We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 8 December 2010

Kẻ đi cửa hậu

Vừa rồi Cậu Bảy đi dự “đám cưới lại’ của thằng bạn thân. Nó cũng đà trộng tuổi mà chưa có vợ vì cái tuổi thanh xuân bầm dập trong tù, trong trại tỵ nạn, rồi qua Mỹ đi cày ngày hai buổi. Vài năm trước nó về thăm nhà sau gần hai thập niên xa cách, gặp nàng và nó bỗng hồi xuân rất nhanh. Tụi nó, cô trinh nữ trẻ trung xinh xắn và chàng Việt kiều sồn sồn, thương nhau rất mau và chân tình thắm thiết lắm. Thế rồi cưới và mang nàng về dinh. Qua Mỹ nó làm đám cưới lại để khoe với anh em. Nhậu một bữa đã đời trong đêm “tân hôn” của nó. Bạn bè thằng nào có ý tế nhị muốn về sớm thì nó nạt ngang: “Động phòng động phiếc gì mà tụi bay lo, bữa nay tao dzui với tụi bay. Dzô!” Cũng nên nói thêm thì trong buổi tiệc đó, thực khách bàn đủ chuyện trên đời, nhưng đề tài hấp dẫn nhất vẫn là tình hình chính trị tại Việt Nam. Gì chớ nói dóc chuyện chính trị thì Cậu Bảy hăng lắm. Từ chuyện WTO, PNTR, ông Triết, ông Dũng, ông Mạnh, cá tra, cá dồ, tôm xuất khẩu, dâu Đài loan, đĩ Đại hàn, lật đò, đấu tố, bắt cóc, đánh người, bịt miệng, vu khống, ...hầm bà lằng cậu đều có mặt. Thế giới như trong lòng bàn tay của cậu. Kiến thức thông thái như thế cũng nhờ học lóm bà con trên diễn đàn. Vì thế mà khi lết tới nhà thì Cậu Bảy say mèm, quần áo để nguyên, chỉ nới cái cà vạt, nằm dài trên sofa và bắt đầu ngáy. Đó chỉ là bắt đầu câu chuyện.


- Ủa , nửa đêm rồi mà ai còn gõ cửa nhà mình vậy em? Mà gõ cửa sau nữa mới lạ chứ?

- Để em ra coi thử. Mà sao con vện nhà mình nó cũng không sủa vậy cà!

Mợ Bảy nói xong đứng dậy lấy cây chổi lông gà cắp sau đít rón rén bước ra cửa sau, bộ dạng thận trọng thủ thế lắm. Cây chổi trên tay hình như làm mợ thêm phần tự tin, như thể lăm lăm cây AK47. Bên ngoài khung cửa, dưới ngọn đèn mờ, bóng một người nhỏ thó, đội mũ tai bèo, mang dép râu, tay trái xách bị có in hình cờ đỏ sao vàng, tay phải chống gậy, lom khom dòm dáo dát như lén lút ai. Mợ Bảy mới đầu tưởng thằng ăn trộm nên định nhấn 911, sau lại tưởng ăn mày, nhưng khi nhìn kỹ lại cái lối đứng chàng hảng, hai hàng thì lập tức nhận ra ngay người quen đã lâu lắm.

- Mèn đét ơi! Anh Sáu, anh đi đâu mà đêm hôm khuya khoắt dậy anh? Dzô, dzô anh, dzô nhà có lạnh, coi chừng chó cắn nghen.

- Trời! Cô Bảy đó hả. Thiệt là may quá tui tìm đúng nhà! Cô đừng lo, tui quen đi đêm, chơi với chó quen rồi…

- Chớ anh đi đâu mà một mình lạc vô đây dậy anh Sáu?

- Tui qua Mỹ có việc, nhân thể tranh thủ ghé thăm cô dượng và cầu mong cho cô dượng mần ăn phát tài. Mới đó mà đã trên 20 năm rồi không gặp cô dượng. Coi, cô Bảy lóng rày coi bộ có da có thịt hơn hồi ở kinh tế mới nhiều đó nghen.

Mợ Bảy vốn tối kỵ những ai khen mình mập, thường ngày mà nghe cái ngữ ấy thì chắc chắn mợ sẽ nguýt một cái rõ dài, mắng đồ vô duyên, nhưng phen này biết anh Sáu thực bụng, vì anh là dân nhà quê, hồi trước theo cách mạng đói gần chết nên rất quí người mập. Vì thế mợ Bảy không những không giận mà cảm thấy rất vui, bèn hỉ hả nói:

- Anh chọc quê tui chi tội nghiệp anh Sáu. Trên đời có ai ốm hơn dân kinh tế mới đâu anh!

- Thế có dượng bảy ở nhà hông dậy cô?

Cậu Bảy nghe nói ồn ào chạy ra phía sau thì thấy anh Sáu Phong, người quen hồi xưa ở Bến Cát, Bình Dương, đang nghiêng mình lách qua khe cửa.

- Úi trời! Anh Sáu. Tui nghe anh đi Mỹ mà hổm rày ác nhơn ác nghiệt, công việc bận quá chưa kịp đi đón đó chớ.

- Chào dượng Bảy. Vô tư đi duợng, khách sáo làm chi. Tui biết dượng công việc bề bộn, thì giờ bên Mỹ quí lắm đâu có hưỡn như bên mình, hơn nữa đồng bào đi đón tui cũng đông, lại giăng biểu ngữ đầy đường nên tui cũng không thấy lẻ loi lắm.

Cậu mợ Bảy kẻ nắm tay, người nâng túi xách ân cần mời anh Sáu vào phòng khách. Tha hương ngộ cố tri, mừng mừng tủi tủi. Vào bên trong anh sáu Phong mở túi luồn tay lấy ra một chai nước tương để trên bàn rồi nói:

- Tui qua thăm cô dượng mà không biết đem món gì, thôi đem biếu cô dượng chai nước tương thựơng hạng, đây là thành quả của quê hương.

Cậu Bảy vừa nhác thấy món quà của anh Sáu đã rụng rời tay chân, đó là loại nước tương có hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép khoảng 6000 lần, nhưng nể mích lòng nên cũng cười xả lả:

- Cám ơn anh. Tụi tui mà được dùng thứ này thì chắc là mau về quê thăm ông bà lắm.

Khi Mợ Bảy vào trong pha trà, Cậu Bảy nhích lại gần anh Sáu hỏi nhỏ:

- Vậy chớ có chuyện gì quan trọng hay sao mà đêm hôm ghé thăm vợ chồng tui đó?

- Đâu có chuyện gì, tui qua đây nhớ đến cô dượng nên ghé thăm, kẹt là đi ban ngày không tiện. Nói nghe mắc cỡ chứ chắc dượng đọc báo cũng thấy, tui tới xứ Mỹ này lén lén lút lút như thằng đi ăn trộm.

Cậu Bảy nghe xong lấy làm cảm kích. Hóa ra anh Sáu là người có tình, dù nay đã nên người có danh phận mà vẫn không quên tình cố cựu. Cậu Bảy bùi ngùi nhớ về những ngày bo bo độn củ mì trên vùng kinh tế mới Bến Tượng, tỉnh Bình Dương. Ngày đó anh Sáu là nhân viên quèn bên tỉnh ủy, vẫn thường giúp gia đình Cậu Bảy vài cái giấy tờ như giấy đi đường, hộ khẩu… và bù lại Mợ Bảy cũng thường biếu anh khi lạng cà phê, khi vài điếu ba số. Ba con năm vừa nằm vừa ký. Hồi tưởng mông lung một hồi rồi Cậu Bảy chợt hỏi:

- Anh Sáu nói đi thăm tụi tui ban ngày không tiện là vì sao?

- Thì chắc dượng cũng biết đồng bào bên này họ hiểu lầm tui. Đi đến đâu thiên hạ xua đuổi chửi bới như đuổi chó dại. Nói nào ngay, lỗi đó cũng tại đồng bào mình ít về thăm quê, thiếu thông tin nên không thông cảm cho tui. Tui vì cảm mến cô dượng mà lén đến thăm, nhưng cứ nơm nớp sợ phiền cho cô dượng.

- Không sao đâu anh Sáu, tui thẳng như ruột ngựa, đâu phải tránh né ai. Nè anh Sáu, tui nghe báo chí bên nhà nói đại đa số kiều bào hải ngoại đều hướng về quê nhà và ủng hộ đảng của anh Sáu mà?

- Thôi dượng Bảy ôi, nói riêng cô dượng nghe chứ mấy thằng ký giả bên nhà cũng như bầy chó ghẻ của tui, biểu sủa là sủa, biếu nín là nín, chớ có gì liêm sỉ, đáng tin mà dượng để ý. Nói đa số kiều bào, máu thịt, ruột non, ruột già cho xôm tụ vậy thôi chớ thiệt ra đâu có mấy mống. Hồi trước thì tụi tôi cũng thả mấy thằng nằm vùng qua đây mà lần lần tui nó cũng ăn bả đế quốc mà dang ra hết, đâu còn nhiêu thằng. Lâu lâu mới dụ được một vài thằng bất đắc chí, hết thời, thất nghiệp, vợ bỏ mò về Việt Nam kiếm chác thôi.

Cậu Bảy nghe nói cũng thương hại nên hạ giọng an ủi:

- Thôi anh Sáu cũng đừng buồn, chung qui cũng tại mình ăn ở hổng phải người ta mới giận dai như vậy. Nhưng tui hỏi thiệt anh Sáu nè, đồng bào người ta khinh miệt đã đành, mà nghe nói thái độ mấy thằng Mỹ cũng nóng mũi lắm, thế thì hà cớ gì anh Sáu qua đây cho mất mặt?

- Mặt tui có cái gì đáng mà sợ mất. Bụng đói thì đầu gối phải bò, dượng không biết hay sao? Mấy anh bên Bộ chính trị xúi tui đi chuyến này nhằm cải thiện chút đỉnh…

- Cải thiện quan hệ ngoại giao hả anh Sáu?

- Thiệt là chán cho dượng! Mới đi Mỹ có mấy năm mà quên bén tiếng Việt trong sáng hết ráo rồi. Cải thiện là đi kiếm chút đỉnh cho đỡ đói đó mà, như đi đào củ mài trên rừng hồi xưa đó.

- Chữ với nghĩa! Thì ra anh Sáu đi năn nỉ sự thương xót của mấy thằng nhà giàu Mỹ, với lại bọn phản động lưu vong, nôm na là đi ăn mày đó chớ gì?

- Dượng Bảy ôi, biết là như vậy nhưng dượng nặng lời với tui làm chi tội nghiệp. Nhục nhã gì bên này thì tui cũng ráng, miễn là mình đạt đủ chỉ tiêu Đảng giao là coi như thắng lợi rồi. Dzìa lại bển thì lại vinh quang mấy hồi.

Câu chuyện còn đang dang dỡ thì Mobay bưng trà ra và tham gia chất vấn:

- Hồi chiều tui ra chợ nghe người ta nói anh Sáu đã có buổi gặp gỡ đồng bào bên New York phải hôn?

- Tui có gặp nhóm Việt kiều yêu đảng, tui gọi họ là máu của máu Việt Nam đó.

- Đám đó chắc là Việt kiều có… dính máu nhân dân Việt Nam. Nhưng mà anh nói gì với họ anh Sáu?

- Thì trước hết tui đem thông tin cho họ biết sự thật trong nước.

- Ủa, bây giờ là thời đại internet mà thiếu thông tin như vậy sao?

- Thiếu gì cô Bảy, nhưng có nhiều điều không trung thực, thậm chí bôi nhọ đường lối của Đảng. Thông tin trung thực phải từ mồm của lãnh đạo mới chính xác.

- Thì ra thế. Anh ra ngoài này mà nói như vậy thì người ta chửi là độc tài hủ lậu cũng phải.

- Tội nghiệp tui cô Bảy, chung qui cũng vì cái ghế với mấy đồng đô thôi cô ơi.

- Rồi sao nữa anh Sáu?

- Lúc trước tui lỡ dại nói ở Việt Nam không có bất đồng chính kiến, bị mắng là láo nên kỳ này tui khôn lắm, tui sửa lại. Tui cũng cho bà con bên New York biết là trong nước mình dân chủ lắm, có bất đồng chính kiến nhiều lắm. Trong nội bộ Đảng cũng có nhiều bất đồng… chính kiến đó, như có đồng chí thì ưa món dồi, đồng chí khác thì ưa rựa mận... Ngay trong nhà tui cũng có bất đồng chính kiến. Thí dụ mụ Sáu nhà tui thì thích chính kiến nấu ăn, còn tui thì có chính kiến đá banh, nhiều lúc nửa đêm tui la lên khi thấy đội nhà đá lọt, bả rất bất đồng chính kiến với tui về điểm này. Còn vụ cha Lý, cô Công Nhân… đòi đa nguyên đa đảng thì hai năm rõ mười là họ bất phục tùng độc đảng, cái đó là vi phạm luật hình sự, không phải là chính kiến.

- Thì ra thế. Anh nói như vậy người ta mắng anh dốt cũng phải. Rồi sao nữa anh Sáu?

- Tui cũng nói là mình cần hòa bình để xây dựng đất nước. Cuộc chiến Việt Nam vừa qua chính là để xây dựng hòa bình cho Liên xô, Trung quốc và các nước XHCN anh em để tiến lên chủ nghĩa đại đồng… đô. Bộ cô dượng không biết ông Cút Xếp bên Nga đã từng nói “dân Việt Nam đã đổ máu và hiến mạng sống mình vì lợi ích của phong trào Cộng Sản thế giới” hay sao? Bà con không biết cứ cho cộng sản tụi tui hiếu chiến, xâm lăng miền Nam. Đặt mìn pháo kích thì là vũ khí của Nga của Tàu chứ mình đâu có vũ khí gì mà Mỹ Ngụy nó cũng bắt bớ tra tấn. Ngoài ra hòa bình thì phải dài lâu chứ mới 32 năm thì nhằm nhò gì. Thành quả bước đầu là đội ngũ ô sin, làm đĩ toàn cầu cũng rất đáng khích lệ.

- Thì ra thế! Anh Sáu nói như vậy người ta chê là đồ ngụy biện, cõng rắn cắn gà nhà cũng phải. Rồi sao nữa anh Sáu?

- Tui cũng nói cho họ biết là tui cũng quí trọng nhân quyền lắm. Ngày xưa bác đảng tui gây chiến cũng là để giành lại nhân quyền, có điều họ không hiểu là tui chỉ đòi nhân quyền cho người theo cộng sản mà thôi. Ai không theo cộng sản tui coi như súc vật, đâu phải con người thì quan tâm đến nhân quyền làm gì. Người dân trong nước dân trí còn thấp, họ không hiểu nên cứ đi đòi cái mà mình không có.

- À ra thế!. Anh Sáu nói vậy người ta chửi là bất lương cũng phải. Rồi sao nữa anh Sáu?

- Về chuyện chống tham nhũng thì tui cũng nói cho họ biết công lao của Đảng. Như vụ PMU18 hay Năm Cam là bằng chứng cụ thể rằng không phải tất cả toàn đảng đều dính líu trong đó. Có đồng chí có ăn, có đồng chí trơ mỏ, thành ra ta mới lôi ra ánh sáng được. Như vậy rõ ràng là trong đảng cũng có nhiều phe khác nhau, tui cho đó là chính kiến khác nhau. Đó là dân chủ của ta, theo hoàn cảnh cụ thể của ta. Vì vậy không nên nghĩ rằng cán bộ mình, dân mình tham nhũng nhất thế giới.

- À ra thế! Anh Sáu nhập nhằng dân với cán bộ có mòi hơi lộ liễu đó. Tham nhũng thì cán bộ đảng viên chứ dân lấy gì để tham nhũng mà anh Sáu đổ oan cho người ta như vậy. Còn cán bộ của anh Sáu có tham nhũng nhất thế giới không thì để cho thế giới người ta mần thống kê. Anh Sáu nói càn như vậy người ta mắng là láu cá cũng phải! Rồi sao nữa anh Sáu?

- Tui cũng dẫn chứng cho họ thấy Mỹ cũng độc tài lưỡng đảng; nước Anh, nước Nhựt có vua tức là còn trong thời kỳ phong kiến, kém xa dân chủ của ta. Ta lại hơn các nước ở chỗ có Mặt trận Tổ quốc, có Đoàn Thanh niên, có Hội Phụ nữ đều ủng hộ Đảng ta cả.

- À ra thế! Chuyện thể chế chính trị của các nước phương tây thì dài dòng lắm. Nói một tháng không xong, mà trình độ anh Sáu lại hạn hẹp, cần học thêm nhiều lắm. Còn lối lý luận của anh Sáu thì cũng y chang như hồi xưa ở rừng sâu, địa đạo mà bàn chuyện chính trị thế giới với chị Út Tịch. Ra ngoài nói như thế người ta chê anh ngu mà khoát lác như vẹm cũng là đáng đời.

Cậu Bảy vốn nể vợ, thấy vợ nói thì nín khe, nhưng thấy tình hình mỗi lúc mỗi căng, sợ không khéo làm anh Sáu buồn, nên nói chen ngang vào:

- Thôi em, anh Sáu ít đi ra ngoài thành ra chưa "nắm bắt thời đại", mình cũng nên thông cảm cho ảnh. Phần anh Sáu thì vợ chồng tui cảm ơn anh đã tới thăm. Nói nhỏ anh nghe, tui nghe anh đến Mỹ tui mừng lắm, dù cũng nực vụ trước khi đi anh qua xin phép thằng Tàu. Ráng chơi với Mỹ nghen anh, dang thằng ba Tàu ra. Tui dốt nát không dám lý luận chủ nghĩa chủ nghiết gì nhiều, chỉ thấy việc nhãn tiền mà khuyên anh như vầy. Trên thế giới này hầu hết ai chơi với Mỹ cũng khá, không có ai thân tàn ma dại như chơi với Tàu. Coi cái gương Tây Đức, Nam Hàn, Nhựt, Đài Loan rồi so sánh với Cu Ba, Bắc Hàn và bản thân anh thì rõ. Chơi với thằng Mỹ là chơi với thằng có đạo đức, vì nó có tam quyền phân lập rõ ràng. Hành pháp nó làm sai, anh kêu cứu với quốc hội, tòa án của nó. Vụ kiện chất độc màu da cam của anh là một ví dụ. Ai thắng ai thua tui không nói ở đây, nhưng anh cũng thấy tụi Mỹ nó công bằng, mã thượng lắm, không có ai đứng trên pháp luật. Thử ngẫm lại mấy thằng "đại háng" lưu manh vĩ đại liền sông liền núi phương Bắc của anh coi sao. Xưa nay nó cướp đẩt, chiếm đảo, lấn biển, giết ngư dân của anh mà anh có kiện cáo gì được đâu. Vậy thì từ nay dẹp cha mấy cái chủ nghĩa, tư tưởng tào lao đi, ráng làm người lương thiện nghe anh Sáu.

Anh Sáu Phong nghe Cậu Bảy nói lời ân tình trong lòng dạt dào cảm động, rươm rướm nước mắt nói:

- Cô dượng à, tui nghe nói tha hương mà ngộ cố tri thì quá xá đã, chỉ đứng sau việc thầy chùa động phòng; thế mà mấy hôm nay tui đi đâu cũng bị xua đuổi thiệt là rầu, nay may gặp lại cô dượng tốt bụng khuyên răn, tui an ủi nhiều lắm. Tui nguyện ghi xương khắc cốt lời giáo huấn của cô dượng. Thôi đêm đã khuya, tui xin kiếu để cô dượng nghỉ ngơi.

Vợ chồng Cậu Bảy ra sức mời mọc ở lại mà anh Sáu nhứt định từ chối, viện lẽ trời sáng khó đi, lại cũng xin ra về bằng cổng sau. Dù vậy khi đứng dậy từ giả, anh Sáu lại có vẻ chần chừ, hình như có gì muốn nói, tay vân vê cái bị. Cậu Bảy hiểu ý bén móc túi lấy tấm check ký tặng cho anh Sáu 2 triệu đô. Anh Sáu lòng mừng khấp khởi, kẹp cái bị với cây gậy trong nách, hai bàn tay chấp lại, xun xoe cám ơn vợ chồng Cậu Bảy không ngớt lời.

Ra đến đầu hè, Cậu Bảy chia tay và dặn anh Sáu: “Lần sau có đến thăm chúng tôi, xin anh đi bằng cổng trước nhé”. Anh Sáu dạ dạ rồi bước nhanh vào bóng đêm.

Khi trở vào nhà, Mợ Bảy nhìn chồng hỏi:

- Tiền đâu mà ông ký cho anh Sáu đến hai triệu đô?

- Tui trên răng dưới dái, làm gì có bạc triệu, nhưng thấy đêm hôm anh ta đến thì biết là đi xin tiền. Bởi vậy tui ký check lủng cho anh ta mừng hụt chơi.

- Ông làm vậy là đồ tiểu nhân, thất đức, có tội lừa gạt người ta đó.

- Vẫn biết như vậy, nhưng lần này tui muốn cho anh ta bài học, nếm mùi cay đắng của các nạn nhân bị đảng của ảnh bịp xưa nay.

- Ông rõ thấp trí, thiếu sư phạm. Ở đời không ai lấy lừa dối để giáo hoá kẻ lừa dối. Nhưng lỡ rồi, hy vọng sau này nhờ vậy mà ảnh khá hơn lên, bỏ tật nói láo, biết nghe điều phải.

- Tui xin lỗi bà. Vậy chờ khi nào ảnh hoàn lương, ăn ở thật thà, biết lo cho dân thì tui gởi tiền thiệt về giúp cũng không muộn.

Nói xong Cậu Bảy ngó đồng hồ thấy đã hơn 3 giờ sáng, bèn giả bộ ngáp để khất nợ và nói với Mợ Bảy lời tạ từ trong đêm: “Anh chàng đi cửa hậu này làm hư hết… kế hoạch của tui đêm nay”.

Mợ Bảy nghe nói nổi xung, giơ chân đạp cho Cậu Bảy một đạp làm Cậu Bảy giựt mình tỉnh dậy và thấy mình vẫn còn nằm trên sofa, hơi thở vẫn còn nồng mùi rượu.

Thì ra là một giấc mộng, không lành, không dữ và cũng chẳng bình thường.


San Diego, June 20, 2007

35 NĂM TỴ NẠN


Thấm thoắt mà cuôc đời tỵ nạn của chúng ta đã trải qua 35 năm trường.
Chỉ mới hơn một phần tư thế kỷ thôi, mà cuộc đời của chúng ta đã có lắm đổi thay.
Khi mới tới nước Úc thì ai ai cũng lo nhào vào các hãng các xưởng mà cầy túi bụi, để lo cho tương lai của mình, lo cho cha mẹ vợ con còn bỏ lại ở quê nhà.
Người nào có sức lực và yêu cuộc sống tự do, thì tìm đuờng đi hái trái cây, trồng rau, trồng đậu, trồng cà . . . để hít thở không khí tự do, thanh bình của đồng quê.
Ai may mắn hơn, có ít chữ nghĩa, thì đi xin việc làm với xe Tram, xe Train, xe Bus, làm thông dịch viên cho ngân hàng, hoặc đi học trở lại để hy vọng có một nghề khá hơn.
Ai có đầu óc thương mại thì tìm vốn mở cửa hàng grocery, bán rau, trái cây, bán đồ ăn đóng hộp, bán tôm, bán cá, bán thịt. . .
Từ năm 1986 trở đi, người tỵ nạn đã bắt đầu mua xe hơi mới, nhất là mua nhà cửa, mua shop. Chúng ta bắt đầu có Bác Sĩ, Nha Sĩ, Dược Sĩ, Kế Toán, và đặc biệt, có cả Travel Agent để mua vé đi du lịch . . .
Tóm lại, kể từ những năm 1986, cuộc sống của dân Việt tỵ nạn đã có phần nào . . . phây phả.
Cho đến nay, sau 35 năm chăm chỉ làm ăn, người Việt tỵ nạn chúng ta đã có một cuộc sống sung túc, ấm no, và cũng đầy bận rộn.
Bận rộn tới mức, chúng ta đã có rất ít thì giờ để nhớ lại chuyện xưa.

Bạn có còn thì giờ để nhớ lại lúc cải trang thành dân quê, dân chài, để ráng qua mặt bọn công an, đi tới những vùng biển xa xôi, hẻo lánh, chờ đêm khuya leo lên “Cá Nhỏ” để chèo ra “Cá lớn” hay không?
Bạn có còn thì giờ để nhớ đến cái thời mặc bộ quần áo tỵ nạn bồng bế dắt díu nhau xuống máy bay MAS, QANTAS . . . bước vào phi trường Melbourne, Sydney, Adelaide, Brisbane . . . hay không?
Thời đó xưa quá rồi, phải không bạn? Xưa hơn Diễm nữa rồi.

Vậy mà mới ngày hôm qua, tôi lại được dịp nhớ lại . . . “Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy” đấy bạn ạ!
Thứ Sáu 12 tháng 11 năm 2010 vừa qua, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria đã tổ chức ngày “Cám Ơn Nước Úc – Cuộc Hành Trình 35 Năm của Người Việt Tỵ Nạn – Thank You Australia – 35 Years Journey, The Vietnamese Pas Tribute To Australia” tại Elizabeth Town Hall, thành phố Melbourne.
Đây là cuộc triển lãm những hình ảnh, di vật mà người Việt Tỵ Nạn đã trải qua và để lại trên con đường vượt biên tìm Tự Do.
Mở đầu cuộc triển lãm, ông Nguyễn Văn Bon, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria, đã nhắc lại những buớc đầu thật khó khăn của người tỵ nạn Việt Nam: Ngôn ngữ khác biệt, cách sống khác nhau, đi làm không biết chủ nhân nói cái gì? Nhưng cho đến hôm nay, người dân Việt tỵ nạn đã có một cuộc sống ổn định, đó là lý do của buổi tiếp tân và triển lãm ngày hôm nay: Người dân Việt Tỵ Nạn muốn cám ơn nước Úc.
Dân biểu Luke Donnellan, đại diện cho Thủ Hiến John Brumby, đã nhắc lại thời gian mới đến Úc, ông Bon chỉ là một cậu bé 12 tuổi đầu, chập chững bước vào ngưỡng cửa trường Trung Học với cái vốn liếng tiếng Anh đếm chưa qua khỏi năm đầu ngón tay, vậy mà chỉ hơn ba mươi năm sau, đã có bằng cấp Đại Học và một việc làm vững vàng với chính phủ. Cuối cùng, ông Donnellan đã đưa ra một lời nhận xét rất chí tình:
“Người Việt Nam, đại đa số đã thành công trong cuộc sống”.

Ngôi sao sáng của buổi lễ “Cám Ơn Nước Úc” là một người khách quý:
Cựu Thủ Tướng Malcolm Fraser.
Trong Cộng Đồng chúng ta, ai ai cũng bíết tới ông, vì ông là vị Thủ Tướng đã chấp nhận định cư hàng loạt người Việt tỵ nạn vào nước Úc (ông làm Thủ Tướng từ năm 1975 tới năm 1983). Nuớc Úc trước đó, mặc dù có tham chiến bên cạnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để bảo vệ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam, nhưng trên lĩnh vực đời sống, Úc là một trong những quốc gia Da Trắng kỳ thị Da Mầu (MầuTrắng không được coi là một loại mầu sắc, chỉ có những mầu như Đen, Xanh, Đỏ, Tím Vàng, Da Cam, Nâu . . . mới được gọi là mầu. Do đó, những chủng tộc nào có mầu da Đen, Đỏ, Vàng . . . được gọi là . . . Da Mầu. Còn những chủng tộc nào có mầu da Trắng, được coi là . . . Trắng, là . . . Không Mầu). Khẩu hiệu của Úc hồi đó là:
“Úc Châu là của Người Da Trắng”


Cựu Thủ Tướng thứ 21 của Úc: Gough Whitlam

Trong thời Thủ Tướng Gough Whitlam, từ khi lên nắm chính quyền vào năm 1972, ông đã trở nên nổi tiếng khi đã công nhận Nữ Hoàng Anh Elizabeth II là Nữ Hoàng của Nước Úc. Khi chíến tranh Việt Nam chấm dứt, ông đã có thái độ lừng khừng, không chấp nhận người tỵ nạn vào Úc. Nhũng sinh viên của Miền Nam Việt Nam du học tại Úc ở thời điểm 1975 đã rất sợ hãi khi chính phủ của ông Whitlam đã không phủ nhận nguồn tin là “Sẽ đem trả những du học sinh Việt Nam về Việt Nam”.

Cựu Thủ Tướng thứ 22 của Úc: Malcolm Fraser.

May mắn thay, vì một biến cố chính trị trong nước, đảng Lao động của ông Whitlam bị Tổng Toàn Quyền Úc, Sir John Kerr truất phế vào tháng 11 năm 1975 và bổ nhiệm ông Malcolm Fraser là người thay thế. Do đó, ông này đả trở thành vị Thủ Tướng thứ 22 của Úc. Ông Fraser cũng được nổi tiếng với câu nói bất hủ:
“Life wasn't meant to be easy – Đừng tưởng rằng cuộc sống lúc nào cũng tươi đẹp”.
Khi được chấp nhận cho định cư ở Úc và được đưa tới chờ thời ở trại chuyển tiếp Sungei Besi, tôi mới vào thư viện tìm đọc sách về Úc, mới biết tới vị Thủ Tướng cứu tinh của mình. Từ hồi tới Úc vào năm 1981 tới nay, tôi cũng chỉ thấy hình của ông Fraser mà thôi, chứ chưa có dịp nào được diện kiến “Thần Tượng” của tôi cả.
Ông Fraser năm nay vào khoảng 80 tuổi, vẫn đi đứng vững vàng, nói năng đâu ra đó. Ông rất là cao, tôi không bỉết ông cao cỡ nào? Chỉ biết rằng, khi ông đứng trên bục để đọc diễn văn, cái bục này cách ông khoảng 1 thước, trong khi đối với những người khác, khoảng cách chỉ là 50cm mà thôi.
Cựu Thủ Tướng Malcolm Fraser cùng phu nhân và các quan khách.
Mở đầu bài diễn văn, cựu Thủ Tướng Fraser cám ơn cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đã còn nhớ đến ông và mời ông đến chủ tọa buổi lễ “Cám ơn nước Úc và triển lãm hình ảnh tỵ nạn”.
Trở về thời điểm nhận người tỵ nạn từ năm 1976, ông cho rằng, đó là một quyết định rất khó khăn trong hoàn cảnh chính trị và xã hội của nước Úc. Tuy nhiên, ông và chính quyền Tự Do đã lựa chọn công việc phải làm và cho đến nay, ông vẫn cho rằng đó là một quyết định đúng, một chính sách di dân đáng làm và đã thành công. Sự thành công này một phần do chính phủ nhưng phần lớn là do chính người Việt Tỵ Nạn đã tạo nên.
Sau khi chấm dứt bài diễn văn, nhận thấy rất nhiều đồng bào muốn nói lời cám ơn với ông, nên ông và Cộng Đồng Nguời Việt Tụ Do đã đồng ý mời bất cứ ai muốn nói vài lời hoặc đặt câu hỏi với ông.
Tôi đã đuợc hân hạnh đại diện cho Việt Luận đặt ba câu hỏi:
Câu hỏi thứ nhất:
“Thưa ông Fraser, khi quyết định nhận người Tỵ Nạn Việt Nam chúng tôi vào định cư tại Úc, ông đã căn cứ trên nguyên tắc nhân đạo hay chính trị?
Câu hỏi thứ hai:
“Thưa ông, khi nhận người Tỵ Nạn chúng tôi vào Úc, ông đã hy vọng ở chúng tôi điều gỉ? Và cho đến nay, theo ông, người Việt chúng tôi đã làm được đúng như kỳ vọng của ông hay chưa?
Quan khách hiện diện đã tỏ ra thích thú về câu hỏi của Việt Luận, nên đã cười vui và vỗ tay cổ võ rất hào hứng.
Ông Fraser đã trả lời như sau:
“Khi quyết định nhận người Tỵ Nạn Việt Nam, tôi đã căn cứ trên nhiều điểm, bao gồm cả những yếu tố về nhân đạo và chính trị. Nhưng yếu tố quan trọng để tôi quyết định là vấn đề “Moral obligation – Trách nhiệm về luân lý”. Nước Úc đã đồng ý với ý niệm bảo vệ tự do của qúy vị, đã gởi quân đội tới trợ giúp quý vị, nay quý vị bị mất nước, phải bỏ xứ đi tỵ nạn, chúng tôi đâu có thể làm ngơ được! Hơn nữa, Úc là một quốc gia giầu mạnh, quý vị đang khổ cực, đang tìm đất sống, tìm cuộc sống tự do, chúng tôi đâu có thể từ chối được.”
“Khi nhận người Tỵ Nạn Việt Nam vào Úc, tôi chỉ hy vọng họ sống được, giống như những cộng đồng Ý, Hy Lạp, Nam Tư đã di dân vào Úc sau Thế Chiến Thứ Hai. Thế nhưng, tôi nghĩ rằng, người Tỵ Nạn Việt Nam đã làm được hơn thế nữa.
Để tôi kể cho quý vị và ông phóng viên báo “Vietnamese Herald” nghe một câu chuyện lý thú như sau:
Khoảng vài năm trước đây, tôi có được mời đi thăm các chiến sĩ Úc đang tham chiến ở Irak. Sau những lễ nghi phải làm, tôi đi vòng chung quanh khu đóng quân của các binh sĩ Úc, nhưng không tin rằng mình sẽ tìm ra một người nao quen biết ở đây. Bất ngờ, có một nguời lính Úc mặc quân phục không quân, có làn da Á Châu, buớc tới chào tôi. Tôi chào lại, nhưng rất ngạc nhiên, vì tôi không biết người lính này là ai cả. có lẽ nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, nên người lính này đã vui vẻ giải thích:
“Thưa ông, ông đang ngạc nhiên, không biết tôi là ai, phải không?
Tôi xin thưa, tôi là một trong những người Tỵ Nạn Việt Nam đã được ông chấp nhận cho định cư tại Úc. Tôi tới Úc trên tay mẹ tôi (I came to Australia on my mum’ arm), tôi đã được nuôi sống, học hành tại xứ Úc.
Khi tôi lớn lên, tôi đã muốn làm một điều gì đó cho nước Úc, để đáp lại cái ân tình ngày xưa.
And here I am, I am now an Australian Pilot, I serve Australia the same way your Australian soldiers serving their country, came to Vietnam to help us in the past”

Kể xong câu chuyện thật cảm động này, ông đã quay lại tôi mà nói:
“What else can I expect from your Vietnamese boatpeople?
It more than I expected, man!”
Tất cả hội trường đã vỗ tay vang dội hưởng ứng câu trả lời quá hay và quá đầy đủ ý nghĩa của ông Fraser.
Riêng cá nhân tôi, tôi đã rất thích thú về người sĩ quan không quân Úc Gốc Việt mà ông Fraser đã đề cập tới trong câu chuyện của ông. Nếu nguời lính đó có đọc những câu tôi viết ngày hôm nay, xin cho tôi cám ơn anh, người Tỵ Nạn Việt Nam đã không quên nguồn gốc của mình, đã hãnh diện nhận mình là người Tỵ Nạn Việt Nam, mặc dù khi anh tới Úc, anh chỉ là một cậu bé con còn nằm trong vòng tay mẹ hiền. Anh đã làm rạng danh người Việt Nam Tỵ Nạn, anh đã làm cho ông Fraser phải khâm phục, và tôi, tôi rất khâm phục anh.
Nếu anh có rảnh, xin anh gọi điện thoại hoặc email cho tôi nhé!
Nếu cha mẹ của anh có đọc được bài viết này của tôi, xin liên lạc với tôi qua Việt Luận nhé, ông bà đã dạy con rất hay, rất đúng, tôi rất khâm phục.

(Ghi chú: Câu hỏi thứ ba mà tôi muốn hỏi ông Fraser:
Tôi xin đặt ví dụ, ngay bây giờ, nếu ông được làm Thủ Tướng trở lại, và nếu đồng bào Việt Nam chúng tôi lại xin tỵ nạn, liệu ông có đồng ý chấp nhận chúng tôi nữa hay không?
Khi tôi đặt câu hỏi thứ hai, vì câu hỏi có hai phần, nên ông cho rằng tôi đã đặt đủ 3 câu hỏi rồi, nên tôi không hỏi nữa. Khi gặp lại ông Fraser tại bữa ăn trưa do Cộng Đồng khoản đãi, tôi đã nhắc lại là câu hỏi thứ hai có 2 phần, nên tôi chưa có dịp đặt câu hỏi thứ ba. Ông Fraser xin lỗi vì đã hiểu lầm và mời tôi đặt câu hỏi thứ ba. Vì đang là giờ ăn trưa, nên tôi chỉ xin nói chuyện vui với ông mà thôi, chứ không đặt câu hỏi nữa.)
Sau đó, ban tổ chức đã giới thiệu ông Lưu Tường Quang lên giói thiệu về cuốn sách “Tales From A Mountain City” của cô Quỳnh Đào và chính cô Quỳnh cũng đã lên khán đài để giới thiệu cuốn sách của cô, đánh dấu 35 năm tỵ nạn của người Việt Nam.
Tác giả “Tales From A Mountain City” đang ký vào sách cho độc giả.
Kết thúc buổi lễ, ông Fraser đã cắt băng khai mạc cuộc triển lãm về hình ảnh và di vật của người tỵ nạn Việt Nam trên đường vượt biên tìm Tự Do. Rất nhiền di vật của những người tỵ nạn không được may mắn như chúng ta, đã bỏ xác trên biển khơi hoặc ngay tại trại tỵ nạn, đã có hình ảnh của những cô gái trẻ bị hải tặc Thái Lan bắt đi mất, đến nay vẫn chưa tìm được xác hoặc nghe được bất cứ tin tức gì của những cô gái đáng thương này.
Quan khách và đồng bào đã kéo tới rất đông để xem triển lãm, rất nhiều trường Tiểu và Trung học đã đưa học sinh tới xem cuộc trỉển lãm này.

Vì ông Fraser và đảng Tự Do đã góp phần vào cuộc định cư của người Việt Tỵ Nạn, nên đã có rất nhiều người Việt Nam bỏ phiểu cho đảng Tự Do trong các cuộc bầu cử Tiểu Bang cũng như Liên Bang của Úc.

Quang cảnh phỏng triển lãm “Hành Trình 35 năm” tại Elizabeth Hall, Melbourne.

Trong cuộc bầu cử quốc hội Tiểu Bang Victoria vào ngày Thứ Bẩy 20 tháng 11 năm 2010 sắp tới đây, đảng Tự Do đã đưa ra một ứng cử viên cho vùng Footscray, thành phố của người Việt Tỵ Nạn.
Đó là ông Ken Betts.
Đơn vị Footscray bao gồm các thành phố như: Kingsville, Seddon, Footscray, Footscray West, Tottenham, Braybrook, Maidston, Maribyrnong và Sunshine.

Ứng củ viên Ken Betts và Cựu Thủ Tướng Fraser
Ông Ken sinh ra và lớn lên tại Footscray, cha ông làm Trưởng Toán Cứu Hỏa của thành phố Sunshine. Cha ông mất sớm, nên ông đã phải bỏ học đi làm phụ giúp mẹ góa em thơ từ năm ông mới có 16 tuổi. Ông là sáng lập viên và chủ tịch của hội “Save Foostcray”, vì ông cho rằng, chính phủ Tiểu bang, dân biểu đia phương và Hội đồng thành phố Footscray đã chưa làm được những điểu cần làm, để Footscray vẫn còn quá nhiều “troubles”. Hội đồng thành phố đã không lo phát trỉển mà chỉ lo làm tiền, điển hình là việc đặt máy chụp hình những xe hơi chờ đậu vào ô trống.
(Luật không cho người lái xe đậu trên đường qúa lâu để chờ xe khác đi ra, nhưng rất là châm chế cho các tài xế khi phải chờ nguời đang đậu xe lái ra khỏi chỗ đậu cho mình lái vào. Chỉ riêng thành phố Footscray đã đặt máy chụp hình để chụp những xe đậu quá thời hạn 2.5 phút dù là người tài xế đang đậu chưa kịp ra khỏi chỗ đậu.)

Dân chúng chờ chỗ đậu bị phạt quá nhiều (Council thâu tiền phạt xe lên tới cả triệu đồng), họ đã biểu tình phản đối, nhưng Hội đồng thành phố vẫn không chịu gỡ máy chụp hình, do đó, người mua bán đã phải bỏ thành phố Footscray để đi chợ ở những nơi khác dễ đậu xe hơn, các shops ở Foootscray ế hàng than trời trách đất quá chừng quả đỗi.
Vùng Footscray từ xưa tói nay, là thành trì của đảng Lao Động, là một trong những đơn vị bỏ phiếu an toàn của đảng này. Vì thế, dân biểu Lao Động đương nhiệm là bà Marsha Thomson, chỉ cần cố gắng chút ít mà vẫn đắc cử trong kỳ bầu cử trước. Trong năm vừa qua, dân cư trong vùng Footscray bị chính phủ Tiểu bang “Mua” lại nhà để lấy đất xây nhà ga xe lửa mới, mà họ không hề hay biết nhà mình nằm trong danh sách . . . phải bán. Mãi cho đến khi báo chí phanh phui ra, họ mới biết, mới đi biểu tình chống đối thưa kiện tùm lum, nhưng Dân biểu Thomson vẫn không thấy có mặt nói chuyện với dân hoặc tranh đấu cho họ gì cả (sau đó, bà cũng đã ra mặt, nhung đã quá trễ). Thành phố Footscray vẫn còn nhiều những tay buôn bạch phiến trên đường phố mà Cảnh sát lại thiếu, nên dân chúng sống không yên. Dân biểu Thomson còn bận nhiều công việc, nên chưa thấy lên tiếng gì cả.
Đó là lý do mà ông Ken Betts ra ửng cử chống lại bà Thomson.
Trong những kỳ bầu cử trước, đảng Tự Do không quan tâm tới khu vực Footscray, vì dù có đưa ứng cử viên thật sáng giá ra ứng cử, cũng không thể nào địch lại với ứng cử viên của đảng Lao động.
Nhưng mùa bầu cử năm nay đã đổi khác rồi.
Dân chúng vùng Footscray đã quá bất bình về cách thức mà chính quyền Lao Động đối xử với họ. Cử tri vùng Footsscray đã quá thất vọng với cách thức hoạt động và phục vụ người dân của dân biểu đương nhiệm, họ có thể thay đổi thái độ, do đó, ông Ken có hy vọng sẽ thắng cử.
Ông Ken hứa rằng, nếu đắc cử, ông sẽ:
Làm áp lực, thúc đẩy việc loại bỏ các máy chụp hình phạt đậu xe,
Giảm mức lưu thông của xe vận tải hạng nặng chạy qua vùng Footscray,
Gia tăng Cảnh sát trên đường phồ, tại các trạm xe lửa. . .
Tôi đã gặp ông trong cuộc biểu tình của cư dân Footscray chống máy chụp hình phạt đậu xe. Gần đây nhất là trong cuộc biểu của Người Việt Tỵ Nạn phản đối Trần Bá Phúc và Phan Văn Danh cùng với Hội Doanh Nhân Việt Nam Australia đã đem bọn Cộng sản và là cờ máu xâm nhập vào vùng Footscray Tự Do. Ông là một trong những người Úc da trắng cầm cờ Vàng đi biểu tình với chúng ta, ông là người sống chết với Footscray.
Đương nhiên là lời hứa của các ứng cử viên rất ít khi nào được thực hiện và thực hiện đến nơi đến chốn, nhưng ít ra, ông Ken đã đi sát với cộng đồng Việt Nam chúng ta, đã cùng cầm Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đi biểu tình Chống Cộng vói chúng ta (Dân biểu Thomson đã được Cộng Đồng chúng ta mời tham dự cuộc biểu tình Vinh Danh Cờ Vàng vào ngày 25 09 2010 vừa qua tại Footscray, nhưng bà từ chối không tham dự).
Bỏ phiếu cho ông Ken, cho đảng Tự Do, ít ra, chúng ta cũng đã biểu lộ sự cám ơn của chúng ta đối với đảng này khi được nhận định cư tại Úc.
Bỏ phiếu cho ông Ken, nếu ông không được may mắn đắc cử, cũng là một bài học cho đảng Lao Động, cho bà Thomson, để bà chấn chỉnh phương cách làm việc của mình, lo phục vụ người dân đúng mức hơn nữa.
Nhưng nếu ông Ken được đắc cử, Cộng Đồng Người Việt chúng ta được một dân biểu hết lòng hỗ trợ cho chính nghĩa Cờ Vàng của chúng ta, hết lòng tranh đấu cho quyền lợi của cư dân vùng Footscray. Cộng Đồng Người Việt chúng ta sẽ có:
Thành Phố Sàigòn – Footscray
Công Viên Diên Hồng – Footscray Mall
Bến Bạch Đằng – Maribyrnong River bank.
Quan trọng nhất, chúng ta sẽ có thêm chỗ đậu xe dài hạn (1 & 2 hours), thêm chỗ đậu xe ngắn hạn (Drop off point).
Ban đêm, chúng ta có thể đi bộ dạo chơi trên thành phố Sàigòn mà không sợ bị chận đường hỏi mua bạch phiến.
Nhưng điều hy vọng nhất của chúng ta là, kỳ bầu cử tới, sẽ có ứng cử viên người Việt Nam.

NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!

NGUYỄN KHẮP NƠI

Nghị Quyết 36: Xin hãy Cảnh Giác!

Trên đấu trường quân sự, muốn đánh chiếm căn cứ A, nhiều khi vị chỉ huy chiến trường phải điều quân quấy nhiễu các căn cứ B, C và D, nhằm đánh lạc hướng phòng thủ của đối phương. Sau giai đoạn quấy nhiễu cần thiết, một cách bất ngờ, vị chỉ huy kia ra lệnh cho các đơn vị thuộc quyền tập trung toàn bộ hỏa lực, tấn công dứt điểm căn cứ A. Trong trường hợp này, các căn cứ B, C và D là DIỆN. Căn cứ A chính là ĐIỂM.

Ngày 26 tháng 03 năm 2004, Bộ Chính Trị Đảng CSVN đã ra “nghị quyết số 36-NQ/TƯ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Nghị quyết này đề cập đến rất nhiều vấn đề khác nhau: nào là người Việt Nam ở nước ngoài chưa thực sự “gắn bó giúp đỡ lẫn nhau”, nào là chính sách “đại đoàn kết” của đảng CSVN, nào là người Việt Nam ở nước ngoài là “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”, nào là và nào là… Giữa cảnh rừng “nào là” kia đâu là DIỆN, đâu là ĐIỂM? Đi tìm ĐIỂM trong trường hợp này tức là chúng ta cần cẩn thận khảo sát toàn bộ nội dung của nghị quyết 36.

Nghị quyết 36 được chia ra thành bốn phần rõ rệt:


PHẦN THỨ NHẤT: “Tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời gian qua” (nguyên văn chữ dùng của CSVN)

Nghị quyết 36 ghi nhận: “Hiện nay có khoảng 2,7 trịêu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghịêp phát triển”. Nghị quyết 36 viết tiếp rằng: người Việt Nam ở nước ngoài “có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế – chính trị – xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam” và rằng: “một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo dựng quan hệ với các cơ sở kinh tế khoa học ở nước sở tại”.

Đối với sự việc cộng đồng Việt Nam hải ngọai đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ nhân quyền, nghị quyết 36 hằn học lên án: “Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam”.

Dưới mắt nhìn của CSVN: tiềm năng vận động ngoại giao của cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại rất mạnh mẽ, đồng thời quyết tâm đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam của cộng đồng này cũng rất gay gắt.

Sự thể vừa nói đã buộc CSVN đối diện với các nan đề ngoại giao liên hệ tới sinh mệnh chính trị của chế độ độc tài. Nhằm giải trừ nan đề này, từ vài năm qua, CSVN đã tuyên truyền rầm rộ về chủ trương và chính sách “đổi mới” của đảng CS đối với người Việt hải ngoại. Thế nhưng theo sự đánh giá của nghị quyết 36 chủ trương và chính sách chiêu dụ kia “chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ” (nguyên văn).


PHẦN THỨ HAI: “Chủ trương và phương hướng công tác đối với Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới”

Những điều được gọi là “chủ trương và chính sách” của CSVN nói ở phần một chỉ là những suy nghĩ và việc làm vá víu, đôi khi tiền hậu bất nhất. Phần hai của nghị quyết 36 mới chính thức là nhận thức toàn diện và triệt để của Bộ Chính Trị Đảng CSVN đối với sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại. Các nhận thức đó như sau:
Một là: “Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài … đều được tập họp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Ở đây nghị quyết 36 tuyệt đối KHÔNG NHẮC TỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC CHÍNH KIẾN với đảng CSVN. Như vậy đoàn kết chỉ có nghĩa là đoàn kết sau lưng đảng CS.

Hai là: “Người Việt Nam ở nước ngoài là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta và các nước”. Vì vậy nghị quyết 36 khẳng quyết “đảng và nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà”.


PHẦN THỨ BA: “Nhiệm Vụ Chủ Yếu”

Phần này là phần phương pháp luận của nghị quyết 36. Nhằm biến cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại trở thành công cụ ngoại giao cho chế độ CSVN, nghị quyết 36 hoạch định hai phương pháp chủ yếu:

* PHƯƠNG PHÁP CỦ CÀ RỐT: phương pháp này gồm bốn củ cà rốt chính:

_ CÀ RỐT MỘT: Tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Hải Ngoại về thăm Việt Nam
_ CÀ RỐT HAI: Đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt dành cho người Việt ở nước ngoài đặc biệt là thế hệ trẻ.
_ CÀ RỐT BA: Đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác phủ dụ bằng thông tin, tuyên truyền. Hỗ trợ việc ra báo viết, mởi đài phát thanh ở nước ngoài. Nói chung là TRUYỀN THÔNG QUỐC DOANH của CSVN sẽ được “XUẤT KHẨU” ra hải ngoại.
_ CÀ RỐT BỐN: Mời gọi người Việt Hải Ngọai “làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương cửa Việt Nam với nước ngoài”. Hoặc: “Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến hành hoạt động, vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống”.

Nói chung, nghị quyết 36 quyết tâm đưa đẩy người Việt Nam Hải Ngoại rơi vào NHIỆM VỤ TAY CHÂN đắc lực cho guồng máy ngoại giao của CSVN. Nhớ rằng dù là nhiệm vụ đắc lực nhưng mãi mãi chỉ là nhiệm vụ tay chân mà thôi.

* PHƯƠNG PHÁP CÂY GẬY: Trong trường hợp phương pháp củ cà rốt tỏ ra không hữu hiệu: cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại vẫn kiên trì và mạnh mẽ đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam, nghị quyết 36 buông lời hăm dọa: đảng và nhà nước sẽ “có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam”. Lời đe dọa thật ngắn, thật thoáng qua nhưng bóng dáng của những tên đặc công khủng bố đã hiện ra rất rõ nét. Sự thể này chứng tỏ mãi cho đến năm 2004, CSVN vẫn còn là người khách cực kỳ xa lạ đối với nền văn minh dân chủ.


PHẦN THỨ TƯ: Tổ Chức Thực Hiện

Phần này là phần phân chia nhiệm vụ. Từ trung ương đảng, chính phủ đến tất cả cấp ủy đảng địa phương đều phải nghiêm chỉnh và tích cực thực thi nghị quyết 36.

Sau khi khảo sát toàn bộ nội dung của nghị quyết 36, chúng ta nhận ra rằng từ cách đặt vấn đề, nhận thức vấn đề, đến phương pháp luận của vấn đề, tất cả đều NHẰM MỤC ĐÍCH BIẾN CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM HẢI NGOẠI THÀNH CÔNG CỤ CỦA CSVN TRÊN BANG GIAO QUỐC TẾ. Đó chính là ĐIỂM của nghị quyết 36. Những lời lẽ ca tụng người Việt hải ngọai yêu nước đi kèm với sự diễn tả thái độ ân cần của CSVN đối với những người sống xa quê hương chỉ là DIỆN.

Kỹ thuật vận dụng ĐIỂM và DIỆN trong nghị quyết 36 nhằm chủ đích tạo cho người Việt Nam có ảo tưởng rằng nghị quyết 36 là sản phẩm của tình thân mến giữa đồng bào với đồng bào, nó không hề ẩn chứa trong nó tham vọng biến người Việt hải ngọai trở thành những tay sai ngọai giao. Bây giờ câu chuyện ĐIỂM và DIỆN đã được giải bầy.

Sự việc CSVN bị bắt buộc phải nhìn nhận vai trò ngoại giao quan trọng của cộng đồng VN hải ngọai đã làm cho chúng ta liên tưởng tới quốc gia VN với một cấu trúc vô cùng đặc biệt. Cấu trúc đặc biệt đó được biện giải như sau: trước kia, VN chỉ có thể thi hành tác vụ ngoại giao thông qua hệ thống tòa đại sứ. Hệ thống này chỉ là những VỊ KHÁCH làm việc trên lãnh thổ của các quốc gia mà VN bang giao. Với tư cách người khách, năng quyền ngoại giao của hệ thống tòa đại sứ rất hạn chế.

Sau 30 tháng 4, 1975, cộng đồng VN hải ngoại thành hình tại hầu hết những quốc gia giầu mạnh nhất thế giới. Thành viên của cộng đồng này đều mang quốc tịch của quốc gia sở tại. Do đó người Việt hải ngoại có năng quyền của người vừa phải đóng thuế, vừa có quyền ứng cử và bầu cử. Họ thực sự là CHỦ NHÂN của quốc gia mà họ sinh sống. Họ có khả năng thông qua các vị dân biểu của họ để chấp thuận hay bác khước mọi đề nghị của Bộ Ngoại Giao CSVN.

Sinh mệnh chính trị của một chế độ bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với hai khối công việc: NỘI VỤ và NGỌAI VỤ. CSVN cưỡng chíêm NỘI VU. Hệ thống cộng đồng VN hải ngọai càng ngày càng có khả năng nắm giữ vững vàng CHÌA KHÓA NGOẠI VỤ. Từ đó quốc gia VN ngày nay vận hành theo một cấu trúc đặc biệt gọi là CẤU TRÚC MÔI VÀ RĂNG. MÔI là VN quốc ngoại. RĂNG là VN quốc nội. VN chỉ thực sự hạnh phúc và thịnh vượng chừng nào MÔI và RĂNG hợp tác mật thiết với nhau, thông qua một gạch nối hợp lý.

Gạch nối hợp lý kia chẳng là gì khác hơn là chế độ tự do dân chủ. Thay vì thành tâm xây dựng tự do dân chủ, CSVN đang sử dụng nghị quyết 36 để tạo kết hợp cưỡng ép và gian dối giữa môi và răng. Nghị quyết 36 rõ ràng là một sản phẩm chính trị tật nguyền. Nó bao gồm những lời dụ dỗ vụng về cộng với các biện pháp đe dọa vu vơ. Hơn thế nữa, nghị quyết 36 còn rõ ràng là bức tranh minh họa trình độ ấu trĩ tệ hại của CSVN trên địa bàn bang giao quốc tế. Với tư cách là những thành viên của VN quốc ngoại, người Việt hải ngoại không thể không đặt câu hỏi: chúng ta nên ứng xử như thế nào đối với nghị quyết 36? Câu trả lời nằm ở nội dung của các bài viết kế tiếp.


December 6, 2010

LS. ĐỖ THÁI NHIÊN

Ở Mỹ Nhớ Việt, Ở Việt Nhớ Mỹ



Cách đây 32 năm, trên chiến hạm chỉ huy Blue Ridge, thuộc Hạm Đội thứ 7, các ký giả ngoại quốc đã thấy hàng ngàn những chiếc thuyền nhấp nhô như lá tre trôi trên biển. Nguời ta thấy những chiếc thuyền đủ loại, đủ cỡ của những nguời Việt Nam dầu tiên bỏ chạy Cộng Sản. Họ là ai, số phận họ sẽ ra sao sau này? Chẳng ai trong số những ký giả trên và ngay cả những người ngồi trên những chiếc thuyền dó có thể tiên đoán được điều gì?

Người ta nhận thấy có nhiều ký giả Mỹ và một số những nhân vật trong chính quyền Mỹ trên chiến hạm Blue Ridge. Chẳng hạn như Frank Snepp, tác giả các cuốn sách: Decent Interval và An Insider Account of Saigon, David Halberstam với The best and the Brightest và một số người khác như H.R. Haldeman, Stanley Karnow.

Karnow nhìn David Halberstam như chế nhạo nói:

-Này anh, công cuộc di tản này hẳn có sự đóng góp công sức của những người như anh?

Halberstam ddáp:

-Anh nói không sai, nhưng điều đó chứng tỏ sức mạnh của người Mỹ chúng ta nằm ở chỗ nào? Ðâu có phải chỉ có sức mạnh của B52? Anh đồng ý chứ? Và hôm nay, chúng ta là những nhân chứng duy nhất và cuối cùng chứng kiến cảnh tháo chạy này. Và tôi nghĩ rằng đó là trách nhiệm của tôi và anh ở đây.

Karnow:

- Phần tôi, sẽ không bao giờ quên được câu chuyện ngày hôm nay. Tôi cảm thấy xấu hổ cho nước Mỹ.

Trên ca bin chỉ huy trưởng của chiến hạm, người ta nghe tiếng đối đáp của ông chỉ huy trưởng với Henry Kissinger. H. Kissinger hỏi viên chỉ huy trưởng:

-Ông có biết bây giờ là mấy giờ ở Hoa Thịnh Đốn không? Trong một giờ nữa mà ông Đại Sứ Martin không có mặt trên chiến hạm của ông thì kể như cuộc triệt thoái của người Mỹ là một thất bại?

-Thưa ông Kissinger, tôi được biết, ông Đại Sứ còn nán lại để cứu vớt những người Việt Nam cuối cùng cần phải được cứu vớt.

Kissinger cáu kỉnh quát trong ống nghe:

-Anh nói với ông ta là lệnh của tôi, ông ta phải lập tức rời VN. Tôi không cần biết phải cứu ai. Sao cái bọn ‘chó chết’ đó không chết phứt đi cho rồi.

Stanley Karnow nghe được cuộc điện đàm đã đưa ra nhận xét: Ông Kissinger và Lê Đức Thọ nói cùng một thứ ngôn ngữ. Ông Thọ cũng gọi bọn người đang lố nhố trốn chạy dưới kia là những đống rác rưởi mà chúng tôi cần tống ra biển. Cả người Mỹ và kẻ thù của họ đều coi VN như một thứ rác rưởi cần phải tống khứ đi cho rồi.

Chẳng bao lâu sau, đại sứ Martin đã có mặt trên chiến hạm và ông đã nhận được một công diện của H. Kissinger đánh đi như sau: “Người Mỹ đến Việt Nam như thế nào thì khi rút đi cũng như vậy. Ðó là thành công của ông, của chúng ta. Congratulations! “

Ngay sau đó, Đại Sứ Martin nhận được từ dưới bong tầu chỉ huy, một cựu tướng VN muốn xin gặp. Ông Martin đã từ chối và nói với viên sĩ quan tùy tùng nhắn lại:

“Nói với ông ta, ở đây không phải Sài Gòn mà là nước Mỹ trên biển. Hiện nay, chúng tôi coi ông ấy như một người ‘vô tổ quốc’. Phải cởi bỏ lon chậu và không được tuyên bố điều gì.”

Người tùy tùng tuân lệnh và nói thêm rằng, ông cựu tướng đó dơ hai tay lên trời với cử chỉ tuyệt vọng, ngửa mặt lên trời và kêu lên rằng:

“Ta thề có trời đất, một ngày nào đó, ta sẽ trở về.”

Lúc này, có lẽ chữ bỏ chạy là đúng nghĩa nhất. Chỉ biết bỏ chạy đã. Số phận họ ra sao không ai dám nghĩ tới, ngay cả đối với kẻ lạc quan nhất. Và đã có hơn 100.000 ngàn người trong số 250.000 ngàn người như thế đã được vớt đi định cư từ các chiến hạm của hạm đội 7.

Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin trong những nỗ lực cuối cùng, cố trì hoãn ở lại Sài Gòn đến phút chót để cứu càng nhiều càng tốt những người bạn Việt Nam, hình ông đang bị vây quanh bởi hàng rào ký giả ngay sau khi trực thăng đáp xuống soái hạm chỉ huy USS Blue Ridge.

Cuộc ra đi thật bi tráng và tuyệt vọng đến tức tưởi!

Số phận họ có khác gì những con thuyền lênh đênh trên biển cả như những lá tre? Vâng những lá tre trên một đại dương mà lẽ sống chết đang chờ đợi họ. Bằng mọi giá, họ đã ra đi mà nếu nay ngồi nghĩ lại, nhiều người không mường tượng nổi, họ dã có thể làm một điều như vậy. Những cái “sô” vớt người trên biển trong tuần lễ cuối cùng của tháng Tư và đầu tháng Năm của người Mỹ cũng nói lên được điều này: Người Mỹ có thể làm được tất cả mọi việc một cách quy mô, ngay cả việc trốn chạy.

Ðó là những thuyền nhân Việt Nam đầu tiên chạy trốn làn gió chướng từ trong đất liền đã thổi giạt họ ra biển…

Hãy cứ tưởng tượng, trong số 250 ngàn người đó, ít ra cũng đến phân nửa ở tuổi vị thành niên, Cái hình ảnh người lếch thếch, lang thang với từng đoàn người người nối đuôi nhau chạy trốn. Và nếu cần nói một điều gì về lúc đó, về tâm trạng những người bỏ chạy thì có thể tóm tắt trong một câu: Tất cả đều hoang mang và không có một chút hy vọng gì về tương lai cả.

Và cứ như thế, các con số thuyền nhân trốn khỏi Việt Nam càng gia tăng theo nhịp độ của những chính sách của Hà nội như “đi vùng kinh tế mới”, “học tập cải tạo”, “đánh tư sản, mại bản”, và cuối cùng “đi bán chính thức” nhằm vào giới Hoa Kiều. Cứ mỗi một đợt chính sách lại thêm số người trốn ra đi khỏi nước. Tổng cộng đã có gần hai triệu người trốn đi như thế. Đấy là còn chưa kể những người để lại xác trên biển cả. Con số này chẳng ai biết là bao nhiêu? Và cũng chẳng ai có thì giờ tìm hiểu làm gì. Người chết thì đã chết. Phải vậy không? Tiếc nuối rồi cũng nguôi ngoai để lo sinh kế, miếng ăn trước đã.

Tất cả những chính sách vừa kể trên của nhà cầm quyền CS là nhằm đánh vào những thành phần phản động, ngụy quân, ngụy quyền, tay sai Mỹ Ngụy. Và đối với nhà cầm quyền lúc ấy, chỉ có hai cách để làm ‘vệ sinh miền Nam’ là: Tống xuất bọn rác rưởi ra biển hoặc cho đi tù cải tạo.

Nhưng chính thức thì có thể quả quyết rằng, nhà nước không cưỡng bức một ai phải bỏ xứ ra đi, và cũng không giữ một ai muốn ra nước ngoài sinh sống. Và cuối cùng để giữ thể diện hoặcđể trao đổi trong thương thuyết, nhà nước Cộng Sản đã đồng ý với Liên Hiệp Quốc theo một chương trình “ra đi trong vòng trật tự” (Orderly Departure Program). Thảm cảnh thuyền nhân trên biển vì thế đã giảm mức độ.

Tất cả câu chuyện, những thảm cảnh trên biển cả nay đảo ngược trở thành cái mà Michel Tauriac trong Hồ sơ đen của Cộng sản (Le dossier noir du Communisme) tóm tắt đầy đủ ý nghĩa tóm gọn trong một câu “Những con bò sữa thuyền nhân”.

Gió đã đổi chiều, gió chướng đã thổi họ ra biển, nay ngọn gió nào đã đưa họ về?

Hình ảnh thật biểu tượng và gợi hình. Thật vậy, tất cả những con bò sữa thuyền nhân đã ra đi với hai bàn tay trắng để lại tiền bạc, nhà cửa ruộng vườn. Họ đã vắt được bao nhiêu sữa ở những con bò đó? Vắt lúc ra đi và nhất là vắt lúc trở về. Việc ra đi theo diện người Hoa, đi bán chính thức hay việc quản lý nhà cửa đất đai, tài sản nằm trong tay Bộ nội vụ. Công việc bộ này là đảm trách và tổ chức nhằm “nhổ sạch lông” những bọn người lưu vong này. Kẻ rỗi hơi ngồi tính nhẩm chuyện nhổ sạch lông này đem lại cho nhà nước ít nhất là 25 tấn vàng. Nhưng 25 tấn vàng vẫn là chuyện nhỏ. Vẫn là chuyện vắt đi. Vắt lại mới là quan trọng.

Và để gợi những thuyền nhân thì có nhiều tên gọi tùy theo thời kỳ: lúc đầu là bọn bán nước, bọn tay sai. Cho mãi đến năm 1990, cũng còn có người gọi Việt kiều là những tên Việt gian. Nói chung họ coi đó là thành phần rác rưởi của chế độ cũ, muốn thải loại, muốn tống đi cho rảnh mặt. Và gọi một cách vô tội vạ nhất là người nước ngoài. Nghĩa là có sự phân biệt đối xử giữa người trong nước và ngoài nước. Sau này chữ được dùng hơn cả là Việt Kiều.

Xin nhắc lại vụ án tàu Việt Nam Thương Tín để chúng ta hiểu rõ Cộng Sản hơn. Trên báo Quân Ðội Nhân Dân, số ra ngày 3/7/77, trang ba viết như sau:

“Luật lệ trừng phạt những kẻ phản cách mạng đã được ban hành ngày 19/11/76.” Khoản 9 của điều luật đã ấn định rõ như sau: “Tội chạy trốn theo hàng ngũ địch hay trốn ra ngoại quốc vì những mục tiêu phản cách mạng sẽ bị phạt từ 3 đến 12 năm tù. Trong những trường hợp đặc biệt và nghiêm trọng tổ chức tội phạm sẽ bị kết án chung thân hay Tử hình.” Số phận những người đi tàu Thương Tín và di tản, nhất là giới trẻ đã bị phát tán đi Lào Cay, Thái Nguyên, Yên Bái…

Về phía những người Việt Hải ngoại, xin được nhắc mọi người đến những hoài niệm của những năm đầu ở Hải ngoại để cho thấy tâm trạng chúng ta lúc bấy giờ như thế nào? Những nhà văn đã thay chúng ta nói lên những tâm trạng đó. Có thể là bài viết của Nguyễn Ðình Toàn: Sài Gòn, niềm nhớ không không tên, kỷ niệm 30/04. Và nỗi ray rứt trong tập thơ mỏng của Cao Tần nói lên đủ.

Vài câu thơ góp nhặt đó đây để cùng nhớ lại:

Thư quê hương như tên hề ốm nặng
Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười
Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí
Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông văng
Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa
Ông anh hùng ông cứu được quê hương
Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo
Lùa cả nước vào học tập yêu thương

(Cao Tần)

Và trong số Văn Học Nghệ Thuật, số 1, có bài phỏng vấn người nhạc sĩ tài danh với câu trả lời: “Buồn lắm. Nhớ Việt Nam quá. Thương quá Việt Nam .” nói theo kiểu Phạm Thế Mỹ. Và cứ thế. Ai là người tuôn ra những câu thơ ở Thị Trấn Giữa Đàng những ngày tháng Tư đen:

Xin cúi đầu mình xuống
Khóc quê hương, trói trong tay bạo cường.
Xin cúi đầu một phút
Nhớ anh em, sống trong ngục, trong tù
Nuôi cho sâu hận thù
Mong và chờ, về Việt Nam ước mo
Một ngày bảy lăm, đứng ở cuối đường
Loài quỷ dữ xua con ra đại dương
Đời hai lần ta bỏ que, bỏ nước
Phải nuôi ngày sau về ôm tổ quốc …
Ta phải về, ta chiếm lại quê hương
Ta phải về xây lại đời ta
Ta chống Cộng, ta không trốn Cộng
Ta và cả trăm ngàn đồng hương
Mai nay rồi, ta về VN mến yêu.

Thời ấy nay còn đâu.

Rồi cứ như thế sau thời kỳ mở cửa mà số lượng người Việt về nước cũng như kiều hối đã bắt buộc mọi người phải thay đổi lại thế nhìn, thế bắn. Không ai có thể từ chối được những món quà, không phải 10 đô la trong ngày lễ Noel mà là 3 tỉ đô la. 3 tỉ đô la tình nghĩa hàn gắn những vết sứt sẹo, những lời nói mà bình thường chỉ được coi như kẻ thù.

Gió đã đổi chiều, nên ngôn ngữ cũng đã đổi theo. Những chiếc thảm đỏ đã trải dài từ phi trường Tân Son Nhứt đến Nội Bài, chạy thẳng vào Bắc Bộ Phủ. Thật là trớ trêu đến nực cười. Lúc ra đi trốn chui, trổn nhủi, lúc trở về thảm đỏ dưới chân.

Những thành phần rác rưởi ta vừa nói ở trên, những con bò sữa đã vắt cạn chẳng bao lâu sau trở thành rác quý mà người ta có thể chế biến thành những sản phẩm, những vật liệu để xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh. Ðã chẳng ai ngờ điều đó đã xảy ra. Rác rưởi cứ thế đổi hình, đổi dạng mà tính ra tiền bằng những sản phẩm mới.

Những anh thuyền chài có thể ra đi vỏn vẹn chiếc quần đùi nay chễm trệ ngồi Mercedes. Những mệnh phụ nói tiếng Mỹ oe oé. Kể gì đến những hiện tượng nhỏ nhoi đó. Ðã có rất nhiều thay đổi tràn đầy hy vọng như thế đối với giới người Việt di tản, nhất là nơi người trẻ. Họ không còn là cô nữ sinh cười e lệ, hỏi không dám mở lời. Ngày nay họ là những chuyên viên hàng đầu của xã hội Mỹ. Có những người trong bọn họ đã làm ra số vốn bạc tỷ. Có người trong bọn họ, cùng với bạn đầu tư nửa tỷ đô la tại nơi mà trước đây được coi là thánh địa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, “Củ Chi với những địa đạo”, nơi tự hào về cuộc chiến thần thánh trong tương lai trở thành biểu tượng “thung lũng của ngành tin học”.

Và cái kim chỉ đường cho người Việt tương lai là hãy nhìn vào giới trẻ đang lên. Họ chiếm đa phần. Tương lai thuộc về họ, đời sống thuộc về họ, cộng đồng VN là họ. Không phải do một thiểu số những người lớn tuổi. Những người bỏ nước ra đi đã chỉ nhớ cái phần đầu câu chuyện mà quên phần cuối. Những câu chuyện do người lớn kể ngày càng nhạt phèo như nước ốc. Phải chăng thời của họ đã hết? Họ bám víu vào những bèo bọt mà chính họ cũng chẳng còn thiết tha gì. Nhưng nếu không bám víu vào đó thì họ còn gì là họ?

Phải chăng cuộc ra đi bất hạnh nay đã trở thành đại hạnh cho chính mình, cho con cháu mình, cho cái nơi mình đi tới và cả cái nơi mà từ đó mình đã ra đi?

Hãy nhìn vào những con số để nhận ra câu chuyện thần thoại về người Việt di tản. Năm 1987, mới chỉ có 8 ngàn người về thăm quê hương, đến năm 1993 thì con số tăng lên 160 ngàn người, đến năm 2002 là 380 ngàn người. Con số tự nó nói lên điều gì rồi và người ta bắt đầu vỡ lẽ ra. Bên cạnh đó, kiều hối đem lại một số tiền mặt là 2 tỷ 6 đôla trong năm 2003. Hãy làm một so sánh cho rõ. Năm 2003, Việt Năm xuất khẩu được 20 tỉ đôla, trừ vốn liếng cho sản xuất, lời ròng của 20 tỷ vị tất đã được 5 tỷ?

Có một điều, nhiều người vô tình quên là năm nay có 2 triệu lượt khách đến Việt Nam. Cứ giả dụ, mỗi người khách tiêu 2000 đô la đầu người. Số tiền thu được sẽ là bao nhiêu? Trong số 300.000 người Việt về thăm quê hương, cứ cho là vừa tiêu xài, vừa cho bà con họ hàng, ở từ hai tuần đến một tháng, mỗi người đổ đồng chi tiêu 4000 đô la cho một chuyến về thăm quê hương, cán cân ngân sách cũng như nền kinh tế Việt Nam đã được tăng lên không nhỏ.

Tiềm năng thật lớn. Tương lai cũng đầy hứa hẹn. Ðó là nền kinh tế sống nhờ trên những kỹ nghệ không khói. 10 năm nữa, dự đoán số khách du lịch là 10 triệu người mỗi năm như Thái Lan hiện nay, với các đường bay thẳng Sài Gòn-Mỹ, Sài Gòn-Âu Châu. Chuyện đã xảy ra và chắc sẽ xảy ra. Lúc đó, tiền đổ vào qua du lịch không phải là nhỏ nên hiện nay trên hầu hết 60 tỉnh thành của VN đều có khu du lịch đủ kiểu.

Điều đáng nói hơn nữa là nay có một số Việt Kiều về nước kinh doanh đầu tư với gần 100 dự án được chấp nhận với số vốn đầu tư con số xấp xỉ một tỉ đô la. Những Việt kiều như Nguyễn Chánh Khê với phát minh chế tạo thành công Carbon Nanotube (áp dụng vào việc sản xuất mực in và các sản phẩm công nghiệp cao khác) không phải là hiếm. Dự án khu khách sạn Sofitel Vinpearl Resort–Spa, 5 sao, tại đảo Hòn Tre nay đã thành sự thực. Nha Trang đã khánh thành khu Vinpearl Resort vào cuối năm với số tiền đầu tư là 500 tỉ đồng. Phần lớn các số tiền đầu tư này tập trung vào linh vực công nghiệp, điện toán, lắp ráp, du lịch.

Cũng vì thế, nhà nước đã chẳng tiếc lời gọi Việt Kiều là những người con của đất nước. Những lời lẽ trân trọng mật ngọt đã hẳn là không thiếu.

Gió chướng đã không còn nữa. Gió đã đổi chiều, ngôn ngữ đổi chiều, giọng lưỡi đổi giọng. Không còn có chữ nghĩa làm đau lòng nhau nữa. Trên tất cả các sách báo, trên các trang nhà, không còn có thể tìm thấy bất cứ thứ chữ nào nói xa nói gần đến chế độ miền Nam trước đây nữa. (1) Những chữ như bọn ngụy quân, ngụy quyền và bọn tay sai đã không tìm thấy trong tự điển của bộ chính trị nữa. Ngược lại không thiếu những chữ mật ngọt như “Tổ quốc Việt Nam , quê hương thân thiết luôn giang rộng vòng tay chào đón những người con xa xứ.” “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt nam định cư ở nước ngoài giữ gìn quan hệ gắn bó với quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”.

Luật quốc tịch điều hai thì viết rõ ràng thế này: “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam, là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam .”

Nhà nước lại còn trích dẫn câu nói của ông Hồ mà không ai tự hỏi xem ông nói lúc nào và bao giờ: “Tổ quốc và chính phủ cũng luôn luôn nhớ thương đồng bào, như bố mẹ thương nhớ những người con đi vắng.” (Hồ Chí Minh nói với kiều bào ở Thái Lan về nước năm 1960.)

Từ Sài Gòn ra Biển Đông (30/4/1975)

Hình như người ta đã quên cái cảnh bồng bế xô đẩy nhau lên máy bay và bằng bất cứ giá nào phải đi bằng được. 32 năm sau, câu chuyện kể về thuyền nhân chỉ còn là dĩ vãng mà cả bên này bên kia, nhiều người đã quên hoặc cố tình quên.

Thật ra không hẳn là như vậy. Nhà nước chính quyền hoan hỉ nhận những đồng tiền đô la từ mọi nơi gửi về cũng như người Việt mang tiền về nước. Mang tiền về thì được chứ đừng mang chữ về. Chữ hiểu theo nghĩa rất rộng là sách báo, tư tưởng, âm nhạc, nghệ thuật. Từ khi có nhà nước Cộng Sản đến nay, chữ vẫn là độc quyền tuyệt đối nằm trong tay đảng. Nó nằm trong một hệ thống khép kín: Chủ nghĩa hay ý thức hệ bạo lực khủng bố và một chính quyền toàn trị. (Ideology, terror and totalitarian government).

Chẳng lạ gì, trước khi về VN, người ta thường khuyên có một diều duy nhất: anh muốn làm gì thì làm: chẳng hạn cờ bạc, chơi bời đủ kiểu, tắm đủ kiểu, phòng trà đủ kiểu, âm nhạc đủ kiểu, cà phê đủ kiểu, gái đủ kiểu, sex đủ kiểu, ngủ trưa đủ kiểu, ngủ tối đủ kiểu, ăn đủ kiểu, vừa ăn vừa chơi đủ kiểu, đĩ điếm đủ kiểu, hối lộ đủ kiểu, lưu manh lường gạt đủ kiểu, gian trá đủ kiểu, buôn bán mánh mung đủ kiểu, làm giầu đủ kiểu, đầu cơ đủ kiểu, công an đủ kiểu, phường khóm đủ kiểu, công ty đủ kiểu, cơ quan đủ kiểu, chính quyền địa phương đủ kiểu, chính quyền trung ương đủ kiểu, luật pháp đủ kiểu, thằng ăn cắp xử thằng ăn cướp đủ kiểu và cuối cùng xã hội lọan đủ kiểu.

Ta có quyền đủ kiểu hết, miễn là đừng đụng đến chính trị. Vì trên hết, vẫn có một nhà nước toàn trị ở trên tất cả những đủ kiểu đó. Trước khi lên máy bay về nước, còn dặn với theo: nhớ nhé đừng đụng đến chính trị.

Mặc dầu vậy, ngày nay, có nhiều bà con Việt Kiều tính về ở hẳn VN. Có người trong đám này về Việt Nam dưỡng già với xe hơi SUV. Trong vòng 10 năm nữa, khi xa lộ đông tây hoàn thành, khi 6 tuyến xe điện ngầm xây dựng xong, đường hầm Hải Vân nối liền Nam Bắc hoàn tất thành phố Sàigòn sẽ thay mặt đổi tên chẳng còn ai nhận ra nó nữa.

Nay ở Sàigòn, đã có những khu nhà “Làng Việt Kiều”. Người ta dự trù có 4 khu như thế, với những biệt thự sang trọng, đủ tiện nghi như ở Mỹ , Canada . Người ta thấy những Việt Kiều lái những chiếc xe SUV, hay ngồi nhâm nhi ly rượu cocktail bên bờ sông Sàigòn. Những căn nhà có những bãi cỏ xanh, mái nhà mầu cam kiểu California , có những hàng dừa cọ, những hồ bơi với những hàng chữ tiếng Anh: “Welcome!” Ðây là, chẳng phải ai khác, mà là những người di tản, những rác rưởi 32 năm về trước chạy trốn Cộng Sản, hoặc đã bị đi tù, đi cải tạo.

Dự án Làng “Việt Kiều Châu Âu” tại Mỗ Lao-Hà Nội, đã ký hợp đồng bán nhà cho khách nhưng sau đó bị “trượt giá” trước khi tiến hành xây với lý do “chưa được giao đất nên chưa xây.

Gió chướng đẩy họ ra đi, nay gió nào đẩy họ về?

Chẳng hạn, anh chàng Võ Quy, kèm theo cái tên Larry. Và vô số những tên như thế Catherine, Julie, Elizabeth, Brigitte, Linda…. Nay Võ Quy đã gần 70 tuổi, trước đây là một sĩ quan không quân, quân đội VNCH. Anh ta đã rời bỏ vùng Southern California cách đây 6 năm cùng với vợ, Linda, còn có tên cúng com là Ngọc để về ở đây. Anh ta khoe căn nhà với vẻ hãnh diện không cần dấu diếm với đồ dùng toàn bằng Inox (thép không rỉ), phòng tắm lớn có vòi tắm hơi, thiết trí theo kiểu Jacuzzi của Ý. Sàn nhà mầu hồng bóng lộn.

Anh còn chỉ cho thấy và nói thêm: “Không phải cẩm thạch đâu nhé, đá hoa cương thứ thiệt đấy. Thiệt là quá rẻ, còn rẻ hơn ở Hoa Kỳ rất nhiều.” (2)

Thiệt là Việt Kiều!

Một anh khác tên Hoàng Tiến, chả bù cho lúc ra đi lếch thếch, lang thang, nay anh trở thành chủ nhà thầu đang có những kế hoạch xây cất nhà cho Việt Kiều với những dự án “thành phố xanh” (Green city).

Cái điều oái ăm đến quái gở là khi ở Mỹ, người ta bằng mọi cách nhắc nhớ đến Sài goon, tìm cách đặt tên Little Saigon, Phở Bắc, bánh mì Tân Ðịnh, bánh cuốn Ðakao, Restaurant Hoài Hương, Phở Hà Nội, Brodard restaurant, phở Nguyễn Huệ để nhớ về miền Nam thân yêu. Nay ở Việt Nam thì người ta lại muốn đặt tên cho những khu thương xá là “tiểu Cali ” , “tiểu Fairfax ” để nhớ đến. Và cứ như thế, sẽ có một số người Việt gốc Mỹ sống riêng biệt trong những tiểu quốc, Mỹ Hóa của họ bên cạnh những người Việt bản xứ.

Khi ở Mỹ thì họ nhớ Việt Nam , khi ở Việt Nam họ lại tiếc lối sống Mỹ. Họ trở thành người ngoại quốc trước mắt những người đồng bào của họ. Họ tưởng về quê thật, nhưng lại mang tâm trạng một thứ chủ nhân, cách biệt với dân bản xứ. Và điều rõ rệt là Hoàng Tiến đã bực tức về một căn nhà hàng xóm đã vứt những bao rác ra đường ngay cổng nhà anh ta, đã mở nhạc Karaoké tùy tiện ầm ĩ cả lên. Anh bực tức nói: Như thế không phải lối sống Mỹ, không biết tôn trọng luật pháp. Như thế là thiếu văn minh.

Khi ở Mỹ thì anh muốn bảo tồn văn hoá Việt, không muốn trở thành một mẩu trong Melting pot hay Sàlát Mỹ. Anh bắt con đi học tiếng Việt. Về Việt Nam , mở mồm là anh chỉ xổ tiếng Mỹ. Cái mâu thuẫn như thế rất là Việt Nam . Trong tương lai, Hoàng Tiến sẽ còn phải bực tức nhiều về những điều trái tai gai mắt: chẳng hạn một anh cán bộ phường cứ xồng xộc vào nhà chẳng điện thoại trước.

Riêng Nguyễn Anh, năm nay mới 35 tuổi về Việt Nam làm việc cho một công ty nước ngoài. Ra đi từ nhỏ, kể như không biết gì về Việt Nam , anh cũng không có ý ở hẳn VN.. Nhưng anh cũng có một vài nỗi khổ vặt khác. Nguyễn Anh sững sờ khi làm một việc gì giúp người khác không nhận được một tiếng thanh kiu, thanh kiếc gì hết. Anh cũng khó chịu khi mọi người chen lấn không xếp hàng khi trả tiền. Nhất là các cô thiếu nữ trông khả ái, dịu hiền, nhưng cũng huých tay chân như ai. Gần như mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy sống chen lấn chụp giựt.

Nguyễn Anh có hơi buồn về con người Việt Nam vốn có tâm hồn, vốn thương người mà một tai nạn xe cộ xảy ra đến chết người mà mọi người dửng dưng. Quả thực, tuy là người Việt Nam , nhưng anh lại không hiểu gì về người mình.

Lại nói đến giải trí, Nguyễn Anh không hiểu được là người Việt Nam “Xem thể thao” chứ không chơi thể thao. Mấy triệu người thức đêm, bỏ công ăn việc làm, bỏ học để dán mắt vào đài truyền hình theo dõi một trận đá banh. Thật là vô lý vì hại sức khỏe. Chỉ có 22 cầu thủ thực sự chơi thể thao, còn cả nước chỉ ngồi xem thể thao, chưa kể còn cá độ. Hình như cái gì ở Việt Nam cũng có thể trở thành cờ bạc.

Lại một điều nữa, Nguyễn Anh không hiểu được.

Nguyễn Anh thì chỉ thích đi đánh golf. Nhưng muốn chơi ngon, Nguyễn Anh phải lấy vé máy bay ra Phan Thiết chơi, vì ở đó có sân chơi nổi tiếng là đẹp. Ít ra thì điều đó cũng làm Nguyễn Anh vui lòng. Nhưng có người thấy như thế thì lấy làm kỳ cục. Họ chép miệng, tội tình gì mà phải cất công như thể để chơi Golf. Chơi đâu chả được. Phí tiền nữa. Ngưyễn Anh không đáp lại, vì anh có cái lý của anh. Ðúng là anh thấy người Việt mê đá banh một cách kỳ cục. Nhưng ngược lại, họ cũng thấy anh không giống ai.

Còn về thanh niên, thiếu nữ thì chửi thề không biết ngượng mồm, nhất là thanh niên, thiếu nữ gốc Bắc. Mở mồm ra là địt. Sáng ra, chỉ hỏi giá cả món hàng đã bị một người con gái xinh đẹp phạng cho một câu.

Nói gì thì nói, nghĩ gì thì nghĩ. Thời gian sẽ xoá nhoà tất cả vết tích cũ: thời gian cứ trôi qua, nhiệt tình chống Cộng giảm xuống và tình hoài hương lại trỗi dậy. Những vị lãnh đạo trong nước thì nghĩ rằng: Nhân dân muốn quên hết mọi thứ. Những người này hiện ở đây vì đất này là tổ quốc của họ. Chúng ta không có quyền trách mắng họ. Chúng ta tiếp đón họ. Chúng ta không muốn để Việt kiều gây chiến tranh lần nữa.

Gió chướng đổi chiều đến đâu có thể còn chưa biết rõ được. Tôi tự hỏi bao giờ làn gió chướng đó cùng với con lốc đầu tư tư bản đánh bật chủ nghĩa Cộng Sản ra biển?

Chỉ có một điều tôi biết chắc rằng, ngay cả những người theo làn gió chướng đổi chiều, đã về VN. Họ cũng cảm thấy họ chẳng sung sướng gì, đôi khi tỏ ra buồn phiền, nghi kỵ, thất vọng không muốn nói ra. Ðó là trường hợp hợp ông Nguyễn Cao Kỳ. Ðó cũng là trường hợp một người trong số 17 người vừa được vinh danh “Vinh Danh Việt Nam – 2006″?

Tôi có cảm tưởng họ đang chơi một canh bạc giả, biết như thế mà vẫn chơi, chơi cho biết.

Gió chướng đã đổi chiều? Nhưng đổi thế nào thì còn chưa nói hay được. Bảng chỉ đường đất nước vẫn còn có thể chỉ trật đường. Xin dè dặt. Thận trọng và khôn ngoan để đừng thêm một lần nữa mắc mưu Cộng Sản lừa phỉnh.
Nguyễn Văn Lục

Bài Xem Nhiều