We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 27 February 2011

HỌA PHÚC KHÓ LƯỜNG

Họa phúc khó lường…

Quyền họa phúc trời tranh mất cả
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai
Cái quay bún sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm



Sư rằng phúc họa không lường…”. Câu thơ ngày nào thì thầm đọc trên đường về lại Hòn Ngọc Viễn Đông từ Kinh Đô Ánh Sáng, non nửa thế kỷ về trước, chợt lóe lên trong đầu tôi đang ngồi trên ghế đá công viên Bạch-Mã, cúi nhìn giòng nước nhánh sông Saint-Laurent cuộn xoáy tuôn chảy xuyên qua Thôn Trang Rêu-Phong (Pierrefonds), ngoại ô thành phố Mộng-Lệ-An (Montréal) Xứ Tuyết Gia-Nã-Đại (Canada)…
Ngỡ ngàng như giấc chiêm bao!


Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau

“Ông đồ già kiêm lính yếu”, biệt danh “Thạch Động Cuồng Hĩệp sĩ” tôi “bừng con mắt dậy thấy mình tay không…”, cúi nhặt viên sỏi ném xuống giòng sông -chứng nhân biết bao lần hắn cuồng nhiệt trút đổ cuồng nộ qua âm thanh gầm thét của cơn nước lũ- ngao ngán lắc đầu thở dài:

Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu…
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê…

-0-0-0-


“Dạy học không phải là nghề, mà là nghiệp.
Tôi đam mê dạy học”
-LTL-
Ngày đó, 44 năm về trước, phẫn nộ nhận sự vụ lệnh của Bộ Giáo Dục chỉ định nhiệm sở mới, tôi tức tối lái xe đến Trường Trung học Trịnh Hoài Đức (Bình Dương) nhận việc, hậm hực cảm thấy mình chịu một sự bất công quá sức vô lý, sau khi đã hoàn tất 4 năm mặc áo trận như mọi công dân tới tuổi nhập ngũ theo lệnh động viên:
Theo thể lệ hiện hành về công vụ, tôi được ưu tiên chọn phục vụ tại Sàigòn, Gia Định hay ít ra cũng tại Chợ Lớn, so với các đồng nghiệp chưa thi hành quân dịch. Ấy thế mà họ lại ưu tiên hơn kẻ đã từng xông pha nơi chiến trận! Đáng giận hơn nữa, trong đơn xin thuyên chuyển tôi ghi rõ, vì lý do an ninh, yêu cầu Bộ GD tránh đưa tôi về một nơi mà tôi đã từng đối mặt chiến đấu với địch quân: Bình Dương!
Càng buồn lòng hơn nữa là lúc bây giờ BTX, thằng bạn học cùng trường với tôi phụ trách hồ sơ chỉ định nhiệm sở, ông Tổng Trưởng NVT là người láng giềng cùng tỉnh, ông Đổng Lý Văn Phòng LCT, trước đó 6 năm, là người chứng kiến Phái Bộ Văn Hóa Pháp (Mission Culturelle Française) phỏng vấn, tuyển chọn cấp học bổng cho tôi du học!
Khi tôi lên tiếng phản đối bị đối xử bất công, cả ba “ngài” cho biết không muốn mang tiếng “nâng đỡ” người thân quen! Ấy thế mà mãi về sau tôi mới rõ ra ba vị “chí công vô tư” của tôi chẳng có vô tư chí công chút nào hết: Một lô thân quen khác của các “ngài” được điều động từ các tỉnh xa xôi về…thủ đô! Dễ hiểu hết sức mà lúc bấy giờ tôi chẳng hiểu ra: Tôi không nằm trong “phe nhóm” cần thiết cho “sự nghiệp chính trị” của các ngài trong tương lai!
Thế nhưng cái mà tôi cho là vận xui, là “họa” dần dần hiển lộ là…một cơ may, một diễm “phúc”: Không ngờ “nhờ” cách đối xử bất nhẫn của ba vị “thân quen”nầy, từ ngày đặt chân xuống khuôn viên trường THĐ, đời tôi chuyển biến ngoài dự liệu của ba vị “chí công vô tư” giả hiệu, cũng như của chính tôi!
***
C
on đường từ ngã ba Bình Triệu chạy qua các địa danh Đồng Chó Ngáp, Lái Thiêu, Bình Nhâm, Búng, Phú Văn, dẫn tới tỉnh lỵ Bình Dương là lộ trình quá quen thuộc với tôi suốt thời gian phục vụ tại Sư đoàn 5, lúc bấy giờ bản doanh đặt tại Biên Hòa.
Ngày đó -ngày đầu tiên tôi lên đường đáo nhậm đơn vị, tiểu đoàn 3/8, trấn đóng tại Phú Thứ và Thùng Thư- tôi cùng các chiến hữu thuộc quyền ghé qua chợ Bình Dương mua lương khô mang theo đi hành quân: Mỗi người chúng tôi đều choàng vai một poncho cuộn tròn như một khúc dồi khổng lồ, bên trong chứa gạo, bao quanh dây ba chạc với vài trái lựu đạn treo lủng lẳng…
Tình cờ một người “dân sự” trố mắt nhìn tôi, kêu lên:
-Trời ơi! Sao đến thế nầy hở L.? NTQH -bạn cùng khóa Đại Học Sư Phạm Đà Lạt lắc đầu ngao ngán như “thương hại” cho thân tôi!
-Có gì đâu bạn hiền! Phận sự công dân trong thời chiến thôi! Tôi trả lời người bạn đồng môn, lúc bấy giờ là giáo sư Pháp văn của trường Trịnh Hoài Đức.
Nào ngờ 4 năm sau đó, cởi chiến y, tôi lại quay về “chốn cũ”! Nhưng lần nầy trong tay không một tấc sắt để…tự vệ! Dường như tôi có duyên nợ chi đây với “linh địa” Bình Dương !
Những diễn biến sau nầy cho thấy quả thật những thăng trầm trong đời tôi hầu như gắn liền với ngôi trường dần dà trở thành gia đình thứ hai của tôi. Những gì tôi nghĩ là họa, nghiệm ra là phúc và…ngược lại!
***
B
uổi tiếp xúc đầu tiên -khá “đặc biệt”- với học sinh diễn ra tại khu Trường Nữ, cách khu Trường Nam khoảng 2 cây số, chưa kể lối dẫn vào khu trường ốc nằm giữa “đồng không mông quạnh”, cách lộ chính (QL 13) non nửa cây số, gần Chợ Búng, nơi có doanh trại của một đại đội Địa Phương Quân và một Cuộc Cảnh Sát đối diện. Sát bên Cuộc là quán bán bún nem nướng, nem chua nổi tiếng vừa ngon vừa lịch sự với cô chủ quán, thôn nữ dịu hiền, niềm nở, sắc diện “ưa nhìn”, nên khách thập phương ra vào tấp nập…
Bước xuống chiếc Dauphine cà tàng (thuở ấy đã là le lói lắm, trong giới gõ đầu trẻ), kính đen chễm chệ trên sóng mũi, một tay cầm ống điếu, tay kia chống dù, dáng điệu hơi “hiên ngang” (mới cởi quân phục mà!), tôi “hùng dũng đếm bước quân hành” lên cầu thang tiến về hướng lớp học. Nhưng kỳ lạ thay, các nữ môn sinh của tôi không xếp hàng dọc bờ tường, chờ tôi ra hiệu cho vào lớp. Trái lại, các em xếp hai hàng làm thêm một hành lang thứ hai trên dãy lầu…Rồi tự động quay mặt đối diện nhau, đồng loạt đưa một tay lên cao, tạo nên một hành lang danh dự đón chào tôi! Y như hàng rào danh dự làm bằng tay kiếm tuốt trần của các bạn đồng khóa đón chào vị sĩ quan xuất thân Trường Võ Bị Quốc Gia choàng tay cô dâu trong ngày cưới! (Mãi về sau, tôi mới rõ cách “dàn chào” đặc biệt nầy chỉ diễn ra một lần duy nhứt, trước tôi và sau tôi không hề có…)
Kể từ giây phút đó, tôi cảm nghiệm đã kết hôn với tập thể THĐ, như đã ước hẹn từ lâu với một duyên số đã được an bài tự thuở nào!
Tâm trạng u uất như bị “lưu đày” vụt tan biến như đám mây đen bị gió cuốn đi. Trời trở lại quang đãng trong tâm hồn kẻ vừa tạm giã từ vũ khí trở về với công tác giáo dục thuần túy mà hắn đã được đào luyện từ lâu…
Họa “bất công” bất ngờ biến dạng thành phúc tìm được đúng môi trường phục vụ…

Nhưng mây đen lại kéo về hăm dọa người cựu chiến binh vào mùa Xuân đầu tiên của tôi (Xuân Đinh Mùi, 1967) với Trường THĐ: Tôi đang trình bày “Khoái lạc và Đau khổ’” cho lớp Đệ Nhất A1 Nữ thì có hai thanh niên VC giả dạng nam sinh THĐ sang bán báo Xuân đột nhập khuôn viên trường, ép buộc giáo sư và các nữ sinh tập họp ở sân cờ để tuyên truyền “chống Mỹ cứu nước”. Bất ngờ có hai chuẩn úy trẻ của đại đội ĐPQ đèo nhau trên xe gắn máy Suzuki chạy ngang cổng trường, có lẽ chỉ muốn ngắm nhìn vô tội vạ các nữ sinh xinh xắn thôi, chẳng hay biết chuyện gì đang xảy ra trong sân trường. Hai tay VC rượt theo, nổ súng sát hại…Tới nay tôi vẫn chưa quên cảnh tượng hai nụ cười tươi tắn của hai chàng sĩ quan trẻ vụt tắt ngấm vài giây sau đó, cả hai hoàn toàn “vô tư” tử nạn, không một tấc sắt trong tay!
Chắc chắn mấy ông “quan” giáo dục “chí công vô tư” của tôi chẳng thể nào hình dung nổi những hiểm nguy đang rình rập người lính chiến, “tay không” trở về nơi đã từng in dấu giày trận của hắn, giờ đây phải mặt đối mặt thường xuyên với kẻ cựu thù gần như vô hình nhưng cực kỳ nguy hiểm!

Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí: Hơn nửa giờ sau, viên trung úy già, đại đội trưởng ĐPQ (gốc giáo phái đồng hóa) ở chợ Búng mới dẫn quân tiếp cứu! Hai tên sát nhân đã cao bay xa chạy! Không rõ ông quan hai nhà ta nghĩ gì mà thẳng thừng ra lịnh bắt tôi và đồng nghiệp LĐC giải giao cho Cuộc Cảnh Sát, với lời cáo buộc “hai ông giáo nầy dẫn VC vào trường (sic!) phục kích giết sĩ quan” !
Họa dồn dập tới tấp tưởng chừng “thân bại danh liệt” tới nơi. May phước thay ông Trưởng Cuộc Cảnh Sát bác bỏ lời cáo buộc vô lý của ngài quan hai gốc giáo phái: Ông ngỏ lời xin lỗi “hai thầy” đã phải chịu nhục bị giải giao cho nhân viên công lực, rồi quyết định trả tự do cho hai chúng tôi. Cũng kịp thời, vì giáo sư và học sinh nam nữ THĐ đang chuẩn bị “xuống đường” kéo tới chợ Búng “biểu tình” phản đối chuyện bắt giữ vô cớ “hai thầy” của Trường…
Quả thật, họa phúc khó lường! Và vòng lẩn quẩn phúc-họa-họa-phúc còn tiếp diễn dài dài, suốt thời gian tôi phục vụ tại trường THĐ…
***
Q
uả nhiên! Nghỉ ăn Tết xong, trở lại bục gỗ, tôi lại mắc “họa”. Lần nầy không do “du kích xã” rình mò ám hại mà bị “đồng minh” Đại Hàn, trong toán Công Binh Ong Biển (Sea Bee) sang giúp VN thiết lập hay sửa chửa đường xá, cầu cống trong các làng xã xa xôi, hẻo lánh -đặc biệt giúp tu bổ phòng ốc cho trường THĐ- công khai đe dọa tính mạng! Sáng hôm đó, du kích-đặc công gài chất nổ sát hại một binh sĩ Đại Hàn đang sửa soạn tu bổ giếng nước trong sân trường Nam…(Tôi nghi ngờ có sự tiếp tay bên trong từ phía một vài học sinh, cảm tình viên -hay bị ép buộc cộng tác, vì gia đình cư ngụ trong vùng xôi đậu- của MTGPMN).
Khoảng nửa giờ sau, một tiểu đội Đại Hàn kéo tới xả súng loạn xạ, đau lòng và tức bực vì đồng đội bị sát hại trong lúc mang thiện chí ra làm công tác xây dựng. May thay, không ai trong trường bị thương hay tử nạn. Chỉ chiếc Dauphine cà tàng của tôi thọ nạn, kiếng bể hết vì trúng đạn! Riêng tôi và một nữ đồng nghiệp sắp lâm bồn bị đồng minh Đại Hàn chỉa súng quát nạt: “VC? VC?”... Kề cận cái chết trong gang tấc, chỉ cần súng cướp cò bất tử!
Hiểm họa mất mạng vì đối phương chực chờ hãm hại chưa thực sự xảy ra , nhưng rủi ro lâm nạn vì “phe ta” và “đồng minh”, xem ra rất có thể xảy đến với chàng cựu sĩ quan SĐ5/QLVNCH bất cứ lúc nào! Tai họa nầy khiến tôi nhận ra được sống tương đối an ninh trong vùng do chính phủ VNCH kiểm soát quả là một diễm phúc và càng thêm cảm thông cùng thương xót sâu đậm những ai không may phải sinh sống ở các vùng xôi đậu. Trước đây, khi hành quân, tôi đã từng chứng kiến những nhục nhằn, cơ cực của người dân bị kẹt giữa hai lằn đạn! Nào ngờ vừa cởi chiến y, tôi lại phải… sống cảnh “trên búa dưới đe” trong khuôn viên Trường THĐ, khi tôi chỉ đến để phổ biến văn hóa!
Trong khi chờ đợi mối họa thọ nạn từ hai phía, như đợi chờ thanh gươm Damoclès treo lủng lẳng trên đầu bất chợt đứt dây rơi xuống đột ngột chấm dứt cuộc hành trình nơi trần thế, tôi vẫn đều đặn bước lên bục gỗ, hăng say truyền đạt những gì tôi thu nhận được từ các tôn sư tiền bối cho các môn sinh hậu duệ. Tôi yêu thích không khí học đường và ý thức dạy học, với tôi, là một đam mê!
Hiểm họa “giữa đường gẫy gánh” giảm cường độ kinh hãi trong tôi; bởi sự kiện các môn sinh và tôi càng lúc càng gắn bó cho thấy, trong không khí chiến tranh khốc liệt, hận thù sôi sục, còn yêu thương được và còn được yêu thương quả là…phúc đức vô cùng!
***
T
ừ ngày tôi về THĐ tới nay, các vụ “bên xâm nhập nghiệt ngã dọa dẫm; bên ngăn chặn, phản ứng dữ dội” (đa phần nhầm đối tượng) xảy ra hầu như cơm bữa, mà nạn nhân lãnh đủ tai ương vẫn là thầy trò THĐ. Đôi khi cư dân quanh trường cũng bị vạ lây. Súng đạn nào biết phân biệt ta hay địch!
Trước tình thế quá “khẩn trương”, dễ dàng bị vu oan dóa họa từ hai phía, lúc bấy giờ, khi được biết tại trường THĐ chỉ có tôi là cựu sĩ quan đã từng tác chiến tại các địa danh thuộc tỉnh Bình Dương, bạn bè khuyên tôi nên tìm cách rời “chiến trận không có phương tiện tự vệ” càng sớm càng tốt…
May phước thay, dịp may bất ngờ đến với tôi trong cơn nguy ngập: Tôi đứng đầu danh sách 3 đồng nghiệp được chính phủ Tây Đức tuyển chọn -trong các giáo sư Triết và Pháp văn toàn quốc- cấp học bổng du học…tiếng Đức tại Đức để trở thành giáo sư Đức… ngữ! Con đường thoát hiểm xem ra có nhiều triễn vọng…
Cố nhiên, tôi không đành lòng rời bỏ đám môn sinh THĐ mà tình nghĩa ngày càng thắt chặt. Nhưng chính sự cảm mến của học sinh dành cho tôi sẽ là cái gai trong con mắt của phe đối phương thù nghịch. Thế nên tôi nghĩ nên tạm rời trường THĐ đôi ba năm trong suốt học kỳ của tôi ở Đức, cho bọn “xâm nhập” quên lững tôi một thời gian. Lúc trở lại với phương vị giáo sư Đức ngữ, có thể họ ít “theo dõi” tôi hơn là tôi ở lại với tư cách giáo sư triết (rất nguy hiểm, rất “phản động” trong cái nhìn lệch lạc của các đồ đệ trung kiên với chủ thuyết Mác-Lê “bách chiến bách thắng”, thực chất là “mắc chiếm mất thắng”: Mãi lo xâm chiếm, mà quên đạp thắng, tiếm đoạt không ngưng nghỉ -non stop- có ngày cũng…tuột dốc lọt xuống hố thôi!).
Thế nhưng…mưu sự tại nhơn, thành sự tại thiên. Phúc sắp đuổi được họa thì biến cố Tết Mậu Thân tang tóc, sắt máu, lôi đại họa tới phủ chụp lên quê hương! Chuyện xuất ngoại coi như hạ hồi phân giải. Trước mắt, tôi lại phải khoác chiến y lên đường tái ngũ, cận chiến với địch quân trên đường phố Sài Gòn-Chợ Lớn…
Đợt II của cái gọi là “tổng công kích, tổng khởi nghĩa” do giặc Bắc phương chủ xướng chấm dứt, tôi được trả về nhiệm sở cũ. Chạy trời không khỏi nắng! Càng lúc tôi càng nghiệm đúng THĐ quả là duyên số của tôi: Rứt ra rồi lại buột vào như chơi!
Cùng lúc tôi càng thấy rõ hơn phúc-họa, họa phúc quả thật khó phận định rạch ròi. Tưởng là phúc, biết đâu là họa, nghĩ là họa, biết đâu lại là phúc! Câu chuyện mất ngựa của cổ nhân xem ra vẫn còn hữu dụng để suy gẫm thế sự…
***
V
ề lại trường cũ được một năm, hoàn cảnh đưa đẩy tôi nhận trách nhiệm mới: điều khiển trường THĐ! Phúc hay họa đây? Ngày trước tôi cho là gặp “vận xui” (họa?) bị các quan “chí công vô tư” dỏm đày ải tới đây. Bây giờ “lên” Hiệu trưởng thì… “số hên” (phúc?) chăng? Chắc chắn cả tôi lẫn các “quan” của tôi chẳng thể ngờ chuyện lưu đày trước kia giờ đây chuyển biến thành “lên chức”!
Suy diễn thêm: Tôi lỡ mất cơ may xuất ngoại, tái ngũ, có thể tử trận (họa) nhưng thật ra là cơ hội ngàn năm một thuở để nhận diện chính xác hơn chân tướng đối phương (phúc). Nếu tôi được trót lọt đi Đức thì làm gì có chuyện làm Hiệu trưởng để có nhiều phương tiện phục vụ trường THĐ hữu hiệu hơn?
Nhưng…(lại nhưng), phúc đến chưa kịp hưởng thì họa lại kéo ập tới nữa! Mùa Xuân Đinh Dậu (1969), lần đầu tiên trường THĐ tổ chức ra mắt Hiệu Đoàn, quan khách và tôi suýt vong mạng mà không hề hay biết! Vài hôm sau buổi lễ, lực lượng an ninh Tiểu khu Bình Dương khám phá 5 du kích MTGPMN còn đầy đủ vũ khí (chém vè sau Tết Mậu Thân) lẩn trốn trên trần nhà lầu 2 của dãy phòng học có cửa sổ mắt bò (cho thoáng hơi) nhìn xuống ngay khán đài trước đây đầy quan khách tham dự lễ! (Nếu lúc đó họ nổ súng thì…huyết lưu mãn địa không thể không xảy ra!)
Trực thăng quần thảo áp đảo tinh thần buộc họ buông súng qui hàng, nếu không sẽ xạ kích tiêu diệt. Họa chờn vờn trên không trung…May phước thay họ ưng thuận đầu hàng, nếu không dãy lầu mang nhiều tính chất di tích lịch sử thành lập trường THĐ đã tan tành theo mây khói!
Sau hai lần “tổng công kích”, mang chiến tranh vào thành phố đông dân cư, gieo rắc tang thương, tử biệt sinh ly, “những người anh em phía bên kia” (chữ của thành phần thứ ba -tục gọi thành phần “chàng hảng”) có lẽ thấm mệt (hay kiệt lực?) nên trường THĐ, nói riêng, không còn bị khuấy nhiễu; tỉnh Bình Dương, nói chung, tương đối an ninh hơn trước Tết Mậu Thân rất nhiều. Tôi có thể ở lại trường làm việc rất trễ, rồi ban đêm vẫn an toàn lái xe về Sài Gòn không vấn đề. Trước đó, anh chị em đồng nghiệp và tôi cùng các em học sinh thường nôn nóng đón xe đò hoặc xe lam trước 4 giờ chiều, hối hả rời trường…e ngại “mấy ổng” đột nhập bắt xếp hàng nghe tụng kinh… “kách mệnh”!
Tình hình chiến sự khắp miền Nam VN cũng lắng động thấy rõ. Hạ tầng cơ sở của MTGPMN-công cụ của CSBV đa phần đã bị “triệt tiêu”, các thành phần nằm vùng hầu hết cũng đã xuất đầu lộ diện, nếu không tử vong cũng đã rút vào mật khu theo quân Bắc xâm thảm bại trong chiến dịch “tổng dấy loạn” …chờ thời được thưởng công khi tình thế xoay chiều thuận lợi cho các quan thầy Mác-xít-Lê-nin-nít sắp tuyệt chủng!
Do đó, tôi có thể yên tâm thực hiện các dự án tu bổ, phát triển trường sở, cải thiện tương quan giữa các đồng nghiệp, phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo nơi các môn sinh nhưng vẫn duy trì niềm cảm thông, hỗ trợ mọi sinh hoạt thuận lợi cho sự gần gũi, thân thương giữa thầy trò để cùng chia sẻ vui buồn như thân bằng quyến thuộc trong một đại gia đình…
Họa càng lúc càng lu mờ, phúc càng lúc càng rõ nét: Quả thật, tôi rất may mắn trong nhiệm vụ mới, nhờ sự cộng tác chân thành và hết mình của các cộng sự viên trong Ban Giám Đốc, của hầu hết các đồng nghiệp và nhân viên văn phòng, của phụ hynh học sinh cũng như của toàn thể môn sinh THĐ. Không có sự cộng tác nầy, các dự án kể trên đã không thể thành tựu ngoài dự liệu! Người anh em phía bên kia có xốn mắt cũng hết phương động thủ. Các thành phần địch “cài” vào trường để bí mật hoạt động “bể” hết: Bị chận đánh ngay Ngã tư Xa lộ Biên Hòa, họ đã phơi xác trên các chuyến xe lô chở họ vào tấn công Sài Gòn trong biến cố Tết Mậu Thân!
Nhận định về thời điểm nầy, đầu Xuân Canh Dần 2010 đồng nghiệp NVP - Hiệu trưởng kế vị tôi vào năm 1971- viết cho tôi:
“Cách đây còn chưa lâu, đã có một thời anh em mình được sống những ngày thật tươi đẹp và tràn đầy hy vọng, cùng làm một công việc thật đáng tự hào và điều quan trọng hơn hết là luôn nhận được sự cộng tác, trợ lực của thật nhiều những con người quá đỗi tuyệt vời. Những con người quý hóa đó (…) và bao nhiêu những con người đáng thân mến khác, từ công việc họ làm đến tác phong phục vụ, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức… tất cả đều đáng trân trọng và ngợi khen dù họ ở bất cứ vị trí công tác nào. Chúng ta chưa một lần nào thất vọng về họ, chúng ta cũng chưa hề nghe họ phàn nàn hay yêu sách bất cứ một điều gì cho riêng bản thân họ”.
Phúc thay cho tập thể THĐ trước 1975 được cơ hội đem hết công sức và tâm can đầu tư vào niềm tin đã góp phần cho một nền giáo dục nhân bản, khai phóng…
Nhưng …niềm vui chưa tận hưởng thì họa lại kéo tới xóa tan mọi vết tích vùng hoài niệm xanh tuyệt vời đó.
Mới đây ST, một cựu môn sinh THĐ đưa tin:
“…Ngày hôm qua em về ngang trường Nam, dừng xe đứng bên ngoài thật lâu mà lòng em thật buồn… Vì văn phòng cũ đã bị đập nát chỉ còn trơ một đống gạch vụn. (…) Phía sau văn phòng là nhiều cây ‘đa già’ rợp bóng mát. Thật ra đó là một hàng điệp tây (tên khoa học là cây cồng) già rợp bóng khoảng sân cát trắng mênh mông kéo dài tới cột cờ trước dãy lầu. Dưới gốc những cây điệp nầy bao nhiêu là kỷ niệm tuổi học trò hồn nhiên trong trắng. (Giờ đây) phía sau văn phòng trống quơ trống quác, (hàng) cây ‘đa già’ … cũng cùng chung số phận (bị đốn ngã). Khi được tin văn phòng trường Nam và cây ‘’đa già’’ không còn nữa (…) em thật buồn, vì đó là mất mát không nhỏ trong khung trời kỷ niệm ngày xưa cũ”.
Tôi bồi hồi xúc động đến nhói tim, dù biết trước chuyện đau xót nầy sớm muộn gì cũng phải xảy ra: Những ông chủ mới cầm quyền hiện nay vốn chủ trương xóa sạch mọi dấu tích liên quan tới chế độ VNCH, kể cả những công trình giáo dục. Mùa Xuân Quý Mùi 2003, nhân chuyến về thăm lại trường xưa bạn cũ, tôi được em cựu học sinh THĐ, lúc bấy giờ là giám hiệu, cho biết dãy lầu đầu tiên của trường sẽ bị đập bỏ, nhưng văn phòng hiệu trưởng sẽ được giữ lại như di tích văn hóa. Nhưng “trên” quyết định khác, nên ông giám hiệu được “cám ơn” sau đó. Bao giờ sẽ tới phiên tượng đài ông Trịnh Hoài Đức bị bứng đi cho trọn chu kỳ đập phá, triệt hạ tất cả những gì còn nhắc nhớ có thời trườngTHĐ đã được hưởng một truyền thống giáo dục hoàn toàn…tự do, bình đẳng, miễn phí?
Cứ cái đà biến mọi ngành nghề cả nước thành buôn bán “vô tư”, ngành giáo dục “đào tạo” trong nước hiện nay đã trở thành một “đại-học-miễn-học” vẫn tốt nghiệp…tiến sĩ! Tên hành nghề “nhổ răng và thiến heo”, học lực chưa quá lớp ba trường làng -qua quá trình “hồng hơn chuyên”- chỉ cần 30 giây làm thủ tục “đầu tiên-tiền đâu”, chung-qua- chung-lại với nhau (tiền trấn lột bá tánh mà!) là có thể được “hô biến” kiểu “biên chế” thành tiến sĩ, thạc sĩ có văn bằng hẳn hoi, do Trường “Hạ” Đẳng Thương Mại Quốc Doanh đóng dấu cấp phát… như chơi!
Mọi thứ đều có thể bán buôn, kể cả trinh tiết của nữ sinh! Tống tình tống tiền hiện giờ nhan nhãn xảy ra như mục đưa tin “từ quê ra tỉnh, chó cắn xe, xe cán chó” trên các nhật báo, không còn được coi như tin “giựt gân” (sensationnel) có thể gây “ấn tượng” cho ai nữa hết!
Hỡi ơi! Mới ngày nào “Đất nước còn, tất cả còn…”
Mà nay thì…Tang thương đến cả hoa kia cỏ nầy!
***
C
hậm thế nào rồi cũng tới lúc tôi phải ra đi vào mùa Xuân Tân Hợi 1971, nhường chỗ cho anh NVP, một công sự viên rất xứng đáng tiếp tục công trình phát triển trường THĐ vì anh ấy là người địa phương, lại còn là cựu học sinh khóa đầu tiên của trường, dĩ nhiên có nhiều lợi điểm hơn tôi…
Hơn nữa, ngoài chuyện bị “người anh em phía bên kia” cảnh cáo cùng với vài đồng nghiệp nhân vụ tổ chức Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ 1970, tôi nhận thấy không được “hoan nghinh” lắm về cách làm việc nhằm bảo toàn tính độc lập của trường trước những yêu sách đôi khi quá quắc của chính quyền địa phương…Không khéo lại rước họa vào thân từ hai phía, cả thù lẫn bạn! Nghiệp chướng…chăng?
Nhưng…phúc thay thay thành quả đáng kể trong việc chỉnh đốn nội bộ và phát triển trường sở không thể phủ nhận của tập thể THĐ được Bộ Giáo Dục ghi nhận. Và một lần nữa, tôi được chọn nhận lãnh trách nhiệm mới (Trưởng Khu III Học Chánh) để thực hiện một dự án cải cách cơ cấu quản trị của Bộ, hoàn toàn mới lạ và vô cùng phức tạp: kế hoạch địa phương hóa giáo dục…
Mới lạ vì Bộ muốn tản quyền thay vì tập quyền. Phức tạp vì những va chạm chắc chắn không tránh khỏi từ trung ương tới địa phương, với những cơ chế lâu đời, rất bảo thủ, nhứt là khi những đặc quyền, đặc lợi được hưởng thụ từ lâu do những cơ chế đó chu cấp sẽ không còn nữa khi kế họach mới của Bộ được hoàn chỉnh. Kể sao cho hết những gian truân, khổ ải của các tân Trưởng Khu Học Chánh, vừa đương đầu với các giới chức địa phương vừa phải đối phó với phản ứng tiêu cực của các “quan” trung ương, để sau cùng thành công trong việc thiết lập các Sở Học Chánh tại các tỉnh!
Thành quả đạt được trong gian lao cơ cực chưa kịp hưởng…phúc thì họa bị ngấm ngầm khuấy phá từ chính quyền địa phương đến trung ương, với sự im lặng đồng lõa của các “quan” tại Bộ GD đưa tới hậu quả các Khu Học Chánh bị “bức tử” (giải thể), các Sở Học Chánh xuống cấp thành Ty GD, đặt thuộc quyền Tỉnh sở tại, như Ty Tiểu Học trước khi... “cải cách”! Thay vì tản quyền xuống, bây giờ lại họ…tản quyền lên! Oái oăm chưa!
Nhưng một lần nữa, tai họa bị “hạ tầng công tác” cho tôi cơ hội tốt tìm lại được diễm phúc thoải mái, say mê… dạy học!
Trước tôi, không ít đồng nghiệp đã “kinh qua” cảnh tiến vi quan, thoái vi sư! Tôi nhận ra không gì khiến tôi hạnh phúc hơn được kề cận đám môn sinh trong khung cảnh tuyệt vời trìu mến, quyến luyến giữa thầy và trò của một lớp học. Kỳ dư, các vụ thăng quan tiến chức chỉ là …phù phiếm, cạm bẩy chông gai luôn chực chờ ám hại, hiểm họa vấp ngã thường xuyên vây bủa tứ phía!
Thế nhưng bỏ qua các “bất tiện” hay “tai nạn nghề nghiệp”, trách nhiệm mới tạo cho tôi điều kiện mở rộng tầm mắt trước những khó khăn, những thiệt thòi của các đồng nghiệp giảng huấn cũng như các đồng nghiệp trong Ban Giám Đốc các trường trong Học Khu bao gồm 12 tỉnh miền Đông Nam Việt, mà họ phải không ngừng “khắc phục” vượt qua với ít nhiều quên mình, nếu không muốn nói là “hy sinh” đáng kể…Tuy nhiên, lực bất tòng tâm, tôi đành hát khúc…Rằng xưa có gã từ quan, Lên non tìm động hoa vàng ngủ say…phó mặc thế sự thăng trầm!
Tưởng thế đã yên, nhưng cái vòng lẩn quẩn phúc-họa-họa-phúc lại tái diễn không ngừng với tôi, con người “nửa thầy nửa lính”: Thảm họa “ba mươi tháng tư” long trời lở đất từ phương Bắc kéo tới úp chụp xuống toàn dân miền Nam Việt Nam. Hỏa ngục cải tạo giết dần quân cán chính VNCH, biển Đông nhanh chóng cướp mạng sống hơn nửa triệu dân Nam, Trung, Bắc “vượt biên” mưu tìm…tự do!
***
S
uy đi nghĩ lại, giờ đây còn đủ tay chân, chưa lẫn lộ, chưa mất trí, quả thật tôi quá may mắn -trải qua bao thế sự thăng trầm phúc-họa- còn được tạo hóa ưu đãi so với biết bao đồng bào, vạn lần ưu tú hơn kẻ bất tài vô tướng như tôi, đã tức tưởi lìa đời trong cuộc chiến dai dẳng trên quê hương ngập tràn khói lửa chiến chinh. Và ngay cả sau cuộc chiến đẫm máu, nếu không vùi thây trong hỏa ngục trần gian “cải tạo” thì thân xác cũng tan rã làm mồi cho cá trên biển Đông!
Sau 5 năm sống “nửa kiếp thầy tu nửa kiếp tù”, giờ đây trên đất khách, tay nâng ly rượu xuân tưởng nhớ những chiến hữu đã khuất, ôn lại chặng đường sướng khổ suốt 75 xuân, “nửa thầy nửa lính” tôi nhận thức đã đích thực trở về từ cõi chết: Một lần toan tính…tự tử trong trại tù Trảng Lớn; một lần suýt vùi thây trong rừng sâu nước độc Long Giao khi bị té từ cây cao chục thước, lúc bị thúc ép đốn cây làm cũi mừng “quốc khánh” của những kẻ đày đọa anh chị em mình; một lần lạc trên biển cả suốt một tuần, đói khát đến hôn mê khi “vượt biên”; một lần mổ tim trên đất tạm dung Canada…
Nhưng mỗi lần cận kề họa tử vong trong gang tấc lại cho thấy tôi được phúc trường tồn! Tự tử bất thành trong tích tắc khi bất thần nghe chuông nhà thờ đổ ngoài vòng rào kẽm gai, tôi ngưng tay lúc sắp tự treo cổ: Thoát họa tự hủy, tôi đắm chìm trong hồng phúc tìm lại được Niềm Tin!
Thoát họa tai nạn lao động, tôi may phước khỏi bị đưa ra Bắc khi tỉnh lại trong trạm y tế “không thuốc men”, giữa các bạn đồng tủ đang hấp hối, bị bỏ lại khi giữa đêm ấy bọn cai ngục chuyển hết số tù trong trại Long Giao ra phương Bắc!
Sắp lâm họa vùi thây dưới đáy biển u minh thì phước đức thay thoát nạn nhờ gió biển thổi ghe tôi đã chết máy, gẫy chưn vịt trôi dạt tới dàn khoan dầu của Nam Dương!
Trên bàn mổ, chặp chờn hiểm họa vĩnh viễn xuôi tay thì ơn phước cứu độ đến lôi ra khỏi tay Thần Chết, lay động nơi tôi lòng sốt mến hành đạo vốn đã nguội lạnh khá lâu…
Nhấp ly rượu mừng Xuân Tân Mẹo 2011, tôi lần giở cuốn nhật ký viết tiếp sau khi ra tù, đến được bờ bến tự do, chứng kiến thêm lần nữa cảnh tượng xốn mắt “đổi đời” nơi quê nhà đang tái diễn trên đất khách, giữa những người Việt tị nạn, thầm đọc:

Trong cơn hấp hối lìa trần
Xin cho tôi được gọi thầm “quê tôi!”
Bao nhiêu nước mắt mồ hôi
Cho tôi gửi lại quê người …cưu mang

Nghĩ cho cùng, phúc hay họa tùy cách tôi nhìn sự đời: Thoát khỏi gông cùm tù ngục chưa hẵn đã vượt thoát được địa ngục. Đến được bến bờ tự do chưa chắn là đã đạt đến thiên đàng! Bởi lẽ thiên đàng hay địa ngục đều nằm trong đầu ta cả. Nói vắn tắt, tùy cái Tâm của ta: Tâm trong sáng thì ý trong lành!
Một điều sớm muộn gì mình cũng sẽ khám phá được: Nhân nào thì quả nấy!
Từ lâu rồi tôi lười suy luận như trước đây tôi thường làm, do ảnh hưởng còn rơi rớt lại của thời gian còn…say mê triết lý. Càng lúc tôi càng thấy hầu như tôi tin có số mạng: Cái quay bún sẵn trên trời, Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm…
-0-0-0-
Ba mươi lăm năm nhìn lại, đau buồn suy gẫm, nhận chân: “Đất nước mất, mất tất cả”...

Tiêu điều nhân sự đã xong
Sơn hà cũng huyễn côn trùng cũng hư!

Lướt nhìn những ảnh kỷ niệm về thời gian phục vụ tại trường THĐ, chạnh nhớ lần về thăm quê nhà, tận mắt nhìn thấy những cảnh não lòng, chợt nhớ cựu học sinh ST báo tin những đập phá mới đây tại trường cũ, tôi nhắm mắt thở dài…

Rồi cả một thời xưa tan tác đổ
Dấu oai linh hùng vĩ thấy gì đâu
Thời gian chảy đá mòn sông núi lở
Lòng ta luôn còn mãi vết thương đau

Thôn trang Rêu-Phong, 30 Xuân biệt xứ
Lê Tấn Lộc

Tiếng Gào Trong Đêm

Tiếng Gào Trong Đêm

Nguyễn Thị Ngọc Nhung

Dưới đây là một truyện ngắn giá trị của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Nhung, mô tả những diễn biến rùng rợn của một chuyến vượt biên, trong đó tác giả là nạn nhân. Truyện được viết dưới dạng tự thuật, nên lôi cuốn từ đầu đến cuối, khiến người đọc vô cùng hồi hộp, như được sống lại những kỷ niệm hãi hùng của ngày xưa vượt biên.

Ghe chòng chành giữa dòng nước, tôi sợ hãi ngồi bám chặt mạn thuyền, mắt láo liên nhìn trời đêm sáng lờ mờ ánh trăng mười chín. Chúng tôi ngồi dồn đống trong khoang thuyền. Hai tên đàn ông to người chèo ghe gõ nhẹ trên mui báo hiệu đã đến nơi tạm an toàn, chúng tôi có thể cử động đôi chút. Người chèo mũi vén tấm lá che mui nhìn vào.

"Bây giờ mình phải đi bộ một khoảng, tui dẫn hai người một lần. Chia ra để khỏi lộ. Mấy người khác cứ ngồi đợi đến phiên, nhớ đừng nói chuyện lớn tiếng."
Hắn dẫn hai người đàn bà ngồi sát cửa mui đi trước. Cả đám ngồi đợi ẩn nhẫn. Tim tôi chưa hết hồi hộp đập thình thịch thể như bất cứ người nào ngồi gần cũng đều có thể nghe được nhịp ấy. Phong nắm tay tôi. Tay Phong đẫm mồ hôi và lạnh. Tôi phải ngồi bệt và khom lưng, hai đầu gối co đụng cằm, gọn lỏn trong lòng Phong. Khoang ghe quá chật cho mười người ngồi lèn nhau, phía ngoài còn tấn mấy buồng chuối mùi nhựa nồng chát. Bên trái tôi, cha mẹ Phong dúi sát nhau. Một bé trai độ bốn, năm tuổi, bị uống thuốc ngủ, nằm im lìm trong lòng cha nó. Bà vợ ngồi kế bên, chân trái đạp chân tôi nhưng hình như bà không biết và tôi cũng không thể dời chân đi nơi khác. Đành chịu. Người con gái ngồi kế có lẽ là em gái bà, mặc bà ba đen như gái quê, mặt từa tựa nét.

Khí trời đêm hơi lạnh nhưng bên trong khoang, nóng hầm hơi người. Hình như cái nóng hậm hực ấy tăng gấp bội vì trộn lẫn với nỗi căng thẳng bập bùng ngập ngụa không gian. Tôi lén nhìn đồng hồ giấu trong ngực áo. Khoảng 2g15 sáng. Tôi thì thầm nơi tai Phong "Hơn hai giờ sáng rồi anh." Phong gật nhẹ đầu. Người đàn ông chèo lái ngồi im như pho tượng. Đôi khi ánh mắt của hắn lấp lánh nhẹ dưới ánh trăng khi chớp. Cái mũi dài mang nét khoằm khiến mặt hắn lộ đầy vẻ gian ác nhưng nụ cười nở rộng với hàm răng thưa làm giảm bớt ấn tượng xấu nơi người đối diện. Hắn mặc áo bà ba đen, tay áo xắn quá cùi chỏ.

Người đàn ông đưa hai người đàn bà lội bộ băng qua hàng cây thấp trở lại. Hơi thở của hắn nóng hôi hổi phà ngay mặt tôi khi thò đầu vào khoang kêu người đàn ông ẵm đứa con ngủ mê mệt. Người chồng bò ra đằng lái, vác đứa bé trên vai như vác bị gạo mò mẫm bước lên bờ. Vấp phải vật gì trên bờ đất, ông chúi nhủi suýt té, tay cố giữ thằng bé, người lảo đảo bước quàng xiên lòm khòm rồi mới đứng thẳng lên được.
Tên đàn ông dẫn đường mặc áo sơ mi màu nâu đen, quần tây nhàu nát ống nhỏ túm hơi ngắn trên mắt cá, có chỗ sờn, đôi dép mỏng. Hắn ta tương đối trông được hơn người ngồi lái. Với nước da tái, môi thâm vì thuốc lá nhưng lại vẽ nên một nụ cười thật đẹp với lúm đồng tiền bên trái, kẽ răng đóng nhựa thuốc. Đôi mắt mí to với hàng mi rậm, duy có ánh mắt của hắn là không thẳng thắn, còn ngoài ra hắn dễ dàng lấy cảm tình của người xa lạ với giọng nói trầm và chậm.

Tôi và Phong chưa bao giờ gặp hai người đàn ông này. Chuyến đi này chúng tôi qua trung gian bởi người bạn thân giới thiệu. Người bạn đó đã đến Mã Lai an toàn, chính vì vậy mà tôi và Phong mới tin tưởng nơi người trung gian này. Hơn nữa, chuyến đi có cả gia đình người thân gì đó của người trung gian cùng đi, như vậy thì không có gì để chúng tôi lo ngại. Thường là chắc ăn, người trung gian mới dẫn gia đình đi sau khi đã mối lái nhiều lần có vàng có tiền làm của hoặc manh mối bắt đầu bị lộ. Ba mẹ Phong và tôi phải xuống Cần Thơ, giả đi thăm bà con. Tôi mặc hai bộ đồ trên người, giấu theo ít vàng và nữ trang. Phong mặc quần áo nhăn nhíu không ủi. Mẹ Phong thì mặc bà ba quần thâm. Ba Phong thì vận đồ rách, vá chùm vá đụp mấy chỗ, chân mang dép rách quai cột nối bằng cọng kẽm. Tất nhiên là không dễ gì qua mắt người miệt quê đó nhưng hình như họ cảm thông (hay tội nghiệp) trước sự trá hình không mấy chỉnh nên tôi thường bắt gặp ánh mắt ái ngại nhìn mà không dám hỏi vài lần suốt đường đi.

Đến nơi, cả bốn được dẫn đến một căn nhà nằm dựa mé sông chờ đến tối mới xuống ghe nhỏ theo sông ra cửa biển nơi có ghe lớn đợi sẵn. Trong nhà có độ hơn mười người khác đợi sẵn khi chúng tôi đến rồi chia nhóm theo ghe. Tôi dặn Phong tìm cách đi chung với người trung gian, bảo đảm hơn. Phong gật nhưng gia đình người đó cả thảy là tám, thêm hai người thì vừa đủ cho một chuyến. Nhưng tôi lẫn Phong đều không muốn đi tẻ riêng thành ra đành phải chờ chuyến chót, mười người, hơn mười giờ tối.

Thoạt đầu, ngồi chen chúc trong khoang, tôi muốn ngộp thở với hơi người và mùi bùn non lẫn mùi nước đọng hôi hám nơi đáy ghe. Hai người chèo bắt chúng tôi khom lưng gần như nằm mọp xuống, tấn bên ngoài dằn bên trên, mấy buồng chuối xanh ngắt sau khi đậy bao bố tời dơ bẩn lên đầu mọi người. Đường đi may mắn yên tĩnh không có chuyện gì xảy ra tuy rất chậm và kéo dài như không bao giờ đến nơi.
Người đàn ông dẫn đường trở lại, kêu bà vợ và cô em gái của bà cùng đi. Tôi chợt ngửi phải mùi nồng tanh tưởi nơi áo hắn khi hắn nghiêng người khều vai bà vợ. Bỗng dưng tôi nghe lợm giọng không hiểu tại sao. Cái mùi thật lạ lùng. Bóng tối trong khoang không cho phép tôi nhìn rõ mặt hắn. Mùi tanh đến lạ. Hơi thở của hắn cũng nặng nề hơn. Tôi thì thào với Phong sau khi hắn đã đi.
"Anh có nghe mùi gì không?"
"Không. Mùi gì?"
"Có mùi tanh tanh kỳ lắm... "
Phong bâng quơ qua chuyện.

Mùi bùn đó mà."
Cũng khá lâu người đàn ông dẫn đường mới trở lại. Có thể hắn đi không lâu lắm nhưng khi chờ đợi thì năm ba phút dễ biến thành năm ba giờ. Chỉ còn bốn người trong khoang. Hai tên đàn ông bàn tính nho nhỏ trên bờ. Tôi bỗng nghe gai ốc nổi đầy người. Tôi nắm chặt tay Phong. Mồ hôi tươm ướt lưng. Người đàn ông đẹp trai kêu chúng tôi ra khỏi khoang. Hắn nói, giọng khoan thai.
"Bây giờ tui dẫn ông bà đi, hai người một. Để khỏi mất thì giờ, hai người đi với anh Ban, hai người đi với tui. Tụi tui đi hai đường nhưng đường nào cũng dẫn tới chỗ ghe lớn. Đi đông nhiều tiếng động dễ bị lộ. "

Rồi không đợi phản ứng của người nào hết, hắn hất hàm người mũi khoằm tên Ban, đẩy cha mẹ Phong về phía đó. Quay nhìn hai đứa tôi, hắn cười, hàm răng lởn nhởn dưới ánh trăng, bóng đen lúm đồng tiền nổi rõ trên má, rồi hắn quay lui bắt đầu đi về phía rừng cây thấp. Phong nắm tay tôi đi theo hắn. Rừng cây tối mờ dù là rừng thưa, bóng lá đen ngòm trên đường lồi lõm. Tôi vấp té loạng choạng nhiều lần, đi chậm hẳn lại.

Chợt một nhánh cây đập vào mặt đau điếng, tôi khựng lại, giằng tay khỏi tay Phong rồi đỡ nhánh cây cúi người lom khom. Bỗng dưng, tôi nghe thấy... không chắc mình nghe đúng, nhưng tứ chi chai cứng. Thứ âm thanh nhọn như tiếng mèo gào giữa khuya. Tim tôi đập nhịp cuồng. Tôi quờ quạng tìm tay Phong. Chàng đứng sát tôi, chợt tôi cảm thấy cả người mệt mỏi và thỏng dài. Người đàn ông dẫn đường quay nhìn hai đứa tôi. Bóng tối mờ nhưng tôi vẫn thấy được ánh mắt kỳ lạ của hắn. Bỗng nhiên nỗi sợ hãi ùa tới tràn ngập người tôi với sự im lặng kỳ lạ của người dẫn đường không thúc hối khi thấy chúng tôi khựng lại. Hắn không hề kêu chúng tôi nhanh bước. Thời gian đứng khựng và cả ba đứng im như chờ đợi phản ứng của nhau. Chợt Phong kéo ngược tay tôi chạy trở lại hướng vừa rời đi lúc nãy. Tôi chạy cuống cuồng theo tay kéo mù loà. Rừng cây như mê hồn trận, chúng tôi chạy bất kể mọi thứ.

Rồi cả hai cũng trở lại được bờ sông nơi ghe cặp bến. Người đàn ông tên Ban đang cúi khom lục lọi chi nơi bóng đen nằm im bên chân hắn. Tôi đứng sựng kêu không ra tiếng. Miệng lưỡi dính thành một khối nghèn nghẹn. Bóng đen dưới chân hắn là mẹ Phong, nửa trên loã thể, tư thế co quắp, mặt úp xuống bùn. Ban hình như cũng không ngờ sự có mặt của tôi và Phong. Hắn đờ người, tay còn cầm sợi dây chuyền vàng lòng thòng. Trong khoảnh khắc chúng tôi nhìn hắn, nhìn cái búa bửa củi vất bên chân. Tôi không thấy máu vì bóng đêm làm nhoè bẩn mọi thứ. Nỗi sợ hãi dâng lấp trí óc. Ý nghĩ lướt thật nhanh trong đầu. Tôi đã hiểu tại sao chúng muốn dẫn từng hai người một. Tôi sực nhớ đến người dẫn đường. Đầu óc hoảng sợ nhưng vẫn còn sáng suốt để nghe rõ tiếng chân chạy đuổi và tiếng la của hắn đâu đó "Ê Ban, coi chừng tụi nó chạy. Ban! Ban! Tụi nó chạy rồi!" Phong vụt chạy về chỗ neo ghe. Tôi chạy theo tay níu của Phong đến sát mé nước, chân vấp vật gì. Tôi ré lên như đạp phải giòi. Nhìn xuống, ba Phong nằm nửa người vùi dưới nước. Phong khựng lại vì tiếng la của tôi rồi đẩy tôi ra sông. Tôi sặc sục, nước mới ngang ngực. Phong hét vào tai tôi.
"Lội mau lên, lội ra giữa sông."

Tôi bơi hối hả, tay chân nặng chình chịch vì hai bộ đồ ướt nước. Tôi quay cuồng tứ phía, không rõ mình bơi về hướng nào mới đúng. Tiếng người la hét sau lưng nghe chói tai đến độ hãi hùng. Một tràng đạn bắn vãi quanh tôi và Phong. Chàng đè đầu tôi ngụp xuống nước. Không mấy lâu, tôi ngộp thở hất tay Phong trồi lên hớp không khí. Súng nổ liên hồi như sát mang tai. Tôi luýnh quýnh đập tay chân loạn xạ, chưa đầy mấy phút đã mệt lả. Tôi càng ráng trồi lên chừng nào thì lại càng chìm xuống nhanh chừng nấy. Tôi lặn hụp lên xuống như người sắp chết đuối. Có lẽ nhờ vậy mà tôi tránh được đạn bắn xối xả chung quanh. Phong khi lặn kéo tôi hụp xuống, khi nổi đẩy tôi trùi tới. Tôi bơi tới tấp với cảm tưởng mình nổi ì một chỗ. Đầu óc tôi rối loạn nhưng hình như vẫn tỉnh táo, rất tỉnh táo để thấy ánh trăng mờ trên cao, cây cối đứng im nơi bờ, bóng nước lấp lánh quanh mình, hơi thở hào hễn, cơn mệt muốn đứt hơi và mấy bóng đen trên bờ với loạt đạn dữ dội. Tôi bơi như máy, hơi thở dần ngắn với nước tuôn vào mũi mồm sặc sục. Biết mình không đủ sức, tôi thả ngửa để Phong vịn vai đẩy đi. Hình như chúng tôi đã ra được giữa sông. Tôi nhìn vào bờ, chỉ thấy dạng cái ghe, hai bóng đen tàn ác nhoè lẫn trong bóng đêm nhưng ánh lửa nháng với tiếng nổ vẫn hiện hữu. Tôi đạp chân phụ sức với Phong, mắt nhìn thẳng lên lòng đêm có trăng sao đầy đủ. Trời đất có đó nhưng hình như bịt tai im lặng trước hành động dã man. Tôi nhẩm cầu những đấng tối cao mà tôi có thể nghĩ đến trong nhịp tim hỗn loạn.
Tiếng súng bỗng im. Sự im lặng hãi hùng đè chụp lấy tôi. Tiếng đập nước vùng vẫy của chúng tôi bỗng trở thành tiếng động duy nhất rõ mồn một trong đêm. Tôi lật sấp người lại tiếp tục bơi, bờ bên kia vẫn còn xa thăm thẳm. Có bơi mới thấy con sông không nhỏ như tôi tưởng khi còn ngồi trên ghe. Phong nhìn lại rồi nói qua hơi thở đứt quãng.
"Tụi nó chèo theo... bơi lẹ... lên em... May ra mình... thoát."
Câu nói của Phong lại được đệm bằng tiếng súng nhưng rời rạc hơn lúc nãy. Tôi muốn bịt tai để đừng nghe thứ âm thanh dữ dằn chở đầy gai nhọn đâm thẳng tim óc. Tôi nhìn lui, không hiểu sao trong lúc bấn loạn, trí óc vẫn tiếp tục có lúc minh mẫn để thấu suốt những thứ không dính dáng gì hết, quanh mình. Chiếc ghe trôi lừ lừ ra giữa sông thật nhanh. Lửa đỏ loé quanh. Tôi nghe được tiếng giầm quậy nước lẫn với tiếng súng mỗi lúc thưa hơn. Tiếng lủm chủm của đạn rơi không còn nghe gần đâu đây nữa mà vạt xa xa về phía bờ bên phải. Phong kề tai thì thào.
"Tụi nó không thấy mình. Em bơi nhẹ dưới nước trôi lần vào bờ, đừng gây tiếng động mạnh. Khi tụi nó bắn thì mình bơi nhanh hơn một chút."
Đám lục bình nhẩn nha trôi đâu đó làm hai tên đàn ông lầm lẫn. Chúng la hét lẫn nhau.
"Mày bắn lục bình không hà, Ban! Ê. Đ.m. tụi nó trôi hướng này sao mày cứ bắn hướng đó hoài vậy? Đ.m. giết có hai đứa mà cũng không xong, biết làm gì ăn đây mậy?"
"Câm cái miệng của mày lại. Đứa nào để xẩy? Hả? Mẹ cha nó, tao bắn đúng chỗ, chắc tụi nó chìm rồi. Không tin thì thôi. Đ.m, bỏ cho rồi. Sống chết kệ mẹ tụi nó. Về cho xong, trời gần sáng rồi, làm cả đêm, mệt chết mẹ!"

Mọi thứ vụt im. Không có tiếng chèo lẫn tiếng chửi thề. Tay Phong nắm cứng vai tôi trong khoảnh khắc rồi buông. Tôi chúi đầu sát mặt nước, tay chân cố khuẫy thật nhẹ nhưng vẫn mang cảm tưởng nặng chịt lào xào khuyấy nước. Im lặng nặng như tấm màn sũng nước phủ đè lên tâm trí. Tim tôi đập rối rít, mạch máu nhảy theo nhịp tim hào hễn, tai tôi nghe được tiếng bình bịch của tim mình tưởng như ai cũng đều nghe ra. Chợt có người dúi chân tôi xuống. Tôi hơi giật mình khi chân đạp phải lớp sình mềm. Phong đứng, mặt ngửa chừa mũi thở, cả đầu dìm gần hết dưới nước. Tôi bắt chước Phong, đỡ mệt vì chân chạm đáy sông nhưng phải đổi chân chống vì lớp sình mềm khiến chân chuồi nghiêng không vững. Được một lát, tôi ngẩng nhìn vừa lúc bóng đen nơi ghe lên tiếng.

"Đằng kia kìa. Đó. Đ...đ... tụi nó vừa hụp xuống. Chỗ này nè. Mày bắn chỗ đó coi."
Phong nắm tay tôi kéo hụp xuống nước. Nghe được câu nói của người trên ghe nên tôi kịp chuẩn bị để hít một hơi không đến nỗi chịu ngộp lâu. Đạn bắn tung toé sát nơi tôi đứng. Phong dò dẫm bước đi dưới nước. Tôi bước theo mò mẫm, chân đạp sình loạng choạng nhằm nơi trũng sâu làm tôi hốt hoảng bíu chặt tay Phong. Miệng há ra bất ngờ khiến nước ùa vào mồm, tôi ngột ngạt trồi đầu lên thở. Trước mặt, đám lục bình kẹt nhánh cây chết dồn đống bên bờ. Tôi truồi sâu vào đám lá, chỗ nước cạn ngang bụng nên ngồi chồm hỗm dưới nước. Bóng ghe đi ngang thật rõ. Tiếng nói chuyện vang vang.
"Kệ mẹ tụi nó, về cho rồi. Mày cất đồ chưa?"
Giọng trầm khoan thai trả lời như không bị ảnh hưởng chi hết với hỗn loạn máu me vừa rồi.

Rồi, hỏi hoài! Xét hết mấy cái thây rồi. Trừ khi nào họ nuốt vô bụng thì tao chịu chớ... Ờ, hay là mình quay lại mổ mấy cái thây đàn bà. Tụi nó có khi nuốt hột xoàn..."
Giọng kia bẳn gắt hơn. "Sao hồi nãy hổng nói? Mẹ nó. Xì. Đ.m, gì cũng mày. Đợi xong rồi mới nói. Xẩy hết hai đứa... Gần sáng rồi, mổ miết gì nữa. Đ. m.."
Tiếng nói nhỏ dần theo dạng ghe loãng dần trong đêm tối. Phong đứng dậy, lần mò trượt lên trượt xuống với lớp sình nơi bờ rồi mò lên bờ đất. Tôi đạp sình nhão nhoẹt len chảy qua mấy kẽ chân, theo Phong lên chỗ có đất cứng. Bờ đất đầy rễ chằng chịt của thân cây chết, không rõ cây gì. Tôi lại vấp chân đau điếng nhưng cơn đau không đủ nồng độ để tôi nhận biết lâu hơn. Ngồi bệt xuống, tôi lần mò ngực áo tìm đồng hồ. Ánh lân tinh mờ ảo. 4g20 sáng. Tôi nói với Phong, hơi khựng lại khi nhận ra mình lạc giọng.
"Gần bốn rưỡi rồi anh. Giờ tính sao đây?"

Phong cởi áo vắt nước không trả lời. Tôi cởi bớt một bộ đồ bên ngoài cố vắt cho ráo rồi phơi đại trên mấy nhánh cây gần đó. Hơi lạnh thấm qua lần áo ướt còn lại trên người khiến tôi nổi ốc. Cả người tôi run từng cơn theo phản xạ cơ thể. Tôi ngồi bó gối, hai tay ôm chân co ro. Phong choàng tay qua vai tôi cho ấm. Hai đứa chúi vào nhau. Trí óc tôi dần dần tỉnh và tôi cố tránh không nghĩ đến những gì vừa xảy ra.

Rừng cây thưa thớt không một bóng nhà hay bóng đèn. Sao thật sáng và thật nhiều. Tiếng ếch nhái ễnh ương đâu đó nổi lên thật bình yên như không có chuyện gì xảy ra. Nước mắt tôi rơi chầm chậm nhiểu trên tay mới hay. Cơn sợ hãi lắng xuống, giờ chỉ còn lạc lõng khốn cùng sau cơn bão tàn khốc. Tôi mang cảm tưởng vừa rỗng không vừa đầy ắp đến độ muốn nôn. Không biết tôi nên nói gì, làm gì. Sau con giông tàn bạo, sực thấy mình không là gì cả, tay chân dư thừa, đầu óc đầy rẫy những hình ảnh chết chóc và cảm tưởng mình rất mỏng manh dễ bị xúc phạm thì lấp đầy cả người.
Giọt nước mắt đầu rơi xuống, khơi dậy trùng dương trong tôi. Tôi khóc ngon lành như chưa bao giờ được khóc. Trí óc lần mò trở lại xác người vấp phải nơi mé nước, sợi dây chuyền vàng đong đưa nơi tay gã đàn ông cúi mình trên cái xác trần. Hoá ra, tim tôi hụt nhịp, những người chung ghe đã chết. Tôi nhớ đứa bé trai ngủ mê vì thuốc. Cô gái trẻ thì thầm với tôi "Bồ em ở Texas. Ảnh hứa sẽ đón khi em tới đảo. Mấy năm rồi em chỉ đợi có dịp này. Tưởng sẽ không bao giờ gặp rồi chứ. " Giọng cười khẽ vui sướng đầy hy vọng của cô. Giờ thì thật là không bao giờ gặp. Tôi gục đầu ủ rũ với nước mắt. Phong ngồi im lặng lẽ. Chúng tôi đã gặp phải lũ cướp cạn tàn ác. Lũ cướp cùng màu da cùng tiếng nói với mình. Tôi thường nghe nói đến hải tặc Thái lan nhưng chưa nghe nói đến lũ cướp cùng màu da tiếng nói với mình. Giờ thì tôi hiểu, nạn nhân chết cả, lấy ai kể lại câu chuyện thương tâm nơi bờ sông vắng. Biết bao bờ sông vắng đã chứng kiến những cảnh tượng tương tự? Tôi lau nước mắt trên tay áo còn ẩm ướt, nằm lăn ra đất. Phong nằm theo, gối đầu tôi lên tay chàng. Tôi sờ soạng mặt Phong trong đêm tối mờ, ngón tay tôi ướt khi lướt ngang mắt. Tôi vùi mình trong lòng Phong, cảm kích và đau đớn vô vàn.


o O o

Bà ngoại Phong mất khoảng sau hai giờ sáng cùng ngày hôm ấy. Dì Sáu cho chúng tôi hay mấy ngày sau, khi hai đứa mò về đến nhà. Bà mất cùng ngày chúng tôi bị nạn. Lúc hai giờ, bà còn đòi dì Sáu rót cho tách trà. Sau đó, dì Sáu về giường của mình. Đến sáng thì bà đã chết cứng, hai chân thò ra ngoài như sửa soạn xuống giường, tay phải níu chặt thành giường, mắt mở hé.
Phong ngồi ôm đầu nghĩ ngợi. Chập sau Phong hỏi.
"Dì có chắc là sau hai giờ không?"
"Chắc. Dì cho ngoại uống nửa tách trà. Lúc để tách xuống bàn sực thấy đồng hồ gần hai giờ chớ dì có tính coi giờ đâu mà nhớ."
Dì Sáu là em út của mẹ Phong. Dì lớn tuổi nhưng không con. Chồng dì còn ở trại học tập nên dì không đi với chúng tôi, vả lại không ai trông nom bà ngoại, đã hơn bảy mươi lăm già yếu nhiều bệnh tật. Dì giống mẹ Phong nhiều nét nhưng khô khan cằn cỗi hơn. Mặt dì sưng húp vì khóc nhiều.

Lúc mở cửa thấy hai đứa tôi, dì oà khóc như trẻ nhỏ. Thấy trở về, hiểu ngay là không thoát, phần mới chôn mẹ một mình nên dì tủi thân. Đến khi biết cha mẹ Phong tử nạn, dì khóc thảm thiết hơn. Phong chỉ ngồi yên nhìn tôi và dì Sáu, mặt chàng chai cứng với giận dữ và oán hờn.
Tối hôm đó, Phong ngồi nơi giường ngoại, vụt nói một câu lạ.
"Mình thoát được là nhờ ngoại!"
Tôi nhìn Phong không hiểu. Dì Sáu hỏi.
"Sao? Con nói sao?"
Phong chậm rãi kể, mắt nhìn mông lung.
"Lúc Ngà giật tay con đứng lại, tự nhiên con thấy bà ngoại. Thấy như thế nào thì con không biết, chỉ biết là thấy mà trong người không hề thắc mắc tại sao. Bà ngoại xua xua tay nói. Chạy đi con, lội qua bên kia sông. Lẹ lên. Chạy đi con! Con nghe rõ ràng giọng thúc hối nóng lòng của Ngoại. Con đang hoang mang chưa biết làm gì thì lại nghe bà nói. Mẹ mày chết rồi. Chạy mau lên con ơi. Rồi như có gì ám, con lôi tay Ngà chạy về phía bờ sông theo lời Ngoại. "

Tôi nghe lạnh nơi sống lưng. Tôi đã không kéo tay Phong đứng lại vô cớ, rõ ràng có nhánh cây đập nơi mặt đau như trời giáng nên tôi đứng lại không suy nghĩ. Khi mặt trời lên, Phong nhìn và không thấy vết bầm hay trầy trụa nào trên mặt tôi cả. Điều này khiến tôi ngạc nhiên vì cái đau xé da thịt kia không thể nào không để lại dấu vết trên mặt. Còn tiếng gào, thứ tiếng đau đớn của một con thú bị nạn. Thứ âm thanh chỉ có thể tạo được bởi cơn đau tận cùng xương tuỷ. Phong đã không nghe tiếng gào nào hết khi giật tay tôi quay lui chạy ngược về hướng cũ. Không dám suy tưởng nhiều hơn, tôi chỉ giản dị cho rằng mẹ Phong đã tìm cách cứu chúng tôi bằng tiếng gào mà bà đã không kịp thoát thành tiếng. Tôi đã nghe được thứ âm thanh xé rách màn đêm chọc thẳng óc mình, đã ngửi được mùi máu trên áo kẻ giết người. Nếu không có nhánh cây quật mặt, tôi đã không dừng lại và đã tiếp tục ngoan ngoãn đi theo tên dẫn đường gian ác. Nếu không có tiếng gào, có lẽ tôi vẫn tiếp tục đi không chút ngờ vực. Tiếng gào và cái đau của nhánh cây quật mặt, cả hai đều thật, thật như nỗi hãi hùng của cuộc thảm sát ghê rợn nơi bờ sông vắng. Tôi đã cảm thấy được tất cả mọi thứ bằng mọi giác quan trên người. Có thể, nhánh cây làm tôi đau nhưng không để lại dấu vết, nhưng còn tiếng gào, tôi phải giải thích làm sao khi Phong không hề nghe có tiếng gào nào hết. Hai đứa tôi đã được báo động cùng một lúc bằng hai hình thức khác nhau. Và nhờ hành động vụt chạy bất thần khiến tên dẫn đường không kịp trở tay. Nếu không, nếu không... tôi vẫn thường tự hỏi, nếu không, nếu không, chuyện gì sẽ xảy ra và tôi sẽ làm gì nếu gã đàn ông không gờm tay với mình giả như tôi và Phong cùng rơi vào tình trạng sống chết dưới tay hắn? Đây là nỗi ám ảnh không biết đến khi nào tôi mới được quên dù đã yên ổn xứ người nhiều năm sau đó.


Hết

KHI HỮU SỰ, NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HẢI NGOẠI SẼ NGỒI LẠI VỚI NHAU TỨC KHẮC





KHI HỮU SỰ, NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HẢI NGOẠI

SẼ NGỒI LẠI VỚI NHAU TỨC KHẮC

Đinh Lâm Thanh

Cũng như trước đây trong vụ chống tên cộng sản nằm vùng Trần Trường ở Nam Cali (USA) các hiệp hội, đoàn thể, chính đảng cũng như nhân sĩ thuộc nhiều thành phần, nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau đã kết hợp chặt chẽ để hành động chống tập đoàn cộng sản Việt Nam. Nay đến lượt Paris, từ nhiều năm qua đã có những bất đồng nhỏ trên nhiều khía cạnh làm cho sinh hoạt thiếu đoàn kết một phần nào. Nhưng ngày hôm nay, trong buổi chào cờ và họp hàng tháng do VPLL các hội đoàn tại Pháp kêu gọi, chúng tôi thấy đầy đủ các khuôn mặt lớn trong hàng ngũ chống cộng đã ngồi chung lại với nhau trước tình thế sôi sục của đất nước hiện tại.

Điều cảm động nhất, trong buổi họp ngày hôm nay có nhiều vị trước đây thường tránh gặp nhau và đặc biệt đối với cá nhân tôi cũng có một vài bất đồng ý kiến nhỏ về phương thức tranh đấu với một hai người, thì hôm nay, trong buổi họp tất cả đều gạt bỏ những dị biệt cá nhân, bắt tay mặt mừng để ngồi làm việc chung với nhau. Đó là quý ông Dương Văn Lợi (chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân Cộng Sản tại Pháp) ông Nguyễn Tường Long (Cựu TTK/VPLL) và Trung Tá Nguyễn Nhựt Châu (Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Âu Châu / Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại).

Số người tham dự trên 40 người, gồm những vị trách nhiệm hay đại diện các Hiệp hội, Đoàn thể, Chính Đảng cũng như các nhân sĩ của Paris và các vùng phụ cận đều có mặt trong buổi họp :

- Tổng thư Ký VPLL các hội đoàn tại Pháp (Ông Mai Quốc Minh)

- Đại Việt Cách Mạng Đảng

- Đại Việt Quốc Dân Đảng

- Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH tại Pháp (Ông Mai Viết Triết).

- Trung Tâm Điều Hợp Âu Châu/TTCSVNCH/HN (Ông Nguyễn Nhựt Châu)

- Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc tại Paris (Ông Trần Minh Răn – Ông Nguyễn Văn Đông)

- Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tự Do tại Pháp (Bác sĩ Phan Khắc Tường)

- Hội Văn Hóa Người Việt Tự Do (Ông Đinh Lâm Thanh)

- Hội Người Việt Tự Do Val De Marne (Ông Lê Minh Triết đại diện)

- Hội Hải Quân và Hàng Hải VNCH tại Pháp (Ông Đặng Vũ Lợi)

- Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân CSVN tại Pháp (Ông Dương Văn Lợi)

- Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia VN Tự Do (Ô. Nguyễn Tường Long)

- Liên Hội Cảnh Sát Quốc Gia VNCH Âu Châu (Ông Võ văn Phước)

- Câu Lạc Bộ Phối Hợp Công Tác (Ông Phan Văn Lê, đại diện)

- Văn Phòng Liên Đới Xã Hội Paris (Bà Dương Thúy Phượng)

- VPLL Quân Dân Cán Chính : Ông Phạm Văn Đức

Điểm đặc biệt không thấy đại diện của đảng Việt Tân cũng như một vài người quen thuộc thường hô hào biểu tình trên các phương tiện truyền thông. Buổi họp có mục đích tổ chức ngày Quốc Hận 30.4 năm nay gồm hai phần chính được mọi người nhận lãnh trách nhiệm một cách tích cực.

* Biểu tình trước toà đại sứ Việt cộng vào ngày thứ Bảy 30.4.2011 từ 14.00 giờ đến 18.00 giờ. VPLL đề nghị mỗi người mang theo Cờ Vàng Quốc Gia. Biểu ngữ và phương tiện âm thanh sẽ do VPLL trách nhiệm.

* Hội thảo tại hội trường CISP Kellerman, Paris 13 ngày Chủ Nhật 24.4.2011 từ 14.00 giờ đến 18.00 giờ với đề tài : Yểm Trợ Cuộc Cách Mạng Hoa Lài cho Việt Nam

Phần quan trọng sẽ bàn đến nhân buối họp nầy là Paris sẽ cùng thế giới phát động chương trình xuống đường để yểm trợ quốc nội vùng dậy chống việt gian cộng sản, nhưng vì thời giờ không cho phép (đến giờ trả phòng họp cho tổ chức khác) VPLL sẽ triệu tập một buổi họp đặc biệt khác để việc tổ chức đươc chu đáo hơn. Tuy nhiên Paris sẽ phối hợp với tất cả tổ chức khác cũng như các cộng đồng bạn trên khắp thế giới trong các ngày hội thảo toàn cầu cũng như các hoạt động khác nhằm yểm trợ cho phong trào vùng dậy trong nước.

Hôm nay là một ngày thật phấn khởi và cảm động vì qua lời kêu gọi của chúng tôi, người Việt Quốc Gia tại Paris và các vùng phụ cận đã xóa bỏ những dị biệt cá nhân và cùng ngồi chung với nhau dưới lá Cờ Vàng Quốc Gia để dứt khoát hợp sức tranh đấu cho đến ngày không còn bóng dáng quân cộng sản trên quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Đinh Lâm Thanh

Ghi vội, Paris 27.02.2011

Tôi sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc

Tôi sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc



Tôi sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc!

Wael Ghonim, một thanh niên Ai Cập 30 tuổi, đã được giới trẻ Ai Cập tôn vinh là anh hùng trong các cuộc xuống đường ở Ai Cập. Dưới đây là trả lời phỏng vấn của Wael Ghonim với phóng viên Ivan Watson, đài CNN hôm 9 tháng 2, sau khi anh được cảnh sát Ai Cập thả ra hai ngày.

Watson: Anh đã lên kế hoạch cho một cuộc cách mạng?

Ghonim: Vâng, chúng tôi đã lên kế hoạch.

Watson: Kế hoạch đó là gì?

Ghonim: Đó là làm sao cho tất cả mọi người cùng xuống đường. Trước nhất là chúng tôi chuẩn bị khởi đầu ở các khu vực nghèo nàn. Đòi hỏi của chúng tôi là tất cả những gì liên quan đến đời sống hàng ngày của người dân.

Watson: Có rất nhiều lời đồn đoán về người nhóm Huynh đệ Hồi giáo liên quan đến cuộc nổi dậy này. Làm sao anh tự xưng chính anh và bạn bè của anh là những người giúp huy động các cuộc biểu tình đầu tiên vào ngày 25 tháng 1?

Ghonim: Nhóm Huynh đệ Hồi giáo không hề tham gia trong việc tổ chức này. Huynh đệ Hồi giáo đã tuyên bố rằng họ sẽ không chính thức tham gia và họ nói rằng, nếu những thanh niên của họ muốn tham gia, thì họ sẽ không nói không với những người này. Nếu các ông muốn có một xã hội tự do, chỉ cần cho họ truy cập internet. Bởi vì mọi người, các thanh niên trẻ, tất cả sẽ đi ra [thế giới] bên ngoài và nhìn thấy các phương tiện truyền thông thiên vị, nhìn thấy sự thật về các nước khác và [nhìn thấy] đất nước của chính mình và họ sẽ đóng góp và cộng tác với nhau.

Watson: Đây có phải là một cuộc cách mạng internet?

Ghonim: Chắc chắn đây là một cuộc cách mạng internet. Tôi gọi nó là cuộc cách mạng 2.0.

Watson: Chính phủ Ai Cập hiện đang nói về sự thay đổi, họ đang nói về các ủy ban, cải cách hiến pháp trong các cuộc bầu cử quốc hội vừa qua, tôn trọng các đòi hỏi của giới trẻ, ngưng các cuộc bắt giữ, giải phóng các phương tiện truyền thông. Ông nghĩ gì về những thông điệp này?

Ghonim: Tiếc rằng chúng tôi không còn thời gian để đàm phán. Chúng tôi đã xuống đường vào ngày 25 và chúng tôi muốn đàm phán. Chúng tôi muốn nói chuyện với chính phủ của mình, chúng tôi đã gõ cửa. Nhưng họ đã quyết định thương lượng với chúng tôi vào ban đêm, bằng những viên đạn cao su, bằng dùi cui, bằng vòi nước, bằng hơi cay và bằng việc bắt giữ khoảng 500 người của chúng tôi. Cảm ơn, chúng tôi đã nhận được thông điệp. Bây giờ, khi bắt đầu leo thang như thế này và các cuộc biểu tình đã thực sự lớn, thì họ đã nhận được thông điệp.

Watson: Việc anh bị bắt giữ, anh có nghĩ đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, họ dọn dẹp đường phố hay anh là mục tiêu mà họ nhắm tới?

Ghonim: Dĩ nhiên tôi là mục tiêu mà họ nhắm tới. Họ muốn bắt tôi.

Watson: Cái gì chạy qua trong đầu anh vào thời điểm đó?

Ghonim: Tôi sợ vô cùng

Watson: Anh đã bị bịt mắt?

Ghonim: Vâng, tôi đã bị bịt mắt.

Watson: Trong suốt thời gian, anh đã bị bịt mắt?

Ghonim: Vâng, bị bịt mắt, dĩ nhiên.

Watson: Suốt thời gian?

Ghonim: Vâng, dĩ nhiên. Hôm nay, tôi đã ủy quyền toàn bộ mọi thứ tài sản mà tôi sở hữu cho vợ tôi, các tài khoản nhà bank của tôi, tất cả mọi thứ, bởi vì tôi sẵn sàng chết và có hàng ngàn người dân ở ngoài đó sẵn sàng chết…

Watson: Anh đã ủy quyền cho vợ của anh, bởi vì anh nghĩ rằng anh có thể chết?

Ghonim: Vâng, dĩ nhiên. Họ đã hứa hẹn với chúng tôi rất nhiều, ông biết đấy, về thái độ từ từ thay đổi, nhưng nhìn lại cuộc phỏng vấn ông Omar Suleiman vài ngày trước đây, ông ta cho rằng, hiện người Ai Cập chưa sẵn sàng cho dân chủ.

Watson: Anh nghĩ gì về điều đó?

Ghonim: Vì vậy, tôi nghĩ rằng, chế độ này thực sự có vấn đề rồi, chỉ sự việc là các ông có vài người để quyết định rằng các ông là tốt hơn, các ông ở vị trí tốt hơn để quyết định cho một quốc gia và sau đó sử dụng phương tiện truyền thông để tẩy não người dân. Sử dụng cây gậy bóng chày để đánh vào những người dân, những người quyết định rằng, họ muốn nói KHÔNG!

Watson: Anh có cảm thấy anh phải chịu trách nhiệm với những người đã chết?

Ghonim: Không. Ông biết đấy, tôi lấy làm tiếc, nhưng tôi không... Tôi lấy làm tiếc vì sự ra đi của họ (bật khóc). Ông biết đấy, tôi không thể quên những người này (nghe không rõ) [vì sự hy sinh của họ?] Biết đâu có thể là tôi hoặc anh em của tôi. Và họ đã bị giết hại, họ đã bị giết hại, như thể họ, ông biết rồi đấy...

Nếu những người này đã chết trong một cuộc chiến, thì công bằng và sòng phẳng. Khi ông cầm vũ khí trong tay, và ông biết người nào đó đang bắn và ông chết. Nhưng không! Những người đó không được chết như vậy. Những người đã bị giết không giống như họ đang chuẩn bị tấn công ai đó. Cảnh sát bắn họ, bắn họ rất nhiều lần, ông biết đấy, những người cảnh sát đứng trên cầu và bắn vào những người dân. Đây là tội phạm. Tổng thống này cần phải ra đi vì đây là một tội phạm.

Và tôi, tôi nói cho ông biết rằng tôi sẵn sàng chết. Tôi có rất nhiều thứ trong đời để mất. Tôi đang đi làm, ông biết tôi đang xin nghỉ làm, tôi làm việc cho một công ty tốt nhất trên thế giới. Tôi có một người vợ hoàn hảo, và tôi có mọi thứ tốt nhất, tôi yêu thương con cái tôi, nhưng tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả mọi thứ đó để giấc mơ của tôi trở thành hiện thực, và không ai có thể đi ngược lại ước muốn của chúng tôi. Không một ai có thể!

Và tôi đang nói điều này cho ông Omar Suleiman. Ông ta sẽ xem buổi phỏng vấn này. Ông sẽ không thể ngăn được chúng tôi. Bắt cóc tôi? Bắt cóc tất cả các đồng sự của chúng tôi? Đưa chúng tôi vào tù? Giết chúng tôi? Hãy làm bất cứ điều gì mà các ông muốn làm. Chúng tôi đang xây dựng lại đất nước của chúng tôi. Các ông đã hủy hoại đất nước này trong 30 năm qua. Đủ rồi! Đủ rồi! Đủ rồi!

Ngọc Thu dịch từ youtube.com/watch?v=vL8Vi6CaCCM


Saturday, 26 February 2011

BAO GIỜ “CÁCH MẠNG NHUNG” ĐẾN VIỆT NAM?

Cuộc cách mạng tự phát của nhân dân các nước ở Trung Đông và Bắc Phi tuy chưa đến Việt Nam mà đội ngũ cán bộ tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã chột dạ lên tiếng buộc tội cho Hoa Kỳ chủ mưu cuộc cách mạng này đồng thời khuyến cáo phải đề phòng “đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn“Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch”.

Nhưng trong lúc những người làm công tác tuyên truyền cố ý viết cho mọi người tin rằng làn sóng nổi lên của nhân dân các nước Hồi Giáo là “Made in USA” thì họ lại hớ hênh nêu ra những nguyên nhân giống hệt như ở Việt Nam đã đưa cuộc cách mạng này đến thành công mau chóng ở Tunisia và Ai Cập, đó là độc tài, tham nhũng, đói nghèo và thất nghiệp.

Nguyễn Thế Kỷ, Tiến sỹ, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, đưa ra những khuyết điểm này trong bài viết trên Báo điện tử của đàng CSVN ngày 20-02 (2011) gồm có:

“Thứ nhất, đó là các nguyên nhân nội tại, bắt nguồn từ việc các nước này lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, cả về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, nhất là sự lệ thuộc về kinh tế. Khi kinh tế toàn cầu suy giảm, nền tài chính, tiền tệ thế giới rơi vào khủng hoảng, chính các nước này bị tác động sớm và mạnh mẽ nhất.

“Thứ hai, là đường lối chính trị, là cách thức lãnh đạo, điều hành đất nước của nhà cầm quyền, nhất là của những người đứng đầu, sai lầm. Tình trạng độc đoán, chuyên quyền, gia đình trị, tham nhũng kéo dài, tạo nên sự bất bình ngày càng gia tăng của các giai tầng trong xã hội. Khi các đảng phái đối lập, các nhóm Hồi giáo cực đoan trỗi dậy, nêu chiêu bài “dân chủ”, “chống tham nhũng”, “chống độc quyền, gia đình trị”…, rất dễ tranh thủ sự ủng hộ, đi theo của người dân.

Thứ ba, là tình trạng đói nghèo, thất nghiệp, mù chữ, tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng bị khoét sâu, tạo nên mâu thuẫn xã hội sâu sắc. Từ ba nguyên nhân trên, dẫn đến nguyên nhân thứ tư là, nhà cầm quyền không nhận được sự trung thành, ủng hộ thật lòng của quân đội và lực lượng cảnh sát, khi xẩy ra nguy biến, rốt cuộc, các lực lượng này phản ứng yếu ớt, thậm chí buông xuôi. Có thể có thêm một vài nguyên nhân nội tại khác nữa. “

Như vậy thì có khác gì những tệ nạn đang có ở Việt Nam?

Tuy không lộ liễu nhưng có người dân nào ở Việt Nam không biết đảng và nhà nước đã lệ thuộc vào đàn anh Trung Hoa để tồn tại. Việc để cho Tầu vào khai thác Bauxite trên Tây Nguyên và phản ứng yếu ớt trước các hành động xâm lược, đàn áp ngư dân Việt Nam của Bắc Kinh ở Biển Đông là một bằng chứng không thể chối cãi được.

Ở Việt Nam không công khai chế độ gia đình trị nhưng việc đưa Nông Quốc Tuấn (con Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng hai Khoá 9 và 10), Nguyễn Thanh Nghị (con Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng), Nguyễn Xuân Anh (con Nguyễn Văn Chi, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Khoá đảng X) vả Nguyễn Chí Vịnh, con tướng Nguyễn Chí Thanh vào Ban Chấp hành Trung ương đảng Khoá XI có dính líu đến tham quan không ?

Còn tham nhũng thì sao, đã ngập đầu chưa hay phải đợi cho tình trạng cách biệt giầu nghèo giữa thành phố và nông thôn dãn ra vài cây số nữa thì mới thấy rõ hơn bây giờ?

Vậy khi các thợ tuyên truyền của đảng ra sức tấn công, buộc tội Mỹ chủ mưu thúc đẩy các cuộc nổi loạn ở Trung Đông thì hẳn phải có lý do để khua lên cho mọi người biết đề phòng.

Nỗi lo này của đảng CSVN đã được Nguyễn Thế Kỷ viết ra : “Khi đi vào vấn đề này, rất cần có cái nhìn toàn diện, đi vào chiều sâu, vào bản chất sự việc, vừa không xem nhẹ nguyên nhân bên trong, càng không được xem nhẹ các nhân tố bên ngoài. Đó là bài học cảnh tỉnh, cảnh giác cho nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đó cũng là cách tiếp cận cần thiết để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch; thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tất cả vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

Nhưng lối hô hoán này cũng không có gì mới lạ mà chỉ chứng minh thêm lần nữa rằng vũ khí tuyên truyền của Ban Tuyên giáo Trung ương đã “hết đạn”.
Cũng vẫn luận điệu cũ quen thuộc như sử dụng các con bài ma xó “diễn biến hòa bình” và “các thế lực phản động, thù địch” tưởng tượng để hù họa hòng che lấp thất bại của chính mình nên dân đã lánh xa và không còn muốn liên hệ “máu thịt” với đảng nữa.

Do đó, tại Hội nghị về Công tác Dân vận ngày 22/02 (2011), Trương Tấn Sang,Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã nhìn nhận: “Bên cạnh những thành tích, tiến bộ nêu trên, công tác dân vận còn bộc lộ những mặt hạn chế, yếu kém. Chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ, nói đúng sự thật là: một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa thật sự quan tâm đầy đủ đối với công tác dân vận, còn xem nhẹ công tác vận động quần chúng; chưa thật sự đầu tư thỏa đáng cho công tác dân vận; chưa cử được nhiều cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt để làm công tác dân vận; chậm đổi mới nội dung, phương thức vận động, tập hợp quần chúng trong tình hình mới; chưa thật sự dựa vào dân để xây dựng Ðảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.”

Ngòai ra Sang còn tự thú: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng; các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu 'diễn biến hòa bình', gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài 'dân chủ', 'nhân quyền' hòng chống phá đất nước ta, làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.” (Tạp chí Cộng sản, 23/02/1011)

Cảnh giác của Sang không mới mà chỉ lập lại những điều đã nói nhiều lần từ mấy năm qua cho thấy đảng cũng đã cạn cả sáng kiến trong cuộc đấu tranh với nguy cơ sống còn của đảng trước nguy cơ “trự diễn biến, tự chuyển hóa” đã được nói tới trong kỳ Đại hội đảng XI hồi trung tuần tháng 1 năm 2011.

Trước tình trạng suy thoái đạo đức và xuống dốc tư tưởng ngày một lan nhanh trong đảng, cán bộ tuyên truyền đã gặp phải nhiều trường hợp nói dân không nghe mà còn bị chửi vào mặt nên Sang đã yêu cầu: “Trong bối cảnh đó, công tác dân vận của Ðảng cần bám sát diễn biến tình hình; tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, nhất là cần nắm bắt diễn biến tư tưởng của nhân dân và đổi mới công tác vận động, tập hợp; tăng cường công tác dân vận của chính quyền, lực lượng vũ trang, tạo sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân.”

Nhưng tình trạng “đồng thuận mà không đồng lòng” đã tràn lan trong đảng từ lâu lắm rồi. Những trường hợp cấp trên bảo cấp dưới phải “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư” nhưng chính mình lại mất phẩm chất, tìm mọi cách để xà xẻo của công, ăn bẩn, đánh cắp tiền thuế của dân để tậu xe hơi, xây nhà lầu và gửi con ra nước ngòai học không còn là chuyện nói không ai tin nữa.

Cho nên khi nghe Sang ra lệnh cho cán bộ, đảng viên tại Hội nghị Dân vận là họ “Phải 'thật sự phát huy dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ luật, kỷ cương; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Ðảng” thì có ma nào nghe không?

Vậy mà cũng tại Hội nghị này vào ngày 23-2-2011, Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương còn lên giọng dậy đời : “ Các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác đối ngoại, quan tâm triển khai các hình thức dân vận mới để thu hút và tập hợp ngày càng đông đảo người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài hướng về đất nước, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của bạn bè quốc tế trong các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước ta, vạch trần những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại công cuộc đổi mới đất nước.”

Chắc hẳn khi nói năng như thế, Thông chưa biết công tác vận động người Việt Nam ở nước ngòai về giúp nước hay đóng vai bù nhìn cho chế độ đã thất bại thê thảm ra sao kể từ khi đảng đưa ra Nghị quyết 36 năm 2004 ?

Nêu không tin, Thông cứ hỏi Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Ngọai giao, Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngòai thì rõ.

Nói tóm lại, không phải không có lý do mà các thợ viết tuyên truyền của đảng CSVN đã sôi sục nổi lên viết bài cáo buộc Mỹ đã nhúng ta đạo diễn các biến cố chính trị đang lan nhanh ở Trung Đông.

Đơn giản chỉ vì Việt Nam cũng có những yếu tố dễ khiến dân tự phát giống như bên Trung Đông, chẳng hạn như chuyện đảng độc tài, độc trị và chuyện Nhà nước đã tước bỏ của dân các quyền tự do ngôn luận, nhóm họp và lập hội thì cũng giống như nhau.

Có khác chăng là ý thức của người dân và tầng lớp Thanh niên chưa có cơ hội ngóc đầu lên. -/-

Phạm Trần

GADHAFI TÀN SÁT DÂN BIỂU TÌNH LIBYA PHẠM TỘI DIỆT CHỦNG CHỐNG NHÂN LOẠI

Được khích lệ bởi cuộc toàn dân nổi dậy lật đổ các chế độ độc tài tham nhũng ở Tunisia và Aicập, giới hoạt động chống đối nhà nước Libya đã dùng các trang mạng xã hội để kêu gọi tổ chức các cuộc biểu tình chống chính quyền do Moammar Gadhafi đã nắm giữ từ năm 1969 tới nay, lúc ông này làm cuộc đảo chính, lật đổ chế độ quân chủ được Tây Phương hậu thuẫn. Từ đó Gadhafi trở thành độc tôn, toàn trị, áp dụng kiểu ủy ban nhân dân và cảnh sát trị như cộng sản để thống nhất các bộ lạc theo đạo Hồi trên lãnh thổ Libya. Trở thành một trong những trung tâm khủng bố. Chống Mỹ và thế giới Tự Do. Sau cuộc chiến Iraq, Gadhafi đã đổi chiều làm hòa với Mỹ và Tây Phương. Nhưng Libya vẫn một chế độ độc tài, chuyên chế do Gadhafi trực tiếp chỉ huy. Bị toàn dân chống đối. Hồi giáo không ưa. Thế giới nghi ngờ. Nên chỉ trong vòng một tuần lễ nay, người biểu tình tuy bị đàn áp bắn giết, cả nước có tới 233 người thiệt mạng. Nhưng dân chúng đã chiếm được ít nhất 9 thành phố gồm cả Benghazi, Sirte, Misrata…

Nhiều vị bộ trưởng chính phủ từ chức. Hàng loạt Đại Sứ ở Ấnđộ, Trungquốc, Liên Đoàn Ảrập, Đông Nam Á… từ nhiệm, kêu gọi chống lại Gadhafi. Các sĩ quan cao cấp chống lại lệnh đàn áp dân, chạy sang hàng ngũ người biểu tình. Gadhafi phải sử dụng tới lính đánh thuê Châu Phi lái máy bay để săn giết những người biểu tình xuất hiện trên đường phố. Ngày 21/02/11, Nhà thần học Hồi Giáo, Trưởng giáo Yussef Al-Qardaoui ra thánh lệnh kêu gọi quân đội Libya: “Hạ sát lãnh đạo Gadhafi, kẻ đã ra lệnh cho binh lính bắn vào dân mình”. Liên Đoàn Ảrập đã ngưng không cho Libya tham gia các cuộc họp của Liên Đoàn. Chủ tịch Liên Đoàn, ông Amr Moussa chủ toạ phiên họp khẩn hôm thứ Ba để thảo luận về Libya đã lên tiếng: “Bạo lực nhắm vào những người biểu tình phải chấm dứt”. Trong khi đó Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc tham khảo khẩn cấp về tình hình rối loạn tại Libya. Cao Ủy Nhân Quyền LHQ, bà Navi Pillay kêu gọi quốc tế mở cuộc điều tra về những vụ tấn công rộng lớn có hệ thống nhắm vào thường dân. Bà nói: “Những vụ tấn công như thế có thể lên tới mức các tội ác chống nhân loại. Phó đại sứ Libya tại LHQ, người vừa từ bỏ Gadhafi cũng lên án: “Gadhafi phạm tội ác chống nhân loại” đòi truy tố ông ta ra Toà Án Hình Sự Quốc Tế. Tổng Thư Ký LHQ, Ban Ki-Moon tuyên bố: “Kinh hoàng trước hành động bạo lực của chính quyền Gadhafi, đã đem trực thăng võ trang và máy bay quân sự oanh kích thường dân”. Hội Đồng Bảo An có thẩm quyền đưa ra các biện pháp cụ thể để bảo vệ dân lành.

Trong bài diễn văn đầu tiên từ khi có cuộc nổi dậy, lãnh tụ Gadhafi lên án các cuộc biểu tình chống chính phủ và không chịu từ bỏ quyền lực. Ông tỏ ra tức giận nói năng lung tung, lên án các cuộc biểu tình. Theo ông: “Đợt biểu tình hiện nay là do bè lũ hèn hạ và phản bội đang muốn dựng hình ảnh một Libya trong hỗn độn và làm nhục người dân Libya”. Ông cảnh báo: “Nếu tiếp tục có biểu tình thì tại Libya sẽ xẩy ra nội chiến, hoặc nước này sẽ bị Mỹ chiếm đóng”. Ông lấy việc chính quyền Trungquốc đàn áp người biểu tình trên quảng trường Thiên An Môn ra làm bằng chứng, rằng: “Khối đoàn kết dân tộc có giá trị hơn mấy người biểu tình nhiều”. Ông không quên chỉ trích các nước Tây Phương, nhất là Anh và Mỹ đang rắp tâm làm Libya mất ổn định. Đúng ra là ở các nước Tunisia, Aicập và Yemen, Bahrain, Hoakỳ công khai hỗ trợ cho dân chúng, cố gắng dàn xếp để có sự chuyển quyền êm thấm, nên các nước Tunisia, Aicập sớm thoát nạn. Các nước Yemen, Bahrain rồi cũng tìm được đường ra. Còn như trường hợp của Libya, hay Iran thì Hoakỳ vẫn đứng vòng ngoài, nên tình thế mỗi ngày, mỗi xấu thêm.

Lúc ông Gadhafi dẫn chứng về vụ Trungcộng đàn áp thành công cuộc biểu tình của sinh viên tại Thiên An Môn, thì ‘Cuộc Cách Mạng Hoa Lài” từ Tunisia đã lan sang Hoalục. Cảnh sát tại Bắckinh, Thượnghải và 11 thành phố lớn khác ở khắp nước Trunghoa trong vòng 36 tiếng kể từ tối thứ Bảy 19/02/11, đã ra tay cô lập, bắt giữ ít nhất là 100 nhà đấu tranh và những luật sư về nhân quyền. Một trong những lời kêu gọi trên mạng internet tối thứ Bảy, nguyên văn: “chúng tôi kêu gọi những công nhân đang thất nghiệp, những người bị chính phủ dùng áp lực để lấy nhà đất, cùng nhau tham gia vào cuộc biểu tình, hô to những khẩu hiệu đòi Tự Do Dân Chủ, đổi mới Chính Trị và chấm dứt chế độ Độc Đảng”… “ đòi cơm ăn, nhà ở, việc làm”. Công an Trungcộng kịp thời tràn ngập các điạ điểm, mà các cuộc biểu tình dự trù diễn ra trên khắp nước.

Từ lâu nay, Trungcộng vẫn dựa vào sự phát triển kinh tế để làm chiếc bánh vẽ nuôi hy vọng cho người dân, đồng thời, lấy niềm tự hào Đại Đế Quốc Hán khích lệ ý chí toàn dân. Nhưng lâu dần, tuyệt đại đa số người dân vẫn thấy mình nghèo khổ, chỉ có thiểu số gia tộc cộngsản là quyền thế, giầu sang, sung sướng. Mộng Đế Quốc Bành Trướng, đang bị Hoakỳ dùng sức mạnh quân sự chận đứng ngay tại ven biển Trunghoa. Đô đốc Robert Willard, Tư Lệnh Lực Lượng Hoakỳ tại Á Châu – Thái Bình Dương khi thẩm định về vị thế Hoakỳ ở Áchâu TBD đã nói: “Washington có khuynh hướng chú trọng tới vùng Đông Bắc Á để giúp Nam Hàn ngăn chặn nguy cơ tấn công của Bắc Hàn, đồng thời củng cố liên minh Mỹ-Nhật”. Ông nhấn mạnh: “Lực lượng của Mỹ có bổn phận duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ và liên tục tại vùng Đông Nam Á, Nam Á, và Châu Đại Dương”. Bởi thế, việc Trungcộng dùng chiêu bài phát triển kinh tế để dụ dân không xong. Dùng chiến tranh mở mang đế quốc để khỏa lấp những đòi hỏi thay đổi chính trị không nổi. Mà ảnh hưởng của Cách Mạng Hoa Lài và nhu cầu cấp thiết như: Cơm Ăn, Nhà Ở, Việc Làm của người dân thì Trungcộng không thể thoả đáp. Dân vùng lên đòi hỏi. Nhà nước dùng Côngan đàn áp. Với thời đại internet phổ cập, cả thế giới đều nhìn vào Hoalục, đều quan tâm tới quyền sống, quyền làm chủ của toàn dân Trunghoa. Vì vị thế cường quốc kinh tế thế giới, Trungcộng không thể xuống tay tàn sát dân của mình như Đặng Tiểu Bình đã làm trong vụ Thiên An Môn được nữa.

Một lối mòn duy nhất để Trungcộng khai thác là cuộc xung đột giữa Campuchia và Tháilan về ngôi đền Preah Vihear, hòng chia rẽ khối ASEAN. Nhưng cả Campuchia và Tháilan đã đồng ý cho Asean điều quan sát viên quốc tế tới vùng biên giới tranh chấp, nhằm làm giảm căng thẳng. Tuy không nói ra, tất cả các nước trong khối ASEAN đều biết, Trungcộng là nước có lợi nhất khi các nước trong tổ chức ASEAN chống đối lẫn nhau. Thế là ngõ bành trướng nhỏ hẹp này cũng đã bị bịt lại. Trungcộng không thể mãi mãi nhảy lò cò một chân kinh tế, mà phải đi bằng một chân chính trị nữa thì mới theo kịp với thế giới thời đại. Nếu cứ ngoan cố giữ độc đảng, độc tài, toàn trị, tham nhũng, đến một lúc nào đó, quân đội sẽ đứng về phía người biểu tình, như ở Tunisia, Aicập thì chế độ Trungcộng sẽ cáo chung.

LÝ ĐẠI NGUYÊN

Treo đầu dê bán thịt chó

Thành ngữ “Treo đầu dê bán thịt chó” theo nghĩa đen, dùng để chỉ sự gian lận của những kẻ hàng thịt ngoài chợ lừa khách hàng. Trước cửa treo cái đầu dê quảng cáo mà bên trong thì toàn là thịt chó. Nói rộng ra là mánh khóe dối trá, gian lận của những con buôn làm ăn bất chính, bán hàng giả mạo, kém phẩm chất. (Hàng giả mạo, thuật ngữ hiện đại gọi là hàng đểu)

Ngoài phạm vi buôn gian bán lận, thành ngữ này cũng còn được dùng trong xã hội để chỉ ra thủ đoạn lừa đảo, bịp bợm, giả nhân giả nghĩa của các chế độ bá đạo, lừa dân, dối trời.

Đảng cộng sản Việt Nam chính là một đảng “treo đầu dê bán thịt chó” từ xưa đến nay. Đảng này chuyên dùng thủ đọan bất chính, tà đạo của một nhà nước ngụy quyền để mị dân.

Cứ xem cái tên “đảng Cộng sản” thay hình đổi dạng như da tắc kè thì đủ biết.

Khởi đầu, ngày 8/2/1930, đúng ngày Tết năm Canh Ngọ, tại căn nhà của một công nhân ở bán đảo Cửu Long, Hương Cảng, Hồ Chí Minh khai trương bảng hiệu “Đảng Cộng sản Việt Nam”, mở cửa hàng chó, bán cho nhân dân miền Bắc Việt Nam, theo tiêu chuẩn tem phiếu, rập theo khuôn mẫu của sư phụ, loại thịt chó đông lạnh nhập của Liên Xô và Trung quốc, có thương hiệu là Quốc tế Cộng sản. Tám tháng sau, Trùm Sò Mafia Quốc tế Cộng sản không vừa ý với thương hiệu này nên ngày 31/10/1930, ông Hồ phải thay bảng hiệu mới có tên “Đảng Cộng sản Đông Dương” để làm vui lòng Bố già (God Father).

Ngày 11/11/1945, chính phủ Việt Nam mới được thành lập, để che dấu món thịt chó cộng sản có liên hệ đến nhà nước, e nhiều người phản đối, ông Hồ cho gỡ bảng hiệu “Đảng Cộng sản Đông Dương” xuống và trưng một bảng mới khác lên có cái tên rất hiền lành là “Hội Nghiên cứu Chủ Nghĩa Mác ở Đông Dương” để tiếp tục đánh lừa người mua ngờ nghệch, nhẹ dạ.

Dần dà, thấy một số người mua quen với món chó giả dê, tháng 2/1951, ông Hồ lại mon men treo lại bảng cũ, nhưng vẫn còn sợ phản ứng của người tiêu dùng nên trại chữ Cộng sản thành Lao động. Bảng mới có tên “Đảng Lao động Việt Nam”.

Sau khi cướp được miền Nam năm 1975, tóm thâu Nam Bắc vào một rọ, độc tài cai trị, độc quyền buôn bán, hậu duệ ông Hồ không phải e sợ ai cạnh tranh nữa, công khai bán thịt chó, bắt toàn dân phải ăn độc một món thịt chó, dù là chó bệnh, chó ghẻ, chó dại… mặc kệ ai không ăn được thịt chó hoặc dị ứng với thịt chó. Một năm sau, 1976, cái bảng hiệu nguyên thủy đầu tiên khai trương năm 1930, đã cất giấu bấy lâu, nay được đem ra phủi bụi treo lên lại: “Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Bắt đầu từ đó, đảng Cộng sản Việt Nam một mình một chợ, tha hồ nhiễu nhương, tác yêu tác quái. Sự độc quyền này giúp cho đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng trụ vững địa vị trong chợ và đám đầu nậu chó phất lên giàu có, nhanh chóng trở thành bọn “tư bản đỏ”. Mặc dù năm 1989-1990, món thịt chó tại bản xứ Liên xô bị dân Nga tẩy chay, lên án. Ngôi chợ chó vĩ đại, hoành tráng ở Liên bang Xô viết, nơi cung cấp thịt chó khắp thế giới bị dân chúng đốt cháy và thịt chó bị buộc phải thiêu hủy. Tuy vậy, với bản chất gian tham cố hữu, đảng Cộng chó Việt Nam vẫn cứ ù lì, cứ buôn gian bán lận món hàng đểu. Thịt ôi thúi bị Liên xô vất đi, bị khối Đông Âu đem chôn thiêu hủy đều được bọn hậu duệ ông Hồ cho đào lên, lượm về bảo quản bằng phọc môn rồi chèn ép người dân buộc phải ăn, sống, chết thế nào đều tùy tiện trong tay mình, bất chấp người dân và Ủy ban Môi trường Vệ sinh thế giới kịch liệt phản đối và lên án. Tệ hại hơn nữa, người dân trong nước, ai mở miệng phê phán món thịt chó dở hay vô nhân đạo đều bị bọn đầu trâu mặt ngựa của đám đầu nậu trong chợ chó dùng dùi cui, roi điện, dao găm, lựu đạn dọa nạt, thậm chí còn bắt bỏ tù.

Sau 20 năm đổi mới, kể từ năm 1986, đảng phải chuyển đổi nền “kinh tế chủ đạo quốc doanh” sang “kinh tế thị trường”, một mô hình của bọn tư bản, để được sống còn trước cơn bệnh tụt hậu ngặt nghèo, 10 năm suýt chết đói cả nước, đảng cộng sản Việt Nam không còn độc quyền bán mỗi món thịt chó nữa nên buộc lòng cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, được tự do bán đủ thứ thịt heo, dê, bò, gà, vịt… để mua chuộc sự trung thành của đám giáo đồ hầu giữ vững cái thây ma chủ nghĩa chó. Đại hội đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006, Đảng đã có dự định đổi mới một lần nữa bằng cách dùng lại thương hiệu cũ là “Đảng Nhân Dân” hoặc “Đảng Lao Động” để phù hợp trào lưu tiếp thị thời đại “a còng @”, đem treo trước lăng Ba Đình là nhà máy chế biến thịt chó đóng hộp bằng phương pháp dây chuyền khoa học của tư bản có cái đuôi Xã hội Chủ nghĩa.

Có thể Đại hội lần thứ XI này đảng ta sẽ quyết tâm quay về nơi khởi điểm để đổi mới.

Nhưng dù cho có tráo đi, đổi lại bao nhiêu bảng hiệu đi nữa, nhân dân cũng đều đã biết tỏng rằng cái đảng này vốn dĩ xưa nay là kẻ lừa đảo. Đánh chết cái nết không chừa. Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng bản chất tráo trở không thể nào thay đổi được.

Đến giờ phút này đã là năm 2011, mà chúng vẫn cứ trơ bản mặt lì lợm ra “treo đầu dê bán thịt chó” như thường, bất cần lời dèm chê, mĩa mai phê phán. Nghĩa là hơn hai chục năm, chúng đã chạy theo gót giầy tư bản, lại là loại tư bản sơ khai, hoang dã từ thế kỷ trước, cấu kết chặt chẽ, mật thiết với bọn đầu tư nước ngoài, cùng nhau ra sức bóc lột sức lao động của người lao động trong nước làm thuê cho chúng với tiền công rẻ mạt mà miệng vẫn cứ hô “Chủ nghĩa Cộng sản” với khẩu hiệu “Tiến lên Xã hội Chủ nghĩa”, lúc nào cũng bi bô nói kiên định lập trường nghe rất khôi hài, tiếu lâm.

Ấy vậy mà, cũng còn khối kẻ đã bị Giáo chủ Hồ cấy “sinh tử phù” hồi cái nẫm, cái hồi gọi là chín năm kháng chiến rồi khiến chán vẫn chưa mở mắt ra được để nhìn rõ cái gian trá, lừa bịp của cái đảng ma giáo, vẫn còn hy vọng có ngày “Bác” sẽ dẫn dắt họ lên thiên đàng Cộng sản!

Đầu Xuân, ta hãy nghe một “lão thành cách mạng”, nhạc sĩ Tô Hải, 83 tuổi, tác giả của “Hồi ký của một thằng hèn”, kể chuyện ông ta bị đảng“treo đầu dê bán thịt chó” lừa như thế nào:

Vậy là tớ đã gặp lại lần thứ 7 một chú mèo con… lần sau ngày ra đời gặp chú “Mèo Đinh”! Tân Mẹo hay… “meo tận” đây không biết? Dù gì thì Tây không bắn chết, Mỹ không bắn chết và nhất là TA cũng chưa thèm bắn chết… Thế là vui rồi!Chỉ tội cho mấy anh bạn đồng trang lứa, đồng niên, đồng khóa, đồng y, đồng tình, bỏ cửa, bỏ nhà, bỏ cả cha mẹ, gia đình tương lai “sáng sữa Nét-lê (Nestlé), tối vang Boóc-đô (Bordeau)”quyết vung gươm ra sa trường giải phóng giống nòi” cứ dần dần ngã xuống mà chẳng được “da ngựa bọc thây” bao giờ! Còn lại vài anh lưng còng, răng rụng thì hôm nay U90 mắt bỗng bừng sáng! Sáng đến… tỉnh cả người khi bị những cái tát của lớp “cách mạng Cộng sản hiện đại, vẫn treo ảnh cụ Hồ, vẫn hô hoán, “học tập GƯƠNG và ĐẠO ĐỨC”của cụ, vẫn KIÊN ĐỊNH đi theo con đường Mác-Lê mà cụ đã đi, vẫn quyết tâm xây dựng Xã hội Chủ nghĩa để khi hoàn thành sẽ “quốc hữu hóa tất tần tật” đề tiến lên Cộng sản chủ nghĩa: “hưởng bao nhiêu cũng được, làm hay không cũng chẳng sao”.

Mãi đến bây giờ, ba mươi lăm năm sau ngày “phỏng giái”, ông “cách mạng lão thành” Tô Hải và các “đồng chí” (chữ này ông tránh không dám dùng tới ở trên, sau một loạt chữ đồng) của ông mới sáng mắt và tỉnh người ra, e… rằng hơi (bị) trễ! Nhân dân miền Nam đã sáng mắt ra ngay ngày đầu tiên khi mấy chiếc xe tăng T.54 tiến vào Sài Gòn. Người đầu tiên sáng mắt ra là nhạc sĩ cổ nhạc Văn Vĩ . Ông này bị khiếm thị bẩm sinh từ bé suốt hơn 50 năm. Thế mà vừa nghe tiếng xích sắt xe tăng T.54 nghiến trên đường Tự Do, hai mắt ông tự nhiện bật sáng. Vật đầu tiên ông nhìn rõ là cái lá cờ phản bội hai màu xanh đỏ có ngôi sao vàng ở giữa, bay phất phới trên nóc xe tăng, đã rước hổ dữ vào nhà, và ông đã khóc thảm thiết suốt ba ngày ba đêm để cho mắt mình mù lại, khỏi phải thấy lũ đười ươi khỉ đột lên làm người, nghênh ngang ngoài đường. Người thứ hai bỗng dưng cũng hết chứng thong manh, mắt không cần phải đeo kính thuốc nữa, vẫn thấy rõ sự thật trước mắt. Đó là cô nữ thanh niên xung phong Dương Thu Hương. Cô đã cùng 140 đồng chí trang lứa, hăng hái tình nguyện vào Nam đợt đầu tiên để giải phóng đồng bào ruột thịt đang bị “đế quốc Mỹ kìm kẹp” như lời tuyên truyền của “Bác”. Sau khi thấy được sự phồn vinh, thịnh vượng, tự do của miền Nam không như lời lừa bịp, láo khoét của đảng, cô đã ngồi bệt xuống vệ đường vừa khóc vừa gào: “Chúng ta đã bị Hồ Chí Minh lừa!” “Một chế độ man rợ lại thắng một chế độ văn minh”.

Và sau đó, hơn một triệu người miền Nam đã bỏ hết nhà cửa, ruộng vườn, gia sản một đời khó nhọc tạo dựng nên, để ùa nhau ra biển trốn chạy cái thiên đường cộng sản mà các “đồng chí” vừa mang vào. Trên đường trốn chạy, hàng vạn người đã vùi thây nơi biển cả.

Nhạc sĩ Tô Hải bộc bạch:

Những gì tớ giải bày tâm can trên blog cuối cùng cũng được một số các vị thành tích cách mạng đầy mình, tướng tá đánh nhau suốt 35 năm không ngừng nghĩ bỗng cùng với tớ nói huỵch toẹt ra những sự thật trần truồng về cái con đường sai lầm mà mình đã đi và bây giờ đã thấy: đã đến lúc không thể dối mình, dối người được nữa.

Thật là ghê gớm. Một sự dối trá, gạt gẫm, bịt mắt nhân dân mãi từ năm 1930 đến nay, kéo dài suốt hơn 80 năm. Có cái đảng nào trên thế giới có thể tàn nhẫn, độc ác, đốn mạt với dân mình hơn cái đảng Cộng sản Việt Nam này không?

Khốn nạn thay! Đến nay trong số ba triệu đảng viên đang bưng tai, bịt mắt, ngậm miệng hưởng ơn mưa móc của đảng, chỉ có một thiểu số, đếm trên đầu ngón tay, mới có can đảm dám nói lên sự thật trần truồng ghê tởm này. Một sự thật bẩn thỉu ẩn tàng bên trong hai chữ “cách mạng – vô sản” là những cán bộ “vì dân, của dân, cho dân”, nay đã hiện nguyên hình dưới mắt nhà “cách mạng lão thành” Tô Hải là “những anh lý trưởng, chánh phó tổng, những quan huyện, quan công sứ, quan đốc lý, quan toàn quyền Vô sản hôm nay, anh nào anh nấy đều… “phi vô sản” đến mức phải “vứt” bớt tiền vào… các nhà băng ngoại quốc sau khi đã xây đủ lâu đài, lăng tẩm cho cả dòng họ ba đời!”.

Và càng mĩa mai, đau đớn hơn nữa cho những nhà “cách mạng lão thành” bị bọn “cách mạng Cộng sản hiện đại”(tức bọn tư bản đỏ) đối xử tàn tệ. Cái cảnh “Chanh đã vắt hết nước vất vỏ, thỏ chết rồi chó già phải vào chảo” thật thê thảm : “… Nó chết rồi cũng hóa ra may! Vì đỡ phải trông thấy những cảnh bất công, vô lý, vô luật pháp hơn cả thời kỳ Pháp thuộc! Đỡ phải ngậm ngùi về cái toàn cảnh “cốc làm cò xơi”, hoặc mới lên tiếng vài câu phản biện nhẹ nhàng đã bị lên án là có “ý đồ xấu”, là “lợi dụng:, là “kích động”, là “diễn biến”…!

Tác giả Tô Hải “Hồi ký của một thằng hèn” còn buồn lòng và buồn nôn hơn nữa khi nhìn quanh những “đồng chí cách mạng “của mình thuở xưa, thấy bọn chúng còn đại hèn hơn mình nhiều cấp. Ôi! Những “anh hùng cách mạng” từng theo “Bác” đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ, thực chất chỉ là một bọn hèn không tưởng tượng được. Những bộ mặt vênh váo, hãnh tiến khi vác vào Nam sau 1975 giống như “Chó một khi nhảy bàn độc” thì sủa kêu ra phết. Tô Hải than: Khi biết cái blog của tớ đã ba lần bị treo “Sinh tử lệnh” và Tần Thủy Hoàng, nhiều kẻ đã “bỏ tớ”, không dám bén mảng thăm hỏi, lúc tớ nằm bệnh viện, chín chết một sống, vì sợ “liên quan”. Và cả không dám công khai nói lên cái mà chính bọn hèn này cũng nghĩ, cũng chửi bới tại các quán cà phê, trong các cuộc ăn nhậu… còn hơn tớ! Buồn thì ít mà buồn… nôn thì nhiều với bọn đại hèn, đại cơ hội chủ nghĩa, đại nịnh, đại liếm, đại cu li văn nghệ này”. Thì ra nước rặc mới biết cỏ thúi của cái đám vỗ ngực “ra ngõ gặp anh hùng”, cán bộ nòng cốt, hạt giống đỏ của đảng chỉ là đám cỏ đuôi chó.

Đó chỉ là vài gương mặt “thực’ tiêu biểu cho lớp “lão thành cách mạng” ngày xưa ở trong rừng, trong núi, không ai biết mặt, biết tên, nên họ tha hồ vẻ bùa, bôi son, trát phấn, thêu dệt huyền thoại “chiến đấu gian khổ” của mình oanh liệt không thua gì “Bác”. Nay cái ông già Tô Hải gần đất xa trời, giận đảng phản phúc, bạc nghĩa, vô ơn. giận trời không có mắt khiến ông phải lâm cảnh trôi sông lạc chợ, khốn khổ thân già, ông nổi giận, ông bèn khai huỵch toẹt ra hết cái đểu cáng, cái gian xảo, cái lừa thầy phản bạn, mãi quốc cầu vinh của bọn chóp bu của cái đảng chết tiệt mà ông và đám “đồng chí” của ông đã bao che, đánh bóng, bưng bô bấy lâu cho nó biết tay, cho thiên hạ rõ mặt bàng môn tả đạo.

Thật ra ông chỉ dám hận cái bọn “Cách mạng Cộng sản hiện đại” thôi chứ không dám hận đến cái tên đầu sỏ đã mang quỉ dữ vào nhà làm cho gia phong điên đảo, làm cho cảnh nhà lụn bại con cháu đời sau phải đi ăn mày ăn xin khắp thế giới.

Người ta giả dụ rằng, nếu ông đừng có cái “mác” tạch tạch xè, giỏi chữ nghĩa, cứ như ngài Đỗ Mười đi thiến heo, hoặc như ngài Lê đức Anh cạo mũ cao su, chữ nhất bẻ đôi không biết… thì đảng đã công kênh ông lên bậc đại công thần rồi. Và giờ này ông đã có thể len lén đi ăn tô phở thịt bò Kobe ở Hà Nội đáng giá 750.000 đồng một tô và len lén bước nhanh ra khỏi cửa, vội chui vào chiếc xe Mercedes để tránh ánh mắt tò mò, xoi mói của bọn nhà báo phương Tây. Và còn hơn thế nữa, trước biệt thự “hoành tráng” của ông ở Sài Gòn hoa lệ chiếc Porsche hai cầu trị giá 1 triệu đô bóng láng, tài xế áo cồn cổ cứng đang chờ để rước ông đi “tham quan” đâu đó. Chớ có đâu ông phải sống nhờ vào cái xe bán bánh mì của bà vợ già ở cái hẻm nhỏ phố Nha Trang, bữa đói bữa no! Và ông cũng còn đang hy vọng rằng ông Hồ sẽ sống lại.

Tiếc thay! Ông cũng đã bị đảng xếp loại “trí thức không đáng giá cục phân” và giờ này còn bị xếp vào loại “tự diễn biến”như “nhiều kẻ đã ra đi mang theo mối hận “mộng ước không thành”làm anh cộng sản cuối đời bị chính chủ nghĩa cộng sản hiện đại xếp vào loại “tự diễn biến” mà không viết được một câu, di chúc lại một lời…”.

Có điều an ủi, nhạc sĩ Tô Hải một thời vang bóng với “Nụ cười sơn cước” cũng có ít ra một người bạn “đồng ý, đồng tình” chia xẻ với mình nổi buồn mang tên “cộng sản” tức “nổi buồn chó đẻ”. Đó là Giáo sư sử học Hà văn Thịnh ở Đại học Khoa học Huế. Ông Gs này khi đọc được bài báo của ký giả Alastair Leithhead trên BBC News nhan đề “Ăn tô phở 35 đô ở nước Việt Nam Cộng sản”. Đọc xong bài báo, mồ hôi ông xuất hạn dầm dề sau đó nằm liệt trên giường bệnh suốt một tuần lễ. Ban đầu người nhà cứ tưởng ông thèm mùi vị đặc biệt của tô phở thịt bò Kobe ông ký giả Mỹ đã ăn mà phát bệnh. Đọc BBC, 21.1.2011, bài của Alastair Leithead, viết về chuyện ông ấy đi ăn tô phở có giá 35USD (tức gần 800.000 đồng) ở Hà Nội xong, tôi choáng váng và tự thề với chính mình rằng kể từ nay, phải lập thiền để minh định chính xác là mình còn chưa bằng con cóc ngồi đáy giếng, thực ra mình chẳng biết khu trời, đít bụt ở đâu, thành thử, lâu nay, về cơ bản, là chẳng hiểu chút chi chuyện đời, cứ nói như gã đang ăn ốc và… mò! Alastair Leihead kể rằng ông “quyết tâm” đi ăn bằng được tô phở đắt nhất Việt Nam (có khi là cả thế giới) vì ông không nghĩ nó có nguyên liệu là thịt bò Kobe (Nhật Bản) nên đắt mà ông muốn biết ai có đủ tiền để ăn, tiền đâu mà ăn?…

Thực ra ông Gs Thịnh này ngã bệnh vì đã quá ức lòng khi nghĩ ngợi:

“Trường đại học nơi tôi công tác, nhận giảng viên (những người giỏi nhất) vào để đi dạy nhằm phát huy nền tảng dân trí, dân khí của nước nhà với lương khởi điểm là 1.290.000 đồng! Làm sao đọc sách cho yên, giảng bài cho tốt khi cái bụng cứ réo những câu khẩu hiệu nhàm chán, nhọc nhằn như có thực mới vực được đạo, cơm ăn một bát sao no? Một cựu sinh vi ên của tôi, được giữ lại trường hơn 10 năm, lương bây giờ là 2,4 triệu đồng. Thằng bạn cùng lớp với nó, học dốt thì đạt đến cỡ âu thâu rầu (ôi thôi rồi), vào làm công an, nay đeo lon thượng úy, lương hơn 4 triệu đồng – tức là bằng lương của tôi, người đã có 34 năm đứng trên bục giảng đại học!

Sự dối trá không phải tìm ở đâu xa – nó diễn ra ngay trước mắt chúng ta, xung quanh chúng ta. Tại sao lương công an cao vòi vọi còn lương của trí thức thì thấp lè tè, thấp hơn cả cái lai quần chị Dậu? Hỏi là đã trả lời vì nó minh bạch hóa một thực tế phũ phàng rằng coi trọng trí thức, phát triển giáo dục chỉ mãi là những khẩu hiệu rối rắm mà thôi.

Và ông Gs Thịnh tội nghiệp này còn nhận ra cái “kiến thức cơ bản” về cái “Xã hội Chủ nghĩa” của mình bấy lâu thật thê thảm khi nghe người ký giả Mỹ nói ra sự thật, một sự thật trần truồng về sự dối trá:

Trong lúc Cộng sản Việt Nam càng ngày càng áp dụng cách làm của chủ nghĩa tư bản, khoảng cách giàu nghèo càng tăng nhanh”. “Cái vỏ là của người cộng sản nhưng bên trong ruột chính là tư bản”. “Dĩ nhiên cờ đỏ treo ở mọi góc phố nhưng hình búa liềm tung bay trên đường đối diện với một cửa hiệu Chanel trong khi các áp phích tuyên truyền chủ nghĩa xã hội nằm ngay gần cửa hàng Louis Vuitton”.Chúng tôi đã thấy lớp vỏ đó - một tập thể các “đồng chí” tại Đại hội đảng nhất loạt đồng tình về đội ngũ lãnh đạo mới. “Có ai phản đối không?” - Vị chủ tọa hỏi với cái nhìn lướt qua. Dĩ nhiên là không. Chất vấn hệ thống là điều không thể dung thứ.Nhưng rồi tất cả những đấu đá, tranh cãi diễn ra sau những cánh cửa đóng kín. Đoàn kết bề ngoài là cách họ thể hiện sức mạnh”.

Cái đảng “Treo đầu dê bán thịt chó” này đã năm lần bảy lượt, suốt 80 năm, thay bảng hiệu nghe rất kêu và quảng cáo ra rả rằng “ăn món thịt chó cộng sản” của Liên xô và Trung Quốc sản xuất nhất định nhân dân ta, nước ta sẽ được độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng… và cứ thế nước Việt Nam sẽ phom phom đi lên từng bước trên con đường Xã hội Chủ nghĩa để tiến vững chắc đến Thiên đàng Cộng sản.

Chúng ta, người Việt hải ngoại, bỏ nước ra đi chỉ vì hai chữ tự do và suốt hơn ba mươi năm chiến đấu không mệt mỏi để chống lại cái giả dối, cái ác của bọn Việt cộng để đòi lại tự do dân chủ cho người dân ở quê nhà. Nhưng lại là một cuộc chiến không cân sức, thế và lực quá chênh lệch. Bọn Việt Việt cộng thì có tất cả. Chúng ta chỉ có hai bàn tay không. Không vũ khí, không tiền bạc, và không cả một hậu cứ che giấu tại quê nhà. Ở đây chúng ta chỉ còn tiếng nói và cây bút là hai vũ khí duy nhất để đấu tranh. Và chiến trường chính là mặt trận chính trị. Chúng ta đoàn kết một lòng tạo sức mạnh, hợp nhất tiếng nói, dùng ngòi bút chính luận, trước để tranh thủ đồng tình của thế giới, sau ủng hộ phong trào nổi dậy trong nước cả tinh thần và vật chất.

Lẽ phải ắt phải thắng tà thuyết. Kinh nghiệm thắng bại từ xưa đã chỉ rõ:

Đắc cương thổ nhi thất nhân tâm, tất bại.

Thất cương cương thổ đắc nhân tâm, tất thắng.

Chúng ta tuy nay không còn cương thổ, nhưng chúng ta có chính nghĩa và nhân tâm của toàn dân nước Việt đang mỏi mắt trông chờ ngày về của chúng ta. Nội ứng ngoại hiệp chúng ta tất thắng.

Tuy nhiên buồn thay, chính ở hải ngoại lại có kẻ trí thức, không hiểu biết thời cơ, không có hành động nào giúp ích cho cộng đồng lại nỏ mồm chê bai những người có tâm huyết, ngày đêm moi tim, vắt óc viết những bài chính luận để đấu tranh chính trị với bọn cộng phỉ là chỉ “chống cộng bằng mồm”. Ở xứ Gia Nã Đại có bà Đốc tờ T. đã già nhưng to mồm lắm. Không biết bà ta có phải cò mồi hay đặc công chìm thi hành Nghị quyết 36 không mà bà ta chỏ mồm sang tận Mỹ, tận Pháp mắng ông Đinh Lâm Thanh và Ls Lê Duy San là “đứng xa la làng đánh võ mồm làm mất nước”. Bà ta còn xúi dại hai ông này “không dám về nước trực diện khuyên bảo, liên minh với toàn thể đại gia đình, với thằng anh khốn nạn mà đối phó với tên hàng xóm thâm độc, giữ gìn tài sản tổ tiên”.*

Bà Đốc tờ già này làm bộ thơ ngây không biết hay quá mê muội là ngay cả đảng viên lão thành trong nước vừa mới mở mồm phản biện vài câu nhẹ nhàng là đã bị đảng kết đủ thứ tội để bỏ tù, thậm chí chỉ mặc chiếc áo có in hàng chữ “HS – TS là của VN” cũng bị công an nhốt như ông Tô Hải thở than.

Nếu bà già trầu này không phải là tay sai của Vẹm dùng kế khích tướng để gài độ, dụ những kẻ ngờ nghệch nghe lời bà “dù còn một hơi thở cũng vác cờ vàng lên đường cứu nước”* kéo nhau về nước, đút đầu vào rọ để cho Vẹm nó hốt trọn một mẻ lưới thì bà ta ắt đang mắc phải chứng “thất tâm phong”, rất nặng, nói toàn những lời điên khùng. Đã ba mươi lăm năm rồi, sao những kẻ có học vị cao như thế lại không sáng mắt ra nhỉ ?

Ngày nào ở hải ngoại vẫn còn cái thứ trí thức “mê cuồng” như bà Đốc tờ già ở Gia Nã Đại thì công cuộc đấu tranh giành chính nghĩa của chúng ta, tập thể người Việt tự do, vẫn còn trở ngại.

Dạo gần đây cái loại trí thức khoa bảng mắc bệnh “thất tâm phong” ở hải ngoại xuất hiện hơi nhiều. Họ cứ nhắm mắt hô hào “hoà hợp hòa giải” tâng công với với Vẹm, trong khi Vẹm đâu cần “hòa giải” chỉ cần “hòa tan” để thu lấy đô la, mà cố tình quên rằng, đối với Vẹm xưa nay, chúng chưa từng dung thứ cho ai không cùng chủ nghĩa, đường lối với chúng.

Bao nhiêu đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng, Đại Việt Dân chính đảng… bị tiêu diệt bởi sự lừa bịp của Hồ Cáo là một bài học quá đắc giá về sự thơ ngây tin tưởng vào chính sách “hòa hợp hòa tan” của ông ta đưa ra dụ khị để cùng nhau đoàn kết tạo sức mạnh, một lòng đánh Pháp.

Khẩu hiệu “Yêu nước là yêu Xã hội Chủ nghĩa” ngày nay cũng vẫn khẳng định tính chất độc tài bịp bợm đó..

Để chấm dứt bài phiếm, người viết xin mượn lời của cựu Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên xô Mr. Gorbachev làm câu kết, ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa cho cái nhan đề “Treo đầu dê bán thịt chó”:

“Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng CS. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng CS chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.

Nguyễn Thanh Ty Boston, 2/9/11

-Chữ nghiêng có dấu hoa thị (*) là trích trong E-Mail của bà Đốc tờ T. ở Canada chê hai ông ĐLT và DS.

Bài Xem Nhiều