We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 6 December 2010

KHAI QUẬT MỘT NẤM MỒ TẬP THỂ CỦA CHIẾN SĨ QL/VNCH Tử Trận Cuối Tháng 3/1975


TRÊN BÃI BIỂN THUẬN AN (TẠI THÔN AN DƯƠNG) HUẾ



* 132 bộ hài cốt được cải táng, nhưng chỉ tìm được 7 thẻ bài và 1 căn cước.

Tin đặc biệt của Huy Phuong/SBTN

Vào cuối tháng 3-1975, trong khi quân đội VNCH rút khỏi Vùng I Chiến Thuật, chúng ta đã để lại trên chiến trường, nhất là ở các bãi biển Thuận an, thuộc tỉnh Thừa Thiên hàng nghìn chiến sĩ, tuy thiện chiến, nhưng cuối cùng đành phải buông súng và chết trong tức tưởi.

Tại thôn An Dương, thuộc Quận Phú Vang Huế, một địa điểm chỉ cách với bờ biển Thuận An 2km về phía Nam , cuối tháng 3 -1975, dân chúng sau cuộc chiến đã chôn cất rất nhiều chiến sĩ của chúng ta ngay trên bãi biển. Với sự mong mỏi của đồng bào làng An Dương, nhất là những người đã tự tay chôn cất những người tử nạn, từ bao nhiêu năm nay, là làm sao để cải táng và di dời những hài cốt xiêu lạc này vào một khu đất khô ráo xa bờ biển, vì sau hơn 35 năm, nước biển đã lấn chiếm đất liền và nhất là trận bão lụt năm 1999 đã cuốn một số hài cốt ra khơi. Cho mãi đến tháng 7 năm nay (2010), với sự trợ giúp tài chánh của đồng bào hải ngoại, Hoa kỳ và Canada, và được sự đồng ý của chính quyền địa phương, đồng bào thôn An Dương đã có phương tiện di dời hài cốt của các tử sĩ từ ngoài bờ biển vào đất liền với mộ phần khang trang, có bia mộ và nhà lăng.

Người đã có tấm lòng nhân ái, vận động từ bà con, thân hữu tại hải ngoại để có đủ số tiền $8,000.00 để cải táng và xây lăng mộ là Chị Tố Thuận là người sinh sống từ nhỏ tại làng An Dương, nơi có phần mộ tử sĩ và đã chứng kiến qua các biến cố tang tóc vào cuối tháng 3-1075 tại Thuận An. Chị Thuận hiện nay cư ngụ tại Sacramento, là một quả phụ VNCH vì chồng chị là Anh Lê Văn Hội, một hạ sĩ quan Quân cảnh thuộc TTHL Đống Đa, Huế đã mất tích vào những ngày cuối cuộc chiến (tháng 3-1975 tại bãi biển Đà Nẵng).

Trong dịp này đồng bào thôn An Dương chỉ sưu tầm được 132 bộ hài cốt, nhưng tiếc thay, chúng ta chỉ tìm thấy 8 thẻ bài và một căn cước của những người đã hy sinh. Số người có tên trong thẻ bài, căn cứ theo số quân, hầu hết đều còn rất trẻ, từ 20 đến 22 tuổi. Chúng tôi xin gởi đến đồng bào hải ngoại danh sách 8 tử sĩ đã bỏ mình tại bãi biển Thuận An thuộc thôn An Dương, Huế vào những ngày cuối tháng 3-1975 với hy vọng rằng có gia đình tìm được con, em, chồng hay bạn bè qua những tấm thẻ bài này.

Hiện nay việc cải táng và xây lăng mộ đã hoàn tất tốt đẹp, đồng bào thôn An Dương có ước nguyện là tổ chức một lễ trai đàn chẩn tế cho chư vị âm linh, cô hồn trong cuộc chiến vừa qua, nhất là những tử sĩ đã bỏ mình tại bãi biển An Dương.

Hiện nay vì sự an toàn của quý ân nhân hiện nay đang còn ở tại quê nhà, mọi sự liên lạc, xin đồng bào gọi cho Chị Tố Thuận ở số (916) 273-2989 để được hướng dẫn bốc mộ nếu có thân nhân trong số có thẻ bài, cũng như để rõ thêm chi tiết, hay gọi cho Huy Phương (949) 241-0488 là người đang giữ các thẻ bài của quý vị tử sĩ.

DANH SÁCH CÁC QUÂN NHÂN VNCH TỬ TRẬN TẠI BÃI BIỂN THUẬN AN- HUẾ VÀO THÁNG 3-1975 (tìm thấy thẻ bài).

1. NGUYỄN VĂN VÂN Sinh năm 1954 SQ:74/144-016 Loại máu O
2. TIẾC DỤC Sinh năm 1955. SQ:75/145-256 Loại máu:A
3. TRẦN NGỌC ANH Sinh năm 1954 SQ: 74/108- 532 Loại máu: O
4. LÊ VĂN PHƯƠNG Sinh năm 1953 SQ: 73/156-263 Loại máu : O
5. TRẦN VĂN ĐƯỢC Sinh năm 1954 SQ: 74/164- 292 Loại máu; A+B
6. ĐINH VĂN KIÊM Sinh năm 1943 SQ: 63/212-486 Loại máu: O
7. NGÔ ĐẮC HÙNG Sinh năm 1955 SQ: 75/ 206-046 Loại máu O
8. NGUYỄN VĂN DỤC Sinh năm 1937 SQ: 57/000-706 Loại máu: O
9. HỒ THÀNH BẢY Sinh ngày 20/1/1931 tại Phong Dinh
Cha: Hồ Văn Miên- Mẹ: Nguyễn Thị Chon
Địa chỉ: Xã Tân Bình, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định.

Nếu các bạn cần biết thêm chi tiết của cuộc cải táng (có chiếu đoạn phim bốc mộ), xin theo dõi buổi buổi nói chuyện của chúng tôi với chị Tố Thuận trong chương trình Huynh Đệ Chi Binh của đài truyền hình SBTN, vào ngày thứ bảy 27/11 vào lúc 10:00 PM, thứ năm 2/12 vào lúc 1:00PM và Thứ Bảy 4/12 vào lúc 10:00PM (giờ Cali).

Huy Phuong/SBTN

Báo Cáo Của Một Người Vợ Lính


GIAO CHỈ SJ-ViệtTribune

Giao Chỉ viết theo lời cô Nguyễn Tố Thuận, Sacramento, qua điện thoại đêm 27/11/2010

Thưa cấp chỉ huy,
Em tên là Nguyễn Tố Thuận, quê An Dương, quận Phú An, thuộc tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế. Quê của gia đình em chỉ cách cửa Thuận An chừng 2 cây số.
Cuộc đời của em lần lượt làm vợ 2 ông lính, duyên nợ với nhà binh được 3 đứa con. Em vượt biển mồ côi sau chuyến di tản tháng 3 đúng vào thời gian và không gian mà anh trung úy thủy quân lục chiến Cao Xuân Huy gọi là “tháng ba gẫy súng”.
Em và các con sống được ngày nay tại Hoa Kỳ là nhờ phúc đức tổ tiên, nên gia đình ngày nay cố làm chuyện từ thiện cho đời sau.
Trong một bản tin của anh Huy Phương viết cho các báo và loan trên đài TV SBTN lấy từ cuốn phim quay chuyện bốc mộ chiến binh Việt Nam Cộng Hòa. Dân làng em đã góp phần vớt xác lính miền Nam hy sinh trên bãi biển gẫy súng ở cửa Thuận An. Chuyện vớt xác chôn ở bờ biển vào tháng 3-1975. Chuyện tảo mộ, chôn lại trong đất liền, xây mộ làm bia đã thực hiện xong năm 2010. Bây giờ em xin báo cáo để cấp chỉ huy biết rõ đời vợ lính di tản ra sao và trở lại tảo mộ như thế nào.

Năm 1974 em mới học lớp 10 thì bỏ ra đi buôn bán ở chợ Cồn, Đà Nẵng. Quê nghèo miền Trung, gia đình không có tiền cho em đi học nhiều, chắc các cấp chỉ huy đều biết cả. Em gặp anh quân cảnh cấp bậc Trung sĩ I tên là Lê Văn Hội. Chỉ huy biết mà, em bán hàng ngoài chợ, gặp xếp quân cảnh là yên tâm rồi. Chúng em lấy nhau, sanh được cháu gái 4 tháng, bắt đầu chạy giặc. Vào tháng 3 oan nghiệt đó gia đình gồm có 2 vợ chồng, thêm đứa con gái 4 tháng, 2 cô em chồng và bà mẹ chồng xuống được xà lan trên bãi biển Đà Nẵng. Xà lan đông cả ngàn người, lính tráng đủ mọi thứ cùng với vợ con, lại có cả dân chúng. Nằm bẹp dưới sàn, tàu kéo cắt dây bỏ xà lan trôi giữa biển gần Sơn Trà. Em nói chồng đi kiếm miếng nước cho con nhỏ. Nhà em đi không rồi lại về không. Sau đó có tàu hải quân xáp lại nói là đón lính lên bờ công tác. Có lẽ thấy nhà em quân cảnh nên họ yêu cầu đi theo. Thấy chồng ngần ngại, em lại nói nhà em cứ đi với hải quân. Chắc an toàn hơn. Còn phần em với gia đình thế nào cũng được tàu Mỹ vớt. Nếu không thì cũng chẳng sao. Chỉ lo cho anh thôi. Chúng em chia tay lần đó. Đâu biết là sẽ không bao giờ gặp lại trung sĩ I quân cảnh Lê Văn Hội nữa.

Hình lăng mộ 132 tử sĩ cải táng hoàn tất:




Sau hai ngày trôi nổi trên biển, tàu hàng của Mỹ có thủy quân lục chiến Hoa Kỳ canh gác đã bốc tất cả mọi người từ xà lan lên tầu để đưa vào Cam Ranh.
Từ Cam Ranh lại qua tàu khác chở đi Vũng Tàu, đến Vũng Tàu lại có lệnh bắt đi Phú Quốc. Gần đến Phú Quốc lại có lệnh trở về Vũng Tàu. Gia đình 5 người. Bây giờ em là chủ gia đình, chỉ mới có 20 tuổi, mẹ già chồng, 2 đứa em gái chồng và đứa con gái 4 tháng. Được đưa vào trại tỵ nạn Chí Linh, Vũng Tàu cho đến khi mất Saigon. Cộng sản đuổi ra đường. Cả trại đi ăn xin. Gia đình em cũng đi ăn mày, bán nữ trang trên đường về Saigon. Về đến Saigon lại ngủ ngoài đường, tiếp tục đi ăn xin để tìm đường về Đà Nẵng. Cuối tháng 5-1975, trở về được Đà Nẵng. Bế con ra bãi biển tìm chồng không thấy. Người ta chỉ chỗ nầy có chôn xác lính Cộng Hòa, chỗ kia có mộ tập thể, nhưng không thể nào tìm cho ra vết tích anh Lê Văn Hội.
Sau này gia đình đưa nhau về Huế. Em bắt đầu tìm đường buôn bán tại Huế. Gửi con nhỏ về nội nuôi tại quê chồng. Em tìm đường sống lấy tiền gửi về nuôi mẹ chồng, nuôi em chồng và để bà nuôi cháu. Vợ lính thay chồng mất tích bươn trải nuôi cả gia đình. Thời gian sau 75 ở Huế, em cũng về thăm quê mẹ ở An Dương và được các anh em bà con chỉ chỗ lính bên ta đã chết cả trăm người trên bãi Thuận An, nơi Cao Xuân Huy gẫy súng. Cũng chính nơi đây dân làng An Dương vào tháng 3-1975 đã vớt xác quân ta và chôn chung ngay tại bãi biển.
Em nghĩ rằng, chắc chồng em, anh Lê Văn Hội cũng đã nằm yên đâu đó phía bãi biển Đà nẵng, bên kia đèo Hải Vân.
Sau 5 năm làm ăn buôn bán tại Huế, em góp được chút vốn bèn mua luôn con tàu vượt biên chở 28 người khởi hành tại Đông Hà. Em chính là chủ tàu, nhưng còn ngu dại đâu có biết tàu này chỉ là con đò ở trọ, làm sao vượt biên. Khi ra khơi, cả hai vợ chồng lái đò cũng không biết lái đường biển. Từ Đông Hà ghe quay về Thuận An để tìm cách thuê tài công. Mấy người đi biển từ chối nói rằng thuyền không bảo đảm lại sắp có giông bão. Nhưng quay lại thì chỉ có con đường vào tù. Gia đình lúc đó ra đi có đứa em gái và con gái sanh cuối năm 74 đã 5 tuổi thêm mấy đứa cháu trai từ 11 đến 20 tuổi.
Trong đó có một cháu 16 tuổi giỏi nhất, trở thành thằng lái tàu. Ngày đêm hì hục, em lái chị tát nước. Giông bão không thể tưởng tượng được. Theo người đi trước chỉ, cứ thẳng hướng Bắc sang Tàu. Vậy mà như phép lạ, con tàu nhỏ như đò sông Hương đã đưa mọi người đến đảo Hải Nam. Vào được đất liền, đổi trang sức đem theo lấy thực phẩm, dầu xăng và được dân chài sửa chữa ghe hư hỏng. Sau đó họ chỉ đường vào Hồng Kông. Đó là năm 1980. Gia đình ở trại tỵ nạn Hồng Kông 22 tháng. Rồi được Mỹ nhận sau khi đã bị từ chối nhiều lần.
Vào Mỹ lưu lạc nhiều nơi cũng chẳng có tin tức gì về ông chồng cũ nên em lập gia đình với anh Phạm Thụy, nguyên biệt kích Việt Nam Cộng Hòa. Chúng em hiện đã có thêm 2 cháu, một trai, một gái. Con gái lớn của em cũng có tiệm nail, còn em cũng có một tiệm nail. Mẹ con sơn chân sơn tay cho thiên hạ để lập nghiệp tại Hoa Kỳ.
Cho đến một ngày.
Em nhận được điện từ quê nhà ở thôn An Dương. Bà con nói là những phần mộ chôn lính miền Nam ngày xưa ngoài bãi biển bây giờ bị bão tố vùi dập cần cấp cứu. Nếu không bốc mộ và chôn cất vào phía trong thì chẳng mấy chốc tiêu ma hết.
Bà con An Dương, quận Phú An vượt biên khắp bốn phương từ Mỹ đến Canada em vẫn còn liên lạc. Quê nhà cầu cứu tài chánh để xây mộ cho lính Cộng Hòa.
Em bèn thắp 3 nén nhang khấn Trời Phật. Em theo Phật giáo, chồng em biệt kích lại theo Công giáo.
Nhưng đạo nào em cũng cầu. Em cầu ông chồng lính bây giờ yểm trợ. Em cũng cầu ông lính quân cảnh đã hy sinh phù hộ. Thắp 3 nén nhang xong là em điện thoại. Điện qua Canada. Điện lên Seattle. Mấy bà con ngày xưa đã từng vớt xác chôn lính ngoài bãi biển. Bây giờ vượt biên vẫn còn đem theo hình ảnh đau thương ngày quân ta gẫy súng trên bãi Thuận An.
Em kêu gọi bà con cứ gửi thẳng tiền về cho ban công tác tại quê nhà. Tính ra việc tảo mộ, chôn trở lại rồi xây mộ, làm bia hết $8,000 đồng. Em bay về quê thăm gia đình và xem nơi sẽ xây cất. Họp với ban tổ chức. Chẳng có chính trị chính em gì cả. Xây cất mồ mả cho thân nhân còn được. Đây toàn là lính Cộng Hòa. Coi như tất cả là anh em. Ai cũng có thân xác như anh Lê Văn Hội. Bây giờ xương cốt an em sắp trôi ra biển. Gom được vào nằm trong đất quê hương ấm áp hơn nhiều.
Làng thôn nói rằng, chị Tố Thuận hô hào quyên góp toàn người làng gửi về được 7 ngàn. Nhu cầu công tác tính kỹ phải ít nhất 8 ngàn. Còn thiếu làm sao khởi công.
Em thưa với ban rằng, em về quê tiêu đã hết tiền rồi, các bác cứ xây đi, em về Mỹ xuất tiền bao nốt một ngàn. Dân làm nail kỳ này đang kinh tế ế ẩm. Ngồi dài gần cả ngày chưa được một bộ mấy chục bạc. Nhưng em xin thưa với các cấp chỉ huy. Gia đình vượt biên bằng con đò sông Hương mà qua được nước Tàu rồi vào nước Mỹ. Phúc đức như thế mà lo không xong ngôi mộ lính miền Nam chết tức tưởi ở cửa Thuận An thì đâu có xứng đáng làm vợ lính Saigon. Em nói vậy, cấp chỉ huy nghĩ coi có đúng không?
Em là Nguyễn Tố Thuận, tên thật từ khai sinh, gái Huế 2 đời chồng lính miền Nam. Ngay khi em có được những tấm hình và 1 DVD quay phim xây mộ bèn được anh Huy Phương, cũng là người Huế cho lên đài. Có sao em nói vậy.
Nhờ anh Huy Phương phổ biến cho bà con biết để nhớ đến công của người dân thôn An Dương. Mong rằng ở nơi nào đó có thôn xóm Việt Nam cũng đã chôn cất cho anh Lê Văn Hội, mối tình đầu của cô gái Huế, chỉ học có lớp mười, bây giờ vẫn còn làm nail ở Sacramento.


Hình 11 Tấm Thẻ Bài:



Thứ Bảy này em đóng cửa tiệm nail một ngày để xuống San Jose báo cáo công tác cho bác Giao Chỉ, ở bộ Tổng Tham Mưu. Số hài cốt tìm được cải táng là 132, thẻ bài thu được là 13. Trong số này 8 thẻ bài rõ tên họ. Tuổi từ 20 đến 22, danh sách như sau.

NGUYỄN VĂN VÂN Sinh năm 1954
TIẾC DỤC Sinh năm 1955
TRẦN NGỌC ANH Sinh năm 1954
LÊ VĂN PHƯƠNG Sinh năm 1953
TRẦN VĂN ĐƯỢC Sinh năm 1954
ĐINH VĂN KIÊM Sinh năm 1943
NGÔ ĐẮC HÙNG Sinh năm 1955
NGUYỄN VĂN DỤC Sinh năm 1937

Riêng anh HỒ THÀNH BẢY có lý lịch như sau. Sinh ngày 20/1/1931 tại Phong Dinh
Cha:Hồ Văn Miên, Mẹ:Nguyễn Thị Chon. Địa chỉ:Xã Tân Bình,huyện Thủ Đức,tỉnh Gia Định.

Sau khi tin tức phổ biến, thân nhân của tử sĩ Đinh văn Khiêm đã nhận được tin và hết sức xúc động. Đã 35 năm qua anh mất tích, bây giờ em mới biết tin.

Tố Thuận, vợ lính miền Nam ở Phú An xin báo cáo cấp chỉ huy rõ.


Nguồn: http://www.viettribune.com/vt/index.php?id=5373

Không một nấm mồ

Tạp Ghi Huy Phương
Mới đây việc đồng bào thôn An Dương thuộc quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên đã giúp cải táng và xây lăng mộ cho 152 quân nhân VNCH bỏ mình trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975, đã gây lên niềm đau xót mà tưởng chừng như 35 năm nay đã ngủ yên trong quên lãng, không còn ai nhớ đến.

Chiến tranh đã qua rồi, không chỉ một vài chục năm ngắn ngủi, mà đã một thời gian quá dài. Những đứa trẻ mới lớn lên không biết gì quá khứ, những ông già đã qua đời ở ngoài quê hương, ngậm ngùi vì những giấc mộng tàn phai. Ngày nay những hố bom đã được san bằng, đồn lũy đã mất dấu dành cho những nương khoai, trận địa ngày trước máu xương đã đem màu mỡ cho ruộng đồng xanh ngát.

Nhưng có những cánh rừng chỉ còn trơ gốc, có những con sông đã ngừng chảy, biển xưa phải chăng nay là nương dâu. Ngày nay, có những đô thị mới mọc lên, những chốn ăn chơi, giải trí mới mở ra, những khách sạn cao tầng vươn cao trong không gian như thách đố với nỗi nghèo khó vẫn còn tồn tại ở sát mặt đất.

Những người ra đi đã trở về vui chơi, đi suốt chiều dài của đất nước, quên hết chiều dài khổ đau của trận chiến mà cha ông họ đã đóng góp máu xương.

Quá khứ phải chăng đã bị chôn vùi, chiến tranh phải chăng đã không còn ai nhớ đến. Không, những nghĩa trang liệt sĩ bây giờ đã có mặt khắp nơi, bia mộ khang trang, gọi là để nhắc nhở những người đã hy sinh trong cuộc chiến tàn khốc trên quê hương kéo dài hơn ba mươi năm. Bây giờ, “khi đất nước tôi thanh bình, mẹ già lên núi tìm xương con mình” (TCS).

Nhưng không còn gì cho những người thất trận và đồng bào trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu người đã bỏ mình trên quốc lộ 7B trên đường rút về duyên hải từ Pleiku, bao nhiêu người đã chết trên những bãi biển miền Trung trong cơn tuyệt vọng tìm con đường sống về Nam. Sau khi đất nước ngưng tiếng súng, người ta kêu gọi những người miền Nam đang chiến đấu buông súng, nhưng thực chất tại nhiều địa phương, nhiều cuộc trả thù đã xẩy ra, nhiều nhân viên đảng phái, ngành tình báo, cảnh sát đã bị đưa đi thủ tiêu. Ngay cả với nhiều toán chiến sĩ Biệt Cách Dù 81 ra đầu hàng cũng bị bắn và chôn vùi trong những giếng cạn trại địa phận Long Thành. Bao nhiêu năm qua, tội ác được giấu nhẹm, trong nước không ai dám lên tiếng, không ai dám tiết lộ tin tức cho thân nhân.

Tất cả đều bị vùi dập với đất cát, cỏ cây, qua thời gian, nắng gió, xương tàn cốt mục tan nát theo bùn đất. Ai còn nhớ đến họ, phải chăng người mẹ trước khi qua đời, vẫn còn mang nỗi đau về tin tức một đứa con ba mươi lăm năm nay biệt mù, phải chăng chỉ còn là di ảnh đã ố vàng của một người chồng trên bàn thờ, để nói với đàn con đó là người cha thuở trước.

Không bia mộ, không dấu vết, lặng lẽ, phai tàn và quên lãng.

Những người dân làng trên bãi biển Thuận An đã âm thầm chôn cất những người lính, người dân miền Nam nằm lại trên bãi biển, hay từ cơn sóng biển đưa vào, trong cơn vội vã, thương xót mà không hề bộc lộ. Rồi cơn sóng biển dập vùi, bão lụt tràn bờ, kéo xương cốt những người này trả lại cho trùng dương. Tưởng chừng những linh hồn uổng tử, oan khuất theo cơn gió giật, réo gọi, rên xiết trên những hàng dương oằn mình, run rẩy.

Trên quê hương chúng ta có bao nhiêu nấm mồ tập thể như thế và vì tình người, có bao giờ những người thắng trận nghĩ đến việc khuyến khích dân chúng tại những nơi trận địa, cải táng những thi hài này để tìm ra những tin tức cho những gia đình đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến. Câu chuyện này, nếu làm trong thời gian vài ba năm sau khi cuộc chiến mới chấm dứt, khi thịt chưa nát, xương chưa tan, khi còn những dấu tích, chúng ta có thể tìm ra căn cước của những người chết, để giao về cho những gia đình ly tán mất mát, thì đâu có lâm vào cảnh muộn màng như thế. Nhưng điều đó đã không xẩy ra. Những danh từ “bỏ qua quá khứ,” “hòa giải dân tộc,” “xóa bỏ hận thù” chỉ là những câu khẩu hiệu chỉ để nói mua vui. Ngay như chuyện Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, đã có bao nhiêu lời hứa hẹn, đã có bao nhiêu tổ chức ở hải ngoại về nước hy vọng sẽ góp công, góp của để giữ gìn lại những hài cốt của các chiến sĩ miền Nam ngày trước, nhưng cuối cùng chỉ nhận lấy sự hụt hẫng vì những lời hứa suông, giả dối. Ngày nay nghĩa trang này rơi vào cảnh điêu tàn, hoang phế, đất nghĩa trang được “dân sự hóa,” không còn được một tên gọi, không được tôn trọng như là một di tích của lịch sử, mặc cho gió dập mưa vùi.

Rồi thời gian sẽ xóa hết dấu vết.

Chúng ta không có hy vọng gì về một đất nước văn minh, nhân ái để có một nghĩa trang chôn cất người lính của cả hai miền, dù là bên thắng bên thua, nhưng ít ra đối với người thắng trận phải có chút lòng nhân, không chỉ có thái độ trả thù đối với những người bại trận còn sống mà còn đối với những người đã chết. Chính quyền Cộng Sản ngày nay đã quay lưng đi với nỗi đau khổ của đại đa số dân chúng, nên chúng ta cũng hiểu rằng rất khó để kêu gọi tấm lòng nhân đối với những người đã chết. Khi chế độ mới có quyền lực trong tay, họ muốn làm những điều ác để bảo vệ chế độ hơn là lấy điều nhân nghĩa để lo cho dân.

Qua các đợt cứu trợ cùng với các tổ chức đang hướng về quê hương, vì hải ngoại đã thương xót mủi lòng khi nghĩ đến cảnh khổ của đồng bào ruột thịt ở trong nước, mà ngày nay những người bỏ nước ra đi, còn có tấm lòng nghĩ đến những người đã nằm lại, qua các công cuộc đi tìm hài cốt hay tu sửa bia mộ cho những người chiến sĩ VNCH. Qua tin tức, phim ảnh chúng ta đã có dịp thấy cảnh đào xới truy tìm hài cốt của những người lính Mỹ chết tại Việt Nam, với sự yểm trợ tối đa của chính quyền, huy động nhân công đông đảo, phương tiện cơ giới để đào sâu, sàng sảy để tìm những mẫu xương cốt. Lại thấy cảnh bốc mộ của đồng bào đối với hài cốt của những người lính miền Nam được tiến hành với những phương tiện thô sơ, góp nhặt những đốt xương, những chiếc răng còn lại mà cảm thấy đau lòng, xót xa.

Ba mươi lăm năm, một thời gian quá dài. Những bậc sinh thành đã không còn sống để đợi chờ tin con. Những góa phụ đã mòn mỏi héo hon. Ký ức của những đứa con đã không còn chút dấu vết của người cha thời trận mạc. Tất cả đều đã mịt mờ trong quá khứ. Những người lính chiến không bao giờ trở về, thân xác theo cát bụi về với hư vô.

Chiến tranh đã tàn khốc ác độc, mà giữa con người với con người cũng chẳng có lòng thương xót, ba mươi lăm năm rồi vẫn còn đối với nhau như kẻ thù không đội trời chung.

Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã bảo trì, giữ gìn, tu bổ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, theo ý nghĩa “không có người thắng, kẻ thua.” Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã có chính sách truy tìm, khuyến khích dân chúng phát giác, khai quật những mồ chôn tập thể, sau ngày tàn cuộc chiến để trả hài cốt về cho những người mẹ mất con, những người vợ góa chồng, những đứa con không cha.

Báo chí trong nước không được phép loan tin những chuyện liên hệ đến chế độ cũ hay hình ảnh người lính VNCH, do đó việc thông tin bị hạn chế, gia đình không thể nào tìm ra những người mất tích trong cuộc chiến. Ðó là chính sách bất nhân của những con tim vô cảm.

Chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài - nếu…



Cuộc chiến Việt Nam mặc dầu đã được kết thúc trên ba chục năm nay, nhưng nhiều người vẫn còn tự hỏi, “Quân đội của chúng ta hùng mạnh như vậy, tinh thần chiến đấu của quân đội chúng ta anh dũng như vậy, nhiều quân nhân còn xâm chữ “Sát Cộng” vào cánh tay, còn đồng bào ta thì sợ Việt Cộng như cùi, như hủi, bọn chúng tới đâu là đồng bào ta bỏ chạy tới đó, vậy mà tại sao chúng ta lại thua Cộng Sản ? ”
Đành rằng nguyên nhân gần và trực tiếp là vì chúng ta bị đồng minh tức Hoa Kỳ bỏ. Nhưng còn nguyên nhân sâu xa là gì ? Đã có rất nhiều chính trị gia, chiến lược gia, sử gia Việt Nam cũng như ngoại quốc phân tích và đã đưa ra rất nhiều lý do, chủ quan cũng có, khách quan cũng có, nhưng chưa thấy tác gỉa nào nói tới lý do đạo đức và luật pháp.
Vì đạo đức, chúng ta không thể bắt chước Cộng Sản, “thà giết lầm còn hơn tha lầm”. Bắt được những tên Cộng Sản, những tên Việt Gian, những tên ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản, chúng ta vẫn đối xử nhận đạo. Hẳn chúng ta còn nhớ, vào năm 1955-1956, một phong trào mang tên là Phong Trào Hòa Binh do các Phạm Huy Thông, Lưu Văn Lang, Trần Kim Quan v.v…thành lập. Đây là một phong trào thiên Cộng họạt đông với mục đích hỗ trợ cho Việt Cộng và đòi Tổng Tuyển Cử theo Hiệp định Geneve 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chỉ tống xuất một vài tên qua cầu Hiền Lương ra Bắc.
Đến đầu năm 1965 cũng có một phong trào mang tên tương tự là “Phong Trào Tranh Đấu Bảo Vệ Hòa Bình do những tên Việt Gian, Ăn Cơm Quốc Gia, Thờ Ma Cộng Sản thành lập như Thượng Tọa Thích Quảng Liên, Bác Sỉ Thú Y Phạm Văn Huyến, Nhà Báo Phi Bằng tức Cao Minh Chiếm, Giáo Sư Tôn Thất Dương Kỵ, Bác Sĩ Lê Khắc Quyến v.v… Gần 30 thành viên của phong trào này đã bị bắt giữ, trong đó có Cao Minh Chiếm, Tôn Thất Dương Kỵ và Phạm Văn Huyến. Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đề nghị thả dù bọn này ra bắc vỹ tuyến 17 tức bên kia cầu Hiền Lương cho Việt Cộng. Nhưng Thủ Tướng Phan Huy Quát vì lý do nhân đạo, sợ làm như vậy bọn chúng có thể gẫy chân, què tay vì bọn chúng đâu biết nhẩy dù, nên đã lấy cớ rằng làm như vậy, quốc tế sẽ chỉ trích, và chỉ đồng ý giải giao bọn chúng cho Việt Cộng bằng đường bộ qua cầu Hiền Lương.
Vì luật pháp, chúng ta cũng không thể cho chúng mò tôm, bắt ốc như bọn Cộng Sản đã làm đối với những người quốc gia, mà chúng ta phải đưa chúng ra tòa để xét xử theo luật pháp. Nhiều khi chúng ta còn rất nhẹ tay với chúng. Dù có tội thì cũng chỉ giam giữ ít lâư rồi lại thả ra. Trường hợp tử hình, thật là hiếm. Không những thế, nhiều khi còn để tình cảm lấn áp. Do đó có những trường hợp kẻ bị bắt có thế lực hoặc có liên hệ với các ông lớn trong chính quyền VNCH được can thiệp và cho tại ngoại ngay từ lúc mới bị bắt hoặc được cho biết trước để mà chạy trốn hoặc phi tang chứng cớ. Trường hợp điển hình là trường hợp của Trần Đình Ngọc, giáo sư trường Đại Học Khoa Học Saigon; vì có hoạt động cho Việt Cộng nên bị bắt. Ông Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Trường Đại Học Khoa Học Saigon đã lấy tư cách và uy tín của mình để bảo lãnh cho ông Ngọc. Vì thế, ông Ngọc không những đã được tại ngoại mà cũng chẳng phải ra toà lãnh án.
Vụ Têt Mậu Thân 1968, không thiếu gì những tên Việt Cộng giết người một cách dã man, giết người một cách vô tội vạ, giết người hang loạt, vậy mà đâu có đưa bọn chúng ra tòa? Còn chúng ta, nếu vì quá tức giận trước những hành động qúa độc ác, dã man cuả bọn chúng mà tự ý giết một tên Việt Cộng nào đó, thì dù có lý do chính đáng đến đâu cũng vẫn bị kết tội là dã man, là vô nhân đạo. Nếu không bị đưa ra tòa thì cũng bị nhiều người phê bình và thế giới nguyền rủa. Đó là trường hợp của tướng Nguyễn Ngọc Loan đã xử tử tên Việt Cộng Nguyễn Văn Lém tự Bẩy Lớp, kẻ đã sát hại cả gia đình một sĩ quan cảnh sát vào Tết Mậu Thân 1968.
Ngày nay, ở hải ngoại cũng vậy, những người chống Cộng luôn luôn bị một số người vin vào lý do đạo đức, văn hóa để chỉ trích người khác. Nếu chống Cộng hăng say quá thì bị chỉ trích là quá khích. Nếu dùng danh từ mạnh mẽ qúa hay bình dân quá thì bị phê bình, chỉ trích là ấu trĩ, là thiếu văn hóa, là phản tuyên truyền có khi còn bị nhục mạ là hạ cấp, là vô học.
Bọn Việt Cộng ăn gian nói dối cả trăm ngàn lần dân chúng trong nước đâu ai dám nói gì. Trái lại, ở hải ngoại, nếu có ai vì chống Cộng nói sai một chút, nói qúa lời một chút, mà đâu có phải nói họ mà chỉ là nói bọn Việt Cộng hoăc bọn Việt Gian Cộng Sản là bị chỉ trích, bị phê bình liền, có khi còn bị mạ lỵ.
Bọn người này, không biết họ thuộc loại nào, có thể là bọn Việt Cộng nằm vùng, có thể là bọn Việt Gian Cộng Sản, nhưng cũng có thể chỉ vì cảm tinh cá nhân, nói ra họ lại la làng là bị chụp mũ này, mũ nọ. Có điều chắc chắn là không bao giờ thấy họ viết một bài nào chống Cộng, hoặc nếu có thì cũng chỉ hời hợt hoặc vô thưởng, vô phạt để chứng tỏ ta đây cũng là người chống Cộng còn những bài viết chỉ trích những người chống Cộng thì phê bình chỉ trích tới nơi, tới chốn. Gọi ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam là chính quyền Việt Nam mà chỉ trích thì đã đành. Viết hai chữ Cộng Sản là CS hay Việt Cộng là VC cũng bị chỉ trích hoặc gọi bọn bưng bô cho Việt Cộng hay làm lợi cho Việt Cộng là Việt Gian Cộng Sản cũng bị chỉ trích. Thật hết chỗ nói.
Trong khi đó, bọn Việt Cộng tung ra hải ngoại không biết là bao nhiêu là cán bộ đội lốt ca sĩ, du sinh, thày tu, bất đồng chính kiến v.v…thì chẳng thấy những người này nói tới. Chính vì vậy mà ngày nay, văn hóa phẩm của Việt Cộng tha hồ bầy bán trên thị trường hải ngoại và bọn Việt Gian, bọn tay sai Cộng Sản tha hồ tung hoành tổ chức nhạc hội gây qũy từ thiện, nhiều khi bọn chúng còn dám tổ chức triển lãm, hội thảo nữa mà cũng chẳng mấy ai dám nói tới, khiến bọn chúng lộng hành.
Trường hợp Cô Tim và Căn Nhà May Mắn là một thí dụ điển hình. Cô được Hội Người Việt San Fernando Valley, California tổ chức buổi Văn Nghệ Gây Qũy cho cô vào ngày 25 tháng 10 năm 2008. Cô Tim không những không chào cờ VN Cộng Hòa đã đành, cô còn ra lệnh cho ông Chủ Tịch Richard Mười Trương và những người trong ban tổ chức phải dẹp bỏ cờ vàng ba sọc đỏ đi cô mới chịu đăng đàn nói chuyện. Vậy mà ông Chủ Tịch Mười Trương và những thành viên trong ban tổ chức đã răm rắp nghe theo. Thà cứ như chùa Pháp Vân ở Canada trong buổi gây qũy cho cô Tim chẳng cờ quạt gì cả còn hơn. Đằng này ông Chủ Tịch mười Trương cũng cũng chào cờ quốc gia, cũng hát quốc ca VNCH, cũng mặc niệm, nhưng khi nhân vật chính là cô Tim lên diễn đàn nói chuyện, thì ông lại nghe lệnh cô Tim dẹp cờ vàng đi.
Hành động này, không khác gì mượn danh từ thiện để hạ nhục cờ quốc gia VNCH. Ấy vậy mà vẫn còn có kẻ bênh vực cho cô Tim, vẫn đòi hỏi phải có bằng cớ rõ ràng mới có thể kết tội cô là người của Việt Cộng. Chắc bọn Việt Gian Cộng Sản muốn chúng ta phải trưng ra thẻ đảng viên của cô hay ít nhất cũng phải có giấy công tác của cô do Việt Cộng cấp ?
Và gần đây, ngày 7/5/09, Tiêu Dao Bảo Cự, một tên bất đồng chính kiến cuội đã được bọn Việt Cộng cho sang Hoa kỳ và đã tới Đại Học Berkley thuyết trình về nhà thơ Hữu Loan với bài thơ Đồi Tím Hoa Sim nhưng chẳng thấy y nói gì tới bài thơ Đồi Tím Hoa Xim mà chỉ thấy y khuyến dụ sinh viên về nước giúp ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam.
Ngày nay bọn Việt Cộng biết rằng cái chính nghĩa của chúng do sự tuyên truyền và bịp bợm mà có không còn có thể che dấu được nữa, nhất là đồng bào hải ngoại. Do đó chúng đã tìm mọi cách để xâm nhập vào cộng đồng người Việt Hải Ngoại để tìm cách chia rẽ và phá hoại sự đoàn kết của chúng ta. Chúng như con bạch tuộc. Nếu con bạch tuộc có nhiều chân thì bọn Việt Cộng có nhiều tiền. Bọn chúng sẵn sang tung tiền ra để mua chuộc những thành phần lưu mamh, ham danh, hám lợi, những thành phần ngu dốt, mê muội, tưởng chế độ Cộng Sản đã thay đổi, tưởng chúng muốn hòa hợp, hoà giải với người quốc gia để xây dựng đất nước. Do đó, chúng ta thấy ở bất cứ nơi nào, Hội đoàn nào, Diễn đàn nào, cũng có đầy dẫy nhưng kẻ luôn luôn tìm cách phá thối, lũng loạn để gây chia rẽ.
Tóm lại, đã gọi là chống Cộng thì phải chống Cộng tới nơi, tới chốn, Bởi vì bọn Việt Cộng là một bọn cướp vô học. Không những vô học, bọn chúng còn dã man, còn tàn bạo. Chống chúng, không thể dùng những lý lẽ của Không Tử, những lời dạy của Đức Phật hay của Đức Ki Tô, mà phải dùng những lời lẽ của những bà mẹ nông dân Việt Nam hay ít nhất cũng phải là những lời lẽ của những người bình dân đang bị VC cướp của, cướp nhà. Những ai không chống Cộng hay không dám chống Cộng vì còn muốn về Việt Nam làm ăn với Việt Cộng hay về VN để ăn chơi du hí thì hãy im cái mồn lại, để người khác chống Cộng, Đừng đạo đức gỉa, đừng quân tử Tầu mà chỉ trích người khác. Thật buồn khi thấy trên các báo chí cũng như trên các diễn đàn, những bài chống Cộng thì ít mà những bài chống nhau thì nhiều.
Chúng ta phải coi chừng, đừng mắc mưu bọn Việt Cộng nằm vùng hoặc bọn Việt gian Cộng Sản mà quên đâm thẳng mũi dùi vào bọn Việt Cộng mà lại quay mũi dùi đâm vào anh em. Nếu không, chúng ta sẽ còn thua Việt Cộng dài dài...
Cổ nhân đã dạy :
Đi với Bụt, mặc áo Cà Sa,
Đi với Ma, mặc Áo Giấy./-
LS.Lê Duy San

Ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản

Cuộc chiến Quốc Cộng do Hồ Chính Minh, tên tay sai của Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản khởi động đã gây nên tang thương cho dân tộc Việt kể từ 1945 đến nay.


Cuộc chiến quá nhiều bất công công cho chính quyền cũng như nhân dân miền Nam luôn trong tư thế tự vệ cuộc xâm lược vĩ đại của CS băc Việt dưới sự yễm trợ hùng hậu của Liên Xô, Trung Cộng cùng các nước trong khối cộng sản thời bây giờ.


Trong thời gian chiến tranh muốn thắng địch, huy động tất cả nhân lực, tài lực để cung ứng cho nhu cầu chiến trường cấp bách " viện binh như cứu lửa" thế mà cuộc chiến " huynh đệ tương tàn" này những bất công cho nhân dân miền Nam do những tên chúa đảng đầu trọc , bạo chúa áo đen những nhà trí thức, quan chức VNCH đã đâm những nhát dao trí mạng vào nhân dân và quân đội của miền Nam VN,chính quyền luôn nằm trong tình trạng " tứ bề thọ địch thù trong giặc ngoài".


Thù trong không phải do cấp lãnh đạo của miền Nam gây ra, nhưng do những tên "ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản" những kẽ "NGU" làm tay sai cho CS luôn khuấy động nhằm mục đích tạo lên những xáo trộn chánh trị, bất ổn hậu phương để "lật đổ chính quyền miền NamVN rước CSBV đặt một nền đô hộ của thực dân đỏ tại miền Nam


Người chiến sĩ oai hùng ngoài trận tuyến, từng phút, từng giờ, từng ngày đối đấu với SCBV xâm lược , đem sinh mạng ra bảo vệ lảnh thổ miền Nam tự do thân yêu, bảo vệ sự an lành của nhân dân thì tại hậu phương những tên chính khách salon, những tên phản trắc luôn tìm đủ mọi cách để chống phá chính quyền của hai nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hoà của , đám xôi thịt lợi dụng dân chủ tự do đã sinh ra lắm "quái thai" gồm : Phong Trào Dân Tộc Tự Quýêt của Trần Văn Ðôn , Thành Phần Thứ Ba của Dương Văn Minh, Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành, Phật Giáo Tranh Ðấu của Ấn Quang do chúa đảng đầu trọc Trí Quang , Huỳnh Liên lãnh đạo.


Phía Công giáo thì có " Công Giáo và Dân Tộc" của Linh Mục Thanh Lãng , Thanh Sinh Công … Cùng một số LM "Cấp tiến" như : Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, , Trương Bá Cần (Trần Bá Cường )… .


Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam gồm những tên khoa bản miền Nam LS Nguyễn Hữu Thọ, KTS Huỳnh Tấn Phát, BS Phùng Văn Cung, LS Trịnh Ðình Thảo, BS Dương Huỳnh Hoa, LS Trương Như Tản (định cư tại Pháp)…

Miền trung VN thì các lực lượng tranh dấu quyết liệt với chính quyền VNCH gồm BS Lê Khắc Quyến, GS Tôn Thất Dương Kỵ, GS Tôn Thất Dương Tiềm, GS Hoàng Phủ Ngọc Phan, GS Lê Văn Hảo v.v. còn nhiều và rất nhiều.


Những lực lượng tranh đấu được thành lập nhằm mực đích " lật đổ chính quyền " như đã nêu trên , cùng những tổ chức rất là bất ổn như Sinh Viên Tranh Ðấu, Phật Tử Quyết Tử, Thanh Niên Tranh Ðấu…tất cả đều nằm trong quỷ đạo điều khiển của cộng sản miền Bắc.

Tại trung tâm Thủ Ðô luôn có biến động gây xáo trộn và tạo sự chú ý của công luận quần chúng và quốc tế tất cả là chủ trương và chính sách mà Hà Nội luôn đeo đuổi để tạo bất lợi cho chính phủ phải tính đến là từng giờ. Với những thế lực thù địch : Phật giáo Tranh Ðấu, Sinh Viên Tranh Ðấu, Luật Sư Tranh Đấu, Ký Giả Ăn Mày tranh đấu, Thanh Sinh Công Tranh Ðấu…


Bên ngoài miền Nam thì tại Paris cũng không ít tổ chức nhằm mục đích vận động thế giới bôi tro tret trấu vào chính quyền VNCH trong nhiệm vụ tự vệ để bảo vệ phần đất tự do. Trong những khuôn mặt nổi chống phá nhất là cũng đầy đủ hai tôn giáo như Hoà Thương Thích Thiện Châu và Ni Sư Mạn Ðà La thành lập cái gọi là " Uỷ ban đòi hoà bình và dân chủ cho miền Nam Việt nam, "Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris". Hợp sưc với Thiền Sư Thích Hạnh, Thích Chân Không ( Cao Ngọc Phượng) Võ Văn Ái …


Công giáo thì các linh mục cấp tiến LM Nguyễn Ðình Thi, LM Trần Tam Tỉnh (Canada) Lm Vương Ðình Bích ( Tây Ðức )…Những cựu quan chức cùng tướng lãnh của VNCH sống lưu vong an nhàn nơi đất Pháp cũng tích cực tham gia vào lực lượng "Chống Mỹ Thiệu" gồm những vị từng một thời gây "giông bão" ở miền Nam như cựu: Ðại Tướng Nguyễn Khánh, trung tá Trần Ðình Lan, đại tá Ðổ Khắc Mai, Trung tá Vương Văn Ðông, Trung tá chiến tranh tâm lý Nguyễn Văn Châu bộ trưởng Âu Trường Thanh, Hồ Thông Minh.v.v.( trích MTDTGPMN ,chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời tại hội ngị Paris về Việt Nam trang 450-451* do Nguyễn Thị Bình cùng một số cán bộ CS cao cấp thực hiện,do nhà Xuất Bản Trị Quốc Gia 24 Quang Trung Hà Nội phát hành tháng 12-2000 )


Với những lực lượng chống chính quyền như đã nêu trên đã đủ cho chính phủ của VNCH sụp đổ ??? Xin thưa đã quá đủ còn dư để giựt sập một hệ thống chính quyền dù có củng cố địa vị vững chắc đến đâu như Marcos của Phi Luật Tân hay Suharto của Nam Dương trong vòng một tháng là sụp đổ ngay. Trong lúc hai nước này không có chiến tranh như Việt Nam phải đương đầu với lực lượng gian manh quỷ quyệt ,hùng hậu CS xâm lược từ phương Bắc.


*Tuy nhiên với những sách báo của Việt Cộng thường không được minh bạch, luôn bẻ cong ngòi bút để to son đánh phấn tạo hào quang để phần lợi về cho chúng nên người viết xin trích dẫn những đoạn mà nêu danh tánh quý vị lãnh đạo tôn giáo hay cựu quan chức của VNCH sống tại Pháp hay các quốc gia khác nếu vị nào còn tại thế thì xin lên tiếng xác nhận để rộng đường dư luận :


- Hoà Thượng Thích Thiện Châu

Trong cuốn Mặt Trận Dân Tộc Giải PhóngMiền Nam và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời tại Hội Nghị Paris Về VN Phan Nhẫn viết : "giữa giòng Paris hoa lệ, chúng tôi đã tiếp xúc và trao đổi với Hòa Thượng Thích Thiện Châu và Ni Sư Mạn Ðà La , hai tiến sĩ Ðông phương học yêu nước đang lãnh đạo Hội Phật tử Việt kiều hải ngoại tập hợp đông đủ trí thức Việt kiều có tinh thần dân tộc.


Thượng Toạ thường bộc bạch với chúng tôi ngay trong giới Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại cũng có nhiều khuynh huớng khác nhau , chịu ảnh hưởng của các thế lực Phật giáo khác nhau ở Nam Việt Nam. Tuy Hội Phật Tử hải ngoại do Thượng tọa đứng đầu hoàn toàn tán thành đường lối chống Mỹ cứu nước Của Mặt Trận Dân Tọc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam nhưng hội không gia nhập Hội Việt Kiều Yêu Nước để tiện việc liên lạc với Phật giáo trong nước đồng thời tranh thủ rộng rãi dư luận Phật giáo thế giới cũng như những người Việt Nam theo đạo Phật sống ở nước ngoài.


Trong năm 1969 khi chính phủ cách mạng lâm thời được thành lập, Thượng toạ đã chuyển về cho Hòa Thượng Thích Thiện Hoa ( Viện trưởng Viên Hoá Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang) ở Sàigon bức thư thăm hỏi ân cần của Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thị Bình. Trong suốt những năm tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam, thông qua Thượng tọa , chúng tôi đã truyền đạt đến nhiều Hòa Thượng thượng tọa, cư sĩ Phật giáo từ Saigon sang, về lập trường quan điểm của Mặt Trận Giải Phóng và Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời đối với sự nghiệp giải phóng miền nam Việt Nam , thống nhất đất nước, đặc biệt là chính sách của Mặt trận đối với Phật giáo…


Ðiều mà chúng tôi nhớ mãi là ngày 30-4-1975 vào lúc 7 giờ sáng giờ Paris, Thượng toạ là người đầu tiên gọi điện thoại cho chúng tôi, báo tin mừng Saigon đã được hoàn toàn giải phóng . Ngay trong ngày hôm ấy , Thượng toạ đã dẫn đầu một đoàn Phật tử Việt kiều ở Pháp mang lẵng hoa đến trụ sở đoàn chúc mừng nhân dân Việt Nam đã toàn thắng….

Năm 1998 Thượng toạ viên tịch tại Paris, chúng tôi đả đến dự lễ truy điệu tổ chức tại Viện Ðại Học Vạn Hạnh ở thành phố Hồ Chí Minh. Thắp nén hương vĩnh biệt Thượng toạ, chúng tôi bồi hồi tưởng nhớ các cố Hòa Thượng Thích Quảng Ðức, Thích Thiện Hào, Thích Thiện Hoa, Thích Ðôn Hậu, Ni Sư Huỳnh Liên, Quách Thị Trang, Nhất Chi Mai cùng hằng nghìn tín đồ Phật giáo luôn có mặt ở tuyến đầu trận địa chống Mỹ Nguỵ những người làm rạng rỡ truyền thống yêu nước của Phật giáo trong cuộc chiến giải phóng dân tộc suốt 30 năm ròng …." (ngưng trích)



Theo như Phan Nhẫn một đảng viên CS cao cấp là thành viên của cái gọi là CPCMLT tại hoà đàm Paris, đã viết những gì công đức từ những vị cao tăng cũng như chức sắc của Phật giáo chứng tỏ quí vị đã đóng góp tích cực cho CS lật đổ chính phủ VNCH gây nên một cuộc thảm họa cho dân tộc Việt Nam,quý vị đã lợi dụng Phật giáo để hoạt đầu chính trị


Về phần những linh mục "cấp tiến của Công giáo La Mã thì Phan Nhẫn cũng đã nêu tên một số linh mục như sau:

(...trong suốt 7 năm hoạt động ở Paris, địa chỉ mà hầu như chúng tôi có mặt hằng tuần là số nhà 18 đường Cardinal Lemoine, trụ sở của nhóm Linh mục cấp tiến Nguyễn Ðình Thi với tên gọi ban đầu là " Cộng Ðồng Việt nam" ( communaute’Vietnamienne) sau này mở rộng thành " Huynh Ðệ Việt Nam" ( Fraternite’ Việtnamienne ) thu hút thêm nhiều người Thiiên Chúa giáo có thiện chí với sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam….


Ngày 2-9-1969 , khi Chủ tích Hồ Chí Minh qua đời, ở Saigon Giáo sư Lý Chánh Trung đã viết bài ca ngợi công đức của Người (HCM) đăng trên một số nội san, còn tại Paris thì nhóm Limh mục cấp tiến Nguyễn Ðình Thi, Vương Ðình Bích (ở Tây Ðức ) Trần Tam Tỉnh (ở Canada) đã tổ chức truy điệu người rất tọng thể, thu hút đông đảo trí thức và tín đồ Thiên Chúa giáo tham gia. Ðược mời đến tham dư và mục kích lễ truy điệu Người theo nghi thức tôn giáo, chúng tôi càng hiểu rõ lập trường dấn thân của lực lượng Thiên chúa giáo ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Sau lễ truy điệu này Linh mục Vương Ðình Bích và một vàii Linh Mục khác đã trở về Saigon tăng cường cho lực lượng Công gíao tiến bộ trong nước, mở ra một thời kỳ mới, hoạt động có sự phối hợp giữa lực lượng trong và ngoài nước, tranh thủ được sự ủng hộ của của giới Thiên chúa giáo trong và ngoài nước, tranh thủ được sự ủng hộ của giới thiên chúa giáo cấp tiến trên thế giới , góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao của nhân dân miền Nam, Việt Nam…


Ngày nay khi mà toàn thề người công giáo Việt Nam đang kề vai sát cánh cùng nhân dân cả nước xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh công bằng (sic) dân chủ (sic) văn Minh (sic)** chúng tôi càng nhận rõ công lao to lớn của lục lượng Công giáo tiến bộ chọn con đường đi với Ðảng Cộng Sản Việt Nam, họ có quyền tự hào vì đã dẫn dắt giáo dân đi cùng với dân tộc , họ cũng có quyền tự hào vì đã rửa nhục cho Giáo Hội Công Giáo VIệt Nam…trang 448 ( ngưng trích)



Nếu như những gì Phan Nhẫn đã viết là đúng sự thật, thì chứng minh quý vị đã đóng góp tích cực cho CSVN đánh cho sập chính quyền miền Nam những mũi tên có tẩm thuốc độc được cất dấu an toàn sau lớp áo Cà Sa của quý Hoà Thượng, Thượng Toạ dưới bình phong đạo Phật và lớp áo chùng đen của quý Linh mục đã trực xạ vào những trái tim của nhân dân hiền lành Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng, vì nhân dân miền Bắc cũng đang mong đợi là họ sẽ được chính miền Nam ra giải phóng cho họ thoát khỏi ách gông cùm CS sau bao nhiêu năm cai trị tàn ác của bọn đồ tể Hồ Chí Minh cùng tập đoàn lãnh đạo CS.


Quý Thầy, quý Linh Mục đã dốc toàn lực vào cuộc chiến " đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào" quý vị tiếp tay với lũ quỷ đỏ đàn áp người dân man rợ nhất trong lịch sử nhân loại. Những tiếng kêu than từ những oan hồn đã chết do bọn CSVN gây nên vẫn còn mãi âm vang trong không gian sẽ là nổi ám ảnh suốt đời của quý vị, có bao giờ quý vị tự "xét mình", tự "sám hối" trước bàn thờ Phật hay dưới chân cây Thập Tự Giá chưa ? Theo giáo lý Thiên Chúa Giáo thì quý vị sẽ bị phán xét trước tòa Thiên Chúa cho những ai đã tiếp tây và tôn thờ ma quỹ.


Sự bất hạnh cho dân Việt Nam là hiện tại còn có những cao Tăng, những Linh Mục, Giám Mục vẫn liên tục tiếp tay cho bọn lãnh đạo CS tiếp tục đàn áp man rợ cho chính Phật Tử , Giáo Dân của quý vị và đồng bào vô tội.


Phan Nhẫn viết tiếp "…Cũng tại Paris này chúng tôi đã có những cuộc tiếp xúc riêng với một số cựu sĩ quan quân đội Sai Gòn sống lưu vong ở Pháp. Họ phần lớn là những người đã có một thời hết mình phụng sự " lý tưởng quốc gia chống cộng " như các cựu đại tá Ðổ Khắc Mai, Nguyễn Hữu Khương, các cựu trung tá Vương Văn Ðông ( cùng đại tá Nguyễn Chánh Thi làm cuộc đảo chánh hụt năm 1960), cựu trung tá chiến tranh tâm lý Nguyễn Văn Châu, cựu trung tá tình báo quân đội viễn chi Pháp Trần Ðình Lan…" (ngưng trích)


Quý vị công chức cao cấp , những đại tá trung tá của VNCH thì nay cũng đành quay lưng trở mặc với nhân dân miền Nam mà tiếp tay cho CSBV nếu quý vị "ngây thơ" đã không biết cái quái thai của CSBV là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là qúa khờ khạo, cho đến một anh nhân dân tự vệ còn biết là " bọn chúng (MTGPMV)là tay sai của cọng sản bắc Việt". Quý vị là những nhà khoa bảng những người đã từng hưởng qua nhiều ân huệ của nhân dân và chính quyền miền Nam mà nay đi theo phò tá cho CSBV thì có phải là " ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” ?


Về phần cựu đại tướng Nguyễn Khánh cũng đã từng một thời " khạc ra lửa" ở miền Nam khỏi nói ra ai cũng biết ông tướng này đã làm gì, chức vụ gì khỏi cần viết ra thêm tốn công người đọc và thẹn lòng với non sông gấm vóc có một " quái thai" Nguyễn Khánh nay theo phò chú Chánh để kiếm chút hư danh với chức Quốc Trưởng chính phủ của chú Chánh ban ơn cho.


Phan NHẫn dã viết gì về ông tướng này :

"….Chúng tôi cũng cần viết thêm về tướng lưu vong Nguyễn Khánh, người đã lật đổ Dương Văn Minh sau cuộc đảo chính Ngô Ðình Diệm , đã khai sinh hiến chương Vũng Tàu, bị phong trào sinh viên lật đổ và buộc phải ra đi để nhường chỗ cho Thiệu ,Kỳ rước quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam tháng 3-1965.


Khi sang sống lưu vong ở Pháp Khánh mang theo trong người bức thư của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát gởi cho ông ta vào thời kỳ Sai Gon trải các cuộc đảo chánh và cải tổ nội các triền miên. Chúng tôi biết rất rõ mục đích của ông ta giữ gìn một cách trang trọng bức thư ấy , coi như là chứng cứ về việc ông ta có quan hệ với Mặt trận . Vào giữa tháng 4-1975 khi quân ta đã giải phóng các tỉnh miền Nam Trung Bộ và đang siết chặt vòng vây chung quanh Sai Gòn , cũng là thời điểm mà vấn đề truất phế Thiệu đang được đặt ra, ông ta mời chúng tôi đến nhà trình bày về bức thư của Chủ Tịch Huỳnh Tấn Phát( với sự hiện diện của một người Pháp mà ông ta giới thiệu là công tác ở Bộ Ngoại giao) và báo cho chúng tôi biết là ông ta sẽ sang Mỹ để yêu cầu Mỹ cắt viện trợ và chấm dứt ủng hộ Nguyễn Văn Thiệu.


Chúng tôi hiểu rỏ ông ta muốn gì. Ngày 17-4-1975, tướng Khánh cho đăng trên tờ báo New York Times bài "Phải Viêt Nam hóa hoà bình " ( The Peace Must be Vietnamised) và vài ngày tước khi tướng Dương Văn Minh được Mỹ chấp nhận thay Trần Văn Hương làm Tổng thống, từ Washington , ông ta gọi điện thoại cho chúng tôi báo rằng "Hoa kỳ đã phế bỏ Nguyễn Văn Thiệu vậy ông ta cần tiếp tục làm gì?"Ðó là ngày 25-4-1975 khi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn sắp bắt đầu. Không chờ đợi phải xin ý kiến trong nước, chúng tôi trả lời ngay với ông ta rằng " hãy đòi hỏi Mỹ chấm dứt hoàn toàn sự can thiệp vào miền Nam Việt Nam ; vấn đề Namn Việt Nam sẻ được người Việt Nam giải quyết với nhau trong hoà bình…(trang 453-454)" (ngưng trích)



Kính thưa ÐT Khánh, Nếu những điều mà Phan Nhẫn đã viết là đúng sự thật , thì ngài là người từng ăn cơm , lớn lên và học hành thành tài tại miền Nam, ngài đã từng là Thủ Tướng, từng là Chủ Tịch Hội Ðồng Tướng Lãnh của VNCH tuy thời gian không lâu, ngài cũng đã từng là một vi tướng nắm giữ chức vụ tư lệnh vùng 2 chiến thuật với kinh nghiệm " lảo làng" chiến đấu với kẻ thù CS.


Nay ngài quay lưng với thuộc cấp của ngài, không cần " đâm sau lưng chiến sĩ" mà ngài trực xạ vào tim vào phổi vào óc của những sĩ quan, hạ sĩ quan cùng những người lính bình thường dưới quyền của Ðại Tướng trước kia.


Ngài có thể không thích TT Nguyễn Văn Thiệu, nhưng sau TT là quốc dân là đồng bào vô tội cùng thế hệ trẻ tương lai của đất nước . Ngài đã tiếp tay " nhận giặc (CS) làm cha" đồng lõa với CS để chúng đăt một chính sách cai trị bạo tàn , tròng vào cổ nhân dân VIệt Nam một chính sách thực dân đồng chủng. Ðại tướng là con đĩ về già hoạt đầu chính trị nay nằm dưới sự "bảo bọc" của tú bà Nguyễn hữu Chánh.


Kính thưa quý vị Cao Tăng, quý Linh Mục quý vị là những nhà tu, luôn lấy đức công bằng và bác ái đó là phương chân của bất kỳ một tôn giáo nào cũng huyên dạy tín hữu luôn noi theo.


Nhưng quý vị đã hành xử không công bằng cho chính quyền và nhân dân miền Nam, cuộc hiến Quốc Cộng là do Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng Sản bắc Việt khởi xướng và gây nên. Chúng dùng tất cả các phương tiện chiến tranh do Liên Xô và Trung Cộng cùng những nước CS viện trợ để tấn công, để giết hại nhân dân miền Nam.


Toàn quân cán chính và nhân miền Nam chỉ có bổn phận là tự vệ để sống còn nhằm mục đích bảo vê lấy mãnh đất tự do thân yêu không bị gót dày bành trướng và xâm lược của đoàn quân tay sai của Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản .


Quý vị đã lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để dấy lên phong trào chống chiến tranh, muốn chống chiến tranh là chống tận nguồn gốc người khởi xướng và bành trướng chiến tranh đó là Hồ CHí Minh và tập đoàn CS BV xâm lược miền Nam chứ không phải do chính quyền và nhân dân miền Nam.


Trong quý vị đã có một "sứ giả hoà bình nào" ra Hà Nội để tổ chức biểu tình tuyệt thực tự thiêu để phản đối Hồ Chính Minh chấm dứt xâm lăng miền Nam, như quý vị đã từng thực hiện những cuộc biểu tình, tuyệt thực tự thiêu để chống chiến tranh ở phía nam vĩ tuyến 17 .


HT Thích Trí Quang và Phật tử đã có khi nào đem bàn thờ phật lên con đường mòn HCM để ngăn chận đoàn xe Molotova của của Liên Xô viện trợ cho CSBV dùng vận chuyễn bộ đội súng ống đạn dược cung ứng cho chiến trường vào tàn sát lương dân vô tội của miền Nam, như Trí Quang và Phật tử đã khuấy động chận đoàn quân xa của Mỹ và QLVNCH ở các tỉnh miền trung.


Quý vị đã có bao giờ truy tố tội ác Liên Xô, Trung Cộng cùng các nước CS cung cấp vũ khí đạn dược cho CSBV gây nên cuộc chiến thảm khốc này chưa ? Quý vị đã có bao giờ lên án tội ác CSBV với dư luận quốc tế và vụ HCM và tay chân đã lạm sát nhiều trăm ngàn người trong "chiến dịch cải cách ruộng đất" và Tết Mậu Thân ?


Quý vị đã có bao giờ yêu cầu Hà Nội thi hành nghiêm chỉnh hiệp ước hòa bình đã ký kết, cũng như lên án trước dư luận quốc tế về việc CSBV vi phạm hiệp định Paris xua quân vào xâm chiếm miền Nam ?


Quý vị nhân danh "hoà bình ngăn chận chiến tranh" thì nên thực hiện tại nguồn gốc gây ra, quý vị lợi dụng cái vỏ bọc tôn giáo tranh đấu, tuyệt thực tự thiêu …để làm áp lực , để trói tay chính quyền, quân đội và nhân dân miền Nam để tự do cho CSBV cưỡng chiếm phần đất tự do thân yêu thì quá bất công vô đạo đức và không công bằng của bất cứ một tôn giáo nào.Quỷ là những con kên kên trọc đầu mặc áo cà sa mang tượng Phật và một bầy sư tử mặc áo chùng đen mang Thánh Giá .Bất hạnh cho dân tộc Việt Nam có những bầy quỷỹ đội lớp tôn giáo

Một đêm đông

Melbourne Úc Châu

Sơn Tùng

15 July 2010

Đồng tiền của VN ‘đang có vấn đề’


Đồng tiền của Việt Nam đang gặp vấn đề, do bị trượt giá

Đồng tiền của Việt Nam đang gặp vấn đề, do bị trượt giá.

Giám đốc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam cho rằng đồng tiền của Việt Nam đang gặp vấn đề, do bị trượt giá. Trong khi chỉ số lạm phát ở mức cao.

Trao đổi với BBC Việt Ngữ về chủ đề doanh nghiệp Hoa Kỳ quan tâm nhân Diễn đàn Doanh nghiệp họp tại Hà Nội hôm 2/12, Adam Sitkoff, Giám đốc phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam muốn chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô tốt hơn.
Ông Sitkoff cũng nói đến nghị định kiểm soát giá của chính phủ và nguyên tắc thương mại bình đẳng, nhà nước không can thiệp của WTO. Sau đây là trích đoạn cuộc phỏng vấn.
Adam Sitkoff: Có hai chủ đề chúng tôi nêu ra trong cuộc họp diễn đàn doanh nghiệp ngày 2/12 tại Hà Nội. Đó là chính phủ cần để ý duy trì ổn định kinh tế vĩ mô tốt hơn. Đề ra chính sách hữu hiệu để kiềm chế tỷ lệ lạm phát – vốn đang khá cao. Hiện lạm phát đang ảnh hưởng đến đời sống và sức mua của người dân. Thứ hai là chúng tôi muốn thấy chính phủ nghiêm túc thúc đẩy cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước. Sau vụ khủng hoảng tại Vinashin, chúng tôi quan sát thấy các tập đoàn kinh tế nhà nước khác phải nhận bớt nợ và bị gán tài sản của Vinashin. Cách giải quyết các khoản nợ của Vinashin vẫn còn chưa minh bạch.
Cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tin rằng chính phủ nên giảm bớt can thiệp vào quá trình làm ăn và kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh đó trong lúc tỷ lệ tư hữa hóa được đẩy mạnh, doanh nghiệp nhà nước vẫn kiểm soát hầu hết các loại hình kinh doanh quan trọng ở Việt Nam. Chúng tôi muốn thấy điều này thay đổi. Chính phủ nên tập trung vào các tiêu chuẩn kế toán, hạch toán được quốc tế công nhận liên quan đến cách tính thuế và thu thuế, để góp phần loại trừ tham nhũng. Hành động thường xuyên bơm thêm vốn cho doanh nghiệp quốc doanh đang ngập trong nợ nần không phải là cách dùng tiền thuế của dân tốt nhất.
BBC: Ông chủ tịch phòng Thương mại của quý ngài hôm qua có nói rằng Việt Nam có thể đang vi phạm luật WTO khi ra nghị định kiểm soát giá, chủ yếu liên quan tới các mặt hàng nhập cảng mà công ty Mỹ đang kinh doanh. Ông có chia sẻ cái nhìn như vậy hay không?
Adam Sitkoff: Tôi đồng ý với quan điểm như vậy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng công ty Mỹ không vui lắm trước quyết định kiểm soát giá của chính phủ. Chúng ảnh hưởng tới một số lĩnh vực kinh doanh. Điều xảy ra trong lúc này lại là, nghị định về giá của chính phủ hình như chỉ nhắm đến công ty nước ngoài nhập hàng về bán, chứ không nhắm đến công ty trong nước. Đó là lý do tại sau chúng tôi nói rằng rất có thể Việt Nam đang vi phạm lời văn và tinh thần của cam kết gia nhập WTO ba năm trước đây. Việt Nam đang gặp vấn đề về lạm phát. Và họ đang tìm cách kiểm soát. Tuy nhiên quy định về kiểm soát giá không phải là cách ổn định tình hình kinh tế vĩ mô hay nhất. VN cần có chính sách tiền tệ rõ ràng, minh bạch và ổn định. Việt Nam cần có biện pháp giảm bớt thâm thủng ngân sách. VN cần duy trì và khuyến khích sự cạnh tranh để giúp cho khu vực xuất khẩu. Việc để cho tiền Đồng đang mất giá, hoặc dựng lên các rào cản nhân tạo đối với hàng hóa nhập khẩu, những cách này không bao giờ giúp điều chỉnh được mất cân đối lớn về mặt cơ cấu.
BBC: Tại Đông Nam Á, đồng tiền của một số nước lên giá so với đôla Mỹ, vốn nước ngoài tìm dòng chảy vào thị trường chứng khoán, ở Việt Nam điều như vậy không xảy ra. Ông có thể giải thích tại sao?
Adam Sitkoff: Không một chút nghi ngờ, bức tranh kinh tế vĩ mô đang có đám mây đen ở cuối chân trời. Đồng tiền của VN hiện đang gặp vấn đề. Đối với doanh nhân nước ngoài. Đối với người trong nước. Rất ít người tin vào đồng bạc Việt Nam. Tiền đồng đang trong chu kỳ giảm giá. Đây là điều chính phủ cần giải quyết sớm. Tiền đồng mất giá làm cho chỉ số lạm phát tồi tệ hơn. Và làm nguội thị trường chứng khoán. Không có nhiều nước muốn ở trong hoàn cảnh như vậy. Một số người lập luận rằng giảm giá tiền đồng để giúp tăng cạnh tranh trong xuất khẩu. Tuy nhiên chính sách tài khóa đã không giúp gì chuyện này. Tôi hy vọng sau khi VN tổ chức xong đại hội đảng, bầu ra ban lãnh đạo mới, một trong những lĩnh vực họ cần để ý làm trước là ổn định kinh tế vĩ mô. Tại diễn đàn kinh doanh hôm qua (2/12) chúng tôi muốn điều này xảy ra sớm.

Sữa trộn với "MELAMINE"

Hãy chắc chắn rằng bạn đọc cho đến cuối cùng - rất thú vị -


Sự cố sữa nhiễm độc do Trung Quốc sản xuất làm tất cả mọi người đều sợ
Mỗi ngày, các báo cáo được thay đổi. Không ai có thể cho chúng ta biết rỏ ràng những gì được ăn và những gì không được ăn
.

1. Nhiễm độc sữa là như thế nào?

Đó là bột sữa trộn với "MELAMINE"

Melamine được sử dụng để làm gì?
Nó là một hóa chất công ngiệp sử dụng trong sản xuất melawares
.



Nó cũng được dùng trong trang trí nội thất



Chúng ta đều phải hiểu rằng melamine được sử dụng trong công nghiệp sản xuất

- - - - - Nó
KHÔNG được ăn.


2. Tại sao trộn Melamine vào sữa bột?

Các chất dinh dưỡng quan trọng nhất trong sữa là protein .
Và, Melamine có cùng một loại protein này có chứa 'nitơ'




Thêm Melamine vào sữa làm giảm hàm lượng sữa thực tế cần thiết,
và do đó nó là rẻ hơn so với sữa tất cả. Vì vậy, nó giảm vốn sản xuất sản phẩm đó


Dưới đây là Melamine; không nó trông giống như sữa / bột sữa?
Nó không có mùi vị gì, do đó không thể được phát hiện.







3. Khi nào người ta khám phá ra Melamine bị trộn vào các
sản phẩm sữa ?


Trong năm 2007, Mỹ và chó mèo đã chết bất ngờ, họ thấy thực phẩm thú vật của
Trung Quốc có chứa melamine
. Đầu năm 2008, tại Trung Quốc, sự gia tăng bất thường
trong trường hợp trẻ em bị sạn thận đã được báo cáo
.



Trong tháng 8 năm 2008, Trung Quốc sữa bột Tam Lộc được xét nghiệm melamine



Tháng chín năm 2008, Chính phủ New Zealand yêu cầu Trung Quốc để điều tra vấn đề này
Ngày 21 tháng 9 năm 2008, họ đã tìm thấy Melamine trong nhiều sản phẩm thực phẩm
tại Đài Loan



4. Sự cố nào sẽ xảy ra khi ăn phải Melamine ?

Melamine bị giữ lại ở thận. Nó tạo thành sỏi thận làm nghẽn các ống dẫn,
sẽ làm bệnh nhân đau đớn và không thể tiểu tiện. Thận (s) sau đó sẽ sưng lên.



Mặc dù phẫu thuật có thể loại bỏ những viên sỏi, nhưng thận sẽ bị tổn thương vĩnh viễn.
Nó có thể dẫn đến sự mất chức năng thận và phải chạy lọc thận hoặc dẫn đến tử vong
do nhiễm độc niệu.


Chạy thận là gì? Trong thực tế, nó nên được gọi là "rửa máu", một cái máy sẽ lọc tất cả máu
của cơ thể sau đó trả lại máu trở lại cơ thể
.



Toàn bộ quá trình mất 4 giờ, và cứ 3 ngày chạy một lần cho đến cuối cuộc đời bạn.

Dưới đây: Một trung tâm chạy thận



Dưới đây: Một trung tâm chạy thận lớn


Một lỗ nhỏ là cần thiết trong cánh tay để đưa ống thông tiểu, lọc máu.

Tại sao nó nghiêm trọng hơn nhiều ở trẻ sơ sinh?
Một quả thận của em bé rất nhỏ .và em bé phải uống nhiều sửa

Dưới đây: Một em bé bị lọc thận.



Trung Quốc hiện có 13.000 trẻ em nhập viện




Điều quan trọng là: "MELAMINE KHÔNG được ăn!"


5. Các loại thực phẩm nào cần tránh?

Thực phẩm từ Trung Quốc có chứa các sản phẩm sữa nên tránh.



Hãy nhớ rằng: thực phẩm có kem hay sữa đều phải tránh.


6.Các công ty nào bị ảnh hưởng?

Sau đây là những công ty bị ảnh hưởng với melamine.


-------------------------------------------------- -------




7. Chúng ta phải làm gì tiếp theo?


Tránh các thực phẩm trên đây ít nhất sáu tháng.

Nếu bạn sở hữu hoặc điều hành một quán ăn nhanh, nhà hàng, hoặc các cửa hàng cà phê, vv

ngừng bán các sản phẩm sữa cho thời gian chờ đợi.

Nếu bạn có trẻ em ở nhà, thay đổi của sữa mẹ hoặc tìm thấy sản phẩm thay thế khác.

Cuối cùng, chia sẻ thông tin với bạn bè để họ sẽ hiểu được nguy cơ ngộ độc sữa
.

Cả thế giới là rất sợ "Made In China"


Làm thế nào để phân biệt những sản phẩm được sản xuất tại
Mỹ, hoặc ở Philippines, Đài Loan, hoặc ở Trung Quốc?


Dưới đây là cách để biết nguồn gốc cuả các sản phẩm:

Có 3 chữ số đầu tiên của mã vạch xác định mã quốc gia
trong đó sản phẩm được thực hiện.


Ví dụ: tất cả các
mã vạch bắt đầu bằng 690, 691, 692, vv. .
lên đến và bao gồm 695 là tất cả các LÀM TẠI TRUNG QUỐC.

Mã vạch bắt đầu bằng 471 được in trên các sản phẩm Xuất xứ Đài Loan.






Bạn có quyền được biết. Nhưng chính phủ và ngành liên quan
không bao giờ thông báo hoặc giáo dục công chúng.
Do đó chúng ta phải giáo dục cho chính mình, thận trọng, và
cứu hộ mình.

Hôm nay, các doanh nhân Trung Quốc biết rằng người tiêu dùng sẽ
không lựa chọn sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc. Vì vậy, họ cố gắng
hết sức để không làm hiển thị tên của quốc gia sản xuất các sản phẩm

Tuy nhiên, bạn có thể biết được xuất xứ của các sản phẩm
nhờ những
số đầu tiên của mã vạch.

Sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc có mã số bắt đầu bằng 690 đến 695


CÁC MÃ VẠCH:

00 ~ 13 USA & CANADA

30 ~ 37 FRANCE

40 ~ 44 CHLB Đức

49 ~ NHẬT BẢN

50 ~ Vương quốc Anh

57 ~ Đan Mạch

64 ~ Phần Lan

76 ~ Thụy Sĩ và Liechtenstein

628 ~ Ả-Rập Saudi

629 ~ United Arab Emirates
740 ~ 745 - Trung Mỹ

Sản phẩm xuất xứ từ Philippine mang mã số 480

Xin vui lòng thông báo cho gia đình và bạn bè của bạn.
HÃY CẨN TRỌNG KHI MUA THỰC PHẨM CHO GIA ĐÌNH:

=> LƯU Ý LÀ HÀNG TRUNG QUỐC CÓ SỐ MÃ VẠCH BẮT ĐẦU BẰNG CÁC SỐ:
690................
691................
692................
693................
694................
695................

XIN CHÚC SỨC KHỎE & SỨC KHỎE LÀ VÀNG.

Tỷ phú “2 đô” và huyền thoại Việt trên đất Mỹ



Một thanh niên người Việt đặt chân đến Mỹ với vỏn vẹn 2 USD trong túi và rồi 15 năm sau, anh đã bán công ty riêng của mình với giá 1,8 tỷ USD.
Thành công đầy ấn tượng của nhà doanh nghiệp trẻ người Việt tên là Trung Dũng đang thu hút giới truyền thông Mỹ. Anh đang trở thành một "huyền thoại" trong thế giới công nghệ cao.

Những bài viết về anh xuất hiện trên các báo và tạp chí nổi tiếng như Forbes, Fortune, Financial Times, Wall Street Journal, San Francisco Chronicle... và trong cuốn sách Giấc mơ Mỹ của biên tập viên đài CBS Dan Rather.


Nhà doanh nghiệp trẻ Trung Dũng.

Liều thuốc uớc mơ!
Bước ngoặt lớn đầu tiên đến với anh 20 năm trước đây khi là một chàng trai 17 tuổi. Năm 1984, Trung Dũng rời Việt Nam sang Mỹ. Lúc bấy giờ, trong túi anh chỉ có vỏn vẹn 2 USD và vốn tiếng Anh rất ít ỏi.
Lúc đầu anh và người chị của mình xin được lưu trú ở Louisiana, sau đó chuyển sang Boston. Một năm sau, anh may mắn vượt qua được kỳ thi tương đương trung học và ghi tên học hai môn Toán và Tin học ở Trường Đại học Massachusetts ở Boston.
Trung Dũng tiếp tục vừa học vừa làm đủ thứ công việc, từ rửa chén bát trong nhà hàng đến kỹ thuật viên trong các phòng máy tính để nuôi sống bản thân và gia đình. Hàng tháng anh trích một phần ba khoản thu nhập từ 300 đến 400 USD để gửi về cho gia đình ở Việt Nam.
Cuối cùng anh đã lấy được hai bằng đại học về toán và tin học, đồng thời hoàn tất một phần lớn chương trình cao học.
Cũng trong thời gian đó, mẹ anh bị bệnh ung thư, anh phải tạm dừng việc học để đi làm cả ngày kiếm tiền lo cho mẹ. Cuối năm 1995, sau khi mẹ mất, anh từ bỏ công việc chạy thử phần mềm để theo đuổi kế hoạch: Phát triển một chương trình có thể giúp các công ty chỉ đạo, kiểm soát, quản lý công việc kinh doanh qua mạng.
Do không có đủ tiền mua máy tính xách tay, anh phải gắn chiếc máy tính cá nhân cồng kềnh và màn hình 17-inches lên chiếc xe hơi Honda Civic rồi "kéo lê" nó đi từ nơi này đến nơi khác để giới thiệu phần mềm của mình.
Do không có bề dày thành tích, anh chẳng thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp. Vốn đã ốm yếu, anh lại càng ốm hơn do bị sụt cân và trở nên xanh xao vì mất ngủ do bị giằng xé giữa sức ép phải nuôi sống gia đình và thực hiện ước mơ của mình.
May mắn thay, một người bạn giới thiệu anh với Mark Pine, nguyên là Ủy viên Ban Quản trị Sybase Inc đã về hưu nhưng vẫn muốn nhảy vào ngành công nghệ kỹ thuật cao. Đó là một cơ hội mà Dũng quyết định không để vuột mất.
Thành công

Được sự hỗ trợ của Mark Pine, OnDisplay trở thành một trong những công ty phần mềm thành công, thu hút những khách hàng như Travelocity.com. Ý tưởng của anh đã thuyết phục được các nhà đầu tư và huy động được 35 triệu USD từ các nhà đầu tư trước khi chuyển sang cổ phần hóa.
Với kiến thức về máy tính, Trung Dũng thành lập OnDisplay, chương trình giúp các doanh nghiệp lấy dữ liệu từ những vị trí khác trên mạng trong khi vẫn ở tại chỗ của mình.
Khi công ty chuyển sang cổ phần hóa (năm 1999), trị giá cổ phiếu của Trung Dũng trên giấy tờ là 85 triệu USD. Năm tháng sau, công ty và thương hiệu của nó được chuyển nhượng cho Vignette với cái giá 1,8 tỷ USD.
Ở khu trường sở Bishop Ranch tại San Ramon, trong tòa cao ốc cạnh trụ sở cũ của OnDisplay, Trung Dũng lại mở một công ty phần mềm mới, một công ty Fogbreak mà anh hy vọng sẽ "tỏa sáng" hơn công ty trước của mình.
Với Fogbreak, anh đặt mức yêu cầu cao hơn trước. Vừa là sáng lập viên, vừa đảm nhiệm chức vụ Giám đốc điều hành, anh muốn làm cho Fogbreak phát triển thành một công ty lớn và có lợi nhuận ngang ngửa với PeopleSoft nổi tiếng của Mỹ.
Khiêm tốn!

Hiện nay Fogbreak vẫn đang đối mặt với những thách thức của thị trường kỹ thuật cao, đang tăng cao trong những tháng gần đây, nhưng không đến nỗi nóng bỏng như thời OnDisplay.
Oracle Corp
và PeopleSoft xích lại gần nhau trên thị trường phần mềm, trong khi đó các doanh nghiệp vẫn còn thận trọng khi mua những sản phẩm của một công ty mới phát triển mà họ lo rằng sẽ không còn tồn tại trong những năm tới. Nhưng Dũng không hề nhụt chí.
Trụ sở chính của Fogbreak, công ty mới của Trung Dũng chẳng có chút hào nhoáng để xứng tầm với một người vừa tạo lập một gia tài kếch xù. Từng cả gan thành lập công ty trong bối cảnh kinh tế suy sụp, Trung Dũng hiểu rằng không được hoang phí trong chi tiêu. Anh thà không có thư ký và một văn phòng xa hoa lộng lẫy để tập trung tất cả cho nhu cầu của khách hàng.
Những người từng gặp người tỷ phú này khi anh còn là một chàng trai tay trắng đều nhận xét rằng, anh là một người rất khiêm tốn. Anh thành công vì đã biết nắm bắt cơ hội một cách nghiêm túc. Theo BWP

Về Quê ...

Hôm đó là ngày thứ năm. Phải, ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11, ngày lễ Tạ Ơn của nước Mỹ. Tôi không phải đi làm, suốt cả ngày hết ăn rồi lại nằm, hết nằm rồi lại xem Ti Vi, cố gắng tận hưởng những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi ở cái đất nước văn minh cơ khí này. Chợt nhìn đồng hồ thấy đã gần 5 giờ chiều, tôi vội vàng đi thay quần áo để ra bờ biển làm thủ tục chạy bộ hàng ngày. Cách đây mấy tháng, từ lúc bà xã tôi tình cờ phát giác ra cái vòng số hai của tôi càng lúc càng lớn ra và tôi càng lúc càng có triển vọng đoạt giải nhất cuộc thi lực sĩ "bụng nở ngực thon", thì bà ấy, ngoài việc cấm tôi ăn các đồ béo, lại còn âu yếm ra lệnh cho tôi mỗi ngày: sau khi từ sở làm về, phải ra bờ biển gần nhà chạy bộ ít ra là 4 dặm để tiêu đi bớt mỡ. Tôi kính cẩn tuân lời (các cụ dạy rằng: "Có 3 loại tội bất hiếu, không tuân lời vợ là tội lớn nhất". Tôi xin chép lại nguyên văn chữ Hán để quý vị tiện đường tham khảo: "Bất hiếu hữu tam, bất tuân thê lệnh vi đại"). Và từ đó, bất kể nắng mưa sáng tối, cứ vào khoảng 5 giờ chiều là những người đi dạo tại bờ biển Newport Beach lại thấy một anh chàng Việt nam ỳ à ỳ ạch bê cái thùng nước lèo của mình từ Newport Pier tới Balboa Pier và trở lại. Đoạn đường chiến binh dài đúng 4 dặm!

> Bà xã tôi thấy tôi bước ra cửa bèn nhẹ nhàng bảo:

> - Hôm nay là ngày Lễ Tạ Ơn, em cho phép anh nghỉ ở nhà một bữa.

> Tiếc công mặc quần áo và thoáng thấy mấy rổ đồ giặt mới lấy từ máy sấy ra chưa kịp gấp, tôi vội vàng vừa đi vừa bảo:

> - Thôi em ạ, thể dục phải chuyên cần mới có kết quả. Nghỉ được một ngày thì sẽ nghỉ mãi. Anh ra chạy chừng một tiếng sẽ về ngay.

> Bà xã tôi dặn với theo:

> - Anh ráng về sớm để ăn cơm với các con.

> Tôi hấp tấp gật đầu và dong xe đi ra bờ biển.

> Thực tình trong bụng hôm nay tôi cũng muốn ở nhà cho khoẻ, nhưng không hiểu có một mãnh lực nào thôi thúc tôi phải cương quyết đi cho bằng được. Chả lẽ... vì bà cụ chăng ? Không có lý! Tôi vừa lái xe vừa thắc mắc mà không tìm ra câu trả lời. Có một điều gì đó mà sau này tôi mới hiểu được.

> Vừa đặt chân xuống bờ biển, tôi đã thấy ngay bóng bà cụ đổ dài trên bãi cát sát chân trạm cấp cứu số 13. Trạm cấp cứu này nằm giữa đoạn đường chay bộ của tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm, lòng bỗng thấy mừng thầm mà không hiểu tại sao. À, thế là hôm nay bà cụ cũng ra hóng gió.

> Không biết bà cụ đã bắt đầu mỗi chiều ra ngồi ở chỗ đó từ ngày tháng nào. Tôi chỉ biết là kể từ lúc tôi thực hiện chương trình thể dục bất đắc dĩ này thì tôi đã thấy cụ ngồi đó rồi. Mỗi ngày cụ đều đến trước tôi, và khi tôi ra về thì cụ vẫn còn ngồi đó.

> Đó là một bà cụ Á châu vào khoảng trên dưới 80 tuổi mà tôi nghĩ là người Việt nam. Tôi chỉ đoán thế dựa trên cách ăn mặc của cụ vì chưa bao giờ tôi được cụ mở miệng ban cho một câu, hoặc nhìn một cái. Mỗi ngày lúc chạy ngang qua cụ tôi đều nhìn cụ gật đầu chào, mong có cơ hội làm quen, vì nhìn cụ, tôi lại liên tưởng đến mẹ tôi cũng cỡ tuổi như cụ đang còn ở tại quê nhà. Đáp lại, cụ chỉ lạnh lùng khẽ gật đầu, mắt vẫn đăm đăm nhìn ra xa như muốn tìm kiếm cái gì bên kia bờ Thái Bình Dương. Cái gật đầu thật là nhẹ, phải để ý lắm mới thấy được. Và cũng chưa bao giờ tôi chạm được ánh mắt cụ. Cặp mắt buồn xa xôi dưới vầng trán nhăn nheo luôn luôn hướng ra khơi. Nhiều lúc tôi muốn tìm cách gợi chuyện với cụ nhưng cuối cùng lại thôi vì tôn trọng sự kín đáo của cụ. Mối liên hệ giữa tôi và cụ chỉ có thế, giới hạn trong hai cái gật đầu trong lần đi và trong lần về. Nghi thức xã giao này được lặp đi lặp lại mỗi ngày trong mấy tháng trời qua.

> Hôm nay cũng thế, khi đến gần cụ tôi lại nhìn cụ cúi đầu chào, hai chân vẫn tiếp tục chạy.

> - Chào cậu!

> Tôi nghe như bị điện giật, hai chân khựng lại. Tôi vội quay nhìn cụ và ấp a ấp úng:

> - Kính chào cụ. Cụ là người Việt nam?

> Cụ nhìn tôi khe khẽ gật đầu, nét mặt vẫn lạnh lùng không lộ chút tình cảm nào. Nhưng khi cụ nhìn tôi, tôi thoáng thấy trong ánh mắt cụ ẩn hiện một chút hóm hỉnh như có vẻ giễu cợt sự ngây ngô của tôi: người ta đã nói "Chào cậu" mà mình lại còn hỏi "Cụ là người Việt nam?"

> Tôi lúng túng tần ngần chưa biết phải làm gì thì cụ đã bảo:

> - Cậu ngồi xuống đây mình nói chuyện một chút. Hôm nay tôi có ý đợi cậu.

> Tôi rón rén ngồi xuống cát, cách xa cụ độ một sải tay. Tôi đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác, không biết bà cụ đợi tôi có chuyện gì.

> Như hiểu ý tôi, cụ ôn tồn bảo, giọng nói đã bớt đi một tí lạnh lùng:

> - Cậu ngạc nhiên lắm phải không? Cậu ngạc nhiên là phải vì điều này hơi đột ngột đối với cậu. Tôi muốn gặp cậu chiều nay để từ giã cậu và cám ơn cậu đã chào hỏi tôi trong mấy tháng qua. Hôm nay là ngày cuối tôi ra đây. Mai tôi về quê.

> Tôi nghĩ thầm trong bụng, bà cụ có vẻ nhà quê nhưng lại thông minh đáo để và nhận xét người hết sức sâu sắc. Bây giờ mới có dịp quan sát kỹ cụ, tôi bỗng thấy nét mặt cụ có vẻ quen quen, nhưng không nhớ ra là đã thấy cụ ở đâu trước khi gặp cụ nơi bờ biển này. Tôi vội vàng hỏi:

> - Cụ về Việt nam?

> Tôi lại hỏi một câu ngớ ngẩn nữa. Cụ chậm rãi gật gù , mắt không thèm nhìn tôi:

> - Vâng, về quê... về Việt nam... về làng... về Hải Dương... Cậu có biết Hải Dương ở đâu không nhỉ?

> Và không đợi tôi trả lời, cụ nói tiếp:

> - Hải Dương là quê của tôi đấy. Ngày mai người con cả của tôi sẽ đưa tôi về đấy. Tôi xa quê từ năm 54, bây giờ mới có dịp về. À, cậu trông thấy tôi quen quen phải không ? Bà cụ của vợ cậu lúc còn sống thường hay đi chùa với tôi và tôi nhớ hình như có thấy cậu đôi lần lúc cậu lên chùa đón cụ ... Ông nhà tôi ngày xưa làm Tuần phủ nên mọi người đều gọi tôi là cụ Tuần, mãi rồi tôi quên hẳn tên thật của mình.

> À ra thế. Cụ Tuần. Hèn gì thấy mặt bà cụ quen quen. Và tôi cũng nhớ ra lúc còn sống, mẹ vợ tôi cũng có nhắc đến tên các bà bạn đi chùa của cụ, trong đó hình như có tên cụ Tuần. Tôi bỗng thấy hơi gờm bà cụ. Sao cụ biết tôi thắc mắc như thế mà trả lời? Tôi bèn đưa đẩy:

> - Thảo nào mà cháu thấy cụ quen quen. Hóa ra cụ là bạn của mẹ cháu. Thế thì mình là người nhà cả.

> Cụ cười nhẹ:

> - Chính vì thế mà tôi muốn gặp cậu hôm nay để nói chuyện lần cuối và từ biệt cậu, kẻo mai kia cậu lại thắc mắc không biết cái bà cụ mặt mày lạnh lùng khó đăm đăm kia đi đâu mất rồi.

> Tôi đỏ mặt, không ngờ bà cụ lại nói đúng ý nghĩ của tôi. Quả thật trước kia, sau mỗi lần chào cụ và chỉ nhận được một cái gật đầu như gió thoảng của cụ, tôi hay lẩm bẩm trong bụng: sao mặt mày bà cụ lại lạnh lùng khó đăm đăm thế!

> Cụ nhìn tôi tiếp tục:

> - Tôi theo thằng con cả qua đây năm 75, tính đến nay đã được 20 năm. Ngày mai là lần đầu tiên tôi về quê. Và tôi sẽ ở luôn bên Việt nam, không qua đây nữa. Ấy, cậu đừng hỏi tại sao. Lá rụng về cội. Người già nào cũng muốn được chôn xác ở quê cha đất tổ. Tôi đã muốn về từ mấy năm trước cơ, nhưng vì công việc làm ăn kỳ này con trai tôi mới đưa tôi về được. Muộn còn hơn không ...

> Rồi cụ thao thao kể cho tôi nghe về gia đình cụ, về cụ ông, về cậu con trai, về đời sống của cụ tại Hoa kỳ, về việc cụ mỗi chiều ra bờ biển vọng về phía bên kia bờ đại dương để nhớ tới quê nhà ... Trong câu chuyện, hình như cụ đoán trước được các câu hỏi tôi định đặt ra và cụ đã trả lời trước khi tôi kịp mở miệng. Thành ra trong suốt hơn một tiếng đồng hồ tôi không chen vào được một chữ.

> Cụ bỗng chép miệng, thở dài và bảo:

> - Thôi trời tối rồi, cậu về nhà đi, vợ con cậu đang chờ cơm. Câu chuyện tôi định kể cho cậu hôm nay chỉ có thế. Chúc cậu ở lại Mỹ mạnh giỏi, mai tôi về quê. Cậu về trước đi. Tôi nán lại thêm một tí rồi sẽ về sau.

> Tôi ngỏ ý muốn đưa cụ về nhà nhưng cụ từ chối. Tôi đứng dậy từ giã cụ, miệng lí nhí nói ít lời cầu chúc cho cụ thượng lộ bình an. Nhìn thấy vẻ bùi ngùi lưu luyến của tôi, cụ cười bảo:

> - Cậu đừng buồn vì nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại nhau . Mọi sự trên đời đều không có gì đi ra ngoài chữ "duyên". Nếu còn có duyên với nhau thì cậu sẽ có dịp gặp lại tôi, e rằng lúc đó cậu lại không thích.

> Cụ đưa tay khoát vẫy tôi đi. Không dám nói gì hơn, tôi nhìn cụ lần cuối và từ từ quay đi về hướng đậu xe, lòng cảm thấy hơi bùi ngùi khi phải chia tay với cụ.

> Và kể từ lúc đó, chẳng bao giờ tôi thấy lại bà cụ nữa trong những lần chạy bộ của tôi. Hy vọng cụ sung sướng ở quê nhà.

Một năm sau, cũng vào dịp lễ Tạ Ơn, một người Việt nam mới vào làm chung hãng với tôi có nhã ý mời các đồng nghiệp người Việt trong sở tới nhà để chung vui nhân dịp sinh nhật 16 tuổi đứa con gái đầu lòng của anh. Bà xã tôi vì bận việc nên tôi được phép đi dự tiệc một mình.

Vì tới đúng giờ nên tôi là người khách đầu tiên. Chủ nhà niềm nở đưa tôi vào phòng khách nhâm nhi tí rượu trong khi chờ đợi các vị khách Việt khác điều chỉnh đồng hồ của họ. Căn phòng khách được trang hoàng một cách đơn giản nhưng rất lịch sự và tươm tất. Thoáng ngửi thấy mùi hương, tôi quay nhìn về phía cuối phòng và choáng váng khi thấy bức ảnh trên bàn thờ ẩn hiện sau làn khói mỏng của nén hương. Tôi sững sờ vì rõ ràng đó là hình bà cụ tôi gặp ngoài bờ biển. Vẫn khuôn mặt "lạnh lùng khó đăm đăm" đó, vẫn cái nhìn xa vắng pha lẫn một tí giễu cợt đó, không thể nào sai được. Tôi vội hỏi anh Phong, người chủ nhà:

> - Có phải đó là hình của cụ Tuần không?

> Anh Phong gật đầu:

> - Vâng, đó là hình của mẹ tôi, ở chùa người ta hay gọi cụ là cụ Tuần, vì ngày xưa ông cụ của tôi làm Tuần phủ. Sao anh lại biết mẹ tôi?

> Tôi vội vàng nói chữa:

> - Tôi biết cụ vì ngày xưa cụ cùng đi chùa với bà cụ mẹ vợ tôi.

> - À ra thế! Thì ra mình là người nhà cả, anh hân hoan gật gù.

> Tôi chết điếng trong lòng, không ngờ mới gặp nhau năm trước mà cụ đã mất rồi. Tôi lắp bắp:

> - Cụ mất lúc nào vậy anh Phong?

> - Cũng được hơn 5 năm rồi đó anh.

> Câu trả lời của người chủ nhà làm tóc tai tôi muốn dựng đứng hết cả lên. Tôi lặp lại như một cái máy:

> - 5 năm . . .

> Không để ý đến vẻ khác lạ của tôi, người chủ nhà kể tiếp:

> - Phải, mẹ tôi mất cách đây cũng đã hơn 5 năm, mà mãi đến năm ngoái sau ngày Lễ Tạ Ơn tôi mới có dịp đem tro của cụ về an táng tại quê nhà ở Hải Dương, đáp ứng được nguyện vọng cuối cùng của cụ.

> Tôi tái người nhớ lại lần nói chuyện giữa tôi và cụ đã xảy ra vào đúng ngày lễ Tạ Ơn năm ngoái, một ngày trước khi con trai cụ đưa tro cụ về Việt nam.

> Chúng tôi hai người im lặng giây lát như để tưởng niệm người quá cố. Chủ nhà chầm chậm ngước mắt nhìn về phía bàn thờ. Và lần này thì đến phiên anh ngạc nhiên hốt hoảng. Anh lẩm bẩm:

> - Quái lạ, ai thay bức hình đấy nhỉ ?

> Tôi quay đầu lại nhìn bức hình và cũng ngạc nhiên không kém. Rõ ràng là ít phút trước đây nét mặt người trong hình lạnh lùng nghiêm nghị, môi mím chặt thế mà bây giờ trong hình bà cụ đang cười tươi, để lộ gần nguyên hàm răng đen bóng, hai con mắt lá răm hiện đầy vẻ tinh nghịch.

> Người chủ nhà hướng về phía vợ đang lui cui trong nhà bếp hỏi lớn:

> - Em ơi, có phải em thay hình của mẹ trên bàn thờ không ?

> Người vợ lên tiếng nói vọng ra trong khi vẫn tiếp tục làm đồ ăn:

> - Em đâu biết hình ảnh gì đâu. Anh là người giữ các bức ảnh mà.

> Người chồng hừ nhỏ một tiếng trong cổ, nét mặt đầy vẻ bối rối băn khoăn. Khi mắt anh chạm phải tia nhìn dọ hỏi của tôi, anh vội giải thích:

> - Anh biết không, khi mẹ tôi mất, chúng tôi có phóng lớn và làm khung hai bức ảnh của cụ vì lúc đó phân vân không biết chọn bức nào để thờ. Một bức có hình cụ tươi cười như anh đang thấy đây, và bức kia thì mặt cụ nghiêm trang không cười. Sau khi cả gia đình hội ý với nhau, chúng tôi chọn bức không cười để đặt trên bàn thờ và cất bức kia vào tủ. Tôi là người phụ trách bàn thờ và giữ hai bức ảnh vì tôi là con cả. Tôi nhớ là chỉ có chưng bức hình không cười lên bàn thờ mà thôi. Không hiểu tại sao hôm nay lại biến thành bức hình này như thế.

> Tôi vội nhìn lên bàn thờ và quan sát kỹ lại bức ảnh. Không biết tôi có tưởng tượng hay không nhưng rõ ràng tôi thấy trong ánh mắt của cụ hiện lên một vẻ tinh nghịch hân hoan đượm nét ngây thơ của trẻ con pha lẫn một chút dịu dàng từ ái của lòng mẹ. Tôi định lẩm bẩm trách thầm cụ trong lòng rằng cụ đã bảo với tôi năm ngoái là cụ về quê thế mà giờ này cụ còn ở đây nghịch phá. Nhưng ý định trách móc vội tan biến ngay khi tôi chợt nhớ lại lời nói cuối cùng của cụ với tôi về chữ "duyên" : "Mọi sự trên đời đều không có gì đi ra ngoài chữ "duyên". Nếu còn có duyên với nhau thì cậu sẽ có dịp gặp lại tôi, e rằng lúc đó cậu lại không thích". Tôi vội vã nói thầm lời xin lỗi cụ. Trong khi đó, người chủ nhà vẫn lộ vẻ thắc mắc bất an.

> - Anh Phong này ....

> Tôi buột miệng định kể cho anh chủ nhà biết sự tao ngộ ly kỳ giữa tôi và bà cụ của anh, nhưng vội nín bặt khi thoáng thấy ánh mắt can ngăn của bà cụ trong bức hình.

> - Gì thế anh? , người chủ nhà vội hỏi.

> Tôi bèn tìm lời khỏa lấp:

> - Tôi nghĩ là có thể một lúc nào đó anh đã thay bức hình và quên bẵng đi. Với tuổi tác bọn mình bây giờ, làm trước quên sau là chuyện thường.

> Người chủ nhà lịch sự gật đầu đồng ý, nhưng có vẻ không tin tưởng lắm vào lời giải thích.

> Những người khách Việt giữ đúng truyền thống giờ cao su đang lục tục kéo đến, và chúng tôi đành bỏ dở câu chuyện để đi chào đón mọi người. Lợi dụng lúc đông người lu bu, tôi chuẩn bị chuồn êm sau khi đã nhờ một người bạn chuyển lời cáo lỗi của tôi tới chủ nhà, viện cớ là bỗng dưng tôi không thấy khỏe. Quả thật là tôi bắt đầu cảm thấy rờn rợn mỗi khi nhìn lên bàn thờ và chạm phải ánh mắt tinh nghịch của người trong ảnh. Không dám nhìn thẳng vào bức ảnh, tôi thầm nói lời từ biệt với cụ và lẳng lặng lách mình ra cổng. Không ngoái cổ nhìn lại, tôi cắm đầu rảo bước như bay đến chỗ đậu xe. Trong tiếng gió thoảng của một chiều cuối thu, mường tượng như có ai nói khẽ vào tai tôi hai tiếng: "Chào cậu".

Trần Văn Lương

Bài Xem Nhiều