We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 25 November 2010

Cuộc bố ráp "trồng cỏ" lớn nhất tại Melbourne, Úc Châu


Sáng sớm Thứ ba 23/11/2010, trong một chiến dịch gọi là Operation Entity, lực lượng cảnh sát bang Victoria đã huy động một lực lượng đông đảo lên đến 630 nhân viên công lực, cùng với nhiều nhân viên của lực lượng cảnh sát Liên Bang, và các ban ngành chính phủ tiểu bang và liên bang khác như Thuế Vụ, Di Trú, Hải Quan,... để thực hiện một cuộc bố ráp lớn chưa từng có trong lịch sử của tiểu bang Victoria, Úc Châu. Cùng lúc, lực lượng cảnh sát Tân Tây Lan (New Zealand) cũng bố ráp nhiều nơi tại đảo quốc ít dân này. Điều đáng nói ở đây là có dính líu đến người Việt Nam.








Từ 7g sáng ngày Thứ Ba, cảnh sát đã đồng loạt ập vào 68 căn nhà rải rác trên toàn tiểu bang Victoria, nhiều nhất là các vùng thuộc thành phố Melbourne, những khu vực có người Việt sinh sống. Kết quả, cảnh sát đã tịch thu được tất cả gần 8,000 cây cần sa đang chờ thu hoạch, cùng một số lượng lớn thuốc lắc cũng như tiền mặt & tài sản có giá trị khoảng 22 triệu đô Úc. 43 kẻ tình nghi bị bắt giữ tại chỗ và ngay trong ngày hôm nay có 3 kẻ trong số này bị đưa ra tòa.

Những căn nhà bị bố ráp thuộc các các vùng (suburbs) nội ô, kể cả ngoại ô như sau:

Albanvale
Altona Meadows (2 căn)
Ballarat
Berwick
Burnside (2 căn)
Burnside Heights (9 căn)
Cairnlea (2 căn)
Caroline Springs (2 căn)
Dandenong North (3 căn)
Derrimut
Elphinstone
Footscray West
Hallam
Hampton Park
Hillside
Hopper’s Crossing
Kings Park (6 căn)
Learmouth
Oakleigh East
Melton
Melton South
Narre Warren South
Noble Park (3 căn)
Noble Park North
Springvale (5 căn)
Springvale South (2 căn)
St Albans (2 căn)
Stawell (2 căn)
Tarneit (2 căn)
Taylor’s Hill (2 căn)
Tyrendarra
Wyndham Vale (3 căn)

Trong số này nối bật nhất phải kể đến những căn nhà ở đường Green Road vùng Wyndham Vale (phía Tây Melbourne); đường President Road, vùng Narre Warren South, đường Ural Court vùng Dandenong North và các vùng Hallam, Springvale South (phía Đông Melbourne).

Cảnh sát tịch thu những dụng cụ tối tân dùng để thu hoạch cần sa từ căn nhà trên đường Ural Court vùng Dandenong North (Ảnh chụp của Valeriu Campan)

Xem thêm hình ảnh lục soát căn nhà trên đường Ural Court vùng Dandenong North:
http://leader-news.whereilive.com.au/photos/gallery/melbourne-drug-raids/

Cảnh sát đã mở chiến dịch và theo dõi băng nhóm này từ 2 năm qua, và cho biết đây là băng nhóm có "tổ chức" và "có mối liên hệ chặt chẽ với Việt Nam". Băng nhóm này có chân rết ở New Zealand, đã làm ra và buôn bán số lượng cần sa, bạch phiến lên đến 400 triệu đô. Phần lớn lượng tiền mặt này được chuyển về Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau và có một phần trong số này lại quay về Úc với bằng bạch phiến, thuốc lắc.

Tuy chỉ đề cập băng nhóm này là người Việt, nhưng cộng đồng Việt Nam tại Melbourne và Úc đều biết rõ mười mươi là các băng nhóm "trồng cỏ" đều có nguồn gốc xuất phát từ miền Bắc Việt Nam và có các mối liên hệ chặt chẽ với các quan chức chính quyền Việt Nam cũng như bên ngoai giao đoàn. Đây là những tay anh chị có thâm niên "trồng cỏ" lâu năm, thường thuê mướn các căn nhà rồi dụ dỗ hoặc thuê mướn du sinh, hoặc người từ Việt Nam bằng visa du lịch để trông coi, chăm sóc các khu vườn này. Càng ngày kỹ thuật trồng được các băng nhóm này nâng cao, tinh vi hơn, từ khâu tưới nước, sưởi ấm bằng điện,... cho đến khâu vận chuyển.

Đã từ lâu, tại nhiều nơi trên thế giới có người Việt sinh sống nói chung, vấn đề trồng cần sa và buôn bạch phiến từ Việt Nam sang đã là một vấn đề nhức nhối trong cộng đồng Việt Nam. Riêng tại Úc, nơi được xem là có nặng tay hơn một chút so với các phương Tây khác đối với những kẻ buôn bán bạch phiến trồng cần sa, thì cộng đồng người Việt Tỵ Nạn tại đây luôn có quan điểm cứng rắn trong vấn đề này, luôn ủng hộ và tiếp tay với cảnh sát trong việc bài trừ tệ nạn ma túy. Người Việt Nam được lực lượng cảnh sát khuyến khích tố cáo những kẻ gieo rắc cái chết trắng, gây nguy hại cho cộng đồng.

Thể hiện quan điểm này, ngay sau khi cuộc bố ráp đồng bộ xảy ra, tối hôm qua 23/11 ông Nguyễn Văn Bon, Chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự Do bang Victoria đã có ngay thông báo báo chí về vụ việc này. Ông nói:

"Cộng đồng người Úc gốc Việt chúng tôi luôn thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với các hoạt động phi pháp như: buôn người, rửa tiền, và buôn bán bạch phiến của những băng nhóm tội ác có các mối liên hệ chặt chẽ với chính phủ CSVN. Hành động phạm pháp của những kẻ này, mà trong đó có rất nhiều người đến Úc bằng visa học sinh hoặc du lịch, đã hủy hoại thanh danh của một cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực cho nước Úc trong suốt 35 năm qua".


Ông cũng kêu gọi chính phủ phải mạnh tay với những kẻ này bởi vì “Cộng đồng chúng tôi không dung dưỡng, thương hại những kẻ trồng cần sa, buôn bán bạch phiến”.

Cuộc bố ráp vẫn còn tiếp diễn và cảnh sát cho biết, tính đến hết tuần này sẽ có đến hơn 100 căn nhà bị lục soát.

Úc Châu, ngày 24/11/2010
Lê Minh

Văn học Nghệ thuật Truyện ngắn Tạp văn Quán bên đường Chuyện phiếm Tham khảo Sức khỏe NÓI NHĂNG NÓI CUỘI Khoa học Nhân vật TRANG CỦA BẠN ĐỌC Đó đây Bê

Vụ Wikileaks đang gây nhiều tranh luận và đây cũng là một bài học nữa cho người Việt chống cộng. Hôm 18.11.2010, ông Alan Camitz, một thẩm phán tại tòa án khu vực Stockholm ở Thụy Điển đã ra lệnh cho Julian Assange, người Úc, đang ở Thụy Điển, phải lưu lại ở xứ này vì bị nghi ngờ tội hiếp dâm và xâm phạm tình dục hai phụ nữ.

Ông nói Assange đang bị câu lưu vắng mặt (detain in absentia) và một trát truy nã quốc tế (international arrest warrant) sẽ được ban hành.

Được biết, vào tháng 7 vừa qua, Julian Assange đã cho tung lên website Wikileaks.org của ông khoảng 92.000 tài liệu mật về cuộc chiến tranh Afghanistan. Hôm 17.10.2010, Julian Assange lại cho tung thêm 400.000 tài liệu mật liên quan đến cuộc chiến Iraq. Đây là những tài liệu chưa hề được tiết tộ.

Ngày 21.8.2010, văn phòng Công tố viện Thụy Điển cũng đã phát lệnh truy nã Julian Assange về tội hiếp dâm, nhưng chỉ vài giờ sau đó lệnh này đã được thu hồi với lý do không đủ yếu tố để buộc tội.

Người Việt chống cộng thường hay bị đánh lừa do những tin tình báo giả có, thật có, do CIA và Việt Cộng tung ra, nên thường trúng kế địch. Ngay cả những những tài liệu giả do văn công Việt Cộng viết về Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, v.v., người Việt chống cộng cũng tin là thật và trích dẫn búa xua để phang nhau!

Trong vụ Wikileaks, để làm sáng tỏ vấn đề, trước hết, chúng tôi xin nói qua vai trò của Julian Assange và những tin mật mà đương sự đã tung ra, sau đó thử bàn xem CIA định chơi trò gì.

VÀI DÒNG VỀ JULIAM ASSANGE

Julian Paul Assange sinh năm 1971, là một nhà hoạt động internet và nhà báo người Úc. Ông ta cũng là một sinh viên vật lý và toán học, một hacker và một lập trình viên máy tính.

Trong suốt thời thơ ấu, ông đã di chuyển chỗ ở và trường học hàng chục lần, học tại một vài trường đại học khác nhau ở Úc. Từ năm 2003 đến 2006, ông nghiên cứu vật lý và toán học tại Đại học Melbourne nhưng không nhận một văn bằng nào.

Cuối những năm 1980, ông là thành viên của nhóm hacker (tin tặc) “International Subversives”. Đến năm 1992, hacker Assange đã bị buộc đến 24 tội liên quan đến hoạt động tin tặc.

Wikilieaks được thành lập năm 2006 và Assange là một trong 9 thành viên của Hội đồng tư vấn, là phát ngôn viên và là tổng biên tập của website này. Ông tuyên bố ông sẽ luôn giữ quyền kiểm duyệt và thông qua cuối cùng mọi văn bản trước khi đưa lên trang web.

Giống như bao người làm việc cho trang web Wikileaks.org, Assange không được nhận thù lao từ công việc ông làm.

Năm 2009, Assange đã được giải báo chí của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế với loạt bài mang tên "The Cry of Blood" viết về một vụ thảm sát tại Kenya. Tại lễ trao giải, Assange đã nói: “Đó là một sự phản ánh can đảm về xã hội Kenya, một loạt tội ác đã được đưa lên mặt báo. Nhờ sự hỗ trợ hết sức đắc lực của các tổ chức và quỹ quốc tế như Oscar, KNHCR, chúng ta đã đưa ra ánh sáng các vụ giết người man rợ ở Kenya...". Ông nói thêm: "Tôi biết rằng những tổ chức này sẽ không ngừng đấu tranh, và chúng tôi cũng vậy, cho tới khi công lý được thực thi”.

Năm 2008, ông cũng giành được giải của The Economist với bài "Chỉ Số Kiểm Duyệt". Ngoài ra, ông còn giành một số giải thưởng truyền thông khác.

Theo Assange, Wikileaks đã cho công bố số tài liệu mật nhiều hơn tất cả số báo chí trên thế giới cộng lại. Ông nói: “Những thông tin bị kiểm soát chặt chẽ, đều được Wikileaks khai thác, nếu so về mảng tin này, chúng tôi hơn phần còn lại của báo chí thế giới”.

Assange là người luôn ủng hộ tính “minh bạch” và “khoa học” trong hoạt động báo chí. Ông luôn nói rằng bạn không thể xuất bản một ấn phẩm về vật lý nếu không công bố lên đó đầy đủ dữ liệu về các con số, về các cuộc thí nghiệm, đó cũng là tiêu chuẩn của báo chí”.

WIKILEAKS TIẾT LỘ NHỮNG GÌ?

Hôm 26.7.2010, với đầu đề "Nhật ký chiến tranh Kabul" (Kabul War Diary), WikiLeaks.org đã phát đi hơn 92.000 tài liệu mật về cuộc chiến tại Afghanistan trong giai đoạn 2004 - 2009. Các tài liệu cho thấy cuộc chiến 9 năm tại Afghanistan là một cuộc chiến gây tranh cãi, trong đó có những vụ sát hại thường dân Afghanistan chưa bao giờ được đưa tin, các chiến dịch bí mật truy quét lực lượng phiến quân Taliban của lính Mỹ, mối lo ngại của NATO về việc Pakistan và Iran đang giúp lực lượng Taliban ở Afghanistan...

Một tài liệu dài ba trang đề ngày 2.2.2010 có tiêu đề "Chuyện gì xảy ra nếu nước ngoài coi Mỹ là ‘nhà xuất khẩu khủng bố’ ". Tài liệu dẫn lời của David Headley, một người Mỹ gốc Pakistan, và một số người khác nói rằng Mỹ là quốc gia xuất khẩu khủng bố. Headley đã từng bị buộc tội do thám để hỗ trợ cho vụ tấn công khủng bố ở Mumbai năm 2008 làm 160 người chết.

Ngày 23.10.2010, WikiLeaks lại công bố hơn 400.000 trang tài liệu liên quan đến cuộc chiến Iraq từ 1.1.2004 đến 31.12.2009. Khối tài liệu khổng lồ này tiết lộ nhiều vụ tra tấn và giết hại dã man người Iraq do chính bàn tay của quân lính và cảnh sát Iraq, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ và quân đồng minh.

Một em bé Iraq bị mất cả cha lẫn mẹ tại Tal Afar ngày 18.1.2005. Cha mẹ em bị lính Mỹ bắn chết trong xe khi không dừng lại theo hiệu lệnh. Bốn em nhỏ trong xe không bị thương.

Thường dân Iraq bị giết hại vô tội vạ tại các trạm kiểm soát; binh lính Mỹ cho nổ tung cả một tòa nhà dân sự vì nghi ngờ có một kẻ nổi dậy ẩn nấp trên mái nhà.

Năm 2006, một người Iraq bị lính Mỹ bắn tỉa hạ gục chỉ vì đơn giản là mặc bộ quần áo rộng. Người này, trớ trêu thay, sau đó được nhận dạng là phiên dịch viên của quân đội Mỹ. Tháng 7/2007, từ trực thăng, lính Mỹ xả súng giết chết 26 người Iraq, trong đó có một nửa là dân thường. Có trường hợp, kính chắn gió từ một chiếc xe tạo ra ánh sáng phản chiếu, nhưng thủy quân lục chiến Mỹ tưởng ánh sáng đó phát ra từ ống ngắm súng, và họ sẵn sàng nả súng bắn chết một phụ nữ trong xe, bắn bị thương chồng cô và 3 con.

Kênh truyền hình Al-Jazeera cho biết, theo các hồ sơ mật mà WikiLeaks tiết lộ, ít nhất 109.000 người, trong đó có tới 63% là dân thường, đã thiệt mạng ở Iraq trong khoảng thời gian Mỹ và đồng minh đưa quân vào quốc gia này từ tháng 3/2003 đến cuối năm 2009. Wikileaks khẳng định rằng, các lực lượng Mỹ đã lập danh sách những người Iraq tử vong, mặc dù Mỹ nhiều lần công khai bác bỏ việc này.

Wikileaks còn công bố nhiều thông tin gây chấn động, đó là tù binh Iraq bị lực lượng liên quân tra tấn dã man, các chỉ huy Mỹ đã “nhắm mắt làm ngơ” trước những hành động tra tấn, lạm dụng và thậm chí sát hại các tù nhân Iraq.

Wikileaks ghi nhận có 95 người bị bịt mắt và nhốt chung trong một căn phòng chật chội. Nhiều người mang dấu tích bị tra tấn, trong đó có dấu bỏng thuốc lá, vết bầm tím và vết thương hở. Các nghi can bị tra tấn bằng gậy gộc, ống nước, dây cáp, dao, sốc điện, thậm chí có người còn bị móc mắt...

Một người đàn ông bị giam ở Husaybah bị bịt mắt và đánh đập liên tục suốt 3 ngày, nhưng trong báo cáo ghi “không cần điều tra thêm”. Năm 2009, lực lượng Mỹ phát hiện các đoạn băng video quay cảnh hàng chục binh lính Iraq cùng bắn chết một tù binh ngay trên đường phố ở Tal Afar, nhưng báo cáo vụ việc ghi “Đã kết thúc hồ sơ”!

Tờ Guardian của Anh bình luận: “Chính quyền Mỹ đã không điều tra hàng trăm báo cáo về những vụ ngược đãi, tra tấn, hãm hiếp và thậm chí giết người mà thủ phạm là binh lính và cảnh sát Iraq”.

Các tài liệu còn tiết lộ những trường hợp cướp, giết, hiếp, trong đó có cả một băng ghi hình về những trò đồi bại này của binh sĩ Iraq.

Tờ New York Times cho biết, “có một số vụ lạm dụng được quân đội Mỹ can thiệp, nhưng phần lớn chúng bị làm ngơ”. Các binh sỹ Mỹ đã nói với giới chức của họ về những vụ này nhưng rồi nhận được câu trả lời là chuyển trách nhiệm điều tra cho giới chức Iraq.

LÀM SAO LẤY ĐƯỢC TÀI LIỆU MẬT?

WikiLeaks cho biết: "Hầu hết các tài liệu được viết bởi binh lính và cơ quan tình báo có nhiệm vụ nghe báo cáo qua điện đàm từ chiến trường. Nhưng các báo cáo cũng bao gồm thông tin liên quan từ tình báo của thủy quân lục chiến, các Sứ quán Mỹ, báo cáo về tham nhũng và các hoạt động phát triển ở Afghanistan. Mỗi báo cáo có thời gian và địa điểm chính xác của sự kiện mà quân đội Mỹ cho là quan trọng".

WikiLeaks không không tiết lộ nguồn gốc của tài liệu mật, nhưng theo nhiều chuyên gia, những thông tin này có thể từ Bradley Manning, một nhà phân tích tình báo quân đội Mỹ, hiện tại đang bị giam giữ để chờ xét xử về tội cung cấp thông tin quốc phòng trái phép. Ông bị bắt vào tháng 5 khi phát hành đoạn video quay cảnh một cuộc tấn công bằng trực thăng Apache của Mỹ tại Iraq làm một dân thường bị chết. Một cựu tin tặc cho biết ông Manning kể rằng ông đã chuyển các băng video của quân đội và 260 nghìn thông điệp mật của các sứ quán Mỹ cho WikiLeaks.

Ngày 25.8.2010, ông George Little, đại diện của CIA, đã trả lời CNN như sau: "Những kiểu tài liệu chỉ mang tính phân tích như thế này rõ ràng là được lấy từ các thành viên “Red Cell” của CIA. Tuy nhiên, những tài liệu kiểu này thì không có gì là "bom tấn" hay quá nguy hại cả. Nó chỉ đơn thuần mang đến một chút khiêu khích và thử thách đối với những quan điểm trái ngược nhau mà thôi".

“Red Team” hay "Red Cell" được CIA thành lập sau vụ tấn công 11.9.2001 để đánh giá những hiệu quả của các chiến thuật của chính phủ Hoa Kỳ hay cá nhân. Tài liệu của "Red Cell" không chứa đựng những đánh giá của chính quyền Mỹ.

PHẢN ỨNG CỦA NHÀ CẦM QUYỀN

Trả lời phóng viên AFP, Đại tá David Lapan, phát ngôn viên Ngũ Giác Đài cho biết Ngũ Giác Đài đã thành lập một Đội Đặc Nhiệm gồm 120 viên chức có nhiệm vụ tiến hành nghiên cứu các dữ liệu “để xác định xem những tác động có thể xảy ra là gì”.

Phóng viên David Loyn của BBC ở Kabul cho rằng việc công bố tài liệu này sẽ làm Toà Bạch Ốc xấu hổ và giận dữ. Ông nói: "Tài liệu này cho thấy viện trợ không có hiệu lực, chính sách chính trị ngây thơ lúc ban đầu và Taliban là kẻ thù cứng đầu thế nào. Người Mỹ đã hiểu nhầm điều đó cho tới hôm nay".

Tướng Jim Jones, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ, nói rằng việc công bố tài liệu trên "đặt mạng sống của người Mỹ và các đối tác vào chỗ nguy hiểm.” Nhưng ông cho rằng những tài liệu này không ảnh hưởng đến cam kết của Mỹ về việc tăng cường quan hệ đối tác với Pakistan và Afghanistan.

Tuy nhiên, CIA và Ngũ Giác Đài đã hạ thấp sự tác hại của các tài liệu do Wikilesks công bố. Ông George Little, phát ngôn viên của CIA, cho rằng tài liệu mà Wikileaks công bố không tiết lộ thông tin nào quá đặc biệt. Ông nói: "Những kiểu thông tin phân tích như thế này rõ ràng là chỉ nhằm khơi dậy suy nghĩ và các quan điểm trái chiều mà thôi".

Trong bức thư gửi Thượng nghị sỹ Levin, Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates nói: "Những lo sợ hậu quả sau khi 77.000 trang tài liệu về cuộc chiến Afghanistan đã bị thổi phồng". Ông viết tiếp: “Các đánh giá ban đầu của chúng tôi chỉ ra rằng không có dấu hiệu của việc nguy hại đến an ninh quốc gia, đồng thời những tin tức tình báo về các vấn đề nhạy cảm không bị tiết lộ ở đây”. Theo ông, điều này cho thấy, những tài liệu này không bao gồm những thông tin nhạy cảm nhất.

Bộ trưởng Gates lưu ý rằng tuy các tài liệu đề cập đến tên “những người Afghanistan đã hợp tác với CIA” không phải là tài liệu tình báo mật nhưng nó lại chỉ ra họ là những người đã đoạn tuyệt với Taliban.

TÁC DỤNG THẬT SỰ CỦA TÀI LIỆU ĐƯỢC TIẾT LỘ LÀ GÌ?

Không ai nghĩ rằng ông Bradley Manning, một nhà phân tích tình báo quân đội Mỹ đang bị giam giữ hay nhóm “Red Cell” có thể để lộ ra gần nữa triệu tài liệu như thế. Nhiều người tin rằng đây là những tài liệu do chính CIA tung ra qua nhiểu hình thức khác nhau và mượn bàn tay của Wikileaks để gây áp lực vào ba chính phủ Afghanistan, Iraq và Pakistan, đòi hỏi các chính phủ này phải đi theo đường lối của Hoa Kỳ từng giai đoạn. Giai đoạn áp dụng “các biện pháp mạnh” tại Iraq như từ trước đến nay phải được chấm dứt hay giảm xuống để hai phái Shiah và Sunni có thể ngồi lại với nhau tạo một không khí hoà hoản cho Mỹ rút. Chính phủ Afghanistan phải tăng cường lực lượng để lãnh trách nhiệm khi Mỹ và Đồng Minh ra đi kể từ tháng 7 năm 2011. Pakistan phải giúp Mỹ làm cho lực lượng của Taliban yếu đi để chính phủ Afghanistan có thể tồn tại ít ra hai năm sau khi Mỹ rời khỏi nước này.

Tài liệu được tiết lộ cũng để cho dân chúng Mỹ thấy rằng không thể thắng hai cuộc chiến quá tốn kém ở Afghanistan và Iraq, và đã đến lúc Mỹ phải ra đi như trong chiến tranh Việt Nam.

Pakistan cho rằng việc tung tài liệu bí mật ra là hoàn toàn không thích hợp và phủ nhận mối liên hệ với Taliban, mặc dầu trong thực tế Pakistan phải bắt cá hai tay để khi Mỹ bỏ Afghanistan và Taliban chiếm đất nước này, Pakistan vẫn còn có ảnh hưởng. Vã lại, Taliban đã dọa rằng nếu chính phủ Pakistan để cho Mỹ mở các cuộc hành quân chống Taliban trên đất Pakistan, Taliban sẽ biến nước này thành vũng máu.

Tại Iraq, văn phòng của Thủ Tướng Maliki đã đưa ra một thông báo lên án gay gắt trước hành động của WikiLeaks. Thông báo nhấn mạnh: "Tài liệu này đã không đưa ra được được bất kỳ bằng chứng nào cho thấy các tù nhân bị ngược đãi trong thời gian 4 năm Thủ tướng Nouri al-Maliki đứng đầu Chính phủ Iraq”.

Chúng ta nhớ lại, khi chuẩn bị bỏ miền Nam Việt Nam, năm 1972 cơ quan phản gián Mỹ đã cho phổ biến rộng rãi cuốn “The Politics of Heroin: CIA complicity in the global drug trade” của Alfred W. McCoy, trong đó tố cáo các chính phủ VNCH - đệ nhất cũng như đệ nhị - đều buôn thuốc phiện lậu.

Cuốn sách nói năm 1955 Ngô Đình Diệm cấm thuốc phiện ở miền Nam, nhưng năm 1958 Cố vấn Ngô Đình Diệm Nhu cho mở lại các tiệm hút thuốc phiện và liên lạc với tập đoàn Trung Quốc tại Chợ Lớn để thiết lập một mạng lưới phân phối mới.

Năm 1963 sau khi Mỹ ra lệnh lật đổ ông và giết Diệm, năm 1965 Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Ngọc Loan đã giao cho Nguyễn Thanh Tùng - còn gọi là Mai Đen - phụ trách hoạt động buôn lậu thuốc phiện giữa Lào và Sài Gòn.

Năm 1970 Việt Nam mở cuộc hành quân qua Kampuchia. Không quân Việt Nam đã vận chuyển thuốc phiện và heroin trên các chuyến bay hàng ngày của họ từ Kampuchia đến Nam Việt Nam.

Tổng Thống Thiệu đã ký hợp đồng cho phép vận chuyển thuốc phiện để tập đoàn Trung Quốc tại Sài Gòn - Chợ Lớn có thể chở thuốc phiện đến Nam Việt Nam và biến thành morphine, v.v.

Cuốn sách này có thể được coi là thuộc loại phản gián, vì đã đưa ra những sự kiện không cần chứng minh, nhưng nó có tác dụng làm xấu đi hình ảnh VNCH nơi dân chúng Mỹ. Nhóm Linh Mục Trần Hữu Thanh tưởng là tài liệu thật, đã dùng cuốn sách đó để phát động phong trào chống tham nhũng, làm cho hình ảnh VNCH bị bôi đen hơn.

Vào đầu năm 2009, hai tập sách được nói là “tài liệu tối mật” của CIA được công bố, một mang tên là “CIA and the House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963” và một mang tên “CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam”. Trên mỗi tập đều có ghi rõ “SECRET” (Bí Mật). Nhưng đọc kỹ lại thì thấy đây chỉ là trò đánh lận con đen của CIA. Hai tập này không phải là hai tập “tài liệu tối mật” của CIA mà chỉ là hai tập sách của Thomas L. Abern, Jr tóm lược những tài liệu mật (classified) và không mật (unclassified) liên quan đến việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam đã được công bố từ trước, chỉ có một số nhỏ mới được công bố ngày 23.3.1999. Mục đích của trò đánh lận con đen này là nói với Hà Nội rằng Mỹ không phản bội VNCH nhưng phải bỏ VNCH vì người miền Nam bất tài.

Ngày nay, để rút ra khỏi Afghanistan và Iraq, Hoa Kỳ đã dùng Wikileaks để chơi đòn phản gián, bôi xấu hai cuộc chiến đã được họ phát động, mở đường cho việc rút quân.

Daniel Ellsberg, một nhà phân tích nổi tiếng người Mỹ, đã nói rằng “những việc Assange làm là để bảo vệ người dân Mỹ, là nhằm đưa ra ánh sáng các tài liệu mà người dân có quyền được biết, cũng như pháp luật có quyền được điều chỉnh”.

Nhưng rất tiếc, Assange chỉ đưa ra có một phần sự thật, còn phần sự thật quan trọng hơn, đó là những bí ẩn khiến Hoa Kỳ mở cuộc tấn công vào Iraq lại không được nói đến.

Ngày 23.11.2010

Lữ Giang

THẰNG KHÙNG

Phùng Quán viết lại theo lời kể của Nguyễn Tuân khi cùng ở trong tù:


"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính. Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc. Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ. Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc. Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?… Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? - anh ta hỏi.
- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong Tội ác và trừng phạt. Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
- Tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!".
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! - anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
- Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày. Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…

" Tình già "

Bây giờ là gần bảy giờ tối, tiếng mõ vang đều cùng tiếng tụng kinh của bà Hiền như một nhịp điệu ăn khớp, hòa hợp với nhau. Đó là tiếng động quen thuộc xảy ra trong ngôi nhà vắng lặng và buồn tẻ của vợ chồng bà suốt gần mười năm nay. Sau một cơn stroke nặng, cách đây mấy tháng, kết quả đã để lại cho bà Hiền mắt trái nhìn một thành hai. Và nó đã được che bởi một miếng vải đen, làm bà luôn có cảm giác buồn phiền, mặc cảm vì chỉ có một mắt để nhìn đời.
Đêm nay mưa nhiều, ngồi trong nhà mà nghe tiếng gió rít lên từng hồi, hạt mưa rơi nhanh và mạnh trên mái nhà. Cây cối lao xao, chao đảo, có cảm giác tất cả sắp đổ theo chiều gió. Bà Hiền chậm chạp ra cửa sổ để kéo màn cửa xuống. Dạo này trời vào thu nên mau tối quá, đúng là “tháng mười chưa cười đã tối”. Lẩm bẩm như vậy rồi bà vào bếp lấy 1 ly nước lạnh uống. Uống gần hết ly, như chợt nhớ ra điều gì bà vội để ly xuống, cầm phone lên gọi:
Yến hở? Mẹ đây, cuối tuần nay con có đem bé An về chơi với mẹ không? Nhưng chủ nhật thì mẹ phải lên chùa sớm con ạ. Tuần này có thày về giảng và mẹ có tu bát quan trai, nên sáng chủ nhật con đón cháu về sớm nhá.
Hai mẹ con nói chuyện một hồi, gác phone, bà lại lặng lẽ sửa soạn đi ngủ. Yến là cô con gái út, gần bà nhất vừa về tình cảm lẫn khoảng cách. Yến rất thương Mẹ, việc lớn nhỏ gì hai mẹ con cũng tâm sự với nhau. Bao lần phải đổi việc làm, nàng cũng tìm cách ở lại gần mẹ, không như người anh lớn: vì công việc đã dọn đi Washington DC, một nơi nhộn nhịp, bon chen của những người mang nhiều hoài bão trong cuộc sống. Chỉ có nàng vừa thương mẹ, vừa tính an phận, nên cảm thấy sống trong một thành phố nhỏ của Oregon cũng có nhiều thú vị lắm. Hơn nữa, nàng muốn bé An có được tình yêu thương của Ông bà ngoại như nàng ngày xưa vậy.
Hôm nay, vậy là ông Hoà đã về VN được mười ngày rồi. Hôm đến nơi, ông có gọi phone báo tin ông đến nơi bình an để bà khỏi lo lắng. Ba ngày sau, ông cũng gọi về kể một vài chuyện bên VN cho bà biết và rồi cho đến hôm nay là ngày thứ mười, mà chưa thấy ông gọi lại. Chắc là được lũ cháu đưa đi chơi nên không tiện gọi lại cho bà? Nghĩ vậy, bà lên giường đi ngủ mà không hề bận tâm.
***
Rồi đến ngày trở về của ông Hoà, sau ba tuần lễ đi chơi VN. Đón ông ở phi trường, bà thấy ông hình như gày và đen hơn thì phải? Ai đi VN cũng như vậy, không biết là tại khí hậu hay vì đi chơi nhiều quá mà như vậy? Bà hỏi ông nhiều nhưng ông chỉ trả lời lấy lệ, bà cũng chẳng thắc mắc vì nghĩ đường xa ông còn mệt.

Mấy ngày sau, như đã khoẻ lại, một hôm ông ngập ngừng nhiều lần, rồi như thu hết can đảm, ông nói với bà như sau:

Bà à, vợ chồng mình ăn ở với nhau đã được hơn 40 năm rồi nhỉ? Tôi đối với bà như thế nào, thì bà rõ hơn ai hết. Bây giờ, bên Việt Nam có một con bé, cháu nội ông bà Thành, bà biết đấy! Năm nay nó hai mươi sáu tuổi. Nó năn nỉ tôi giúp nó qua Mỹ theo diện phu –thê. Thật là chuyện ...…làm sao ấy….. phải không bà?
Bà Hiền có cảm giác không ổn, bèn cắt ngang lời ông:
Ông cũng biết là…..”làm sao ấy….”, thì có gì phải nói đến? Thế ông trả lời sao với nó? Mục đích ông muốn nói gì thì cứ nói ra đi. Tôi sẵn sàng nghe ông đây.
Ông Hoà tiếp:
Nó nói: nếu được qua Mỹ nó sẽ ở riêng, không phiền vợ chồng mình đâu, chỉ trên giấy tờ một thời gian thôi bà ạ. Nó năn nỉ vợ chồng mình ….làm phước, nó sẽ mang ơn suốt đời. Tôi nghĩ bà ăn chay, niệm Phật bao nhiêu năm, thôi thì….. làm phước cho nó, bà……thấy sao?
Ở với nhau 43 năm rồi, ông Hoà thật sự là người chồng tốt, bà rất yêu quí và tin tưởng. Tính ông trầm lặng, ít nói, biết lắng nghe, sử xự đúng mực, nên được mọi người yêu mến và quí trọng. Không nói ra, nhưng bà vẫn thường hãnh diện về điều đó, ít ra hạnh phúc của bà đã được vuông tròn suốt từng đó năm chung sống. Vậy mà giờ đây , ông 71 tuổi, bà 68 tuổi, mới đi chơi ViệtNam về lần đầu mà hai ông bà đã phải đối diện với vấn đề ly dị, chia tay. Niềm đau xót cho tình nghiã vợ chồng, một thoáng như không còn ý nghĩa nào. Bà chết lặng trong giây lát rồi nói:
- Ông cho tôi vài ngày suy nghĩ
Nói rồi bà vào phòng, đóng cửa, nằm im trên giường để suy nghĩ. Nhưng nào biết phải nghĩ gì bây giờ? Chỉ biết lòng quặn đau và nước mắt cứ trào dâng ướt gối. Bà cố nén tiếng khóc và tiếng nấc nghẹn, nhưng hình như càng muốn che dấu thì nó lại càng muốn bộc phát. Nỗi tủi thân và niềm tự ái bị va chạm. Dù sao bây giờ bà vẫn chỉ là một người chưa bỏ được hoàn toàn những phiền lụy của cuộc sống. Những hỉ, nộ, ái, ố vẫn chưa hoàn toàn rũ sạch, thì làm sao bà không cảm thấy đau đớn cho được?
Nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng qua những năm tháng chung sống, với từng đó đứa con, đứa cháu, bà vừa đau xót cho mình, vừa ngán ngẩm cho tình người bội bạc. Sao ông lại có thể quên đi những ngày bà cực khổ: quên cả bản thân mình để lo cho các con và nuôi ông trong ngục tù cộng sản hơn mười năm? Qua Mỹ, may mắn vào mùa hè, nên những ngày đầu bà đã theo chân mấy người Việt trong chung cư đi hái dâu từ bốn giờ sáng cho đến một giờ trưa thì xong. Việc này thường dành cho học sinh làm hè, bọn nhỏ vừa làm vừa nói chuyện, đùa giỡn, như đi picnic ngoài trời vậy. Còn người Việt mình thì đua nhau đi làm rất chăm chỉ. Bà nhớ có hôm bà không ăn trưa, chỉ ngừng để uống nước và cứ làm mãi cho đến lúc về.
Bao nhiêu tâm huyết lo cho chồng con đã làm người bà cằn cỗi, già nua hơn số tuổi. Bây giờ con cái đã lớn, bà chỉ còn chăm sóc cho ông và tìm vui trong câu kinh kệ. Mãi nghĩ từ chuyện này sang chuyện kia ….bà đã chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay…..
RING…RING…
Tiếng phone không biết ai gọi, nhưng đã đánh thức bà Hiền. Mệt mỏi, nhấc phone lên mà không cần nhìn caller ID, giọng uể oải bà nói:
-A lô, tôi: Hiền đây!
Đầu dây bên kia có tiếng:
- Mẹ ơi, con: Yến đây! Sao hôm nay mẹ dạy trễ vậy? Mẹ có bị cảm không mà giọng mẹ khàn vậy? Đưa bé An đi học xong, con ghé Saigon market, con có mua cho bố mẹ bánh cuốn, còn nóng và ngon lắm. Con về mẹ liền bây giờ nhé. Con gặp mẹ sau. Bye mẹ!
Gác phone, nhìn đồng hồ, bà thầm nhủ:
Ờ nhỉ, bây giờ đã hơn chín giờ rồi à? Và tự hỏi: “Không hiểu hôm qua mình đã ngủ được lúc mấy giờ? “
Ra đến bếp, thấy ông Hoà ngồi chăm chú đọc báo, bà cố giữ giọng bình thản và nói:
Ông đã ăn gì chưa? Yến nó nói sẽ đem bánh cuốn về đấy.
Ông Hoà trả lời:
Tôi dạy sớm, đã ăn đỡ miếng bánh mì nướng rồi. Bà không khoẻ thì cứ nghỉ ngơi đi. Tôi chạy ra chợ mua mấy tờ báo Việt Nam về đọc. Hai mẹ con cứ ăn trước đi, không phải đợi tôi đâu.
Nói rồi ông ra xe đi, khoảng mười lăm phút sau thì Yến đến. Lăng xăng nói chuyện vớ vẩn một hồi với mẹ, Yến mới để ý: hình như hôm nay mẹ không tập trung trong những câu chuyện nàng nói? Một lúc, bà Hiền kể câu chuyện mà ông Hoà đã nói với bà hôm qua. Nghe xong, Yến nói:
Con biết mẹ thương bố lắm. Thế mẹ đã có giải pháp nào chưa? Tụi con lúc nào cũng support mẹ hết.
Bà Hiền nói:
Mày biết đấy, đến tuổi này mẹ còn mong ước gì hơn? Cả cuộc đời chỉ biết sống cho Bố và chúng mày…
Nói đến đây, không cầm được sự xúc động, bà nấc lên, rồi gục đầu lên thành ghế sofa mà khóc nức nở. Yến phải ôm, xoa lưng bà, nàng cố an ủi, vỗ về mẹ với giọng thật nghẹn ngào:
- Mẹ ơi, con biết mẹ buồn lắm. Mẹ có muốn con ngăn bố đừng làm chuyện này hay không?
Bà Hiền từ từ ngước lên, mặt đầy nước mắt nói:
-Đừng ngăn ông ấy con ạ. Mẹ đã nghĩ suốt đêm qua rồi. Một khi ông ấy thốt lên được những lời ấy với mẹ tức là người ta đã quên hết tình nghĩa. Vậy thì còn gì để ràng buộc nhau? Nếu có tiếp tục sống với nhau thì cũng chỉ là những ngày chịu đựng mà thôi. Mày nghĩ có phải thế không hở Yến?
Yến thật sự không biết phải trả lời mẹ như thế nào. Nàng nói:
-Nếu Mẹ đã định như vậy thì mình cứ cho là….…làm phước như bố nói đi mẹ. Bố năm nay cũng hơn bảy mươi tuổi rồi, đâu có….làm ăn gì nữa hở mẹ? Con biết bố thương mẹ lắm, chắc bố cũng chỉ muốn ….làm phước thôi. Mình cứ nghĩ như vậy cho tâm hồn đựơc thảnh thơi, phải không mẹ?
-Ừ thì có làm được gì hơn đâu con? Mày lo thủ tục bán nhà này cho Mẹ đi. Mẹ nghe nói ly dị là phải chia đôi hết hở con?
Nghe bà đòi bán nhà, Yến mới thật sự thấy mọi chuyện như không còn cứu vãn. Dù rằng cô gái kia nói sẽ ở riêng, không phiền đến bố mẹ, nhưng sao cảm giác gia đình tan vỡ đang lớn mạnh trong nàng…
***
Ông Hòa cầm trên tay cái check hơn bảy mươi ngàn đô la, là số tiền bà Hiền đã xin văn phòng escrow chia đôi và đưa thẳng cho ông sau khi bán căn nhà. Cả đời ông chưa bao giờ nghĩ sẽ có số tiền lớn đến như vậy. Bao nhiêu năm trước, vợ chồng con cái gom góp tất cả tiền bạc để mua căn nhà cũ này, tưởng rằng sẽ sống chết với nó, nhưng đâu ngờ có ngày phải rời xa nó sớm như hôm nay? Một chút luyến lưu…. nhưng thôi, ông không muốn nghĩ gì hơn, chỉ còn hơn ba tháng nữa là đến ngày “nàng” qua với ông rồi……
***
Dạo này ông Hòa bận nhưng vui vẻ hẳn lên. Này nhé, ông suốt ngày phải đi mua sắm, nào là quần áo, giày dép mới, nào là khăn trải giường, khăn bông tắm mới, nước hoa vài lọ thật đắt tiền cho ông và cả cho “nàng” nữa. Thôi thì …đủ thứ phải mua. Hôm qua ông mới gửi về cho Hồng năm ngàn đồng. Thế là tổng cộng ông gửi cho nàng cũng gần hai mươi lăm ngàn rồi còn gì. Ông không thể từ chối mỗi khi nghe lời nói ngọt ngào của Hồng qua phone: “Anh gửi về cho em năm ngàn đi, để em thanh toán những chuyện lặt vặt trước khi em qua với anh, anh nhé!” Lời nói nhỏ nhẹ, dịu dàng của Hồng luôn ám ảnh trong đầu óc, làm ông cảm thấy cuộc đời thật hạnh phúc, đãi ngộ ông quá khi tuổi đã về chiều.
Từ ngày ly dị bà Hiền, ông và Hồng đã đổi cách xưng hô với nhau. Bây giờ hai tiếng “Anh, Em” ngọt ngào làm cho ông như sống lại tuổi thanh niên, khi mới yêu lần đầu. Tốn bao nhiêu tiền đi đi về về giữa Mỹ & Việt Nam. Tiền cho Hồng & gia đình nàng, tiền sắm sửa tổ ấm…ông đều không tiếc, vì nghĩ sau khi mọi chuyện được ổn định rồi thì đâu cũng vào đấy. Ông sẽ có một mái ấm, một hạnh phúc tuyệt vời với người vợ trẻ…
***
Hôm nay là ngày ông Hoà ra phi trường đón Hồng từ Việt Nam sang. Hồng đến phi trường Los Angeles, California của hãng China airlines vào khoảng năm giờ chiều, chờ gần bốn tiếng thì lên máy bay đi đến phi trường Portland, Oregon. Thể là ông sắp được gặp “người vợ bé bỏng” của mình khoảng hơn mười một giờ tối hôm nay. Tuy chờ đợi hơi khuya, nhưng nghĩ miên man đến hạnh phúc sắp được hưởng, thời gian chờ đợi như ngừng lại đối với ông…..
Ông Hoà thấy sốt ruột lắm, bây giờ đã gần mười hai giờ đêm mà sao vẫn chưa thấy bóng dáng Hồng đi ra? Rõ ràng chuyến bay của Hồng đã arrived như trên computer đã báo mà. Chờ thêm mười phút nữa, vẫn không thấy Hồng, ông Hòa bèn ra quày vé hỏi thăm thì được biết không có ai tên Hồng trên chuyến bay đó. Thật ngỡ ngàng, ông lôi tờ giấy đã ghi chi tiết về chuyến bay rời Việt Nam của Hồng ra xem, rồi nhờ người ở quày vé hỏi thăm dùm. Một lúc sau, cô nhân viên hãng máy bay cho biết: Hồng thật sự có rời Việt Nam trên chuyến bay của hãng hàng không China và đến phi trường Los Angeles đúng giờ , nhưng họ không có boarding pass của Hồng trên chuyến phi cơ của hãng Alaska đến Portland. Thế này là thế nào nhỉ? Ông Hòa thật sự là không thể hiểu được. Hai ngày trước, Hồng còn nói qua phone với ông: “ Anh nhớ đón em đúng giờ nhé!” Vậy mà…..thật là bực mình! Ông Hoà lẩm bẩm như vậy. Thôi thì về nhà, rồi gọi về ViệtNam xem có tin tức gì không ?
Vừa quay số phone, ông Hoà vừa bực mình, vừa lo lắng…Có chuyện gì thì cũng phải gọi phone cho ông chứ. Ông đã dặn đi, dặn lại nàng cách gọi phone cho ông rồi kia mà. Bên kia đầu dây, tiếng Mẹ của Hồng, sau khi nghe ông xưng tên, bà nói:
-Hồng nó qua đó với ông rồi mà. Tôi chưa nghe nó gọi về. Có tin gì thì ông báo cho tôi biết nhé!
Nghe giọng bà Thành cũng có vẻ hốt hoảng lắm. Thôi thì đành chờ Hồng liên lạc chứ còn biết làm gì hơn? Chẳng lẽ ông đi khai Hồng mất tích khi chưa đầy 24 giờ?
***
Ba ngày trôi qua như ba thế kỷ đối với ông Hoà. Nỗi lo lắng đã trở thành tức giận. Ông không buồn ra khỏi nhà, ngay cả việc ăn uống ông cũng không màng. Nhìn cái phone, chờ đợi tiếng reo của nó, rồi nhìn những thứ ông mua sắm cho Hồng, bất giác ông thở dài và thốt: “Mình phải làm gì bây giờ?”…Thời gian cứ thế trôi đi…ông Hoà sống với sự thất vọng lớn dần. Ông nhất quyết vì tự ái không hỏi thăm tin tức về Hồng nữa, dù rằng ông rất nhớ đến tiếng nói nhẹ nhàng , ngọt ngào của nàng…Trong lúc không còn hy vọng gì thì tiếng phone reng , bên kia đầu giây, giọng Hồng vui vẻ nói:
-Thưa ông, em rất cám ơn ông đã giúp em qua được bên đây. Trước đây, em đã nói nếu qua được Mỹ em sẽ ở riêng và không phiền đến Ông Bà. Hôm em đến phi trường ở Los Angeles thì người bạn trai ngày xưa của em đã đón em về nhà anh ấy. Em biết ông đợi em, nhưng vì mới đến, em còn chưa quen nhiều việc, nên hôm nay em mới gọi cho ông được.
Chỉ mới nghe như vậy, lòng ông Hoà đã như tan nát. Đầu giây bên kia, Hồng vẫn tiếp tục nói, nhưng ông Hoà đã cúp phone, không còn muốn nghe nữa. Ông thật sự không còn kìm hãm được sự tức giận và tất cả những vật trên bàn ăn đã trở thành “nạn nhân”, bị văng tung toé trên sàn nhà…..
***
Suốt mấy tháng qua, ông Hoà sống mà như đã chết, nhìn ông thật tiều tụy. Nghĩ đến Hồng, nghĩ đến bà Hiền, ông cảm thấy buồn và hối hận vô tả. Cầm phone gọi cho Yến, sau vài câu thăm hỏi con và cháu, ông ngập ngừng nói:
-Yến à, lần này con cố gắng xin Mẹ cho Bố gặp mặt được không?
Từ ngày chính thức ly dị, cầm số tiền đã chia đôi với ông Hoà, bà Hiền đã cúng hết vào chùa. Ngôi chùa nhỏ này thỉnh thoảng mới có thày hay sư cô ở xa về giảng, còn bình thường thì ban quản trị của chùa cũng cần có người ở lại để chăm sóc vườn tược, thắp cây nến, nén nhang trên bàn thờ Phật…… Bà Hiền đã được mọi người vừa tín nhiệm, vừa thông cảm cho hoàn cảnh của bà, nên họ đã bằng lòng để bà ở lại săn sóc ngôi chùa.
Bà Hiền thật sự muốn rũ bỏ chuyện đời, nên dù không còn hờn giận gì ông Hoà, bà cũng quyết định không bao giờ muốn gặp lại hay muốn nghe tin tức gì về ông nữa. Bà chỉ chú tâm tụng kinh, niệm Phật, siêng năng làm việc: từ trong ra đến ngoài chùa, không để phí phạm giờ phút nào. Bà đã thấu hiểu được nguyên nhân gây nên những ràng buộc, những đưa đẩy dẫn con người đến sự nô lệ vật chất và những khổ luỵ tinh thần. Đọc Kinh Pháp Hoa, một bộ Kinh Đại Thừa dạy chúng sinh thức tỉnh, tìm về với tánh Phật sẵn có nơi mỗi con người để tu hành mà giác ngộ. Bà thật sự thấy thế gian này chỉ là một huyển hiện nhất thời, như Đức Phật đã nói: “Giáo Pháp của ta thuần một vị, đó là vị giải thoát “. Và có lẽ tâm hồn bà, giờ đây đang thật sự được giải thoát……….

Phan Tuyết Anh

Những hiện tượng rất kỳ lạ

1. Lốc nước

Lốc nước là hiện tượng xuất hiện một vũng xoáy rất lớn và cực kỳ mạnh mẽ trên mặt nước, có khả năng cuốn hút bất cứ vật gì rơi vào vòng khống chế của nó và nhận chìm xuống tận đáy nước. Vùng lốc nước được mô tả đầu tiên là ở Moskstraumen (Hà Lan), do hai dòng hải lưu rất mạnh gây ra. Đáy biển đó là nơi giao nhau của hai luồng nước ngầm thể hiện thành hai hải lưu đó.




2. Cầu vồng lửa


Thuật ngữ “cầu vồng lửa” có thể gây hiểu lầm. Thực chất đó là một vòng cung bao quanh chân trời (circumhorizon arc). Nó chủ yếu là tập hợp muối băng (ice halo), do các tinh thể băng nằm trong các đám mây ở rất cao trên bầu trời. Cảnh tượng trình diễn màu sắc này không hiếm lắm, thường thấy ở vùng gần vĩ độ vào mùa hè, song rất ít khi xuất hiện ở Trung hay Bắc Âu.




Tất nhiên, nó không hình thành như những cầu vồng như chúng ta thường thấy. Ánh sáng đi qua những tinh thể băng hình lục giác theo chiều thẳng đứng và đi qua mặt đáy nằm ngang gần nhất. Khi sắp xếp lại theo đường thẳng, nó làm cho toàn bộ đám mây ánh lên bảy sắc cầu vồng.




3. Vòi rồng





Vòi rồng là một cột nước xoáy tròn bốc từ dưới mặt nước lên, liên kết từng khối với nhau thành một đám mây tầng.



Thông thường chúng yếu hơn những cơn lốc trên mặt đất, nhưng cũng có những vòi rồng mãnh liệt hơn rất nhiều và cuốn nước lên trời với tốc độ rất cao và sức mạnh cực lớn.





Chúng có thể là những cơn lốc hoặc không phải là những cơn lốc. Khi không phải là cơn lốc, chúng yếu hơn và không nguy hiểm bằng vì tốc độ gió dưới 30 m/giây. Ở loại vòi rồng là cơn lốc thì lốc là “lõi” của vòi rồng. Khối lượng nước bị cuốn theo vòi rồng rất lớn và nếu bạn đã chứng kiến một lần thì không thể nào quên.




“Anh em họ” của vòi rồng là “vòi rồng tuyết” (snowspout) hoặc “vòi rồng băng” (icespout). “Vòi rồng tuyết” hình thành khi một cơn lốc xảy ra trong một trận mưa tuyết. Nó hiếm hoi đến mức người ta chỉ chụp được có 6 bức ảnh về nó từ xưa tới nay.


4. Mưa cá ở Honduras

Hiện tượng này thật phi thường. Vậy mà đã hơn một thế kỷ qua, cứ mỗi năm lại mưa cá một lần.





Hàng năm, cứ vào giữa Tháng năm và Tháng bảy, một đám mây đen xuất hiện trên bầu trời, tiếp đó là sấm chớp và mưa lớn kéo dài 2-3 giờ liền. Cuối cơn mưa, đi ra phố người ta bắt được hàng trăm con cá còn đang sống, dãy dụa trên mặt đất, đương nhiên sẽ trở thành món ăn tự hào của những người may mắn





Chưa giải thích được lý do nhưng ai cũng cho rằng những trận gió mạnh và lốc đã đưa lũ cá lên trời, chu du đến 200 km. Tất cả đều không phải cá biển, mà là cá nước ngọt. Tạp chí National Geographic đã cử một đoàn đến khảo sát. Họ thấy không phải là cá trong vùng, và tất cả đều bị mù, nên đưa ra giả thuyết là lũ cá này sống ở một dòng sông ngầm nào đó chưa phát hiện ra. Đến Honduras vào mùa hè, biết đâu bạn chẳng may mắn bắt được một con.


5. Cầu vồng trăng





Chắc bạn nhiều lần thấy cầu vồng sau cơn mưa, những bạn đã gặp cầu vồng vào ban đêm chưa? Hiếm nhưng có. Người ta gọi là “cầu vồng trăng” (tiếng Anh gọi là moonbow, lunar rainbow hoặc white rainbow). Dĩ nhiên ánh sáng do Trăng phát ra thì yếu hơn ánh sáng Mặt trời rồi, nên mắt thường không nhìn thấy màu sắc (hoặc rất mờ nhạt) khiến cầu vồng trăng chỉ là một quầng sáng hình vòng cung trăng trắng mà thôi.





Cơ hội lớn nhất để bạn được chiêm ngưỡng cầu vồng trăng là vào đêm rằm hoặc 16 âm lịch khi ánh trăng tỏ nhất, trời không mây và mưa rơi ngay phía trước mặt trăng.




6. Bãi chông băng





Băng kết tinh thành khối nhọn hoắt mọc bên nhau làm thành một bãi chông băng khổng lồ, chỉ thấy ở những vĩ độ cao. Chiều cao của những cây chông băng thay đổi từ vài centimet đến 2 mét hoặc hơn nữa. Bãi chông băng trắng muốt, lung linh đã làm biết bao nhà nghiên cứu say mê kể từ thời Darwin . Nhà tự nhiên học vĩ đại này lần đầu tiên trông thấy và mô tả về chúng





Cơ chế hình thành bãi đá chông khá phức tạp, do nhiều yếu tố tác động: quá trình nóng chảy của băng ở chỗ này, thăng hoa ở chỗ kia làm bề mặt băng không bằng phẳng nữa. Gió đẩy mạnh sự khác biệt làm bề mặt băng ngày càng trở nên lồi lõm. Những bức xạ mặt trời phản xạ trên bề mặt lồi lõm ấy không đồng đều càng góp phần đưa sự khác biệt đến cực đai khiến chỗ này là đáy sâu, chỗ kia thành đỉnh nhọn, lâu dần hình thành bãi chông băng




7. Siêu ổ dông (Supercell)




Siêu ổ dông là những luồng khí - nước xoay tròn hút từ dưới lên trong một trận dông bão lớn. Chúng có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào trên thế giới, kéo dài 2 – 3 giờ liền, có khi chia làm đôi, thành hai trận bão có hướng ngược nhau





Siêu ổ dông thường sinh ra mưa đá, hoặc mưa rào rất to, những trận gió rất mạnh và khi hướng xuống dưới, chúng cuốn theo những viên nước đá lớn





8. Những tảng băng tròn





Hiện tượng những tảng băng tròn vành vạnh nổi trên mặt nước hiếm khi xảy ra, chỉ thấy ở những vùng nước chảy rất chậm và khí hậu lạnh như ở Bắc Âu và Mỹ.
Có hai loại tảng băng, tuỳ thuộc vào điều kiện hình thành





Loại thứ nhất hình thành trong điều kiện trời không mưa, nhiệt độ dưới 0 độ C trong nhiều ngày ở những nơi sông uốn vòng cung. Do tác động của những lực chuyển động, nó làm rìa quanh tảng băng bị vở, rồi bị bào mòn lâu ngày, trở thành những vòng tròn hoàn hảo





Loại thứ hai trông còn đẹp hơn. Cũng là những tảng băng hình lòng chảo, hình thành ở giữa sông. Đôi khi giữa tảng băng tròn kích thước lớn lại có nước, trông tựa như một cái ao nổi giữa lòng sông

Bên đời ta còn ai đó lạc loài…


    Trong mọi người đều có một con quỷ đang say ngủ,

    người tốt là người sẽ không đánh thức con quỷ,

    trong bản thân anh ta hay trong người khác.--(Mary Renault).
Một người bạn lâu ngày đến nhà tôi, thấy để trong phòng đọc sách một bức tượng nhỏ có ba con khỉ bịt mắt, bịt tai, bịt miệng, cứ trầm ngâm nhìn mãi. Trước khi ra về, như không kìm lòng được, anh chỉ bức tượng và nói bâng quơ: “Sống vậy cũng hay nhỉ, không cần thấy những điều chướng mắt, không cần nghe những điều chướng tai, chẳng cần ý kiến ý cò chi cho mệt. Mình sống yên phận mình thôi”…

Tôi mỉm cười, với tay lấy bức tượng xuống cho anh xem và giải thích rằng đó là quà tặng của một người bạn Nhật, trong dịp ông ghé nhà tôi và nghỉ lại vài hôm. Tự tay đặt món quà lên kệ sách, ông kể rằng người Nhật có câu châm ngôn “Mi-zaru, kika-zaru, iwa-zaru” nghĩa là “không thấy, không nghe, không nói”. Vì từ “zaru” gần âm với “saru” nghĩa là con khỉ, nên người ta khắc hình ba con khỉ bịt tai, bịt mắt, bịt miệng với vẻ mặt ngộ nghĩnh để biểu thị cho triết lý này. Hình tượng đó được không ít người suy ra rằng hãy cứ sống an phận, mặc kệ những gì đang xảy ra xung quanh. Nhưng theo ông điều mà bức tượng muốn nhắc nhở chính là “đừng nhìn bậy, đừng nói bậy, đừng nghe bậy”… Và hình ảnh đó quen thuộc với rất nhiều nền văn hoá, chứ không chỉ ở Nhật Bản.

Nhưng điều tôi muốn kể không phải là về bức tượng đó, mà là về bạn tôi. Sau khi nghe tôi giải thích, anh đột nhiên ngồi xuống và tâm sự nhiều điều. Anh cần chia sẻ, cần một ý kiến, một lời động viên…Anh cần một người có thể lắng nghe anh bộc lộ sự tức giận và phẫn nộ. Nhưng tại sao mãi đến lúc đó anh mới nói? Thật ngạc nhiên khi tôi biết được, rằng anh đã nghĩ tôi đặt bức tượng ấy trên kệ sách hẳn có lý do. Như thể nó biểu thị cho một cách sống mà tôi muốn hướng tới, gạt bỏ mọi phiền nhiễu và chỉ tìm bình an cho riêng mình. Nếu đúng như vậy, anh đã ôm mối oán hận của mình ra về. Và có thể, với tính nóng nảy của mình, anh sẽ phải “đánh “ai đó” một trận cho hả giận”…

Tôi đã ngồi một mình rất lâu sau khi tiễn bạn ra cửa, và nhận ra một điều, đôi khi chúng ta chỉ cách nhau có một bức tượng nhỏ xíu, hay một câu nói bâng quơ.

Có những lúc ta nhìn cuộc sống đang diễn ra và cảm nhận nỗi sợ hãi lớn dần lên trong mình. Sợ hãi những gì ta không thể lường được, sợ hãi trước cái ác, những thủ đoạn mưu mô… Đôi khi ta thấy nó không chỉ ở xa xôi đâu đó trên mặt báo, mà gần mình đến nỗi có thể gây nên những thiệt hại, mất mát và tổn thương hiển hiện về thể xác hay tinh thần. Những lúc ấy, càng ở một mình chúng ta càng hoang mang. Chỉ khi tìm đến ai đó, trò chuyện, giãi bày, tâm sự, an ủi ... chỉ khi ngồi bên nhau, chúng ta mới thấy mình đủ mạnh để tự vệ trước cái xấu.

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không thể ngồi bên nhau?

Có một điều tôi rút ra được từ những cuốn truyện trinh thám, đó là nạn nhân thường là những người đơn độc, những người bị ngăn cách với người khác đôi khi bằng một bức tượng nhỏ xíu, hay một câu nói bâng quơ…Và vì thế, họ không thể chia sẻ những bí mật, những sai lầm, những nghi ngờ, sự giận dữ hay nỗi lo âu. Và trong cuộc đời thực cũng vậy, nạn nhân thường là những người đơn độc. Bởi vậy, đừng bao giờ trở thành một người đơn độc, hay để người khác trở thành đơn độc. Chúng ta có nguy cơ trở thành nạn nhân khi rời nhau ra, khi bị xé lẻ. Chúng ta đã đọc truyện bó đũa từ thời thơ bé, nhưng chúng ta cứ quên nó hoài. Là người tốt, không đủ. Là người lương thiện, không đủ. Để tự vệ trước cái ác chúng ta cần sức mạnh của số đông.

Thỉnh thoảng, chúng ta lại bật ngửa khi nhận ra rằng “người tưởng như thế đó mà lại làm ra chuyện thế này ư ?” Chúng ta bất ngờ khi một cô bạn vốn vui vẻ thân thiện ngày xưa bỗng một hôm ra tay xé áo đánh người như trong phim xã hội đen vậy. Chúng ta bất ngờ khi một người vốn hiền lành bỗng dưng có hành động bạo lực. Nhưng có thật người ta biến đổi bất ngờ đến vậy không?

Câu trả lời là không, chẳng có ai ngủ một đêm thức dậy bỗng hoá ra độc ác, hay ưa bạo lực, hay trở thành kẻ xấu. Luôn luôn có một quá trình. Luôn luôn có những biểu hiện trong quá trình đó dù rất nhỏ. Điều đáng buồn là dường như chúng ta luôn tặc lưỡi lướt qua những điều rất nhỏ. Và rồi, những điều tồi tệ diễn ra là bởi chúng ta đã bỏ qua những điều rất nhỏ đó. Những điều tốt nho nhỏ chúng ta đã không làm, như một cái mỉm cười, một lời thăm hỏi quan tâm, một sự giúp đỡ… Và những điều xấu nho nhỏ chúng ta đã làm, như một lời xúc xiểm bâng quơ, một ánh nhìn khinh rẻ tình cờ…Sẽ rất tai hại nếu chúng ta quên rằng một lời nói tử tế chân thành có thể xoa dịu và níu giữ con người với cái thiện, cũng như chỉ một lời rẻ rúng cũng có thể gây tổn thương sâu sắc và đánh thức con quỷ ngủ say…

Làm sao để loại trừ cái ác? Câu trả lời thường thấy là hãy tránh xa nó, và nếu bắt gặp thì trừng phạt nó thích đáng. Nhưng còn một cách nữa, đó là đừng để người khác có cơ hội trở thành người xấu. Đừng bỏ rơi, đừng ép uổng, đừng khinh khi. Đừng lừa gạt, đừng lợi dụng, đừng phản bội. Đừng gây tổn thương. Đừng dồn ai vào đường cùng…
Tôi không dám nói rằng cái thiện luôn mạnh hơn cái ác. Tôi không biết chắc. Đôi khi tôi nhìn thấy cái thiện bị đánh nốc ao trên sàn đấu trong cuộc chiến đơn độc. Nhưng tại sao chúng ta lại để nó trở thành cuộc chiến đơn độc? Tôi biết chúng ta đông hơn. Những người mong muốn điều tốt đẹp cho cuộc sống này, luôn luôn đông hơn. Vậy thì hãy làm cho chúng ta mạnh hơn.

Hãy tìm đến nhau, bạn bè, người thân, đồng nghiệp, đồng hương, đồng loại…Hãy giúp đỡ và xin được giúp đỡ, hãy xiết chặt lại những mối dây liên hệ và đừng để ai thành kẻ lạc loài. Những kẻ lạc loài, thường dễ trở thành thủ phạm, hoặc trở thành nạn nhân.

Thế cho nên, giữa cuộc sống bộn bề đôi khi cũng cần nhìn lại, để tự hỏi lòng xem, phải chăng ngay bên cạnh đời ta vẫn còn có ai đó lạc loài?

Phạm Lữ Ân

--
QUÁN CHIẾU HẠNH PHÚC

( Cảm tác bài Quán Chiếu Hạnh Phúc
của TT Thích Trí Siêu )


Sáng dậy mỉm cười còn sống đây
Cám ơn Trời Phật được vui vầy
Bao người đã mất ta còn sống
Hạnh phúc gia đình mừng lắm thay !

Sức khoẻ con người quí hơn vàng
Tiền nhiều chưa chắc được cao sang
Ốm đau tàn tật - không mua được
Mạnh khoẻ - đời người sống an khang !

Có đủ sáu căn (1) hạnh phúc rồi
Không gì khiếm khuyết ở thân người
An vui thụ hưởng sáu (2) trần đẹp
Chấp nhận cuộc đời - sống thảnh thơi !

Tự do hạnh phúc gắn liền nhau
Sống khổ tù đày giọt lệ trào
Tranh đấu tự do vì lý tưởng
Không gì hạn chế , chẳng thương đau !

Tiện nghi vật chất thỏa lòng ta
Muốn chi cũng có - chẳng đi xa
Con người hạnh phúc có đầy đủ
Vật chất , tinh thần phú quí gia !

Tình thương cần thiết cho con người
Thiếu nước cây tàn - chẳng thắm tươi
Nhân ái tha nhân - nhận quả tốt
Yêu đương hạnh phúc mãi vui cười !

Trí tuệ thông minh quí lắm thay
Tu tâm , giữ giới tránh làm sai
Sinh ra tâm trí không đau bệnh
Hạnh phúc đời ta ở cõi này !

Minh Lương Trương Minh Sung
Cali. ngày 03 tháng 06 năm 2010
(1) Sáu Căn theo Đạo Phật là mắt,tai,mũi ,lưỡi ,thân và ý .
(2) Sáu Trần là mắt thấy , tai nghe , mũi ngửi ,
lưỡi nếm , cảm giác và ý nghĩ .

QUÁN CHIẾU HẠNH PHÚC

Chúng ta thường đi tìm một cái gì bên ngoài để mang lại cho mình hạnh phúc như vật chất, nhà cửa, xe hơi, máy móc, tiện nghi, … hoặc tình cảm gia đình, thân quyến, bạn bè, người yêu, … hoặc danh vọng, địa vị, lý tưởng. Ta khát khao tìm kiếm vì tưởng mình nghèo nàn, thiếu thốn, tâm luôn phóng ra ngoài chạy theo trần cảnh. Trong kinh Pháp Hoa kể thí dụ đứa cùng tử suốt đời đi ăn xin vì không biết trong túi mình có viên ngọc quý, đến khi được người bạn nhắc tỉnh ngộ lấy ngọc ra xài liền hết đói khổ.
Bài quán chiếu dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quý mà bạn đã có, chỉ cần lấy ra dùng là sẽ có hạnh phúc.
Sau đây là 7 điều quán chiếu hạnh phúc:
1/ Ta đang còn sống
2/ Ta có sức khỏe
3/ Ta có đủ sáu căn
4/ Ta có tự do
5/ Ta có tiện nghi vật chất
6/ Ta có tình thương
7/ Ta có sự hiểu biết
1/ Ta đang còn sống
Trên đời này quý nhất là sự sống. Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết. Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào ? Ở đời ai cũng lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi. Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống. Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần. Ngay cả một tỷ đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay sida (aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy còn sống, bạn có thấy mình hạnh phúc không?
Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống thì còn tất cả.
2/ Ta có sức khỏe
Sự sống quý nhất trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống. Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v… Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì bệnh nọ. Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục, bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức. Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc. Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng !
Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây. Còn sức khỏe thì còn làm được tất cả.
3/ Ta có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)
Có nguời đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v… Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì ! Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù thì bạn sẽ ra sao ? Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà mình xem. Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không ? Vậy mà bạn đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn. Như vậy còn đòi hỏi gì hơn? Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa.
Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.
4/ Ta có tự do
Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo. Bởi vì theo giáo lý, tất cả chúng ta đều là tù nhân của ba cõi sáu đường. Chỉ khi nào thoát khỏi sinh tử luân hồi mới thực sự là tự do.
Hiện tại bạn có đang ở tù không? Có đang bị trói buộc, xiềng xích không ? Có ai cấm bạn đi đứng nói năng, ăn uống không? Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không ? Bạn có biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ? Có thể bạn nghĩ tù ở các xứ văn minh giàu có thì sướng hơn ở xứ nghèo chăng? Ở Mỹ nhân viên cai tù không hành hạ tù nhân nhưng chính những người tù đánh đập, áp bức, hiếp dâm lẫn nhau rất dã man.
Ngay bây giờ nhìn lại, bạn có thấy mình được tự do đi đứng nói năng không ? Nhớ ai thì lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v… Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm. Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không? Nếu không thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá muộn.
5/Ta có tiện nghi vật chất
Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén, v.v… Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ. Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo. Ngay tại Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư, tiếng pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm (métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ. Nhìn lên chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người. Hãy nhìn lại hoàn cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không ? Có nghèo đến nỗi không còn mảnh vải che thân ? Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ. Khi tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao nhiêu cũng không đủ. Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì không bao giờ thấy đủ.
6/ Ta có tình thương
Nhiều người khổ sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết. Không ai thương mình bởi vì mình đâu có thương ai. Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến. Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động ong bướm bay tới xung quanh. Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản chất của tâm (tim) là thương yêu. Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ khác. Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng. Nếu chưa nhớ thì bạn hãy thực tập phép quán từ bi ở phần trước.
Hiện tại bạn có ai là người thân thương không? Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không? Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không? Có tình thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.
7/ Ta có sự hiểu biết
Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp. Không kể người khùng điên mất trí, hoặc bị bệnh tâm thần mà ngay cả những người bình thường cũng chưa chắc có sự hiểu biết về nhân quả và đạo đức. Đầu óc ta còn sáng suốt, không điên khùng mất trí, lại gặp được Phật pháp, học hiểu giáo lý giải thoát, đó là một duyên lành hy hữu trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được.
Nếu quán chiếu những điều trên chưa đủ để cho bạn hạnh phúc thì bạn cần phải “hạ sơn” đi vào cuộc đời để tiếp xúc với người sắp chết, người bệnh để thấy họ khổ ra sao, tiếp xúc với người tàn tật, người tù, người ăn xin, người cô đơn, người ngu cố chấp thì may ra nó sẽ giúp bạn tỉnh ngộ thấy mình hạnh phúc.
Thương Ghét
1) Ða số người thường suốt ngày sống trong sự thương ghét. Người nào vừa ý, hợp ý mình thì thương, kẻ nào trái ý mình thì ghét.
2) Khi bắt đầu biết đạo thì tập tánh bình đẳng, không thương người này ghét người kia.
3) Sau khi hiểu đạo thì chỉ còn tình thương. Thấy ai cũng là bà con thân thuộc của mình từ nhiều đời, và thấy ai cũng đáng thương hết.

Trích sách “Ý Tình Thân”

Thích Trí Siêu

Bài Xem Nhiều