QLVNCH, là một lãnh đạo cao cấp của chế độ VNCH.
Đến nay, ông Nguyễn Cao Kỳ đối với người Việt tỵ nạn tại hải ngoại chỉ là một tử thi chưa chôn!
Năm 2010, cựu Đại Tướng, cựu Thủ Tướng của VNCH là ông Trần Thiện Khiêm cũng theo bà vợ mới đến Quận Cam lại làm chuyện đốn mạt hơn cả ông Nguyễn Cao KỳCA TỤNG VIỆT CỘNG CŨNG CÓ TINH THẦN YÊU NƯỚC [sic]!
Trước đó, ông ta đã đến “Tượng Đài Việt Mỹ” và đã dự “Đại hội Bất Thường” của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH/HN. Không biết ông cựu Đại Tướng có nhớ đến câu “Nhất Tướng công thành vạn cốt khô?” Được biết đại hội này đã bầu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại làm Chủ Tịch thay thế cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Vinh. (Theo tin được đưa lên diễn đàn điện tử cách nay khoảng 2 tháng thì Phó Đề Đốc Hồ văn Kỳ Thoại là 1 trong 3 người đã được Tổng lãnh sự Houston là Lê Dũng tiếp xúc để đề nghị chuyện “hoà giải, hòa hợp” để xây dựng đất nước. Một cựu Sĩ quan Hải quân đã liên lạc với ông Phó Đề Đốc và hỏi về chuyện này thì ông ta cho biết là sự thật nhưng ông ta đang còn “WAIT AND SEE!”
Không biết khi về dự “Đại hội Bất Thường” và nhận chức Chủ Tịch của Tập Thể, ông Phó Đề Đốc đã có trả lời dứt khoát về đề nghị của TLSVC ở Houston hay chưa? Chúng tôi xin nêu lên vấn đề này với sự dè dặt thường lệ?).
Chuyện 2 ông Cưu Tướng, Cựu Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm tự nổi lửa tự thiêu không có gì quan trọng vì cá nhân và gia đình các ông ấy phải gánh chịu. Chuyện chúng tôi xin lên tiếng ở đây là chuyện ông Tân Chủ Tịch Hồ Văn Kỳ Thoại đã mời ông cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm vào Hội Đồng Tư Vấn của Tập Thể. Trong khi đó thì trước đó, ông Phan Tấn Ngưu, người tổ chức “Đại Hội Bất Thường” cho biết là ông Trần Thiện Khiêm đến Quận Cam “chỉ để cám ơn những người đã tổ chức quyên góp để giúp thương phế binh trong nhiều năm qua và mời những người này một bữa cơm” (sic!). Và cũng chính ông Phan Tấn Ngưu trả lời báo chí là ông Trần Thiện Khiêm không có dính dáng gì tới “Đại Hội Bất Thường” của Tập Thể.
Chuyện những câu tuyên bố tự thiêu mình của ông Trần Thiện Khiêm trong cuộc phỏng vấn của Việt Dzũng, theo tôi, không quan trọng bằng chuyện thời gian còn lại sau những câu trả lời ô nhục ca tụng VC CŨNG CÓ TINH THẦN DÂN TỘC. Đó là chuyện ông ta cứ nói đi, nói lại về chuyện Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
*
Với “Đại hội Bất Thường” với vị Tân Chủ Tịch là Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại có lời đồn đãi là ông này có liên hệ với TLS/VC ở Houston. Với cuộc phỏng vấn của đài SBTN với chuyện lặp đi, lặp lại Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam của ông Trần Thiện Khiêm mà ông Tân Chủ Tịch Hồ Văn Kỳ Thoại cho biết là đã mời ông ta vào Hội Đồng Tư Vấn, trong cộng đồng đang dấy lên dư luận: Phải chăng trong tương lai Tập Thể sẽ tổ chức diễn thuyết, triễn lãm, trưng bày về trận hải chiến Hoàng Sa, Trường Sa (mà Đô Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là người chỉ huy) để gây quỹ, để đăng báo Mỹ… để cùng với đảng Việt Tân tiếp tay Việt Cộng chống Trung Cộng - như đảng Việt Tân đang làm trong chiều hướng hoà giải hòa hợp với VC?
Sở dĩ dư luận thắc mắc về chuyện này vì trước kia, sau khi Đại Hội Toàn Quân rất là thành công với hàng ngàn người tham dự thì các ông Nguyễn Xuân Vinh, Lê Minh Đảo, Nguyễn Khắc Bình đã đem nguyên con Tập Thể yểm trợ đảng Việt Tân tổ chức “Ngày Việt Nam Tự Do” để thay thế “Ngày Quốc Hận 30-4” tại Hoa Thịnh Đốn. Bị dư luận tố cáo, Tập Thể “đã ngủ yên” từ bấy đến nay.
Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình sau “Đại hội Bất Thường” khi trả lời báo chí có cho biết “cá nhân ông cũng như Tập Thể vẫn có liên lạc thường xuyên với cựu Đại Tướng (Trần Thiện Khiêm) vì Đại Tướng cũng là người có nhiều liên lạc với các giới lãnh đạo Hoa Kỳ”.
Cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa, ông Nguyễn Văn Ngân, cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đều xác nhận ông Trần Thiện Khiêm là người hoạt động cho CIA
Phải chăng đây là lúc những thế lực đứng trong bóng tối đang giật dây các con rối chính trị tại cánh đồng lầy chính trị tại hải ngoại tiếp tay với đảng Việt Tân phá nát các cơ chế chính danh của cộng đồng chống Cộng, các tổ chức thực sự chống Cộng để hoà giải hòa hợp với VC để chia chác bàn tiệc xương máu của 87 triệu người dân trong nước và 3 triệu người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại?

LÃO MÓC
Email: laomoc45@yahoo.com

Những 'quái vật' khủng khiếp nhất vùng sông nước


Chúng tôi đã giới thiệu con cá ăn thịt sát thủ nặng 45kg và cá trê khổng lồ dài 2,3m do Jeremy bắt được. Kỳ này, độc giả sẽ được chiêm ngưỡng những "quái vật” khủng khiếp không kém mà Jeremy từng đánh bại.

Jeremy Wade, sinh năm 1960 ở Anh, là một nhà sinh nghiên cứu sinh vật học, người dẫn chương trình truyền hình, một chuyên gia câu cá cừ khôi, một nhà văn kỳ cựu chuyên về du hành và lịch sử tự nhiên.

Ông nổi tiếng trong series truyền hình Rivers Monsters (Quái vật ở những dòng sông) do hãng Icon Films sản xuất. Ông có mối quan tâm đặc biệt với các vùng nước ngọt, vì thế ông đã đi khắp thế giới để tìm bắt những con cá nước ngọt khổng lồ.

Dưới đây là hình ảnh những quái vật mà Jeremy đã bắt được:


Jeremy Wade và một con cá tầm trắng, một trong những loài cá nước ngọt to lớn và cổ xưa nhất ở Bắc Mỹ. con cá tầm to nhất được xác nhận có chiều dài hơn 6m và nặng đến gần 820kg. Cá tầm trắng đã có mặt trên trái đất khoảng 100 triệu năm; chúng cũng là loài có có tuổi thọ rất dài, con cá thọ nhất được ghi nhận đã sống đến 104 năm.

Một con cá lao – loài cá phổ biến ở bắc Mỹ và châu Âu. Hình dạng của nó thuôn dài và nhọn đầu như một mũi lao.

Jeremy Wade đang ôm phần còn sót lại của một gã khổng lồ bại trận mà ông tìm được trên sông Zambezi. Con cá to xác này đã bị một gã quái vật nào đó cắn đứt một nữa thân mình. Nhóm của Jeremy cho rằng thủ phạm rất có thể là một con cá mập bò rất to – cũng là một trong những quái vật đáng sợ của vùng nước ngọt này.

Jeremy Wade và một con cá mú đồ sộ ông vừa bắt được ở Queensland, là một trong những con cá vĩ đại nhất mà ông từng tóm được. Loài cá mú khổng lồ này là loài cá xương lớn nhất sống trong rạn san hô và là một trong biểu tượng của bang Queensland, Úc.

Một con cá sấu Mỹ dài hơn 2m và nặng hơn 50kg vừa bị bắt ở sông Trinity, Texas. Con sông này chảy ra vịnh Mexico, với địa hình quanh co và có rất nhiều gỗ mục trôi nổi trên sông.

Jeremy Wade đang ôm một con cá chép Thái ông vừa bắt được ở sông Mekong. Con cá này còn non và kích thước của nó chỉ bằng 1 phần rất nhỏ kích thước khi trưởng thành. Một con cá chép Thái trưởng thành có thể đạt chiều dài hơn 3m và nặng gần 300kg, và là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất trên hành tinh.

Một con cá trê Goonch nặng hơn 73kg, dài gần 2m. Loài cá trê này sống ở khu vực sông mà người ta thường vứt những giàn thiêu sau những nghi lễ hỏa táng người chết của người Hindu. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sở dĩ loài cá này có kích thước to lớn là do thường ăn những phần cơ thể người còn sót lại sau khi hỏa thiêu. Cũng chính vì có khẩu phần ăn đặc biệt như vậy mà nhiều cá thể của loài này đã dần phát triển khẩu vị đối với thịt người, và đây được xem là lý do giải thích cho các vụ tấn công do loài này gây ra nhằm vào người dân địa phương.

Tuy là một loài vô hại, nhưng hình thù của loài cá phổi châu Phi này cũng đủ làm người ta chết khiếp. Một con cá phổi trưởng thành có thể dài gần 2m. Những gã khổng lồ xấu xí này còn có một khả năng đặt biệt là có thể thích ứng được với môi trường khô cạn và hít thở không khí nhờ vào một phần của ruột có vai trò như lá phổi.

Một con cá Cuiu-Cuiu – một loài cá trê có từ thời tiền sử - bị Jeremy tóm ở Orinoco gần khu vực Amazon. Loài cá này có thể đạt chiều dài 1m và nặng khoảng 20kg khi trưởng thành. Dọc theo mạng sườn của nó có những chiếc xương nhô ra, khiến chúng có hình dạng như những chiến binh mặc áo giáp.

Jeremy Wade cầm một con piranha đen – loài lớn nhất trong số 40 loài piranha. Loài cá này có răng hình tam giác bén ngót như lưỡi dao lam, có khả năng xé thịt con mồi chỉ trong nháy mắt. Mặt dù có kích thước khá nhỏ, song các loài piranha đều là những tên sát thủ nguy hiểm nhất vùng nước ngọt với khả năng chén sạch con mồi nhanh như chớp.

Một họ hàng gần của loài piranha, loài cá payara này còn được gọi là cá “ma cà rồng” vì cặp răng nanh dài sắt nhọn của nó. Loài cá này ít nổi tiếng hơn loài họ hàng của mình, chúng sống ở sông Orinoco, Venezuela.

Một con arapaima nặng gần 70kg. Con cá này bị bắt ở bãi sông Rio Maderia, một bãi sông cạn, nhiều phù sa ở Brazil. Tuy to xác nhưng cá arapaima rất nhát gan. Khi bị giật mình, nó quẫy và bắn nước rất mạnh. Cơ hội cho bạn khi săn loài cá này là đừng làm chúng hoảng sợ, chỉ khi bạn thấy nó nổi lên và bơi nhẹ nhàng thì bạn mới có cơ may bắt được nó.

Jeremy Wade vừa bắt được một con cá trê đuôi đỏ. Các loài cá trê thường không có răng sắt nhọn vì phương thức săn mồi của chúng là hút và nuốt trọn con mồi. Loài cá trê đuôi đỏ này có một cái đầu to xương xẩu và lớp da dày dai.

Jeremy và một con cá rô khổng lồ ông vừa bắt được ở sông Nile. Loài cá rô sông Nile này khi trưởng thành có thể dài gần 2m và nặng khoảng 230kg.

Bài toán của người ăn mày ...

Tôi xách túi đồ nhãn hiệu Gucci ra khỏi Diamond Plaza rồi đứng lại ở cửa chờ bạn.
Một tay ăn mày chuyên nghiệp phát hiện ra tôi, sán tới đứng trước mặt. Câu chuyện của tôi chỉ có thế thôi. Thế nhưng tay ăn mày đã dạy tôi một bài học kinh tế còn sâu sắc hơn một khoá học MBA ở trường.

Tôi kể câu chuyện này chính bởi ý nguyện của tay ăn mày đó.
- Xin anh… cho tôi ít tiền đi! - Tôi đứng đó chả có việc gì nên tiện tay vứt cho hắn đồng tiền xu, rồi bắt chuyện cùng nhau.
Ăn mày rất thích kể lể.
- Tôi chỉ ăn mày quanh khu mua sắm này thôi, anh biết không? Tôi chỉ liếc một phát là thấy anh ngay. Đi mua Gucci ở Plaza chắc chắn nhiều tiền…
- Hả? Ông cũng hiểu đời phết nhỉ! - Tôi ngạc nhiên.
- Làm ăn mày, cũng phải ăn mày cho nó có khoa học! - Ông ta bắt đầu mở máy.
Tôi ngẫm nghĩ một lát, thấy thú vị bèn hỏi:
- Thế nào là ăn mày một cách khoa học?
Tôi nhìn kỹ ông ta, đầu tóc rối bù, quần áo rách nát, tay gầy giơ xương, nhưng lại sạch sẽ. Ông ta giảng giải:
- Ai chẳng sợ và ghét ăn mày, nhưng tôi tin anh không ghét tôi, tôi đoán chắc điều đó. Đấy là điểm tôi khác biệt với những thằng ăn mày khác.
Tôi gật đầu đồng ý, đúng là tôi không ghét ông ta, nên tôi đang nói chuyện với ông ta đấy thôi.
- Tôi biết phân tích SWOT, những ưu thế, bất lợi, những cơ hội và nguy cơ. Đối mặt với những thằng ăn mày là đối thủ cạnh tranh của tôi, ưu thế (Strengths) của tôi là tôi không làm người ta phản cảm, lánh sợ. Cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) thì chỉ là những yếu tố điều kiện bên ngoài thuộc về hoàn cảnh, có thể là dân số ở đây đông hay vắng, thành phố có quyết định chỉnh trang đô thị, dẹp hè phố chăng…
- …???
- Tôi đã từng tính toán rất cụ tỉ (cụ thể và tỉ mỉ) rằng, khu vực thương mại này người qua lại đông, mỗi ngày khoảng mười nghìn người, nghèo thì nhiều lắm, nhưng người giàu còn nhiều hơn. Trên phương diện lý luận thì giả như mỗi ngày tôi xin được mỗi người một đồng xu một nghìn đồng, thì mỗi tháng thu nhập của tôi đã được ba trăm triệu đồng. Nhưng thực tế thì đâu phải ai cũng cho ăn mày tiền, mà một ngày làm sao tôi đi xin được mười nghìn lượt người. Vì thế, tôi phải phân tích, ai là khách hàng mục tiêu của tôi, đâu là khách hàng tiềm năng của tôi.

Ông ta lấy giọng nói tiếp:
- Ở khu Diamond Plaza này thì khách hàng mục tiêu của tôi chiếm khoảng 30% số lượng người mua sắm, tỉ lệ thành công khoảng 70%. Lượng khách hàng tiềm năng chiếm khoảng 20%, tỉ lệ thành công trên đối tượng này khoảng 50%. Còn lại 50% số người, tôi chọn cách là bỏ qua họ, bởi tôi không có đủ thời gian để tìm vận may của mình với họ, tức là xin tiền họ.
- Thế ông định nghĩa thế nào về khách hàng của ông? - Tôi căn vặn.
- Trước tiên, khách hàng mục tiêu nhé. Thì những nam thanh niên trẻ như anh đấy, có thu nhập, nên tiêu tiền không lưỡng lự. Ngoài ra các đôi tình nhân cũng nằm trong đối tượng khách hàng mục tiêu của tôi, họ không thể mất mặt trước bạn khác phái, vì thế đành phải ra tay hào phóng. Rồi tôi chọn các cô gái xinh đẹp đi một mình là khách hàng tiềm năng, bởi họ rất sợ bị lẽo đẽo theo, chắc chắn họ chọn cách bỏ tiền ra cho rảnh nợ. Hai đối tượng này đều thuộc tầm tuổi 20-30. Nếu tuổi khách hàng nhỏ quá, họ không có thu nhập, mà tuổi già hơn, thì họ có thể đã có gia đình, tiền bạc bị vợ cầm hết rồi. Những ông chồng đó biết đâu có khi đang âm thầm tiếc hận rằng không thể ngửa tay ra xin tiền của tôi ấy chứ!
- Thế thì mỗi ngày ông xin được bao nhiêu tiền?
- Thứ hai đến thứ sáu, sẽ kém một chút, khoảng hai trăm nghìn. Cuối tuần thậm chí có thể 4-500 nghìn.
- Hả? Nhiều vậy sao?
Thấy tôi nghi ngờ, ông ta tính cho tôi thấy:
- Tôi cũng khác gì anh, tôi cũng làm việc tám giờ vàng ngọc. Buổi sáng từ 11h đến tối 7h, cuối tuần vẫn đi làm như thường. Mỗi lần ăn mày một người tôi mất khoảng 5 giây, trừ đi thời gian tôi đi lại, di chuyển giữa các mục tiêu, thường một phút tôi xin được một lần được một đồng xu 1 nghìn, 8 tiếng tôi xin được 480 đồng một nghìn, rồi tính với tỉ lệ thành công 60% [(70%+50%)÷2] thì tôi được khoảng 300 nghìn.
Chiến lược ăn mày của tôi là dứt khoát không đeo bám khách chạy dọc phố. Nếu xin mà họ không cho, tôi dứt khoát không bám theo họ. Bởi nếu họ cho tiền thì đã cho ngay rồi, nếu họ cho vì bị đeo bám lâu, thì tỉ lệ thành công cũng nhỏ. Tôi không thể mang thời gian ăn mày có giới hạn của tôi để đi lãng phí trên những người khách này, trong khi tôi có thể xoay ngay sang mục tiêu bên cạnh.
Trời, tay ăn mày này có đầu óc quá đi, phân tích như thể giám đốc kinh doanh hoặc giám đốc tiếp thị vậy.
- Ông nói tiếp đi! - Tôi hào hứng.
- Có người bảo ăn mày có số may hay xui, tôi không nghĩ thế. Lấy ví dụ cho anh nhé, nếu có một thanh niên đẹp trai và một phụ nữ xinh đẹp đứng trước cửa shop đồ lót mỹ phẩm, thì anh sẽ chọn ai để ăn mày?
Tôi ngẫm nghĩ rồi bảo, tôi không biết.
- Anh nên đi đến xin tiền anh thanh niên kia. Vì đứng bên anh ta là một phụ nữ đẹp, anh ta chẳng lẽ lại không cho ăn mày tiền. Nhưng nếu anh đi xin cô gái đẹp, cô ta sẽ giả vờ là ghê sợ anh rồi lánh xa anh.
Thôi cho anh một ví dụ nữa: Hôm nọ đứng ở cửa siêu thị BigC có một cô gái trẻ tay cầm túi đồ vừa mua từ siêu thị, một đôi nam nữ yêu nhau đang đứng ăn kem, và một anh chàng đóng bộ công chức chỉnh tề, tay xách túi đựng máy tính xách tay. Tôi chỉ nhìn họ ba giây, sẽ không ngần ngừ bước thẳng tới mặt cô gái trẻ xin tiền, cô gái cho tôi hẳn hai đồng xu, nhưng ngạc nhiên hỏi tôi tại sao chỉ xin tiền có mỗi cô ta. Tôi trả lời rằng, cái đôi tình nhân kia đang ăn, họ không tiện rút ví ra cho tiền, anh kia trông có vẻ lắm tiền, trông như sếp nhưng vì thế trên người họ thường không có sẵn tiền lẻ.. Còn cô vừa mua sắm ở siêu thị ra, cô tất còn ít tiền thừa, tiền lẻ.

Chí lý, tôi càng nghe tay ăn mày nói càng tỉnh cả người ra.
- Cho nên tôi bảo rồi, tri thức quyết định tất cả!
Tôi nghe sếp tôi nói bao lần câu này, nhưng đây là lần đầu tôi nghe một thằng ăn mày nói câu này.
- Ăn mày cũng phải mang tri thức ra mà ăn mày. Chứ ngày ngày nằm ệch ra ở xó chợ, cầu thang lên đường vượt giao lộ, xin ai cho được tiền? Những người đi qua giao lộ, chạy qua cổng chợ đều vội vàng hoặc cồng kềnh, ai ra đấy mà chơi bao giờ, ra đấy xin chỉ mệt người. Phải trang bị tri thức cho chính mình, học kiến thức mới làm người ta thông minh lên, những người thông minh sẽ không bao giờ ngừng học hỏi kiến thức mới. Thế kỷ 21 rồi, bây giờ người ta cần gì, có phải là cần nhân tài không ?
Có lần, có một người cho tôi hẳn 50 nghìn, nhờ tôi đứng dưới cửa sổ gào: "Hường ơi, anh yêu em", gào 100 lần. Tôi tính ra gọi một tiếng mất 5 giây, thời gian cũng tương tự như tôi đi ăn mày một lần, nhưng lợi nhuận đạt được chỉ 500 đồng, còn kém đi ăn mày, thế là tôi từ chối.
Ở đây, nói chung một tay ăn mày một tháng có thể đi xin được một nghìn hoặc tám trăm lần. Người nào may mắn thì cùng lắm đi xin được khoảng hai nghìn lần. Dân số ở đây khoảng 6 triệu, ăn mày độ trăm anh, tức là tôi cứ khoảng mười nghìn người dân mới ăn mày một người. Như thế thu nhập của tôi ổn định, về cơ bản là cho dù kinh tế thế giới đi lên hay đi xuống, tình hình xin tiền của tôi vẫn ổn định, không biến động nhiều.
Trời, tôi phục tay ăn mày này quá!
- Tôi thường nói tôi là một thằng ăn mày vui vẻ. Những thằng ăn mày khác thường vui vì xin được nhiều tiền. Tôi thường bảo chúng nó là, chúng mày nhầm rồi. Vì vui vẻ thì mới xin được nhiều tiền chứ.
Quá chuẩn!
- Ăn mày là nghề nghiệp của tôi, phải hiểu được niềm vui do công việc của mình mang lại. Lúc trời mưa ít người ra phố, những thằng ăn mày khác đều ủ rũ oán trách hoặc ngủ. Đừng nên như thế, hãy tranh thủ mà cảm nhận vẻ đẹp của thành phố. Tối về tôi dắt vợ và con đi chơi ngắm trời đêm, nhà ba người nói cười vui vẻ, có lúc đi đường gặp đồng nghiệp, tôi có khi cũng vứt cho họ một đồng xu, để thấy họ vui vẻ đi, nhìn họ như nhìn thấy chính mình.
- Ối ông cũng có vợ con?
- Vợ tôi ở nhà làm bà nội trợ, con tôi đi học. Tôi vay tiền ngân hàng HSBC mua một căn nhà nhỏ ở Phú Mỹ Hưng, trả nợ dần trong mười năm, vẫn còn sáu năm nữa mới trả hết. Tôi phải nỗ lực kiếm tiền, con tôi còn phải học lên đại học, tôi sẽ cho nó học Quản trị kinh doanh, Marketing, để con tôi có thể trở thành một thằng ăn mày xuất sắc hơn bố nó.
Tôi buột miệng:
- Ông ơi, ông có thu nhận tôi làm đệ tử không ?
sưu tầm

TẠI SAO PHẢI THAY ĐỔI TÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM?


Vì đã đến lúc phải dẹp bỏ tên đảng Cộng sản để thay vào bằng một cái tên nào khác cho được lòng dân. Thí dụ: như đảng Quốc Dân Tự Do, đảng Dân Chủ, đảng Cộng Hòa, hay đảng Vì Dân chẳng hạn v .v. . . để giữa những người Việt trong nước và những người Việt ở nước ngoài đang đấu tranh đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền cho đất nước, có thể ngồi lại đối thoại với chinh quyền hiện



Ảnh minh họa.

tại trong tình tự dân tộc. Cùng nhau xóa bỏ bớt đi những dị biệt và hận thù để tiến đến một thỏa thuận chung, ngõ hầu mang lại hòa khí dân tộc thay vì thù hận và ngoảnh mặt không chịu nhìn nhận nhau là anh em cùng một nước, cùng một giống nòi như hiện nay, để tìm ra một biện pháp hòa giải nhằm kiến tạo xây dựng đất nước ngày một thịnh vượng hơn, cho toàn dân thực sự được ấm no hạnh phúc, bớt đi khổ đau và nghèo đói do chiến tranh hơn một nửa thế kỷ gây ra .

Lúc này hơn lúc nào hết, cả dân tộc cần phải đoàn kết siết chặt tay nhau lại trong ngoài mới mong có thể đối phó được với kẻ thù Trung Quốc xảo quyệt đang ngày đêm rình chực đe dọa xâm lăng bờ cõi đất nước thân yêu của chúng ta .

Để tỏ thiện chí, điều tiên quyết chúng ta đòi hỏi là nhà đương quyền cộng sản Việt Nam phải trả tự do hết những nhà tranh đấu cho Tự do Dân chủ hiện đang bị cầm tù trong các nhà lao một cách vô điều kiện. Sau đó tiến đến thay đổi tên Đảng cộng sản, rồi tuần tự từng bước trưng cầu dân ý, tiếp theo là tổ chức ứng cử và bầu cử tự do v.v. . .

Lý do cần thay đổi tên đảng Cộng sản vì mọi người dân Việt Nam từ Bắc chí Nam, mỗi khi nghe nói đến tên đảng Cộng sản, từ bấy lâu nay đã kinh khiếp rồi, đã ớn quá trời rồi! Không phải chỉ có dân tộc ta kinh khiếp mà cả Thế giới đã dẹp bỏ vì nó đã lỗi thời, và hơn thế nữa nhân loại còn kinh tởm vì bản chất phi nhân và độc ác của chúng.

HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN

Những người cộng sản Việt Nam, sau 30 – 4 – 75 cho đến tận bây giờ đều tự hào là nhờ có Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản nên mới chiến thắng được hai đế quốc lớn mạnh nhất thế giới là Pháp và Mỹ. Điều đó là đúng. Lịch sử thế giới và mọi người không ai có thể chối cãi được. Song câu hỏi ngược lại là, nếu không có đảng cộng sản Việt Nam thì nước Việt Nam sau thời gian đó có còn bị nô lệ nước Pháp nữa không? Có còn bị nước Pháp đô hộ nữa không? Câu trả lời là: Thưa KHÔNG! Vì thế giới sau này, cao trào đòi hỏi độc lập cho những nước bị trị, bị xâm lăng làm thuộc địa đã dâng cao sau đệ nhị Thế chiến. Những nước bị chiếm làm thuộc địa này đã được trả lại độc lập hầu hết như: Indonesia, Philippine, Nam Phi, và những nước Phi châu cũng đã được Độc lập Tự do.

Còn nữa, nếu không có Hồ Chí Minh lặn lội xuống bến Nhà Rồng đi tìm đường “cứu nước “ thì làm sao “Người“ gặp được đảng cộng sản Pháp, gặp được Quốc tế Cộng sản và gặp được cộng sản Liên Xô, cộng sản Trung Quốc, để mang về một cái tai ách thê lương khốn khổ cho đất nước và cả dân tộc cho mãi tận đến giờ!

Từ bấy lâu nay, những người cộng sản Việt Nam vẫn tin rằng Hồ Chí Minh là vị Cha Già của dân tộc. Người đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến đánh đuổi được đế quốc Pháp mang lại độc lập và thống nhất Tổ quốc. Nhưng họ không biết rằng, những nước trong thuộc địa Anh, thuộc địa Bồ Đào Nha và thuộc địa Pháp bị xâm lăng như đã nói ở trên đã dần đươc trả lại độc lập từ thời điểm 1945 đến những thập niên sau này. Cho đến nay không còn một quốc gia nào trên Thế Giới còn bị đô hộ.

Hơn nữa, Hồ Chí Minh là một Lãnh tụ được Đảng cộng sản Việt Nam tô vẽ thần thánh hóa tôn vinh là vị Cha Già Dân tộc để lừa bịp dư luận Quốc tế và những thế hệ đến sau. Nhân vật này không có đủ đạo đức và tư cách cá nhân để được tôn vinh lên ngôi vị cao sang như thế! Thí dụ: như y viết sách “Cuộc đời của Hồ Chủ Tịch” bằng một cái tên giả (Trần Dân Tiên) để tự ca ngợi mình. Hoặc y trai gái, lấy “Người đàn bà tên Nông Thị Xuân đẻ con rồi cho thủ hạ là Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng bộ Công an giết bằng cách đụng xe để che lấp tội lỗi và với dư luận”, theo như Vũ Thư Hiên đã viết trong Hồi ký “Đêm giữa ban ngày”.

Nếu không có Hồ Chí Minh du nhập cái mầm mống chết chóc và gian ác này vào Việt Nam thì cuộc nội chiến nồi da xáo thịt đâu có đến nỗi thê lương, thảm khốc và ghê sợ như vậy. Nếu không có Đảng cộng sản Việt Nam thì những nước lớn đâu có lý do nào để đổ quân vào Nam Việt Nam leo thang chiến tranh, lấy lý do là để đánh đuổi cộng sản bảo vệ tiền đồn của Thế Giới Tự do, khiến đất nước bị điêu linh vì chiến tranh và người Việt, Nam Bắc tàn sát lẫn nhau để mối hận thù dân tộc ngút ngàn trong một cuộc chiến dù đã chấm dứt hơn 35 năm rồi, vẫn chưa có cơ may hàn gắn nổi.

Có khi nào những đảng viên kỳ cựu nằm vắt tay lên trán để suy nghĩ rằng: Nếu Bác Hồ không mang cái chủ nghĩa ô dịch khát máu ngoại lai về nước thì làm gì có cái nạn Cải cách ruộng đất, rồi đấu tranh giai cấp, đấu tố lẫn nhau? Khi người cộng sản áp đặt cái gông cùm xiềng xích đỏ bạo tàn lên cổ, lên đầu người dân vô tội để cướp đọat tài sản, ruộng đất của nông dân. Và hơn thế nữa sẽ đâu có những cuộc đấu tố thương luân bại lý chưa từng xảy ra trong lịch sử loài người. Cảnh con đấu tố cha mẹ, vợ chồng đấu tố lẫn nhau, người mang ơn đấu tố người làm ơn, trong những năm 56, 57 thế kỷ trước. Họ đấu tố ngay cả những người đóng góp công của và nhân lực cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Đó là một cách trả ơn tàn nhẫn nhất, chua cay nhất cho tình đồng chí, đồng đội đã cùng sống chết với nhau.

Sau biến cố 30 - 4 – 75 một năm, tôi có người anh họ ở ngoài Bắc vào Nam thăm gia đình. Anh có nhắc lại cảnh đấu tố ông Nội của mình và sau này tôi đã xúc động nhớ lại và đã viết thành một bài thơ Tân Hình Thức. Xin được chép ra đây để chia sẻ với quí bạn đọc. Bài thơ có tựa đề:

KÝ ỨC TUỔI THƠ

1 -


Hồi còn nhỏ , có người chị họ quàng

Chiếc khăn mầu đỏ thắm lên cổ rồi

Dắt tôi đi nhảy “hòa bình” mỗi buổi

Tối ở đình làng, nơi tôi sinh ra

Tôi thích lắm, mỗi ngày cứ mong

Cho chóng tối để được dịp đi vui

Chơi. Trẻ con mà được chị dắt đi

Chơi thì thú lắm. Chị tôi hồi đó là

Thiếu niên tiền phong, đươc phong danh hiệu

Cháu ngoan Bác Hồ. Chúng tôi quây quần

Ở giữa sân nhà cha xứ. Đằng trước

Sân nhà thờ có ngọn tháp cao vút.

Cha xứ có lúc đã bị đem ra đấu

Tố trước tòa án nhân dân ở sân

Nhà thờ này. Sân nhà thờ nằm ở

Trung tâm làng. Nơi đó là chỗ để

Mít ting hội họp, vui chơi sau ngày

Cách mạng giành độc lập tháng 8 năm

45. Ở đây cũng là nơi được đặt

Làm tòa án nhân dân để đấu tố

Địa chủ, cường hào ác bá, những người

Có tội với nhân dân. Ông nội tôi

Cũng bị bà cô ruột của tôi tố

Cáo là cường hào ác bá. Ông Nội

Đã bị đưa ra quỳ trước đám đông ở giữa

Sân, hai tay vòng ra sau cho người

Ta trói lặt cánh khỉ. Tôi còn nhớ

Như in bao hãi hùng. Những người đàn ông

Những người đàn bà tới trước mặt ông

Tôi xỉa xói, chửi rủa thậm tệ, rồi

Họ đấm đá. Máu trong miệng ông tôi

Ộc ra. Tôi chạy lại rút chiếc khăn

Mầu đỏ đang quàng trên trên cổ mà

Chị San đã thắt cho. Tôi lau miệng

Cho ông. Chiếc khăn thấm đẫm máu hồng

Người ta quát tháo rồi lôi tôi ra

Để còn đấu tố tiếp. Ông tôi gục

Xuống. Lúc đó tôi chẳng còn biết sợ

Hãi gì, vừa khóc vừa ôm chặt lấy

Ông. Bà cô của tôi chỉ vào mặt

Ông tôi chửi: “Đánh cho chết cái thằng

Già bóc lột! “Tôi điên tiết vội chụp

Lấy cánh tay của bà cắn ngấu cắn

Nghiến, hai hàm răng ngập vào da thịt

Máu chảy thành dòng, lênh láng đầy miệng

Họ càng lôi tôi ra, tôi càng cắn

Chặt hơn. Tôi cắn như điên như dại

Cuối cùng rồi họ cũng lôi được tôi

Ra. Hai má bị tát sưng vu. Từ

Bữa đó tôi không đi nhảy hòa bình

Với chị San nữa. Vả lại có muốn

Đi chơi thì họ cũng không cho đi

2 -

Chị San là con của cô chú tôi

Chú tôi tham gia kháng chiến. Chú thì

Đã hy sinh cùng với ba tôi. Cô

Tôi làm cán bộ huyện, lại được

Vào đội phát động đấu tố phong kiến

Địa chủ, cường hào ác bá. Ông Nội

Tôi bị quy tội địa chủ bóc lột

Phải đem ra trước tòa án nhân dân

Để đấu tố. Cô tôi là cán bộ

Phụ nữ huyện phải làm gương đấu tố

Bố mình trước. Mẹ tôi nói: “Hồi chín

Năm kháng chiến chống Pháp, ông tôi đã

Đóng góp rất nhiều công của tiền bạc

Thóc gạo cho Cách mạng. Lại che dấu

Đùm bọc nuôi dưỡng cán bộ khi họ

Bị giặc Pháp săn lùng. Có người bây

Giờ đã là tướng lãnh, trung ương ủy

Viên. Năm đói Ất Dậu 45, ông tôi

Mở hết kho lẫm phát chẩn cứu đói

Cho dân làng và bộ đội khỏi bị

Chết đói. Trong nhà ông có mươi mẫu

Ruộng chứ có nhiều nhặn gì, lại có

Hai bằng liệt sĩ chống Pháp. Thế mà

Chúng bội nghĩa vong ân, cạn tầu ráo

Máng! Kể từ lần đấu tố đó, ông

Tôi uất ức không chịu uống thuốc chữa

Trị, rồi buồn rầu đau đớn mà chết.

Vào năm 56, ngay cả Tổng bí thư Trường Chinh nghe nói lúc đó cũng đem bố của y ra đấu tố để làm gương cho những đảng viên khác. Cho đến sau này, tôi dám chắc rằng ngay những đồ đệ của y cũng vẫn còn kinh khiếp và ghê tởm khi tiềm thức nhớ lại. Có một điều là không hiểu lương tâm của họ có cắn rứt và hối hận hay không?

KINH TẾ VIỆT NAM ĐÃ THAY ĐỔI CÒN CHÍNH TRỊ THÌ SAO?

Nói thay đổi tên đảng không phải là chỉ làm cho có hình thức, cố giữ lại cái bản chất cộng sản bịp bợm lừa phỉnh trá hình để lường gạt dư luận như từ trước tới giờ họ vẫn quen làm. Chúng ta yên tâm vì cái cốt lõi Chủ nghĩa cộng sản đã biến dạng, không còn. Nó đã thay đổi và biến thể sau khi họ đã bang giao với Hoa Kỳ như mọi người đều biết .

Hiện trạng kinh tế Việt Nam bây giờ không còn là kinh tế hoạch định, kinh tế tập trung mà là kinh tế tư bản “rừng rú”. Cái nền kinh tế rừng rú đang học đòi làm tư bản, chưa đủ bản lãnh và học thuyết để đi vào nền nếp, vì đảng ta vừa làm vừa học! Họ ngụy biện gọi là Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa một cách láo khoét .

Vả lại nó còn phải chờ tín hiệu nơi nước đàn anh Trung Quốc vĩ đại ở bên cạnh. Vì kinh tế Việt Nam luôn rập khuân và theo đuôi Trung Quốc. Trung Quốc đổi mới đến đâu thì kinh tế Việt Nam bước theo đến đó. Thành thử ra, họ có mong muốn tiến xa hơn nữa vào thị trường mậu dịch tự do cũng đành phải cắn răng cam chịu, vì sức ép của Trung Quốc là một thực tế.

Trên lãnh vực chính trị cũng vậy. Chỉ khi nào người đàn anh Trung Quốc cải cách nền chính trị Đa nguyên đa đảng, bầu và ứng cử tự do thì Việt Nam mới có hy vọng thay đổi được.

Nên sự cảnh báo cần lưu tâm để nhà cầm quyền Việt Nam được rõ, nếu Việt Nam không tách rời ra được tầm ảnh hưởng về chính trị với Trung Quốc mà cứ ngoan cố giữ nguyên cái khung chế độ đảng cộng sản trị như hiện nay thì hậu quả nguy hại cho tiền đồ dân tộc sẽ không sao lường trước được.

Việc Trung Quốc đang cho hải quân chiếm giữ hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam một cách nhãn tiền mà miệng vẫn lu loa là tình hữu nghị anh em vẫn chưa đủ cảnh tỉnh tập đoàn lãnh đạo chóp bu Việt Nam. Cái họa bị xâm lăng đang cận kề mà vẫn hèn hạ bợ đỡ thân thiết với kẻ thù, chẳng qua cũng vì lo sợ uy quyền Thiên triều, hơn nữa lại muốn duy trì tham vọng quyền lợi bất chính cá nhân hơn là quyền lợi tối cao của Tổ quốc. Đồng thời coi trung quốc là một nơi đáng tin cậy để được che chở và là nơi nương tựa khi gặp nguy biến. Thật là vô liêm sỉ, không bút mực nào tả xiết!

Ngoài việc thân thiết với bọn cướp nước để duy trì cái Đảng lãnh đạo , họ còn muốn duy trì một Tập đoàn tham nhũng vì cái Tập đoàn này được đảng nuôi dưỡng. Nó cấu kết liên hoàn từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên có hệ thống để bảo vệ lẫn nhau, tha hồ tham ô nhũng lạm, vơ vét tiền bạc của công , của nhân dân để làm giầu bất chính.

LỜI NHẮN GỬI TẬP ĐOÀN LÃNH ĐẠO VIỆT NAM.

Nhân đây người viết xin thành tâm nhắn gửi với các cán bộ đầu não ở Việt Nam rằng: Quí vị nên tỉnh ngộ bớt gian tham vơ vét của công, tiền bạc tài sản ruộng đất của nhân dân đói nghèo nhiều quá. Thật tội nghiệp cho họ, vì quí vị đã quá giầu sang rồi. Nếu lương tâm của quí vị đi vắng lòng tham quá độ, thì mong quí vị hãy nhớ đến điều nhân quả hằng xảy ra ở đời sống vô thường này. Quí vị tuổi cũng đã cao, bảy mươi, tám mươi hơn cả rồi . Quí vị đã từng vào sinh ra tử, đã kinh qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến, quí vị nghĩ là mình chiến đấu vì nước vì dân, nay đất nước đã sạch bóng quân thù rồi, thì quí vị có quyền hưởng thụ để đền bù vào những ngày chiến đấu gian lao cam khổ. Đồng ý là như vậy, với điều kiện là quí vị chỉ nên hưởng thụ với đồng tiền lương thiện, chính đáng do quí vị làm ra. Còn ngoài ra quí vị sẽ bị nhân dân phỉ nhổ và lịch sử sẽ kết án sau này.

Tôi xin đan cử một vài thí dụ cụ thể trên Thế giới để quí vị suy ngẫm, và lấy làm bài học cho mình. Trước đây những vị Tổng Thống thân Mỹ như Sukarno của Indonesia, Phác Chánh Hy của Nam Triều Tiên, Macos của Philippine, Lon Nol của Campuchia, Sadam của Irac, Bảo Đại và Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam v.v. . . Họ đều là những nhà lãnh đạo tỷ phú. Tiền bạc của họ được gửi vào những ngân hàng lớn có uy tín ở Thụy sĩ. Nhưng tất cả sau này khi không còn nắm giữ quyền hành đã bị một quyền lực bí mật, siêu tư bản tước sạch chẳng còn gì. Ngay cả đến tính mạng cũng đã không giữ được, họ đã bị giết hoặc bị đe dọa khôn nguôi.

Tôi xin quí vị hãy nhìn những tấm gương nêu trên mà ngưng tay lại, đừng cướp bóc hà hiếp siết cổ nhân dân nghèo đói thêm nữa, kẻo sau này khi đất nước đã sang trang, quyền lực các vị đã mất hết, quí vị cũng sẽ rơi vào trường hợp tương tự.

© Quỳnh Thi
© Đàn Chim Việt

Bài Xem Nhiều