We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 30 December 2010

SÀI GÒN TRONG MẮT TÔI

Từ khi về hưu, coi như hàng năm, chúng tôi đều về Việt Nam để thăm anh chị em, bà con, bên chồng cũng như bên vợ, và đồng thời du lịch để thăm lại, hay biết thêm về những mảnh đất quê hương mà chúng tôi chưa có dịp đi. Sài Gòn là trạm đầu tiên khi đến Việt Nam, trạm dừng chân giữa các chuyến đi xa về tỉnh hay du lịch, và là trạm cuối cùng trước khi từ giả quê hương. Vì vậy, thời gian tổng cộng ở Sài Gòn cũng khá nhiều, dài nhất là trong thời gian trước khi lên máy bay trở về quê hương mới.

Với tâm tình của người xa xứ, trong những giờ phút đầu tiên khi bước ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn vẫn mang một hình ảnh đẹp trong tôi, hình ảnh kỹ niệm của một thời quá khứ xa xưa, mặc dầu đất nước đã trải qua nhiều đổi thay. Chúng tôi không để ý đến cái nóng bức, cái ồn ào, tiếng bóp còi inh ỏi nhức tai, cảnh xe cộ chạy xô bồ, khói xe mù mịt của Sài Gòn, bởi vì chúng tôi đang xúc động gặp lại người thân, tíu tít hỏi thăm nhau, trò chuyện vui vẻ, trong chiếc xe đến đón có máy lạnh, cửa kính đóng kín cách biệt với thế giới bên ngoài. Rồi khi về tới nhà, cũng trong căn phòng có máy lạnh và quạt máy suốt ngày đêm, anh chị em quay quần trò chuyện. Sau một hay hai ngày ngơi nghĩ để thích ứng với giờ giấc mới, chúng tôi bắt đầu những chuyến đi xa, Miền Tây, Miền Trung hay Miền Bắc để thăm gia đình, bà con, và du lịch.

Xen kẻ với những chuyến đi xa này, là một hay hai ngày ngắn ngủi dừng chân tại Sài Gòn, trong căn phòng có máy lạnh với nhiều tiện nghi của một căn nhà Âu Mỷ, nên chúng tôi chưa có dịp tiếp xúc nhiều với Sài Gòn.

Cuối cùng, trước khi từ giả Việt Nam, là một thời gian dài cả tuần lễ chúng tôi phải ở Sài Gòn, để thăm bà con, bạn bè, mua sắm, du lịch gần, v.v. Đó là thời gian tôi tiếp cận nhiều với Sài Gòn.

Sài Gòn ngày nay

Dĩ nhiên, Sài Gòn ngày nay có nhiều cao ốc diểm lệ, nhiều khách-sạn-5-sao, nhiều khu biệt thự sang trọng không thua nước ngoài, như khu gia cư Phú Mỹ Hưng, nhiều khu kỹ nghệ (công nghiệp) phồn thịnh, nhiều con lộ-4-làn-xe hơi thẳng tắp ở mỗi chiều xe, ngăn giữa bởi hàng cây xanh tươi đẹp, nhiều cầu vượt xoắn ốc tối tân, nhiều vòng xoay to lớn (như ở Hàng Xanh).

Bởi vì dân số gia tăng vượt quá vận tốc phát triển đô thị, nay có tới 12 triệu dân ô hợp, đằng sau cái kiến trúc phồn hoa nỗi bật của Sài Gòn, vẫn tồn tại những khu ổ chuột của giới lao động. Đường sá củ trong nội thành trở nên chật hẹp so với hơn 8 triệu xe gắn máy, hàng trăm ngàn xe du lịch đủ loại, v.v. Vì thiếu bảo quản, đường sá đầy “ổ gà”, cộng thêm các thiếu sót về hệ thống thoát nước, lụt lội xảy ra thường xuyên trên khắp Sài Gòn chỉ sau một trận mưa lớn. Các vùng đất thấp thì bị ngập lụt, không những do mưa, mà còn do thủy triều (triều cường) của Sông Sài Gòn và các rạch phụ lưu tràn qua đê. Chỉ cần ngồi trên xe khi qua các cầu thuộc trung tâm Sài Gòn cũng đủ thấy và ngửi được mùi hôi tanh của các sông rạch với màu nước đen sì lềnh bềnh rác rến, mặc dầu các bờ sông được xây bằng bê tông đẹp và kiên cố.

Cũng vì vậy, Sài Gòn nóng bức hơn 1 độ bách phân so với thập niên 1960s, vì nhà cao ốc, vì thiếu công viên cây xanh, vì xe cộ tỏa nhiệt do thiêu đốt nhiên liệu, do tỏa nhiệt của hàng mươi triệu máy điều hòa không khí được gắn ở bất cứ công sở lớn nhỏ nào của chính phủ hay thương mại, và nhà của giới trung lưu hay dưới trung lưu cũng đều có 1-2 máy.

Dĩ nhiên, hậu quả của các phương tiện tối tân kia là Sài gòn bị ô nhiểm nặng nề, ô nhiểm không khí với chất thải độc hại (CO, CO2, S, Chì, v.v.). khói và bụi bậm, ô nhiểm âm thanh với tiếng còi xe nhức tai, ô nhiểm nước sông rạch, và nước uống. Dân Sài Gòn bây giờ không ai còn dám uống nước máy đun sôi, người giàu kẻ nghèo đều dùng nước chai (như La Vie) để uống, hay nấu nướng. Ra đường, đa số các cô, các cậu Sài Gòn đều kè kè mang theo một chai nước uống.

Tôi thường đi xe bus hay rảo bộ lang thang trên khắp đường phố Sài Gòn. Có 2 điều làm tôi không hiểu.

Từ hơn 10 năm nay, ở mọi đầu ngõ hẻm nào cũng đều trương bảng “Phường văn hóa”, hay “khu phố văn hóa”, v.v. Thú thật tôi không hiểu từ “văn hóa” đơn độc ở đây nghĩa là gì, phải chăng viết tắt của chữ “nếp sống có văn hóa cao”, tức là khu phố phải sạch sẽ, con người phải tao nhã có giáo dục, có lối sống lành mạnh và văn minh. Trong hơn 10 năm qua, tôi vẫn thấy ở nhiều nơi bảng đó dựng bên đống rác dơ nhớp, trên tường viết “Cấm đái bậy”, bên trong là các quán nhậu mọi người mời ép nhau uống rượu say mèm với tiếng reo “dzô, dzô” ồn ào. Tôi không biết có sự khác biệt nào giữa “Văn hóa” và “không văn hóa”.

Tại một đầu đường gần nhà bà con của tôi, có một ngôi nhà khá lớn và đẹp, cửa đóng then gài, bên trên có bảng “Nhà Truyền Thống”. Thoạt tiên tôi nghĩ là “Nhà Truyền Thông”, tức là một trạm thông tin, trong đó có báo chí, sách v.v. cho công chúng, như các thư viện (Library) ở mỗi khu vực có dân cư, như tại xóm Calcot của tôi ở Reading Anh quốc. Nhưng sau khi hỏi cả 10 người dân Sài Gòn, 9 người không biết “Nhà Truyền Thống” là nhà gì, chỉ có một người cho tôi biết đó là nhà lưu niệm, lưu giữ những chứng tích tài liệu chiến công của khu vực có “truyền thống cách mạng”. Như vậy, đây là một loại nhà “Bảo tàng” (Museum) của khu vực. Cách viết tắt này làm tôi phải điên đầu.

Cô gái Sài Gòn

Hậu quả của môi trường ô nhiểm, người Sài Gòn bây giờ cũng ăn mặc khác xưa để thích ứng với môi trường mới.

Ngày xưa, vào thời tôi còn là sinh viên, các cô nử sinh trong chiếc áo dài trắng tha thướt, tóc thề xỏa ngang vai, chậm rải trên chiếc xe đạp hay chiếc Velo solex chạy thong thả, dưới bóng cây rạp mát của đường phố Sài Gòn. Vào thời đó, dưới mắt tôi, các thiếu nử Sài Gòn xinh đẹp làm sao, với thân hình mảnh mai, thấy rõ eo số 8 trong chiếc áo dài đầy khêu gợi, mang kính đen in rõ làn da trắng mịn của khuôn mặt.

Cô gái Sài Gòn năm 1959 và ngày nay

Còn bây giờ, các cô gái Sài Gòn chạy xe Honda vun vút, lách qua lách lại trong dòng xe hỗn loạn, đầu đội nón vải rộng vành, bên trên là mủ an toàn. Trên khuôn mặt. không biết có xinh đẹp hay không, đen hay trắng trẽo, là một khẩu trang lớn, chỉ nhìn thấy cặp mắt. Để chống nắng, các cô phải mặc áo khoát, áo dài phủ tay và mang găng, không còn thấy cái eo đẹp của cô gái dậy thì. Óc tôi vốn đầy tưởng tượng, với đà ô nhiểm này, các cô gái Sài Gòn tới một ngày nào đó sẽ ăn mặc theo lối Trung Đông, mặc dầu không theo Hồi Giáo, với chiếc mạng che mặt chỉ chừa 2 con mắt ?

Giọng nói Sài Gòn

Theo báo chí và nhiều người, trong số 12 triệu dân, “người Sài Gòn chánh hiệu” chỉ chiếm 40%, phần còn lại là dân tứ xứ, hỗn tạp, đến từ mọi địa phương của đất nước, nhiều nhất từ các tỉnh phía Bắc. Tương tự như Hố Nai của thời 1956, người di dân mang theo cả họ hàng, hay cả làng xóm, và tại Sài Gòn họ định cư và sống chung với nhau trong cùng khu phố rộng lớn, dễ thấy nhất là vùng đất mới khai khẩn chung quanh Tân Sơn Nhất, nơi trước kia vốn là đất đai thuộc khu quân sự.

Cũng dễ hiểu, Sài Gòn vốn là kinh đô kinh tế, nơi “đất hứa” của mọi người Việt nội địa, cũng như Hoa Kỳ là “đất hứa” của dân Việt hải ngoại (và nội địa nữa). Nhưng khác với Hoa Kỳ, mỗi sắc dân nhập cư ở Hoa Kỳ chỉ là thiểu số (5% tối đa), và thường chưa chiếm được ưu thế trong ngôn ngữ, chính trường và kinh tế. Nhưng ở Sài Gòn thì khác. Chỉ cần lắng nghe giọng nói khi vừa bước vào phi cảng Tân Sơn Nhất, ngồi trên taxi, trên xe bus, vào chợ Bến Thành, hay các công sở chính quyền cấp cao hay thương mại lớn, ta cũng dễ nhận biết đa số không phải “người Sài Gòn” chính gốc, và qua giọng nói (accent) ta cũng dễ nhận biết họ từ vùng hay tỉnh nào đến.

Vì vậy, giọng nói và ngôn ngữ Sài Gòn cũng biến dạng khá nhiều. Nhiều người cho rằng “giọng nói” và “người Hà Nội” bây giờ khác hẳn với Hà Nội thời trước 1954, thì Sài Gòn ngày nay cũng vậy, khác hẳn với Sài Gòn thời trước 1975. Người trong nước ít ai để ý đến sự khác biệt này, nhưng những Việt kiều như tôi, sau mấy chục năm mới về lại thăm quê hương thì nhận thấy rõ ràng, đôi khi làm tôi “shock”.

Việc từ ngữ đỗi thay là một chuyện thường tình. Chẳng hạn, có một số từ ngữ tiếng Anh của người Anh, ngay nghĩa của nó, được biến đỗi ở Hoa Kỳ, ở Úc, ở Ấn Độ, ở Nam Phi, v.v. mà chỉ có dân địa phương mới thấu hiểu. Vì vậy, những từ thông thường và dễ hiểu như “kỹ nghệ” đổi qua “công nghiệp”, “thủy triều cao” qua “triều cường”, v.v. thì không có gì phải nói, vì chúng làm đa dạng và phong phú ngôn ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, có những từ mới tôi cảm thấy khó chịu. Chẳng hạn, trong khoa học nông nghiệp, trước kia chúng tôi thường dùng “loài Cam quít” (Citrus) để mô tả những loại cây như cam, quít, bưởi, tắc, chanh. v.v. Còn bây giờ dùng “loại cây có múi”, thấy ngộ nghĩnh ngây ngô làm sao. Trái mít, trái sầu riêng cũng có “múi” vậy. Đứng về mặt thực vật học, trái khóm, thơm cũng cấu tạo bởi các “múi”, ta đâu có thể phân loại các loài cây này trong Citrus. Ngoài ra, đọc trong báo chí, với tĩnh từ “bức xúc” thông dụng hiện nay tôi thường phì cười và hay nghĩ bậy, nhất là khi nghe các cô các bà nói. Theo đà tiến hóa và thích nghi (adaptation), cái gì không thích nghi và ít ai xử dụng thì bị đào thải. Ngôn ngữ cũng vậy. Bây giờ có ai viết hay nói “Xưởng đẻ Từ Dủ”, hay “máy bay lên thẳng”, v.v. như thời 1975 nữa đâu ?

Cách xưng hô bây giờ cũng khác xưa. Tôi thấy hơi chướng tai khi nghe các cháu tôi, vốn gốc “Nam Kỳ rặc” nhưng sinh sau 1975, xưng hô cha con với nhau bằng “Bố”, hay gọi “trái” (cây) bằng “quả”.

Ngoài ra, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nghe giới trẻ Sài Gòn gọi tôi bằng “Chú”, mặc dầu các em, các cháu này không có liên hệ tộc họ gì với tôi. Họ là sinh viên, là nhân viên trong các cơ sở thương mại hay chính quyền.

Ngày xưa khi tôi còn trẻ ở Việt Nam, hay bây giờ khi ở hải ngoại, không ai gọi tôi bằng “Chú”, ngoại trừ các con của anh tôi, hay con của các bạn bè thật “thân thích” mà tuổi tác của tôi nhỏ hơn ba mẹ chúng 5-10 tuổi. Nếu bạn bè đồng tuổi, hay hơn kém một vài tuổi, con của họ đều kêu tôi bằng “Bác”. Còn người lạ, không quen biết, thì kêu tôi bằng “Anh” (nếu tôi lớn tuổi hơn) hay nói trỏng bằng “Ông”, hay bằng “Bác” (nếu tôi đáng tuổi của bậc làm cha mẹ), hay “Cụ” (nếu tôi trên 60-70 hay hơn). Ở thôn quê Miền Tây, một số nông dân lớn tuổi thân thiết với tôi thường gọi tôi một cách thân tình là “Chú mày”, chứ không chữ “Chú” đơn độc. Như vậy, ngày xưa qua cách xưng hô, ta có thể hình dung sự liên hệ thân thích, thân tình, tuổi tác, hay địa vị xã hội.

Còn bây giờ, ngoài xã hội, trong lúc giao tế chỉ có “Anh” (cho phái nam), “Em” (cho cả 2 phái), “Cô” hay “Bà” (phái nử, tùy tuổi tác” và “Chú” (phái nam, lớn tuổi). Ngay cả các ông cụ 70-90 tuổi đều là “Chú” cả trong giao dịch. Chỉ có các Việt kiều, hay “đại gia” tuổi 70-80 thì được các cháu trong các “cà phê ôm” kêu bằng “anh” ngọt xớt để họ quên cái tuổi già có thể chết vào sáng mai. Không ai bây giờ xưng hô “Bác” với nhau, ngoại trừ khi gọi “Bác tài” (tài xế xe đò).

Tôi rất kinh ngạc khi nghe các vị Giáo Sư Đại Học gọi sinh viên mình, và các Giảng Nghiệm Viên dưới quyền mình bằng “con”, mặc dầu các vị Giảng Nghiệm Viên này chỉ kém Giáo Sư 5-10 tuổi. Cũng vậy, các vị có chức quyền đều kêu các tài xế riêng bằng “con” mặc dầu không có cách biệt tuổi tác. Tôi không biết đây là một cách xưng hô phỗ quát hay chỉ lẻ tẻ ở vài cá nhân.

Một lần tôi nhận được một email chuyển tới (forward) trong đó 2 vị cấp lớn thư từ qua lại, xưng hô “anh” và “em” với nhau. Tôi cứ tưởng 2 vị này có liên hệ bà con. Sau này, tôi khám phá thêm 2 vị này không có bà con gì cả, mà chỉ có một thời từng là đồng nghiệp, một người là “thủ trưởng” của người kia. Vào thời của tôi, thật là xấc xược nếu gọi ai bằng “Chú” khi tuổi tác của họ đáng vào bậc làm cha, làm ông của mình.

Chuyện trên xe bus

Chỉ có hai phương tiện giao thông chúng tôi thường xử dụng ở Sài Gòn là taxi và xe bus. Đối với tôi, đó là cách đi lại an toàn hơn cả. Tôi không dám ngồi đèo sau xe gắn máy 2 bánh Honda, vì tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào ở Sài Gòn này.

Nhờ đi xe bus, qua các hệ thống chằng chịt đường phố Sài Gòn, tôi có dịp ngắm nhìn Sài Gòn trong chi tiết, có dịp tiếp xúc với giới bình dân, học sinh, sinh viên nghèo cùng ngồi trên xe. Tôi thích đi xe bus, vì tương đối thông dụng, cũng tiện nghi (có máy lạnh), lại rẽ tiền (chỉ 3000 đồng cho mọi đường trong nội thành Sài Gòn), lại thường xuyên, chỉ 10-15 phút có một chuyến xe trên các trục chính, như Chợ Bến Thành – Chợ Lớn (tuyến số 1), Chợ Bến Thành – Bến Xe Miền Tây (tuyến số 2), chợ Bến Thành – Gò Vấp (tuyến số 3), hay mỗi 20-30 phút trên các tuyến đi xa như Chợ Bến Thành – Bình Dương (tuyến 116). Đặc biệt tuyến xe số 38 (và còn nhiều tuyến khác tôi chưa đi), là tuyến qua nhiều khu đại học, hành khách đa số là sinh viên, ngoài máy lạnh, có máy bán vé tự động (3000 đồng/vé) và máy thối lại tiền dư, có máy tự động thông báo trạm sắp đến và chỉ dẩn cách mua vé với máy bán vé tự động. Cũng văn minh ra phết đấy chứ, kém gì nước ngoài !

Đi xe bus cũng ít bị kẹt xe hơn ngay cả trong giờ cao điểm. Lý do là xe gắn máy có thể chen lấn với xe gắn máy, với xe hơi nhà, với taxis, và có thể vượt đèn đỏ vào giờ cao điểm. Tâm lý chung của người lái xe hơi nhà, xe taxis là sợ xe mình bị quẹt trầy trụa, hay sợ bị bồi thường nặng khi gây tai nạn, nên đều nhường bước xe gắn máy, mặc cho họ tung hoành. Ngược lại, người xử dụng xe gắn máy không dám chen lấn với xe bus, và xe ben chở hàng, vì 2 loại xe lớn này nỗi tiếng là chạy “không nhừơng ai”, “chạy bạt mạng”, nên ai cũng sợ, không dám đùa với “tử thần”, ai ai cũng đều phải “xếp de”, nhường loại xe này. Nhờ vậy, đi xe bus cũng nhanh chóng, hơn cả taxis.

Trong giờ cao điểm, từ 6 giờ sáng đến 9 giờ sáng, và vào buổi chiều tan sở, hầu hết xe bus đều chật đầy người, chứng tỏ người Sài Gòn đã bắt đầu chuyển qua xe bus để đi làm, đi học, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay, giá xăng quá mắc, 17.000 đến 20.000 đồng/lít, trong lúc đi xe bus chỉ từ 3.000 (cho 1 chặng) đến 6.000 đồng (nếu phải đổi thêm 1 chuyến nữa). Mua vé tháng thì lại càng rẽ hơn.

Vào giờ cao điểm, khi bước vào xe bus, tôi phải đứng cùng chung với nhiều người. Các cậu nam sinh hay nam sinh viên, mặc dầu thấy tôi đứng bên cạnh ghế ngồi của họ, các em này vẫn làm ngơ mặc dầu tôi đã ở tuổi “thất thập cổ lai hi”. Tuy nhiên, nếu bên cạnh tôi là một em nử sinh, thì lúc nào các em này cũng đứng dậy nhường ghế cho tôi, mặc dầu tôi từ chối bảo rằng tôi có thể đứng được, nhưng các em đều ép tôi phải ngồi. Tôi đã kinh nghiệm điều này cả chục lần đi xe bus. Hóa ra, các em nử sinh được giáo dục và áp dụng kỹ về phép lịch sự này, trong lúc các nam sinh không được giáo dục hay không muốn áp dụng?

Phải công nhận rằng các cô, cậu tiếp viên bán vé (nôm na bình dân là “lơ xe”) rất lịch sự, lể độ với hành khách. Tôi không rành đường sá, nên nhờ các cô/cậu tiếp viên thông báo khi sắp tới trạm xuống. Tôi rất hài lòng về sự lễ độ và chăm sóc hành khách, nhất là đối với người già cả.

Tìm đúng trạm xuống thì thật dễ dàng vì nhờ sự giúp đở của các tiếp viên xe bus, nhưng khi đi tìm trạm lên xe bus là một bối rối của tôi, phải sau nhiều lần tôi mới có kinh nghiệm. Quen với hệ thống xe bus nước ngoài, khi xuống trạm nào thì trạm lên phải nằm bên kia đường. Thế mà tôi tìm mải không ra. Mắt tôi cứ ngó lên các trụ đèn, các cột cao bên vệ đường để tìm bảng trạm đậu xe bus. Tôi đã đi quá xa, vẫn không tìm thấy. Tôi bèn hỏi khách bộ hành, họ bảo tôi phải đi ngược lại, tới chỗ đó đó. Tôi đi ngược lại tới đúng chỗ họ chỉ, vẫn không thấy bảng trên góc cột. Tôi bèn hỏi lần nữa. Lần này, người bộ hành chỉ tôi xuống mặt đường, bảo là đúng chỗ trạm xe bus. Thì ra, dưới mặt đường có khung vẽ đề chữ “Trạm xe buýt”, màu sơn trắng đã hoen úa qua bụi bậm và thời gian. À, thì ra người Sài Gòn ngày nay chỉ “nhìn xuống”, chứ không ai “nhìn lên” như người Sài Gòn ngày xưa, hay như tôi hiện nay.

Nhờ đi xe bus, tôi cũng khám phá nhiều điều lạ, mà tôi chưa hề nghĩ tới. Một lần, trên tuyến xe qua nhiều đại học, có máy bán vé tự động. Tôi bỏ 3000 đồng vào máy tự động và sắp nhấn nút để lấy vé, thì anh tài xế ngăn lại, anh xé từ một tập vé rồi đưa cho tôi một vé. Tôi liếc nhìn, đây là vé tháng. Về nhà, tôi thắc mắc hỏi đứa em về chuyện này. Đứa em cười và nói “Lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ, trong thời buổi kinh tế thị trường mà sống theo đồng lương cố định thì chỉ còn có chết đói”. Em tôi giải thích. Vé tháng thì rẽ hơn 3000 đồng, nhất là đối với sinh viên có chánh sách giúp đở hẳn hòi. Người tài xế chỉ cần mỗi ngày móc nối mua một vài tập vé tháng dành cho sinh viên, rồi bán lại cho hành khách, thì sự khác biệt giữa giá cả của 2 loại vé này có thể mang thêm lợi tức cho gia đình tài xế. À ra thế! Chỉ có lươn lẹo một chút mới có thể sống, mà không thiệt cho cá nhân nào cả (chỉ thiệt cho hảng xe).

Cũng nhờ đi xe bus, chung đụng với giới bình dân, nghèo khó, tôi thường hỏi chuyện với người bên cạnh. Chỉ qua hình dáng, ăn mặc và cách nói, ai cũng biết tôi là Việt kiều, vô hại, nên thả giàng tâm sự. Một chị cho tôi biết chị ở tuổi 40, nhưng có nét khắc khổ của người trên 50. Chị gốc người nhà quê trong tĩnh Vĩnh Long, quá khổ cực với ruộng đồng, chị bỏ xứ lên Sài Gòn cách đây 20 năm. Tại Sài Gòn, chị gặp anh cũng bỏ xứ Tây Ninh. Chồng chị chạy xe ôm. Ngày nào ế ẩm, kiếm được 40.000 đồng (2 đô) là mừng, ngày nào có nhiều khách kiếm tới 120.000 đồng (6 đô). Anh chồng kiếm được bao nhiêu đều cắt củm gởi tiền về Tây Ninh nuôi cha mẹ già. Anh không đóng góp đồng nào với chị, mặc dầu chị cung cấp 2 buổi ăn trưa và chiều. Về phần chị, nhờ khéo tay, chị bán hoa và cung cấp “lẵng hoa” cho những ai đặc hàng. Chị nói tiếp: Những ngày rằm và mồng một là những ngày mang nhiều lợi tức vì ngày nay người nghèo đến chùa cầu xin phước lành, người giàu đi chùa cầu xin giàu hơn, chồng con giữ vững vàng “chiếc ghế”. Tuy nhiên, theo chị, nhờ Sài Gòn sống theo văn minh mới với văn hóa “lẳng hoa”, nên chị mới có thể nuôi chồng và đứa con gái đang học lớp 12. Tôi ngạc nhiên hỏi về “văn hóa lẳng hoa”. Chị cho biết ngày nay lớn nhỏ, giàu nghèo gì, ai ai cũng đều tổ chức lớn tiệc “đầy tháng”, “thôi nôi”, “sinh nhật”, “thượng thọ”, ngoài ra còn có các ngày lễ kỹ niệm của Đảng, của Nhà nước, ngày phụ nữ, ngày nhà giáo, ngày của Mẹ (Mother day), v.v. là những ngày cấp dưới phải nghĩ đến cấp trên, ngoài “phong bì”, “quà cáp”, phải có một “lẳng hoa”. Ngoài ra, ngày tốt nghiệp, ngày được thăng chức, chúc mừng nhau tối thiểu cũng một “lẳng hoa”, mà bây giờ, khi ra khỏi ngõ thì gặp toàn “Tiến sỉ”, “Thạc sỉ”, “Cữ nhân”, nên dịch vụ trồng hoa và cung cấp “lẳng hoa” trở thành một “công nghiệp”.

Tôi hỏi chị là có ý định trong năm tới cho con gái học đại học không. Chị bảo là bây giờ học đại học tốn kém lắm, nhưng dầu có nghèo gì đi nữa chị cũng cho con gái vào đại học, may ra mới có cơ hội thoát được cảnh nghèo.

Trong một chuyến khác, người ngồi kế bên tôi là một cô gái trẻ, không đẹp, vẻ mặt thông minh và dễ thương. Cô ta gọi tôi bằng “chú” và xưng “con”. Tôi hỏi cô ta có phải là sinh viên không, bởi vì tôi muốn tìm hiểu về giới sinh viên Việt Nam. Cô cho biết là vừa tốt nghiệp Đại Học về Kinh Tế/Ngân Hàng cách đây mấy tháng. Cô ta đang chạy tìm việc làm một cách vô vọng. Theo cô, thì trước đây 9-10 năm, ai tốt nghiệp bằng này đều có công ăn việc làm tốt, trong các xí nghiệp nội địa hay công ty nước ngoài. Vì vậy, cha mẹ bắt cô theo học ngành này. Bây giờ, nhu cầu đã bảo hòa, không xí nghiệp ngân hàng nào thuê nhân viên mới. Tôi hỏi thêm là ở các ngành nghể khác có dễ tìm việc không. Cô ta trả lời là dễ hay khó là tùy hoàn cảnh mình. Ngoại trừ các công ty nước ngoài tuyển chọn nhân viên theo khả năng, dựa vào bằng cấp, đậu cao hay thấp, dựa vào đại học có nổi tiếng hay không, và phải qua phỏng vấn tuyển lựa sát hạch khả năng rất khắc khe. Còn muốn vào làm ở các công ty xí nghiệp thuộc quốc doanh thì không khó nếu ta thuộc giới “có quyền” hay “có tiền”. Tôi hỏi cô ta thêm nếu không tìm được việc làm thì sao. Cô ta nói là cha mẹ cô bảo cô tiếp tục học “Thạc Sỉ” (Master) ở các đại học nước ngoài tại Sài Gòn, may ra có cơ hội dễ cạnh tranh tìm được việc hơn. Vì vậy, Sài Gòn cũng như Việt Nam hiện nay đang lạm phát với những cơ sở giáo dục “cấp đại học” và “sau bậc đại học” của nước ngoài. Qua báo chí, những đại học có nguồn gốc nước Anh ở Sài Gòn được quảng cáo mang danh như “Đại học London”, “Đại học Oxford” vốn là những Đại học nỗi danh của Anh quốc. Thật sự, các đại học mang danh trên đã “treo đầu heo bán thịt chó”, chỉ là các trường dạy nghề Polytechnic vô danh ở các quận thuộc London, Oxford hay ở nhiều tỉnh nhỏ khác trước 1990, nay được nâng lên thành Đại học Cộng Đồng, thâu nhận sinh viên không đủ tiêu chuẩn học lực để học ở các đại học chính thống. Các University chính thống thật sự của nước Anh chỉ dạy sinh viên ngoại quốc tại nước Anh mà thôi, chứ không có mở chi nhánh tại Việt Nam hay ở nước khác. Tuy nhiên tại Việt Nam mang bằng cấp nước ngoài dầu bản chất thế nào vẫn có giá trị hơn?


Trần Đăng Hồng

Những mùa Xuân năm cũ

Những người thuộc thế hệ sinh-sung hay lớn hơn một chút, từng sống ở chốn thành thị vào những thập niên 50-60, có thể nhớ ngày xưa ở Việt Nam, rất nhiều thứ thức ăn thức uống, ngay cả thứ bánh ngọt kiểu bít-quy người ta cũng phải nhập cảng từ Pháp. Đáng nhớ nhất là bánh ngọt bít-quy hiệu LU petit beurre để trong hộp thiếc. Bên ngoài hộp có in vài dòng chữ tiếng Việt đáng nhớ:

“Năm xưa em còn thơ ngây

Bánh LU đem tặng thầy

Chừ tớ làm quan lớn

Con thầy trả xấp hai”

Câu chuyện bánh LU (“gói” trong hộp thiếc) kéo dài đến khoảng đầu thập kỷ 80 bởi vào khoảng năm 1976-77 gì đó, người viết được một người bạn mang 1 hộp bánh LU Petit Beurre từ Tân Đảo Nouvelle Calédonie sang tặng. Hộp bánh LU này, tất nhiên không có in mấy câu “thơ-thẩn” gói ghém ước mơ làm quan và có lẽ nên duyên với con gái của thầy, trình bày in hình trên hộp rất đẹp, ghi rõ sản xuất từ cơ xưởng ở thành phố Nantes, với nguyên tên Lefèvre-Utile (viết tắt là LU) của cặp vợ chồng (ông) Jean-Romain Lefèvre và (bà) Pauline-Isabelle Utile khởi xuất vào năm 1846. Công Ty làm bánh LU sau đó sang tên đổi chủ nhiều lần và sau cùng vào năm 2007 sát nhập toàn bộ vào đại công ty Kraft Foods chuyên sản xuất bánh kẹo, phó-mát, sô-cô-lat, nước ngọt, v.v., có trụ sở chính đặt tại Hoa Kỳ.

Phải công nhận bánh LU là một trong những thứ hàng hiệu về thực phẩm trứ danh “Made in France” của nước Pháp. Loại bánh bít-quy nầy có mùi vị thơm ngon hơn hẳn các thứ bánh ngọt khác dù cũng làm tại các nước Âu Châu khác. Nhưng điểm đáng ghi nhớ ở đây là đến khoảng đầu thập kỷ 1990, khi có dịp sang Tân Đảo thăm ông bạn cố tri ngày trước – đi vào các siêu thị kiểu Mỹ - thì không tìm thấy bánh LU trong hộp thiếc năm xưa nữa. Bánh LU vẫn còn đó, nhưng được “bao bì” trong những gói giấy, như rất nhiều thứ bánh ngọt, lạt bày bán ở các siêu thị khắp nơi trên thế giới. Và hiện có lẽ các thứ bánh ngọt, bít-quy, hay bánh lạt sản xuất từ Trung Quốc hay Hong-Kong là còn được bao bì trong hộp thiếc, còn thì các thứ bánh do Tây Phương sản xuất thường gói trong bọc giấy rất đẹp. Bánh Trung Thu vẫn là thành trì “cố thủ” quan trọng của hộp thiếc mặc dù đã có nhiều thứ xếp gói trong hộp giấy.

Từ chuyện bánh LU, ai cũng có thể để ý đến chuyện thực phẩm và các món ăn đã hoàn toàn quốc tế hoá nhân loại toàn cầu. Điển hình là ở Sàigòn ngày xưa, người ta chỉ biết đến hai thứ đồ ăn chính không phải Việt là đồ Tàu và Tây. Chỉ có thứ đó không phải là chính hiệu Việt mà thôi. Thỉnh thoảng cũng có thể biết đến món mắm bò hốc (po-ro hốc= mắm) hoặc hủ tíu Nam Vang có xuất xứ từ nước láng giềng ở phía Tây Nam. Còn thì không bao giờ nghe nói đến canh chua Thái Tom-Yum hay hủ tiếu xào Pad Thai, hay mì Ý spaghetti, bánh nướng Pizza, hamburger Mỹ (McDonald’s), v.v. như ngày nay. Một hiệu bán thức ăn Nhật đầu tiên mang tên Fuji (Phú Sĩ) nằm ở Chợ Lớn cũng không sống mạnh bởi giá cả còn khá đắt. (Tiệm Nhật tại Úc vào thời mới “mở cửa” cũng lâm vào tình trạng tương tự. Nguyên nhân chính là phải “nhập cảng” đầu bếp Nhật thứ thiệt từ Nhật qua).

Ngay cả tại các nước Tây Phương, như Úc và Tân Tây Lan, hoặc chính ở Mỹ, vào khoảng giữa thế kỷ trước, cũng có rất ít các hiệu bán đồ ăn “ngoại quốc”. Trừ thức ăn Tàu và Pháp. Các thứ như Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha, cũng có, nhưng giống như thức ăn Việt trong khoảng từ 1975-78, chỉ có trong các câu lạc bộ chuyên biệt cho di dân, hay tại những khu vực “ngoại ô” tập trung di dân từng sắc tộc. Đáng kể nhất là câu lạc bộ Italo-Australian (Ý-Úc) nằm ngay ở đường George giữa phố Sydney (đã dẹp từ lâu), hoặc khu Leichhardt (Sydney) hay Carlton ở Melbourne, dành riêng cho di dân gốc Ý. Hy Lạp thì có khu Newtown kéo đến Marrickville rồi Earlwood, và dấu vết hãy còn cho đến ngày nay. Do Thái có câu lạc bộ Hakoah ở khu biển Bondi, Trung Hoa thì Mandarin ở cuối đường Pitt. Cả hai Hakoah và Mandarin đều hoàn toàn đóng cửa cách đây hơn chừng một năm. Lý do chính là lúc các câu lạc bộ này mới mở cửa và phồn thịnh hằng chục năm, các quán bán bia (pubs - viết tắt public bars: quầy rượu công cộng) chưa có li-xăng đặt máy kéo xu, poker machine (machine à sous), như bây giờ. Di dân từ Li-Băng đến sau, nhưng cũng là nhóm di dân lớn sau hai khối Hy Lạp và Ý, cách nhau đến cả vài chục năm. Đóng góp điển hình của sắc dân Trung Đông, nhất là Li Băng, trong vấn đề ẩm thực, chính là bánh ngọt rất nhiều đường, xen lẫn với đậu nhất là đậu pistachio. Ý thì khỏi nói, bánh nướng pizza, mì spaghetti, bánh mì vỏ nướng dòn (dòn và cứng hơn cả thứ bánh mì baguette trứ danh của Tây), và hàng chục thứ càphê (từ cappuccino cho đến macchiato), thi đua nhau lan tràn khắp nơi trên thế giới. Sự thật, cũng như phim Hollywood ngày xưa đến Việt Nam qua đường chuyển âm và phân bố của Pháp, thức ăn Ý xâm nhập toàn cầu trong thuở ban đầu qua đường cao tốc của Mỹ, nhất là Pizza Hut, và có lẽ chỉ ào ạt sau phim the Godfather (Bố Già) của Francis Ford Coppola vào năm 1972. Điểm đáng ghi nhớ trong việc tấn công càphê và thức ăn Ý là mãi cho đến những năm cuối thế kỷ 20, ít ai có thể tin rằng một tiệm café bán thức ăn thức uống của Ý có thể do một người thuộc sắc tộc khác Ý trông coi, hay phụ việc bồi bếp. Nhưng những đợt di dân không ngừng từ Á Châu, rồi bây giờ Phi Châu và các lục địa khác, nhất là sự có mặt của hàng chục nghìn sinh viên tứ xứ, đã làm thay đổi toàn bộ dịch vụ ẩm thực tại Úc. Và ngày nay, chủ tiệm café Ý có thể là người Hoa, chủ tiệm sushi Nhật cũng có thể là người Hàn hay người Hoa. Kể cả đầu bếp và nhân viên phục vụ. (Một tiệm phở ở downtown Sydney có một thời đưa ra thí nghiệm dùng bánh phở làm tại chỗ kiểu Thượng Hải hay Hàn quốc. Nhưng sau đó hình như phải chuyển món bởi họ cần ít lắm 25 phút để nấu xong bát phở.)

Người Tây Phương thuộc khối nói tiếng Anh, kể cả Mỹ, vào khoảng giữa thế kỷ trước, có lối sống hết sức réch-lô, nhất là trong chuyện ăn uống. Họ rất ít khi đi ăn tiệm, chứ không như giới trẻ bây giờ. Mặc dù vẫn có vài tiệm ăn “bình dân” bán các món như thịt bò steak rán, thịt cừu, hay xúc xích, kèm theo chừng hai lát mì xăng uých trét bơ. Thực khách thường là những người độc thân không họ hàng quyến thuộc, hoặc con cháu ở cùng, nấu ăn đàng hoàng cho. Hiện các thứ tiệm này đã dẹp gần hết.

Ở Úc ngày xưa, thức ăn tại các ký túc xá sinh viên thường phản ảnh đầy đủ các món ăn thường nhật gia đình Úc. Thường thì thịt cừu rán, xúc xích cừu (đôi khi nấu với cà-ri loại ngọt có kèm với nho khô, rất khó nuốt), thịt bò, thịt heo, thịt gà. Thịt gà thời đó giá cả hãy còn cao, nhưng không lâu các hãng nuôi gà đua nhau sản xuất gà nuôi công nghệ và giữ vững giá hạ đến mấy mươi năm nay. Tôm và cá rất ít khi, trừ ngày thứ sáu mỗi tuần. Cá thì có món ăn cổ truyền rất Ăng Lê, mua ở tiệm Fish & Chips (cá và khoai tây chiên) tiện hơn và rẻ hơn là nấu ở nhà. Tuy vậy ở nhà người ta thường chơi món cá nấu nước nóng rim rim, ăn với khoai tán. Truyền thống ăn uống của người Úc và Tân Tây Lan ngày trước có món ăn hết sức thịnh soạn dành cho bữa ăn trưa ngày Chúa Nhật. Và đối với nhiều người, sau khi đi lễ ở nhà thờ. Đó là món thịt nướng, thường gọi nôm na là Sunday Roast. Thường thì là thịt bò, cừu, hay gà bỏ vào lò nướng, nướng cho thật vàng hay giòn thịt hay da ở bên ngoài. Đi kèm với bò nướng, ngoài khoai tây, cà rốt và “lê-guim”, là một thứ “bánh” bột chiên, một “phát minh” hết sức Ăng Lê gọi là Yorkshire pudding, ngày nay rất hiếm thấy ở các hiệu ăn tại Úc. Có lẽ cũng là hậu quả của việc tránh mỡ dầu của thời đại.

Một thức ăn có thể tiêu biểu cho món ăn “cổ truyền” ở Úc và Tân Tây Lan chính là món “meat pie” (bánh nướng nhân thịt Úc / bánh “pai”). Món này cả Úc và Tân Tây Lan đều “giành” là món bánh cổ truyền xứ họ. Cũng y chang như thứ bánh ngọt dùng nhiều lòng trắng trứng gà là bánh Pavlova. Thật ra bánh Pai là kiểu bánh mặn tương đương với bánh “patê sô” của Tây, và rất gần với bánh pai thịt bò steak của Anh. Và cũng giống như món pork pie (bánh pai thịt lợn), hiện vẫn thường bày bán ở các tiệm deli hay ở các cửa hàng bách hoá lớn như Myer. Bánh pai thịt lợn này, trừ lớp vỏ bên ngoài, giống “pâté chaud” nhất, nhưng lại ăn lạnh chứ ko có “chaud” (nóng).

Đặc điểm của bánh pai Úc và Tân Tây Lan là bánh có nhân thịt ở trong thay đổi nhiều thứ. Đầu tiên là người ta dùng thịt bò bầm nhỏ nhưng không nhuyễn như chả Việt, hay pai thịt lợn kiểu Anh. Biến chế nước sốt trộn với thịt bầm trong nhân là yếu tố định đoạt bánh pai ngon hay dở. Cũng giống như món “tiểu long bao” [xiao lung bao] của Thượng Hải, là làm thế nào vẫn giữ được nước súp trong bao hoành thánh nhân thịt cho đến lúc ăn. Nhân thịt bánh pai có thể trộn với khoai tây hay nấm, hoặc dùng thịt bò thái trộn với tiêu hột chứ không phải thịt bầm. Ngoài ra còn có bánh pai nhân thịt gà xé nhỏ. Bánh pai có thể dùng với sốt cà chua (tomato sauce / ketchup (“vay mượn” từ Hoa ngữ: 茄汁 - gần phát âm Đài Loan nhất [ka chiap], mang nghĩa nước cốt trái cà), hay sốt gravy (làm từ thịt nấu hay nướng).

Tại Sydney có một tụ điểm bỏ túi khá trứ danh chuyên bán bánh pai từ thời trước thế chiến thứ 2 mang tên Harry’s Café de Wheels bởi hồi mới mở quán bán bánh pai này đặt gọn trong một chiếc xe giống caravan nhỏ toạ lạc ở khu Woolloomooloo bên cạnh “bến tàu” Sydney, nhằm phục vụ giới thủy thủ và lao công bến tàu ban đêm. Bởi quán nằm trên một chiếc xe lưu động, luật lệ hành chánh địa phương đòi hỏi xe phải di chuyển mỗi ngày ít lắm là 12 inch, tức chừng 1/3 thước tây. Thế là chủ tiệm tuân chỉ, ngày nầy đẩy xe tới một chút, rồi ngày sau đẩy lui lại, trong vòng dưới 1 thước tây. Tiếp diễn hằng chục năm cho đến khi hội đồng thành phố đổi luật mới thôi. (Xem chi tiết về Harry’s café de Wheels tại: http://www.harryscafedewheels.com.au/History_of_Harrys_Pies.aspx).

Bánh pai ở tiệm Harry có đặc điểm là có thể dùng với đậu xanh peas (petit bois) hay khoai tây tán, và ngày nay theo với trào lưu “nhượng quyền thương vụ” (franchise), quán Harry de Wheels mở thêm nhiều cửa hàng ở những địa điểm khác, nhưng điểm mốc lịch sử của quán bán bánh pai trên chiếc “caravan” ở khu bến tàu năm xưa vẫn còn đó. Thực khách thay đổi rất nhiều. Những người thủy thủ năm xưa đi chơi đêm về khuya không còn nữa, và thay vào đó là những du khách thăm viếng Sydney, cũng như những cư dân các khu apartments chung cư sang trọng nằm dọc theo bến tàu vắng lạnh năm xưa.

Trở lại chuyện thay đổi khẩu vị ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Căn bản, chuyện này bắt nguồn sâu xa từ thành công của thể chế thương mại toàn cầu theo định hướng tự do (theo nghĩa tương đối) của kinh tế thị trường. Theo đó công ty từ nước này mở chi nhánh tại nước kia, và di chuyển lao động ào ạt trong nhiều năm theo với các làn sóng tỵ nạn chính trị xảy ra khắp nơi trên thế giới. Ngành du lịch cũng trở nên một nguồn kinh tế đáng kể, nhất là tại những nước đang mới phát triển. Đặc điểm đáng nhớ nhất của du lịch là giá vé máy bay ngày nay so với thời thập niên 60-70 lại có khi rẻ hơn, nhưng nói chung không khác biệt bao nhiêu. Một điểm khác, thời xưa muốn di chuyển bằng phi cơ, người ta chỉ có thể chọn một vài hãng hàng không của các nước lớn trên thế giới mà thôi. Thí dụ như Air France, BOAC, Pan Am, Cathay Pacific, Qantas, v.v. Đến thời bây giờ, nước nào cũng có hãng hàng không to lớn có đường bay đi rất nhiều nơi trên thế giới. Cũng như chế độ độc quyền hãng hàng không quốc gia trên không phận từng nước như ngày xưa không còn nữa. Kiều bào ở nước ngoài của nước nào cũng đông, chứ không riêng gì Trung Quốc hay Hàn quốc hoặc Mỹ hay Ăng Lê. Lợi tức dân chúng nhiều nơi trên thế giới cũng đủ để mua vé máy bay. Không thì con cháu cư ngụ ở nước ngoài cũng đủ tiền để mua vé cho cha mẹ bà con đi đây đi đó thăm con thăm cháu. Những tình trạng như vậy hoàn toàn không có, hoặc ngay cả không tưởng, ở thời giữa thế kỷ 20, nhất là trong thời kỳ chiến tranh lạnh kéo dài gần nửa thế kỷ trước.

Liền tiếp theo các làn sóng di dân và tỵ nạn là chuyện công ăn việc làm sau khi định cư ở xứ người. Và với một cộng đồng “đồng hương” sẵn có ở tại “đất khách” chuyện tìm cách sinh nhai bằng việc mở tiệm ăn hay quán nhỏ bán thức ăn mang đi là một ý tưởng hết sức hiển nhiên nằm trong đầu mọi người di dân đang tìm cách ổn định đời sống mới ở nơi mà họ đang xin nhận làm quê hương. Và từ đó. tại khắp các thành phố lớn trên thế giới “chế độ” ẩm thực cũng thay đổi theo. Thí dụ điển hình là tại thành phố lớn như Sydney, gần như sắc dân nào cũng có hiện diện hiệu ăn của họ. Từ thức ăn Lào đến Marốc. Từ Ba-Lan đến Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn đến Tân Cương - Uyghur, Tứ Xuyên đến Afghanistan, v.v.. Đa phần đều có thực khách người bản địa vào ăn uống nhất là vào lúc cuối tuần.

Hai thứ ẩm thực có thể nói là thành công nhất trong suốt mấy mươi năm qua là đồ ăn Thái và Nhật, nếu không kể đến hình thức Yum Cha (nhẫm xà), tức Dim Sum (điểm tâm) của các tiệm Tàu. Cả hai đều lướt sóng theo trào lưu tránh thức ăn nhiều dầu mỡ như đồ ăn Hong Kong. Thức ăn Thái được lợi điểm từ chỗ Bangkok, Pattaya hay Chiang Mai từ nhiều năm trước vẫn là nơi du khách Tây Phương thường lui tới. Cộng với chuyện người Thái từ lâu vẫn chuyên nghề tổ chức ăn uống và nhà hàng theo kiểu “làm ăn lớn” sau lưng người Hoa không bao xa. Nhà hàng làm người Thái có thể nở mày nở mặt chính là Tam Nak Thai ở Bangkok, một nhà hàng ngoài trời lớn nhất trên thế giới, chứa hàng ngàn thực khách mà không có vấn đề. Ở đó có những sân khấu cho vũ công Thái biểu diễn những điệu vũ cổ truyền và đặc biệt thức ăn được mang đến bàn ăn bằng những hầu-bàn viên chạy trên đôi giày “patin”, tức giày có bánh xe roller skating.

Thức ăn Nhật cũng “tranh đấu” không ngừng để giành chỗ đứng trên thị trường ẩm thực trên thế giới. Cuisine Nhật ngoài mặt có vẻ hết sức đơn giản, nhưng bên trong đòi hỏi rất nhiều kỹ năng, và “triết lý” nấu nướng hết sức tinh vi, ngang hàng với nhiều thứ sư phụ ngành “ăn uống” trên thế giới, kể cả Pháp.

Ngoài chuyện ẩm thực, chuyện internet, chuyện tóc đen tại chốn học đường ở các xứ phương Tây, các nghành nghề mới (như làm móng tay, “lò” bánh mì, làm MC (thời xưa không có “nghề” này – ngày nay tại nhiều nơi kể cả VN có trường đào tạo Em-Xi), v.v.), chuyện đáng ghi nhớ khác là cách đổ xăng vào xe hơi (hay xe gắn máy) tại các trạm xăng.

Cho đến khoảng giữa thập niên 80 thế kỷ trước, đổ xăng cho xe hơi tại Úc và Tân Tây Lan, được phục vụ đàng hoàng, và hết sức “tử tế”. Nhiều khi người lái xe vẫn cứ ngồi y trong xe, nhân viên trạm xăng cứ “thủng thẳng” đổ xăng vào xe, theo với số lượng gallons hay số lít người lái xe đặt mua, rồi tính tiền tại chỗ. Tuyệt nhiên không có chuyện nối đuôi chờ đổ xăng ở những trạm bán theo giá rẻ như bây giờ. Tức người lái xe, nhất là phụ nữ, không cần biết đổ loại xăng nào, hay mở nấp bình xăng ra sao, và nhất là làm thế nào để bơm xăng vào xe.

Trạm xăng thường đóng cửa ban đêm và rất sớm. Có vài trạm xăng muốn phục vụ khách hàng ngoài giờ mở cửa, bày ra chuyện bơm xăng tự động ngoài giờ mở cửa. Giá cả thường bất nhất và nhiều trạm bớt giá bằng cách cho thêm chút ít xăng ngoài lượng lít đặt trước. Thời điểm kinh tế toàn cầu chưa nhất thống cũng chính là thời điểm bánh bít-quy (như bánh LU) khác nhau tùy từng nơi trên thế giới. Và lúc đó dân nước nào chỉ quen ăn đồ ăn nước đó mà thôi. Ít ai “dám” thử thức ăn nước khác, vì sợ đau bụng và chạy theo Tào Tháo mà hoàn toàn không biết ông ấy tính tình ra làm sao.

Biến chuyển toàn cầu mạnh mẽ nhất là trong thập niên 90, sau khi kết thúc chiến tranh lạnh. Xăng bán cho xe hơi do người lái xe tự bơm lấy bắt đầu từ hồi nào mà không ai hay. Rồi xuất hiện xăng super, xăng không có chất chì, xăng có thêm dầu ethanol (tức một thứ dầu hoá chất chế biến từ đường mía, lúa mạch, ngô, v.v.) rất tốt cho môi trường), dầu diesel cho một số xe, v.v..

Thế giới rần rộ thay đổi lối sống, nhất là đời sống ở thành thị. Một mặt, mọi thứ đều đi về hướng tiêu chuẩn hoá - điều động từ nền kinh tế số 1 ở Mỹ. Mặt khác, các sản phẩm tiêu thụ và dịch vụ cung ứng càng ngày càng phức tạp, luôn luôn thay đổi để kinh tế tiếp tục vận chuyển. Thêm vào đó là nạn “bắt chước” kinh doanh – như chuyện rất nhiều nước sản xuất lắp ráp xe hơi xịn như Nhật, Đức, Hàn quốc, chứ Anh, Pháp, Mỹ không còn độc quyền như ngày xưa. Chuyện ẩm thực và chuyện đổ xăng là hai thí dụ điển hình. Cần nói thêm một tí về chuyện các trạm xăng.

Ngày xưa ở Úc, đời sống rất thanh thản an nhàn. Mỗi khu phố đều có tiệm tạp hoá nhỏ chính yếu là bán các thứ thực phẩm nhu yếu như sữa, bơ, kem (cây), một ít khoai tây, cà rốt, và cải, v.v. - gọi chung là Milk Bar (tiệm bán sữa). Đây cũng là một loại tiểu thương khá hấp dẫn cho di dân các đợt từ Âu Châu sau thế chiến thứ 2. Thế nhưng các siêu thị bắt đầu mọc lên từ những năm 50-60 - bắt đầu đe dọa sự sống còn của các Milk Bar. Nhưng cũng còn sống được, mặc dù không khấm khá như hồi trước. Đến khoảng cuối thập niên 80, và tiến thật nhanh, các trạm xăng bắt đầu bán thêm sữa và các thứ nước ngọt, và đến ngày nay thì các hiệu siêu thị lớn mua luôn hay mở thêm dịch vụ trạm xăng. Rồi từ đó nhiều trạm xăng được nới rộng bao gồm gian hàng bán nhiều thứ giống như một siêu thị nhỏ. Bán luôn cả báo chí cũng như các thứ thuốc tây như thuốc trị nhức đầu, cảm cúm, và cả các thứ sinh tố vitamins. Dịch vụ “milk run” tức giao sữa tận nhà, thời dân Việt mới đến Úc hãy còn, giờ biến đâu mất. Các milk bar trở thành dấu tích của thời xa xưa càng ngày càng ít đi. Cũng không khác gì các tiệm cho mướn băng video, hay DVD trong thời internet và phim 3 chiều 3D.

N.N.

Không phải là tỉ phú là người ta ném tiền qua cửa sổ



Câu Chuyện Giáo Dục:
Không phải là tỉ phú là người ta ném tiền qua cửa sổ


Tỉ phú Warren Buffett nổi tiếng vì tính cần kiệm. Photo courtesy: Reuters
Tỉ phú Warren Buffett nổi tiếng vì tính cần kiệm. Photo courtesy: Reuters

- Tiếng Pháp có từ ngữ “nouveau riche” (nhà giàu mới) đã được đưa luôn nguyên văn vào tiếng Mỹ và cũng như nguyên gốc, tiếng này khi dùng ở đất nước giàu nhất thế giới cũng có ý hơi coi thường…những kẻ mới giàu!

Thường do cái lối xài hoang (có khi buồn cười, có khi ‘điên’ và lắm lúc không được thanh lịch) mà những kẻ lăm le vài triệu đã muốn làm vỡ tung mắt người xung quanh. Nhưng có nhiều người giàu hơn họ rất nhiều, giàu hơn cả ngàn lần thì những tỉ phú này ăn xài ra sao?

Thí dụ như tỉ phú Carlos Slim người Mễ, cách đây không lâu còn được xem giàu hơn cả Bill Gates và Warren Buffet, với tài sản khoảng 60.6 tỉ đô la. Bây giờ cứ cho là số tiền này không đổi thì ông Slim có thể xài 1,150 đô la MỖI PHÚT trong vòng 100 năm tới thì mới hết tiền.

Hoặc để cho dễ hiểu, ông Slim có thể xài trong vòng 13 PHÚT là bằng lương của một người có mức lương tối thiểu ở Mỹ phải đi làm suốt năm mới có. Nói như thế để thấy trên 1,000 tỉ phú đô la mà báo Forbes xếp hạng mỗi năm có ‘đặc quyền’ tung tiền như bươm bướm suốt năm mà gia tài chỉ… sức mẻ có chút xíu.

Nhưng không, họ có những thói quen tự nhiên, đáng là những bài học để 6,864,605,142 người trong chúng ta (tính đến tháng 5 năm 2010) noi theo, nhất là những ‘nouveau riche’ mới ti toe vài triệu đã xem trời bằng vung!

Đầu tiên là nhà ở. Khác với một tay nhà giàu mới Ấn Độ vừa chi ra hàng tỉ đô la xây nhà cao vòi vọi, có nhiều tỉ phú ở nhà..như mọi người. Warren Buffett nổi tiếng nhất vì ông vẫn sống trong căn nhà 5 phòng ở Omaha mà ông mua năm 1957 với giá 31,500 đô la. Carlos Slim cũng sống trong căn nhà xưa đến 40 năm, không dời đi đâu.

Kế đến là họ di chuyển bằng xe bus công cộng, đi bộ hay đi…xe đạp. Đó là các tỉ phú John Caudwell, David Cheriton và Chuck Feeney. Dĩ nhiên họ có thể mua hàng đống xe Bentley hay di chuyển bằng trực thăng trong thành phố, nhưng họ chọn cách đơn giản và rẻ tiền nhất.

Có một phụ nữ Trung Quốc khi thu nhập lên tới trên 70,000 đô la/năm đã vội vã bỏ ra 1/3 số tiền này mua toàn hàng hiệu và đều đều hàng năm như thế, thì các tỉ phú như David Cheriton, Sergey Brin và Larry Page chỉ quanh năm diện có quần jeans và áo T-shirt cho mát!

Ingvar Kamprad, người sáng lập Ikea, luôn tránh mặc âu phục và ‘vua điện thoại di động’ John Caudwell thì mua quần áo hàng lố ở…Wal-Mart thay vì đi cắt may ở các cửa hiệu thời trang lẫy lừng. Đáng kể hơn, trong lúc có người rủng rỉnh tí tiền bỏ ra 800 đô la cho một lần đi cắt tóc, thì quý tỉ phú John Caudwell và David Cheriton…tự cắt tóc ở nhà cho khỏi tốn xu nào.

Dĩ nhiên khi đụng tới xe hơi, các tỉ phú khác xài phát khiếp như Larry Ellison, CEO của Oracle Corporation bỏ ra cả trăm triệu đô la sắm hàng đống xe, tàu, phi cơ đắt tiền nhưng tỉ phú Jim Walton của Wal-Mart lái chiếc pickup xưa 15 năm.

Azim Premji, một tỉ phú người Ấn Độ, vẫn thường lái một chiếc Toyota Corolla. Invar Kamprad của Ikea lái chiếc Volvo xưa 10 năm. Warren Buffett trung thành với cái Ford xưa như Trái Đất của mình. Các tỉ phú này quan niệm xe hơi chỉ là phương tiện, miễn nó chạy tốt và an toàn thì tại sao phải Roll-Royces với Ferrari?

Nhiều tỉ phú rất ..sợ mua sắm những món quá xa xỉ, và chuyện này có thể làm rất nhiều người trong số hơn 6 tỉ còn lại ngạc nhiên. Họ không có du thuyền trăm triệu đô hay thậm chí phi cơ riêng và họ toàn là những nhân vật số 1 hay số 2 như Slim và Buffett. Buffett còn phán một câu nhớ đời: “Mấy cái hào nhoáng đó chỉ tổ mang khổ vào thân”

Chúng ta học được cái gì? Đó là nhiều tỉ phú có tính tiết kiệm (không phải bủn xỉn). Đây là bài học hay cho giới trẻ vì muốn giàu có sau này, đức tính đầu tiên chính là sự cần kiệm. Hòa nhập như mọi người còn là tính khiêm tốn, không phô trương, nó còn là kiểu bày tỏ tình người khi có hàng tỉ người chỉ sống với chưa tới 1 đô la mỗi ngày!

Hồng Quang

Bài Xem Nhiều