We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 30 November 2011

Sứ quán Hà Nội lãnh đạo toán du đảng


Sứ quán Hà Nội lãnh đạo toán du đãng đập phá « quán Cụ Hồ » ở Quận 5 Paris

Chuyện mới nghe qua khó có ai tin được. Quán Cu Hồ là tài sản của Sứ quán VC ở Paris thì làm sao Sứ quán lại có thể gởi du đảng tới đập phá được. Vã lại ở Paris chớ có phải ở Ba đình đâu mà hành xử theo tập quán xã hội chủ nghĩa?
Nhưng chuyện khó tin mà lại có thật.
Sáng ngày thứ bảy 12/11, vào khoảng 8 giờ, thình lình ông Võ văn Thận đang ở trong phòng trên lầu cùng với gia đình vợ và 2 con gái nhỏ 6 và 8 tuổi và có 2 người bạn, con nhà thơ Thanh Thảo từ Quảng Ngãi qua chơi, nghe tiếng đập cửa, vội chạy xuống xem chuyện gì xảy ra. Ông vừa ra khỏi phòng thì bị hai người lạ mặt từ dưới chạy lên, xông tới xô ngược ông trở vào phòng, khóa cửa lại, nhốt cùng với những người kia còn đang ở trong phòng. Nhóm du đảng của Sứ quán Hà Nội tại Paris ở lại quán lục soát trong vòng vài tiếng đồng hồ mới bị Cảnh sát Pháp tới còng tay dẫn đi.
 congkhoa
Quán Foyer Việt nam hay Quán Monge
Quán ăn Monge tọa lạc tại số 80, đường Monge, Paris Quận V. Đây là khu sầm uất vì có nhiều cửa hàng đủ loại và còn là “khu học” hay khu la-tinh vì các Đại Học có tiếng lâu đời như Sorbonne, các Trường Lớn như kỹ sư Hầm mỏ, Cầu cống, Dược, Sư phạm, . . đều tập trung tại đây.
Quán Monge chiếm một địa điểm vô cùng ưu đãi. Là miếng mồi ngon cho người muốn chiếm đoạt để sang nhượng.
Trước 75, nơi đây vẫn là quán ăn của sinh viên Miền nam du học ở Pháp. Là tài sản của Chánh phủ Việt nam Cộng hòa. Giá ăn uống không đắt tiền vì sinh viên phần lớn đều nghèo. Ngày cuối tuần hay ngày lễ, căng-tin đều đóng cửa nên sinh viên tới quán ăn uống và gặp bạn bè. Hoạt động của quán do Tòa Đại sứ Sài gòn quản lý.
Lúc bấy giờ sinh viên quen gọi vắn tắc “Quán Monge”. Mà thật ra trước quán cũng không có bảng hiệu gì khác hơn.
Sau 75, Miền nam mất, Hà Nội tiếp thu và trở thành tài sản của đảng và Nhà nước. Quán mở cửa trở lại cũng bán thức ăn. Cuối thập niên 80, sau khi Liên-sô và Đông âu sụp đổ, Cỏ May có một lần tới đây để gặp vài người “Việt kiều Đoàn kết” nói chuyện về hướng thay đổi có thể hợp tác nhau tranh đấu cho Hà Nội thay đổi theo Liên-sô và Đông âu. Quán không đông khách nên ngồi nói chuyện lâu không bị phiền phức.
Từ mươi năm nay, ông Võ Văn Thận và gia đình tới chấn chỉnh lại mọi việc, từ bếp, tiếp khách, …quán Monge có đông khách.
Khi hay tin Sứ quán Hà Nội lãnh đạo du đảng tới đập phá, hành hung ông Thận và gia đình, Cỏ May và một người bạn rủ nhau tới quán Monge quan sát tình hình và hỏi chuyện ông Thận về sự việc thật tình đã xảy ra như thế nào. Ông Thận vui vẻ tiếp chuyện chúng tôi một cách tự nhiên, thật tình, với bản tánh của dân Nam kỳ đặc sệt, tuần tự kể cho chúng tôi nghe chuyện đã xảy ra tuy lúc bấy giờ hơn 13 giờ, Quán đông chật khách, không còn chỗ. Trước cửa còn vài ba người đứng chờ.
Du đảng của Sứ quán ra tay
Khoảng 8 giờ sáng ngày thứ bảy 12. 11. 2011, một nhóm khoảng 10 người trong đó có 2 người Việt Nam, số còn lại là người Pháp. Hai người Việt Nam là anh em ông Nguyễn Bình nói có giấy tờ về trách nhiệm khai thác Quán do Sứ quán cấp, cùng với những người Pháp kia đã tới Quán Foyer Việt Nam, ở số 80, đường Monge thuộc Quận V, Paris . Họ đập vỡ một ô kính của cửa vào, bẻ khóa, đột nhập vào quán ăn. Sau đó, toán người này triển khai kế hoạch như một đội đặc công thời chiến tranh xâm nhập ở Miền nam trước kia, được huấn luyện thuần thục và tập luyện kỹ càng. Ba người leo ngay lên lầu, gom những người ở đây, xô họ vào trong một căn phòng, không cho họ mặc áo ấm, cấm họ đi tiêu tiểu, dùng một tấm ván đã chuẩn bị sẵn, bịt ngay cánh cửa dẫn ra cầu thang xuống nhà. Những người còn lại, ở tầng trệt, chia nhau thi hành kế hoạch. Với sẵn dụng cụ thợ mộc, người thì đóng kín bằng những tấm ván gỗ tất cả các khung cửa kính nhìn ra hai mặt đường, đường Monge và đường Pestalozzi, để tránh cho người qua lại không trông thấy gì diễn ra bên trong. Chỉ thấy mấy tấm bích chương mới toanh nói " Foyer đóng cửa để sửa sang ".
Bốn giờ sau, khi Foyer được Cảnh sát giải tỏa, người nào có dịp bước vào Quán, đứng từ phía quầy thu tiền, nhìn bao quát hai gian phòng ăn theo hình chữ L, sẽ không thể nào nhận ra quán ăn quen thuộc vì tất cả đã đảo lộn, tung tóe. Nhân viên của Quán đi bới xốc trong đống ngỗn ngang để tìm lại đồ đạt của mình. Hai cái máy PC xách tay (laptop) biến mất. Một cái laptop thứ ba cũng biến mất, cùng với hồ sơ, tư liệu của nhà báo Hồ Nhật Thảo ở Đài TV Quảng Ngãi. Và một chiếc máy nữa chứa đựng hồ sơ kinh doanh của ông Hồ Nhật Chung cũng mất. Nhưng sau đó, mấy chiếc máy PC đều tìm lại được. Tất cả được gói lại để trong đống đồ vật ngổn ngang. Duy có ông Hồ Nhật Thảo bị mất 600 euros mà ông nhận lời cầm về cho một người ở Đà Nẵng.
Về phía ông Thận, sự mất mát nặng nề vì số tranh treo trong Quán – tranh triển lãm và tranh riêng của ông sưu tầm, đều bị toán du đảng lấy đi hết. Họ gom góp tất cả đồ vật có giá trị đem ra đưa lên xe đậu trước Quán và chở đi. Vì theo tinh thần xã hội chủ nghĩa thì đó đều là đồ đạt của TA cả mà!
Một thứ bản chất du đảng xã hội chủ nghĩa
Khi chuyện đã xảy ra, ai cũng tự hỏi tại sao họ dám ngang nhiên hành động giữa thanh thiên bạch nhật, ngay giữa Khu La-tinh, trung tâm thủ đô nước Pháp? Vẫn biết đây là sáng thứ bảy, vào cuối tuần dài, từ thứ sáu 11. 11, lễ kỷ niệm ngày Đại thắng Thế chiến lần thứ nhứt, đến tối chủ nhựt, cho nên Paris vắng hẳn đi. Phần đông dân chúng, trong đó có những quan chức Chánh phủ, đi nghỉ ở xa.
Đứng đầu nhóm du đảng là ông Nguyễn Bình tự xưng là được Đại sứ quán Việt Nam ủy quyền "quản lý" Foyer Việt Nam, nhưng không phải là nhân viên ngoại giao. Người này, theo chủ quán, mấy tuần trước đã tới đe dọa ông bằng tiếng Pháp, có lẽ để nói cho khỏi ngượng miệng chớ chưa chắc học giỏi: "Fais attention à tes enfants" (Coi chừng mấy đứa con của mày), khiến ông Thận đã phải thông báo cho Cảnh sát Quận V ghi nhận sự việc.
Đột nhập vào Quán và tư gia hôm thứ bảy, 12/11 vừa rồi, là hành động thuần chất côn đồ của du đảng do chính Đại sứ quán chỉ đạo. Bởi Đại sứ quán Hà Nội tuy là sở hữu chủ Quán Foyer Monge, nhưng đã giao cho ông Võ văn Thận quản lý khai thác (theo qui chế công nhơn lãnh lương tháng) và gia đình của ông cư ngụ ngay tại đó, thì Đại sứ quán không có quyền đột nhập vào bất kỳ lúc nào như chỗ không người.
Khi đột nhập bất hợp pháp như vậy, toán du đảng của Đại sứ quán Hà Nội lại còn bạo hành đối với người cư ngụ và nhứt là bạo hành trẻ con không tránh khỏi gây chấn thương tâm thần ở gia đình nạn nhơn.
Ông Thận cho chúng tôi biết ông đã thưa với Chánh quyền Pháp sự việc này. Mừng cho ông là có một nhóm luật sư người Pháp, cả một Thẩm phán người Pháp, ông Pascal L. , vừa là khách hàng của quán, vừa là láng giềng quen biết khá lâu, nhiệt tình giúp ông và ủng hộ ông trong vụ thưa kiện tới cùng. Và nhờ ông Thẩm phán Pascal L can thiệp với Công tố viện Paris, cảnh sát tới giải tỏa ông Võ văn Thận, gia đình và 2 người khách ra khỏi căn phòng bị du đảng nhốt suốt 4 tiếng đồng hồ.
Lý do mà Đại sứ quán chỉ đạo cho du đảng hành động côn đồ như vừa rồi chỉ vì họ muốn cho ông Võ văn Thận nghỉ việc từ hai năm nay để thay thế người mới của họ mà không bồi thường đúng theo luật lao động ở Pháp. Ông Thận nhận việc không hợp đồng, nhưng ông đã làm việc liên tục từ hơn mười năm qua, làm cho Quán từ ít khách có được đông khách, không vi phạm lỗi nghề nghiệp, thì đó là hợp đồng lao động vô thời hạn giữa ông và chủ nhơn (Đại sứ quán). Ông Thận nay nhận thấy bộ mặt thật của chủ nhơn nên ông cũng muốn nghỉ vì ông không còn hứng thú để làm việc nữa. Ông chỉ đòi quyền nghỉ việc do phía chủ nhơn quyết định là 10 % trên tổng số lương của ông từ hơn mười năm qua nhung chủ nhơn không đồng ý, mà chỉ muốn ông dọn đồ đạc ra đi êm xuôi mà thôi. Không đồng xu thiệt hại.
Ông đã nhiều lần muốn gặp Đại sứ quán để thương thảo điều kiện nghỉ việc, nhưng đều bị từ chối. Ông đưa luật sư của ông tới sứ quán giải quyết hồ sơ nghỉ việc của ông cũng bị sứ quán từ chối tiếp.
Đúng thôi. Đại sứ quán Hà Nội phải hành xử theo não trạng xã hội chủ nghĩa như họ đã thường xuyên hành động ở Việt nam và lần nào cũng thành công. Ở Paris họ chỉ đạo một toán du đảng mang gậy gộc tới đập phá, hành hung chủ nhà và cả trẻ con để nhằm áp đảo mọi phản ứng của nạn nhơn. Mục tiêu tối hậu là chiếm ngụ Quán Monge trước đã. Ông Thận có kiện thưa, chuyện này sẽ kéo dài trong khi họ đang làm chủ địa điểm. Ở Việt Nam, đảng ta tổ chức “quần chúng bức xúc” đàn áp chủ nhà, chủ đất bị đảng và Nhà nước cướp giựt. Tổ chức công an làm quần chúng biểu tình chống Tàu bảo vệ đất đai để chọn lọc bắt những người biểu tình vì lòng yêu nưóc chơn thành. Tổ chức công an làm Thầy chùa để thu tiền của bá tánh và lùng bắt Thầy chùa tu hành thiệt.
Vì mang nặng não trạng xã hội chủ nghĩa mà Đại sứ quán quên đi Paris không phải là Ba đình, Quán Monge không phải là Thái Hà, Khu la-tinh không phải là nhà quê Việt Nam, …
Hôm ấy, sau khi trật tự được tái lập, đã hơn 13 giờ. Khách hàng quen thuộc tới đều ngỡ ngàng vì không có cơm trưa. Họ đứng nói chuyện với nhau, nghe hàng xóm kể chuyện hồi sáng ở đây. Họ đều bất mãn: “Tại sao lại có chuyện quái đản như vậy được? Đây là xứ Pháp hay xứ nào khác?”
Vài tiết lộ kín đáo của ông Võ văn Thận
Qua sự dò hỏi, chúng tôi được biết ông Võ văn Thận trước kia là người theo quan điểm Miền nam khi tới Pháp. Sau đó, ông mới ngã theo quan điểm Hà Nội và nghỉ việc ở một nhà hàng lớn của Pháp, vào làm cho Quán Monge. Sự thay đổi này có lẽ do nhu cầu của ông muốn có dịp phục vụ quê hương? Thực tế, ông đã xây dựng Quán Monge ngày nay trở thành một nơi làm ăn phát đạt, nơi gặp gỡ thân tình của nhiều người Việt Nam từ Việt nam qua Pháp, của phe “Việt kiều” từ khắp nơi vãng lai.
Có lẽ vì nhiệt tình phục vụ và do bản tánh nam kỳ, ông Thận đã vài lần đụng chạm với quan chức Hà Nội ở Paris khi bày tỏ quan điểm xây dựng tổ chức làm mất lòng cấp lãnh đạo chăng? Không phải vậy đâu. Mọi suy tính và hành động của đảng và Nhà nước Hà Nội đều chỉ vì quyền lợi phe nhóm và bản thân là trên hết.
Họ muốn lấy lại Quán Monge có lẽ họ muốn bán để lấy tiền chia chác nhau một lần cho xong. Lấy tiền từ thu nhập của Quán chia chác lắc nhắc mất thì giờ trong lúc nhiệm kỳ quan chức có thời hạn, không kể những bất ngờ có thể xảy ra. Trước đây, họ đã bán trụ sở Việt nam Thông tấn xã của Chánh phủ Sài gòn ở đường Vaugirard, Paris VI, để lấy tiền chia nhau.
Trường hợp ông Võ văn Thận cho nhiều người Việt nam hải ngoại bài học cũ rít. Nam bộ kháng chiến, Mặt trận Giải phóng Miền nam, …đều bị Hà Nội bóp mũi chết tươi để cướp đoạt sự nghiệp. Vậy mà ngày nay vẫn còn nhiều người Việt nam hải ngoại gốc Miền nam, đang yên thân, lại đâm đầu chạy theo Hà Nội để được xoa đầu, đề cao, khen thưởng, …Đám Việt kiều yêu nước trước kia nay phê phán, kiến nghị vì Hà Nội không biết đánh giá họ đúng mức và sử dụng họ xứng đáng để họ được đãi ngộ công sức đóng góp lớn lao của họ. Có người lớn tiếng chống Hà Nội để chờ được Hà Nội cho người tới bắt tay, …
Tất cả đều thấy bản chất VC là vô ơn bạc nghĩa, trước sau chỉ nhằm mục tiêu mà thôi. Nhưng họ chưa xác tín đó là chân lý nên chưa quay lưng dứt khoát.
Thật tội nghiệp cho họ! 
Nguyễn thị Cỏ May

BÌNH LUẬN CHO VUI: Còn Đảng Cộng Sản Không Bao Giờ Có Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

Vì Sao Ông Dũng Phải Nhắc Đến Việt-Nam Cộng-Hòa

Vì Sao Ông Dũng Phải Nhắc Đến Việt-Nam Cộng-Hòa
Tâm Việt
Vì sao ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ-tướng CSVN, thứ Sáu vừa rồi, 25 tháng 11, đã phải nhắc đến ba lần đích-danh "chính-phủ Việt-nam Cộng-hoà" khi trả lời hai đại-biểu Quốc-hội ở Hà-nội về vấn-đề chủ-quyền của VN trên biển Đông?
Làm việc này, có người cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đã tiến bộ rất lớn so với 3,6 triệu người đồng-đảng của ông trong hơn 36 năm qua kể từ khi CS miền Bắc cưỡng-chiếm xong miền Nam vào tháng 4/1975.  Để hiểu vấn-đề, ta nên nhớ lại là khi CS mới vào Sài-gòn, họ hoàn-toàn phủ-nhận chính-quyền miền Nam và gọi đó là "nguỵ-quân, nguỵ-quyền."  Cho đến khi Nguyễn Văn Linh quyết-định về chính-sách Đổi Mới (1986) thì mới có quyết-định tránh dùng hai chữ "nguỵ-quân, nguỵ-quyền" mặc dầu thỉnh thoảng rơi rớt, các sách báo Hà-nội và các cơ-quan tuyên-truyền của Hà-nội vẫn vô tình hay cố ý dùng hai chữ miệt-thị này.  Nhưng ngày nào Hà-nội còn không công-nhận chỗ đứng chính-danh của chính-quyền miền Nam, một quốc gia được 60 quốc gia khác trên thế-giới công-nhận trong một thời-gian dài (từ 1948 đến 1975), thì ngày đó Hà-nội không giẫy được ra cái nghịch-lý này:
Một là Phạm Văn Đồng, bằng công-hàm ngày 14/9/1958, đã (a) hoặc là "bán da gấu" cho Chu Ân-lai khi công-nhận định-nghĩa chủ-quyền của Trung-Cộng 10 ngày trước đó, nghĩa là bán một vật mà không thuộc quyền sở-hữu của Hà-nội lúc bấy giờ; (b) hoặc là đã trắng trợn dối trá, không nói sự thật, tóm lại là đã "bất tín" đối với Bắc-kinh khi biết rõ là mình viết một tờ giấy lộn.  Cả hai thái-độ đều không thể chấp nhận được trong đời sống quốc-tế và cũng chính vì thế mà Bắc-kinh đã nắm đầu được Hà-nội từ bấy lâu nay vào trong một cái vòng kim-cô không thể gỡ ra nổi.  (Cũng chính vì thế mà ông Lưu Văn Lợi, khi đã bỏ thời giờ ra viết nguyên một cuốn sách về chuyện này, vẫn không gỡ tội được cho ông Phạm Văn Đồng, và chúng ta cũng phải hiểu là cho ông Hồ Chí Minh bởi không thể nào ông Phạm Văn Đồng có thể tự ý mà viết được cái công-hàm "đưa đầu vào thòng lọng" kia.)
Nhưng khi công-nhận một sự thật hiển-nhiên như ông Nguyễn Tấn Dũng vừa làm hôm thứ Sáu vừa qua thì mọi sự sáng tỏ.  Tuy lời phát biểu long trọng của ông trước Quốc-hội CS  ở Ba Đình là một đòn trời giáng vào một vị tiền-nhiệm của ông, nó ít nhất gỡ được VN ra khỏi cái vòng kim-cô mà bấy lâu nay ông và các "đồng-chí" của ông không cục cựa ra khỏi được!
Nó cũng ít nhiều chứng tỏ là ông có bản-lĩnh hơn các cấp lãnh-đạo đồng-đảng của ông (dù cũng như nhiều phát biểu của ông trước đây, nó cũng tỏ ra ông có thể là một con người bất nhất--tựa như lời tuyên-bố của ông chống tham-nhũng khi ông mới ngồi vào ghế thủ-tướng).  Bất nhất nhưng biết sửa cái sai trước đây thì vẫn là một thái-độ can đảm, can đảm hơn 3,6 triệu con cừu trong đảng của ông!
Cái được
Cái được thứ nhất là ông chứng tỏ ông cao hơn các đồng-uỷ-viên Chính-trị-bộ của ông một cái đầu.  Song cái đó chỉ là một cái được cá-nhân, nó chưa ý nghĩa gì lắm khi, như ông Bùi Tín đã có hơn một dịp nhắc, cả cái Bộ Chính-trị ở Hà-nội là một đám người lùn!
Cái được hơn là qua lời phát biểu của ông, ông đã trả lại được danh-dự cho một chế-độ tưởng đã chết.  Không những chế-độ đó đã không chết, nó còn đang cần phải dựng lại để đem chính-nghĩa về cho Việt-nam, để đảm bảo sự liên-tục chủ-quyền lịch-sử của VN từ thế-kỷ thứ XVII (dưới thời các chúa Nguyễn, như chính ông Dũng cũng đã xác-nhận) qua thời thuộc Pháp sang đến thời Quốc gia VN của ông Bảo Đại (Hội-nghị San Francisco năm 1951), thời Đệ nhất Cộng-hoà của ông Ngô Đình Diệm và thời Đệ nhị Cộng-hoà kế-thừa đất nước từ chính-phủ Ngô Đình Diệm.  Có thế tháng 1/1974, Hải-quân VNCH mới dám chống trả (anh-dũng) tàu xâm-lăng của Trung-Cộng vào Hoàng-sa và có thế ta mới tin tưởng đủ ở chính-nghĩa của ta để xin đưa vấn-đề ra Liên-hiệp-quốc.  Xin nhắc lại ngay lời của ông Dũng ở đây: "Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, chính quyền VNCH đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hợp Quốc can thiệp."
Nói như ông Dũng tuy là gan cùng mình song chính thật cũng là chỉ đi theo dân mà thôi.  Bởi chính người dân thường ở ngay Hà-nội, qua nhiều chủ-nhật trong tháng 6 tháng 7 năm nay, đã trưng tên và cả hình ảnh của các chiến-sĩ Hải-quân VNCH chết trong trận hải-chiến Hoàng-sa vào tháng 1/1974 để gọi họ là anh-hùng.  Tóm lại, nói như ông Dũng chẳng qua chỉ là đi theo người dân để mua lại, vớt vát chút niềm tin mà người dân đã mất từ lâu vào đảng CS của ông!
Vì sao?
Thiết tưởng trả lời câu hỏi này cũng không khó.  Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể mù mờ nhiều chuyện (như chuyện bauxit, chuyện PMU 18, chuyện Vinashin...) song ông chắc chắn là một con người chính-trị, nhìn ra được những nguy-cơ sắp đổ vào đầu chế-độ của ông--và thế cũng có nghĩa là vào đầu ông.
Một, chuyện Mùa Xuân Ả-rập đã từ tháng 2 năm nay đánh sập các chế-độ chuyên-quyền--tưởng vững như bàn thạch--ở Tunisie, Ai-cập, Lybia, sắp tới là Yemen (ông Saleh đã bằng lòng từ chức), và có lẽ không bao lâu nữa sẽ đến lượt Syria của ông Bashar al Assad (Liên-đoàn Ả-rập cấm vận chế-độ của ông, Thổ-nhĩ-kỳ kêu gọi ông từ chức).
Hai, Miến-điện đã ngưng dự-án đập Myitsore do Trung-Cộng tài-trợ, thả trên 300 tù-nhân chính-trị, sửa cả hiến-pháp để cho bà Aung San Suu Kyi có thể ra tranh cử trở lại mặc dù bà đã là một "tù-nhân" chính-trị trong hơn 20 năm.  Dựa vào những bước đầu ý nghĩa này, bà Ngoại-trưởng Hoa-kỳ Hilary Clinton sắp sang Miến-điện gặp cả phe chính-quyền lẫn linh-hồn của phe đối-lập là bà Suu Kyi.
Ba, tình-hình kinh tế VN hôm nay vô cùng bi đát, đầu tư ngoại-quốc cạn dần, thị-trường chứng-khoán thì coi như không có, lạm-phát ở mức trên 20 phần trăm (và cao hơn nhiều nữa trong nhiều mặt nhu-yếu-phẩm), hệ-thống ngân-hàng phải tái-cơ-cấu vì có nguy-cơ sụp đổ ngày một ngày hai và chính-quyền đang chuẩn-bị cho một đợt ăn cắp vàng và đô-la của dân... nghĩa là tuyệt vọng!
Trong khi đó thì Trung-Cộng đang ép cho đến tắc thở!
Chưa đủ
Trong thế này, ông Dũng đang tìm cách gỡ bí.  (Ta không nên tin những nguồn tin cho rằng giữa các ông Dũng và ông Sang, ông Trọng đang có những chia rẽ trầm trọng!)  Song cũng phải nói ngay là một lời tuyên-bố như của ông hôm rồi vẫn chưa đủ--dù như sự tương-đối yên lặng của Bắc-kinh trước lời tuyên-bố đó cũng chứng tỏ là nước bước mới của ông đang có hiệu-ứng, làm cho Trung-Cộng khá lúng túng, chưa biết trả lời làm sao.
Điều cần làm hơn nữa là để có hậu-thuẫn từ người dân, ông và những "đồng-chí" của ông cần bắt chước Miến-điện để mà nới lỏng dần chế-độ, đưa 90 triệu dân sớm đến một chế-độ dân-chủ thực-sự, có nhân-quyền, có tự do báo chí và ngôn-luận, có tự do hội họp và quyền thành-lập hội-đoàn, đoàn-thể, công-đoàn để có thể đi đến một chế-độ dân-cử đích-thực trong đó người dân, trong vài ba năm, có thể có được những cuộc bầu cử lương thiện nhằm chọn những đại diện xứng đáng cho 90 triệu dân--đưa đất nước vào một con đường xán lạn.
Tác giả : Tâm Việt

--------

 

Cộng đoàn Boston (MA) thắp nến cầu nguyện cho Thái Hà


Cộng đoàn Boston (MA) thắp nến cầu nguyện cho Thái Hà
VRNs (29.11.2011)- Boston – Được sự hỗ trợ tinh thần của Cha Chánh xứ Daniel Finn, quý Cha quản nhiệm Giuse Nguyễn Chính và Đaminh Nguyễn Văn Tính, các Cộng đoàn, Hội đoàn Công giáo Việt Nam tại Boston, cộng đoàn Dân Chúa Mẹ La Vang, thuộc Giáo xứ Thánh Ambrose, Dorchester, Massachusetts đã tổ chức giờ cầu nguyện và hiệp thông với Giáo xứ Thái Hà vào lúc 6g15 chiều Chúa Nhật 27/11/2011 vừa qua, Chúa Nhật khai mạc mùa Vọng.

Trong cái rét đậm của mùa đông tại miền Đông Bắc Hoa Kỳ, mọi người yêu mến quê hương Việt Nam và yêu mến cộng đoàn giáo xứ Thái Hà không quản ngại lạnh giá, đã đến tham dự giờ thánh này. Tất cả 3 linh mục của giáo xứ Thánh Ambrose đều tham dự với đông đảo giáo dân Việt Nam.

Sau đây là một số hình ảnh:

Chuẩn bị nến cho cộng đoàn
Con và Bố
Tuổi già không quản ngại
Cha Chính xứ Daniel Finn


http://www.chuacuuthe.com/catholic-news/c%E1%BB%99ng-doan-boston-ma-th%E1%BA%AFp-n%E1%BA%BFn-c%E1%BA%A7u-nguy%E1%BB%87n-cho-thai-ha/

THIÊN ĐƯỜNG MỚI :Mỗi năm có đến 5,000 người Việt Nam chết vì thiếu phòng vệ sinh.



VIỆT NAM (TH) - Một phúc trình mới nhất của Ngân Hàng Thế Giới cho biết, mỗi năm có đến 5,000 người Việt Nam chết vì thiếu phòng vệ sinh.

Bảng “cấm tè bậy” nhan nhản khắp phố phường Hà Nội hiện nay. (Hình: Internet)
Theo VNExpress, phúc trình này xác nhận rằng chỉ có khoảng 50% cư dân nông thôn Việt Nam có phòng tiểu tiện hợp vệ sinh. Tỉ lệ còn lại có nhà vệ sinh nhưng... thiếu vệ sinh, đặc biệt tại các trường tiểu học. Vì vậy, hầu hết người dân Việt Nam nín tiểu tiện trong hoàn cảnh này và đó là nguyên nhân dẫn đến 5,000 trường hợp tử vong mỗi năm theo phúc trình trên.
Phúc trình này do các chuyên viên chương trình Vệ Sinh và Nguồn Nước của Ngân Hàng Thế Giới thực hiện cũng cho biết có 8% dân số đô thị Việt Nam thiếu nhà vệ sinh... hợp vệ sinh.
Thực tế cho thấy vùng ngoại thành Sài Gòn hiện nay vẫn còn tình trạng đi đại tiện ở các hố đào công cộng hoặc các ao hồ nuôi cá tra. Bệnh dịch truyền nhiễm phát sinh từ các nguồn nước và phân bẩn này là nguyên nhân gây ra cái chết cho hơn 5,000 người Việt Nam hàng năm.
Một số học sinh được phỏng vấn tại huyện Củ Chi, Sài Gòn cho biết các em luôn nín tiểu vì không chịu nổi mùi hôi thối ở các phòng vệ sinh của trường.
Sợ đi tiểu nên hầu hết các em học sinh nhỏ tuổi này nhịn cả khát.
Cũng theo VNExpress, một phụ nữ ở quận Gò Vấp, Sài Gòn cho biết con gái của bà lập tức lao vào phòng... vệ sinh mỗi lần về đến nhà sau buổi học. Bé gái này đã phải nhịn tiểu ít nhất 4 tiếng đồng hồ vì sợ mùi hôi của nhà vệ sinh ở trường.
Một cư dân ở Sài Gòn cho Người Việt biết, đôi khi các phòng vệ sinh ở các nhà trọ, khách sạn loại trung bình tại các tỉnh miền Trung cũng không hợp vệ sinh. Mỗi lần đưa con đi về miền Trung thăm quê ngoại, bà phải thuê khách sạn “nhiều sao” cho con ở để cháu không mắc tật... nín tiểu.
Một phụ nữ khác cho biết khi về quê ở tỉnh Hà Tây, Bắc Việt cũng phải nín tiểu gần 10 tiếng đồng hồ để ngày hôm sau mau mau đến Hà Nội vào khách sạn mà... tiểu.
Một cư dân Hà Nội còn nói thẳng, con của bà bước vào phòng vệ sinh của trường tiểu học Kim Liên ở Hà Nội bị cay mắt vì mùi khai bốc lên, nói gì đến việc phải đứng đấy vài phút để “trút bầu tâm sự.”
Mặt khác theo báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 27 tháng 11, tình trạng “đái đường” lan tràn ở Hà Nội từ các ngõ hẻm nhỏ chật cho đến các góc phố giữa trung tâm. Một số đường lớn ở Hà Nội như Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt mọc lên nhan nhản các bảng viết tay “Cấm đái bậy” mặc dù ai cũng biết càng cấm thì tình trạng này càng xuất hiện tràn lan.
Báo Sài Gòn Tiếp Thị cho biết có những đoạn đường dài 200m nhưng mọc đến hàng chục bảng “cấm đái bậy.” Các quý ông thích “tiểu đường” không tha cho cả vườn hoa ở đường Lý Thánh Tông và khiến nhiều công viên xinh đẹp bốc mùi xú uế không sao tả nổi.
Cũng theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, một cây đa nhiều tuổi ở phố Lò Ðúc mới đây bị bật gốc thình lình vì không chịu đựng nổi số lượng nước tiểu “tưới tắm” mỗi ngày nhiều không biết bao nhiêu mà kể.
Ở đường Nguyễn Trãi, Hà Nội có một bức tường gạch và một trạm chờ xe buýt bị sập cũng vì bị người “tiểu đường” tấn công liên tiếp hết ngày này đến tháng khác.
Một du khách đến Hà Nội trong những ngày này lắc đầu than về mùi hôi thối om trời vì nạn “tiểu đường” lan tràn khắp nơi. (PL)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=140814&z=2

Tuesday, 29 November 2011

DU LỊCH HÀ NỘI COI CHỪNG TIỀN MẤT TẬT MANG



 Tin Hà Nội - 


Ðến du lịch Hà Nội trong những ngày này, du khách ngoại quốc dễ dàng bị lọt vào bẫy của người dân địa phương. Họ đi từng tốp,tay xách một hộp đồ nghề nhỏ, đảo mắt theo dõi người qua lại để tìm con mồi. Bắt gặp một du khách lướt qua, một người trong bọn tách ra, lập tức đuổi theo. Thế là du khách đó lọt bẫy. Báo chí trong nước cho biết đó là những người đánh giày, họ áp sát du khách, chỉ tay vào chiếc giầy của họ. Không cần đợi ông hoặc bà khách tỏ thái độ đồng ý, người đánh giày cúi xuống thoa lọ xi ra lên giày, quẹt qua quẹt lại vài động tác rồi tính tiền, ít nhất là 10 đô la. Nếu không may mà du khách đó nhỏ lòng thương hại, đồng ý cho người đánh giày thi hành nhiệm vụ thì cái giá phải trả sẽ không dưới 20 đô la một đôi giày. 


 Nguồn tin nói những người đánh giày như thế hiện nay tràn ngập phố phường Hà Nội, từ các phố quanh hồ Gươm cho đến Lò Sũ, Hàng Dầu, Hàng Bè, Cầu Gỗ. Có người đánh giày còn táo bạo hơn, dùng dao rạch rách giày của khách một cách ngang nhiên để buộc du khách phải tháo giày ra cho họ vá lại. Số tiền mà du khách phải trả cho người đánh giày không dưới 40 đô trong những trường hợp không hiếm hoi này. Một vài nhân chứng còn cho hay người trong nước cũng trở thành con mồi của giới đánh giày Hà Nội chứ không riêng gì người ngoại quốc. Một cư dân quận 11 Saigon Gòn cho biết khách du lịch mang giày da thường trở thành nạn nhân của ực lượng đánh giày tại Hà Nội. Phần lớn đành phải ngoan ngoãn nộp tiền cho họ để được yên ổn bước cho mau. Như vậy là không chỉ có du khách đến thành phố Nha Trang mới bị cướp bóc trấn lột. Du khách đến Hà Nội hiện nay cũng phải đối diện với không ít nguy cơ, buộc phải móc tiền ra chung đủ. 


THIÊN ĐƯỜNG CS : Đảng súc vật


Đảng súc vật


Lời người dịch: Có lẽ cuốn sách làm chấn động dư luận của Richard McGregor, The Party: The Secret World of China’s Communist Rulers, vạch ra một lũ súc vật được đẻ ra khi xã hội TQ chuyển hướng từ bao cấp chuyên chính vô sản qua độc tài chính trị kinh tế thị trường mà nước VN rập khuôn và gọi nó là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chủ tịch Sang gần đây có nói về “bầy sâu” mà tôi không biết là có cùng ý nghĩ như ông McGregor nói về một loài thú dữ mới được đẻ ra trong tiến trình “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Nếu mà anh em Nam Bắc đánh nhau để cuối cùng xây dựng một xã hội mô tả như McGregor thì cái chiến tranh huynh đệ tương tàn chết cả triệu người Việt Nam ấy thật sự có ý nghĩa lịch sử gì không ? hay là chính cái chiến tranh ấy là hậu quả của sự độc tài nội tặc ngoại xâm áp đặt lên dân tộc Việt?
Bài điểm sách của Joseph Harriss về cuốn sách của Richard McGregor là một bài tóm tắt rất hay nên tôi chuyển ngữ để chia sẻ với bạn đọc.
Cuốn sách và bài điểm sách được viết năm 2010, trước khi các cách mạng hoa nổ ra và tác giả cũng đoán là cách mạng dân chủ như cách mạng hoa sẽ xảy ra một cách đẫm máu ở TQ. Một số người nhận thức và nói đến “nhóm lợi ích của ĐCSVN” sẽ vì quyền lợi của chính bản thân sẽ ngăn cản bước tiến dân tộc bằng mọi giá. Theo tôi nhóm này chính là những đảng viên ĐCSVN có quyền được đẻ ra thành những loài thú dữ mà ông McGregor đề cập từ khi đất nước Việt ta chuyển qua kinh tế thị trường. Và tôi đoán có lẽ cách mạng hoa cũng sẽ xảy ra tại VN nếu ĐCSVN không chuyển hướng như lãnh đạo Miến Điện. Máu người Việt sẽ đổ ra và trách nhiệm ấy thuộc về tất cả đảng viên ĐCSVN.
———————————————–
 
 
Câu hỏi là, làm thế nào họ thực hiện được? Họ bỏ đói 35 triệu người Tàu cuối thập niên 1950 trong thời kỳ Bước Tiến Nhảy Vọt của Mao. Họ đưa đất nước vào tình trạng khủng hoảng xã hội, kinh tế và chính trị trong giai đoạn Cách Mạng Văn Hóa khủng khiếp thanh trừng vào những thập niên 1960 và thập niên 1970. Họ thảm sát sinh viên biểu tình kêu gọi dân chủ ở quảng trường Thiên An Môn tháng 6 năm 1989. Ngày nay vẫn tiếp tục những bắt bớ tùy tiện, cấm tự do ngôn luận và liên kết lập hội. Vậy làm thế nào ĐCSTQ, mặc dù đàn áp có phủ thuật và cấm đoán những nhân quyền cơ bản, vẫn ngự trị quyền lực trên một phần năm nhân loại? Với sự đổ ngã của Liên Bang Xô Viết, toàn thể Đông Âu loại bỏ chủ nghĩa cộng sản, và sự chấm dứt về mặt lý thuyết của lịch sử, một thời đại được giả sử là đã đoạn tuyệt thì lại có một lũ đầu trộm đuôi cướp tham nhũng hối lộ tự rút rỉa ưu đãi lẫn nhau có thể ngự trị một quốc gia rất rộng lớn và tản hóa. Không cần che đậy để thấy (TQ), trong ba thập kỷ, một nền kinh tế thứ hai trên thế giới và một vị thế chính trị đối đầu với Hoa Kỳ.
 
Giải đáp cái bàn đố con rối là nhiệm vụ mà Richard McGregor tự đặt cho chính ông ta trong cuốn sách Đảng: Thế Giới Bí Mật của Lãnh Đạo Cộng Sản của Trung Quốc. Một phóng viên của tờ báo Financial Times làm việc Tại Bắc Kinh 20 năm, McGregor đã sử dụng kinh nghiệm lâu dài của mình và một cách tường trình vững chắc để sản xuất ra một hình ảnh sáng tỏ, chi tiết của những bộ phận chuyển động của một bộ máy chính trị lớn nhất thế giới. Đi sâu vào đấy, McGregor với ý chí vững mạnh đã đến lúc phải vạch trần những con quỉ này. “Hệ thống CS TQ, nhìn nhiều khía cạnh, mục rữa, trả giá đắt, tham nhũng hối lộ và thường thường không hoạt động bình thường được,” ông viết. “Nhưng thế nào đó, nó lại sống lâu hơn, thông minh láu cá hơn, chứng tỏ hữu hiệu hơn hoặc đẩy những người phê phán nó ra ngoài vòng pháp luật, làm những nhà chuyên gia xấu hổ vì những tiên đoán nó sẽ tự tiêu diệt qua nhiều khúc quanh ngã rẽ. Như một bộ máy chính trị tự hoạt động, Đảng thể hiện là một hiện tượng tuyệt vời và nhiều khía cạnh độc đáo.”
 
Nó (ĐCSTQ) cũng tỏ ra một động thái khó chịu bất an rõ ràng. Một chứng minh gần đây cho thấy Đảng cấm cuốn sách của McGregor vào mùa hè năm nay. Mặc dù cuốn sách không xuất hiện trên danh sách các sách cấm, nó không được bán ở TQ và bất kỳ cố gắng nào mua nó trên mạng đều bị ngăn cản. Trang mạng của Amazon tại TQ trả lời “Trang này không thể được nhìn,” giống như là cho bất kỳ tra hỏi dữ kiện về thảm sát Thiên An Môn hoặc Đa Lai La Ma. Làm như đây là loại sách cho chuyên gia ấn hành ở nước ngoài bằng Anh ngữ và loại sách không thể nào hiểu nổi cho đại đa số công dân TQ. McGregor gọi cái lệnh cấm này “chà đạp một cách thô bỉ, và quá chứng tỏ về sự bí mật mà tôi đã viết.”
Không ai kể cả ông ngạc nhiên cả. ĐCSTQ nắm quyền lực dựa trên một công thức từ kịch bản nguyên thủy của Lenin: hoàn toàn kiểm soát lực lượng nhân viên, tuyên truyền, và quân đội. Tuy nhiên bộ mặt tươi cười của TQ nhìn về những đám đông chen lấn tập trung về Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 và Triển Lãm Thế Giới 2010 tại Thượng Hải mùa hè này, hiện ra những cái tên của những bộ phận thao diễn quyền lức ấy – Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương, Bộ Chủ Tịch – tất cả phơi bày ra rằng hệ thống TQ vận chuyển, như là tác giả gọi nó, “trên phần cứng Xô Viết.”
Cái dụng cụ để cai trị là Ban Tổ Chức Trung Ương của Đảng. Một loại con đẻ trực tiếp của cái Orgburo của Lenin năm 1919, nó một cách trung thành rập khuôn hệ thống nonmenklatura (Đảng quyết định người nào vào vị trí nào) của Xô Viết để cho những công việc quí báu cho một số người trung thành với Đảng. Rất ít người nước ngoài biết và kể cả người trong TQ, nó hoạt động tại một cao ốc to lớn không dấu hiệu bên ngoài gần quảng trường Thiên An Môn và số điện thoại không ấn hành. Những quyết định bí mật của nó sẽ cho ai vào vị trí nào không những chỉ trong chính phủ, nhưng cả trong doanh nghiệp, tư pháp tòa án, báo chí, và cả hệ thống đại học chuyên nghiệp. Nó như là, McGregor viết, một cái bộ nằm ở Hoa Thịnh Đốn quyết định cho toàn người đứng đầu các bộ phận chính phủ của Hoa Kỳ, tất cả các thủ hiến tiểu bang, và thủ hiến của tất cả các thành phố lớn; các chánh án của Tòa Phúc Thẩm; các tổng giám đốc của các công ty GE, Exxon Mobil, Walmart, và hàng tá các công ty khác; cả những tổng biên tập của những tờ báo và giám đốc những đài TV; cộng thêm những viện trưởng các đại học Yale và Harvard và những người đầu não của những viện nghiên cứu chiến lược như Brookings và Heritage Foundation.
Bí mật như thế, hệ thống nuông chiều một cách có hệ thống chỉ có thể đưa đến sự tham nhũng vĩ đại sâu rộng. Cán bộ Đảng cai trị lãnh thổ của riêng họ như những cái chợ buôn bán không ra mặt nơi mà những vị trí công việc của chính phủ được mua bán một cách bán chính thức theo hệ thống “trả tiền cho cuộc chơi.” Điều tra riêng của McGregor tìm ra một vụ cán bộ ở Suihua trả 100 ngàn cho ban tổ chức để trở thành bí thư đảng. Một cán bộ khác trả 44 ngàn cho một vị trí bí thư đảng ở vị trí nhỏ hơn, nhưng sự đánh bạc này trong hai năm kiếm được gần 740 ngàn, một cái đầu tư trả lại cả vốn lẫn lời gần 1700 phần trăm.
Tuyên bố tại một phiên họp của bộ phận chống tham nhũng của Đảng năm 2006, Tổng Bí Thư (TBT) Hồ Cẩm Đào lưu ý rằng “Cái bom nổ chậm này đang chôn ở dưới xã hội có thể … đưa đến những loạt nổ mà có thể gây ra khủng hoảng và làm tê liệt sự lãnh đạo.” Nhưng ông ta biết rõ hơn ai hết, hệ thống Đảng cho phép các cán bộ chóp bu quản lý lẫn nhau. Do đó hối lộ bây giờ như chuyện hàng ngày to lớn cỡ nhiều triệu đô la để chỉ được một vị trí lãnh đạo cấp thấp. Tác giả (McGregor) so sánh tham nhũng của ĐCSTQ với “một loại đóng thuế lan tỏa giữa giai cấp lãnh đạo. Trong khía cạnh ấy, nó trở thành loại keo gắn bó hệ thống lại với nhau.”
Trọng tâm của hệ thống là CS, nhưng mà ý tưởng cứng nhắt mà đặt nền tảng cho nó – và dẫn đến sự ngã đổ của chủ nghĩa CS Sô Viết – đã được loại bỏ một cách cẩn thận. Sau cụ thảm sát ở Thiên An Môn, Đặng Tiểu Bình, người mà bắt đầu cải tổ thị trường cho TQ năm 1978, vạch ra một đường lối linh động mới cho Đảng: “Về vấn đề kinh tế, cai trị mềm mỏng; về vấn đề chính trị, cai trị xiết chặt.” Các lãnh đạo Đảng học tập nhanh chóng để nói chuyện hai lề, ca ngợi chủ nghĩa Marx trong những buổi nói chuyện công khai đồng thời trong khi ấy vơ vét thủ lợi doanh nghiệp để leo cao hơn làm giàu hơn.
Kiểu xoa nắn của bàn tay thường thường hữu hiệu với cả người nước ngoài: trong một cuộc viếng thăm Bác Kinh nhiều năm trước, Rupert Murdoch tuyên bố ông ta không gặp một người CS nào ở TQ. Thật ra ông ta có thể tìm thấy không dưới 78 triệu đảng viên mà nhiều người là triệu phú. Về việc lý tưởng của Đảng, Chen Yuan, đảng viên, nhân viên ngân hàng cao cấp, và là con trai của một cựu cán bộ thời Cuộc Viễn Chinh (thời theo Mao), nói thẳng thừng: “Chúng tao là ĐCSTQ, và chúng tao quyết định chủ nghĩa CS nghĩa là gì.”
Nói một cách toàn kiện, họ cố gắng né tránh bị nhòm ngó là người CS. Các lãnh đạo giấu cất các bộ áo kiểu Mao trong tủ ngoại trừ những buổi lễ lớn của Đảng. Khi Hồ Cẩm Đào công du nước ngoài, ông ta mặc quần áo kiểu doanh nhân và chính thức không nói mình là TBT của ĐCSTQ, nhưng mô tả mình đi thăm với tư cách chủ tịch nước TQ. Hành động này che dấu bớt đi cái mác lý tưởng – cộng sản, tôi à ? – và cho ra một bề ngoài giả tạo ông ta là một người được bầu một cách dân chủ thay vì được lựa chọn bởi BCT trong phòng kín. Như một giáo sư ở viện đại học Bắc Kinh giải thích cho McGregor, “Đảng như là Thượng Đế. Người ở mọi nơi. Ông không thể không thấy Người được.”
Để cho chắc, công dân TQ vẫn cảm thấy Đảng mọi nơi, nhưng ít cứng rắn hơn. Mặc dù những thành viên côn đồ của Đảng sẽ mạnh tay với bất cứ người nào hay nhóm nào được xem là thách thức sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, ngày nay nó thích làm theo kiểu dụ giỗ, hợp tác, vuốt ve hơn là ép buộc. Một thí dụ gần đây về thái độ mềm mỏng hơn là Tombstone, một cuốn sách ấn bản 2008 của phóng viên Yang Jisheng bởi nhà xuất bản Xinhua.
Sau nhiều năm gần gũi nghiên cứu, Yang chi tiết ra cả ngàn trang giấy những kinh khủng và chịu đựng của thời Bước Tiến Vĩ Đại của Mao, một đề tài nhậy cảm cho Đảng. Mặc dù không có tiệm sách hay nhà xuất bản nào dám đụng đến sự lên án của sự dã man của ĐCSTQ, cuốn sách được bán ở Hong Kong. Và, thật là kỳ diệu, Yang chưa bị bắt hay bị sách nhiễu. Đảng quyết định là che dấu cuốn sách bằng cách cấm không cho phổ biến tin tức về nó trên báo chí. “Nhà cầm quyền không còn ngu như ngày xưa,” Yang nói. “Nếu việc này xảy ra hồi xưa, tôi đã trở thành một xác chết và gia đình tôi đã bị tiêu diệt.”
Là một phóng viên tài chánh, McGregor đặc biệt mạnh miệng trên cái lối thân thiện úp mở với doanh nghiệp của Đảng. Mặc dù chính phủ đã sa thải 50 triệu nhân viên trong doanh nghiệp nhà nước trong cải cách kinh tế, ông ta (McGregor) báo cho những nhà quan sát Tây phương biết đừng nhầm lẫn chuyện này với tư hữu hóa thị trường – Đảng lãnh đạo hoàn toàn doanh nghiệp nhà nước. “Những con súc vật doanh nghiệp mà xuất hiện từ sự sinh sản đau đớn lâu dài thành cái Tổng Công Ty tên là TQ là một loài thú dữ mới lạ,” ông ta viết, “cả hai loài thương mại và CS.”
Về một mặt, nhà nước vẫn làm chủ hoặc 100 phần trăm hoặc chủ chiếm đa số cổ phần những doanh nghiệp từ dầu hỏa, chóa chất dầu hỏa, khai thác quặng mỏ, và ngân hàng đến vễn thông, sắt thép, điện, và hàng không. Về mặt khác, tất cả các người đứng đầu của những doanh nghiệp lớn là đảng viên và răm rắp nghe lời khi Bắc Kinh ra lệnh – như khi chính phủ ra lệnh ngân hàng xả tín dụng ra thị trường, thường thường đi ngược lại sự phán đoán của họ để đối đầu với tình trạng tài chánh khủng hoảng hiện tại. Trên bàn làm việc của khoảng 50 người, có cái quan trọng nhất để trên bàn là cái “máy đỏ,” một loại điện thoại ẩn số đặc biệt kết nối những lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, chính phủ và doanh nghiệp.
Tổng biên tập báo và tổng giám đốc đài TV cũng thường nhận những cú gọi, ngay cả họ không có “máy đỏ” trên bàn. Nó từ Ban Tuyên Giáo Trung Ương cho chỉ thị tuyên truyền cho ngày. Một lần nữa, Đảng xử dụng bàn tay mềm, tin tưởng vào báo chí “tự trật tự.” Nhà báo TQ không cần phải được bảo phải viết bài như thế nào, một tổng biên tập nói với McGregor. “Có một cái vạch đỏ trong đầu của họ.”
Dân chúng Hoa Kỳ sớm sẽ nhận được thêm về quan điểm của Đảng về thời sự khi Ban Tuyên Giáo chuẩn bị những trạm báo chí ở hải ngoại. Cơ quan Xinhua gần đây tuyên bố những kế hoạch mở trạm thông tin ngay tại Times Square ở New York, với Reuters, News Corp., và New York Times là những trạm láng giềng. Nó sẽ cung cấp tin tức cập nhập định hướng theo TQ đưa vào đài CNC World, đài liên tục 24 giờ của cơ quan. Đây là một phần của quyết định của Đảng tiêu hàng tỷ đô la để tạo ra một đế quốc thông tin toàn cầu đối đầu với những thứ mà Đảng xem là thiên vị sai lạc khi đưa tin tức về TQ.
Sau khi cấm cuốn sách này, Đảng thật sự rõ ràng qui định bản nghiên cứu của McGregor là thông tin thiên vị lệch lạc. Tất cả mọi lý do để mua cuốn sách, là để khám phá ra rằng những gì Đảng không muốn chúng ta biết làm thế nào Đảng thật sự điều hành quốc gia và làm thế nào cái chủ nghĩa tư bản của Lenin hoạt động. Cuốn sách nên được đọc như là một mũi thuốc trừ độc cho cái làn sóng kỷ niệm 90 năm của Đảng sang năm. Đảng đã chuẩn bị hàng ngàn nhà nghiên cứu đưa ra những hàng rào chắn tuyên truyền về lịch sử Đảng từ lúc được thành lập năm 1921. Thế giới sắp được nghe hơn là họ muốn về làm thế nào Đảng “một cách thành công đã đoàn kết và dẫn dắt nhân dân TQ thành đạt những kỳ diệu,” như phó chủ tịch Ban Chấp Hành Trung Ương Tận Cập Bình gần đây tuyên bố.
Chừng nào Đảng bị đào thải? Cái đó chắc chắn sẽ xảy ra, có lẽ đẫm máu, cái ngày mà nhân dân TQ quyết định làm giàu không chỉ là lẽ sống, nếu họ không có cái quyền sống tự do dưới một chính phủ dân chủ do họ thật sự bầu ra. Họ đã đi đến đó phần nào, sau khi mất niềm tin vào cộng sản. Như một giáo sư tại Đại Học Tsinghua ở Bắc Kinh nói với McGregor, “Lãnh đạo Đảng nhận thức rằng họ không còn những lý luận ưu trương để nắm quốc gia nữa. Lý luận duy nhất chia sẻ giữa chính phủ và dân chúng là tôn thờ tiền bạc.”
Nguồn Anh ngữ: Party Animals
Tác giả: Joseph Harriss. Mai Việt Tú chuyển ngữ


THIÊN ĐƯỜNG MỚI : Công An Nước Tôi




Người ta nói công an là thành phần nòng cốt và là công cụ được dân trả tiền để dùng vào việc bảo vệ xã hội, nhưng ở trên đất nước của tôi, thì tôi không nghĩ là như vậy. Một định nghĩa chính xác của tôi là công an được dựng lên để trung thành và bảo vệ quyền lực của đảng thì đúng hơn. Nếu bạn hỏi, tôi có sợ công an hay không? Câu trả lời không cần phải ngập ngừng của tôi: "Tôi sợ họ lắm chứ! Bởi vì có bao giờ họ đứng về phía của người dân mà bảo vệ tôi đâu!" Đó là tôi chưa nói đến những vụ việc long trời lỡ đất mà họ thường xuyên làm một cách ngang nhiên mà chẵng bao giờ đến xĩa gì đến luật pháp đó nhé! Ở nước tôi, công an có cái quyền bắt bớ và đánh đập bất cứ một ai họ thích miễn sao nạn nhân đó đừng có dây mơ rễ má gì đến những quan chức cấp cao của nhà nước là được rồi. Đã có nhiều việc xãy ra tưởng chừng như chỉ trong kịch bản những phim xã hội đen của Hàn Quốc, nhưng nó lại là sự thật một trăm phần trăm ở trên cái xứ sở thiên đường xã hội chủ nghĩa nước tôi. Chuyện công an đánh chết người vì vi phạm giao thông, chuyện công an bắt bớ người trái phép, chuyện công an mướn xã hội đen đánh dằn mặt người dân... Ôi, nhiều lắm... Tôi không thể nào kể hết được đâu.


Nếu bạn là người nước ngoài và bạn không tin những điều tôi kể trên ư? Xin mời bạn hãy đến thăm quê hương tôi, nơi mà đất nước tôi đang chuẫn bị tiến đến cái thế giới văn minh nhất nhân loại đó là "Chủ nghĩa xã hội". Nơi mà không có những cái cảnh ông chủ người da trắng bụng mập ú, tay cầm ly rượu nho, miệng ngậm điếu xì gà và lúc nào cũng bóc lột trên sức lao động của người dân nghèo đâu. Nếu bạn có thấy, thì bạn chỉ nhìn thấy đám công an, mật vụ mà thôi. Họ là những người làm việc vô cùng chăm chỉ lẫn ngày và đêm, nhưng bạn đừng có lầm tưởng là họ đang canh chừng giấc ngũ an lành cho bạn đấy nhé. Họ săn lùng, rình rập và bắt bớ những ai dám mở miệng nói xấu lãnh đạo của họ, mặt khác thì họ cũng tìm đủ mọi cách xão quyệt để bắt bạn phải nộp tiền cho họ. Mà phải nộp một cách kính cẩn và thành kính, chứ không phải là muốn nộp sao thì nộp đâu! Công an nước tôi họ khó tính lắm, bạn mà lộn xộn, thì bạn sẽ bị nộp phạt gấp hai hoặc ba lần đó! Tiền này họ gọi là tiền ngu bởi vì bạn không biết thành khẩn và lễ phép với họ.


Chuyện công an ở nước tôi mà viết ra thì phải dầy gấp mấy lần cái quyển truyện Chiến Tranh Và Hòa Bình của cái ông nhà văn gì người Nga viết... Mà công an ở nước tôi cũng đặc biệt lắm. Không biết là sau khi được tuyển chọn vào ngành công an, thì họ có bị mất trí nhớ hay không, nhưng tôi có một thằng bạn cùng học chung thời trung học. Sau khi nó trở thành anh công an, có những lúc nó nhìn thấy tôi, thì nó lơ tôi luôn! Riêng tôi nghĩ rằng chắc nó lâu ngày không gặp lại tôi, nên có thể nó không nhận ra tôi chăng? Vì vậy, khi tôi thấy nó, tôi gọi: "Hùng! Tao nè, thằng Thắng ngày xưa học chung với mày ở trường Đồng Tâm đây!" Nó nhìn tôi với ánh mắt xa lạ và đặc mùi của kẻ bề trên, nó nói: "Tao biết chứ, nhưng bây giờ tao là công an, nên tao không kết bạn với thành phần như mày đâu." Ui, cha mẹ ơi! Cái thằng chết tiệt này! Bộ nó tưởng nó là ông trời con chắc! Các bạn thấy chưa? Công an xứ tôi đặc biệt như vậy đó! Xa lánh bạn bè và thậm chí không nhận đến cả người thân của chính họ nữa... Thật là không còn gì để nói nữa và tôi cho rằng chắc họ đã được huấn luyện và bị tẩy não nên trong đầu của họ, không ai hơn ngoài đảng và họ chỉ biết trung thành với đảng, chứ không bao giờ trung thành với dân.


Tôi còn nhớ cái thời bao cấp, mấy ông công an ốm nhom ốm nhách à! Chắc tại lúc đó mấy ông công an này chỉ kiếm chác được chút ít để nuôi vợ, nuôi con thôi, nhưng bây giờ thì đã quá khác xưa rồi. Đất nước mở cửa và làm ăn kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nên mấy cha nội này có cơ hội kiếm chác nhiều hơn nên ông nào bụng cũng phệ và toàn mùi rượu bia ngoại quốc đắt tiền.


Chắc không có cái nghề nào sướng bằng cái nghề công an ở xứ tôi! Này nhé,  họ vừa được trả lương để đánh người, lại vừa được có cái cơ hội kiếm ăn. Mà nói đến chuyện làm kinh tế thì tôi phục mấy ông công an của tôi sát đất. Không biết mấy ổng học được cái gì ở trong trường đào tạo công an, mà ông nào cũng biết làm kinh tế hết! Ông công an lớn, thì có mấy cái nhà hàng hoặc khách sạn khổng lồ kinh doanh. Ông nhỏ hơn một chút, thì có một vài cái nhà nghỉ mát nhỏ nhỏ rồi bảo kê cho mấy cô gái chân dài hành nghề mãi dâm để kiếm sống qua ngày và đã là cơ sở làm ăn của công an, thì đố ai mà dám động vào họ chứ?


Công an nước tôi là thế đó, bạn có thích hay không thì tùy bạn, nhưng mà bạn đừng có lắm chuyện mà nói năng lăng nhăng trước mặt họ đấy nhé! Dùi cui đập vào đầu bạn lúc nào cũng miễn phí ở đất nước tôi cả. Nếu bạn không tin, thì bạn có thể thử ở bất cứ nơi nào mà bạn thấy có hình bóng anh công an thân thương của chúng tôi. Họ đánh dùi cui và đá đấm vào người bạn một cách rất là chân thành chứ họ không biết vẻ vời khách sáo gì đâu. Đó là đặc điểm của người công an nhân dân nước tôi là như thế đấy. Dùi cui đi trước để thay cho lời nói. Mà như vậy thì cũng tốt bởi vì họ đở phải hao hơi tổn tiếng mà la hét làm gì. Cứ đánh thật mạnh vào, thì còn ai đâu nữa làm dám đứng lên kêu gào phản đối! Bạn đừng ngạc nhiên và có những cảm giác tội nghiệp cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ không thích đâu bởi vì chúng tôi đã quá quen với những cái cảnh đó rồi. Khi mà điều gì đó đã trở thành quen thuộc, thì ai mà hơi sức đâu để ý đến nó làm gì có đúng không?


Công an nhân dân ở nước tôi có lẽ sẽ khác với nước bạn nhiều lắm. Ví dụ như, thay vì nhiệm vụ của họ là bảo vệ luật pháp, thì ngược lại, luật pháp nước tôi được dùng để bảo vệ lại họ. Bạn không đồng ý với tôi về điểm này đó là quyền của bạn, nhưng nếu đã đến nước tôi rồi, thì mong rằng bạn hãy tuân thủ theo những điều lệ đó và đừng bao giờ tỏ ra có thái độ bất mãn với họ. Nhà tù ở nước tôi lúc nào cũng mở rộng cánh cửa hơn cả cái cửa của nhà chùa để đón chào tất cả mọi người. Nếu bạn không may mà phải vào tạm trú trong đó, thì bạn phải nhớ rõ là bạn phải nhận bất cứ tội gì họ gán ghép cho bạn nhé bởi vì châm ngôn của họ là: "Không, đánh thành có. Mà có, thì họ đánh cho què!" Đừng ý kiến, ý cò mà mang họa vào thân bởi vì họ có biết nghe đâu mà bạn mất công phải nói với họ!


Ngôn ngữ đất nước tôi vốn rất là đa dạng, vì vậy, chúng tôi có rất nhiều loại công an lắm. Nào là công an mạng, công an khu vực, công an kinh tế, công an an ninh, công an gác đường, công an gác chuồng heo, công an gác mồm (đây là công an đặc biệt được dùng để bịt miệng người dân) v.v. Ôi, đủ tất cả các loại công an hết. Mỗi ngành đều đặc tính và sở trường riêng của họ, ai làm việc nấy không chồng chéo với nhau và cùng một mục đích chung là phục vụ cho đảng.


Không biết công an ở đất nước bạn ra sao, nhưng ở nước tôi thì họ như thế đó. Nếu đến viếng thăm đất nước chúng tôi, hãy nhớ lấy những lời tôi căn dặn để bạn có một chuyến du lịch thật là bình yên và vui vẽ.

Tác Giả: Nông Đức Dân

Chuyện Cười CSVN : Người bán sách



Người bán sách



Một người Sài Gòn vừa bị công an tống giam vào ngục. Trong lúc anh đang ngơ ngác thì các người tù khác vây quanh anh và hỏi :


- Tại sao anh bị vào tù ?


- Tôi là nhân viên bán hàng ở một tiệm sách và bị tù về tội đã bày trong tủ kính chân dung tổng bí thư Đỗ Mười.


- Như vậy có gì đáng bị tù đâu? Ngưỡng mộ lãnh tụ là tốt sao lại bị tù?


- Tại tôi vô tình đặt dưới chân dung tổng bí thư Đỗ Mười cuốn "Thằng Ngốc" của Dostoevski.


- Tại sao anh không làm kiểm điểm và xin lỗi, rồi dẹp cuốn "Thằng Ngốc" đó đi.


- Tôi đã làm như thế và thay vào đó bức ảnh chụp tổng bí thư và vợ cùng các con ông ấy.


- Như vậy càng quí chớ có tội tình gì đâu? - nhưng kỳ này tôi lại sơ ý đặt dưới bức hình đó cuốn sách "Gia Đình Bất Hạnh".


- Rồi sau đó ra sao ?


- Công an đến cảnh cáo tôi; tôi dẹp cuốn sách đó ngay và thay bằng bức hình của toàn bộ chính trị của đảng cộng sản Việt Nam.


- Lần này anh có đặt phía dưới cái gì không?


- Có mới chết chứ! Tôi lại sơ ý để cuốn "Alibaba và 40 tên cướp" dưới bức hình của toàn bộ Chính Trị của đảng cộng sản Việt Nam. - Thế nên, anh bị họ đưa vào đây?


- Chưa, sau khi đút lót ít tiền, tôi được bỏ qua và lần này tôi để hình "Cu Hồ" vào đó.


- Thế thì tuyệt quá. Vậy tại sao anh còn bị đưa vào đây ? - Vì sơ ý, tôi đã để quên cuốn sách "Tên Trùm Mafia" dưới chân dung "bác".


Sưu Tầm

CHÚ TIỂU CHÙA CỔ PHÁP



Một buổi chiều, khi sư Khánh Vân đang dạo bước ngắm hoa ở sân sau thì chợt nghe tiếng người ồn ào đâu phía trước. Chú tiểu Công Sơn từ ngoài đi vào lật đật lại gần sư thưa:
– Bạch thầy, không biết ai đã đem một đứa bé trai bỏ trước cửa chùa. Nó đang khóc dữ quá. Cũng có một số thôn dân đang đứng quanh đấy bàn tán xôn xao, xin thầy ra xem thử.
– Mô Phật, để đó thầy ra xem sao!
Sư thong thả đi trước, tiểu Công Sơn cũng nối gót theo sau. Những người dân đang đứng quanh đứa trẻ thấy sư đi ra thì đều hướng về sư chắp tay xá và nói như đồng loạt:
– Nam mô A Di Đà Phật!
– Mô Phật, chào các đàn việt!
Một người đàn bà thưa:
– Bạch thầy, không biết con ai đem bỏ đây, nó khóc quá mà ai bồng nó cũng không chịu. Chúng con đều thử cả rồi nhưng không thể nào làm nó nín. Tội nghiệp thằng nhỏ trông kháu quá!
Đứa trẻ được đặt nằm ngửa trên một tấm vải thô màu nâu, đang quơ tay quơ chân khóc dữ dội. Sư Khánh Vân tiến lại gần đứa trẻ, đứng nhìn nó. Đứa trẻ bỗng im bặt chăm hẳm nhìn lại sư rồi vươn tay lên như đòi bồng. Mọi người có vẻ ngạc nhiên lắm. Sư quay lại hỏi:
– Thế các đàn việt có ai biết đây là con ai và người nào mang nó lại bỏ đây không?
Một người đàn ông thưa:
– Bạch thầy, con đang gánh củi ngang qua đây thì thấy một người đàn bà từ nơi này đi ra có vẻ hấp tấp lắm. Ban đầu con không để ý làm gì nhưng sau đó con nghe tiếng trẻ khóc, con ngạc nhiên nhìn lại thì thấy đứa trẻ này, khi ấy người đàn bà đã khuất dạng mất rồi. Con lại gần thì đứa trẻ càng khóc thét lên, con phải dội ra. Kế đó những người này kéo lại, thấy đứa nhỏ dễ thương ai cũng muốn bồng nhưng hễ ai đưa tay đến là thằng nhỏ lại hét lên. Không ngờ bây giờ thấy thầy nó lại im thin thít và đòi bồng như vậy, kể cũng là một sự lạ. Con nghĩ có thể đứa trẻ này có duyên với chùa.
Nhà sư ngồi xuống cạnh đứa trẻ, nó mỉm cười vói tay lên nhưng nhà sư không bồng, nói với mọi người:
– Bây giờ các đàn việt hãy giúp thầy dò tìm người nào đã đem con bỏ lại nơi này. Tìm ra, thầy sẽ có cách nói chuyện và tìm giải pháp giúp thân nhân đứa trẻ. Thầy nghĩ người nào đó chắc có một nỗi khổ tâm. Trong khi chờ đợi tìm ra tông tích đứa bé, thầy nhờ một đàn việt nào đó đem đứa bé về săn sóc, chùa có thể phụ cấp cho về mặt vật chất. Thầy xem tướng đứa trẻ này không phải tầm thường đâu. Nào, nó nín khóc rồi, đàn việt nào lại bồng nó về đi!
Một người đàn bà tiến lại:
– Thầy để con lo việc này cho!
Nhưng khi người đàn bà đưa tay toan bế đứa trẻ thì nó giẫy nẩy và khóc thét lên. Người đàn bà cố gắng mấy lần nhưng vô hiệu.
– Thôi, con xin chịu!
Mấy người khác đều thay nhau thử bồng nhưng đứa trẻ nhất quyết không chịu và cứ một mực đòi sư Khánh Vân. Sư Khánh Vân gọi chú tiểu Công Sơn lại bế thử thì người ta lại ngạc nhiên thấy đứa nhỏ nín khóc và chịu cho bồng. Mọi người đều cười :
– Thôi, quả là thằng nhỏ có duyên với Phật rồi!
Sư Khánh Vân lấy làm lạ bèn khiến tiểu Công Sơn bồng đứa nhỏ vào chùa. Khi được tiểu Công Sơn bồng đi vào cổng thì thằng bé nhoẻn miệng cười có vẻ thích chí. Sư Khánh Vân thấy vậy cũng cười, quay lại nói với mọi người :
– Mô Phật, bây giờ tạm thời cứ yên yên như vậy đã. Nhưng thầy nhờ các đàn việt phải tìm gấp tông tích thân nhân đứa trẻ cho thầy nhé!
– Bạch thầy, chúng con sẽ cố gắng.

Từ khi chú bé được đem vào chùa, tiểu Công Sơn phải bận rộn hơn một chút. Tuy thế, để bù lại, cái không khí trong chùa lại khởi sắc vui vẻ hơn. Chú bé không mấy khi khóc, không làm nũng. Những khi sư Khánh Vân và tiểu Công Sơn bận kinh kệ hoặc công việc, chú bé một mình đùa nghịch vui vẻ với mấy món đồ chơi chứ không làm phiền ai hết. Quá lắm, chú chỉ bò quanh trong phạm vi được tiểu Công Sơn “khoanh vùng”. Sư Khánh Vân, tiểu Công Sơn và những khách đến lễ chùa đều cảm thấy vui vẻ khi đùa chơi với chú bé. Chú tỏ ra rất thông minh, bắt chước tiếng nói khá nhanh và biết nghe lời dạy bảo. Không như những đứa trẻ khác, chú không ăn uống ẩu, không chơi dơ. Khi cần đi cầu đi tiểu chú cũng kêu và chờ người lớn giúp đỡ chứ không bao giờ làm bậy. Vào chùa được mươi ngày thì chú biết ngồi. Sau đó không lâu chú được tập đứng, tập đi và chỉ ba tháng sau là chú có thể đi lui tới khắp chùa.
Sự có mặt của chú nhỏ trong chùa không làm trở ngại việc tu học bao nhiêu mà lại tăng thêm sự vui vẻ nên sư cũng như tiểu Công Sơn không còn nôn nóng trong việc tìm tông tích thân nhân đứa bé nữa. Bốn tháng trôi qua, vẫn không thêm được một tin gì khác về gia đình chú nhỏ, sư Khánh Vân đành cười:
“Con ai đem bỏ chùa này,
Nam mô A Di Đà Phật, con thầy, thầy nuôi!”
Bấy giờ sư Khánh Vân mới tính đến việc chọn một cái tên cho chú nhỏ. Không biết con ai làm sao biết họ gì? Sư suy nghĩ rồi quyết định cho chú nhỏ lấy họ Lý, họ của sư. Sư lại đặt tên cho chú nhỏ là Công Uẩn. Ở trong chùa bên cạnh sư, tất nhiên Công Uẩn cũng trở thành chú tiểu.
Khi bắt đầu dạy chữ nghĩa, sư Khánh Vân vô cùng ngạc nhiên về sự thông hiểu mau chóng và nhớ dai của Công Uẩn. Giảng đâu hiểu đó, đọc đâu nhớ đó, chẳng bao lâu Công Uẩn có thể đối đáp văn sách ngang ngửa với tiểu Công Sơn. Riêng về thơ phú thì Công Uẩn vượt hẳn cả tiểu Công Sơn. Trong thơ của Công Uẩn thường toát ra một thứ khẩu khí kỳ dị. Như một hôm Công Uẩn phạm lỗi, bị sư phạt trói nằm giữa bệ đặt tượng Phật suốt đêm, Công Uẩn đã đọc ra hai câu “Đêm khuya chân mỏi không dám ruổi. Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng”. Sư Khánh Vân nghe vậy vừa mừng vừa sợ. Hằng ngày sư càng chuyên tâm dạy dỗ cho Công Uẩn hơn.
Hôm ấy có một vị sư phương xa vân du đến viếng chùa Cổ Pháp. Vị sư trông dáng dấp oai nghi thông tuệ, đó là sư Vạn Hạnh. Sau khi cùng khách lễ Phật rồi dẫn khách viếng quanh chùa một vòng, sư Khánh Vân mời sư Vạn Hạnh vào nhà khách uống trà.
– Này sư huynh, không hiểu sao bần tăng thấy cảnh sắc nơi đây có vẻ khác thường lắm! Trong chùa có gì lạ chăng? – sư Vạn Hạnh hỏi.
– Sư huynh thấy có sự lạ sao? Chùa này lâu nay vẫn thế có gì khác đâu!
– Dám hỏi, sư huynh được mấy đệ tử?
– Chẳng dám giấu sư huynh, bần tăng chỉ có hai đệ tử, đệ tử lớn Công Sơn là người vừa dâng nước đó. Đệ tử nhỏ Công Uẩn hiện đi lấy củi chưa về.
– Thế lâu nay sư huynh có theo dõi chuyện thời thế đến không? Theo bần tăng nhận xét, rồi đây đạo có thể gặp khó khăn đấy.
– Sư huynh hay vân du khắp chốn nên rõ tình hình. Bần tăng cứ ru rú một chỗ thế này chẳng biết gì cũng lấy làm thẹn. Có gì xin sư huynh rộng lượng chỉ bảo cho biết.
– Không dám, tuy nhiên bần tăng cũng không ngại ngùng đưa ra những nhận xét thô thiển của mình xem có hợp ý sư huynh không. Quả tình bần tăng có vân du nhiều nơi thật, nhưng đến nơi nào thấy cảnh sắc già lam cũng tiêu điều, bần tăng lấy làm lo lắm. Không ngờ khi đến đây thì thấy cảnh sắc lại khác hẳn, thật đáng mừng. Nếu quả sắp tới đây có pháp nạn thì chính nơi này là chỗ cứu đạo đây.
– Sư huynh nói thế chứ bần tăng và tiện đệ tử đức mỏng tài cạn mà trông gì!
Tuy nói thế nhưng sư Khánh Vân lại vui nghĩ tới người học trò nhỏ của mình. Bấy lâu nay sư đã có nhận xét so sánh giữa hai đệ tử của mình, thực là một trời một vực. Cũng lúc ấy, tiểu Công Uẩn vác một bó củi đi vào. Sư Vạn Hạnh nhìn thấy tiểu Công Uẩn thì giựt mình. Tiểu Công Sơn liền ra ngoài báo cho Công Uẩn biết chùa đang có khách.
– Đệ tử Công Uẩn xin ra mắt sư bá và sư phụ.
Sắc mặt sư Vạn Hạnh sáng hẳn lên. Sư gật đầu cười với Công Uẩn rồi nhìn sư Khánh Vân :
– Mừng cho sư huynh có một đệ tử xứng đáng.
Sau khi chào khách, tiểu Công Uẩn đi lo công việc. Sư Khánh Vân khi ấy cũng tươi nét mặt nói với sư Vạn Hạnh :
– Sư huynh chắc biết xem tướng! Sư huynh thấy tiện đệ tử thế nào?
Sư Vạn Hạnh gật gật cái đầu :
– Quí lắm! quí lắm! Về học vấn Công Uẩn đã đạt tới mức nào rồi?
Sư Khánh Vân bèn đem tông tích, đạo hạnh cùng học vấn của Công Uẩn kể hết cho sư Vạn Hạnh nghe.
Suy nghĩ một lúc, sư Vạn Hạnh nói :
– Sư huynh có thể nào cho bần tăng mượn Công Uẩn một thời gian được không?
– Để làm gì?
– Thú thật với sư huynh, bần tăng có một đệ tử võ nghệ siêu phàm, bần tăng muốn cho Công Uẩn được truyền thụ cái võ nghệ đó. Đồng thời, bần tăng cũng muốn có một thời gian ngắn gần gũi với Công Uẩn để chỉ dạy cho y một ít kiến thức về thuật kinh bang tế thế.
– Đâu cần thiết phải vậy? Thật sự Công Uẩn cũng đã được bần tăng truyền một chút võ nghệ đủ giữ thân rồi. Một kẻ đã muốn rời vòng tục lụy còn ôm cái thuật kinh bang tế thế vào người đâu có hay. Bần tăng muốn tiện đệ tử chăm lo kinh sách để sớm đạt đạo mà giác ngộ đại chúng thoát cảnh trầm luân trong bể khổ là toại nguyện rồi.
– Như vậy là sư huynh chưa hiểu ý bần tăng. Thú thật với sư huynh, bần tăng vốn cũng có học chút đỉnh về việc xét đoán thời thế, xem tướng người. Nếu bần tăng không nhìn sai, rồi đây đạo Phật có thể vướng vào vòng nước lửa, đất nước ta có thể rơi vào tròng nô lệ. Chúng ta rất cần một người có khả năng cứu nước giúp đời, mà người đó, dưới mắt bần tăng, có thể là Công Uẩn.
– Xin lỗi sư huynh, lý của sư huynh bần tăng thấy còn mơ hồ. Lôi kéo một người có khả năng đi tới bến giác trở lại vòng tử sinh, bần tăng thật áy náy lắm. Thôi thì xin sư huynh tha cho tiện tử.
- Đạo có thể bao trùm vũ trụ nhưng người theo đạo không nên tách rời với sự an nguy của tổ quốc. Bần tăng sở dĩ phơi cả lòng mình ra mà thỉnh cầu sư huynh, chính là vì nước mà cũng vì đạo nữa.Nếu như nước bị tàn phá, dân chịu gông ách nô lệ, sư huynh có thể thoải mái ngồi tìm chân lý giải thoát được không? Những kẻ vô thần, dị giáo họ có thể để sư huynh yên ổn ngồi tu không? Việc đời luôn luôn biến cải, nếu mình cứ nhất nhất đi theo một nguyên tắc e rằng lạc hậu đến phải ân hận mất. Giả sử đạo Phật có giới cấm sát sinh, nhưng nếu vùng mình ở có một con cọp cứ luôn làm hại người, mình có thể vì giới cấm mà cứ để cho con cọp giết người mãi hay không? Sư huynh cho rằng Công Uẩn có khả năng đi tới bến giác, thì tới bến giác cũng chỉ có mục đích cứu độ chúng sinh chứ gì? Đồng ý là khi đã đạt đạo, cái khả năng cứu độ, giải thoát sẽ nhiệm mầu hơn nhiều, nhưng chẳng lẽ cứ hướng tới đó mà lơ cái việc cứu vớt những kẻ trầm luân ngay bên cạnh mình, cho như thế là bị níu kéo, bị trở ngại?
Bậc nhân giả ở trong chốn ba quân hay giữa trường đời đen bạc nhưng vẫn giữ đuợc tâm ý tự tại, tùy hoàn cảnh mà phuơng tiện độ sinh cũng là một cách tu vậy. Không lý việc diệt gian trừ tà để cứu chúng sinh thoát cảnh trầm luân binh lửa cũng là tội? Giờ đây, vua Đại Hành đã già mà chưa lập Thái tử, con trai ngài thì quá đông, rõ ràng là mầm loạn chứa sẵn rồi. Các đại thần trong triều thì mỗi người riêng một bụng. Chắc chắn sẽ có cảnh huynh đệ tương tàn xảy ra. Nước Tàu tham lam thì khi nào cũng rình rập cơ hội để thôn tính nước Đại Cồ Việt ta. Nếu sư huynh cho Công Uẩn đi với bần tăng mà sau này lời dự đoán của bần tăng không đúng, tất nhiên Công Uẩn sẽ trở về với sư huynh thôi. Còn nếu sư huynh không chịu nghe bần tăng mà sự việc ấy quả xảy ra thì e công đức của sư huynh sứt mẻ nặng. Xin sư huynh suy nghĩ kỹ.
Sư Khánh Vân trầm ngâm suy nghĩ. Sư biết người học trò của mình khác thuờng đấy. Nhưng sư làm sao dám nghĩ rằng chú tiểu đó lại có khả năng làm thay đổi vận nước? Sư Vạn Hạnh hy vọng có quá đáng không? Sư cũng có nghe phong phanh về những sự tác oai tác quái của một số quan lại địa phương dựa vào sự che chở của một số đại thần đang gây thế lực trong triều. Những dự đoán của sư Vạn Hạnh nghiệm ra cũng có lý lắm. Cuối cùng sư Khánh Vân buông xuôi:
– Sư huynh đã nói cạn lời như vậy bần tăng đâu dám ngăn cản. Tuy nhiên, nên để cho chính Công Uẩn tự quyết định vẫn hay hơn.
Sau đó, tiểu Công Uẩn đã theo sư Vạn Hạnh về chùa Lục Tổ.
Mấy năm sau, Lý Công Uẩn vào Hoa Lư làm quan. Nhờ tài năng xuất chúng, đức độ siêu quần, không bao lâu uy tín ông lan rộng trong dân chúng cũng như ở triều đình. Chưa tới 30 tuổi ông đã được phong chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Cũng thời gian này, nhà Tiền Lê đang ở trên đà tuột dốc kinh khủng. Vua Lê Đ ại Hành tuổi già bệnh hoạn liên miên cho nên suy tính rất lầm lẫn. Mùa xuân năm Giáp Thìn (1004) ngài mới lập con thứ ba là Long Việt lên làm Thái tử trong khi mộng lớn đã căng đầy trong đầu óc các hoàng tử khác.
Tháng 3 năm Ất Tỵ, vua Đại Hành qua đời. Thế là ba vị hoàng tử Ngân Tích (con cả), Long Kính, Long Đĩnh nổi loạn đánh nhau luôn 8 tháng ròng Long Việt mới chính thức lên ngôi được. Ngân Tích bỏ trốn rồi bị giết, Long Kính, Long Đĩnh đầu hàng. Nhưng chỉ ba ngày sau, Long Đĩnh lại thuê người lẻn vào cung ám sát được vua Long Việt.
Long Đĩnh cướp ngôi xưng là Khai Thiên Ứng Vận Thánh Văn, Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế. Vụ ám sát vua Long Việt xảy ra làm các quan lớn nhỏ của triều đình kinh hoảng bỏ chạy tứ tán. Chỉ còn lại viên quan Thân Vệ Lý Công Uẩn ở lại ôm thây vị vua xấu số mà khóc. Hành động trung thành và can đảm này của Công Uẩn đã chinh phục được sự nể nang của Long Đĩnh. Nhưng Long Đĩnh lên ngôi lại liền bị các hoàng tử Long Ngân, Long Kính nổi dậy đánh tơi bời. Phải hơn một năm sau Long Đĩnh mới dẹp yên được loạn lạc.
Long Đĩnh có lẽ là ông vua tàn bạo nhất hoàn vũ. Bình thường ông ưa lấy chuyện giết chóc làm trò vui. Nhiều lần ông thân xuống nhà bếp tự tay thọc huyết bò heo gà vịt rồi trao cho nhà bếp. Ông bắt tử tù quấn rơm vào mình, tẩm dầu rồi đốt cho nóng chạy trước khi chết. Ông bắt tù leo lên cây rồi sai đốn cây cho ngã. Ông sai trói tù dưới chân cầu để chờ nước lên xem tù chết ngộp như thế nào. Nghe ở Ninh Giang có nhiều rắn độc, ông sai trói tù bên mạn thuyền rồi cho bơi qua bơi lại để cho rắn cắn. Có khi ông cho để mía trên đầu nhà sư mà róc vỏ rồi giả vờ trật tay cho dao bổ xuống đầu làm cho chảy máu, trong số đó có nhà sư Quách Ngang, nhà sư có tiếng đương thời.
Năm Nhâm Thân, ông đánh dẹp giặc Mán, bắt được một tù trưởng đem về đánh đập hành hạ. Tên này chịu không thấu kêu tên tục vua Đại Hành mà chửi. Thế mà Long Đĩnh sung sướng cười ha hả vì lâu nay Long Đĩnh vẫn hờn giận vua cha đã cố ý không truyền ngôi cho mình.
Long Đĩnh lại hoang dâm vô độ nên mắc bệnh không ngồi dậy được. Lúc thiết triều ông thường phải nằm nghiêng nên người thời bấy giờ vẫn quen gọi là Ngọa Triều. Thế mà ông vẫn tìm niềm vui bằng cách sai mấy tên hề nhại tiếng những viên quan tấu trình công việc làm chốn triều đình không còn thể thống gì hết.
Trong tình trạng triều đình như thế, sư Vạn Hạnh bèn ráo riết bí mật vận động sắp đặt tạo ra một cuộc chính biến để cứu vớt lê dân. Dân chúng đồn ầm lên về chuyện có một cây gạo lớn ở làng Diên Hồng bị sét đánh gẫy, trên thân cây bị tróc vỏ thấy có mấy chữ “Hòa đao mộc lạc, thập bát tử thành”. Chữ hòa, chữ đao, chữ mộc hợp lại thành chữ Lê, chữ thập, chữ bát, chữ tử hợp lại thành chữ Lý. Câu chữ Hán trên chiết tự và giải nghĩa thành “Lê rụng, Lý thành”. Không bao lâu khắp quân đội lẫn dân chúng đều nghe lời “truyền sấm” đó….
Giữa lúc đó thì vua Ngọa Triều bỗng mắc bệnh nặng rồi qua đời. Người con mới 4 tuổi của ông được ông di chiếu truyền ngôi.
Thấy cơ hội đó, một viên quan có thế lực trong triều là Đào Cam Mộc bèn đến gặp Lý Công Uẩn và bàn:
– Hồi trước đức vua tối tăm bạc ác nên lòng trời chán ghét, con ngài thì bé nhỏ quá làm sao kham nổi việc nước trong buổi đa nạn này? Dân chúng trông chờ chân chúa như khát nước mong mưa. Thân Vệ nên theo gương Thang, Võ để cho dân nhờ. Trước đây họ Lê lấy nước củ a h ọ Đinh được coi là chính đáng thì nay nếu Thân Vệ làm việc này cũng vậy, trên hợp ý trời dưới thuận lòng dân chứ khư khư giữ cái tiết mọn làm gì?
Lý Công Uẩn trả lời:
– Ông muốn đem cái họa giết ba họ đến cho tôi sao? Tôi không dám nghe đâu!
Đào Cam Mộc trở về. Nhưng hôm sau ông lại đến gặp Công Uẩn, nói:
– Lời sấm đã nói rõ họ Lý sẽ dấy lên, đổi họa ra phúc cho đất nước, Thân Vệ còn ngần ngại gì nữa?
Lần này thì Công Uẩn xiêu lòng:
– Ý ông và sư Vạn Hạnh giống nhau, nhưng làm sao cho trong ấm ngoài êm?
– Dân đang đói khổ, Thân Vệ là người công bình, khoan thứ vỗ về ai không nghe?
Được sự bằng lòng của Công Uẩn, Đào Cam Mộc chủ động triệu tập các quan, lợi dụng lòng căm ghét củ a h ọ đối với vua Ngọa Triều, ông thuyết phục họ tôn Công U ẩn lên ngôi Hoàng Đế. Cuộc chính biến đã xảy ra không đổ một giọt máu.
Chú tiểu Công Uẩn của chùa Cổ Pháp bấy giờ đã trở thành vua Lý Thái Tổ. Ngài là vị vua khai sáng ra triều Lý, một triều đại tiếng tăm lừng lẫy về những chiến công phá Tống bình Chiêm, khiến các lân bang lớn nhỏ đều phải kiêng nể.
Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ cho dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Về nông nghiệp, ngài cho đắp đê Cơ Xá để tránh thủy tai hàng năm làm thiệt hại mùa màng. Về văn học, ngài cho lập Văn miếu để tôn sùng Nho học và mở khoa thi Tam giáo (Phật, Lão và Nho giáo).
Vốn xuất thân từ cửa thiền, Lý Thái tổ đặc biệt trọng đãi và khuyến khích Phật giáo. Ngài phong sư Vạn Hạnh là Quốc Sư và cho sưu tầm Tam Tạng kinh điển để truyền bá đạo Phật. Ngài cũng cho xuất tiền kho để xây 8 ngôi chùa ở phủ Thiên Đức (châu Cổ Pháp cũ, quê hương ngài). Tại thành Thăng Long, ngài cho lập chùa Thiên Ngự, chùa Vạn Tuế và cung Thái Thanh. Bên ngoài thành Thăng Long thì ngài cho xây các chùa Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thổ, Thiên Đức và Thiên Quang. Ngoài ra, những chùa đổ nát ở các đị a h ạt khác đều được ngài cho tu sửa.
Việc cải tổ lớn lao nhất của vua Lý Thái Tổ nhờ ảnh hưởng của Phật giáo là bãi bỏ được hình luật đặt vạc dầu và nuôi cọp beo để trừng trị tội phạm như dưới hai triều Đinh, Lê. Bản sắc từ bi của Phật giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính sách trị dân của cả triều Lý. Như vua Lý Thái Tôn tha tội không giết Nùng Trí Cao, người đã nổi loạn, vì ông ta là người còn lại duy nhất của một dòng họ. Như vua Lý Thánh Tôn không giết vua Chiêm Thành là Chế Củ. Cũng chính vua Thánh Tôn, vào một mùa đông cực lạnh, đã ra lệnh phát áo chăn cho tù phạm và cho xét giảm tội và tha bớt. Không có một vị vua Lý nào hiếu sát hay hoang dâm quá độ.
Có thể nói nhà Lý là triều đại có chính sách cai trị dân khoan hồng độ lượng nhất trong lịch sử mà không một triều đại nào khác theo kịp.
Ngô Viết Trọng

Bài Xem Nhiều