We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 27 November 2010

“XIN HÃY TẠ ƠN THAY VÌ NGUYỀN RỦA"

Nếu ai có cơ hội đọc các bài viết trên Mạng của người Việt (mà đa số là người Việt Quốc gia tỵ nạn CS) trong những ngày cuối tháng 10, đầu tháng 11 vừa qua đều không khỏi vô cùng đau đớn, xót xa: Riêng tôi, tôi cảm thấy những ngày ấy còn đen tối, đớn đau và xót xa hơn cả cái sáng 30 tháng 4 năm 1975 khi tôi đứng trước Dinh Độc Lập chứng kiến cảnh quân CS Bắc Việt tiến vào chiếm thủ đô Saigon. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Dân Miền Nam bị tấn công bởi kẻ thù với các chiến xa và hỏa tiển của TC và Liên xô. Hôm nay người QG ở hải ngoại phải hứng trên đầu những trận mưa bom từ những người tự nhận là “Quốc gia”. Mỗi ngày có hàng ngàn bài viết trên các diễn đàn Việt ngữ chửi bới thâm tệ các cấp lãnh đạo của các chế-độ Miền Nam, từ thời Chánh-phủ Quốc gia (1948) đến đệ nhứt là đệ nhứt và đệ nhị Cộng hòa. …Vị quốc-trưởng nào, vị lãnh đạo quân sự, hành chánh nào cũng có tỳ vết, lỗi lầm để những cây viết ấy moi ra để chửi.……….



Từ Quốc-trưởng Bảo Đại, đến các Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, PTT Nguyễn Cao Kỳ, PTT Trần Văn Hương (và là Tổng thống hợp pháp cuối cùng của VNCH), các Tướng Trần Thiện Khiêm, Dương Văn Minh, Lê Minh Đảo, v. v. … Chửi bới cấp lãnh đạo quốc gia không đả, họ quay sang chửi bới lẫn nhau. Rồi nhóm nầy chửi nhóm kia, đáng buồn nhứt là tôn giáo mà cũng chia phe, chia phái ra để chửi nhau thì không còn gì để nói. Lịch sử VN chưa bao giờ phải trải qua một thời kỳ bi đát đến như vậy! Đó là lý do tại sao chúng ta thua CS ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đó là lý do tại sao hơn 35 năm rồi, người QG ở hải ngoại không làm được điều gì để có hy vọng xóa bỏ được chế độ CS tại quê nhà. Chúng ta phải can đảm nhìn nhận sự thật phủ phàng nầy. Tôi cảm thấy đau đớn, xót xa không phải vì tôi là một tổng thống, thủ-tướng hay tướng lãnh hay là họ hàng, thân thuộc của những vị đó. Tôi chỉ là một công dân như bao nhiêu công dân khác của VNCH. Tôi cảm thấy tủi nhục bởi vì vinh dự của Quốc gia tôi bị xúc phạm, quốc thể của nước tôi bị chà đạp.



Lẽ nào một Đất Nước tự hào có hơn 4 ngàn năm văn hiến mà gần cả trăm năm nay lại không sản sinh ra được một nhà lãnh đạo quốc gia, một vị tổng thống nào mà “không bị chửi bới” hết! Ví dụ, tôi vừa mới thấy một bài viết ca ngợi Cụ Trần Văn Hương thì ngày sau đã có hai ba người viết xuyên tạc, bôi lọ Cụ một cách vô lý, không chắc là từ người CS. Trong khi đó thì tại sao nước Mỹ có một lịch-sử chỉ mới hơn 200 năm mà đã có được biết bao tổng thống mà toàn dân Mỹ biết ơn và kính trọng? Không phải vì nước Mỹ có nhiều bậc lãnh đạo đáng kính, nhưng là vì người dân Mỹ biết kính trọng những bậc lãnh đạo của họ. Đó chính mới là cái mấu chốt của căn bệnh của người Việt Quốc-gia trong quá khứ và hiện tại. Ví dụ như ai cũng biết Tổng thống Clinton đâu phải là một con người toàn vẹn, thế mà người dân Mỹ vẫn dành cho ông ta sự kính trọng của một vị tổng-thống. Người dân Mỹ đâu có lên internet lôi ra chửi bới thậm tệ như người Việt Nam chửi bới các tổng thống, tướng lãnh, lãnh tụ của mình. Những dân tộc văn minh trên thế giới như Anh, Mỹ, Pháp, Nhựt, Đức, v.v… đều có được một trình độ dân trí cao, KHÔNG hề thất lễ, chửi bới, mạt sát các vị lãnh đạo quốc gia của nước họ. Bởi, người dân có trình độ nhận thức cao ắt phải hiểu là khi mình nhục mạ các cấp lãnh đạo quốc gia của mình tức là tự phỉ nhổ chính mình chứ đâu phải là điều vinh dự đáng tự hào.



Dân tộc càng văn minh họ càng biết ơn, kính trọng vua, quan (nếu còn chế-độ quân chủ như Anh, Nhựt, v.v..), các cấp lãnh đạo, trí thức, tướng lãnh của nước họ. TẠI SAO NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CHỬI BỚI CÁC CẤP LÃNH ĐẠO QUỐC GIA CỦA MÌNH?
Các nguyên nhân chính của tình trạng đó là:
Tuyên truyền của CS trước và nhứt là sau 1975. NQ36 của BCT/ĐCSVN tại hải ngoại hiện nay. Sự thảm bại của Miền Nam năm 1975 và chánh sách tẩy não, đấu tranh giai cấp của CS. Yếu tố lịch-sử và sự lạm dụng “Tự do”. Như mọi người đều biết: vũ khí được người CS sử dụng nhiều nhứt là bịa đặt, bôi lọ cá nhân các cấp lãnh đạo của phía Quốc gia từ trước 1945. Hơn 65 năm nay họ vẫn đầu độc người dân bằng cách đó. Ngày nay họ còn “xuất khẩu” chiến tranh tuyên truyền đó ra hải ngoại trong khuôn khổ của NQ36. Người dân Việt Nam không phải ai cũng có đủ sáng suốt và trình độ để không bị ảnh hưởng bởi các luận điệu tuyên truyền của CS.




Sự thảm bại năm 1975 của chế độ Miền Nam trước cuộc xâm lược của CS Miền Bắc với sự viện trợ quân sự vô giới hạn của Liên xô và TC đã triệt hạ danh dự và uy tín của hàng ngũ lãnh đạo của phía Quốc gia trong mọi lãnh vực: chính trị, quân sự, hành chánh, v.v... Thêm vào đó kẻ tạm gọi là “chiến thắng” đã bắt mấy trăm ngàn quân-dân-cán-chính VNCH giam vào các trại tập trung (concentration camps) kiểu Staline để tẩy não và tuyền truyền hàng chục năm. Kẻ chién bại không có quyền viết lịch sử!
Ngoài các trại tập trung, trong xã hội thì người CS tiến hành “đấu tranh giai cấp”: con tố cha, vợ tố chồng, công nhân tố chủ nhân, trò tố thầy, lính tố tướng lãnh, người công dân chửi bới thủ tướng, tổng thống mình, anh chăn trâu chửi người trí-thức….Họ lật ngược “thang giá trị” (échelle des valeurs) của xã hội văn minh và theo thang giá trị Marxist với câu nói tiêu biểu nhứt của Mao Trạch Đông: “Trí thức không bằng cục phân”. Người CS xây dựng xã-hội của họ trên hận thù giai cấp và sự dốt nát. Một số người Việt đã vô tình mang theo các tư tưởng đó ra nước ngoài mà không biết và đang sử dụng thoãi mái! Những cây viết hiện nay chửi bới thậm tệ nhứt chế độ VNCH là từ nước ngoài chứ không phải từ trong nước. Điều trớ trêu là người trong nước (kể cả người Miền Bắc trước đây) lại quý trọng tất cả những gì của VNCH cũ!




Người Pháp đã mang đến Việt nam nhiều “giá trị” quý báu về khoa học, văn học, nghệ thuật, khái niệm tự do, dân quyền, v.v. giúp Việt Nam phát triễn theo gương các nước Tây phương (thay vì vĩnh viễn lệ thuộc nước Tàu). Nhưng hệ thống chánh trị của Pháp thua xa hệ thống chánh trị của người Anh mà người Mỹ thừa hưởng ngày nay. Trong khi các cựu thuộc địa Anh như Ấn độ, Mã-Lai-Á, v.v….sau khi độc lập đều có được môt chế độ chính trị ổn định và phát triển tốt đẹp, thì tất cả các thuộc cũ của Pháp đều thất bại như Congo, Việt Nam,…Ngay cả mẩu quốc Pháp cũng bị khủng hoảng triền miên cả đến ngày hôm nay. Nhờ phỏng theo phần nào Tổng thống chế của Hoa Kỳ với Hiến-pháp đệ V Cộng-hòa, nên nền chính-trị nước Pháp đã được phần nào ổn định hơn trước kia. Người Anh nói vể người Pháp: ”Mỗi người Pháp là một nước Pháp”. Sau 100 năm hấp thụ khái niệm “tự do” của Pháp cộng với 50 năm của cuộc chiến chia rẽ dân tộc, ngày nay không ai lấy làm lạ: ”Mỗi người Việt Nam ở hải ngoại ngày nay là một nước Việt Nam”. Đó là các nguyên nhân chính của tình trạng phân hóa cực độ của chúng ta hiện nay.




Tại sao nước Nhựt, nước Đức, … cũng bại trận mà người dân họ đâu có đem vua họ, tướng lãnh họ ra để mạt sát? Chính nhờ vậy mà từ những nước chiến bại các nước đó đã trở lại vị thế của những cường quốc mà thế giới phải kính nễ. Các dân tộc đó có những “giá trị” mà chúng ta phải học hỏi. Chúng ta cần thay đổi “hệ thống giá trị’ (system of values) hiện hữu của chúng ta hoặc là chúng ta sẽ bị lịch sử đào thải.
Hôm nay, thuận cơ Trời, đáp lại tiếng gọi của lương tâm, người viết muốn lợi dụng cơ hội của mùa Lễ Tạ ơn có tính cách lịch sử năm nay để gởi đến mọi người Việt Quốc gia một thông điệp tích cực: “XIN HÃY TẠ ƠN THAY VÌ NGUYỀN RỦA”.
XIN HÃY “TẠ ƠN” THAY VÌ “NGUYỀN RỦA”
Sau khi đáp chiếc tàu MayFlower đến bến bờ Tự do trốn chạy nạn đàn áp, bách hại vì tín ngưỡng ở Anh quốc, vừa gặt hái xong mùa đầu tiên, những người di dân đầu tiên đã biết nghĩ trước nhứt đến việc “Tạ ơn”. Đó là một đặc điểm của cái “hệ-thống giá-trị” (system of values) mà tôi nói trên đây. Tôi sẽ trở lại vấn đề quan trọng nầy trong một dịp khác.
Hơn 3 triệu người Việt chúng ta trốn chạy nạn CS lẽ ra đã phải làm công việc “Tạ ơn” đó từ lâu thay vì phí không ít thì giờ và tâm trí để nguyền rủa quá khứ và chửi bới lẫn nhau.
Vậy trong tinh thần nêu trên của mùa Tạ ơn của người Mỹ năm nay tôi xin đề nghị với người Việt tỵ-nạn CS chúng ta như sau:




1. Xin hãy TẠ ƠN các bậc tiên đế, tiên hiền đã dựng nên nước Việt, giữ gìn và mở mang bờ cõi nước Việt được rộng lớn như ngày nay, kể cả các vua, quan Triều Nguyễn như Vua Bảo Đại.
2. Xin hãy TẠ ƠN các vị Quốc-trưởng, Tổng thống, các cấp lãnh đạo Quốc gia thuộc các lãnh vực chánh trị, quân-sự, v.v… đã lèo lái con thuyền Quốc gia được tồn tại cho đến ngày 30-4-1975 qua Chánh-phủ Quốc-gia Việt Nam (1948-1954) và hai chế-độ VNCH (1954-1975).




3. Xin hãy TẠ ƠN các anh hùng tử-sĩ, thuộc Dân Quân Cán Chính các cấp của Miền Nam đã hi sinh để giữ được Miền Nam đến ngày 30-4-1975, nhứt là các cấp lãnh đạo quân sự, chính trị, hành chánh đã tuẩn tiết sau ngày Miền Nam thất thủ.
4. Xin hãy TẠ ƠN những chiến sĩ Quốc gia đã đấu tranh để sống sót trong ngục tù CS hay để mưu đồ phục quốc trong các chiến khu.




5. Xin hãy TẠ ƠN những chiến-sĩ Quốc-gia, sau khi đến được bến bờ Tự do, đã tiếp tục giữ vững được ngọn lửa đấu tranh để chờ ngày quang phục quê hương.
6. Xin hãy ĐẶC BIỆT TẠ ƠN nước Mỹ đã cưu mang hơn hai triệu người tỵ nạn chúng ta và cho chúng ta cơ hội nuôi dưỡng một thế-hệ hậu duệ có khã năng thay thế chúng ta đánh đuổi ngoại xâm TC và xây dựng lại Đất Nước trong những năm tháng sắp đến.




7. Xin hãy ĐẶC BIỆT TẠ ƠN nước Mỹ đã, xuyên qua Ts. Henry Kissinger, trả lại danh-dự và công lý cho Quân Dân VNCH khi công khai nhìn nhận vào ngày 29 tháng 9 năm 2010 tại thủ-đô Washington là: chính nước Mỹ phải chịu trách nhiệm về của cuộc thảm bại tại Việt Nam năm 1975, chứ KHÔNG phải Việt Nam Cộng Hòa. (Xin mời xem bài “Đã đến lúc phải đòi lại Danh dự cho Quân Dân VNCH, trên trang mạng www.minhductandan.com)
8. Sau cùng, xin hãy ĐẶC BIỆT TẠ ƠN nước Mỹ đã công bố chánh sách ngoại giao và quân-sự mới nhằm bảo đảm an-ninh và tự do cho khu vực Á châu-Thái Bình Dương trong đó có Việtnam, chống lại tham vọng bành trướng của TC.
Bởi vậy, tôi coi mùa Tạ Ơn năm nay mang tính cách lịch sử. Người Việt chúng ta nên học từ các dân tộc tiên tiến cách đối xử công bằng với các cấp lãnh đạo Quốc gia của mình, dù trong vinh quang hay chiến bại. Những vị hiện thích chửi bới các tổng thống, thủ tướng, tướng lãnh, v.v. của VNCH thì xin vui lòng tự đặt cho mình hai câu hỏi sau đây:


Nếu vị nào chửi bới TT. Diệm, TT. Thiệu, TTg Hương, ông Tướng nầy, ông Tá kia là bê bối nên mất Nước thì tại sao hồi đó Vị đó không ra làm thay mấy ông đó để Nước khỏi mất?



(*Mt68: Thưa ông Tiến Sĩ; chúng tôi rất đồng ý với những điểm ông đã nêu ra. Nhưng thưa ông chúng ta không thể nào đặt câu hỏi quá nhẹ dạ, quá hời hợt như câu hỏi móc lò của ông trên đây !

- Bởi vì thực tế luôn có nhiều người (thời nào cũng vậy) MUỐN RA THAY THẾ LÃNH ĐẠO VÌ NHIỆT TÌNH, VÌ THIỆN TÂM (không kể những kẻ sôi thịt) .... Như chính ông biết đó !!! Họ có thay thế ĐƯỢC ĐÂU ??? Có nhiều lý do lắm mà tôi không tin một Tiến Sĩ như ông lại không biết suy xét cho có ngọn ngành hơn hay sao ??? - Cho nên phải ăn nói cho có tình có lý, chứ không thể lấy BỤ lắp miệng em được ông à !!! Nhất là ông lại là một TS rất thâm niên ..../- mt68)



Hiện nay TC đang xâm lược Việt Nam , VC đang bán Nước cho Tàu, tại sao các vị đó không làm gì để cứu Nước? (Đừng để sau nầy lại chửi bới ông nầy, bà kia đã để VC hại dân, TC cướp Nước).Biết mà không nói là BẤT NHÂN; Nói mà không biết là BẤT NGHĨA.



Trong hiện tình Đất Nước, những hành-động “nói mà không biết” không phải chỉ bất nghĩa mà nó còn cực kỳ tai hại đối với những chiến-sĩ Dân-Quân-Cán-Chính VNCH nào còn chút lòng với Đất Nước và Dân tộc, muốn đóng góp vào công cuộc đánh đuổi ngoại xâm và giải thể chế-độ CS tại Việt Nam. Xin nguyện hồn thiêng Sông Núi phù trợ cho mọi con dân Nước Việt luôn luôn vẫn còn can đảm để tiếp tục chiến-đấu quang phục Quê Hương, dù phải hứng chịu làn tên, mủi đạn từ những người tự nhận là “quốc gia” .
Hải ngoại, Mùa Tạ Ơn năm 2010

Lê Thành Nhân

Một trận đánh 56 năm trước ở ĐÈO MANG GIANG


Tưởng nhớ những ngày gian nan chiến đấu bảo vệ quê hương, nhiều bạn đồng ngũ của tôi, những người đã từng chiến đấu lâu năm trên chiến trường Cao Nguyên Miền Nam, lập ra mạng pleikuphonui. Họ nhận diện ra tôi cũng đã có lần làm “công dân” Pleiku và yêu cầu tôi viết về một kỷ niệm trên chiến trường Cao Nguyên.

Cô Thu Ðào, nguyên nữ sinh trung học PleiMe, bảo tôi, “Anh chứng kiến trận đánh PleiMe mà sau này trường em học mang tên; viết về trận PleiMe đi anh.”
Dĩ nhiên tôi có chứng kiến trận PleiMe với tư cách một phóng viên chiến trường, và ngày đó tôi đã viết về PleiMe trên Chiến Sĩ Cộng Hòa, tờ báo chính thức của Quân Ðội VNCH, nhưng tôi không muốn viết lại thêm một lần nữa trận đánh mà tôi chỉ chứng kiến. Tôi muốn viết về một trận đánh trên Cao Nguyên mà tôi đã thật sự tham dự: trận phục kích trên đèo Mang Yang năm 1954, một trận đánh 56 năm về trước.

Trận phục kích trên đèo Mang Yang
Trận phục kích khiếp đảm này xẩy ra vào ngày 24 tháng Sáu 1954, ngày tôi vừa tròn 23 tuổi đời; mang cấp bực trung úy, chỉ huy một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 9 Sơn Cước, tiểu đoàn hoàn toàn Việt Nam đầu tiên trên Ðệ Tứ Quân Khu (lãnh thổ sau này được tái mệnh danh là Quân Khu II).
Anh Bùi Quyền bảo tôi là khóa học của anh tại trường Võ Bị Quốc Gia có giảng dạy về trận Mang Yang.
Có thể nói trận phục kích này là trận giao tranh quyết liệt cuối cùng trên chiến trường Việt Nam , giai đoạn thứ nhất – 1945-1954.
Ðơn vị bị phục kích gồm có Lực Lượng Lưu Ðộng 100 của Pháp và tiểu đoàn khinh quân 520, tiểu đoàn trưởng là thiếu tá Nguyễn Bính Thinh, thường viết văn ký tên An Khê. Tiểu đoàn 9 Sơn Cước, đơn vị tôi phục vụ, giữ trọng trách đoạn hậu và ở lại phòng vệ An Khê. Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi là đại úy Nguyễn Văn Phước, sau này làm trưởng phòng Nhì bộ Tổng Tham Mưu và tử nạn trực thăng.
Ðược coi là một đơn vị có thành tích chiến đấu lẫy lừng trên một chiến trường mang tính quốc tế vì sự có mặt của quân đội hầu hết các quốc gia trên thế giới, Lữ Ðoàn 100 gồm 2 tiểu đoàn Korea 1 và Korea 2, hai đơn vị đã chiến đấu oai dũng trong những trận giao tranh với chí nguyện quân Trung Cộng tại Chipyong-ni, tại Wonju và tại đỉnh Arrowhead Ridge.
Ðến chiến trường Việt Nam, và để trở thành một lực lượng cấp Lữ Ðoàn, cánh quân từ Triều Tiên đến được tăng cường bằng lực lượng “commando Bergerol”, trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa, tiểu đoàn lưu động 43 bộ binh thuộc địa, và chi đoàn 3 thiết kỵ.
Một tuần lễ trước khi trận “đèo Mang Yang” xẩy ra, tôi có duyên được gặp đại tá Barrou (tôi không tìm được first name của ông ta), tư lệnh Lũ Ðoàn 100, tại cây số 16 trên đường thuộc địa 19 (sau này là quốc lộ 19).
Ðại đội tôi có nhiệm vụ mở đường 19 từ An Khê ra đến một địa điểm nào đó, càng xa càng tốt, cho đến thời điểm chúng tôi “bắt tay” được với Lữ Ðoàn 100, từ Pleiku đổ xuống.

Sơ đồ đường 19, từ Pleiku đổ xuống Quy Nhơn, An Khê nằm đúng chính giữa - trên cây số 90, tính từ Pleiku xuống hay tính từ Quy Nhơn lên. GM 100 bị phục kích tại cây số 15.


Ðèo Mang Yang, địa hình lý tưởng cho một cuộc phục kích

Cái “bắt tay” không mấy thân thiện
Ngay khi tôi vẫy tay ra hiệu cho đoàn công voa của Lữ đoàn 100 ngừng lại, thì một anh Tây khoảng 40 tuổi từ trên chiếc command car (loại xe jeep lớn) bước xuống. Anh cổi trần, hông đeo khẩu Colt 12 (giống khẩu súng tôi đang đeo), đến đứng trước mặt tôi, xấc xược hỏi: “Tu es un lieutenant?” (mày là trung úy phải không?) Anh ta biết cấp bực của tôi, vì tôi mang hai con đỉa trên nắp túi áo. Ngày đó quân đội quốc gia Việt Nam còn dùng lon Pháp.
Hắn không đeo lon, nhưng chỉ riêng việc hắn ngồi xe command car với 4, 5 cây ăng ten chi chit cũng đủ để tôi đoán hắn là một sĩ quan cao cấp; nhưng đã không đeo lon, hắn lại ăn nói xấc xược (tutoyer) giúp tôi có quyền xấc xược lại. Tôi bảo hắn, “Oui. Et toi?” (Tao là trung úy, đúng rồi. Còn mày là gì?)
Barrou cười xoà đưa tay vừa bắt tay tôi vừa tự giới thiệu, “Colonel Barrou”.
Tôi giải thích cho Barrou hiểu trên 16 cây số đường vào đến An Khê, đoàn công voa sẽ gặp khoảng 40 trái mìn, mỗi trái tôi đều cắm một cây cờ đỏ và đặt trên đó một nhánh cây lớn.
“40?”
“Trên hay dưới chút đỉnh,” tôi xác nhận.
“Sao anh không gỡ mà chỉ đánh dấu chỗ chôn mìn?”
“Tôi cần khoảng 15 phút để gỡ mỗi quả mìn, nếu tôi làm công tác gỡ mìn thì giờ này tôi chỉ ra khỏi An Khê khoảng 3 cây số.”
Sau này tôi mới hiểu con số 40 quả mìn làm Barrou kinh hãi: trước khi “bắt tay” với tôi, ông đã bị 2 quả mìn tại PK 22, và “ăn” thêm 3 trái SKZ tại khúc quanh gấp được gọi là “cùi chỏ Tử Thần”, bỏ lại đèo Mang Yang 6 quân xa bị bắn hư hỏng, và chở theo trên 20 thương binh, tử sĩ.
“Anh làm như vậy là rất đúng. Giờ này, anh lên xe đầu hướng dẫn đoàn công voa tránh mìn,” Barrou bảo tôi, ông có vẻ hài lòng vì tôi đã đi qua, và biết rõ đoạn đường đoàn công voa sắp phải lăn bánh vào.
“Tại mỗi chỗ có chôn mìn tôi đều đặt một tiểu tổ ở lại đó, không cho Việt Cộng ra gỡ mìn, gài lại. Tôi sẽ cắt một sĩ quan trong đại đội tôi lên xe hướng dẫn công voa; tôi ở lại đây, chỉ huy cuộc hành quân bảo vệ đường giao thông cho đến khi chiếc xe chót của đoàn công voa vượt qua địa điểm này.”
“Cũng được,” viên đại tá Pháp có vẻ hài lòng, trèo lên xe, trong lúc tôi cắt thiếu úy Ðào, trung đội trưởng trung đội 1 của đại đội tôi lên chiếc xe đầu đoàn công voa để hướng dẫn. Ðào là sĩ quan trừ bị, trình độ đại học, nói tiếng Pháp giỏi nên việc hướng dẫn một đoàn công voa Tây –công voa của Lữ Ðoàn 100- về An Khê rất xuông sẻ.
Ðại tá Barrou quen lối đánh trận địa chiến trên chiến trường Triều Tiên, có vẽ lọng cọng với tình hình chiến trường mới, chỗ nào cũng có mìn, chỗ nào cũng có địch; có thể ông thấy thiếu, và thèm thuồng một chiến tuyến rõ rệt: bên này là ta, bên kia là địch.
Công việc mở đường nguy hiểm và không lần nào tránh khỏi tổn thất, nhưng đó lại là việc chúng tôi thường xuyên phải làm. Hai tuần một lần chúng tôi mở đường để công voa dân sự đưa tiếp tế từ Pleiku lên An Khê. Công việc nguy hiểm, nhưng cũng đã quen nên chúng tôi biết cách giảm thiểu tổn thất.
Chúng tôi không ngờ nghệch đưa ngực ra cho địch ẩn núp hai bên lề đường bắn sẻ; chúng tôi lại còn tiên hạ thủ -đánh địch trước- để tranh thế thượng phong.
Một vài tiên liệu nho nhỏ giúp chúng tôi tránh được nhiều mánh khóe của địch. Chúng biết hai ngày thứ Năm đầu tháng và giữa tháng là hai ngày chúng tôi đón đoàn xe tiếp tế trên đường 19.
Khuya thứ Năm, vài tiếng đồng hồ trước khi chúng tôi hành quân mở đường, chúng gài mìn cá nhân, bố trí xạ thủ bắn sẻ trên những con đường mòn dài theo hai bên đường, vì chúng biết, toàn bộ lực lượng chúng tôi không đi cả trên mặt đường mà chia thành 3 cánh, chỉ một cánh có trách nhiệm rà mìn đi giữa đường, hai cánh khác đi theo hai con đường song song với đường cái.
Sáng thứ Tư, tôi thường gửi vài toán biệt kích lẻn vào rừng, phục kích, gài mìn, trên những con đường mòn từ mật khu của chúng đổ ra đường 19. Chúng không cho đoàn xe tiếp tế tiến vào An Khê bằng đường 19, chúng tôi cũng không cho chúng đến gần đường 19. Do đó đi gài mìn, chúng lại thường vấp mìn và bị phục kích trước.
Biện pháp phục kích đánh phục binh địch giúp chúng tôi dành quyền tạo bất an cho chúng trên đường chúng di chuyển; võ “gậy ông đập lưng ông” khiến hoạt động gài mìn của địch trên đường 19 giảm đi nhiều.
Nhưng hôm nay hoạt động của chúng gia tăng rõ rệt: chắc chắn cũng được tin Lữ Ðoàn 100 vào chiến trường, chúng vận dụng một lực lượng lớn hơn thường khi để dàn chào những người mới đến. Ðêm hôm trước 4 toán biệt kích tôi gửi đi phục trên đường di chuyển của địch, đều đụng độ với những toán đánh mìn đổ ra đường 19; vậy mà suốt buổi sáng nay chúng tôi vẫn còn bận rộn với 14 toán đánh mìn chống chiến xa, kích hỏa bằng điện trở, không kể những quả mìn chống cá nhân, và mìn định hướng.
Dồn nỗ lực vào việc khiêng vác mìn, bọn đặc công đánh mìn không được võ trang đủ mạnh để giao tranh, nhưng chúng tôi cũng bị tổn thất khá nặng, vì mìn, bẫy của chúng. Tôi trình bầy với Barrou là tôi có nhu cầu tản thương 16 người lính đã được băng bó tạm, và 10 quân nhân tử trận, yêu cầu ông cho 3 chiếc xe tản thương lên đầu đoàn xe để giúp chúng tôi đưa thương binh về An Khê.
Chỉ sau này, chiến trường Việt Nam mới có trực thăng, ngày đó việc tản thương vô cùng khó khăn, và những người bị thương nặng ít hy vọng được cứu sống.
Barrou cho tôi biết những chiếc xe cứu thương của ông cũng đã đầy thương binh vì hai trận phục kích trước, và bảo tôi đưa thương binh lên bất cứ quân xa nào còn chỗ trống.
Trước khi gặp toán mở đường chúng tôi, đoàn xe của GM 100 cũng đã đụng trận 2 lần, mỗi lần họ tốn hai tiếng đồng hồ và một số thương vong, nên Barrou tỏ ra phấn khởi được chúng tôi đón ở PK 16, tính từ An Khê ra.
Ðoàn công voa ầm ầm chuyển bánh, nhưng lại êm ái trườn đi, không một tiếng mìn, không một tiếng súng; bẩy giờ tối hôm đó, chiếc xe cuối cùng vượt qua cứ điểm chúng tôi trấn giữ trên đường 19. Tôi gọi tiểu đoàn báo cáo công tác hoàn tất, và đề nghị với tiểu đoàn trưởng là chúng tôi không rút trở về An Khê, mà nằm lại tại chỗ, để tránh nguy hiểm trong cuộc rút quân đêm.
Ðại úy Phước đồng ý; tôi xin ông cho toán quân y tiểu đoàn đón những thương binh và tử sĩ của đại đội tôi được đoàn công voa Pháp đưa về An Khê.
Thiếu úy Khỏe, đại đội phó hỏi tôi về bữa ăn tối của binh sĩ.
“Ăn lương khô dằn bụng,” tôi ra lệnh. “Tuyệt đối không củi lửa. Mỗi trung đội giữ thế phục kích ngay tại chỗ mình đang chiếm lãnh.” Tôi chủ trương giữ lợi thế của lực lượng không di động đêm, nhường cho địch việc làm nguy hiểm này.
Ðêm hôm đó trung đội 2 của thiếu úy Tự bắn hạ 3 anh du kích mò ra đường cái thám thính.

Tôi mừng vì suốt đêm đại đội không tổn thất thêm sau khi đã tổn thất khá nặng để giải tỏa 16 cây số đường 19. Sáng hôm sau, đại đội 4 được gửi ra đón chúng tôi; có lẽ tiểu đoàn sợ sau khi tổn thất đến gần 1/4 quân số, chúng tôi không còn tự lực mở đường trở về được. Ðiều đó có thể xẩy ra nếu tôi vội về ngay đêm hôm trước.

Trưa hôm sau, chưa về đến An Khê, tôi đã nhận được lệnh đưa đại đội lên tăng cường cứ điểm Núi Nhọn, một ngọn núi nằm cách An Khê khoảng 6 cây số trên đường 19 hướng đổ xuống Quy Nhơn.
Thường khi Núi Nhọn chi do một trung đội trấn thủ; để thiếu úy đại đội phó hướng dẫn đơn vị đến vị trí mới, tôi vào phòng hành quân dự phiên họp giữa lực lượng trú phòng An Khê và GM 100.
Trong buổi họp hành quân tôi được biết Lữ Ðoàn 100 nhận trọng trách đổ xuống duyên hải bằng đường 19 để tấn công Liên Khu 5 của Việt Cộng, họ đóng vai mũi dùi tấn công thứ nhì, phối hợp với lực lượng đổ bộ đã vào Quy Nhơn trước đó.
Ðại đội tôi được đưa lên tăng cường căn cứ Núi Nhọn, trong dụng ý yểm trợ cuộc tiến quân của GM 100. Vai trò yểm trợ được quan niệm máy móc, vì ngoại trừ những quân nhân Pháp thuộc GM 100 mới vào chiến truờng, toàn thể sĩ quan trong phòng họp đều hiểu Núi Nhọn không có khả năng yểm trợ bất cứ một đơn vị bạn nào hành quân cách đỉnh núi 6 cây số. Hoả lực pháo binh của Núi Nhọn là một khẩu đại bác 75 ly của Pháp, loại cũ kỹ đã bị phế thải từ sau Thế Chiến II. Chúng tôi quen gọi nó bằng cái tên Tây của nó là canon soixante quinze, nó ngồi trên hai vỏ xe bơm, một đã xẹp từ nhiều năm nay.
Một chiến cụ cổ lỗ nữa của Núi Nhọn là cái ống dòm thu ngắn 16 lần được đặt trên giá 3 chân, một trong 2 ống nhắm bị mảnh đại bác địch phá vỡ, nhưng mắt thứ nhì vẫn tốt.

Sau khi nghe thuyết trình, tôi thấy lo ngại về cuộc tiến quân của GM 100 xuống duyên hải, tôi góp ý là con đường 19 khúc giữa An Khê và Quy Nhơn đã bỏ hoang phế từ nhiều năm nay, chắc chắn sẽ không thuận lợi cho việc chuyển vận những quân cụ nặng, như thiết giáp, pháo binh. GM 100 có 12 chiếc thiết giáp của trung đoàn 5 thiết kỵ và 12 khẩu 105 ly của trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa, cộng thêm một số quân xa khoảng trên 200 chiếc. Tôi trình bày là ngoại trừ những quân xa nhẹ như jeep và dodge 4x 4, không chiếc nào qua cầu được.

Thổ công binh sửa một cây cầu trên đường 19
Buổi họp hành quân, nói là để phối hợp giữa lực lượng lưu động GM 100 với lực lượng địa phương gồm tiểu đoàn 9 sơn cước và tiểu đoàn 520 khinh quân, không đạt được một kết quả cụ thể nào.
Chúng tôi cho người Pháp biết tình hình địa phương, nhưng các sĩ quan Pháp coi thường ý kiến của sĩ quan Việt Nam, nhất là đại tá Barrou, người đang chỉ huy một lực lượng mạnh gấp 3 lần lực lượng Việt Nam trấn đóng tại An Khê.
Họp xong, tôi vội vàng ra xe định đi về căn cứ Núi Nhọn để xem cách bố trí địa điểm từ giờ này sẽ là trách nhiệm của tôi.
Thiếu úy Tự chờ tôi ngoài xe và báo cáo cho tôi biết là ống dòm “một mắt” ghi nhận nhiều vận chuyển đạn dược của địch đến cây cầu gẫy An Túc, trên đường 19, cách Núi Nhọn khoảng 5 cây số. Tự nói trong 5 tiếng đồng hồ chót, quan sát viên ghi nhận 21 chuyến molotova đổ đạn xuống đầu cầu.
Tôi chưa kịp có phản ứng gì thì một câu hỏi từ đằng sau vọng tới, “Qu’est ce qu’il te raconte?”
Người hỏi là thiếu tá Muller, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 43 lưu động của Pháp. Anh ta ngồi cạnh tôi trong buổi họp tham mưu. Muller đã sống trên chiến trường Việt Nam khá lâu; so với những sĩ quan Pháp thuộc trung đoàn Triều Tiên, anh tỏ ra hiểu biết hơn.
Tôi kể lại những điều Tự báo cáo với tôi, lấy bản đồ ra vạch đỏ địa điểm địch đang đổ đạn xuống, rồi bảo anh, “trong tiểu khu An Khê chỉ riêng mình tôi có khẩu đại bác 75 ly có thể bắn tới cây cầu này. Ngoài ra trọng pháo của An Khê chỉ có đến súng cối 81, vói không tới.”
“Anh muốn sử dụng những khẩu 105 của Lữ Ðoàn?”
“Tôi không nghĩ là mình có sự lựa chọn nào khác.”
Tối hôm đó căn cứ Núi Nhọn được tăng cường một toán DLA (detachement de liaison d’artillerie) của GM 100. Một pháo đội 4 cây 105 bắn phá đống thùng đạn được xe Molotova chở đến đổ bên kia cầu.
Sáng hôm sau, Miller rủ tôi ra xem hiện trường; ngoài những thùng đạn cho súng trường, trung và tiểu liên tôi thấy nhiều thùng mìn, và đạn súng không giật. Tôi bảo anh ta, “Chúng chuẩn bị phục kích cuộc di chuyển của Lữ Ðoàn xuống Quy Nhơn.” Muller gật gù; anh hiểu là tôi nhận xét đúng. Mìn và súng không giật là lợi khí cho những cuộc phục kích đánh công voa.
Tối hôm đó, đại úy Phước gọi tôi về ăn cơm chiều tại câu lạc bộ sĩ quan. Tôi ngồi cùng bàn với ổng và những đại đội trưởng thâm niên như Văn Bá Ninh, Nguyễn Khắc Tuân. Phước cười hỏi tôi, “Anh hù tụi Tây kí gì mà tôi thấy tụi nó có vẻ không tính đổ xuống Quy Nhơn nữa.”
Tôi kể lại cuộc pháo kích của GM 100 vào kho đạn lộ thiên của Việt Cộng bên đầu cầu An Túc.
Tuân bảo tôi, “Mày làm phước cho tụi nó đó, chứ vượt cầu An Túc là không còn thằng nào trở về An Khê được.”
Ninh, “Dỡn hoài. Tuần nào tôi không vượt cầu An Túc, tuần trước tôi còn vào quậy trong K’Nack mà cũng chỉ vướng 2 con vì mìn.”

Chiến trường Cao Nguyên thật khó nói. Cả hai anh Tuân và anh Ninh đều đúng: GM 100 vượt cầu An Túc trực chỉ Qui Nhơn, thì quả là không còn một hy vọng nhỏ nào có thể quay trở về An Khê. Họ sẽ bị đánh tan trên những đoạn đường đồi gần Bình Ðịnh. Nhưng Ninh cũng không sai, anh từng đi săn nai trong những khu Việt Cộng gọi là khu giải phóng.
Chúng tôi thảo luận về chuyện đi hay không đi Qui Nhơn của Lữ Ðoàn 100, tôi nêu lên nhận xét, “Nếu muốn đón đánh Lữ Ðoàn 100 trên đường đổ xuống Quy Nhơn, thì Việt Cộng đã không cần đổ đạn ở đầu cầu An Túc.”
Ninh đặt dao, nĩa xuống bàn hơi vội, để có hai bàn tay trống vỗ vào nhau, rồi nói như thét lên, “Mày thấy đúng. Thằng Việt Cộng mưu đồ chuyện gì khác chứ không phải chuyện đón đánh GM 100 đổ xuống Qui Nhơn.”
Trong lúc chúng tôi đoán mò, thì thiếu tướng De Beaufort, tư lệnh Quân Khu IV ra lệnh cho Lữ Ðoàn 100 rút trở về Pleiku. Phòng nhì quân khu báo cáo với ông ý đồ của địch là bỏ trống Liên Khu 5, kéo đại quân của chúng lên bao vây An Khê để tái diễn một Ðiện Biên Phủ khác.
Từ đoạn này trở đi, tôi viết theo tài liệu quân sử, vì Tiểu Ðoàn 9 Sơn Cước bị bỏ lại phòng thủ An Khê, tôi không tham dự và cũng không tận mắt chứng kiến cuộc phục kích Mang Yang ngày 24 tháng Sáu 1954.

Ðại tá Barrou đi trên một chiếc jeep mui trần, theo sau một chi đội thiết kỵ gồm 3 chiếc half-trucks, loại xe bọc sắt có thùng trống phía sau, và 2 chiếc M- 8, loại chiến xa nhẹ. Không yểm chỉ gồm 2 chiếc thám thính cơ nhỏ lượn quanh đoàn công voa.


chiến xa M-8 và loại halftruck sử dụng trên chiến trường Việt Nam trước năm 1954
Ðúng 14 giờ 15, Barrou nhận thấy có dấu hiệu xáo trộn, đoàn xe mở đầu công voa chạy nhanh hơn, ông gọi điện ra lệnh giữ tốc độ bình thường. Chưa kịp buông ống nói xuống thì Barrou đã nghe tiếng đại liên, lựu đạn, và súng không giật nổ dài theo đoàn công voa.
Chỉ trong 4 phút ngắn ngủi, chi đội thiết kỵ bị tiêu diệt trước mắt ông: toàn bộ 3 chiếc halftrucks và một chiếc M- 8 bốc cháy dữ dội.
Lúc đó ông còn ở cây số thứ 15, một cây số sâu vào vùng an toàn tôi đón ông tuần trước.
14 giờ 25, một trái 57 không giật bắn nổ tung chiếc dodge 4x4 truyền tin bên cạnh Barrou, tước mất phương tiện chỉ huy bằng vô tuyến của ông.
Chỉ còn khẩu lệnh để chỉ huy người sĩ quan đứng gần ông nhất, Barrou bảo đại úy Fievet, đại đội trưởng Tổng Hành Dinh của Lữ Ðoàn tập trung lực lượng để phản công. Nhưng ông chưa nói dứt câu thì một viên đạn trúng đùi đã đẩy ông ngã chúi vào rãnh thoát nước bên đường 19; Fievet bị thương nặng hơn, nằm cạnh ông, và Barrou chứng kiến vị sĩ quan này tắt thở.
Trung tá Lajouanie, trung đoàn trưởng trung đoàn Triều Tiên đưa quân lên tấn công ngọn đồi từ đó xuất phát hỏa lực phục kích; ông sử dụng chiếc M- 8 cuối cùng trong cố gắng tuyệt vọng này; binh sĩ Pháp tiến sau chiếc thiết giáp, nhưng ngay sau khi chiếc M- 8 bị bắn cháy, lực lượng đánh lên đồi, mất chỗ núp, bị khẩu đại liên bố trí giữa lưng đồi thanh toán. Trung tá Lajounie gục ngã.
Barrou cố bò đến chiến M- 8 thứ nhì bị bắn cháy nhưng khẩu đại liên vẫn còn nguyên vẹn; có lẽ ông muốn sử dụng hỏa lực này để bắn trả lại địch, nhưng ông vừa lên đến pháo tháp thì một tràng đại liên đã quạt ông ngã trở xuống mặt đường.
Một quân nhân thuộc tiểu đoàn 43 lưu động cõng ông về xe cứu thương của tiểu đoàn rồi bỏ đó, anh ta không biết ông là tư lệnh lữ đoàn. Thiếu tá Muller bận rộn bố trí tiểu đoàn ông chống lại lực lượng phục kích.
Hai chiếc quân xa của tiểu đoàn 43 chạy thoát đến đồn PK 22 cầu cứu, nhưng chỉ do một đại đội trấn đóng, đồn này cũng không có khả năng tiếp viện. Ðồn trưởng gọi về Pleiku báo cáo.
Tiểu Ðoàn 520 Khinh Quân cũng tổn thất nặng nề, nhưng tài liệu khinh bạc của Pháp ghi nhận là binh sĩ Việt Nam bỏ chạy vào rừng để thoát thân.
Thiếu tá Kleinmann, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Triều Tiên bố trí lực lượng quanh những chiếc xe còn ngùn ngụt cháy để chống lại cuộc xung phong của Việt Cộng. Ông sử dụng pháo binh, bắn trực xạ vào lực lượng địch, khiến áp lực địch giảm bớt.
16 giờ 20 bốn chiếc B- 26 của không quân bay đến trợ chiến. Quân Pháp lên tinh thần nhưng hai chiến tuyến đã quá gần nhau, nên hoả lực không yểm giết cả lính Pháp lẫn Việt Cộng.
Sự can thiệp của không quân không chặn đứng được cuộc tấn công, mà còn khiến lực lượng Việt Cộng cố gắng xung phong vào gần hơn để phi công không dám sử dụng bom, vì sợ giết quân Pháp.
Tư lệnh quân khu đưa GM 42 tiến về đồn PK 22, và ra lệnh cho thiếu tá Kleinmann chạy bộ về PK 22 để “bắt tay” với GM 42; Kleimann thảo luận với thiếu tá Guinard, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Triều Tiên, và thiếu tá y sĩ Varme-Janville.
Họ quyết định rời mặt đường, băng rừng để tiến về đồn PK 22. Janville hỏi 2 tiểu đoàn trưởng về số phận của những thương binh. Guinard nói không thể khiêng họ băng rừng được, Janville bảo họ, “Hai anh đi may mắn; tôi ở lại với thương binh.”
PK 15 trở thành mồ chôn của Lữ Ðoàn Triều Tiên. Ba tiểu đoàn 43, 1 và 2 Triều Tiên vào An Khê với quân số lý thuyết đầy đủ 834 quân nhân, giờ này tiểu đoàn 43 còn 452, tiểu đoàn 1 Triều Tiên còn 497, và tiểu đoàn 2 Triều Tiên còn 345.
Lữ Ðoàn mất 85% xe cơ hữu, 100% đại bác, 68% dụng cụ truyền tin, và 50% vũ khí cá nhân, đại, trung liên. Lữ Ðoàn Trưởng, đại tá Barrou, bị thương và bị bắt làm tù binh.

Ðoạn đầu của bài báo, tôi viết căn cứ trên trí nhớ, chắc chắn không thể tránh được nhiều thiếu xót, sai lầm, xin bạn đọc điểm khuyết cho. Ngoài mục đích làm vui những người bạn Phố Núi Pleiku, tôi còn mang một hy vọng nhỏ nữa là nguời bạn văn của tôi, anh An Khê-Nguyễn Bính Thinh, đọc về trận đánh thê lương này và liên lạc với tôi.
Nguyễn Ðạt Thịnh

600,000 Người Chết/Năm Vì Hút Khói Thuốc ; Mỗi Năm: 5.1 Triệu Người Trên Thế Giới Chết Vì Hút Thuốc Lá



LONDON - 1 cuộc nghiên cứu mới cho thấy khói thuốc thứ cấp gây thiệt mạng trên 600,000 người mỗi năm.
Các nhà nghiên cứu xem xét các dữ kiện thu thập từ 192 quốc gia sau năm 2004. Họ ước lượng 40% trẻ em và 30% số người không hút thường xuyên hít thở khói thuốc của người khác. Tiếp đến, họ ước lượng trên 600,000 tử vong/năm gồm 379,000 người chết vì bệnh tim, 165,000 người chết vì bệnh về hô hấp, 36,900 người chết vì hen suyễn và 21,400 vì ung thư phổi. Tính chung, tử vong vì khói thuốc thứ cấp chiếm 1% tổng số tử vong hàng năm của thế giới.
Cuộc nghiên cứu thực hiện bằng tài trợ của ủy hội sức khoẻ và xã hội Thụy Điển và Bloomberg Philantropies đã được công bố hôm Thứ Sáu qua tạp chí y khoa Lancer tại nước Anh.
Tại tổ chức y tế thế giới (WHO), quản lý Armando Peruga của chương trình Tobacco-Free Initiative nhận xét : kết quả nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu tổn thất thật sự do thuốc lá gây ra. Theo ông, cần cộng thêm 603,000 tử vong vì khói thứ cấp vào 5.1 triệu tử vong hàng năm của người hút thuốc. Ông Peruga nói WHO đặc biệt quan tâm về 165,000 tử vong của trẻ em, nhất là tại đông nam Á và châu Phi.
Các nước tây phương đã phát lênh cấm hút thuốc tại những nơi công cộng, làm luật cấm rộng rãi hơn là việc khó.
Tại trường đại học Southern California, giáo sư Heather Wipfli nói: lệnh cấm hút thuốc tại nơi công cộng và các nỗ lực giáo dục có thể khuyến khích mọi người bỏ hút thuốc tại nhà.
Tại vương quốc Anh, Hội phổi đang vận động để ban hành lệnh cấm hút thuốc trong xe hơi.

Ba cái nhìn từ Tây Phương về Trung Quốc

Mối quan tâm về Hoa Lục ngày càng tăng theo những bước phát triển về kinh tế, chính trị và quân sự của nước này. Người viết xin chọn và giới thiệu ba nghiên cứu của các tác giả nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau:


1. Chính trị địa dư: bài báo 18 trang The Geography of Chinese Power. Tác giả Robert D. Kaplan đăng trên tập san Foreign Affairs số tháng 05/2010.

2. Kinh tế và xã hội: bài báo 21 trang In China, Cultivating the Urge to Splurge. Tác giả David Leonhardt đăng trên nhật báo The New York Times ngày 24/11/2010.

3. Chính trị, văn hoá và lịch sử: sách dài 435 trang When China Rules the World: The End of the Western World and the Birth of a New Global Order Tác giả Martin Jacques xuất bản vào tháng 11/2009.

Người viết có vài nhận xét tổng quát trước khi vào chi tiết:

o Tương quan trong khu vực Đông Á thay đổi rất nhanh, nhất là từ sau khi ngoại truởng Hillary Clinton khẳng định mối quan tâm của Hoa Kỳ tại vùng Đông Nam Á, và động thái khiêu khích của Bắc Hàn qua việc bắn chìm tàu chiến và pháo kích sang Nam Hàn ở Bắc Á. Hai sự kiện khiến một số nhận xét của hai tác giả Robert Kaplan (5/2010) và Martin Jacques (11/2009) phải thay đổi ít dù chỉ mới ấn hành trong vòng 1 năm trước đây.

o Với cái nhìn của một người từ Á Châu dù có đồng ý hay không với các tác giả thì chúng ta cũng nên ghi nhận rằng các quan điểm này phản ảnh lăng kính của giới quan sát và ảnh hưởng lên chính sách từ phương Tây.

***

Bài báo dài 18 trang mang tựa đề The Geography of Chinese Power của Robert D. Kaplan đăng trên tập san Foreign Affairs số tháng 05/2010, trình bày cái nhìn tổng thể trên góc cạnh Điạ lý chính trị (geo-politics) giữa Hoa Lục và các nước láng giềng (Nga - Ấn – Đông Nam Á – Hàn - Nhật), cùng những khu vực lợi ích chiến lược (Tân Cương – Tây Tạng – Đài Loan - biển Đông). Tác giả cho rằng Trung Quốc có lợi thế vừa là một đại quốc trên đất liền (land power) lẫn duyên hải (sea power - với vùng ven biển dài hơn 9000 dặm). Hai mục tiêu chính của Hoa Lục là :
(a) tìm tài nguyên tại các vùng thưa dân nhưng giàu khoáng sản như Trung Á, Mông Cổ, và xa hơn nửa là Phi Châu và
(b) bảo đảm con đường hàng hải từ Ấn Độ Dương sang qua biển Đông.

Sự bành trướng của Trung Quốc tất yếu sẽ va chạm với các nước lớn trên lục địa gồm Nga - Ấn, cùng các thế lực biển khơi gồm Mỹ - Nhật – Đài Loan – Đông Nam Á.

***

Hàng ngàn người Trung Hoa
đổ xô đến cửa hàng Ikea mỗi cuối tuần,
người mua thì ít, người đến nghỉ ngơi thì nhiều


Bài báo dài 21 trang mang tựa đề In China, Cultivating the Urge to Splurge của David Leonhardt đăng trên nhật báoThe New York Times ngày 24/11/2010 phân tích tương quan giữa kinh tế thị trường và mô hình chính trị độc đảng. Nhà cầm quyền không bị chi phối bởi nhiều khuynh hướng của đa đảng nên một mặt đã thành công tập trung nhân lực, vật lực cho các bước phát triễn ngoạn mục, nhưng bù lại phải trả giá đắt qua sự chênh lệch giàu nghèo và huỷ hoại môi trường. Tác giả đánh giá rằng Bắc Kinh hiện tích trữ một khoảng ngoại tệ khổng lồ (2500 tỷ USD) nên đủ khả năng giải quyết mọi thử thách trong vòng 5-10 năm tới đây, những sau đó sẽ rơi vào khủng hoảng trầm trọng nếu vẫn không giải quyết các mâu thuẩn nội tại về chính trị và xã hội. Nói cách khác, Hoa Lục dù không cần vội vã thay đổi chính sách nhưng thời gian cũng cạn dần!

Theo nhận xét của người viết thì đây là một bài báo rất giá trị, cách trình bày cân đối và chuyên môn đồng thời tránh được cảm tính khen chê thường thấy khi bàn về một đề tài tế nhị như Trung Quốc.

***

Quyễn sách dài 435 trang mang tựa đề When China Rules the World: The End of the Western World and the Birth of a New Global Order là một công trình nghiên cứu đáng kể của Martin Jacques về ảnh hưởng của nền văn hoá và lịch sử Trung Hoa khi đất nước này tiến lên hàng siêu cường. Một cách ngắn gọn, tác giả phân tích vào chi tiết câu nói của Napoleon Bonaparte 200 trước đây: “Hãy để Trung Hoa ngủ yên vì thế giới sẽ rung chuyển khi nước này thức dậy”

Sách của Martin Jacques



Martin Jacques đã tìm hiểu về ảnh hưởng của Khổng Giáo và quan niệm về Hán tộc để nhận xét rằng xã hôi Trung Quốc dù canh tân hoá vẫn mang đậm sắc thái phong kiến và truyền thống, và va chạm với những các quan niệm về tự do và dân chủ của Tây Phươngi.

Điểm mạnh của quyển sách là tác giả bỏ nhiều thời gian sinh sống và tìm hiểu về tập quán tại Hoa Lục nên có thể được dùng cho các thanh niên gốc Á Châu đọc và hiểu thêm về nền văn hoá của nước này.

Khuyết điểm là tác giả không đề cập đến các mâu thuẩn xã hội đòi hỏi Bắc Kinh phải giải quyết các thách thức nội tại này; viết về nền văn hoá truyền thống nhưng lại không phân tích đâu là các giá trị phổ cập mà nhân loại đã bỏ ra 200 năm để tìm đến; phác hoạ rất mông lung những nét về sự hài hoà giữa cái cũ và mới - thật sự có lẻ không riêng gì tác giả mà cũng không ai biết xã hội Trung Hoa sẽ đi về đâu trong vòng 10-20 năm tới đây!

***

Nhìn chung, trên đây là các công trình nghiên cứu đứng đắn và cân đối, vượt lên trên những biến cố thời sự để mang lại cách nhìn lâu dài và toàn diện về một trong những vấn đế quan trọng nhất của thế kỷ 21.

Đoàn Hưng Quốc

Chuyên khảo mới cho thấy trẻ em xem TV nhiều, chơi games nhiều bị hại về tâm lý

Câu Chuyện Giáo Dục:
Chuyên khảo mới cho thấy trẻ em xem TV nhiều, chơi games nhiều bị hại về tâm lý

Hồng Quang theo Psychology Today và AFP, Nov 24, 2010

- Trẻ con trung bình ở Mỹ xem TV mỗi ngày từ 2 đến 3 giờ, một con số làm giật mình giới chuyên môn về giáo dục nhưng làm cha mẹ…thản nhiên. Ai cũng thấy xem TV là hình thức hết sức thụ động cho trí não, người xem chỉ tiếp nhận chứ không kịp phán đoán gì cả.

Giấu cái remote của TV hay cái controller của games đối với trẻ có khi là chuyện tuyệt đối phải làm nếu như không còn cách nào giới hạn khoảng thời gian chúng ngồì trước màn ảnh nhỏ hàng ngày.

Đó là ý kiến trích từ một khảo sát của trường đại học Boston dược trình bày trong tháng 11 năm nay. Khảo sát này cho thấy trẻ con nào ngồi nhiều giờ mỗi ngày trước TV hay chơi games sẽ bị nhiều rối loạn tâm lý như làm sao chơi đùa với bạn, các mối cảm xúc khó kềm chế hay có hành vi kỳ lạ, so với những đứa ít xem hay không xem TV.

Cái mới mẻ trong phát giác của các chuyên gia đại học Boston là trái với các khảo sát trước đây gợi ý, ảnh hưởng xấu của việc xem TV nhiều không phải sẽ bị xóa đi nếu tăng thêm giờ tập thể dục cho trẻ, nghĩa là chúng vẫn có các vấn đề tâm lý như thường.

Theo kết quả khảo sát, đăng trên báo Pediatrics của Hoa Kỳ, thì có 1,013 đứa trẻ từ 10 đến 11 tuổi được ghi nhận số giờ xem TV trung bình hay chơi game trên máy diện toán hàng ngày. Kết quả ghi nhận từ 0 giờ đến gần 5 giờ. Ngoài ra các em còn phải trả lời một bảng gồm 25 câu hỏi để lượng giá tình trạng tâm lý của các em. Một dụng cụ đo đạc tinh vi gọi là ‘accelerometer’ cũng được quấn quanh bụng các em trong vòng 7 ngày để xem mức độ hoạt động thể lực các em ra sao cùng số giờ hoạt động thể lực này.

Kết quả cho thấy em nào thường ngồi xem TV hay chơi games mỗi ngày từ 2 tiếng đồng hồ trở lên thì số điểm trả lời bảng câu hỏi thường là kém cỏi, cho thấy thể trạng tâm lý của các em bị trục trặc, gặp nhiều khó khăn nếu so với các em không xem TV hay chỉ xem ít mà thôi.

Ngay cả đối với các em có thể lực hoạt động do máy accelerometer đo đạc được xem là khá cũng ghi điểm rất ít nếu như các em vẫn xem TV hơn 2 giờ hàng ngày, điều này cho thấy số lượng thời gian ngồi trước màn ảnh nhỏ đã là thủ phạm.

Các cuộc khảo sát trước đây cũng cho thấy nếu như lượng thời gian ngồi trước TV nhiều mỗi ngày thì tập thể dục nhiều hay chơi thể thao sẽ ‘bù lại’ tình trạng tâm thần của trí não. Các nhà nghiên cứu còn cho là hoạt động thể lực có thể hạn chế ảnh hưởng tai hại của việc xem TV hay chơi games nhiều.

Nhiều em và các bậc phụ huynh cứ nghĩ ngồi bao nhiêu giờ trước màn ảnh TV hay chơi games cũng được, nếu sau đó các em chạy đi đá banh hay bơi lội, theo cái mà lúc trước các nhà nghiên cứu gọi là “một đời sống quân bình”

Nhưng nay với kết quả nghiên cứu mới nhất, các nhà khoa học khuyên cha mẹ nên hạn chế thật sự thời lượng xem TV hay chơi games của các em mỗi ngày để bảo đảm các em có được tình trạng tâm lý hoàn hảo.

TV và games thật ra là những “thế giới ảo” và tâm trí các em rất thụ động nếu tiếp xúc thường xuyên với chúng. Chơi với bạn bè ngoài park hay trên cánh đồng là những hoạt động “thực” khiến các em có dịp hòa mình với thế giới, với nhiều người.

Thậm chí xem một quyển sách hay còn có ích hơn xem TV vì khi đọc sách, trí não các em bị “kích thích kiểu khác”với tốc độ khác và các em bị bắt buộc suy nghĩ nhiều hơn, đó là chưa kể những quyển sách hay của thế giới còn góp phần hun đúc, hình thành cá tính nhân bản tốt đẹp cho các em sau này.

Hồng Quang theo Psychology Today và AFP

Tình Thu


Bây giờ đã vào Thu, khí trời thay đổi, lòng người do đó cũng có phần đổi thay.

Nhớ buổi nào hãy còn là những ngày h è nắng rực, cây lá xanh tươi, trăm hoa khoe sắc.Con người vì thế cảm thấy vui tươi năng động. Giờ thì Thu đã tới, rừng cây với đầy lá vàng bao phủ; thỉnh thoảng lại có một vài làn gió lành lạnh hây hây thổi vỗ nhẹ vào má khiến tâm hồn ta cảm thấy lâng lâng và mơ mộng. Tha nhân do ảnh hưởng của ngoại c ảnh nên có những nỗi buồn vẩn vơ man mác.

So với các tiết quanh năm thì mùa Thu quả thật chẳng có gì vui, Thu thiếu hẳn cái tươi thắm của Xuân; không rực rỡ như Hè; trời Thu lại ảm đạm; trăng Thu nhạt và tình Thu thì chao ôi! Buồn ơi Thu vẫn cô đơn là buồn. Và, có lẽ không còn nổi buồn nào da diết bằng giữa đất khách quê người, một mình ngồi trong căn phòng vắng lạnh, vừa độc ẩm vừa thưởng thức những điệu tình buồn tỉ : Mùa Thu Paris của Phạm Duy, Em ra đi mùa Thu của Phạm Trọng, Thu Sầu của Lam Phương, đặc biệt khi được lắng nghe tiếng ca vượt thời gian của nữ ca sĩ Thái Thanh qua nhạc bản Buồn Tàn Thu của Văn Cao thì cảm thấy tâm hồn lắng đọng, lòng lại tự hỏi lòng rồi kêu trời! Ôi! Sao cái buồn ở xứ người nó lại quá thấm thía và ghê rợn đến thế.

Thu quả thật là buồn, ấy vậy mà lắm văn nhân thi si, đặc biệt với những ai vốn chịu ảnh hưởng văn chương lãng mạn của Pháp, họ thường đua nhau ca tụng mùa Thu. Nhiều áng văn, lắm bài thơ trữ tình bất hủ xuất phát từ nguồn cảm hứng về Thu mà sáng tác và được nhiệt liệt ngợi khen.

Có lẻ Thu sở dĩ được ca tụng vì trong bốn mùa quanh năm nó là một mùa mà cảnh vật có nhiều đổi thay nhất. Cũng vì nguyên nhân đó khiến mùa Thu đã gây nhiều xúc cảm. Niềm cảm xúc đó chính là sự chia ly, xa cách, khắc khoải và trông chờ. Thế nên khi diễn tả về Thu, thi nhân thường cho đó là mùa đau thương nhung nhớ. Và khi đã nói đến Thu mà không bàn đến chuyện thi ca thì quả thật đó là một điều thiếu sót quá lớn. Vậy quý độc giả hãy thử xem, từ Á sang Âu, từ Đông sang Tây, chúng ta thấy thi nhân đã diễn tả nỗi niềm nhung nhớ về Thu như thế nào.

Thu, theo nữ sĩ Tương Phố bà viết, Thu là tất cả và ở khắp nơi. Nó từ màu trời, màu đất, nhiều màu thuộc cỏ cây hoa lá, và nó ở ngay trong lòng người. Vì vậy trong bài "Giọt lệ thu"”, nữ sĩ đã viết:

Trời Thu ảm đạm một màu
Gió Thu hiu hắt thêm sầu lòng em
Trăng Thu bóng ngả bên thềm
Tình Thu ai để duyên em bẽ bàng.

Một bài khác, khóc vì cảnh tử biệt chồng, nữ sĩ đã dùng đến cảnh thê lương ảm đạm của mùaThu nức nở viết:

Anh ơi!
Thu về như gợi nhớ mối thương tâm
Mỗi độ Thu sang em lại võ lòng than khóc
Mỗi năm có một lần Thu
Như Thu năm nay đi, năm sau còn trở lại
Hỏi, ba năm hương lửa
Thì ái ân kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau
Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu?
Xui nên chăn gối vừa êm
Sắt cầm dìu dặt ngón đàn
Bỗng ai xô lộn
Bình tan gương vỡ
Cho người lỡ duyên

Trong "Đoạn Trường Tân thanh" , mặc dù mối tình giữa nàng Kiều và Thúc Sinh, một chàng trai sợ vợ xem ra chẳng có gì là mặn nồng và say đắm cho lắm. Tuy nhiên, cụ Nguyễn Du vẫn thi vị hóa cảnh chia tay bằng cách lấy cái buồn man mác của Thu làm bối cảnh để tả cuộc chia ly của hai người:

Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong Thu đã nhuộm màu quan san
Đạm hồng bụi chốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xuôi
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa in dậm trường.

Tả cảnh biệt ly và nhắc đến sự chia tay thì bao giờ cũng thấy có sự buồn thảm. Thử gợi lại cảnh chia tay giữa chinh nhân và hiền nội trong "Chinh phụ ngâm", tuy sắc thái của Thu chỉ phảng phất và bàng bạt đâu đó, tuy nhiên tác giả cũng vận dụng ý Thu để nói cho ta biết, khi chàng ra đi, thì chim oanh chưa về, hoa mai chưa nở, nhưng trời Thu vẫn là nhân chứng của sự chia ly và cảnh tiễn đưa một chén quan hà vì thế thi nhân đã viết:

Thuở lâm hành (lúc ra đi) oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
Thuở đăng độ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại nở trên sông bơ phờ.

Một đoạn khác trong "Chinh Phụ Ngâm", thi nhân lại sử dụng hoa cúc vàng, một loại hoa nở vào mùa Thu đễ diễn tả nổi niềm nhung nhớ khắc khoải của cảnh chia ly:

Xót người lần lữa ải xa
Xót người nương chốn hoàng hoa dậm dài

Một tiểu đoạn trong "Cung Oán Ngâm Khúc", dù tác giả không nói đến cảnh bẽ bàng chia ly của đôi lứa như ở "Chinh Phụ Ngâm" diễn tả những tình tiết về chàng, vì nghĩa vụ nhẹ bước chinh yên, còn nàng thì ở tại nhà chờ trông ngày về. Trái lại những vần thơ trong bài Cung Oán lại chỉ tả người cung nữ bị vua phế bỏ vì đã phải gặp cảnh liễu chán hoa chê, cái buồn khổ của người cung nữ trong cảnh cô đơn: mới ngày nào đó ở gác Thừa Lương còn được vua sủng ái, cùng với vua hoan hỉ yến ẩm đàn ca xướng hát. Nay trong cảnh cô liêu vò võ mơ màng trong gió Thu hiu hắt. Cảnh Thu một lần nữa đã lộ nét:

Đền Vũ Tạ, nhện giăng cửa mốc
Gác Thừa Lương, ngủ thức Thu phong.

Với thơ Đường, thi ca thịnh đạt nhứt trong lịch sử văn học Trung Hoa thì người Tàu thường dùng nguồn cảm hứng của Thu đễ sáng tác. Một bài thơ nổi tiếng, diễn tả về cuộc chia tay tại bến Tầm Dương mà khách chủ đã cùng nhau gợi lại những khúc ca cũ (trúc ty) lấy Thu làm bối cảnh, Bạch Cư Dị viết và Phan Huy Vịnh dịch:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi Thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty.

Ở cổ văn, làm thơ để mô tả khung cảnh thiên nhiên và lòng người, thi nhân thường hay sử dụng đến phần ước lệ. Tả đến mùa nào, thì đã có thức của mùa ấy. Ví dụ, Xuân phải nhắc đến hoa Mai, Hạ đã có Lan, Thu có Cúc và mùa Đông thì đã có Trúc. Riêng mùa Thu, ngoài hoa Cúc, vẫn còn nhắc đến lá ngô đồng qua câu:

Ngô đồng nhất diệp lục
Thiên hạ cộng tri Thu

(Một khi thấy lá ngô đồng rụng, ấy là dấu hiệu của mùa Thu tới.)
Người làm thơ mới như Xuân Diệu, khi tả cảnh mùa Thu vẫn phải nhắc tới lá ngô đồng. Thi nhân viết:

Ô hay! Vàng rơi cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông

Tuy cùng là gió, nhưng gió Thu còn được gọi là "Kim Phong" hay gió Tây, vì mùa Thu thuộc Kim và theo Ngũ hành trong Kinh Dịch, Thu thuộc hướng Tây, vì vậy mới gọi gió Thu là gió Tây. Gió Tây thường mang cái lạnh từ miền Tây Bá Lợi Á về nên rất lạnh vì thế ca dao mới có câu:

Ra về để lại áo đây,
Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng.

Không những ở cổ văn thi nhân mới tả Thu với những nổi niềm nhung nhớ của nó. Ngay cả loại thơ nửa cổ điển, nửa có mang màu sắc lãng mạn mà Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

là tiêu biểu, thì tiên sinh cũng đã sử dụng bút pháp tài tình của mình để nói về Thu hầu diễn tả cái buồn, sầu cô đơn khắc khoải của mình. Ông viết:
Ngọn gió Thu phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm, lá bay sang
Vàng bay mấy lá, năm già nửa
Hờ hửng ai xui thiếp phụ chàng.


Hay:

Ngọn gió Thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường Bắc lá sang Đông
Hồng bay mấy lá, năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông.

Ở bốn câu đầu tác giả muốn nói đến cảnh ngộ của người hàng xóm để so với hoàn cảnh của mình mà cảm thấy buồn. Nhà người ta thì sum họp đầm ấm, trái lại mình thì"vàng bay mấy lá",Thu đã đến, lại già thêm nửa năm rồi mà tại sao nàng nỡ hờ hửng và lạnh lùng đến thế?

Trong bốn câu sau, thi nhân càng viết rõ, đầu Thu lá vàng, cuối Thu thì lá lại hồng. Từ xanh trở vàng qua đỏ. Qua thật thời gian trôi nhanh quá nhỉ. Mới đó "vèo" một cái đã hết năm. Nàng thì đã dứt khoát phụ chàng, trái lại thì chàng vẫn còn thẩn thờ đợi trông. Buồn quá nhỉ.

Có thể nói nhà thơ Tản Đà là người mở đầu phong trào thi ca lãng mạn trong văn học Việt Nam. Song, ở một vài bài thơ khác, tiên sinh cũng không quên những hình ảnh mang tính cách ước lệ trong khi diễn tả về Thu, thi nhân viết:

Từ vào Thu đến nay
Gió Thu hiu hắt
Sương Thu lạnh
Trăng Thu bạch
Khói Thu xây thành
Lá Thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông Thu đưa lá bao ngành biệt ly
Nhạn về, én lại bay đi
Đêm thì vượn hú, ngày thì ve ngâm
Lá sen tàn tạ trong đầm
Nắng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa.

Như đã nói trên, hể muốn nói đến bốn mùa, tác giả thường phải kèm theo Mai, Lan, Cúc, Trúc. Và, nói đến Thu thì không thể nào quên sương, khói. Sương, khói trong thơ mới của Tản Đà một phần nào đã phảng phất khói của Thôi Hạo trong hai câu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử muôn sầu

Tản Đà dịch:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Trong phần đầu, người viết đã cho rằng, có lẽ vì chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn chương Pháp, vì thế một số thi nhân Việt Nam mà đặc biệt là các nhà văn tiền chiến thường ca tụng mùa Thu. Đọc bài “Ý Thu” của Xuân diệu, ta thấy phảng phất đâu đây những vần thơ bất hủ của Anatole France qua Pensée d'Automme.Theo Anatole thì Thu là mùa lá rụng, những chiếc lá vàng rơi rụng phủ đầy các pho tượng trưng bày trong công viên Luxembourg, và cuối cùng thì những chiếc lá vàng đó theo thời gian đã mục nát tưởng như hàng trăm ngàn đôi chân vô tình chà đạp và dẫm lên nó. Thi sĩ Xuân Diệu trong Ý Thu, tương tự cũng đã viết:

Bị nhầu ai tưởng dưới trăm chân

Đi xa hơn Anatole, Xuân Diệu còn viết để diễn tả: Xuân hết, Hè lại qua, hoa tàn nhụy đã héo mà Hè hết, thì tiếng ve sầu cũng tắt theo. Khác với nữ sĩ Tương Phố tả trong cổ văn, bà chỉ nói gió Thu hiu hắt. Trái lại trong trường phái lãng mạn, thi sĩ Xuân Diệu vì quá đa cảm nên hỏi thẳng:Chắc rằng gió cũng đau thương chứ?Thi nhân viết:

Những chiếc hồn buông trong lá rụng
Bị nhàu ai tưởng dưới trăm chân
Bông hoa rứt cánh, rơi không tiếng
Chẳng hái mà hoa vẫn hết dần
Dưới gốc nào thấy đâu xác ve
Thế mà ve đã tắt theo hè
Chắc rằng gió cũng đau thương chứ
Gió vỡ ngoài kia, ai có nghe?
Hôm nay tôi đã chết trong người
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi
Với bóng hình xưa tăm tiếng cũ
Cách xa chôn hết nhớ thương rồi
Yên vui xây dụng bởi người quen
Muốn bước, trang đời phải dẫm trên
Muôn tiếng kêu than thầm lẳng lặng
Nhưng hoa có thể cứ lâu bền
Ờ nhỉ! Sao hoa lại phải rơi
Đã xa sao lại hứa yêu hoài
Thực là dị(*) quá, mà tôi nữa
Sao nghĩ làm chi chuyện nhạt phai!

(* dị, tiếng người Huế thường dùng hay cho tiếng kỳ cục)

Đọc xong Ý Thu, ta thấy tác giả cho rằng Thu là xa cách, là đau thương nhung nhớ, chính nó đã đạp dẫm trên nổi khổ đau và làm tê tái lòng người. Nhưng dù sao hoa vẫn là hoa mãi. Chắc chắn đó không phải loại hoa nhân tạo, hoa vải hay hoa giấy, vì hai loại nay không tàn héo hay rơi rụng mà chỉ cũ đi, và sau cùng chỉ có tình yêu mới là hoa bền lâu. Hầu hết trong các văn thơ tiền chiến, ta thấy chưa có ai diễn tả Thu vui, Thu tươi sáng, mà toàn là những nổi buồn nhớ nhung man mác. Do ảnh hưởng quá sâu đậm của hai nền văn học Tây cũng như Tàu. Tây thì từ Lamartine, Verlaine, Valery. như những nổi buồn của René (La mélancolie de René), của Chanson d'Automme cho đến Guillaume Apolinaire v.v. thì làm sao Thu mà vui cho được. Riêng thơ của Tàu, từ Trương Kế cho đến Thôi Hiệu hay Lý Bạch, Thu chỉ có lạnh lẻo và bẽ bàng. Mời độc giả hảy liếc nhìn qua bài Phong Kiều Dạ Bạc, tạm dịch "đổ thuyền ở Phong Kiều" của Trương Kế, độc giả sẽ thấy Thu lại càng lâm ly bi đát hơn; thi nhân viết :

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hàm Ninh, thường bị nhầm là của Tản Đà :

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Có điều đáng nói, là thơ Tây (Pháp) khác hẳn với lối thơ xưa của ta cũng như Tàu, thơ của họ thê lương ảm đạm vô cùng. Thu buồn đến nỗi mở miệng mà nói không ra lời nên Hàn Mạc Tử đã viết:

Ấp úng không ra được nửa lời
Tình Thu bi thiết lắm Thu ơi
Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt hơi mây thoáng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng bóng liễu trong xanh ngắt
Cảnh sắp về Đông mắt lệ vơi.

Ngoài ra, xin đơn cử thêm một vài vần thơ của Guillaume Apollinaire, một thi sĩ người Pháp viết bài L'Adieu để tặng người yêu, nàng Marie Laurencin, và nhạc sĩ Phạm Duy đã dịch ra tiếng Việt trong nhạc bản "Mùa Thu chết" đễ thấy Tây họ tả Thu một cách bi thảm như thế nào. Apollinaire viết:

J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'Automme est morte, souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temp brin de bruyère
Et souviens-toi, que je t'attends!

Nhạc sĩ Phạm Duy dịch và phổ nhạc:

Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho mùa Thu đã chết rồi,
Mùa Thu đã chết em nhớ cho,
Em nhớ cho chúng ta chẳng còn nhìn nhau nửa
Trên cỏi đời này, từ nay mãi mãi không thấy nhau!
Ôi ngát hương, thời gian mùi thạch thảo.
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em, vẫn chờ, vẫn đợi em.

( Nhạc sĩ Phạm Duy dịch và phổ nhạc đã hay, thêm với giọng hát ngọt ngào êm dịu của Họa Mi quả thật Mùa Thu chết là một bản nhạc bất hủ.)


Nói đến thi văn mùa Thu, mà quên Lưu Trọng Lư, đó là điều thiếu sót quá lớn. Lý do: thứ nhất, thi nhân quá yêu mùa Thu, nên đã soạn hẳn một tập thơ với đề tựa "Tiếng Thu", thứ hai, thơ Lưu Trọng Lư cũng phảng phất đâu đó ý thơ của Verlaine qua bài "Chanson d'Automme", đặc biệt, từ trước đến giờ chưa có thi nhân Việt Nam nào nói đến Thu mà có tả hình con nai, mà lại một con nai vàng ngơ ngát. Hình ảnh những vần thơ nầy, gần nửa thế kỷ nay đã trở nên một "thành ngữ" trong những câu nói thường nhật của người Việt. Mời quý vị xem tác giả mô tả Tiếng Thu như thế nào mà khiến ông đã nỗi tiếng:

Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người chinh phụ
Em không nghe rừng Thu
Lá Thu kêu xào xạt
Con nai vàng ngơ ngát
Đạp trên lá vàng khô!

Mơ mộng như thi sĩ họ Lưu, có lẽ không thể nào không buồn khi thấy Thu tới lá vàng rơi rụng, thế nên trong bài Mùa Thu Lá Rụng ông đã viết:

Lòng anh như nước hồ Thu lạnh
Quạnh quẽ đem soi bóng nguyệt tà
Ngày tháng anh mong chầm chậm lại
Hửng hờ em mặc tháng ngày qua.

Nói đến nai trong Tiếng Thu Lưu Trọng Lư, chúng ta chớ nên lầm lẩn với nai của Huy Cận trong Rừng Thu. Vì nai của Lưu Trọng Lư thì trong mùa Hạ nó lên vùng cao kiếm ăn, mùa lạnh nó lại trở xuống vùng thấp cho đỡ lạnh, do đó mới có thành ngữ "con nai vàng ngơ ngác" (mới trở về, lạ chỗ nên ngơ ngác) Huy Cận thì khác hẳn, nai của thi nhân thì rõ hơn, đó là loại nai vùng cao, gót chân thường lẫn trong sương mờ, lần bước đi theo những nẻo đường quen thuộc. Trong "Rừng Thu" Huy Cận viết:

Bỗng dưng buồn bả không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao lần gót sương mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn Thu mới về
Sắc trời trôi nhẹ dưới khe
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu Thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
Sắc xanh ngày cả buồn chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia (Lữa Thiêng)

Theo các nhà thơ Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư và Huy Cận khi tả Thu các thi sĩ trên chỉ nói đến sự buồn bã, đơn côi. Đó vì chịu ảnh hưởng của Pháp trong thơ mới và ước lệ trong thơ cũ. Trong khi đó thi sĩ Hồ Dzếnh khi nói đến Thu, thi nhân mô tả Thu rất Việt Nam. Bài Mùa Thu năm ngoái, (riêng chữ năm ngoái thôi cũng đã thấy rất nôm na, mộc mạc của người nhà quê Việt Nam và dễ yêu) ông viết:

Trời không nắng cũng không mưa
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung
Ông tiếp:

Đâu hình tầu chậm quên ga
Bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày

Dù một chút nhớ thôi, nhớ một cách bâng khuâng nên dù tầu chạy chậm đâu có nhanh lắm thế nhưng thi nhân hình như đã quên hẳn nhà "Ga" nên ông lại viết:

Tất cả một mùa thơ
gió mây đưa buồn lắng xuống
Cả lòng tôi, với cả lòng cô
Có một nghìn cây rũ rượi buồn
Dăm thân thiếu nữ gầy như trúc
Đứng chịu tang trời đổ bóng đơn
Thu xa bằng gió bằng mây
Không gian thở nhẹ, buồn vây chìm chìm
Lòng không ai cấm mà im
Không nhưng bổng nhớ, không tìm bổng mong
Nơi tôi còn ít lá lòng
Chiều nay rơi nốt vào trong lá rừng.

Thơ văn mà các thi nhân Việt Nam viết để ca tụng mùa Thu còn quá nhiều. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài viết, khó mà diễn tả cho hết cái hay, cái đẹp và cái tinh túy khắt khoải củaThu. Người viết chỉ biết và góp nhặt được một phần rất hạn hẹp, và ước mong độc giả bốn phương cùng nhau ôn lại nguồn cảm hứng của các thi nhân đã dày công sáng tác để tích lũy và góp thêm vào kho tàng văn học Việt Nam ./.

Phùng Ngọc Sa

Bài Xem Nhiều