We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 21 December 2010

Cộng đồng Việt Nam rất hãnh diện về thành quả đóng góp của Ms Tan Le.


Một nhân tài xuất chúng trong cộng đồng Việt Nam tại Úc, Ms Tan Le, một thuyền nhân đã đến Malaysia sau 5 ngày 5 đêm lênh đênh trên biển. Cô lớn lên và tốt nghiệp tại Úc. Với kỹ thuật điện toán sử dụng tư tưởng điều khiển máy rô-bô, Tan Le đã mở ra một kỹ nguyên mới trong lãnh vực này. Kính mời quý vị xem một số Youtube video clips về những thí nghiệm của cô.

Cộng đồng Việt Nam rất hãnh diện về thành quả đóng góp của Ms Tan Le.

Quê Hương

(Thân chuyển Quý ' Người Việt hải ngoại ' cchkvn đọc vui ... rồi ráng cười chơi cho vui : )



Đón người bạn về phép Việt Nam qua, câu đầu tiên anh khoe.

- Ông biết không, dân nhà mình bây giờ nó ăn chơi, chích choác, cờ bạc, nghiện ngập… mình không lại được. Giàu cũng chơi, nghèo cũng chơi. Thằng giàu thì chơi theo phong cách “đại gia“, những thằng nghèo thì chơi theo phong cách phá đời, hoặc bán mạng. Gộp chung lại: nó là một canh bạc mang tầm văn hoá của người Việt thời “mở cửa“.
- Cái gì? Đánh bạc mà ông cũng gọi là văn hóa? Tôi hỏi bạn.
Anh đáp.
- Chứ sao? Ngài thử xem có nước nào mà người người đánh bạc, nhà nhà đánh bạc như ở Việt Nam không? Không hả? Vậy thì đúng rồi. Dân Việt mình nó hay ở điểm đó. Nơi nào có tệ nạn, nơi ấy có người Việt. Thời bao cấp dân tình bụng lép kẹp nên có cờ bạc cũng chỉ gọi là phọt phẹt, giải khuây, đủ tiền hút thuốc lào vặt. Nhưng thời nay, thời “mở cửa“ thì cờ bạc đã lẻn vào mọi nhà và ru ngủ từng người một. Sáng sớm, mở mắt, ra quán phở, gặp nhau, câu đầu tiên không phải là good morning hay mo-neo gì cả mà được thế bằng.
- Hôm qua vào “con” gì?
- Ông có “gặt” con nào không hay lại “móm”?
- Ông “chập” bao nhiêu?
- “Chập” ít thế chả bõ dính mép. Nghe tôi “chập” một “nhát” có phải bữa nay giàu to không?
- Đêm qua có mơ mẩn được “con” gì không?
- Lại mơ gặp đàn bà à? Đàn bà chín vía, đàn ông bảy vía. Nghe tôi, chặn đầu, chặn đuôi, chặn một phát ở giữa là “gặt” hết.
- Hôm nay “chập” gấp đôi chứ? Cứ nhỏ giọt thế bao giờ mới lên tiên?
- Hết tiền rồi à? Thì cầm tạm “con” xe máy, chiều “vào cầu”, lại chuộc ra.
- Xe máy cầm rồi à? Nhà làm sổ đỏ chưa? Rồi à? Vậy là có giải pháp rồi. Sao không tính cửa đi một nước lớn có hơn không? Nghe tôi: ông chập “một nhát” cho lão “đề” kia nhập bọn với đám trẻ mồ côi luôn.
- Lớn bé gì nữa. Sổ đỏ tôi cũng cầm mẹ nó tuần trước rồi.
- Vậy là ông đang “bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước”* rồi. Thôi, chọn dòng nào nó xoáy một chút, “thăng” cho nó nhanh…
- Thôi đi các bố trẻ. Mở mắt ra chỉ thấy nói chuyện “đề đóm”, não hết ruột…

Bạn tôi bảo: dân mình có cái thú đi ăn phở buổi sáng. Mới chạng vạng sáng mà quán nào cũng đông nhung nhúc. Bàn ghế các quán thường được đóng bằng gỗ tạp, đen, cáu bẩn, nham nhở và… xiêu vẹo.
- Kệ mẹ nó! Người nhà anh bảo vậy. Quán phở nhà mình là phải vậy. Ngồi ăn phải người chen người, phải chúi mặt chúi mũi vào nhau, rồi thằng gặm, thằng nhai, thằng chan, thằng húp, xụp xoạp, xuýt xoa nó mới sướng.
Mấy bữa đầu, đêm thì thức khuya, nhưng sáng sớm anh đã bị khua dậy để đi dùng điểm tâm cùng người nhà.
Anh làu nhàu, dụi mắt, giọng còn tiếc rẻ.
- Sớm thế? Mới gần sáu giờ sáng, làm sao đã ăn nổi?
Người nhà anh bảo.
- Sáu giờ là hơi muội rồi đấy. Chậm tí nữa là chỉ còn nước lèo thôi.
Vậy là mặc dù mắt mũi còn ríu lại, nhưng bạn tôi cũng phải lồm cồm thức dậy để đi “tập thể dục buổi sáng”. Lúc anh về phép, trời nồm, khách khứa ra vào vô hồi kỳ trận, kéo theo đủ các loại bùn đất. Không sao! Người nọ tha vào, người khác lại tha đi. Qui luật bù trừ cả. Có lẽ vì thế mà cả chủ lẫn khách chẳng ai buồn quan tâm tới khung cảnh nhớp nháp, dơ dáy nọ.
Nhận ra khách quen, bà chủ quán phở tươi cười, chào đon đả.
- Vào đi. Vào đi. Vẫn tái gầu** hả? Hôm nay có thêm ai đấy? Lạnh thế mà mặc sọc và áo máy ô à? Cứ vào chỗ đi đã! Có quẩy nóng đấy! Lấy ngay đi nhé, kẻo lúc nữa là hết đấy. – Sâm ơi dọn bàn lẹ đi – bà chủ quán lầu bầu quát người giúp việc – gái chưa chồng con làm gì mà như bò đái đêm thế? – À, xin chào! Hôm nay “chuyển gam” bò tái à? Lại còn ba trứng gà nữa. Hốc vừa trứng gà thôi, kẻo lại mang “gút” vào thân thì khốn. Được rồi, lượn vào chỗ đi đã. – Ấy, này, thằng kia, nhớ phần tao hai số đẹp vào nhớ. Hôm qua dở hơi, nghe theo giấc mơ ỉa đái của mày, tao “móm” cả hơn triệu bạc.

Thấy bạn tôi đứng ngẩn người nghe bà chủ vừa đối đáp vừa mời khách, người nhà liền giật tay, kéo tuột anh vào tận trong cùng rồi giục người giúp việc dọn bàn.
Bạn tôi bảo.
- Ông biết “bồi” quán phở nó tiếp khách và dọn bàn kiểu gì không? Khách đến tự kiếm chỗ mà… ngồi. Dọn bàn hả? – Chờ tí đi – tiếng cô “bồi” khẽ bẳn lên. Rồi “bồi bàn” cũng huỳnh huỵch đi tới. Như một diễn viên thuần nghệ, cô “bồi” thò hai tay, vun đống đồ thừa trên bàn nhưng không phải là hất chúng vào thùng rác mà đôi bàn tay khéo léo của cô “bồi” hất toẹt những thứ đó xuống… đất. Tiện thể cô “bồi” kéo tuột chiếc khăn màu cháo lòng vắt trên vai, phe phẩy dăm ba cái lên mặt bàn như thầy bùa làm phép thánh nhưng không phải để trừ ma, mà để khử… vi trùng. Xong! – OK rồi đấy! Nói xong cô “bồi” nguẩy mông đi phăm phăm về phía bà chủ. Đám khách hình như đã quá quen kiểu cách đó, nên kẻ trước vừa nhổm lên là kẻ sau đã tự bố trí chỗ ngồi. Cửa hàng giờ cao điểm nên phải chục phút sau mới có phở ăn. Người nhà anh gọi rượu. Tiếng cô “bồi” nói dóng từ xa.
- Rượu trong xó đấy, tự rót mà uống.
Anh bảo: Gọi “bồi” cho có lệ chứ thực tình người nhà anh đã thò tay, với cái can bằng nhựa, đựng 10 lít rượu “quốc lủi”, để góc nhà, rót đầy vào cái chai nửa lít.
– Mình “chào cờ buổi sáng nhé”? Người nhà hỏi bạn tôi.
Anh thoáng nhăn mặt đáp.
- Mới gần 6 giờ sáng mà rượu gì?

Có lẽ ngôn ngữ anh vừa phát ra hơi lạ tai nên đám khách đang ăn phở ở những bàn xung quanh kẻ ngẩng lên, kẻ quay lại nhìn anh như nhìn… động vật lạ. Người nhà anh khẽ đá chân bảo.
- Thử đi. Rượu nếp cẩm, uống hơi bị “phê” đấy. Say thì về lại ngủ tiếp.
Vậy là không chờ anh biểu quyết, bốn chén rượu gạo được rót tràn trề cả ra bàn.
- Nào! – người nhà giục anh nâng chén – uống đi, đây là tiết mục “chào cờ buổi sáng”. Thiếu tiết mục này, người ngợm nó bấy, khó làm việc lắm.
Thấy anh cầm chén rượu trên tay nhưng có vẻ ngần ngừ không muốn uống, người nhà anh liền huýt nhẹ vào cánh tay, giục.
- Uống đi. Tăng đầu là phải cạn chén mới được, bằng không khởi sự một ngày làm việc sẽ lởm khởm lắm.
Nhìn người nhà đều đã uống sạch bong mấy chén rượu và dường như cố ý chờ anh cạn chén để rót tiếp, bạn tôi đành nhắm mắt, rồi biểu quyết làm một tợp hết sạch chén rượu vào bụng.
Vừa lúc cô “bồi” bê hai bát phở trên tay, sầm sầm lao vào phía trong. Nhìn thấy cung cách “chào cờ buổi sáng” của anh bạn, chắc không giống ai, nên cô “bồi” cười toét, nói.
- Trông hoành tráng thế này mà sao uống rượu như uống ký ninh thế, rồi chẳng để ai kịp đáp lời, cô “bồi” hỏi cộc lốc.
- Bốn tái gầu của ai đấy?
- Bàn này. Người nhà anh bạn tôi đáp. – Có quất không bố trí mấy quả đi.
Cô “bồi” đáp gọn lỏn.
- Dưới đất ấy. Lấy hộ cái.
Người nhà anh lại khẽ xoay người, thò tay, nhón mấy quả quất trong một cái rá đặt gần can rượu. Chêm gia vị xong xuôi, người nhà anh bạn tôi lại nâng ly, bảo anh tiếp tục “chào cờ buổi sáng” lần hai.
– Nào, thôi, làm lượt này lót dạ rồi ăn đi – người nhà anh giục – ăn kẻo nguội mất. Tái gầu mà nguội, ăn mất sướng.
Mọi người đều đã lạch cạch đặt chén lên mặt bàn, nhưng thấy anh bạn tôi còn xoay xoay chén rượu trên tay, bèn nói.
– Sao không uống rượu đi? Người nhà anh giục.
- Từ từ. Bạn tôi đáp – phải nạp đầy đã, mở mắt, uống ngay của này vào là “đi” mất.
Mấy người khách ngồi bàn kế, mặt mũi đỏ như gà chọi, vừa ăn, vừa hóng chuyện. Một người gặm nốt cái chân gà rồi ném tọt miếng xương xuống sàn nhà, đưa tay quệt ngang miệng rồi nghiêng người, nói khẽ.
- Ông anh ở xa về phải không?
- Người nhà anh hỏi.
- Sao ông biết?
- Người nọ cười xòa, đáp.
- Nhìn kiểu ông anh ngồi ăn, xương xẩu không “rải thảm” xuống nền nhà, và chê rượu buổi sáng ai mà chả đoán ra. Ở nhà, cứ 6 giờ sáng là tụi này phải “chào cờ” vài “choác” cùng một bát phở. Thiếu tiết mục này là gay go lắm, người ngợm như cua bấy. Chẳng buồn làm chuyện gì cả.

Người nhà anh ngừng ăn, hỏi chuyện người nọ.
- Ông lái xe, mà sáng nào cũng “cử tạ” cả gần nửa lít, liệu có đi được không hay ăn xong lại đánh xe ra một bãi nào đó, làm một giấc đến chiều?
– Làm gì có. – người khách nọ ngừng gặm xương, tợp thêm ngụm rượu, đáp – Đây là chương trình “nghị sự” buổi sáng. Phải có nó tay lái mới “lụa”***. Tôi mà hôm nào có chuyện đột xuất, không được “chào cờ” buổi sáng, là gay go lắm. Chân tay, đầu óc mụ mị, tíu ta tíu tịt, không muốn làm gì cả. – Bà chủ ơi – người khách ngắt đứt câu chuyện, ngoái cổ, gọi toáng – còn quẩy nóng không? Cho thêm mấy “chùy” nữa đi.
– Còn đấy. – tiếng chủ quán đáp lại, rồi lại gọi toáng. – Sâm ơi, đem quẩy vào cho khách đi.
Cô “bồi” chắc đang dở tay trong bếp, nghe bà chủ gọi, bèn lao vọt ra, hai tay chùi lấy chùi để lên chiếc tạp dề màu gạch cua trước ngực, hỏi gắt.
- Ai gọi quẩy đấy?
– Bàn này. – Tiếng người khách nọ đáp.
- Mấy quẩy? Cô “bồi” hỏi cộc lốc.
– Ba “chùy” nữa thôi.
- Cần gì nữa không?
Người khách nọ cười hề hề.
- OK rồi. Sao hôm nay cô em bẳn như mắm tôm thế?
- Bẳn cái gì? Cô “bồi” vặc lại – Đang đứt mẹ nó ruột đây này. Hôm qua nghe lời bà kia – cô “bồi” hất hàm về phía bà chủ – “chập” cả hơn triệu bạc. Đi tong mẹ nó hết. Tháng này làm không công cho bà ý.

Bà chủ tay hối hả sắp phở cho khách nhưng vẫn dỏng tay nghe ngóng mọi chuyện. Thấy cô “bồi” phàn nàn, liền ném tọt cái môi nước phở vào nồi nước dùng, giơ tay quệt mồ hôi trán, nói như quát.
- Tiên sư con điên kia. Mày học ở đâu cái lối tự mình làm bậy, khi đổ bể lại đổ quàng cho người thế? Chị mày bảo tiền ít thì “chập” vừa thôi, khốn nỗi mày lại muốn dỡ hết nhà thiên hạ xuống làm chuồng xí của mày, bây giờ mày trắng tay lại quay sang đổ thừa cho chị mày à? Mày tưởng chị mày không đứt ruột à? Tại thằng bỏ mẹ kia kìa – bà chủ quán giơ tay chỉ một gã ngồi sát cửa ra vào, trên bàn là can rượu 5 lít cùng chiếc cốc sứ, đầy tràn rượu, bát phở nóng còn nguyên vẹn. Gã đang cắm cúi ghi ghi, chép chép la liệt những con số vào một quyển sổ.
Nghe bà chủ nhắc đến mình, gã dừng ghi chép, ngửng lên, nhe răng cười.
- Con xin mợ. Gớm, từ ngày con ghi đề, ngày hôm qua mới “khợp” được của mợ hai triệu bạc, còn những hôm con bị “móm” thì ai cười phe phé cho?
- Thằng ôn con. – Chủ quán tay thoăn thoắt làm phở nhưng miệng vẫn không ngớt mắng gã nọ. – Hôm qua tại mày “bơm” dẻo, chị mày mới húng như thế, nên chiều mới ra đê. Báo hại cả con điên kia cũng dửng mỡ, nướng cho mày cả mấy triệu bạc.
- Thế hôm nay có gài con gì không? Gã chủ “đề” nhe nhởn hỏi, rồi nâng cốc rượu, ngửa cổ nốc cạn.
- Chị mày đéo chơi nữa. Hôm qua “móm” cả ngày làm việc rồi.
- Dễ thường mình bà “móm” chắc. Gần chục năm ghi đề, hôm qua thằng em mới chính thức được làm người.
- Đã thế hôm nay tiền phở chị mày tính gấp đôi.
- Chuyện vặt. Gã chủ đề xục đũa vào bát phở, lùa một đọn đầy vào mồm, miệng nhồm nhoàm đáp – Cả tuần này, thằng em ăn một, trả hai cho bà chị. Hả giận chưa?
Bà chủ quán cười toét miệng, mắng.
- Thằng ôn con. Dễ chị mày ăn bẩn vậy chắc? Chị mày dám chơi, dám chịu, chứ không có kiểu thắng quả thì xí phần về mình, còn thất bại lại đổ quàng, đổ xiên cho thiên hạ. Nhưng từ bây giờ tao đéo tin vào những lời mày hót nữa.
- Thế hôm nay có làm một xuất không? Gã chủ “đề” vẫn nhe nhởn hỏi.
- Không. Đéo chơi nữa. Mất công về nhà thằng chồng nó “hát ca trù” cả đêm tới sáng. Đau hết cả tai.

Vừa lúc chồng bà chủ quán bê rá phở từ bếp ra, nghe vợ bóc mẽ mình, liền cau mặt, quát vợ.
- Mụ lại nói xấu gì tôi đấy? Đã bảo bao lần rồi? “gài” con nào thì “gài” nhưng đừng có “khát nước”. Bà không nghe tôi, mất mẹ nó cả ngày lao động, giờ còn nói xấu tôi phải không?
Bà chủ quán nhìn chồng, nửa cười, nửa bẳn.
- Ơ, – bà chủ buông lọn bánh phở trên tay xuống rá phở, nói. – Ông “lượn” ra đây làm gì thế? Bỏ rá phở xuống đây rồi vào bếp sắp đồ cho tôi, còn đứng đó ca cẩm gì thế? Thế ai đưa tôi vào con đường tội lỗi này hả? Dễ là tôi chắc?
Nghe vợ chồng ông bà chủ như sắp sửa giao chiến, cô “bồi” đang thập thò nơi cửa bếp bèn chạy thốc ra ngoài, chắp hai tay vái lấy vái để về phía vợ chồng ông bà chủ.
- Thôi, con xin hai sư phụ! Gớm, trong quán thì ngồn ngộn khách, tây, ta đủ cả mà hai sư phụ cứ băm bổ nhau như thế, bố thằng nào muốn ăn uống nữa.
- Tao làm gì? Bà chủ nhìn cô “bồi”, quát. – Tại lão kia cứ làm như mình là cháu ngoan bác Hồ không bằng. Ở Việt Nam mình nhà đéo nào chả cờ bạc. Thằng lớn đánh lớn, thằng bé đánh bé. Già đánh kiểu già, trẻ đánh kiểu trẻ. Nhà nước đánh kiểu nhà nước, nông dân đánh kiểu nông dân. Tao đánh bạc thì cũng đánh bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt mình làm ra chứ có đánh bằng “tiền chùa” đéo đâu mà ta thán. Vả lại tao cũng chỉ phọt phẹt đánh vài ba triệu là cái đinh rỉ gì?
- Đã bảo thôi mà lại. Cô “bồi” lôi xềnh xệch ông chủ đi về phía bếp, rồi nhân lúc đi ngang qua bàn anh bạn tôi và người nhà đang ngồi, bèn ghé tai ông chủ nói. – Có “tây” đang ngồi ăn phở đấy. Sư phụ “tạnh” đi, không người ta cười cho.
- Tây nào? Ông chủ sững người, nhăn mặt nhìn cô “bồi” hỏi – Quán này toàn “tây đề”, “tây xe ôm”, “tây taxi”, “tây chợ trời” “tây chợ người” và “tây chích choác” chứ tây đéo nào nó thèm lò dò vào đây?
- Khổ chưa? Cô “bồi” nhìn ông chủ, thở dài, rồi kéo tay ông chủ đến bên bàn người bạn tôi và người nhà đang ngồi, nói. – Đây này, người ta mới ở bên kia về, lần đầu người nhà dẫn ra đây ăn phở mà hai sư phụ cứ băm bổ nhau như vã mắm, bố thằng nào mà nốc được.
- Đâu? Ai? Ông chủ quán nhìn khắp lượt những người đang ngồi chung bàn cùng anh bạn tôi, hỏi. – Ông à? Hay là ông? Còn ông? – Cũng không phải à? Thế còn ông? – Ông thì tây thế đéo nào được. Da cũng ngăm ngăm như tôi. Chủ quán đứng im, tay khẽ vê vê cằm, cân nhắc rồi nhìn chằm chặp anh bạn tôi, quả quyết nói. – Chỉ còn ông. Đúng không?
- Nhầm rồi. – Người nhà bạn tôi ngừng ăn, ngẩng lên nói đùa. – Tôi đây này.
- Ông? Chủ quán cười toét. – Ông có từ Tây Nguyên về thì có. Chủ quán đập đập tay vào vai anh bạn tôi, nói. – Xem ra chỉ có ông này.
- Sao anh nghĩ vậy? Bạn tôi nâng chén rượu nốc ực vào cổ, mặt nhăn đanh lại, hỏi.
Ông chủ quán cười tít mắt.
- Cái dáng ngố ngố nó đã phản bội chú. Chú uống rượu trông khổ sở như vợ vừa bỏ. Ăn thì như mèo ăn, chứ không nhồm nhoàm như đám này. Vả lại anh để ý không thấy chú “rải thảm” xuống nền nhà. Đây, chú xem đi. Ông chủ lấy chân gạt một đống xương, rau, vỏ chanh, vỏ quất từ dưới gầm bàn của đám khách bên cạnh ra giữa nhà, nói – Cái này là văn hoá ăn uống của người nhà mình. Gạt tàn thuốc bàn nào anh cũng bố trí một “phát” trên bàn, vậy nhưng chú coi, cố bố nào gạt vào đó cho con nhờ đâu. Còn đồ ăn thừa, đĩa để xương và đồ thừa trên bàn anh cũng bố trí đủ cả, vậy nhưng các các “sếp” cứ tiện tay ném tọt hết xuống nền nhà. Chú không biết, chứ chỉ ít phút nữa, khi các “sếp lớn” này rút quân là cái quán của anh giống như vừa gặp đại hồng thuỷ. Bên chú chắc không có tiết mục này đâu nhỉ. Còn nữa, anh hỏi thật nhé: Chú đi tắm trắng à? Giá nước da con mụ kia nhà tôi được một phần ba của chú có phải hay không. Đàn bà mẹ gì mà da dẻ như củ súng luộc, được mỗi cái “khoản ấy” thì vô địch thủ…
- Ông giời đánh kia, lại nốc cả nửa lít vào bụng rồi hay sao mà đứng đó để lải nhải, nói xấu vợ thế? – Con Sâm đâu rồi? Bà chủ gọi toáng – Sâm ơi! Bảo mày đi lấy thêm quẩy với rau thơm về cho khách mày đã đi chưa? Chưa à? Thấy cô “bồi” thò đầu từ bếp ra, khẽ lắc, bà chủ quát toáng. – Con dở người kia, mày với lão hâm nhà tao hôm nay làm sao thế? Cả lão nữa – bà chủ quán giơ cái muôi múc nước phở dứ dứ về phía chồng, nói gắt – Tối nay ông về sẽ biết tay tôi.

Nghe vợ quát, ông chủ quán phở nhìn đám khách, gãi mang tai, cười toét, bảo.
- Đấy, có các người làm chứng nhé. Giữa ban ngày ban mặt mà mụ ấy vi phạm nhân quyền thế đấy. Động một tí là mụ ấy doạ sẽ cắt giảm “ngân khố”, rồi đêm đến lại vạch đường biên giới “chủ quyền”. Ông chủ quay sang phía anh bạn tôi, thò tay, nhấc can rượu, đổ đầy vào mấy cái chén, nói. – Nào, anh cụng với chú một ly. Trước lạ, sau quen. Quán của anh chị nó tuyềnh toàng vậy, chú không chê mà đến ăn là anh chị mừng lắm rồi. Rượu hôm nay anh đãi. – Bà “tám” kia – ông chủ quán nói toáng về phía vợ – Rượu của bàn này hôm nay “fruy” nhé. Nhớ đấy!
- Nhớ rồi! Dở người ạ! Bà chủ khẽ quát rồi bưng phở cho khách, tiện thể nán lại chỗ bàn anh bạn tôi đang ngồi, nói nhỏ. – Chú ở nước nào về đấy? Đức à? Lão dở hơi nhà tôi cũng có đứa em gái bên đó đấy, nó tên Vượng, nhưng không phải mụ Vượng béo làm Gala cười đâu nhé. Chú có biết nó không? Ừ, mà chú biết làm sao được. Nó mới đi được mấy năm nay. Đang tính nhờ người “chạy” cho nó xuất chồng Tây. Cả nhà có mỗi mụn con gái, nhưng ở nhà thì ế sưng ế xỉa, nên đành phải cho nó xuất ngoại. Biết đâu nó tốt số, lấy được thằng Tây tử tế, cải thiện được giống nòi chú nhỉ. Còn chú? Đi bao lâu rồi? Ở đâu bên đó? Thu nhập khá không? Có tính về nước đầu tư không? Chú thích lấy vợ tây hay vợ ta? Tính sẽ ở luôn bên đó hay lúc về già thì chuồn? Này, chị bảo thật: Chú đừng có dở người, nghe tụi nó khuyên bậy, rồi xin hồi hương, hay vác cả đống tiền mồ hôi nước mắt của mình về nước kinh doanh hay đầu tư hợp tác con mẹ gì cả. Làm thế là hão đấy. Bọn trong nước chúng nó lừa dẻo lắm. Chú để ý mà xem, lúc chú chạy đi nó coi chú như cứt nát, ấy vậy nhưng khi chú có chút da, chút thịt trở lại là chúng lại vờn chú như chó vờn xương. Không cứ gì chú chị mới khuyên đâu, quán chị thi thoảng cũng có đám “tây” mũi tẹt về phép, kéo nhau ra đây ăn nhậu, chị cũng khuyên như thế. Nhưng nhiều đứa có chút tiền, sinh dửng mỡ nên xoay ra muốn mua chút danh, vậy là lò dò về nước, rồi để cho tụi nó “vặt lông” như vặt lông cừu. Tới khi còn trơ lại dăm ba cái xương sườn, muốn bỏ chạy thì hết mẹ nó hơi rồi, vậy là sướng mà chẳng biết đằng sướng, lại tự thân đụt vào cửa tử. Nhưng cũng may là những thứ của nợ ấy nó “tử” sớm, chứ nếu mà nó sống dai, mà leo tới chức này, chức nọ, rồi có quyền sinh, quyền sát trong tay thì còn khốn nạn nữa chú ạ.

Nước mình bây giờ nó thế. Người có lòng hoặc là nghèo kiết xác, hoặc là bị tụi nó đì cho không ngóc đầu lên được. Số còn lại toàn bọn mặt người, dạ thú. Mà chú ở nước ngoài bao lâu rồi? – Hơn 20 năm? Vậy là bọn nó phải gọi chú là “khúc ruột ngàn rặm” đấy. Nhưng này – bà chủ khẽ nghiêng người như muốn hạ bớt “triết áp”, nhưng tiếng thì lại ông ổng. – Theo chị chú cứ làm khúc ruột thừa cho chị. Nó thối, nên không thằng chó nào nó nhòm ngó tới cả. Như vậy chứ lại khoẻ. Chứ chú mà làm “khúc ruột ngàn rặm” là chẳng chóng thì chày, tụi nó cũng tuốt ruột của chú ra để làm… cỗ chú đấy.

Bà chủ quán còn định hỏi một thôi một hồi nữa nhưng cô “bồi” từ bếp đã đột ngột xuất hiện.
- Bà này, hỏi gì mà như C18**** thẩm cung Việt kiều tham nhũng công quỹ quốc gia thế? Để cho người ta còn ăn.
- Con dở hơi này. – Bà chủ thoáng giật mình, quát cô “bồi”. – Bảo mày đi đâu mà tự dưng mày hiện ra như ma thế? – Ăn uống xong hết rồi. – Này, mày nhìn đi! – Bà chủ chỉ vào đám bát của anh bạn tôi và người nhà, nói. – Ăn uống thế này có sướng không? Không giống như cái đám kia. Kiếm ăn thì chật vật, nhưng bữa nào ăn cũng chỉ vớt dăm ba cánh phở, còn để nguyên cả bát nước. Đã vậy rượu thì ông nào ông nấy cũng nốc căng một bụng. – Chú xem – bà chủ vừa dọn bàn, vừa nói – bọn thanh niên ở nhà bây giờ hư hỏng lắm chú ạ. Đói cũng rượu. No cũng rượu. Nghèo cũng đánh “đề”, mà giàu cũng đánh “đề”. Bên đó chú có chơi “đề” không? Không à? Vậy là chú đủ điểm cháu ngoan bác Hồ đấy. Bọn đàn ông ở nhà bây giờ mất nết lắm. Sểnh ra là gái, hở ra là rượu, rồi chích choác, đề đóm. Thằng ôn kia kìa, chú đoán nó bao nhiêu tuổi? – 37 tuổi á? – Này, thằng kia! – bà chủ quán gọi toáng về phía gã chủ “đề”. – Thằng “đề” kia! Mày biết người ta đoán mày bao tuổi không? – bà chủ quay lại, nói. – Nó mới 27 tuổi thôi chú ạ. Tuần này nó mới “thắng” quả đậm, nên trông nó có vẻ hoành tráng một chút, chứ mấy tháng trước mà chú gặp nó, chắc chú sẽ đoán nó là ông cụ 40 mất. Nó á, thằng “đề” kia kìa, ngoài ghi “đề” và nốc rượu ra nó chẳng còn vị gì khác đâu chú ạ. Mở mắt là đi các quán để ghi đề.

Chiều đến là lại phục ở nhà, ngồi nốc rượu rồi há hốc mồm để nghe kết quả sổ số. Mấy lần nó bị cháy đề, gán cả nhà vẫn không đủ trả nợ, suýt nhảy lầu rồi đấy. Mà thôi, chuyện Việt Nam chán bỏ mẹ. Chú được đi nước ngoài vậy là đại phước. Nghe chị khuyên này – bà chủ lại khẽ cúi xuống như muốn giảm “triết áp” nhưng giọng lại vẫn tông tổng. – Chú ở được bao lâu cứ ở. Tụi nó mà đuổi thì “phắn” mẹ nó sang nước khác mà ở chú ạ. Kiểu gì thì kiểu bọn Tây nó vẫn văn minh hơn Việt Nam mình cả thế kỷ. Chú về, thấy đất nước mình có khác không?
- Khác chứ! Người bạn tôi đáp. – Nhiều chỗ không nhận ra nữa.
- Ối giời ơi, con Vượng nhà tôi nó đi mấy năm, về phép nó cũng nói như chú. Đúng là “gà công nghiệp”. Nhưng chú ơi đấy không phải là điều mừng đâu. Ngày xưa, đói ăn, nên nhìn chất nhau nó dễ. Còn bây giờ nó lộn tùng phèo hết cả. Ra đường chẳng biết thằng nào là giả, thằng nào là thật nữa. Lão hâm nhà tao bảo thời bây giờ là thời gì nhỉ? Bà chủ quán nhăn đanh mặt, gãi gãi tóc mai, vẻ suy ngẫm.
- Thời lưu manh giả danh trí thức. Có thế mà lần nào cũng quên. Cô bồi đứng bên hóng chuyện, bèn nói góp.
- Ờ đúng rồi. – Con ranh này, đứng bên cạnh mà không nói ngay, để chị mày phải động não, mệt hết cả óc. Con ranh này nó nói đúng đấy chú ạ. Thời nhà mình bây giờ nó thế. Chú ra đường phải cảnh giác nhé. Những thằng trí thức nhất, nhân cách, đạo đức, hiền triết, thánh thiện nhất, nhiều khi lại là những thằng lưu manh nhất đấy. Mà không, phải gọi chúng là một lũ nộm mới chuẩn, chú ạ. Đấy, chú cứ nhìn bọn trai tráng ngồi đây ăn phở thì biết, chúng nó là tương lai của đất nước cả đấy, trông thằng nào thằng nấy cũng đẫy đà, phổng phao cả, nhưng trong máu, tim, gan, lòng phèo của tụi nó toàn là hê-rô-in, thuốc lắc với giun sán cả. Gớm, cứ nhìn chúng nó ăn nhậu mà chị muốn phát dồ. Việt Nam mình bây giờ hầu như là thằng già phải khiêng thằng trẻ đi chôn. Vậy nhưng chúng nó không biết sợ đâu chú ạ. Dân nhà mình bây giờ chúng nó sống chẳng giống hệ nào cả. Tầu chả ra Tầu, Tây chả ra Tây. Ti vi thì cả ngày lẫn đêm lúc nào cũng thấy “ngổ ngổ, nỉ nỉ”. Ra đường chỗ nào cũng đụng phải tiếng Ăng-lê. Cái phố này duy nhất có quán của chị là không đề tiếng êng-gờ-lích. Cứ đà này mất gốc sớm. Chú về lượn lờ nhiều chú thấy không? Chỗ nào cũng thấy nhậu nhẹt, chè chén, chích choác, chỗ nào cũng thấy xây xây, phá phá, cứ loạn hết cả lên. – Thôi, – bà chủ quán giúi lại tệp tiền vào tay người nhà anh bạn, nói. – Lão nhà tôi đã nói rồi, rượu hôm nay là “fruy”, cầm lấy, kẻo lão ấy biết lại chửi tôi tham, phiền lắm. Thôi nhé, chị đéo “buôn” nữa, kẻo thằng già nhà chị ra, nhìn thấy, lại bảo chị suốt ngày “buôn dưa lê”…

Bạn tôi cùng người nhà rời quán phở một đoạn, anh bèn hỏi người nhà.
- Sao người nhà mình nói chuyện với nhau cộc lốc và tục tĩu thế?
Người nhà anh cười, bảo.
- Thế mới gọi là dân dã. Quán phở sịn cũng có, nhưng tới chỗ đó ăn uống mất sướng. Chú tính ngồi ăn mà cứ có người đứng kè kè bên cạnh, rồi ho một tiếng, hay muốn sỉ mũi một cái cũng phải quay trước ngó sau, hay xin lỗi thằng bên cạnh, thà mình ngồi vỉa hè, bụi bặm, ồn ào một chút nhưng mình vừa ăn, vừa ngắm khung cảnh dân tình qua lại vào lúc buổi sớm, vừa hóng hớt chuyện thế thái, nhân tình, có sướng hơn không?

Bạn tôi bảo: Có lẽ người nhà tôi có lý, bởi cái hương vị ấy quả đúng chỉ có xứ mình mới có.



* ghi chú :

Bài này dùng nhiều tiếng lóng rất ...lạ tai ?
phải đoán để hiểu ...

Tại sao thua đề lại gọi là "móm" ? chấc là thua đề rụng hết răng nên không còn tiền ăn chăng ?

Các "Vịt Kiều yêu nước" nên nhớ lời khuyên của bà chủ tiệm phở.

Người Lính Ấy Của Tôi

Người Lính Ấy Của Tôi












Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường. Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.

Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng Thầy Mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối. Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình.

Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng Ba Má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp. Anh gần nổi giận cả với tôi, anh nhất định đi Nhảy Dù. Bao nhiêu giòng nước mắt cũng không cản được con người ấy. Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…

Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái. Rồi thì giã từ quê huơng Đà lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn. Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến. Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.

Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới, Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù ở Tam Hiệp. Mùng sáu tết Tân Hợi 1971, Sư đòan Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào. Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ… Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong giòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.


Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa. .. Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngâp tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ đang tung mình trên lưng ngựa chiến. Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi. Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện. Bà cụ bảo tôi “phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẵng khấn được câu nào… Má tôi trên Đà lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Am để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.

Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực. Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không dấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…

Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các giòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be… Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác. Vừa lành vết thương là lại ra đi. Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi. Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền….

Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường. Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng. Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh. Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo chiều chuộng và đem lại cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu. Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.

Rồi mùa hè đỏ lửa nổ ra lúc Tiểu Đoàn 5 Dù đang đóng quân ở vườn Tao Đàn. Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời. Người hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ. Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị. .. Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng y viên Cộng Hòa. Trên đướng tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…

Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân. Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương đến thế cái con người dường như chỉ biết miệt mài say mê chiến trận. Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một tướng Patton của Việt Nam, “…Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ. Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh muốn làm iư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà” Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…

Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế. ..
Tháng tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù. Chú em chồng là sĩ quan chuyên vận tàu HQ505. Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị đi công tác Phú Quốc. Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm Thầy Mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về. Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.…” Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu. Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại. Vợ chồng sống chêt có nhau...

Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa tháng 5 đều thất bại não nề. Anh lên đường đi trại tập trung vào tháng 6, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì… Bé Dung ưỡn người đòi theo bố. Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi. Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi??? …


Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu 505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng. Gia đình tôi từ Đà lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau. Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết. Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi. Chị ruột tôi bỏ dấn vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết. Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu. Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao. Lên Long Giao cũng không gặp được, rồi anh bị đưa ra Bắc.

Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó. Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về... Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đôt nhiên bùng phát. Tôi vùng lên như một con cọp cái: bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!! Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.

Không, không, một ngàn vạn lần không. Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi. Toàn bọn cán ngố từ Bắc vào và từ trong khu ra, và không kể các bậc trưởng thượng cùng anh em chiến sĩ miền Nam đang khổ sở, thì đàn ông ở miền Nam khi ấy cũng chỉ còn bọn người không đủ điều kiện để phải đi tù cải tạo, dù chỉ có ba ngày.

Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định…. Còn gì nữa mà chọn lựa! Thà vậy, đành thôi. Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ bợ đỡ kẻ thù, thấp kém từ kiến thức đến tư cách.

Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay … nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn cướp nước và bọn trở cờ. Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…

Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi….
Anh từ miền cực bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được giấy phép đi thăm nuôi. Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng. Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên. Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha. Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.

Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã. Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ. Không cho khiêng bọn chúng trở mặt chửi liền. Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bọn dân này vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ. Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà. Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào. Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp. Tôi khóc thầm tiêc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.

Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng. Chúng tôi năm người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5. Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay . Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.


Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến. Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau. Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số. Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.

Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn. Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại. Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được. Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???

Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên. Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa. Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì. Cô nữ công an nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà đá sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì. Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm. Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng. Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được.

Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!
Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm… Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại. Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp. Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.

Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực. Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay. Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột. Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm. Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt bọn công an.

Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi. Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng. Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi. Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi. Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã xung phong đi khai khẩn rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất.

Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Bác Chánh là tên gọi của Thầy mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn.

Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:
- Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.
Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng. Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn. Tôi cúi mặt giận dỗi:
- Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được …


Tôi lại khóc, hai tay nắm chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời. Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng:
- Chị này hay nhỉ! Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ! Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ…. Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!

Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:
- Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng sáng suốt như vậy hết, em phải nghe anh mới được… Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách Nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…

Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn. Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi. Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu. Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau. Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết. Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.

Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà.. anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về…. Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…

Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nuớc mắt. Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài. Người nữ công an kia chẳng biết núp ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm… Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục. Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu: Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em … đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…

Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy đại theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc . Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc. Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng…

Sáng hôm sau tôi như người mất hồn. Các chị bạn cũng chẳng hơn gì . Mây chị em và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.

Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi. Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp. Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao. Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi. Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống. Dọc dường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói. Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng. Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần.


Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương. Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy. Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào. Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước. May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát. Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh hóa.

Đám người ngồi bệt xuống bên đường. Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng. Đã hơn chín giờ đêm. Dáng cô Út cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ. Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại. Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất. Ra đến Thanh hóa là hai giờ sáng. Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp. Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.

Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về. Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California. Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị xâu xa.

Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh. Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích. Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…

…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà. Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà.. khóc ngất. Anh cười sang sảng:
- Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ … Hà hà..

Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm. Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội. Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….
Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi. Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…


MINH HÒA (Virginia)







Nghề viết văn tế


Bố tôi là ông Đồ chuyên gõ đầu trẻ ở một làng ven biển. Cải cách ruộng đất ông bị mang ra đấu tố, và bắt giam. Nhưng ông chẳng có ruộng đất gì ngoài ngôi nhà nhỏ, và mấy sào vườn, nên sửa sai hạ thành phần xuống trung nông. Cũng nhờ vậy, tôi được đi học trường sư phạm trên tỉnh. Học xong, tôi về quê theo nghề bố, ông giáo làng. Ngày đấy phong trào làm báo tường rầm rộ lắm. Báo cổ động cho hợp tác xã nông nghiệp, những điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt… đại loại tất tần tật từ bèo hoa dâu đến chuyện sinh đẻ có kế hoạch của chị em. Về khoản này, chẳng hiểu sao nó lại hợp với gu viết của tôi. Đều đều một ngày, hoặc vài ngày tôi lại bắn ra một bài. Tên tuổi vang dội, thế là tôi được rút lên làm ông giáo trường huyện. Lên huyện, tôi tý ta tý toáy viết truyện ngắn, các bác thấy có liều không?. Đề tài chủ yếu vẫn xào đi nấu lại những tấm gương lao động sản xuất giỏi, trong những phong trào thi đua yêu nước, tình yêu nam nữ do đoàn thể giới thiệu, thông qua tổ chức quản lý…

Có lẽ thời gian qua bị giam trong chuồng lợn đã làm bố tôi tởn, nên nghe tin này, ông nhắn tôi về gấp:

- Giời đất ơi! Bao tấm gương tày liếp còn đó, viết với lách, anh muốn rũ tù hay sao?

- Con có viết gì khác ngoài ca ngợi những phong trào hai, ba tốt, những anh hùng, chiến sỹ thi đua, ai làm gì con nào!

Tôi cự lại ông như vậy, bố tôi thở dài im lặng.

Ảnh minh họa

Bài vở của tôi cứ được đăng đều đều trên báo địa phương. Các đồng chí trên tỉnh dường như nhận ra tài năng tiềm ẩn của tôi, nên rút tôi về làm biên tập cho báo nhà. Chớp thời cơ, tôi viết một loạt truyện ngắn đúng vào mạch của ba dòng thác cách mạng, mạnh dạn gửi đăng trên các báo trung ương. Các bác có biết, người tôi bay bổng thế nào khi một loạt các nhà báo cùng đồng ca, ca ngợi tài năng, phân tích những sáng tạo, lối viết mới dẫn đến thành công của tôi. Ngày đó những năm 60 của thế kỷ trước, ai được đăng một vài bài văn, thơ trên các báo trung ương là bảo bối thông hành nhập vào làng văn rồi, có thể gọi là là nhà văn rồi chứ chẳng chơi. Thế mà tôi được đăng hàng loạt bài, có nơi đánh tiếng xắp in riêng một tập truyện của tôi. Các bác bảo làm sao mà tôi kìm hãm được sự sung sướng.

Chỉ tội cho bố tôi, ông cầm báo đi khoe khắp xóm làng, rượu chè chúc tụng nhau thế nào không biết, còn hai cái răng cửa ngã gẫy nốt. Nghe tin tôi vội về quê, mặt bố tôi xưng to như cơi trầu, vì nhiễm trùng. Bà con láng giềng đang vây xung quanh, há hốc mồm nghe phân tích những tác phẩm của tôi, với tiếng nói méo mó phì phò của ông. Tôi bảo:

- Con về đưa bố đi bệnh viện.

- Đi! là đi thế nào? Tôi còn phải ở nhà chia vui với bà con chòm xóm. Không sao cả, vài ngày nữa tôi sẽ khỏe lại thôi.

Tuần sau bố tôi khỏe lại thật, tôi không ngờ liều thuốc tinh thần diệu kỳ đến như vậy.

Tập truyện “Con đường mới“ của tôi ra đời với lời đề tựa của nhà thơ Hoàng. Nhà thơ Hoàng là cánh chim đầu đàn thơ ca cách mạng, thơ của ông còn được đưa vào giảng dậy trong các trường phổ thông và đại học. Ông còn giữ chức vụ gì cũng to lắm ở cơ quan văn học trung ương. Nghe nói ông chưa bao giờ viết lời tựa cho một cuốn sách nào. Giời đất ơi! Có lẽ mồ mả ông cố, ông nội tôi đang phát hay sao ấy các bác ạ. Một thằng viết văn báo tường như tôi, lại làm cho trái tim nhà thơ Hoàng thổn thức đến như vậy. Cầm đứa con tinh thần trên tay mắt tôi hoa lên, theo như lời nhà thơ con đường trở thành nhà văn lớn và có khi đến cả vĩ nhân nữa với tôi còn gần lắm.

Không biết số tôi nó đỏ, hay nhờ vào lời giới thiệu của nhà thơ Hoàng, tôi được một nhà xuất bản lớn ở Hà Nội xin về làm biên tập viên, vì họ đang cần một người đã làm thầy và có sức viết như tôi. Các bác biết không ? Khi được tin này tòa soạn báo tỉnh của tôi bị trấn động, như vừa trải qua cơn động đất. Nhà văn già Bùi Chu người có mấy cuốn tiểu thuyết đã chuyển thể sang kịch bản phim, há hốc miệng, ngồi vuốt dái tai đến đỏ ửng. Còn mấy em mới tốt nghiệp đại học lượn qua lượn lại trước mặt tôi làm ra vẻ thèm khát lắm. Chẳng bù cho ngày tôi vừa được chuyển về, các nàng nhìn tôi như vừa ở hành tinh khác tới, còn nhại lại cái giọng nói nhà quê của tôi nữa chứ. Có nàng còn õng ẹo úp cả hai cái chảo vào lưng tôi nóng hổi, hổn hển bên tai:

- Hay hai đứa mình cưới nhau đi, em cũng muốn theo anh về Hà Nội.

Có lẽ các nàng chỉ yêu cái hộ khẩu Hà Nội thôi, chứ văn chương của tôi các nàng có khi mô đọc đâu, biết hay với dở. Còn con người tôi ư? Từ trước tới nay với các nàng, tôi chỉ là kẻ gác đền. Nói nhỏ với các bác nhé! Ngày đó tôi mà có cái đầu như bây giờ, còn sức lực như thuở ấy, có lẽ các cô dắt nhau vào bệnh viện phụ sản cả các bác ạ. Nghĩ lại bây giờ tôi thấy mình hơi bị dại.

Trưởng ban của tôi là phó tiến sỹ ngôn ngữ học, do Liên Xô đào tạo về nhà xuất bản trước tôi mấy tháng. Trông mặt anh lúc nào cũng nhầu nhầu, đeo kính cận như hai cái đít chai ở mặt, nên khó đoán tuổi. Thấy tôi ít la cà, làm việc cẩn thận, nên thường giao các bản thảo của các nhà văn kỹ tính như nhà văn Nguyễn, viết khỏe có chút cẩu thả và vô đình địch về lỗi chính tả có nhà văn Tô.

Hôm nhà văn Nguyễn mang bản thảo đến, tôi chỉ dám nhìn ông từ xa. Chiếc mũ phớt đội hơi lệch, tay cầm batoong gõ gõ theo nhịp bước chân điềm đạm của ông, tôi cứ ngỡ ông đang từ cõi trên bước xuống hạ giới. Trời đang mùa hè mà người tôi cứ rét run lên cầm cập. Trưởng ban của tôi trang chỉnh lại quần áo, chạy vội đón ông. Xong một tuần trà, trưởng ban chỉ tay vào tôi nói với nhà văn Nguyễn:

- Thưa bác đây là biên tập Văn Sửu, cậu này sẽ chịu trách nhiệm với bản thảo của bác, bác cứ an tâm đưa cho cậu ta.

Lúc này nhà văn Nguyễn mới đảo mắt sang tôi, cầm đầu batoong dứ dứ về phía tôi:

- Ông này trông mới quá nhỉ?

- Mới về phòng, xuất thân từ ông giáo nên cẩn thận lắm bác ạ.

- Ông vừa nói cậu ta tên gì nhỉ!

- Thưa bác Văn Sửu.

Quay sang tôi ông hỏi:

- Cậu có phải là tác giả tập truyện ”Con đường mới” không?

Tôi lí nhí trả lời:

- Thưa bác vâng ạ.

- Tôi có đọc qua một vài truyện….nhưng mà.

Nói đến đây ông dừng lại.. chuyển sang chuyện khác. Ngồi được một lúc ông đưa bản thảo cho tôi, dặn cố gắng làm cẩn thận, in cho nhanh, vì Mỹ đã leo thang chiến tranh ra miền Bắc, những cuốn sách này là nguồn động viên đồng bào chiến sỹ cả nước đấy.

Tôi cầm bản thảo của ông, tay run run. Tiễn ông ra cổng, tôi quay trở vào nghe thấy ông gọi giật lại:

- Này ông!

Tôi luống cuống, một chút nữa bản thảo tuột khỏi tay:

- Thưa bác còn dặn gì nữa không ạ!

Ông lại quay ngoắt bước đi:

- À …thôi!

Sau này quen thân ông mới bảo, hôm đó tớ không tin tưởng cậu lắm định lấy lại bản thảo, song nghĩ thế nào rồi lại thôi. Nhiều người trong giới văn nghệ phải nói rằng họ không ưa cái tính của ông. Cho nên nhiều người ngại tiếp xúc, nhưng tài văn ai cũng phục ông, (loại trừ những bài ông viết theo đơn đặt hàng). Nhưng với tôi ông cũng như các cụ về già khác tính nết lúc thật, lúc giả (thất thường) mà thôi. Một lần duy nhất ông nổi khùng với tôi. Sách của ông bao giờ tôi cũng làm cẩn thận nhất. Nh g không hiểu sao khi sách đã in xong, thấy có vài, ba lỗi có lẽ do ngươi sắp chữ- chữ “bẩn”in sai thành “bửn” – chữ “thuở” in sai thành “thủa”….

Đầu giờ làm việc hôm sau, tôi nhìn thấy ông cầm cuốn sách, mặt hâm hầm đi vào. Thấy vậy tôi chạy tọt sang phòng bên cạnh định chờ ông dịu lại mới nói chuyện. Quanh quẩn một lúc ông tìm thấy tôi, tay cầm batoong ngoằng vào cổ tôi kéo ra ngoài, tay trái cầm cuốc sách đập đập vào đầu tôi quát:

- Ông đã biết tội chưa?

Tôi chưa kịp nói ông đã vụt vào đít tôi mấy cái rồi đi thẳng ra cổng. Mấy ngày sau ông quay lại, chuyện trò với tôi như không có gì sảy ra.

Có lần ông đi đâu đó về, tạt vào chỗ tôi ngồi chơi. Trông ông không được khỏe. tôi hỏi:

- Hôm nay bác sao thế!

Ông buồn buồn kể, trên tầng hai nhà ông có cặp, vợ làm thợ may, chồng lái máy bay chiến đấu, ít khi ở nhà. Cô vợ dẫn hết thằng nọ đến thằng kia về nhà kẽo kẹt cả đêm ở trên đầu. Nghề văn thường làm việc ban đêm, nhiều khi có mạch văn hay bị chúng nó làm phân tâm bực mình lắm. Gần đây ông chồng phi công thật bị hy sinh, nó dẫn mấy thằng phi công khác về dập uỳnh uỵch còn ác liệt hơn trước nhiều. Không chịu nổi ông lên phòng nhà đất, và công an đề nghị giúp đỡ, nhưng chẳng ai làm gì được nó, vì động đến vợ liệt sỹ trong thời chiến khác gì mó vào dái ngựa. Nghĩ thấy ông cũng tội.

Nhà văn Tô, trông củ lẩn cù lần, nửa quê nửa tỉnh. Nhưng nhiều người bảo cái cù lần của bác là cù lần ăn tiền đấy. Bác nói vậy nhiều khi không phải vậy. Bác Tô bảo bác chẳng thích làm cán bộ, nhưng bác lại là người lãnh đạo các hội, hè lâu nhất so với các nhà văn khác. Bác Tô là người viết nhiều và viết tạp, loại nào bác cũng viết được. Nhiều khi tôi nghĩ, ông trời đánh này, cường độ làm việc như vậy chẳng biết ông ngủ vào lúc nào. Ông viết khỏe, nhanh, nên sai chính tả rất nhiều chỉ khổ những thằng biên tập như tôi. Không rõ bằng cách nào, năm nào người ta cũng thấy bác xuất ngoại. Mọi người phục bác sát đất.

Thời gian này, tôi cũng chán kiểu viết vô thưởng vô phạt, nên hỳ hục mấy đêm liền, cũng viết xong một truyện ngắn, theo tôi có một chút ít văn học ở trong đó. Hôm sau thấy bác Tô lù lù mang bản thảo đến, tôi nhờ bác thẩm định. Đọc lướt qua vài đoạn, bác dừng, bảo tôi:

- Cậu không nên thay đổi cách viết, cậu chỉ hợp với lối văn miêu tả, minh họa thôi. Chuyển sang nội tâm nhân vật văn của cậu hời hợt không rung cảm được người đọc.

Tôi tin những lời nhận xét, và trình độ thẩm định văn thơ của ông, nên từ đó tôi không bao giờ dám nghĩ đến viết dạng văn khác. Ngồi chơi một lúc, nhà văn Tô vỗ vai tôi, nháy mắt:

- Đây là giấy mời cậu dự trại sáng tác của ngành lương thực, do họ đài thọ, hội ta đã cử cậu. Đến thực tế cửa hàng lương thực gần hội ta có cô Hồng, mới đi thanh niên xung phong về, hay lắm đấy.

Nhà văn Tô làm lãnh đạo hội, viết khỏe, không hiểu ông có thời gian rảnh vào lúc nào, chỗ nào ông cũng quen, cũng biết, cứ như là ma só vậy. Cũng nhờ ông, nhờ mấy bài ký sự người tốt, việc tốt, tôi cưới được cô vợ phụ trách cửa hàng lương thực, thời cả nước xếp hàng, cả nước ăn bo bo, mỳ sơi, tất cả cho Miền Nam, thế mới oách chứ.

Thương ông chồng vất vả ngày đêm viết lách, nàng chẳng để cho tôi phải làm gì cả. Con cái ra đời cũng một mình nàng , đến việc thằng Bin trượt đại học, nàng lo bằng được cho nó đi xuất khẩu lao động ở Đức. Mang cái mác nhà văn, chẳng biết văn đểu hay văn thật có lợi thế đấy các bác ạ. Vất vả cả đời, về hưu được mấy năm, chờ tôi về hưu cùng sang thăm thằng Bin, thế mà đánh đùng một cái, bà ấy bỏ tôi đi theo các cụ. Tôi chao đảo đau đớn mấy năm trời. Hàng chục năm nay, khi nào thằng Bin gọi điện về cũng bảo tôi sang chơi. Tôi bảo, không còn mẹ mày, tao không đi đâu cả. Hôm rồi nó dọa, bố không sang khi bố chết con không về đâu. Hôm rồi đến thăm bác Tô ốm, cầm tay tôi bác bảo:

- Ông sang Đức chơi một chuyến dối già, đời người nay, mai biết thế nào.

Suốt đường từ sân bay Frankfurt về nhà mấy trăm cây số, thằng Bin miệng lẩm bẩm như tụng kinh “Năm nay tuyết sớm, rét quá mất toi vụ Weihnacht (Noel)” . Tôi đùa bảo nó:

- Mày mời tao sang chơi, kêu ca nhiều, chỉ chơi với mày một tuần rồi tao biến.

- Bố buồn cười thật, thất bát thì phải kêu, con chuẩn bị hết rồi, bố thấy thích ở lại luôn với con cũng được.

Nó quàng tay qua ghế sau tôi ngồi, rút ra tập giấy có mấy bài báo copy trên mạng, bảo :

- Bố đọc cho con xem bài này có vấn đề gì không!

- Chà chà, bài “Mất Mùa” tác giả Tiểu Tử. Của ai đây?

- Bố cứ đọc đã!

Đọc xong tôi bảo nó:

- Cũng là bài văn tả nỗi khổ của mấy thằng bán hàng rong khi đông về thôi, không có gì đặc biệt ngoài mấy câu cú què cụt. Văn báo tường, dạng này tung nhan nhản trên mạng.

- Bố nói thế nào ấy chứ! Những câu văn ẩn chủ ngữ, dụng ý tác giả muốn cho người đọc cảm giác bất ngờ, đó mới là văn học. Hình như nhà xuất bản của bố in tác phẩm “Mùa Gặt” của nhà văn Tô, nhiều đoạn văn thiếu chủ ngữ như vậy . Đúng là mấy ông biên tập hay soi mói, nói kiểu gì cũng được. Hôm rồi có ông Phan sang bên này chơi, cũng làm biên tập mấy chục năm, phê bình bài này trên báo y trang như bố…nhưng

- Khoan ..khoan đã.. có phải bác Phan Văn không? Đúng rồi! hôm trước bác Phan Văn gọi điện cho tao nói ông đang thăm mấy thằng con bên Séc. Bác ấy là tiến sỹ ngôn ngữ, trưởng ban của tao. Tác phẩm “Mùa Gặt” của nhà văn Tô mày vừa lấy làm ví dụ là do bác Phan Văn chủ biên và biên tập đấy.

- Cuốn “Mùa Gặt” nhan nhản những câu què câu cụt bố nghĩ sao?

- Trong hoàn cảnh nào đó, người viết có thể dùng thủ thuật đó. Nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng hay được như bác nhà văn Tô, phụ thuộc vào tài năng mỗi người. Nếu không có tài viết, bắt chước người khác sẽ làm câu văn bị sống sượng. Với người mới tập viết, hoặc không có tài nên viết theo chuẩn mực.

Nói thật với các bác, đời tôi cũng mấy chục năm làm biên tập, cũng cho ra lò đến mấy chục đầu sách tất nhiên toàn dạng văn minh họa. Nhưng tôi chưa gặp thằng nào mới tập tành viết mà bảo thủ, không khiêm tốn như thằng Bi. Nó còn bảo bài này do báo TT đặt nó viết đấy. Trời đất! có ai dám bảo bài báo viết theo đơn đặt hàng là tác phẩm văn học như nó không? Nhà thơ Xuân là nhà thơ tình nổi tiếng, là cánh chim đầu thi đàn thơ ca, là cây đa tỏa rợp bóng xuống nền văn học nước nhà. Năm 1979 lúc cả nước đang phải đương đầu với quân xâm lược phương Bắc, ông vào nghỉ mát ở huyện Lắc, ĐakLak, viết một bài thơ “Hồ Lắc” theo đơn đặt hàng. Khi ông đọc bài thơ này trước sinh viên hai trường Đại học Tây nguyên, và trường sư phạm Buôn Ma Thuôt, bị một sinh viên tên Hoàng Thế Hoan chê ngay trước mặt ông ”Bài thơ như văn tả cảnh của học sinh lớp 4”. Cả đời ông đi đâu cũng được tung hô, tụng ca, hôm nay gặp phải cái thằng sinh viên trời đánh này, làm sao mà ông chịu được. Ông đã nổi cáu, để rồi mấy năm sau ông mất, mang theo nỗi buồn day dứt đó xuống tuyền đài.

Tuy là ông Đồ dậy học, nhưng bố tôi hàng ngày vẫn cầy bừa, lao động như một nông dân thật thụ. Đã là nông dân, ai cũng yêu trâu bò, bố tôi cũng không ngoài qui luật đó. Tôi ra đời vào năm sửu (1937) ông đặt tên tôi là Trâu. Trần Văn Trâu. Khi tôi đang làm biên tập viên báo tỉnh, nổi tiếng với những bài văn cổ động, nhà văn Bùi Chu bảo, cậu tên Trâu nghe nặng nề quá, theo tớ đổi thành Châu hay hơn, sáng hơn. Nghe có lý, cuối tuần tôi về nói ý định đó với bố tôi. Bố tôi không đồng ý, ông bảo tôi đặt tên anh như vậy có ý, sau này anh có làm gì đi đâu cũng phải sống nhân hậu. Tôi lý luận, con chỉ thay chữ Tr bằng chữ Ch trên giấy khai sinh thôi, còn gọi hay phát âm vẫn là Trâu đấy thôi. Bố tôi lắc đầu, ý nghĩa khác nhau hoàn toàn. Tôi năn nỉ, hay bố cho con đổi tên thành Sửu cũng là trâu. Bố tôi vẫn lắc đầu, cho rằng không thuần chủng, ông còn đe nếu như tự động đổi tên, ông vác gậy lên cơ quan đánh cho bỏ mẹ.

Mấy tháng sau, tôi đi công tác Bắc Ninh kiếm được mấy lít rượu nếp cái ngon, ít thịt rừng, rủ thêm nhà văn Bùi Chu về nhà tiếp rượu bố tôi. Đến lúc ông tơ lơ mơ, tôi nói lại ý định đổi tên thành Sửu, ngắc ngứ một lúc, khi nhà văn Bùi Chu nói thêm vào, ông mới bằng lòng. Để chắc ăn, tôi viết đơn xin đổi tên gửi Ty tư pháp, bố tôi và tôi cùng ký. Ấy vậy mà sáng hôm sau tỉnh rượu, ông còn định đánh tháo, khi tôi chìa giấy có chữ ký của ông, và có nhà văn Bùi Chu làm chứng, ông mới chịu. Từ đó tôi mới có tên nhà văn Văn Sử.

Qủa thật tôi cũng hơi lộn ruột khi nghe tin thằng Bi mới viết được mấy bài dạng báo tường, nó dám lấy năm, sáu cái bút danh, nào là Tiểu Tử, ..Đại Tử.. Ngôn Tử, giông giống như mấy ca sỹ gào choai choai, tự đặt tên như Khương Đình, Hoa Ứng Hùng, Đinh Doanh Doanh, nghe mà phát khiếp. Ngẫm nghĩ thấy bố tôi có lý, mấy cái tên không thuần chủng này, những năm 79, đầu 80 của thế kỷ trước, chắc chắn được cơ quan anh ninh quan tâm. Thật ra bất đắc dĩ lắm, không thể không lấy tên khác, một số nhà văn buộc phải lấy bút danh. Mấy chục năm làm biên tập, tôi thấy ít có nhà văn nào lấy bút danh mà có những tác phẩm hay. Tên đã giả làm sao có văn thật được.

Trước khi trở về Việt Nam, tôi viết truyện này gửi đến các bác, mong các bác khuyên bảo thằng Nghịch Tử (lại là bút danh của nó đấy) nhà tôi, lo làm ăn, văn thơ nó không có tài, văn báo tường, phúng điếu, chưa sạch nước cản như nó ai viết chẳng được. Hôm qua tôi nhìn ánh mắt thằng con của thằng Bi, tức cháu đích tôn của tôi, sao giống tôi và thằng Bi đến thế. Tự nhiên tôi có linh cảm thằng đích tôn của tôi, một ngày nào đó lại đi vào con đường của ông, cha nó. Chả lẽ cái nghiệp viết văn tế nó vận vào dòng họ tôi đời đời kiếp kiếp sao?

20-12-210

© Đỗ Trường

Công An Đánh 3 Người Tới Xỉu; Nam Định: Công An Giải Tỏa Đất Cho Tư Bản Đỏ

LM Phó Xứ: Công An Đánh 3 Người Tới Xỉu; Nam Định: Công An Giải Tỏa Đất Cho Tư Bản Đỏ

Nhiều ngàn người biểu tình tại Nam Định ngày 20-12-2010 vì không chịu giải tỏa đất cho tư bản đỏ kinh doanh.
Trong khi thông tấn Dân Làm Báo có bản tin nhan đề “Tin khẩn: Chính quyền Nam Định cướp đất đánh dân – Hàng ngàn người xuống đường phản đối,” báo mạng Chúa Cứu Thế đăng bản tin nhan đề “Chính quyền Nam Định cướp đất đánh dân gần chết – tình hình cực kỳ căng thẳng.”
Trang Dân Báo nói có 3 người bị công an đánh thê thảm, còn trang Chúa Cứu Thế nói có 1 người bị công an đánh và để nằm bất tỉnh bên đường quốc lộ số 10.
Mạng Danlambao viết bản tin sau:
“Ngày 20 tháng 12 chính quyền đã tiến hành việc cưỡng chế lấy đất của người dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định để làm khu nông nghiệp. Vụ việc đã trở nên nghiêm trọng vì gặp phải sự chống đối của người dân. Công an đã đánh bất tỉnh 3 người và sau đó bỏ chạy. Theo một nguồn tin chưa kiểm chứng thì có một người đàn ông đã bị đánh chết và xác đang được đắp chiếu đặt trên đường quốc lộ số 10, đi từ Nam Định đến Ninh Bình, cách thành phố Nam Định khoảng 11 km.
Trước đó, vào ngày 17/12. Phó bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh là ông Nguyễn Văn Tuấn đã họp chỉ đạo toàn bộ lực lượng cả công an chuẩn bị cho kế hoạch cưỡng chiếm đất đai của người dân để phục vụ cho chủ công ty đầu tư Vinatex.
Vụ việc đã leo thang hết sức nghiêm trọng và số lượng người dân tham gia phản đối việc cưỡng chiếm đã bùng nổ.
Vào lúc 12 h 20 khuya ngày 21 tháng 12, Danlambao đã có một trao đổi ngắn với Cha Khang, phó xứ Xuân Bảng với nội dung như sau:
Danlambao: thưa cha chúng con xin cha cho biết cũng như xác nhận thông tin là hiện giờ đang có hàng ngàn người đang hiện diện trên quốc lộ hay không ?
Cha Khang: đúng rồi có rất đông người, nhưng tôi không thể nói chính xác là bao nhiêu người, chỉ ước lượng là trên ngàn người. Và hiện giờ là 12 h 30 thì tình hình vẫn rất căng thẳng có thể kéo dài đến ngày mai thì lượng người sẽ tụ tập đông hơn.
Danlambao: thưa cha là chúng con được tin là có 1 người chết, tin này có chính xác không ạ?
Cha Khang: công an đánh bất tỉnh 3 người sau đó công an bỏ chạy. Hiện giờ 3 người đó đã tỉnh lại. Có người chụp ảnh nhưng tôi không có, tôi nghĩ ngày mai sẽ có người đưa lên mạng.
Theo nguồn tin của Phóng viên Tập hợp vì Công Lý gửi cho danlambao thì hiện lực lượng công an đang bố trí đông đảo trên con đường quốc lộ số 10. Trong khi đó thì cả ngàn người dân cũng đã xuống đuờng và nhiều người đã đem bạt và chăn màn ra ngủ tại đường quốc lộ.
Đến 10h đêm 20 tháng 12, lực lượng công an đã phong tỏa toàn bộ tuyến quốc lộ 10 từ thị trấn Gôi về thành phố Nam Định.
Vụ đất đai đã xảy ra cách đây 4 năm khi nhà nước quyết định thu hồi 165 ha đất của nông dân 3 xã là Liên Minh, Liên Bảo và Xuân Thái để làm khu công nghiệp Bảo Minh. Quyết định thành lập khu công nghiệp đã có nhưng do đền bù rẻ mạt chỉ 27 ngàn đồng cho 1 m2 nên nhân dân không đồng ý.
Yêu cầu của nhân dân là phải thực hiện đúng Nghị định 69-NĐ/CP về đền bù và giải phóng mặt bằng trong đó quy định giữa các bên phải có sự tự thảo luận về giá đền bù, cần có lộ trình thông báo cho dân biết về cưỡng chế.
Vụ việc kéo dài cho đến gần đây chính quyền đã đào một giao thông hào và rào thép gai để ngăn cách giữa khu dân cư và vùng đất thu hồi để không cho nhân dân vào canh tác.
Hai xã Liên Minh và Liên Bảo vốn có truyền thống cách mạng và rất nhiều người đã hi sinh đổ máu trong 2 cuộc chiến tranh vừa rồi để giành lại đất đai. Người dân tại đây đã rất bất bình khi chính quyền đã cấu kết với những tập đoàn tư bản đỏ lấy đất và đền bù với một giá rẻ mạt. Nhân dân cắm hàng ngàn lá cờ đỏ dọc vùng đất tranh chấp và cam kết sẵn sàng đổ máu tiếp vì ruộng đồng hôm nay bị nhà nước lấy đi.
Tình hình hiện đang cực kỳ căng thẳng. Vấn đề sẽ càng bùng phát mạnh hơn nếu như chủ đầu tư là Vinatex tiếp tục cưỡng chế thực hiện tiếp sang xã Kim Thái là nơi có đồng bào Công giáo sinh sống với hơn 10,000 giáo dân sẵn sàng chống lại bất công với một lòng đoàn kết rất chặt chẽ.
Dân Làm Báo và Phóng viên Tập hợp vì Công Lý”
Bản tin Chúa Cứu Thế ghi thêm một số chi tiết, trích:
“...Hôm nay ngày 20 tháng 12 đã có một vụ xô xát trên quy mô rất lớn xảy ra tại Huyện Vụ Bản – Tỉnh Nam Định khi Chính quyền tiến hành cưỡng chế nhằm lấy đất làm khu công nghiệp. Công an đã đánh đập dã man một người đàn ông trung niên. Người đàn ông này đang được đặt nằm tại cạnh đường quốc lộ số 10, đi từ Nam Định đến Ninh Bình, cách thành phố Nam Định khoảng 11 km.
Vụ việc hết sức nghiêm trọng và với số lượng người tham gia rất lớn. Hiện trời đã tối và có đến hàng chục ngàn dân và các lực lượng công quyền hiện diện ngay trên đường quốc lộ. Nhân dân đem bạt và chăn màn ra ngủ tại đường quốc lộ. Đến 10h đêm nay (ngày 20/12) công an đã phong tỏa toàn bộ tuyến quốc lộ 10 từ thị trấn Gôi về thành phố Nam Định...”

Hãi hùng nhìn thuốc Bắc rải đầy đường


- Đủ các vị thuốc bắc như Cam thảo, Mộc thông, Củ hạc, Huyết giác... được phơi tràn đường. Không biết những vị thuốc này có tác dụng chữa bệnh ra sao, nhưng chỉ nhìn công đoạn “tẩm bụi” này cũng đủ thấy hãi hùng.
Từ cầu Cẩm Thủy vào đến thôn Dương Huệ, xã Cẩm phong, Cẩm Thủy, Thanh Hóa, khoảng 1 km trên đoạn đường Hồ Chí Minh, đâu đâu cũng thấy rải đầy các vị thuốc Bắc. Mới sáng sớm, nơi đây đã có vẻ nhộn nhịp, tất bật bởi tiếng băm, chặt cây thuốc và những người được thuê bốc vác thuốc đem phơi trên đường.
Thuốc Bắc được phơi trực tiếp trên mặt đường, được đảo bằng... chân, các loại phương tiện - và chắc chắn cả gia súc, vật nuôi - thoải mái cán lên.
Tiến đến gần một đống cây thuốc lớn, chúng tôi gặp một nhóm người đang cặm cụi băm thuốc. Vừa nhanh tay chặt từng cành, rễ cây thuốc, một người làm thuốc ở đây cho biết: “Mấy hôm nay trời nắng nên chúng tôi tranh thủ làm nhanh để phơi cho hết mẻ thuốc này. Ít hôm nữa trời mưa phùn gió bấc là thuốc mốc hết”.
Thuốc băm đến đâu, đội quân vận chuyển phơi phóng bốc đến đó. Họ ngang nhiên lấn chiếm hai bên đường hoặc ra cả giữa lòng đường, thậm chí tận dụng bất cứ khoảng trống nào (từ mái nhà, đường vào bãi tha ma, chỗ quay đầu xe trên đường...) để phơi thuốc.
Mẻ thuốc này vừa khô, được đóng gói chuyển đi, lập tức đã có mẻ thuốc khác thay thế. Người phơi thuốc cũng chiếm trọn chỗ quay đầu xe đoạn giao nhau giữa đường và đường 217 khiến việc giao thông nơi đây gặp khó khăn. Còn mức độ vệ sinh của thuốc thì... khỏi phải bàn.
Thuốc trải tràn ra đến quốc lộ

Anh Bùi Xuân Vương, một người đi đường cho biết: “Tình trạng phơi thuốc tràn lan ra hai bên đường như thế này đã diễn ra nhiều năm nay rồi, rất bất tiện cho người điều khiển phương tiện giao thông. Nếu muốn tránh xe khác thì không còn cách nào khác là phải đi lên thuốc”.

Được biết đoạn giao nhau giữa đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 217 này thường xuyên xảy ra tai nan dẫn đến chết người. Anh vũ Văn Thiêm, tài xế xe tải thường chạy qua đoạn đường này, cho biết: “Tôi thường xuyên lái xe qua đây, mỗi khi muốn quay xe thường rất khó khăn, chỗ quay xe và hai bên đường đều có cây thuốc phơi, không quay không được, nhiều khi đành phải cho xe đi cả vào thuốc thôi”.

Kinh hãi hơn, có những hôm trời mưa, người dân chưa kịp thu thuốc về, trên những con đường lầy lội, những mảnh thuốc bám chặt bùn lầy, các loại bánh xe trườn lên thuốc. Những con đường làng trâu bò phóng uế, người phơi thuốc cũng chả buồn tránh, cứ thế phủ thuốc lên.
Xe cộ vô tư đi trên thuốc
Anh Phong - một người ở xã Cẩm Tú - cho biết: “Không biết thuốc Bắc này có tác dụng chữa bệnh gì chứ kiểu phơi phóng thế này thì nhìn thấy đã phát bệnh lên rồi, đừng nói là uống thuốc vào nữa”.
Để tìm hiểu về thực trạng phơi thuốc hãi hùng trên, phóng viên Dân trí đã có cuộc trao đổi với ông Cao Thanh Hưng, Trưởng phòng Y tế huyện Cẩm Thủy. Ông Hưng cho biết: “Theo tôi việc người dân làm như thế không đảm bảo về mặt vệ sinh và độ an toàn của thuốc. Thuốc Bắc phải được bảo quản và chế biến đúng nơi quy định, có chỗ phơi phóng, bảo quản đàng hoàng. Tôi sẽ cho kiểm tra lại việc này. Việc phơi thuốc như thế còn ảnh hưởng đến giao thông đi lại qua khu vực này”.
Hồ Điệp - Duy Tuyên

Châm cứu vẫn có những quyền lực bí hiểm: giờ đây là để chữa trị trầm uất





- Châm cứu là một kỹ thuật trị liệu cổ xưa của người phương Đông, luôn là đối tượng nghiên cứu của nền y học phương tây. Mới đây báo Time số mới nhất có đi tin là một cuộc khảo sát về châm cứu gần đây đưa ra cái nhìn mới mẻ về bộ môn này.

Theo báo Time thì “chính não bộ đã tự chỉnh đổi, do tác động của châm cứu, để hoàn thành bộ khung phản ứng của cơ thể về cảm nhận sự đau đớn khi các huyệt đạo được châm kim”, nói cách khác hệ thần kinh trung ương đã thay đổi để ‘thích nghi’ với các mũi kim được chọc vào rất khéo.

Vì thế giờ đây châm cứu đã được sử dụng để trị một chứng bệnh rất khó trị, có khi dùng thuốc vẫn không hết, đó là chứng trầm uất. Từ lâu trầm uất được hiểu là một phản ứng của hệ thần kinh do các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài cơ thể tác động.

Các nhà khoa học của đại học NSW của Úc đã theo dõi bằng máy MRI scan não bộ 10 bệnh nhân khi họ được châm cứu. Bác sĩ Im Quah-Smith của đại học này cho hay ‘đây là lần đầu tiên các thay đổi của não bộ được máy MRI theo dõi’

Bà nói: “Các huyệt đạo của châm cứu được khuấy động cùng một lúc và kết quả hỗn hợp được máy móc ghi lại từ não một cách trung thực. Chúng tôi muốn biết cuộc thử nghiệm này liệu có giúp ích cho các bệnh nhân bị trầm uất hay không”

Lý do chính, theo bác sĩ Quah-Smith, là vì các vùng não bộ ‘bừng sáng’ dưới ảnh hưởng của kim chích lại là vùng điều khiển trạng thái tính khí của bệnh nhân (moods). Tuy châm cứu đã có những tác động rõ rệt, cộng đồng y khoa phương tây vẫn còn nhiều người tỏ ra nghi ngờ khả năng của châm cứu.

Khác với những món thuốc âu dược, châm cứu không có tính cách giả dược (placebo), hễ tiến hành là đi ngay vào việc trị bệnh, chứ không có “làm giả để ngiên cứu”, và khía cạnh này đã làm nhiều bác sĩ phương Tây còn ngờ vực.

Bác sĩ Quah-Smith không dùng kim, mà dùng tia laser để châm cứu. Cái lợi của kỹ thuật tinh xảo này là tia laser có thể được điều chỉnh cường độ, khiến da không cảm nhận rõ rệt, nhưng các huyệt đạo vẫn được một sức ép thật sự ấn xuống.

Bà nói: “thật là tuyệt vời, vì trong khi trị lâm sàng, tôi vẫn có thể tiến hành châm cứu mà bệnh nhân vẫn không biết vụ châm cứu như thế là giả hay thật”. Các biểu đồ MRI cho thấy não bộ bệnh nhân có chuyển động dưới tác dụng của châm cứu bằng tia laser, cho dù bệnh nhân ‘không cảm thấy chi hết trên da’

Hiện nay bác sĩ Quah-Smith và các đồng sự cho là trong lúc máy MRI rõ ràng chứng tỏ đã có chuyển động trong công năng hoạt hoạt động của não bộ người bình thường khi được châm cứu, vấn đề là các bệnh nhân bị bệnh trầm uất thật sự sẽ được chuyển hóa trí não ra sao trong một kỳ trị liệu lâm sàng.

Theo bà thì hiện nay các huyệt đạo của bệnh nhân bị trầm uất còn phải được nghiên cứu thêm, vì cần phải xem xét liệu phải tăng thêm con số các huyệt đạo này, gia giảm cường độ tia laser ra sao trên chúng. Tất cả đều phải nghiên cúu kỹ lưỡng để có hậu quả tối ưu.

Châm cứu bằng laser sẽ mở đường cho những dạng bệnh tâm lý thần kinh, đây là một chân trời bao la, đầy khó khăn, nhưng rất hấp dẫn, vì thật là một cuộc trị bệnh gần như tuyệt đối lý tưởng khi bác sĩ không cần đến 2 phương cách mà y khoa phương Tây đã quen thuộc từ bao đời nay: thuốc uống và dao mổ.

Hồng Qang theo Time và the Epoch Times

Bài Xem Nhiều