We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 30 December 2011

Những bức tranh biết lên tiếng

2011-12-29
Vì một lý do rất ngẫu nhiên, gần đây, tại Paris có một họa sĩ đã nảy ra ý kiến vẽ những bức tranh của những nhà bất đồng chính kiến hiện đang bị cầm tù hay đã được tự do. Và ông dùng tiền thu được từ những bức tranh này để góp phần vào việc giúp đỡ thân nhân của họ. Thông tín viên Tường An ghi lại những cảm tưởng chung quanh những bức tranh biết lên tiếng cho Nhân Quyền này, kính mời quý vị bấm vào đây để nghe:  
Bức tranh chân dung Đỗ Thị Minh Hạnh và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng của Họa sĩ Trần Lân.

Những bức tranh Nhân Quyền

Trong những ngày lễ, Tết sắp đến, sẽ có những thức ăn rất ngon trên bàn ăn của mọi gia đình. Thế nhưng, trên bàn ăn của thế giới, món ăn Dân Chủ, Nhân Quyền hãy còn thiếu mà trong một số quốc gia người ta phải còn mua với một giá quá đắt, và rất nhiều người đã phải trả bằng chính tự do của họ. Và đó cũng là lý do mà những bức tranh, tạm gọi là những bức tranh Nhân Quyền, được ra đời bởi một họa sĩ già bên Pháp. Khi nghe tin con của anh Ba Sài Gòn ra đời khi anh đang ở trong tù, rồi anh Điếu Cày bị bắt, Họa sĩ Trần Lân đã nảy ra ý tưởng là vẽ chân dung của các nhà bất đồng chính kiến mà ông vẫn gọi là các chiến sĩ Tự Do để gây quỹ cho thân nhân của gia đình họ. 
Từ tháng 9 năm 2011 Họa sĩ Trần Lân đã đặt bút vẽ những bức tranh đầu tiên của Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đỗ thị Minh Hạnh và qua quỹ Tù Nhân Lương Tâm mà ông cũng là thành viên, gửi về cho gia đình họ. Vì ông bị bệnh suyễn nặng, nói năng có phần mệt nhọc nên chúng tôi tiếp xúc với cô Trần Tuyết Lan, con gái của ông và được cô cho biết:
“Ông cụ tôi nảy ra ý kiến là nếu ai muốn Ông vẽ chân dung thì gửi hình qua email, Ông sẽ gửi bức chân dung trở lại, mỗi người đặt sẽ xung vào quỹ Tù Nhân Lương Tâm từ $50 - $100 tùy hảo tâm. Thì lúc đó là khoảng tháng 9 năm nay, đầu tiên là anh Lê Minh, ảnh đặt 1 bức cho Đỗ Thị Minh Hạnh và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, đôi lứa trẻ tuổi mà anh dũng mà vì tù đầy đã chia rẽ thì ông cụ tôi nhất định phải vẽ họ đứng bên nhau. Sau đó thì tin của ông Trương Văn Sương qua đời trong tù nên ông cụ tôi phải vẽ ngày một bức chân dung để gửi về cho gia đình ông ta trong dịp giỗ cúng. Sau đó thì theo thời cuộc và thứ tự những người đặt tranh thì ông cụ tôi có vẽ hình của ông Lưu văn Bảy, cựu quân lực Việt nam Công Hòa, ông Huỳnh Ngọc Tuấn, nhà văn và luật sư Huỳnh văn Đông cũng là do anh Lê Minh và anh Phùng Mai đặt. Rồi đến hình anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải do ông bà Trần Lê Quang ở Paris đặt.  Sau đó là anh Nguyễn Bảo Tư đặt một lúc 3 hình của ba người mà anh ngưỡng mộ là linh mục Nguyễn Văn Lý, cô Phạm Thanh Nghiên và nhà báo Trương Minh Đức.”


Chân dung nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn của Họa sĩ Trần Lân. Courtesy Họa sĩ Trần Lân.

Trong ngày phát giải thưởng do Mạng Lưới Nhân Quyền tổ chức tại Úc, ông Trần Lân cũng đã gửi hai bức tranh của Luật sự Cù Huy Hà Vũ và cô Đỗ Thị Minh Hạnh, là hai nhân vận được nhận giải thưởng năm nay, đến Ban tổ chức. Trong cái nhìn đầu tiên, mọi người đều nghĩ đó là hình chụp vì sự sống động của nó. Anh Nguyễn Thái Hải, người đã mua cả hai bức tranh đó cho biết cảm nghĩ của anh:

“Nhìn vào 2 bức tranh thì thấy hết sức là sống động, có nét giống như là một hình chụp vây đó! Khi tôi giới thiệu đến với một số người đến dự ngày hôm đó nói đó là bức chân dung vẽ, nhưng có nhiều người không tin cứ nghĩ đó là chụp. Thật ra nhìn thấy quá xúc động! Khi mà họa sĩ vẽ lên chân dung của 2 vị phải nói đó là anh hùng của đất nước Việt Nam mình. Đỗ thị Minh Hạnh là một cô gái quá non trẻ  nhưng mà thật là đúng một nữ anh thư, không biết bao nhiêu sự đè ép, đánh đập, tra tấn nhưng cô ta vẫn dửng dưng, tôi rất ái mộ, kính trọng vô cùng. Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nếu anh ta sống cuộc sống an lành của ảnh thì anh ta giàu có lắm rồi, nhưng anh ta dấn thân để tranh đấu cho Dân chủ, cho Nhân quyền cho Việt Nam mà anh ta bất chấp mọi gian lao, tù đày. Đó là một cái gương quá cao cả.”

Bức tranh lên tiếng cho Nhân Quyền đầu tiên của họa sĩ Trần Lân là bức tranh vẽ Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đỗ Thị Minh Hạnh, bức tranh ấy đã vượt đại dương để đến với gia đình của Hùng và Hạnh. Không sao nói hết được nỗi xúc động của gia đình khi nhìn thấy chân dung hai con mình trên nền vẽ. Từ bên kia đại dương, đã có những người nghĩ đến con mình và họa lên trang giấy, điều đó gợi lên cho gia đình một cảm giác thân mật, gần gũi. Ông Đỗ Ty, cha của cô Minh Hạnh nói lên cảm xúc của mình:

“Khi mà mới nghe tin chứ chưa nhận, chưa cầm bức tranh thì gia đình cũng có xúc động rồi là tại vì những người ở xa lạ, những người ở đất khách quê người mà cũng có những ý nghĩ là nó gần như là nó ở bên cạnh mình đó, thành ra gia đình rất là cảm động, và hơn nữa là người đó hình dung, vẽ những tâm tư họ vào bức tranh thành ra bức tranh rất là sống động. Khi gia đình nhận rồi thì không riêng gì Bố Mẹ xúc động mà gần như là cả trong dòng họ, anh em đều có đến xem và cũng đều có ý nghĩ chung như gia đình vậy đó cô. Còn riêng bé Hạnh thì nghe kể thôi chứ cũng không được xem bức tranh đó, cũng không nên, nhung mà bé Hạnh cũng thấy phần ấm áp trong đó.”

Chung tay hỗ trợ 

Ông Trần Lân, tên thật là Trần Thúc Lân, năm nay đã gần 78 tuổi, ông đã vẽ ngay từ thời còn là công chức trong bộ Thông Tin của Việt Nam Công Hòa, ông cũng là thầy dạy vẽ cho các con của bác sĩ Trần Kim Tuyến. Ngoài ra, ông cũng đã nhiều năm ấm lạnh với các họa sĩ nổi tiếng như Nguyễn Gia Trí, Trần Bình Lộc. Những tài tử nổi tiếng như Gene Kelly, Fred Astaire, Burt Lancaster...  cũng mua rất nhiều tranh của ông, thế nhưng ông vẫn rất khiêm nhường, không cho mình là họa sĩ mà chỉ tự gọi mình là một “thợ vẽ” Chị Lan, con gái của ông cho biết:


chân dung LS Huỳnh Văn Đông của Họa sĩ Trần Lân. Courtesy Họa sĩ Trần Lân
“Ông cụ tôi rất thích vẽ chân dung từ thời còn trẻ, vì ông thích vẽ giống thực, nên ông không bao giờ tự cho mình là họa sĩ, cứ tự cho mình là thợ vẽ  vì ông  có sáng tác gì đâu? Ông chỉ vẽ cho thật là giống thôi. Vì thời gian không cho phép, nên ông chọn vẽ bút chì màu, vừa gọn, lại dễ gửi đi xa. Khi vẽ chân dung thì ông phải tìm hiểu về người mình vẽ, nhất là các chiến sĩ Tự Do, thì lại càng cần hiểu biết về quá trình tranh đấu của người ấy, nên ông cố tìm hiểu về tất cả các cá nhân mà ông vẽ. 
Ông hay vẽ chân dung trên nền cảnh phản hiện ý trí tranh đấu của mỗi người trong tranh mà càng tìm hiểu về họ tôi càng kính mến họ hơn. Gương hy sinh của họ thật cao cả, cho ông vững niềm tin ở tương lai đất nước còn trong tay những người anh dũng như họ. Ông vẫn cứ nói, ở hải ngoại, chúng ta dù già trẻ, lớn bé, nam nữ hay giàu nghèo... ít nhiều ai cũng phải góp tay để hỗ trợ các chiến sĩ Tự Do quốc nội. Cá nhân thì ai cũng chỉ là giọt nước trong biển cả, nhưng tất cả đều phải muốn thành hạt nước làm vỡ bờ, thì tất nhiên bờ sẽ vỡ.”
Vâng, mỗi giọt nước sẽ tạo thành biển lớn, cũng trong ý nghĩ đó, anh Nguyễn Thái Hải xem việc mua  tranh của mình như một đóng góp nhỏ nhoi vào công cuộc vận động Dân Chủ Nhân Quyền. Hai bức tranh ấy anh cũng đã tặng lại cho hai hội đoàn ở Sydney và Melbourn. Có lẽ những bức tranh ấy sẽ được sang tay nhiều người khác nữa, và mỗi lần đổi chủ là tiếng nói của người trong tranh lại vang xa hơn nữa như lời tâm tình của anh Nguyễn Thái Hải:


Chân dung Ông Lư Văn Bảy của Họa sĩ Trần Lân.

“Tôi chỉ đóng góp được một cái gì nhỏ nhoi trong phạm vi của tôi, rất là nhỏ nhoi, không xứng đáng vào đâu với những hy sinh của những anh em chiến sĩ của mình. Những giới trẻ trong Việt Nam phải âm thầm chịu đựng những sự đè ép. Thực tế với một chút xíu nhỏ mọn mà tôi đóng góp thì không đáng vào đâu, nhưng mà tôi muốn nói với những người anh em chiến sĩ bên Việt Nam là các anh em chiến đấu không cô đơn đâu. Đồng bào chúng ta ở hải ngoại này luôn luôn lúc nào cũng đứng sau lưng các anh.. Tôi xúc động quá chắc là tôi nói không được nữa…”


Chân dung Ông Trương Văn Sương của Họa sĩ Trần Lân.

Hạnh trong tranh cười rất tươi, mắt sáng ngời niềm tin. Hạnh trong tranh đầy nghị lực và tin tưởng vào công bằng, chân lý. Còn Hạnh bây giờ thì sao? Ông Đỗ Ty, bố của Hạnh cho biết tình trạng con mình sau gần 2 năm trong trại giam:

“Địa điểm trại giam là phân trại 5, trại giam Thủ Đức, thuộc tỉnh Bình Thuận. Bây giờ tình hình bé Hạnh trong trại giam: phòng giam của nó là 60-70 người. Mỗi phần nằm như vậy là được khoảng 70 cm, cựa qua cựa lại rất là khó, tối thì muỗi. Lần gặp gỡ giữa gia đình với Hạnh thì Hạnh có nói là Hạnh không phải là biệt giam mà lại nằm chung với những người tù nhân nhiễm HIV!
Thành ra nó cũng có phần lo sợ, nhưng mà bây giờ dù có lo sợ cũng không làm gì được tại vì trong đó họ bố ráp như vậy. Nó có báo với cha mẹ là nếu nó có bề gì nó nhiễm HIV thì đó là số phận của nó thôi. Riêng bản thân nó thì nó không lo sợ gì cả vì nó chấp nhận tất cả nhưng nó sợ gia đình suy nghĩ. Nếu không may mà nhiễm HIV thì sợ gia đình đau khổ thêm vì nó. Nếu mà nó lo sợ thì gia đình sẽ lo sợ thêm. Bây giờ nó không lo sợ gì cả, nó bảo gia đình cứ yên tâm, yên lòng đi chứ bây giờ nó không có cách nào chống đỡ. Thì khi gia đình nghe tin đó thì cũng đâm ra hoảng, lo sợ, trong nhà rất là đau lòng. Thành ra gia đình kêu thì không biết kêu đâu, cũng không biết cầu cứu ở đâu. Sẵn dịp phỏng vấn này thì tôi cũng đề nghi các Ủy ban Nhân Quyền, các Mạng Lưới Nhân Quyền, các Ủy Ban Ân Xá Quốc Tế can thiệp. Gia đình bây giờ chỉ biết cầu cứu thôi chứ không biết làm cách nào hơn. Nguyện vọng là nguyện vọng cầu cứu, mà nguyện vọng cầu cứu được đến nơi đến chốn thì gia đình mới yên tâm được.”
Từ căn phòng nhỏ hẹp ở một góc Paris, những bức tranh Nhân Quyền ấy sẽ vượt qua nhiều đại dương, phá vỡ mọi ngăn cách, đem con người từ hai bờ lục địa đến với nhau và trở thành những món quà Giáng Sinh có ý nghĩa nhất. Qua nét vẽ của người vẽ Trần Lân, những bức tranh ấy đã biết lên tiếng thay cho những người trong tranh đang bị giam cầm chỉ vì dám lên tiếng.


Chân dung LS Cù Huy Hà Vũ
Cùng với bức chân dung trên, họa sĩ TTL tặng ts Cù Huy Hà Vũ vần thơ:
Ông có bạo quyền bắt xác tôi - Nhưng bắt làm sao được trí người? Còng tôi truy tội ra pháp đỉnh - Khi chính tội ông tội lộng trời... 

Ông có bày trò bêu xấu tôi - Sao cả thế giới ngợi khen lời? - Phần tôi giải thưởng Nhân Quyền lĩnh - Khi tiếng tai ông khét thối thời... 

Ông có độc tài cướp dân tôi - Buôn Dân bán Nước được mấy đời ? Bày ra muôn tội, muôn luật phỉnh - Lường gạt được ai trước luật Trời ?...


http://www.pocfonline.net/2011/12/nhung-buc-tranh-biet-len-tieng.html

Thursday, 29 December 2011

LÁ THƯ CUỐI NĂM CỦA LIÊN HỘI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM Ở THỤY SĨ



                    Hát với Solidarność
Ba mươi năm sau từ Genève Thụy Sĩ
và Varsovie Ba Lan hướng về Việt Nam

          Ba mươi năm trước, trong một Đêm Giáng Sinh đầu thập niên 80 (Giáng Sinh 1981), một nhà thơ Việt Nam tị nạn Cộng sản, mang theo mảnh đất quê hương thân thiết khi vượt biển, đã "hát với anh chị em Ba Lan, hát với Việt Nam tôi"... Hát với Solidarność… một bài thơ đã được đài Âu châu Tự do (Radio Europe Libre) giới thiệu với nhân dân Ba Lan đang tranh đấu "cho Hy Vọng, Mùa Xuân, Phẩm Giá Con Người". Lúc đó, anh chị em Ba Lan, Công đoàn Solidarność, bị chế độ "phát xít đỏ", do Liên Sô cưỡng đặt, đàn áp khốc liệt. Báo mật vụ công an cộng sản Ba Lan đã lên tiếng công kích tác giả bài thơ và buổi phát thanh của đài Âu châu Tự do. Thính giả người Ba Lan đã cắt bài báo đó rồi kín đáo gởi cho đài. Hát với Solidarność được bà Hoàng Nguyên, một thuyền nhân tị nạn Cộng sản định cư tại Genève Thụy Sĩ, chuyển dịch ra tiếng Pháp, gây nên sự xúc động sâu xa nơi nhiều người đọc, nhứt là cộng đồng Ba Lan lưu vong cùng giới trí thức, nhà văn, nhà thơ Pháp. Triết gia Leszek Kolakowski, nguyên phát ngôn nhân Phong trào Dân chủ Đối lập, cố vấn cho Solidarność, dạy tại trường đại học Oxford, cho biết ông đã đọc bài thơ đó giữa mùa đông ở Anh quốc trong lúc quê hương còn bị đọa đày khổ nhục. Tháng 6 năm 1999, ông đã đọc một bài diễn văn thật quan trọng để khai mạc Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế ở Varsovie, nước Ba Lan hậu cộng sản. Dịp đó là lần đầu tiên ông gặp nhà thơ Việt Nam. Từ Vatican, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II gởi lời cám ơn và khích lệ tác giả bài thơ cùng người dịch. Văn thư bày tỏ xúc động và cảm tình còn đến từ hai nhà văn triết gia Simone de Beauvoir và Raymond Aron, nhà thơ Pierre Emmanuel, nhà văn Jean d’Ormesson, nhà thơ Léopold Sédar Senghor (cựu tổng thống Sénégal), sử gia Tadeusz Wyrwa, nhà trí thức Paul Thibaud, giám đốc chủ biên tạp chí Esprit, mục sư Eric Fuchs, giáo sư Khoa Thần học đại học Lausanne, v.v. 
          Mười năm sau khi Hát với Solidarność, đúng vào ngày 25 tháng 12 năm 1991, ông Mikhaïl Gorbatchev loan báo ông chính thức từ chức Chủ tịch Liên Sô trong một bản Tuyên bố để chấm dứt cuộc hấp hối đau đớn của chế độ Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Sô Viết đã kéo dài trong nhiều tháng. Ông Mikhaïl Gorbatchev quyết định đọc bản Tuyên bố ngay đêm 24 tháng 12 năm 1991, tức là Đêm Giáng Sinh. Cuối cùng, ông đã nghe lời khuyên của Andreï Gratchev, người phát ngôn thân tính của ông, dời lại 24 tiếng đồng hồ. Mục đích là để cho cộng đồng tín đồ Thiên Chúa giáo La Mã trên thế giới được làm lễ Giáng Sinh với tâm trí bình yên. Sự từ chức đột ngột và sự sụp đổ chớp nhoáng của cái gọi là ‘’thành trì xã hội chủ nghĩa’’ của mấy nước chư hầu tùy tinh (như chế độ Cộng sản Hà Nội) sẽ là một đại biến cố lịch sử có thể tạo ra những sự nhiễu loạn, xáo trộn bất ngờ đối với tâm trí của rất nhiều người ở khắp năm châu. Hát với anh chị em Ba Lan, hát với Việt Nam tôi"... Hát với Solidarność trong Đêm Giáng Sinh 1981 để mười năm sau, Đêm Giáng Sinh 1991, thấy khối Cộng sản Liên Sô – Đông Âu bắt đầu sụp đổ lúc trời rạng đông.
          Hai mươi lăm năm sau, chúng tôi phổ biến bài thơ Hát với Solidarność của thi hữu Nguyên Hoàng Bảo Việt để chào mừng Hội Nghị Quốc Tế về Quyền Lao Động Việt Nam đã diễn ra tại trụ sở Thượng viện giữa thủ đô Warszawa (Varsovie) của nước Ba Lan Tự Do, từ ngày 28 đến 30 tháng 10 năm 2006. Theo Thông cáo của Ban Tổ chức, Hội Nghị được sự đồng tình bảo trợ của nhiều nhà lập pháp Ba Lan, Công đoàn Đoàn Kết Solidarność và Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân Ba Lan. Công an Cộng sản Hà Nội đã bạo hành để ngăn chận nữ luật sư Lê Thị Công Nhân lên máy bay đi Varsovie, mang theo một bài thuyết trình cho Hội Nghị.
          Rồi ba mươi năm sau, Hát với Solidarność để biết cười biết khóc với anh chị em Bắc Phi, Trung Cận Đông không còn sợ nữa, đã đứng lên, nắm tay nhau cùng đi tới. Hát với Solidarność để biết thương xót và trân quý những cánh hoa Lài mới nở, mong manh, rướm lệ máu, không bao lâu trước mùa Giáng Sinh 2010. Những cánh hoa Lài làm nhớ tới Việt Nam, nhớ tới những búp sen chưa ngoi lên từ những đầm lầy sau 30 tháng tư 1975 khi cả nước bị chiếm đóng tàn nhẫn. Tiếc thay vì sự hiện hữu dù giới hạn của những nhân tố bảo thủ, Mùa Xuân của các Dân tộc chưa được bừng nở những vườn hoa tự do đầy hương sắc trên bờ Địa Trung Hải, dọc theo dòng sông Nil...Tuy nhiên những ngọn đuốc Hy Vọng cho Nhân Phẩm, cho Tình Người, cho Tự Do Dân Chủ, cho Công Bằng Xã Hội, luân phiên bùng cháy từ thành phố nhỏ Sidi Bouzid, đã soi rọi được những đêm đen từng phủ trùm lên các quảng trường ở Tunis, ở Le Caire, ở Alexandrie... Cảm động biết bao những hình ảnh hào hùng của những đợt sóng đại dương những người trẻ tuổi, chỉ có tay trần với quyết tâm phá tan xích xiềng nô lệ, ngày đêm đổ về quảng trường Tahrir giữa thủ đô Ai Cập.
          Qua Đêm Giáng Sinh 2011, chúng tôi muốn cùng với tác giả bài thơ Hát với Solidarność gởi về Việt Nam, niềm Tin chung vào sự tất thắng cuối cùng của Chính nghĩa Dân tộc và Nhân bản. Trên đất nước bất hạnh và giữa lòng Dân tộc Việt Nam bất khuất của chúng ta, những người thật lòng yêu nước thương đồng bào, bất chấp sự trấn áp tàn bạo của chế độ độc tài cộng sản tha hóa và nhũng lạm, tiếp tục kiên cường tranh đấu cho Nhân Quyền, cho Tự Do Dân Chủ, cho Công Bằng Xã Hội, cho Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc, Cao Nguyên, cũng như Hà Nội, Huế, Sài Gòn không còn bị chiếm đóng, cho Hy Vọng Mùa Xuân, Phẩm Giá Con Người.
          Sắp hết năm, với những lời Cầu Nguyện Bình An, tâm tưởng chúng tôi hướng về những tù nhân chính trị, ngôn luận và lương tâm Việt Nam. Hướng về thân nhân, gia đình của những người đang gánh vác đại khổ nạn của dân tộc. Hướng về những nhà đối kháng dân chủ, bênh vực Nhân Quyền - tu sĩ, công nông, giáo chức, sinh viên, văn giới, nhà báo, luật sư, tác giả bút ký điện tử, v.v - đang bị hành hạ, làm nhục và lưu đày ngay trên quê hương thân yêu của mình. Hướng về biển Đông và các vùng biển Đông Nam Á, hỏi thăm từng hải đảo, như đi hành hương, để không quên hàng trăm ngàn đồng bào thuyền nhân đã chết thảm hoặc mất tích trên đường đi tìm tự do và tình người. Nhứt là chúng ta cùng nhau tưởng nhớ đến những người yêu nước đã bỏ mình trong ngục tù thực dân và cộng sản, những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, như liệt sĩ Ngụy Văn Thà và đồng đội đã anh dũng hy sinh tại Hoàng Sa cho lá quốc kỳ của một đất nước Tự Do còn hiên ngang bay trên bầu trời thế giới đến hôm nay và mai sau. 
Và chúng ta hướng về quê hương đang bị chiếm đóng và vong thân với cơ nguy bị Hán-hóa :
Đằng sau những cánh cửa sổ
Khép vội trước mũi súng sát nhân
Sài Gòn đâu đã thất thủ
Thầm thì những lời ru con
Thay cho tiếng nói
Giặc đã cưỡng đoạt
Trên tháp chuông trơ vơ
Thập tự giá phô tấm lòng nhân ái
Dưới mái chùa hiu vắng
Hạnh từ bi nở ngát tòa sen
Bóng đen bầy quạ dữ
Bay vây quanh.

(Chúng) tôi đếm
Bấy nhiêu ngọn nến
Bao nhiêu nhánh mặt trời Tự do
Sẽ mọc lại.
(Chúng) tôi đếm
Bấy nhiêu giọt sương long lanh
Bao nhiêu chuỗi cười ròn rã
Bao nhiêu lớp người nô lệ
Sẽ đứng lên.         (Kẻ Sống Sót – Thơ NHBV 1978)

Kính gởi đến quý bạn đọc và quý diễn đàn những lời Cầu Chúc Tốt Lành như mong ước.

Genève mùa Giáng Sinh 2011
Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
Vietnamese League for Human Rights in Switzerland
-----------------------------------------------------------------------

Hát Vi Solidarność

Mt thuyn nhân Vit Nam xin được góp tiếng hát
Vi anh ch em Ba Lan đêm Chúa ra đời
Vi Popieluszko cùng Solidarność
Hát cho Hy Vng, mùa Xuân, Phm giá con người.

Polska ơi! Polska ơi! Polska ơi! bt khut
Cm xúc nào hâm nóng trái tim tôi
Chúng ta tng sng và tng chết
Ngoài chiến trường và trong ngc tù
Gia tri tp trung cui tri hoang đảo
Trên điêu tàn đổ nát sáu triu nm m
Nhú lên lp lp nhng mm non xanh biếc
Tung cánh ước mơ đến mt thế gii thanh bình.
H bt công nh phù sa kha lp
La bo hành s tàn li dưới cơn mưa
Vườn Nhân ái góp bàn tay vun xi
Người người nhìn quen vi nét mt tin yêu
Chúng ta cũng biết xót thương biết khóc
Dàn tri tâm tình qua điu múa li ca
Sng vi nhau mt đời chân tht.
Sau hơn ba mươi năm áp bc đọa đày
Kiếp trâu nga tìm đâu thy ngày mai
Mun T do không th van xin mà được
Ai hái trái cây hnh phúc ta gieo trng
Đất nước ta c sao Liên Sô làm ch
Ta gt cho ai lúa chín trên đồng?
Hướng v đâu nhng chuyến tàu máy móc
Toa xe đầy p m hôi nước mt lao công
Nhà ta sut mùa rét thiếu than để sưởi
V ta bun đau giu kín trong lòng
Con ta gy yếu không đủ sa đủ thuc
Đảng hp bàn yến tic mc dân chúng lm than
Cha m dy ta giúp người hàm oan cô thế
Đảng hô hào hn thù giai cp đấu tranh
Đê v trong lòng dân, sóng cun lên ni bt bình...

T ngày đó... t cuc ni dy Poznan
Gic b trí hàng vn phi cơ đại bác
Ha tin hch tâm, c trăm sư đoàn thiết giáp
Chng thay đổi được gì cơn ác mng trin miên
Không bao gi chúng ng được yên
Chúng thm sát bn ta Berlin, Budapest
Prague mùa Xuân, Huế Tết Mu Thân
Không b sót mt ai b nghi ng chng đối
Tu sĩ, công nông, giáo chc, sinh viên, văn gii
T Vientiane, Phnom Penh, ri đến Kaboul.
Nuôi o tưởng dìm chúng ta xung bùn đen ti nhc
Nhưng áp lc nào lay chuyn ni Ba Lan!
Vì t ngày đó... t cuc ni dy Poznan
Đã ni tiếp Gdansk, Cracovie, Katowice
Solidarność, mười triu anh em liên kết
Như gió ngàn, như sóng bin, như tri sao
Trái tim năm châu đập cùng nhp vi nhau
Hòa ln tiếng hát ngày đêm vang lên t hm m
T nhà máy, công trường, bến tàu, góc ph
Đến sân ga, tòa báo, lp hc, giáo đường
Nghe thy không hi ng

THIÊN ĐƯỜNG CHƯA THẤY ĐÃ ĐEM BÁN






Kính thưa quý vị, Kính thưa quý thân hữu, quý Chiến hữu cùng quý Niên Trưởng, trong Thư gởi thiếu nhi, nhi đồng dịp trung thu năm 1946 Cáo Hồ viết:
 
“Non sông VN có vẻ vang hay không, dân tộc VN có sánh vai với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ các cháu” . “Thùng rác vĩ đại” mang tên Bác Hồ mà ở đó ĐCSVN trút đổ những việc làm bất nhân được gọi là lý tưởng CS, đường lối XHCN, những gì vì "công ơn Bác và đảng". Biết bao tiền của, chương trình này nọ của bọn nịnh hót, công hầu, chỉ cố vơ vét đã bày đặt ra để học hỏi trau dồi theo tấm gương, vĩ đại, xuyên thế kỷ của cụ Hồ. Tất cả ngày nay đã tiêu tán, chỉ còn lại một thùng rác, mà thùng rác này lại được những đứa cháu khi xưa trút vào đó một đống phân vĩ đại: ngôi sao thứ sáu trên lá cờ Trung Cộng...




Một dân tộc có thể trải qua nhiều thời đại, nhiều chế độ. Nhưng chế độ nào, thời đại nào cũng đặt nhiệm vụ then chốt là non sông & dân tộc. Non sông phải được toàn vẹn, dân tộc phải được bảo tồn. Dân tộc Việt Nam đã tốn không biết bao nhiêu công sức, bao nhiêu sinh mệnh của tiền nhân để có được một giải đất cong cong hình chữ S, để có một dân tộc Việt Nam tuy không lớn nhưng cũng đã rất kiêu hùng.



Tôi không nói lại những vấn đề lịch sử của các đàn anh đã học, các bạn cùng thời tôi đã học và các con cháu chúng ta đang học. Tôi không nói lại những tấm gương vì dân, vì nước hiện đang bị bắt bớ, giam cầm bị tước đoạt quyền tự do.



Tất cả những điều đó đã nói lên một ý thức chúng ta là một Dân Tộc có lịch sử hàng ngàn năm đã vun đắp và đang tiếp tục xây dựng. 




Dân tộc ta có phụ nữ và trẻ em để đảng cộng sản VN (ĐCS) bán, có bauxite để ĐCS bán, có rừng vàng, biển bạc để ĐCS bán… có một dải đất cong cong để dâng cho quan thầy của mình là Trung Cộng, có một chính quyền CS sẵn sàng “giáo dục nhân dân” làm nô lệ như lời hứa của anh chàng Trọng ngọng. Vì họ không nghĩ đến mình là “con rồng cháu tiên”, không nghĩ đến máu và mồ hôi nước mắt của tiền nhân biết bao đời đã hy sinh vun đắp cũng như biết bao mạng người anh em cùng cha cùng mẹ đã phải nằm xuống trong những lần bảo vệ quân xâm lăng.



“Non sông VN có vẻ vang hay không, dân tộc VN có sánh vai với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ các cháu” (Thư HCM gởi thiếu nhi, nhi đồng dịp trung thu – NXB GDCS). “Thùng rác vĩ đại” mang tên Bác Hồ mà ở đó ĐCSVN trút đổ những việc làm bất nhân được gọi là lý tưởng CS, đường lối XHCN, những gì vì "công ơn Bác và đảng". Biết bao tiền của, chương trình này nọ của bọn nịnh hót, công hầu, chỉ cố vơ vét đã bày đặt ra để học hỏi trau dồi theo tấm gương, vĩ đại, xuyên thế kỷ của cụ Hồ. Tất cả ngày nay đã tiêu tán, chỉ còn lại một thùng rác, mà thùng rác này lại được những đứa cháu khi xưa trút vào đó một đống phân vĩ đại: ngôi sao thứ sáu trên lá cờ Trung Cộng. Hẳn quá rõ số phận vĩ đại này được rút ra từ việc buôn bán phụ nữ, trẻ em, titan, bauxite, rừng vàng biển bạc, hải đảo, vinashin, giao thông, y tế, giáo dục, sức khỏe tính mạng của người Việt Nam và cả phân rác nhập về từ nước ngoài.






Được hái (thu hoạch), được ăn (hưởng thụ), được tiêu ra (thỏa mãn) và có chỗ đổ đi (hết trách nhiệm). “Sướng như cộng sản”.



Nay cờ Trung Cộng có sáu ngôi sao là hệ quả tất yếu của chủ thuyết làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu của ĐCSVN. Năng lực thì làm ra chỉ có một mà nhu cầu thụ hưởng tới… bán nước, bán dân tộc mới may ra đủ “xài”. Đó là thiên đường và lý tưởng của CNCS: mọi người đều như nhau, sẽ không còn cảnh người bóc lột người và tất cả ai nấy đều ăn lông ở lỗ, sinh hoạt theo kiểu “đồ đá”.





Các trung tâm, bệnh viện ung bướu bệnh nhân tấp nập, quá tải do ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm các chất bảo quản độc hại trong lương thực, thực phẩm mà Trung Quốc là nguồn. Rừng rú bị tàn phá trắng, không còn khả năng bảo vệ đất Mẹ VN để bão tố về, lũ lụt, sạt lở, xâm thực, ngập mặn tấn công ngày càng sâu. Cộng với chính sách không quan tâm (tự hủy diệt) con người của ĐCSVN như an sinh xã hội, y tế, giáo dục, hạ tầng cơ bản… ĐCS đang biến VN thành thung lũng chết chóc do bệnh tật, tai nạn, khủng hoảng về tâm lý sẵn sàng ẩu đả, chém giết lẫn nhau, do đàn áp… và có thể do tức mà chết. Từ đó VN bị biến thành hố rác vĩ đại, và ĐCS không cần phải treo hình Mác – Lenin, Mao, Hồ Chí Minh trên cao nữa.



Một chút tâm tình nhắn gửi với tất cả những ai mang dòng máu đỏ Lạc Hồng: Hãy ngẫm suy và cố đứng lên mà hét vang một tiếng: đồ vong quốc, bội phản Hãy Cút Đi…






Từ Nguyên (danlambao)

2011: Năm của các mạng lưới truyền thông xã hội

       
Hình: REUTERS
Sở dĩ quần chúng, những con người hoàn toàn vô danh, không gắn liền với một đảng phái, không có lãnh tụ và không được dẫn dắt bởi bất cứ một lý thuyết gia nào, có thể lật đổ các chế độ độc tài, làm nên những cuộc cách mạng vang dội ở Trung Đông và Bắc Phi là nhờ một yếu tố kỹ thuật mới chưa từng có trong lịch sử: mạng lưới truyền thông xã hội, bao gồm, trước hết, hệ thống điện thoại di động, email, Facebook và Twitter.

Đó là lý do tại sao nhiều nhà bình luận trên thế giới cho các cuộc cách mạng Ả Rập trong năm 2011 cũng chính là cuộc cách mạng của internet, hay cụ thể hơn, của mạng truyền thông xã hội (social media), hay, cụ thể hơn nữa, của Facebook.

Từ trước đến nay, nhiều người đã nói đến sức mạnh của quần chúng. Các vị thánh hiền sáng lập Nho giáo thường nhấn mạnh quan điểm xem dân là gốc của chính trị; ý dân là ý trời (Dân chi sở dục, thiên tất tòng chi); dân còn trọng hơn cả xã tắc và vua chúa (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Ở Việt Nam, Nguyễn Trãi cũng từng ví dân với nước trong khi các thế lực chính trị là thuyền: Thuyền nổi lên hay bị lật úp cũng là vì nước. Thường, khi hanh thông, người ta hiếm khi ý thức được sức mạnh của nhân dân; chỉ đến khi thuyền bị lật úp, người ta mới biết là dân mạnh như nước (phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ).

Bản chất mạnh, nhưng không phải lúc nào dân chúng cũng thể hiện được sức mạnh của mình. Trong lịch sử, không hiếm trường hợp quần chúng hay nhân dân, có khi là hàng triệu hay hàng chục triệu, thậm chí, hàng trăm triệu người, bị một thiểu số cực ít, dăm ba người đè đầu cưỡi cổ, bóc lột và hành hạ đến tận cùng. Mà vẫn cam chịu. Từ năm này qua năm khác. Từ thập niên này đến thập niên khác. Thậm chí, từ thế kỷ này đến thế kỷ khác. Những lúc ấy, không thể nói được là quần chúng mạnh.

Quần chúng, vốn chỉ có tay không, khi đối đầu với bạo quyền, chỉ có một nguồn sức mạnh duy nhất: sự đoàn kết. Một người dân: cực yếu. Vài ba trăm hay vài ba ngàn người dân: vẫn yếu. Nhưng nhân dân nói chung, như một tập thể thống nhất, lại là một sức mạnh vô địch. Như vậy, điều kiện để tạo thành sức mạnh của nhân dân chính là sự thống nhất. Nói cách khác, nhân dân hay quần chúng chỉ mạnh, thực sự mạnh, khi họ hành động như một khối thống nhất.

Giới cầm quyền, từ trước đến nay, hiểu rất rõ điều đó. Họ thường sử dụng hai biện pháp chính để vô hiệu hóa sức mạnh của nhân dân: ngu dân hóa và phân hóa, tức là làm cho dân chúng vừa ngu vừa chia rẽ. Hai cái ngu lớn nhất là, một, sùng tín các huyền thoại bao quanh lãnh tụ (xưa là thuyết thiên mệnh; sau này, là lý tưởng cộng sản cộng với các huyền thoại về tài năng và công đức của lãnh tụ). Phân hóa theo nhiều tầng và nhiều cách: theo địa phương, theo giới tính, theo giai cấp và theo tôn giáo.

Bổ sung cho hai biện pháp ngu dân hóa và phân hóa ở trên là biện pháp ngăn chận mọi nguồn thông tin. Để người dân không thể liên lạc với nhau. Không thể kết hợp lại với nhau. Để dân chúng, tuy là nước, chỉ là những mảnh ao tù nho nhỏ, những khe suối nho nhỏ. Chứ không thành sông hay thành biển ào ạt sóng.

Internet và các mạng truyền thông xã hội cung cấp cho người ta một phương tiện tuyệt hảo để vượt qua mọi âm mưu ngăn chận ấy. Truyền hình và truyền thanh chính thống chỉ nói một chiều? – Mặc! Báo chí chính thống chỉ rặt một giọng tụng ca? – Mặc! Dân chúng đã có phương tiện truyền thông riêng vừa nhanh chóng vừa dễ dàng vượt qua mọi cửa ải kiểm duyệt: internet. Khi muốn trao đổi thông tin với nhau: người ta dùng các mạng truyền thông xã hội. Khi muốn bàn luận về một vấn đề gì đó: người ta cũng dùng các mạng truyền thông xã hội.

Trong các cuộc cách mạng ở Trung Đông và Bắc Phi trong năm 2011, các mạng truyền thông xã hội đóng ba vai trò chính:

Thứ nhất, và quan trọng nhất, là xã hội hóa, thậm chí, toàn cầu hóa những vấn đề có tính chất cá nhân. Cũng bị công an đánh chết, nhưng có nạn nhân chỉ là một cá nhân, hoàn toàn là một cá nhân riêng lẻ, nếu không có ai, ngoài gia đình và hàng xóm biết đến. Nhưng khi cái cảnh nạn nhân bị đánh chết được tung lên mạng, qua website, blog, Facebook hoặc qua điện thoại di động, cho mọi người biết, vấn đề cá nhân của nạn nhân lập tức biến thành một vấn đề xã hội: nó gợi sự đồng cảm, từ đó, sự phẫn nộ của mọi người. Chính sự đồng cảm và phẫn nộ ấy làm cho mọi người, thuộc những thành phần và ở những địa phương khác nhau, trở thành đoàn kết và thống nhất. Là một. Những mảnh ao tù hay những khe suối nhập lại với nhau. Thành biển lớn.

Thứ hai, nó chia sẻ nhanh chóng và hiệu quả mọi thông tin mà người ta có thể có được. Từ trước đến nay, hầu hết các nguồn thông tin chính, ngay ở các quốc gia dân chủ, đều nằm trong tay giới truyền thông. Nhưng giới truyền thông, ngay cả khi họ thành tâm và công tâm, cũng rất giới hạn. Không có nơi nào có đủ phóng viên để giàn ra một thế trận thật rộng, có mặt khắp nơi để thu nhận được mọi tin tức. Với mạng truyền thông xã hội thì khác. Bất cứ người nào, với chiếc điện thoại di động trên tay, cũng đều có thể trở thành phóng viên. Đi đường tình cờ thấy một công an ức hiếp ai đó ư? Thì họ giơ máy điện thoại lên chụp ảnh ngay. Rồi có thể gửi ngay cho bạn bè. Bạn bè lại gửi cho nhau. Chỉ trong tích tắc, bức ảnh đã lan đi khắp nơi. Khi một trăm ngàn người cùng tham gia tranh đấu có cùng một phương tiện và một cách thức làm việc như thế, nguồn thông tin sẽ vô cùng vô tận. Và được cập nhật từng giờ. Từng phút.

Thứ ba, mạng truyền thông xã hội không những giúp chia sẻ thông tin mà còn tạo nên sự đồng thuận rộng rãi trong cả cộng đồng. Nỗi uất hận của người này dễ dàng lây lan sang người khác. Thành một nỗi phẫn nộ của tập thể. Hơn nữa, nên lưu ý, sự đồng thuận không dừng lại ở phương diện cảm xúc. Mà còn ở ý tưởng. Trong đó, có những ý tưởng liên quan đến tổ chức, chẳng hạn, xuống đường lúc nào và ở đâu, hô những khẩu hiệu gì, đối phó với công an và cảnh sát ra sao, v.v…

Trong các cuộc cách mạng Ả Rập, đặc biệt tại Tunisia và Ai Cập, dân chúng đã tận dụng và tận dụng một cách sáng tạo và thành công cả ba chức năng trên của các mạng truyền thông xã hội. Chính quyền thừa biết tất cả những điều đó nên đã tìm cách ngăn chận. Nhưng không được. Nhiều kỹ thuật viên đầy thiện chí, từ khắp nơi, đã vào cuộc, bỏ hết công ăn việc làm, giúp duy trì các mạng truyền thông xã hội
ấy. Dân chúng cũng ý thức rõ đó chính là thứ vũ khí mình cần nên tìm mọi cách sử dụng nó. Bình thường, người Tunisia và Ai Cập, cũng như người Hồi giáo nói chung, ít chuộng Facebook hay Twitter. Thế nhưng, khi cách mạng bùng nổ, thói quen ấy thay đổi hẳn. Trong suốt cái gọi là Cách mạng Mùa xuân ấy, số người Ai Cập sử dụng Google để cập nhật tin tức liên quan đến tình hình chính trị trong nước tăng lên gấp mười lần và số người đưa hình ảnh lên Youtube tăng lên 50% so với những năm trước!

Có điều, khi nói cuộc cách mạng Ả Rập năm 2011 là cuộc cách mạng của truyền thông xã hội (nổi bật nhất là Facebook), chúng ta cần lưu ý hai điểm:

Thứ nhất, truyền thông xã hội chỉ là phương tiện chứ không phải là nguyên nhân. Nguyên nhân chính của cách mạng bao giờ cũng là sự bất mãn của quần chúng. Nguyên nhân của sự bất mãn lại đến từ nhiều nguyên nhân khác, trong đó hai nguyên nhân nổi bật nhất là: sự độc tài và tham nhũng. Chính vì sợ có sự hiểu lầm như vậy, nhiều bình luận gia nhấn mạnh: không nên quá phóng đại vai trò của truyền thông xã hội mà quên đi những nỗi thống khổ mà người dân phải gánh chịu cũng như những công phẫn bừng bừng trong lòng họ khiến họ gạt hết mọi sợ hãi để xuống đường và đương đầu với bạo lực.

Thứ hai, không nên quên quyền lực của địa điểm (power of place) trong các cuộc biểu tình chống đối của quần chúng. Cả hàng triệu người đồng cảm, đồng thuận và đồng ý trên các mạng truyền thông xã hội cũng trở thành vô ích nếu chúng không được tượng hình trong một không gian cụ thể. Cách mạng bao giờ cũng gắn liền với không gian. Trong bài “In Protest, the Power of Place” đăng trên tờ The New York Times ngày 15 tháng 10 năm 2011, Michael Kimmelman giải thích: “Chính trị khuấy động lương tâm chúng ta. Nhưng địa điểm ám ảnh trí tưởng tượng của chúng ta.” Nói đến cách mạng Pháp, chúng ta nghĩ đến ngục Bastille; đến sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Đông Đức, và sau đó, ở khắp Đông Âu, chúng ta nghĩ đến bức tường Bá Linh; đến cuộc nổi dậy của thanh niên và sinh viên Trung Quốc cách đây 20 năm, chúng ta nhớ ngay đến một địa điểm: Thiên An Môn. Và cuộc cách mạng long trời lở đất ở Ai Cập cũng đi vào ký ức nhân loại với một địa điểm: Quảng trường Tahrir.

Viết đến đây, tự dưng tôi nhớ đến bờ hồ Hoàn Kiếm với 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc trong năm 2011...

Nguyễn Hưng Quốc 

Bài Xem Nhiều