We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 5 January 2011

GẠO MỐC XUẤT CẢNG SANG VIỆT NAM

TRUNG CỘNG PHÁT HIỆN 50 XÍ NGHIỆP LÀM BÁNH PHỞ TỪ GẠO MỐC XUẤT CẢNG SANG VIỆT NAM



Tin Ðông Quản - Báo chí Trung cộng cho hay đầu tháng 12, tại thành phố Ðông Quản, thuộc tỉnh Quảng Ðông, gần đặc khu Hồng Kông của Trung Cộng, để xuất cảng sang Việt Nam. thanh tra y tế đã phát giác được khoảng 50 xí nghiệp tham gia vào việc sản xuất bánh phở, với gạo khô hay bị mốc với công suất 500 tấn một ngày. Ðây là thông tin do Thanh niên Nhật báo Bắc Kinh đăng tải cho biết gạo bị mốc được sử dụng để sản xuất phở, sau khi đã được tẩy trắng bằng các hóa chất. Với các phụ gia bổ sung, các xí nghiệp này chế được ba cân bánh phở từ một cân gạo.

Gạo hẩm thường được dùng để chăn nuôi gia súc, tuy nhiên trong thời gian vừa qua giá cả lương thực tăng cao khiến cho loại hàng hóa kém phẩm chất này được các xí nghiệp sử dụng để làm thực phẩm cho người. Ðây là giải thích của nhật báo Trung Cộng kể trên.

Nhắc lại trong thời gian gần đây Trung Cộng liên tiếp đối mặt với các vụ bê bối liên quan đến thực phẩm. Trong số các vụ việc mới xảy ra gần đây nổi lên, có các vụ như tái chế dầu ăn, trứng nhuộm màu có độc tố, nấm có chứa chất gây ung thư, đậu phụ hay rượu vang giả, đặc biệt vụ bê bối nặng nhất là vụ án sữa nhiễm độc tố melamine năm 2008, làm cho 6 em bé tử vong và ảnh hưởng đến sức khỏe của 300,000 người khác. Trong vụ án này, 21 người đã bị kết án, trong đó có 2 người bị tử hình. Tháng 9 vừa qua, Bắc Kinh đã hứa hẹn sẽ dành những bản án tử hình cho những kẻ phạm tội nghiêm trọng nhất về an toàn thực phẩm.
(SBTN)

BIẾT ĐÂU LÀ KHỞI ĐIỂM CUỘC RONG CHƠI


Mẹ vợ ông Hàn mới chết, con cháu từ xa đổ xô về chịu tang. Các anh chị em vợ của ông chọn một cái hòm do nhà quàn đề nghị, với giá 12 ngàn đô. Ông Hàn chê đắt, bảo khoan quyết định, chờ ông khảo giá đã. Ông Hàn bình tĩnh ngồi bên máy vi tinh, lục tìm khảo giá. Bà vợ ông thì chạy lui chạy tới trong phòng khách, dẫm chân đành đạch trên sàn nhà, khóc bù lu bù loa, rồi đến day áo ông mà nói:

“Giờ nầy mà anh còn ngồi đây thong dong khảo giá? Chuyện nầy cấp bách. Có phải mua món hàng gia dụng đâu mà chần chờ? Tốn kém bao nhiêu anh em chúng tôi cũng chung chịu. Mẹ chết có một lần. Làm chi cái việc hà tiện xấu thế?”

Ông anh vợ cũng bối rối nói:

“Giờ phút nầy, thì nhà quàn ra giá bao nhiêu, mình cũng phải nhận. Có đắt hơn ít trăm bạc, cũng không sao. Mình lựa chọn cái hòm đó, chứ họ có ép mình đâu?”

Ông Hàn quay ngoắt lại, nói với giọng cứng rắn:

“Ít trăm thì tôi khảo giá làm chi? Phải ít nhất là mấy ngàn đồng. Có thể tiết kiệm được từ 40% đến 60% toàn bộ chi phí tang lễ. Dù là tiền của ai đi nữa, tôi cũng không muốn phung phí.”

Bà vợ thét lên:

“Rồi mua phải thứ hòm giả mạo, không tốt. Nó đâu đem đến liền cho mình được, chờ đến bao giờ mới có? Chậm trể việc ma chay. Mà lỡ nhà quàn không chịu nhận hòm từ nơi khác đưa tới, thì đem cái hòm đi tặng ai, tôi nhất định không cho để trong nhà nầy.”

Ông Hàn cười hề hề, chậm rải trả lời:

“Giả mạo làm sao được? Cũng hòm ấy, cùng hiệu, cùng tên, cùng nhà sản xuất. Nhà quàn cũng mua tại các nơi đó thôi. Rồi cọng thêm chi phí, tiền lời, mà tăng giá lên. Ai dại mua thì ráng chịu. Nhà quàn cũng không làm gì sai trái. Họ làm thương mãi, phải kiếm cho được nhiều tiền lời càng tốt. Họ chẳng có gạt gẫm ai. Nhưng nếu mình mua được hòm đúng giá, thì người bán sẽ chuyển ngay đến nhà quàn trong vòng 24 giở. Chắc chắn. Theo luật liên bang Mỹ, bắt buộc nhà quàn không được từ chối quan tài và các vật dụng cần thiết cho người chết do thân nhân mua và đem đến. Trường hợp đó, nhà quàn chỉ lo các dịch vụ tang ma, các lễ lạc mà thôi. Tôi còn phải kêu nhà quàn cung cấp cho mình bảng ghi giá cả của từng mục, gọi là FPL (Funeral Price List) theo luật định. Tôi sẽ so sánh thêm giá cả của từng mục dịch vụ để không bị hố, trả giá cao, đắt. Bà đừng lo, nếu nhà quàn không nhận hòm, thì tôi bán lại kiếm chút lời.”

“Bây giờ không phải là lúc đùa giỡn được. Anh có chắc hòm được giao đúng thứ mình muốn, và trong vòng 24 giờ không. Giao cho nhà quàn, họ tráo hòm khác thì sao? Anh đã có kinh nghiệm nào đâu?”

“ Mình có thể đòi hiện diện trong lúc giao hàng, ai mà đánh tráo được?”

Cả nhà bực mình, xôn xao vì thái độ kỳ cục của ông Hàn. Một bà chị vợ gay gắt:

“Có phải vì không là mẹ ruột, nên cậu nhẩn nhơ, và đòi làm những chuyện trái đời?”

Ông Hàn hơi giận, giọng cứng, gằn: “Nầy, chị đừng nói thế. Mấy năm nay ai chăm sóc mẹ? Ai đưa mẹ đi bệnh viện, làm đủ thứ giấy tờ, nhắc mẹ uống thuốc hàng ngày? Thằng nầy chứ ai. Thế thì bây giờ mẹ qua đời, tôi không có quyền phụ giúp mẹ và cả gia đình nầy, cử hành tang lễ đàng hoàng hơn, ít tốn kém hơn hay sao?”

Ông Hàn gầm gừ bỏ đi, lục lọi tìm tòi trong mấy chồng hồ sơ, và quăng ra một tờ bào “US News & World Report” và nói:

“Các anh, các chị đọc bài “Đừng Chết Trước Khi Đọc Bài Nầy” (Don’t Die Before You Read This) đi, để biết.”

Vợ ông Hàn la lên: “Trời ơi, giờ nầy còn bụng dạ nào mà đọc báo? Mà nó viết gì? Sao anh không tóm tắt kể cho bà con nghe, xem có lọt tai không?”

Ông Hàn chầm chậm nói: “Tác giả Miriam Horn viết về chuyện linh mục Henry Wasielewsky. Vị linh mục nầy đã vạch trần cách làm ăn thiếu lương thiện, bóc lột quá đáng của một số nhà quàn trong lúc tang gia bối rối. Đã bị những nhà quàn bất lương hăm dọa, nhiều lần kêu điện thoại lúc nửa đêm đòi xin tí huyết, không những thế, ông còn bị cảnh sát địa phương săn đuổi, và cả vị Giám Mục địa phận cũng đày ông đi xa. Bài báo viết rất hay, kể rõ một số thủ đoạn của những nhà quàn thiếu lương thiện.”

Ngưng một lát, uống hớp nước xong, ông Hàn nói tiếp: “Tác giả viết thêm rằng, người ta không có kinh nghiệm, không có thì giờ trong thời gian cấp bách, không có đủ bình tĩnh khi đang đau buồn, bối rối, cho nên nhà quàn và nghĩa địa làm giá rất cao. Tang quyến mệt quá, và nghĩ rằng người chết chỉ có một lần, nên giá nào cũng chịu. Cò kè giá cả trong lúc đau buồn nầy, thì thấy có cái gì lấn cấn trong lòng. Trong bài báo nói, giá cái hòm chỉ 675 đô, mà nhà quàn đưa giá 3495 đô, cũng gật đầu chấp nhận. Giá xe tang mỗi giờ vào thời đó chỉ 25 đô mà tăng lên 200 đô hay cao hơn nữa. Cũng như các món khác như là hoa, bia mộ, thiệp cám ơn vân vân, tăng gấp 3 đến 8 lần. Nếu giá chỉ tăng 100% thôi, là đã là phước cho tang chủ lắm.”

Ông Hàn cười, và tiếp lời: “Bài báo viết thêm rằng, trường hợp tang chủ kêu đắt, họ nói khéo lắm. Đề nghị bỏ xác vào thùng giấy đem chôn sẽ được rẻ hơn nhiều, tang quyến nghe mà xót xa, đau lòng, tủi thân, nghĩ rằng mình thương người quá cố không đủ, thế là cắn răng chịu giá cao.”

Bà Hàn hỏi thêm: “Còn gì nữa không?”

“Đây, tác giả viết rằng, có một bà đã khóc và xin bà con bạn bè trợ giúp tiền bạc để làm đám tang cho chồng. Nhà quàn đòi 995 đô cho cái hòm. Khi có người hỏi sao đắt thế, họ bảo đó là loại hòm đặc biệt. Có người không tin, đi khảo giá, cũng hòm đó, loại đó, thì nơi sản xuất bảo rằng đó là loại rẻ nhất bằng ván ép. Người ta đến phàn nàn với nhà quàn, thì họ giảm giá xuống 50%. Có nhà quàn gián tiếp hối lộ cho tu sĩ, giáo sĩ, tặng những vé máy bay đi chơi, du lịch miễn phí, để họ dành cho nhà quàn sắp xếp chương trình tang lễ. Có thế mới ra giá cao được. Có thể tưởng tượng được không, cùng một cái hòm, mà có nơi đưa giá chỉ 1495 đô, mà nơi khác cho giá 9910 đô. Một số nhà quàn kiếm tiền của thân nhân kẻ quá cố dễ dàng, bằng cách bán các phụ kiện trong đám ma. Ví như gắn thêm một tượng kim loại nhỏ, hình Đức Mẹ Maria, giá mua chỉ chừng 3 đến 5 đô, mà tính đến một hai trăm. Người ta ngại, không dám hỏi về những biếu tượng thiêng liêng nầy.”

Ông Hàn đưa tờ báo cho mọi người và thúc hối : “Đọc đi, mọi người đọc đi để thấy việc tôi làm đây là đúng hay sai. Nếu không biết, thì để cho người khác làm, đừng cản trở”

Vừa lúc đó, thì có bà Kim đến. Bà nầy trước đây làm việc cho nhà quàn, bà là trưởng giám đốc tang lễ, nay đã về hưu. Ông Hàn như bắt được của quý, xoắn lấy bà Kim, yêu cầu giúp đỡ, hướng dẫn dể làm sao giảm thiểu được chi phí đám tang . Bà Kim ngồi cười. Vợ ông Hàn chạy ra phân bua:

“ Giờ nầy mà ông xã em còn khảo giá trên mạng để làm tang lễ. Ông ấy muốn giảm chi phí, vì nhiều nhà quàn thường cho giá cao trên trời. Chị làm trong nghề, xin chị chỉ giúp tụi em với.”

Bà Kim chậm rải: “Không phải nhà quàn nào cũng thiếu lương thiện, muốn nhân cơ hội tang gia bối rối mà moi tiền. Rất nhiều nhà quàn đàng hoàng, uy tín, nhưng họ cũng thừa khôn ngoan, để tìm lợi tức tối đa cho cơ sở kinh doanh của họ. Giá cả cũng có cao, nhưng cao vừa phải, không quá lố. Nếu họ có đề nghị, quảng cáo khách hàng mua thêm mục nầy, mục kia, thì là lẽ thường trong việc kinh doanh kiếm lời. Với chủ trương không gạt gẫm ai, nhưng ai muốn có những thứ xa xỉ, đắt tiền, mà có khả năng tài chánh, thì tại sao nhà quàn lại bỏ lỡ cơ hội ? Nhà quàn là nơi làm thương mãi, kiếm lợi tức, chứ không phải nơi làm phước thiện.”

Ông Hàn nhỏ nhẹ: “Chị có nhiều kinh nghiệm trong ngành nầy, chúng tôi xin chị vài lời vàng ngọc hướng dẫn cho, làm sao để giảm thiểu chi phí chôn cất thân nhân, tránh những sai lầm tốn kém vô ích.”

Bà Kim cười: “ Sai lầm lớn nhất của tang quyến, là không chịu khảo giá năm ba nơi khác nhau. Người ta cho giá nào, thì cũng nhận, không dám hỏi mà cũng không dám mặc cả từ quan tài, cho đến đất chôn, và các nghi lễ tốn kém khác. Sai lầm kế tiếp là chọn lựa nhà quàn. Thường chọn gần nhà, hoặc nơi đã có người quen làm đám tang rồi. Nếu không khảo giá vài ba nơi, tang quyến có thể trả giá gấp 3 lần nơi khác. Ví như cùng việc mai táng, có nơi cho giá 2500 đô mà chỗ khác đến 6500 đô. Cũng việc thiêu xác, có nơi chỉ 395 đô, mà nơi khác đến 5600 đô.”

Bà vợ ông Hàn bẻn lẻn nói nho nhỏ: “Nếu chị không nói ra điều đó thì em tưởng ông chồng em là người khùng, gàn dỡ, chướng ách. Nhưng em hỏi chị, thì giờ đâu mà đi khảo giá, thân nhân mình chết rồi, có nằm đó mà chờ được không?”

Bà Kim cười nhẹ nhàng:

“ Cứ thong thả, để xác thân nhân tại bệnh viện, nơi đây có đủ phòng lạnh để tồn trử, không ai đem xác quăng đi hoặc gởi hoá đơn xuống âm phủ đòi tiền người chết. Khi nào tìm được nơi làm tang lễ tốt, giá cả xứng đáng, chịu được, thì mới ký hợp đồng”

Một ông rể trong gia đình xen vào câu chuyện: “Trường hợp của gia đình tôi, ông bố vừa tắt thở tại bệnh viện, thì khoảng mười phút sau có nhân viên của nhà quàn đến tiếp xúc với gia đình, nói là họ được kêu điện thoại để đem thi hài thân nhân quý vị về nhà quàn. Chúng tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng là tự nhiên có người lo cho mình, khỏi phải đi tìm, chạy ngược xuôi trong lúc bối rối nầy. Chị có biết tại sao nhà quàn biết giỏi thế?”

Bà Kim cười: “Có gì lạ đâu? Nhiều nhà quàn liên lạc mật thiết với các y-tá trong các khu cấp cứu, hồi sinh. Khi có người qua đời, thì y tá báo ngay cho nhà quàn biết. Cũng là chuyện làm ăn thường tình”

Ông Hàn hỏi: “Làm sao giảm thiểu được chi phí tống táng, mà tang lễ vẫn được trang trọng, bình thường?”

Bà Kim nói: “Đừng gồng mình lên mua tất cả các mục không cần thiết mà nhà quàn liệt kê và khuyến cáo. Mua tối thiểu mà thôi. Vòng hoa trên ngực, vòng hoa trên quan tài, mình mua chỉ mấy chục đô, nhà quàn sẽ tính đắt gấp năm, gấp mười lần. Nếu khôn ngoan, thì làm lễ tưởng niệm tại nhà, tại chùa, nhà thờ. Trang trọng và thân mật hơn.”

Bà Hàn lo lắng hỏi: “Chỉ có mua hòm và đất chôn thôi, là đã đủ. Còn chi phí gì khác nữa chăng ?”

Bà Kim cười : “ Có lẽ ai cũng tưởng chôn cất là đơn giản như chị nghĩ. Không. Cả mấy chục thứ chi phí , tôi kể sơ ra đây mà thôi, nghe chán lằm. Nầy nhé, chi phí cơ bản tại nhà quàn để bàn định việc chôn cất, giấy phép chính quyền, khai tử, mua hòm, vải tẩm liệm, quách bao quanh hòm dưới đất, chuyển xác từ nơi chết về nhà quàn, tẩm xác bằng cách rút hết chất lỏng trong người ra và bơm chất hoá học vào, trang điểm cho người chết, áo quần liệm, giữ xác trong phòng lạnh, mướn phòng viếng thăm, đem xác ra vào, lễ viếng thăm, thức ăn, giải khát, tổ chức cử hành tang lễ, in chương trình tang lễ, cuốn tập ghi khách viếng thăm, vòng hoa trên ngực và vòng hoa trên giá, tụng niệm tôn giáo, ban nhạc, xe tang chuyển hòm từ nhà quàn ra huyệt mộ, xe lớn chở thân nhân theo quan tài, xe chở các vòng hoa ra nơi chôn, đất chôn, đào và lấp mộ, chuẩn bị mặt bằng để làm lễ hạ huyệt, căng lều, ghế ngồi, xếp đặt việc hạ huyệt, bia mộ tạm, đăng cáo phó, bia mộ, khắc chữ, dựng bia vân vân, mỗi mục là tính tiền riêng. Chưa kinh nghiệm thì tưởng chỉ có mua hòm và đât chôn là xong. Cọng tất cả lại, cũng là số tiền rất lớn, tang gia không ngờ được.”

Bà Hàn hỏi: “Thế thì mục gì mình có thể từ chối, không mua?”

“Còn tùy cách lựa chọn, thường thì mục nầy kéo theo mục kia, nhưng có nhiều mục có thể bỏ qua được. Nếu muốn tránh những chi phí linh tinh, thì tốt nhất là giảm bớt các nghi tức rườm rà, như thăm viếng nhìn mặt, làm lễ tại nhà quàn. Thân nhân có thể làm lễ tưởng niệm tại nhà thờ, chùa hay tại tư gia trong khung cảnh nghiêm trang, và bà con đỡ phải cực nhọc thăm viếng. Người quá cố được đưa từ bệnh viện đến nhà quàn, rồi thẳng ra huyệt mộ. Ngày nay, nhiều gia đình Mỹ tổ chức tang lễ đơn giản cho người quá cố, chỉ riêng trong vòng bà con thật gần gũi thân thiết, không tiếp bạn bè, quan khách, không vòng hoa, không phúng điếu”

Bà Hàn cắt ngang lời: “Thế thì không sợ người ta nghị dị, chê cười? Thiên hạ tưởng gia đình keo kiệt, bần tiện, không dám chi tiền, hoặc người ta chê mình nghèo?”

Bà Kim thở dài: “Quan trọng nhất là ước nguyện của người quá cố. Biết họ muốn gì, và mình làm được gì trong khả năng tài chánh của gia đình. Nhiều người chết, muốn tang lễ đơn giản, mà gia đình sợ bạn bè bà con dèm pha, phải gồng mình lên chi tiêu, nợ nần, mua lo âu vào thân. Cách tốt nhất, là mỗi người, làm sẵn di chúc, viết rõ các ước muốn của mình, trong khả năng tài chánh có thể. Chuẩn bị trước khi chết một chương trình và lối tang lễ mà mình ưa thích, mong muốn, và hợp với khả năng tài chánh sẵn có. Đừng để gánh nặng đè lên vai người còn sống, và đôi khi thực hiện tang lễ trái với ý muốn của mình. Đừng có dặn miệng thôi, không có bằng chứng, con cháu nhiều người quên mà không ai nghe. Khi đó, gia đình đỡ bối rối, vì kẽ muốn thế nầy, người muốn thế kia, gây gổ nhau. Nếu tang lễ có đơn giản, thì cũng không ngại ai chê cười. Nếu những người có dư tiền, muốn hoang phí đem chôn tiền xuống đất, thì cũng không ai trách móc . Bà nội tôi ngày trước, muốn con cháu mặc áo sô, thắt lưng rơm, dép cỏ, khóc lóc, nằm lăn lộn cản đường xe tang. Thuê thêm người khóc mướn làm điếc tai bàng dân thiên hạ. Thấy không đẹp, thiếu văn minh. Nghe đâu ông cố nội của tôi chết, hòm quàn trong nhà gần môt năm dài, tiếp khách viếng tang, chôn xong thì bà cố chết vì quá mệt nhọc, và gia đình sạt nghiệp.”

Ông Hàn hỏi: “Trẻ như chúng tôi, có nên viết di chúc không? Khi nào là lúc nên viết?”

“Trên năm mươi tuổi, thì viết được rồi. Những người bệnh nặng, nên viết ngay là tốt nhất. Tôi biết, nhiều người Mỹ giàu hàng trăm triệu, khi chết cũng muốn làm đám tang đơn giản, tối thiểu, không cho ai nhìn mặt, và chỉ có vài chục thân nhân tham dự. Trong nghề, tôi biết khá nhiều gia đình Việt Nam giàu có, khi chết cũng chuyển xác từ bệnh viện thẳng đến nhà thiêu luôn, khỏi phải qua nhiều giai đoạn, nghi thức rườm rà. Rồi bà con bạn bè đến nhà làm lễ tưởng niệm, nhắc chuyện vui buồn liên hệ đến người quá cố trong không khí vui vẻ, bình thường. Tôi nhấn mạnh ở điểm nầy, nếu không muốn cho thân nhân bối rối khi mình qua đời, thì mỗi người lớn tuổi, nên viết sẵn lời dặn dò cho gia đình”

Ông anh lớn nói: “Theo tôi nghĩ, người Việt mình bắt chước Mỹ, trưng bày mặt người chết cho bạn bè thân nhân nhìn lần cuối trước khi đem chôn là một việc làm không nên. Vì dù có trang điểm cách nào đi nữa, thì khi đã chết, mặt mày cũng không còn dễ nhìn như khi còn sống, nếu không nói là xấu xí, rờn rợn, hốc hác, tái mét. Cái hình ảnh cuối cùng trong trí của bạn bè rất quan trọng. Nếu không được đẹp đẽ, thiếu sống động như xưa, uổng vô cùng. Nhiều lần đi đám tang bà con, tôi thấy mặt mày người chết hốc hác, méo mó, miệng vẩu, mắt sâu, mà cứ buồn và tiếc mãi, giá như tôi đừng nhìn thấy hình ảnh đó thì hơn, để tôi còn giữ mãi trong trí cái khuôn mặt vui tươi, rắn rỏi, dễ thương ngày xưa. Nhất là nhiều người bạn, cứ nhắc đến tên, là tôi mường tượng ra đôi mắt sáng, nụ cười như hoa tươi, thay được bằng một hình ảnh vêu vao khó nhìn. Tôi cứ muốn quên đi, để lấy lại hình ảnh đẹp đẽ xưa, mà không được. Tôi chắc không ai muốn bị bạn bè nhìn họ với một nhan sắc xấu xí cả. Tuy nhiên, cũng có rất ít trường hợp, thấy mặt người chết đẹp hơn khi còn sống. Đó là những trường hợp người chết chưa bị bệnh lâu dài, nhan sắc chưa bị tàn phá nhiều. ”

Bà vợ ông Hàn nói: “Theo tôi, thì vì người trang điểm kém, hoặc chi ít tiền trang điểm, nên người chết không được đẹp”

Bà Kim cười lớn: “Một chiếc xe Ford đời cũ, làm sao mà sửa lại thành đẹp bằng chiếc xe Mercedes đời mới. Tô trát cũng có giới hạn thôi, ngoại trừ mang cái mặt nạ khác. Theo kinh nghiệm của tôi, thì không phải đám tang nào của người Mỹ cũng trưng bày mặt người chết cho bạn bè nhìn. Nhất là những người đã đau yếu bệnh hoạn lâu ngày, ngay cả khi chưa chết, họ không muốn ai thấy họ đã ốm o, hốc hác, xấu xí cùng cực.”

Ông Hàn thêm vào câu chuyện; “Khi làm mặt và trang điểm cho người chết, tôi xem chiếu trong phim tài liệu, mà sợ. Ngoài việc moi hết tim gan phèo phổi, dạ dày, ruột non ruột già, thấy người ta còn dùng mấy cây sắt dài chừng nửa thước, to hơn chiếc đũa, xiên từ trong miệng xuống cổ, vào thân, có lẽ để giữ cho cái đầu và xác ở vị trí thẳng. Rồi cắt trong nướu, để dùng dây kẽm may, xâu hàm trên và hàm dưới lại với nhau trong vị trí bình thường, cho miệng khỏi há ra, và may môi lại với nhau. Dùng chất dẻo đắp vào các nơi cần đắp. Sau đó, dùng phấn, màu, thoa lên mặt, tạo thành một lớp giống như da thường. Cắt tóc, cạo hay tiả râu lại cho đẹp. Nếu mình chứng kiến tận mắt khi họ làm cho thân nhân mình, thì đau lòng lắm.”

Ông anh vợ cắt ngang: “Thôi, thôi, dượng đừng nói chuyện đó, nghe mà ghê. Khuất mắt, mình không thấy thì đỡ sợ. Sao không trở lại câu hỏi chính, là làm thế nào để chi phí tang lễ ít tốn kém nhất?”

Bà Kim cười: “Cách tốt nhất là thiêu xác, và nếu thiêu liền, chuyển xác từ nơi chết, trực tiếp đến lò thiêu, tang lể làm tại nhà, không nhìn mặt, thì đỡ được rất nhiều chi phí khác như tẩm liệm, ướp thuốc, xem mặt, thuê phòng, xe tang. Thường phí tổn chỉ trên 1000 đô thôi.”

Bà Kim hớp thêm ngụm trà, rồi tiếp: “Có người nói sợ nóng, không dám thiêu. Nhưng khi chết rồi, thần kinh đã tê liệt, thì đâu biết chi nữa mà nóng hay lạnh. Nếu còn biết nóng lạnh, thì khi nằm dưới đất lạnh lẽo, tối om, chật chội, ngộp , dòi bọ vi trùng đục khoét, mặt mày teo rúm, há hốc mồm miệng, nhăn răng, khô đét, hoặc rữa mũn ra, thì có khó chịu hơn không? Chưa kể điều mà chủ nghĩa địa bảo là đất ‘vĩnh viễn’, thì thường là 49 năm hay 99 năm thôi. Sau đó thì thông cáo trên báo chí là sẽ dời xác. Con cháu có bao giờ đọc đến cái thông cáo nầy, mà có đọc, cũng không biết đó là mộ của thân nhân mình. Bên Âu Châu, có nhiều hầm nhà mồ, xương chất đẩy, xương của hàng trăm vạn ngôi mộ được đào lên, gom lại, xếp đặt hàng triệu miếng xương lẫn lộn , rất mỹ thuật. Luật lệ nhiều xứ, chỉ cho chôn 5 năm hay 10 năm, hoặc mấy chục năm thôi. Phải bốc mộ sau thời gian đó. Ít có nơi nào là vĩnh viễn hoặc lâu vài ba trăm năm. Ngày nay tại Mỹ, ngưòi ta càng ngày càng ưa thích việc thiêu xác. Các xứ khan hiếm đất đai như Nhật, và cả Tàu, Ấn Độ, đều thiêu xác. Ngoại trừ những vùng xa xôi, còn giữ lại việc chôn dưới đất.Theo thống kê năm 2009, thì mười tiểu bang sau đây, có tỷ lệ thiêu xác cao nhất ở Mỹ: Nevada 73.93%, Washington 69.62%, Oregon 69.24%, Hawaii 68.82%, Vermont 65.67%, Arizona 65.60%, Montana 64.81%, Maine 62.75%, Colorado 62.01%, Wyoming 61.76%”

Bà Hàn xen vào: “Người theo đạo Chúa, có thiêu xác được không?”

Bà Kim cười và tiếp lời: “Mãi cho đến khi Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Sáu tuyên bố việc hoả thiêu là không trái với Giáo Luật vào năm 1963 và ba năm sau, các linh mục được phép làm lễ cho các đám tang hoả thiêu, thì việc hỏa táng được phát triển rất mau. Ngày xưa giáo hữu Thiên Chuá tin rằng, phải còn xác, để chờ ngày phán xét cuối cùng, mà sống lại trên thân xác đó. Chì còn đạo Do Thái là cấm hỏa thiêu thôi, vì họ cho rằng, tro cốt nằm trong hủ, không thể “đất bụi trở về lại với đất bụi được

Ông Hàn bưng bánh ra mời bà con, và nói : “Ông anh rễ tôi kể rằng, thời mới chạy qua Mỹ mấy năm sau 1975, anh em đồng khoá Võ Bị Đà Lạt đi thăm viếng một người bạn đang hấp hối vì bệnh ung thư trong khu chờ chết ở Viện Phục Hòi. Khi đó, đa số đều độc thân, hoặc vợ con còn kẹt lại ở Việt Nam, bơ vơ, không bà con thân thích. Anh em thấy ông bạn nằm thiêm thiếp, bàn nhau đóng tiền thiêu xác. Tưởng hắn mê man không nghe được, nhưng bỗng hắn mở mắt ra và nói rõ ràng : “Ông cóc muốn thiêu, sợ nóng lắm. Chôn mà thôi” Đám bạn bè giật mình nhìn nhau. Một ông bạn nóng tánh, gằn giọng: “Đưa tiền đây, tụi tao chôn cho. Thằng nào cũng rách mướp, tiền đâu mà chôn mầy.” Một ông bạn khác nháy mắt, rồi nói: “Mầy muốn chôn cũng được, yên tâm đi.” Khi đi ra ngoải, anh bạn nói: “ Cứ hứa đại, cho nó yên tâm chết. Sau khi chết rồi, thì cóc biết chó gì nữa, thiêu hay chôn thì cũng thế.” Thời đó, mới đến Mỹ, người nào cũng đi làm việc lao động với đồng lương tối thiểu, lo nuôi thân chưa đủ, lại lo gởi tiền giúp gia đình bên Viêt Nam, tiền đâu mà bỏ ra chôn cất bạn bè, đòi việc ngoài khả năng, làm sao mà thoả mãn được? Nầy chị Kim, chị biết tại sao ngày nay người ta chuộng việc thiêu xác hơn là chôn không?”

Bà Kim ăn bánh, uống nước, rồi thong thả nói: “Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học, người ta chuộng thiêu hơn chôn vì càng ngày người có học thức cao càng đông đảo hơn, việc thiêu xác được quần chúng chấp nhận xem như bình thường, đất chôn không còn dễ dàng và rẻ như xưa, tiết kiệm đất đai cho người còn sống, giáo luật không cấm thiêu, tiện lợi, giản dị và tiết kiệm được nhiều thì giờ, giảm thiểu chi phí không cần thiết.”

Một người khác trong gia đình hỏi: “Tôi nghe nhiều người già mua trước toàn bộ chương trình tang lễ, từ đầu tới cuối. Khi nằm xuống thì khỏi bàn cãi lôi thôi gì, và tiền bạc cũng đã thanh toán xong. Gia đình khỏi phải bận tâm. Việc mua trước đó, có thất không, và có lợi hại gì không?”

Bà Kim gật gù: “Mua trước toàn bộ các mục cho đám tang cũng là điều hay. Nhưng phải liệt kê rõ ràng từng danh mục cho minh bạch, đừng thiếu khoản nào. Để sau nầy khỏi phải trả thêm, vì thiếu sót. Cũng có nhà quàn muốn kiếm chác thêm chút chút, khi làm đám tang, nói là hòm loại nầy chưa về hoặc mới hết, phải chờ mua . Nghe chờ mua hòm là đã hết hồn, và chấp nhận trả thêm tiền cho cái hòm đắt hơn.”

Ông Hàn hỏi: “Có khi nào mình mua trước, tiền thanh toán hết rồi, mà khi chết, họ chối từ làm tang ma hay không?”

Bà Kim cười khanh khách: “Chuyện gì cũng có thể xảy ra cả. Bình thường, thì không có chuyện rắc rối đó. Ngoại trừ khi nhà quàn bị đóng cửa, hoặc đã đổi chủ. Kẹt nhất là khi mình đổi nơi cư trú quá xa nhà quàn ký hợp đồng làm tang lễ, hoặc mình chết ở một chốn xa xôi nào đó, mang xác về tốn kém hơn là chôn hay thiêu ở nơi chết. Thường thường hợp đồng nầy không trả lui được, không chuyển nhượng cho người khác được. Mua trước cũng có cái lợi, là phí tổn khòi phài tăng theo thời giá.”

Cả nhà mời bà Kim ở lại ăn cơm, để tham dự cuộc họp gia đình và điện thoại khảo giá việc tang lễ. Cả gia đình bàn cãi sôi nổi, kẻ muốn chôn, người muốn thiêu, bà chị lớn còn muốn làm đám tang linh đình, đủ các nghi thức rườm rà. Cả nhà cãi nhau thành to tiếng, mãi chưa đi đến đâu, thì cô Út lấy trong xách tay ra một là thư, nhìn mọi người và nói với giọng run run đầy nước mắt:

“Thưa các anh chị, em muốn cho mẹ có được một đám tang bình thường như mọi người. Em để các anh chị quyết định, nhà chúng ta không thiếu tiền, không cần tiết kiệm. Nhưng các anh chị không đồng ý với nhau, có thể sinh ra bất hoà, nên em xin trình lá thư của mẹ gởi cho em từ lâu, để anh chị xem. Đây, em xin đọc lá thư : “...Sau nấy mẹ chết, thì mẹ ước mong các con làm đám tang đơn giản. Không khăn sô, không tụng niệm, không để bà con xem mặt, không phúng điếu, không vòng hoa, và mẹ muốn được thiêu xác. Tro cốt thì đem thả xuống Thái Bình Dương, để mẹ hoà tan vào biển cả, may ra thấm về thấu tận quê nhà bên kia đại dương. Đừng chôn tiền xuống đất. Tiền tiết kiệm được đem cúng cho hội từ thiện ..”

Cả nhà trách cô Út tại sao không đưa là thư ra từ đầu, để khỏi bàn cãi lôi thôi, cô khóc mà không trả lời.

Sau khi nhờ bà Kim phối hợp, cả nhà hoàn tất và ký khế ước hỏa thiêu. Chi phí tang lễ chôn cất do nhà quàn đề nghị tổng cọng 34,680 đô, chỉ còn tốn 1676 đô bao gồm toàn bộ thủ tục giấy tờ, chuyển xác, hoả thiêu và bình tro tạm.

Toàn anh chị em trong gia đình góp thêm tiền, đem tặng hội từ thiện 35 ngàn đô. Cả nhà đều vui mừng, nhẹ nhỏm. /.

Tràm Cà Mau

(Tháng 12/2010 những ngáy cuối năm mưa dầm)

“Dân biết, dân bàn và dân kiểm tra”

Thêm một “Đòn” mới của Nghị quyết 36!



Bài của tác giả Vũ Ánh được đăng trong mục “Chuyện khó tin nhưng có thật” trong số báo Người Việt Dallas số 882 ra ngày 24-12-2010.

Đây là bài viết thứ nhì tiếp theo bài viết trước đây cũng trên tờ báo nầy. Chống Cộng làm sao khỏi bị kiện! Nói cho cùng thì các bài viết của ông Vũ Ánh lý luận quá dông dài, nhưng tựu trung chỉ là việc bênh vực những thành phần tiếp tay cho một nghị quyết Việt cộng và chê trách những thành phần quốc gia, những đồng hương tỵ nạn cộng sản, những nhà hoạt động lãnh đạo cộng đồng, các cơ quan truyền thông báo chí và gồm hơn 150 nhà trí thức mà chẳng biết làm sao chống lại một nghị quyết gian ác.Nghị quyết 36 chẳng tan, mà các tổ chức chống nghị quyết đó bị cháy như bó đuốc.

Đây là đoạn mở đầu trong bài viết mới của ông “Nói một cách tóm lược, đòn mới của nghị quyết 36 là chiến dịch “dân vận” Một vài người thích dao to búa lớn thì gọi đó là “chiến dịch nhuộm đỏ hải ngoại” cho thêm phần gay cấn.Những người trầm tĩnh hơn, sâu sắc hơn thì tỏ ra lo ngại thật sự. Trong những câu chuyện riêng tư nơi gốc một quán cà phê vắng họ đặt vấn đề, đại khái tóm lược như sau:
“Thế liệu trong cộng đồng nầy có ai biết chắc nghị quyết 36 là cái gì không, hay cứ nói ra thì chỉ có một cách hiểu đó một âm mưu, một phương thức nhuộm đỏ cộng đồng người Việt ở hải ngoại? Mà cứ cho rằng nghị quyết 36 chỉ giản dị như thế đi, vậy chúng ta chống nó bằng cách nào? Biểu tình bao vây các cơ sở ngoại giao của họ? Tốt lắm nhưng đến bao giờ? Biểu tình chống những cơ sở truyền thông hay thương mại nào không đồng tình với các lãnh tụ cộng đồng, các ông ủy ban? Cứ cho là tốt đi, nhưng đã có bao giờ các cuộc biểu tình biểu dương như vậy thành công chưa? Cho đến bấy giờ bọn đỏ tung ra đòn thứ nhì thì hành động nầy chứng tỏ điều gì? Trước mắt, có phải là đòn dân vận của người Cộng Sản cho thấy nghị quyết 36 chưa chết và những nỗ lực của người đứng ra chống đã không thành công không?

Chưa nghe ai nói từng có cá nhân hay tập thể cộng đồng nào “Biểu tình chống các cơ sở truyền thông hay thương mại nào không đồng tình với các lãnh tụ cộng đồng, các ông ủy ban” cả, ông Vũ Ánh nhập nhằng chuyện những cơ quan truyền thông đăng bài, hình ảnh tuyên truyền cho CS bị biểu tình phản đối rồi tự lau mặt bằng cách đánh đồng chữ nghĩa là vì “không đồng tình với các lãnh tụ cộng đồng, các ông ủy ban!”

Đọc đoạn văn trên đây ai cũng cứ tưởng ông là người yêu nước thứ thiệt, ông suy tư và lo ngại một cách trầm tĩnh sâu sắc. Nhưng lo ngại rồi để làm gì cho tổ quốc và dân tộc, chẳng thấy ông nhắc đến. Bôi bác hơn ông còn mĩa may dẫn chứng một vấn đề vô cùng quan trọng trong cuộc đấu tranh chính trị một mất một còn với kẻ thù bằng những câu chuyện phiếm nơi một gốc cà phê vắng vẻ nào đó, thường là để bàn những tin xe cán chó, chó cán xe...

Ông coi thường các vị lãnh đạo Cộng đồng, ông gọi mỉa mai họ là các lãnh tụ chống cộng, các ông ủy ban...! Điều nầy đã nói lên lòng thù hận và ích kỷ của một con người tầm thường. Các vị ấy là những người tự nguyện ăn cơm nhà vác ngà voi, hy sinh thời giờ và hạnh phúc riêng tư, chỉ vì một tấm lòng son sắc với quê hương đất nước. Họ chẳng có một thứ quyền hành gì cả, ngoài việc kêu gọi, nài nỉ đồng hương, sẵn sàng đi tiên phong đứng mũi chịu sào trước những âm mưu quỷ quái của kẻ thù. Tại sao ông không tiếp tay với họ mà lại chê trách họ.

Trong cuộc chiến giải thể một chế độ gian ác với nhiều trò lưu manh, chúng ta không thể chấp nhận thái độ chàng hảng, hai hàng, Ông không góp ý xây dựng mà chỉ thích đóng vai trò đứng bên lề làm thầy bàn, chờ đợi sơ hở để mà đả kích phê bình chê bai chẳng mang được lợi lộc gì. Như đoạn ông viết dưới đây “.Thế rồi nhân vụ Lý Tống xịt hơi cay vào ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, ủy ban vận động chống tay sai tưng bừng biểu dương bằng một cuộc biểu tình chống một show nhạc có Đàm vĩnh Hưng hát ở Anaheim Convention Center. Ban tổ chức biểu tình tuyên bố thắng lợi (nhưng sự thật có thắng hay không thì cũng chưa ai biết vì cần có sự đánh giá độc lập), ủy ban họp báo cấm cửa không cho 3 nhà báo hành nghề (thực sự các ông các bà trong ủy ban làm gì có quyền hành nầy, ngay cả tổng thống Mỹ cũng không có cái quyền ấy huống chi chỉ mấy ông bà quyền thì chẳng có mà hành thì cũng không). Bị phản bác, ủy ban cháy như cây đuốc…”

Cộng đồng Người Việt quốc gia là một tổ chức thiện nguyện, đứng ra đảm trách các công việc chung không ai trả lương và cũng chẳng có quyền hành gì. Điều đó đúng không ai chối cãi. Các cuộc họp báo của cộng đồng thường được thuê mướn một nơi nào đó để thông tin đến toàn thể mọi người những vấn đề liên quan hệ trọng trong mọi cuộc sinh hoạt của đồng hương mà mình là người được bầu cử đại diện. Và vì vậy họ có quyền không mời cũng như không chấp nhận những thành phần chuyên môn rình rập đánh phá, những kẻ luôn lợi dụng danh từ ký giả làm xáo trộn cuộc sống bình yên của mọi người Đâu phải hễ ai cứ tự xưng là nhà báo thì họ có quyền tham dự, nhất là những nhà báo có thành tích bất hảo, báo hại báo đời, chẳng ai mời mà mặt lỳ lơm cứ đến.

Việc tẩy chay, hoặc tống cổ họ ra khỏi phòng họp là một việc làm đúng đắn chẳng có gì vi phạm cả.Việc tác giả mang quyền hạn của tổng thống Mỹ như trên đây là một sự hù dọa, bào chữa lố bịch vô duyên. Ngay cả Nguyễn minh Triết, Nguyễn tấn Dũng khi được mời sang Mỹ, được đón tiếp long trọng như là một vị khách quý của đất nước và nhân dân Hoa Kỳ, còn bị đồng hương tỵ nạn chúng ta chống đối đuổi về, kể cả việc anh Lê Phước Tuấn đấm vào mặt tên phụ tá phó thủ tướng cộng sản ngay trong khuôn viên tòa Bạch ốc dầu phải bị ra tòa dưới áp lực của tòa đại sứ Việt cộng, nhưng nhờ có chính nghĩa và sự hỗ trợ hết lòng của đồng hương tỵ nạn nên cũng chẳng sao, hiện anh đang ở Dallas và vẫn tiếp tục cùng cộng đồng trong mọi cuộc biểu tình chống văn công Cộng Sản. Đó mới chính là quyền tự do hiếm có và cao cả của một xứ sở văn minh. Việc làm của chúng ta có chính nghĩa rõ ràng, không có bất cứ luật pháp nào ở đây cấm cản chúng ta.

Hãy xem ông viết tiếp “.Hóa ra dù chưa quyền hành gì mà các ông các bà trong ủy ban đã hành động y chang bọn đỏ đối với các bloggers ở Việt Nam thời gian gần đây Hèn chi mà mấy ổng chẳng âm thầm đóng cửa. Mới vận động thôi mà đã ghê gớm như vậy chứ giả sử mà mấy ổng cầm quyền thì bỏ mẹ dân đen”. Không thiếu gì những người trong cộng đồng nói như vậy…” Chẳng ai là người Việt Nam tỵ nạn cộng sản than phiền điều nầy, trừ những thành phần tiếp tay nối giáo cho giặc qua hình thức nghị quyết 36. Việc giải thể chế độ cộng sản không phải là chuyện dễ dàng, một ngày một bữa, mà phải trường kỳ kháng chiến có thể từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.Tự Do nào cũng phải trả bằng xương, bằng máu, ngay cả chết chóc tù đày. Cần đòi hỏi những tấm lòng yêu nước cao cả và một sự hy sinh đoàn kết thật sự. Thời gian có thể dài ngắn, nhưng đừng bao giờ đem thành bại để luận anh hùng! Các nhà đấu tranh trong nước biết chắc rằng sớm muộn gì rồi cũng sẽ bị ngồi tù, nhưng họ chẳng có gì lo sợ cả.Cha Lý vừa ra Lời kêu gọi giải thể chế độ cộng sản để thiết lập chế độ dân chủ đa đảng Việt Nam, thăng tiến hòa bình dù ông biết trước rồi ra chúng sẽ bắt giam ông trở lại bất cứ lúc nào, nhưng lòng yêu đất nước không cho phép ông im lặng.Thà nói ra lúc nầy trước khi ông lại bị bịt mồm bịt miệng như trong phiên tòa ô nhục trước đây.

Ông lại cho rằng những ồn ào chấn động, những cáo buộc, lăng mạ, chụp mũ, lộn xộn nhất chỉ diễn ra trong cộng đồng Việt Nam ở bên nầy Thái Bình Dương, còn bên kia dân chúng có biết không? Ở đất nước tự do nầy, không ai có quyền lăng mạ hoặc chụp mũ ai, chỉ có những kẻ có tật thường hay giật mình. Không có lửa làm sao có khói, không có những kẻ tiếp tay, dàn dựng, mời mọc, thuê mướn, quảng bá truyền thông thì làm sao có chuyện chống cộng mà ông cho là ồn ào, bát nháo. Là một nhà báo lại là từng làm chủ bút một tờ báo lớn, thế mà tại sao ông đặt ra một câu hỏi vô cùng ngớ ngẩn như vậy, điều nầy hơi quá đáng, không đúng sự thật. Cá nhân người viết bài nầy đã từng gặp và nghe những lời xác nhận từ giáo sư Nguyễn chính Kết, nhà đấu tranh dân chủ cho Việt Nam, hiện đang được tỵ nạn cộng sản tại Hoa Kỳ. Ông đã nói “Đồng bào ở trong nước, mỗi lần nghe hải ngoại biểu tình chống cộng sản thì họ mừng lắm, càng chống chúng bao nhiêu càng làm tăng thêm khí thế của các nhà đấu tranh dân chủ trong nước chúng tôi bấy nhiêu”.

Đâu có phải chỉ có ở Hoa Kỳ chúng ta chống đâu, mà từ Âu qua Úc hay khắp năm châu cũng thế. Nơi nào có người Việt tỵ nạn cộng sản là nơi đó cũng có những thành phần tiếp tay, cò mồi, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, và cũng chính những nơi đó mới làm nên được sức mạnh cộng đồng.

Trước khi viết tiếp tôi xin dẫn chứng một số điều quan trọng trong nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị về Công tác đối ngoại Việt Nam ở nước ngoài, để khỏi bị ông chê là chống cộng vu vơ.Vì trong phạm vi bài viết hạn hẹp, tôi chỉ nêu ra những điểm cần thiết liên quan đến những vấn đề đang sôi nổi trong sinh hoạt cộng đồng người Việt của chúng ta.

Trong phần thứ ba về Nhiệm vụ chủ yếu, ở đoạn 5 như sau: “Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ.Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể giúp bà con học tiếng Việt.Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng.Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lãm, hội thảo, du lịch, về nguồn…”

Nghị quyết 36 cộng sản nguyên thủy là một nghị quyết “Dân vận” rồi.Nhưng để đạt được mục đích đó, chúng tìm đủ mọi cách vận động để bọn tay sai nằm vùng thưc hiện bằng nhiều chiêu thức khác nhau, chẳng có “Đòn” nào là đòn mới như ông đã “ bịa” trong lời tựa bài viết của ông. Nghị quyết 36 do chính thủ tướng Việt gian cộng sản Võ văn Kiệt đã ký với những lời nhắn nhủ như sau: “Tôi kêu gọi tất cả đồng bào trong nước và đang ở nước ngoài hãy hướng về tổ quốc, đồng tâm đoàn kết, góp phần xây dựng đất nước ta.Chúng ta hết sức quan tâm đến sự hòa hợp, chúng ta phải đặt quyền lợi dân tộc là tối thượng, cho dù chính kiến tôn giáo, quan điểm có khác nhau, nhưng lợi ích dân tộc phải đặt lên trên hết.Mọi người Việt Nam phải cùng nhau góp sức, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, không có gì chúng ta gây ra trỡ ngại đó. Đối với người nước ngoài còn bỏ qua được, không lẽ người Việt Nam với nhau không bỏ qua được hay sao! Nếu cố chấp nhau dân tộc không lớn mạnh được..”

Câu nói của cựu tổng thống Nguyễn văn Thiệu “Đừng tin những gì cộng sản nói, mà hảy nhìn những gì cộng sản làm”, muôn đời vẫn luôn luôn còn giá trị với bất cứ chế độ cộng sản nào.Chuyện cộng sản cho phép một số ca sĩ hải ngoại về nước hát và ca sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn cũng nằm trong kế sách của chúng. Có gì mới lạ đâu, đó là chỉ là việc cố gắng đưa bàn tay nối dài với người Việt chúng ta tại hải ngoại.

Tôi cố đọc hết bài viết của ông để cố tìm ra một “Đòn:” mới của nghị quyết 36 nhưng tôi cảm thấy thất vọng hoàn toàn như những điều ông dẫn chứng sau đây. “Chưa cần phải luận bàn là công cuộc chống nghị quyết 36 thành công hay thất bại, nhưng cứ duyệt lại những diễn biến trong cộng đồng từ lâu người ta có thể kết luận riêng cho mình và chuyện Hà nội tung ra đòn thứ hai là chuyện đương nhiên. Điều quan trọng là đòn thứ hai nầy do chính trung ương đảng Cộng sản điều khiển, cộng thêm với việc thiết lập một trang mạng cho Việt kiều ở nước ngoài. Website đưa tin về người Việt ở nước ngoài vừa được ra mắt hôm thứ Tư vừa rồi, nhằm mục đích tuyên truyền đường lối chính sách của đảng và nhà nước đối với người Việt ở nước ngoài.”

Dầu Bộ chính trị hay Trung ương đảng điều khiển thì có khác gì nhau, chẳng qua là cách xử dụng ngôn từ. Chẳng có gì gọi là “Đòn” thứ hai hay thứ ba cả! Chúng là một bè lũ gian manh đầy tham vọng càng ngày càng bị cô lập tứ bề. Việc nhắm vào chất xám và tiền của nơi kiều bào hải ngoại để sống còn là việc họ cần làm trong khi cố ra sức đè bẹp các tôn giáo, các thành phần trí thức yêu nước có thể làm rung rinh chế độ một cách không gớm tay.Họ có yêu nước, yêu dân tộc gì đâu.Đối với họ là cũng cố quyền lưc cho đảng bằng bất cứ thủ đoạn, kế sách nào để đưa đến sự thành công cho một nghi quyết.

Bài ông viết rất dài theo kiểu đánh hỏa mù, vòng vo tam quốc, nhưng qua bài viết nầy cũng như bài viết trước đây, mọi người có thể hiểu ông, một ông Vũ Ánh nằm ở phe nào trong công cuộc chống cộng “Xương sống của nghị quyết 36 chính là đường lối khai triển sự kiểm soát cộng đồng người Việt tại hải ngoại nói chung và tại Mỹ nói riêng. Trong khi đó thì đáng buồn thay, khi nhắc tới nghị quyết 36 hay chuyện chống nghị quyết 36, nhiều người ở đây cười. Họ cười cũng phải , bởi vì trong quá trình chống nghị quyết 36 vừa qua, có bao nhiêu chuyện cười ra nước mắt trong cộng đồng và cái bi kịch chính là một số người trong tổ chức chống nghị quyết 36 trở thành những người thực hiện nghị quyết 36 cho Hà nội, bằng cách thay vì chống cộng thì họ quay ra chống nhau, chống đồng hương, đòn nhắm vào Việt cộng là đòn gió, còn đòn nhắm vào những người quốc gia chỉ vì không ưa những người đó, chỉ vì cách nhìn của họ khác mình. Thay vì vận động thuyết phục, lôi kéo thì ra lệnh, biểu diễn quyền lực, thay vì mở rộng lòng, chứng tỏ sự hào phóng bao dung, thận trọng và cảnh giác thì giở trò nhỏ mọn, tư thù ganh ghét, thiển cận, nóng vội, thiếu ngay cả yếu tố quan trọng của nhân bản: đó là sự tử tế giữa con người và con người…”

Ông không dẫn chứng được ai cười, nhưng tôi nghỉ ông là người cười chê trước tiên cùng nhóm bạn trong một góc nhỏ quán cà phê “Lú” nào đó Đã nói là cộng đồng hay ủy ban không có đủ thẩm quyền thì lấy cái gì để ra lệnh, biểu diễn quyền lực như ông đã nói, cho dù có thật quyền đi nữa nếu họ nói bậy thì cũng chẳng ai rảnh để mà nghe.Ông đừng xem thường đồng hương quá như vậy.Chuyện chống lại một chế độ gian ác là bổn phận của tất cả mọi người.

Tại sao cần phải thuyết phục, lôi kéo, hào phóng bao dung với bọn đón gió trở cờ.Yếu tố nhân bản trong cuộc sống là cần thiết, nhưng phải tùy trường hợp đúng lúc đúng nơi.Tại sao ông không bảo bọn cộng sản và những kẻ tay sai phải biết những điều gì nên hoặc không nên làm. Đối với kẻ thù hoặc là chống đến nơi đến chốn, hoặc là cúi đầu làm tay sai, chứ chẳng có chỗ đứng nào khác hơn cho những kẻ mà ông cho là tử tế. Cộng đồng và các nhà lãnh đạo các Ủy ban họ thừa hiểu ai là người quốc gia và ai là người tay sai cộng sản. Một chương trình ca hát toàn là đoàn văn công Cộng sản thứ thiệt về ngay tại nơi điạ phương ta đang ở, tổ chức không cần biết đến lỗ lời, vé thì cho free nhiều hơn vé được bán, thì không chống thì còn gì là tổ chức của một cộng đồng tỵ nạn.

Cá nhân người viết bài nầy là một cư dân Dallas hơn 20 năm qua, đã từng có mặt hầu hết trong mọi sinh hoạt cộng đồng.Đã từng chứng kiến mọi sự thảm hại của các đoàn văn công Cộng sản được bọn con buôn tiếp tay dàn dựng. Từ Vùng trời bình yên 2006, trải thảm đỏ 2007, Tiếng cười Dallas 2008, Nhạc hội Thanksgiving 2009 với vụ kiện tụng đặc biệt đòi bồi thường 14 triệu USD còn trong vòng thưa kiện, nhưng cộng đồng vẫn tiếp tục biểu tình trưóc sự khiêu khích của chương trình ca hát toàn văn công cộng sản “ Tiếu vương hội 2010” Tất cả mọi người hiện diện để phản đối chiến dịch tuyên truyền văn hóa vận lần nầy được đến từ khắp mọi nơi: Nam Cali, Austin, Houston, Washington, Florida.và hơn 400 đồng hương tại Dallas. Được các cơ quan truyền thông báo chí người Mỹ tại địa phương hiện diện tường thuật đầy đủ.Rạp hát trình diễn với sức chứa hơn 3000 chỗ ngồi, nhưng vào giờ chót cố gắng bán và cho thêm chỉ vỏn vẹn khoảng dưới 250 người.

Đặc biệt lần nầy, dù bầu show đã thuê nguyên cả khu vực trình diễn, nhưng cảnh sát an ninh đã thông cảm và rất hiểu được việc làm chính đáng của chúng ta, ra vào dễ dãi và chuyện ế ẩm bọn cai thầu văn nghệ không thể che giấu được. Nói lên điều nầy để minh chứng và trả lời với ông Vũ Ánh là chuyện chống nghị 36 của cộng đồng và đồng hương thành công hay thất bại! Ông cứ yên tâm đừng buồn vì cá nhân tôi là người trong ủy ban yểm trợ pháp lý cho các vị lãnh đạo cộng đồng và 2 cơ quan truyền thông báo chí bị kiện thưa tại Dallas, chúng ta đang có một ngân quỹ dồi dào do đồng hương khắp nơi đóng góp, thừa sức để đối đầu với âm mưu của những kẻ nhiều tiền lắm bạc!

Vỏ quýt dày thì bao giờ cũng có móng tay nhọn. Ông cho rằng cái vỏ dân vận Việt Cộng cũng khá độc hiểm đấy, nhưng vấn đề đặt ra là móng tay một số tổ chức chống Cộng ở đây có đủ nhọn hay không. Làm thế nào để có những móng tay nhọn thì hiện nay vẫn còn là một thử thách trong cộng đồng. Xin cám ơn ông đã đưa ra một vấn đề rất chí lý, và cũng xin kính nhờ ông hãy xắn tay áo giúp giùm một tay, dù tuổi già sức yếu, nhưng sự hiện diện của ông cũng đủ nói lên được một tấm lòng.Xin ông hãy ngưng chỉ trích bôi bẩn việc chống Cộng của các cộng đồng. Tôi đọc ở đâu đó trên diễn đàn có một đoạn họ nhắc đến tên tuổi ông: “Phần ông Vũ Ánh viết thì bà con ít người tin vì chính ông là là người đồng ý cho đăng bài Huỳnh Thủy Châu vào hình chậu rửa chân có cờ Việt Nam Cộng Hòa, và cũng chính ông bị báo Người Việt cho đi nghỉ mát..”

Trên phương diện nầy, phương diện khác, mỗi con người đều có giới hạn về mặt tài năng và cả khiếm khuyết, những người đứng ra nhận lãnh trách nhiệm cộng đồng, hội đoàn cũng thế. Họ hơn người ở chỗ dám đứng lên. Trong khi có người tài năng hơn lại né tránh? Phê bình để họ sữa sai là điều cần, nhưng viết bài đánh phá là tiếp tay cho những loại báo chí đã và đang công khai đứng về phía kẻ thù là điều không thể chấp nhận được.

Dù chỉ một lần thất tín thôi, thì vạn sự chẳng ai tin ông.Chuyện chống lại nghị quyết cộng sản sẽ còn dài.Nhưng có một điều xin ông phải công nhận được một sự thật. Nghị quyết 36 của Cộng sản dù chưa chết nhưng chúng cũng đang ngất ngư, còn các lãnh tụ Cộng đồng cùng các Ủy ban chống Cộng vẫn còn rất mạnh, vẫn còn là thành trì đủ sức ngăn chăn sự xâm nhập của bất cứ nghị quyết nào của Cộng Sản. Nhân dịp đầu năm kính chúc ông được nhiều sức khỏe sớm nhận ra được vấn đề. Xin ông hãy trả lại sự yên lặng trên diễn đàn. Thành thật cám ơn ông trước.

Arlington, Texas những ngày đầu năm 2011
Mũ xanh Phạm văn Tiền
__._,_.___

Đánh Vợ hay bị Vợ đánh


(Viết để vinh danh những người vợ không đánh chồng và những người chồng không đánh vợ. )

Ngạn ngữ Tây Phương có câu " không nên đánh người đàn bà dầu bằng cánh hoa", nhưng khổ nổi ở cái cõi đời ô trọc này , có những kẻ vì giận mất khôn, nên đã đánh vợ không bằng cánh hoa mà đánh bằng bình đựng hoa.

Từ đông sang tây và từ tây sang đông, người đàn bà vốn được xem là phái yếu nên trong chuyện cơm không lành canh không ngọt, nếu vợ chồng phải gấu ó và gầm gừ lẫn nhau thì pháp luật và thói đời thường tỏ ra bênh vực và thiên vị người đàn bà; nhưng không phải vì thế và được thể mà nhiều bà lên mặt ăn hiếp chồng.

Có nhiều bà vợ lúc nào cũng nhường nhịn chồng đúng mực thước như lời mẹ dặn khi mình thụt thịt nước mắt bước lên xe bông đi làm dâu nhà người:

Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hột nào.

cho dầu gặp phải những ông chồng rất là hư đốn tệ mạt đáng đánh đòn:

Chồng em nó chẳng ra gì
Tổ tôm xóc đĩa nó thì chơi hoang
Nói ra xấu thiếp hổ chàng
Nó giận, nó phá, tang hoang cửa nhà

Những cặp vợ chồng cãi nhau hằng ngày như cơm bũa là những cặp vợ chồng bệnh hoạn. Những cặp vợ chồng không bao giờ cãi nhau là những cặp vợ chồng bất thường. Hôn nhân không phải là đia ngục mà cũng chẳng phải là thiên đường. Em ơi lâu đài tình ái đó chắc không có trên trần gian và thật thế hôn nhân nó ở trần gian nên chuyện vợ chồng cằn nhằn cẳn nhẳn chút đỉnh là chuyện thường mà nhiều khi nhờ đó mà hạnh phúc lứa đôi được thêm mặn nồng.

Chuyện chồng đánh vợ là chuyện khi nói ra ai cũng tin là có thật. Còn chuyện vợ đánh chồng là chuyện mà khi nói ra nhiều người coi là chuyện diễu, chỉ có trong hí hoạ với hình ảnh một bà cầm chổi chà hay cái chày cán bột rượt ông chồng chạy té khói. Người ta gọi người chồng đánh vợ là tên vũ phu, nhưng nạn nhân khi bị đánh thì la làng lên và gọi cái tên vũ phu đó là thằng mất dạy, là đứa vô giáo dục.... và vô số danh từ không có trong tự điển ở trường học nhưng mang tính cách mạ lỵ thậm từ đã được xử dụng thông suốt, rành mạch và lai láng.
Vũ phu là người đánh vợ nhưng không vì thế mà ngược lại người ta gọi người phụ nữ hay người vợ đánh chồng là vũ nữ hay vũ thê. Người ta dùng điển tích Sư Tử Hà Đông để gọi các bà hung dữ. Còn những ông nạn nhân bị vợ đánh thì gọi bà vợ là bà chằng lửa hay là.... nín thinh luôn cho chắc ăn và yên thân. Một sự nhịn chín sự lành. Lành đây có nghĩa là lành lặn tứ chi tức đầu mình và chân tay và lành còn có nghĩa là chén bát, đồ cổ, Tivi, máy hát, computer, bộ cờ tướng bằng ngà.... còn nguyên xi không bị bể vụn.


NHẮC CHUYỆN NGÀY XƯA


Ngày xưa người chồng được coi là chủ tể gia đình mà vợ và con cái phải nhất tề tuân theo lệnh của chủ tể. Đàn bà con gái chỉ quanh quẩn trong gia đình, khi vào canh cửi khi ra thêu thùa đảm nhận công việc bếp núc sao cho được khen là công dung ngôn hạnh. Ngoài xã hội, vai trò người đàn bà thật là yếu kém, ngay cả vấn đề hành nghề cũng phải xin phép chồng. Trong nhiều lãnh vực, năng lực pháp lý người đàn bà bị đồng hoá với năng lực pháp lý trẻ vị thành niên. Khi còn ở nhà thì phải tuân lệnh cha và khi lên xe hoa về nhà chồng thì tuân lệnh chồng. Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu là thế đó.

Trong cái xã hội phong kiến xa xưa, việc chồng đánh vợ được xem như là thường tình và không phải chỉ thấy ở xã hội Á Đông hay Châu phi hoặc Ả Rập mà chính ngay tại Anh Quốc người ta cũng có luật đánh vợ. Vào những năm đầu thế kỷ 19 tại Anh người ta vẫn còn duy trì luật Rule of thumb cho phép chồng có thể đánh vợ bằng roi miễn sao đường kính cái roi không được lớn hơn ngón tay cái. Có quan điểm quả quyết rằng Rule of Thumb phải được giải nghĩa là người chồng có thể đánh vợ bằng bất cứ vật gì miễn sao không được lớn hơn ngón tay cái. Tại Hoa Kỳ cũng vào thời điểm đó người chồng đánh vợ không bị luật pháp trừng trị.
Vào thế kỷ 16 tại Liên Sô người chồng có quyền đánh vợ nhưng luật pháp ngăn cấm việc đấm vào mặt vì lo ngại người vợ có thể bị mù hay bị điếc và như thế sẽ bị mất ngày công lao động của xã hội.
Tại Phi Châu và Romania người chồng không đánh vợ bị xã hội xem là thằng đàn ông bất lực và yếu đuối.
Ở Á Đông ngày xưa người ta đánh vợ vì cái quan niệm khinh rẽ nữ giới: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.

Câu chuyện buồn cuối năm


Cuối năm, trong khi sắp xếp lại giấy tờ, thư từ, tôi có dịp đọc lại bức thư của một người cựu tù “cải tạo”, anh Nguyễn Xuân Bích, hiện cư ngụ tại thành phố Westminster, California, viết từ tháng 3, 2008 nói về cái chết của một người bạn tù tại trại Bùi Gia Mập.

Câu chuyện quá đỗi thương tâm và mục đích của anh Bích là muốn thông báo đến gia đình của người đã chết, nhưng từ nhiều năm nay, sau khi đưa tin lên đài truyền hình SBTN, hiện vẫn chưa có ai liên lạc với anh.

Vào khoảng tháng 2 năm 1977, tại trại tù Suối Máu (Biên Hòa), sau Tết Âm lịch, cán bộ nhà tù Cộng Sản tập trung tù nhân lên hội trường để nghe thuyết trình về việc đi “lao động XHCN”, có nghĩa là từ đây không còn cảnh ăn không ngồi rồi, mà tù nhân phải lao động cật lực để xây dựng cái gọi là “Xã hội Chủ Nghĩa”. Tuy vậy anh em tù nhân đều phấn khởi vì từ đây dù cực nhọc, nhưng được đi ra ngoài hưởng không khí thiên nhiên thoải mái hơn. Cán bộ lên lớp: “Các anh ở đây đã lâu, nay đảng và nhà nước cho ra ngoài lao động, học tập tốt để sớm về sum họp với gia đình. Các anh được viết thư gọi người nhà tiếp tế thuốc men, thức ăn.” Khu lao động mới có tên là “Liên Hiệp Công Nghiệp Phước Long” tại Bùi Gia Mập. Anh em bạn tù đều ngây thơ cứ nghĩ đó là một khu nhà máy có công nhân làm việc, chắc đời sống sẽ đỡ khổ hơn. Một đêm vào lúc 8:00 tối, một đoàn xe Molotova đến bốc tù, cứ mỗi xe 50 người. Xe chạy từ 10 giờ đến 8 giờ sáng mới đến nơi. Khi tấm vải bạt che xe được mở ra thì đoàn tù mới hỡi ơi, vì đó là một khu rừng đầy tre nứa, cây cối um tùm, xa xa mới có một vài đám đất trống nhỏ bằng một sân bóng chuyền.

Tù bắt tay vào việc, cắt tranh chặt tre để làm lán trại, chỉ cần mái che mà chưa cần phên vách, bắt đầu đốt rẫy để làm mùa cho kịp thời vụ. Mỗi đoàn (Ð) có 500 người, phụ trách phát 50 hecta rừng để trồng khoai, sắn và lúa rẫy như đồng bào Thượng.

Hôm đó, anh Lê Huy Thông, Thiếu Tá Quân Nhu, biệt phái cho trường Tiếp Vận tại Căn Cứ Long Bình, buổi sáng đi đốn nứa về làm phên che, không đủ “tiêu chuẩn” vì cán bộ chê anh chặt “lồ ô” lóng quá ngắn, vì vậy, trong lúc anh em về nghỉ, anh Thông phải đi một mình vào rừng chặt nứa cho đủ số quy định. Lúc bấy giờ anh Nguyễn Văn Thạch, nguyên Ðại Ðội Trưởng ÐÐ Tổng Hành Dinh, Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận đang có nhiệm vụ gom cây đã chặt xuống một hố bom B.52 để đốt. Hố bom này có đường kính khoảng 20 mét và có độ sâu 15 mét. Lúc bấy giờ ngọn lửa đang cháy ngùn ngụt bốc cao độ 6,7 mét. Trên đường trở lại rừng, ngang qua hố bom, anh Lê Huy Thông hỏi anh Thạch, có biết nơi nào có “lồ ô” lóng dài không? Thạch khuyên anh Lê Huy Thông đợi chiều lúc đông người hãy đi, vì giờ này vào rừng rất nguy hiểm.

Trên tay cầm cây rựa, anh Lê Huy Thông đứng tần ngần một lúc, lộ vẻ buồn bã. Anh nói với bạn: “Vĩnh biệt mày nghe Thạch!” Dứt câu, anh Thông nhảy vào hố bom giữa ngọn lửa đang cháy ngất trời, chọn cái chết anh dũng cho đời mình. Nguyễn Văn Thạch chạy về báo cáo sự việc với cai tù, thì anh Lê Huy Thông đã chìm trong biển lửa, cháy ra tro.

Kể câu chuyện bi thương này cho tôi, tác giả bức thư, người tù “cải tạo”, anh Nguyễn Xuân Bích, năm nay đã 82 tuổi, muốn vinh danh cái chết của người bạn tù Lê Huy Thông và muốn thông báo nguồn tin này đến thân nhân của người đã khuất. Anh Bích cho biết, lúc vào tù, anh Lê Huy Thông chỉ có một con gái 10 tuổi, nay chắc đã trưởng thành.

Chọn một câu chuyện buồn trong chồng thư cũ, kể lại giữa những ngày lễ lược, vui chơi, phải chăng tôi đã làm một việc không phải. Ðọc lại bức thư này đêm qua, nửa đêm thức giấc, tôi cảm thấy khó ngủ trở lại. Tôi rất hiểu tâm tình của vị bác sĩ duy nhất còn lại ở QYV Quy Nhơn vào cuối tháng 3 năm 1975, người đã sống giữa hằng trăm thương binh không thuốc men, không thức ăn và giữa những xác tử sĩ đã bốc mùi, mà có thể ngủ ngon giấc mỗi khi nhớ lại cảnh tượng hãi hùng, đau xót này. Có người không muốn nhắc đến chuyện cũ vì cuộc sống hôm nay quá đầy đủ, hạnh phúc, không có đủ thời gian để hưởng thụ, nói chi đến thời gian để thương tiếc ngậm ngùi.

Tháng 4 năm nay, sẽ có nhiều người trở về vui chơi, trên những nền đất cũ, nơi đã chôn xác bao nhiêu đồng đội, bao nhiêu bạn tù, bao nhiêu đồng bào chết oan khuất.

Cuối năm là thời gian của sum họp và hạnh phúc, không ai muốn nghe và nói đến chuyện buồn, nhưng từ mấy tháng qua, những chuyện khai quật mồ tập thể, kêu gọi tìm người mất tích trong chiến tranh hiện diện trên báo chí, đã gieo vào lòng chúng ta, những người may mắn sống còn sau chiến tranh, hiện nay lại được sống tại những miền đất tự do, cảm thấy niềm hạnh phúc của chúng ta chưa trọn vẹn. Nhiều gia đình từ ba mươi lăm năm nay vẫn đang còn chờ tin người thân, những người chồng, người cha hay những đứa con chưa trở về. Xác của họ đã bị vùi lấp đâu đó trên mảnh đất quê hương, mục nát, tàn phai theo thời gian, không còn dấu vết.

Huy Phương

Năm mẹo xin đừng cứ mãi là con mèo.




Theo như cái thứ tự trong chi bộ 12 con giáp được các cụ con Trời thành lập ở bên Tàu thì sau con Cọp là con Thỏ,

nhưng không hiểu sao khi các cụ ta rập theo khuôn mẫu đó để thành lập một chi bộ riêng cho xứ mình thì không thấy thỏ đâu cả, phải chăng vì loài thỏ ở xứ ta bị chồn cáo ăn thịt gần hết, chỉ còn lại đám “nhát như thỏ đế” không dám chường mặt ra, thành thử các cụ ta đành phải rà soát lại đám gia súc của mình, và khi thấy mèo chưa được cất nhắc, bèn vớ ngay lấy ả mèo nhà thế vào, làm cho các ông thầy bói xứ ta từ đó mới gieo quẻ như sau:

Tuổi Mẹo là con mèo ngao
Ăn cấu ăn cào ăn vụng thành tinh.

Cái chuyện tại sao mấy ông thầy bói không gọi là mèo nhà mà lại gọi là mèo ngao thì thật tình tôi không biết. Tôi chỉ biết là mèo - hay có khi còn gọi bằng tên chữ là “miêu”, hoặc nôm na mách qué là “mỉu” - thường quanh quẩn trong nhà, nhưng thật ra thì tổ phụ của mèo xưa kia cũng là dân ở rừng, cùng một họ với cọp, beo, sư tử… và căn cứ theo như bộ gia phả truyền khẩu còn lưu lại thì “con mèo là dì con cọp” cho nên nhìn chung về hình dạng và đặc tính, mèo vẫn có nhiều nét giống cọp và beo, nhưng vì cái tội quá nhỏ con cho nên chỉ uy hiếp được mấy con vật cỡ như chuột, rắn mối, thằn lằn v.v… chứ đối với những loài thú dữ to con hơn, và riêng đối với “thằng cháu cọp”, thì vẫn phải nể sợ một phép. Còn cái cơ duyên xui khiến cho mèo được người rước về sống chung dưới một mái nhà với mình, rồi đẻ ra cái chi phái “mèo nhà” tách rời với những chi phái mèo rừng vẫn sống đời hoang dã thì lại do chuột mà ra.

Số là từ khi con người bắt đầu biết cất nhà để ở thì loài chuột không biết từ đâu bỗng dưng không ai mời cũng tự động bồng bế kéo nhau về sống chung, lại còn thi nhau đào hang khoét vách ăn phá gặm nhắm tan hoang của người, mà người thì đành bó tay, do đó khi người vừa khám phá ra mèo rất giỏi săn bắt chuột thì liền rước ngay về để trị chuột giúp mình. Thế là cái cộng đồng súc vật lâu nay sống chung hòa bình với người nhờ thế mà càng thêm đa dạng, tuy nhiên về vấn đề ăn ở thì bọn trâu bò ngựa dê gà heo quá đông, lại quen sinh hoạt một cách “thiếu văn hóa”, cho nên chủ buộc lòng phải cất chuồng cho ở riêng trong vườn, chỉ có chó là hàng thân tín nên mới được phép chung một mái nhà với chủ, bây giờ có thêm ả mèo nữa thì cái đáng lo là lo “ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”, cho nên chủ bèn cho ở chung luôn cho tiện.

Sở dĩ người sắp đặt như thế là vì thấy mèo nhỏ con, không có khả năng như cọp để bắt người làm mồi cho mình xực (theo đúng nghĩa đen, còn nghĩa bóng thì không kể), nên thường tỏ ra rất nhu mì, lại hay lân la quấn quýt bên người để được người vuốt ve chiều chuộng, chỉ khi nào bị chọc giận thì mới giương móng vuốt ra mà quào cấu cho hả cơn bực tức thế thôi. Đây có lẽ cũng là cái điểm mà sau này người học được của mèo cho nên các cụ ta mới hay dùng tiếng “mèo” để chỉ người yêu hay người tình của mình, còn cụ nào đã có “sư tử” rồi mà còn đèo bòng “có mèo”, thì cái việc rước “mèo hai chân” này về nhà là cả một vấn đề nhiêu khê phức tạp, chứ không đơn giản như đối với mèo bốn chân, vì trường hợp mèo bốn chân thì chủ chỉ cần ghép luôn cái bộ ba chó mèo chuột thành một “tổ tự quản”, cho sinh hoạt theo quy chế dành riêng cho loài vật trong khi chung sống dưới một mái nhà với mình là xong.

Kể ra cách giải quyết vấn đề một cách nhanh và gọn như thế xem ra vẫn có vẻ rất “lô-gích”, nhưng khi nhìn lại mới thấy là thiếu thực tế, vì bao năm qua chỉ có chó “đồng cam cộng khổ”, lại tận tụy trung thành với chủ mà công lao thì vẫn chưa được đền đáp xứng đáng, nay thấy chủ bỗng nhiên đem mèo về sống chung mà không thèm “đả thông tư tưởng” với mình trước, lại còn đem chút tình thương vốn đã keo kiệt ra san sẻ hết cho mèo thì sinh lòng ganh ghét, cho nên hễ gặp mèo đâu là sừng sộ đó. Còn mèo cho dù chân ướt chân ráo mới về đi nữa, nhưng vẫn tự hào mình thuộc giòng họ chúa tể sơn lâm chứ đâu phải loại hèn, cho nên cũng vểnh tai trừng mắt gườm gườm, miệng thì gào lên như thể muốn xơi tái luôn cả chó, làm cho người khi chứng kiến cảnh này cũng phải bấm bụng mà than trời bằng câu: “gấu ó như chó với mèo”.

Nhưng không phải chỉ mèo với chó mới có chuyện hiềm khích mà nhà chủ nào lắm gạo nhiều cơm, ngô khoai đầy bồ, làm cho lũ chuột ăn nhiều nên sinh sản nhanh và ngày càng thêm đông, đến nỗi chủ phải rước dăm bảy mèo về sống chung mới đủ lực lượng để tảo thanh chuột, thì ngay giữa đám mèo với mèo cũng không mấy khi thuận thảo với nhau được, chỉ vì mèo nào cũng ganh tỵ, cho nên mới xảy ra những cảnh gầm gừ nhau, khiến cho bầu không khí sinh hoạt trong nhà lúc nào cũng có vẻ phập phồng vì “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào”.

Thật tình mà nói thì dù sao cái cộng đồng bé nhỏ lâu nay cũng chỉ mới nghe có tiếng chuột chút chít ban đêm, tiếng gà gáy sáng, tiếng lợn ủn ỉn đòi ăn, tiếng con trâu nghé ngọ về chuồng, tiếng chó sủa cầm canh, cho nên cuộc đời nghe ra vẫn bình thản trôi êm, nhưng kể từ ngày có mèo về thì cuộc đời mới thực sự bắt đầu có nhiều lúc sôi động, vì lâu lâu bất chợt lại nghe có thêm tiếng gấu ó giữa mèo với chó, tiếng gầm gừ nhau giữa mèo với mèo, và trội lên vang vang át cả tiếng của chó và mèo là tiếng của người “mắng chó chửi mèo”, làm cho cái cộng đồng bé nhỏ cứ ầm cả lên, tạo điều kiện cho đời có cơ hội “thêm mắm dặm muối” để cho mình mua vui.

Cái lý do tại sao mèo nhỏ nhắn thế mà dám kên lại chó cũng không có gì khó hiểu, vì chó lúc nào cũng cần bám vào mặt bằng để “xuống tấn”, và môn “cầu quyền” của chó lại vỏn vẹn có hai chiêu “sủa và cắn” thì nhằm nhò gì với mèo, trong khi theo như tục truyền thì mèo đã từng là thầy dạy võ cho cọp. Tuy nhiên vì tính cọp hung dữ cho nên khi truyền nghề cho cọp, mèo vẫn giữ lại cái bí kíp leo trèo cho riêng mình để phòng thân, nhờ thế mà sau này khi cọp đã lên ngôi chúa tể sơn lâm có muốn hại mèo cũng không được, vì khi gặp nguy mèo chỉ việc thót lên cây là yên chí tai qua nạn khỏi ngay. Đây cũng là một điều may cho người vì nếu cọp cũng được mèo dạy cho biết leo trèo thì e rằng loài người đã tuyệt chủng từ lâu. Có điều là sau này loài người chỉ thấy cọp mới hay diệu võ giương oai, cho nên khi nói tới môn võ này thì người ta thường gọi là “hổ quyền” chứ không ai biết nguồn gốc của nó vốn xuất phát từ “miêu quyền”, họa chăng có nhắc tới mèo thì chỉ nói về cái tài leo trèo của mèo thôi như trong bài ca dao:

Con mèo trèo lên cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo.

Cái chuyện mèo leo cau tìm chuột thì cũng không có gì đáng nói, nhưng còn cái việc giỗ cha con mèo thì có dính dáng gì tới chuột đâu mà chuột phải lặn lội đường xa đi chợ mua mắm mua muối về cúng? Điều này hoàn toàn không phải do tình nghĩa mà phải nói đây chính là một lời than cay đắng của loài chuột, vì cả mèo và chuột hình như lúc nào cũng bị một mối hận ngàn đời nào đó ám ảnh cho nên mèo mà gặp chuột là không bao giờ tha, còn chuột mà thoáng nghe hơi mèo là toàn thân bủn rủn, và nếu không nhanh chân chạy trốn kịp thì chỉ còn cách đấm ngực than “trời sinh ra chuột sao lại còn sinh mèo” rồi nằm chết trân chờ nộp mạng. Không những thế, mèo còn ác đến độ mỗi khi vồ được chuột thì lại chưa chịu ăn tươi nuốt sống ngay, mà lại còn vờn tới vờn lui cho đến khi chuột không còn lết nổi mới bắt đầu cắn xé từng tí một, làm cho người yếu bóng vía trông thấy cảnh “vờn như mèo vờn chuột” này cũng phải sợ khiếp vía theo.

Do cung cách ăn uống của mèo rất khoan thai từ tốn chứ không vồ vập ào ào như cọp cho nên mấy người thích nói chữ mới hay ví von “nam thực như hổ, nữ thực như miêu”. Nhưng mèo lại có biệt tài ăn vụng nổi danh, cho nên khi nói đến mấy bà mấy cô “ăn như mèo hửi” hoặc “khảnh ăn như mèo” phải chăng cũng chỉ là một cách nói khéo để người khác tưởng lầm là các bà “ăn ít lắm”, nhưng hễ mà nhìn kỹ lại thì thấy hầu như bà nào bà nấy cũng càng ngày càng “tròn trịa phúc hậu” ra, trong khi đám mày râu mang tiếng “thực như hổ” lại không thiếu gì kẻ luôn cảm thấy “xấu hổ” mỗi khi phải sánh vai các bà chỉ vì cái vóc dáng cà tong cà teo của mình.

Vào cái thủa còn sống lang thang giữa núi rừng thì mèo có lẽ chỉ thích ăn thịt sống như cọp. Tuy nhiên kể từ lúc về với người rồi được người dạy cho biết ăn cơm, nhai xương cá, thì mèo nhiều khi cũng quên luôn cái món thịt chuột truyền thống mà đâm ra mê những món ăn đã được chế biến dành cho người, nhưng khoái nhất có lẽ là món mỡ thì phải, cho nên các cụ ta mới có câu ví “như mèo thấy mỡ”. Chính vì lẽ đó mà nhà ai có lỡ để mỡ trong nhà thì cũng xin đừng hớ hênh rồi trách mèo, vì “mỡ treo miệng mèo” thì làm sao mèo nhịn thèm được. Còn như “mèo mà chê mỡ” thì chỉ là đồ vứt đi, hết xài được rồi. Riêng cái tật ăn vụng thành tinh của mèo như mấy ông thầy bói đã lên án thì chắc chắn không phải do bẩm sinh, mà chỉ là một sự “phát huy sáng kiến” chung của mèo và chó từ khi về chung sống với người.

Sở dĩ gọi là sáng kiến chung vì chó cũng như mèo một khi đã mang thân về quy thuận và dốc lòng phò tá cho người rồi thì không còn màng đến chuyện tự lập nữa, cho nên lỡ mà số trời sắp đặt cho đầu quân nhằm gia chủ thuộc hạng “của khó người khôn” (kiểu người còn chưa có ăn thì đào đâu ra cho mèo cho chó), nên áp dụng triệt để chủ trương “chó treo, mèo đậy”, khiến cho chó với mèo mới nảy sinh ra cái thói “đói ăn vụng, túng làm càn”. Có điều mèo thường quanh quẩn xó bếp để lục lạo đáy niêu gầm chạn cho nên còn có lúc “mèo mù vớ cá rán” rồi tha đi ngon ơ tìm chỗ thanh vắng nằm ăn một mình, trong khi chó hay lùng sục ngoài sân trước ngõ, thì dễ mấy khi tìm thấy đồ ăn để cho mình được “lấm lét như chó ăn vụng bột”. Không những thế, chó lại còn ngờ nghệch đến độ hễ nghe chủ lục lạo nồi niêu thì lại xun xoe chạy đến ve vẫy đuôi mong chờ ơn trên bố thí. Bữa nào chủ được ăn thịt thì chó cũng còn có mẩu xương để gặm, nhưng bữa nào không may chỉ có cái đầu cá kho chủ còn để dành mà lại bị mèo hay chuột gì đó cuỗm tha đi mất tiêu rồi khiến cho chủ nổi cơn lôi đình, trong khi chó lại cứ lảng vảng bên cạnh thì tránh sao cho khỏi ăn vài cú đá của chủ. Họa hoằn có lần nào chủ khám phá ra thủ phạm không phải là chó thì bất quá cũng chỉ được chủ chép miệng thương hại ban cho một câu: “mèo già ăn vụng, chó vá phải đòn” để gọi là cũng có chút an ủi cho cái ngu quá cỡ này là cùng.

Tuy thích thịt nhưng thỉnh thoảng người ta cũng thấy mèo đi tìm cây cỏ để gặm. Điều này không có nghĩa là mèo nhờ sống gần đám trâu bò trong nhà quen ăn chay trường nên cũng học đòi ăn chay để sám hối tội lỗi, mà chỉ vì mèo có tật hay liếm lông làm cho những sợi lông rụng dính vào lưỡi mà không thể nhả ra nên cứ phải nuốt vào rồi tích tụ trong dạ dày lâu ngày không tiêu hoá được, làm cho mèo bị đau bụng, phải tìm cây cỏ ăn vào để xổ mớ lông ra. Vì vậy chủ nào hay nhốt mèo ở trong nhà, đôi khi có thấy cây kiểng trong nhà cũng bị mèo cắn nát thì đừng đánh đập mèo về cái tội phá hoại mà oan cho mèo, vì mèo chỉ chủ tâm tìm thuốc để chữa bệnh thôi.

Nếu chó hay dùng đuôi ve vẫy để bộc lộ tình cảm với người thì mèo hình như chỉ biết làm dáng với cái đuôi của mình cho nên mới có chuyện “mèo khen mèo dài đuôi”. Mà đuôi mèo dài thật. Tuy nhiên, mèo chỉ hay đi rình chuột ban đêm còn ban ngày mèo lại thích ngủ, do đó mỗi khi thấy mèo ăn no rồi hay tìm chỗ ấm áp nằm lim dim, buông thõng cái đuôi dài lê thê ra đàng sau một cách vô tư thì cũng xin đừng tưởng mèo ngủ say mà đụng vào vì tai của mèo rất thính. Có điều vành tai của mèo trông cứng nhưng lại mỏng và nhạy cảm cho nên lúc nào muốn hỏi tội mèo người ta vẫn hay nắm tai mèo mà xách chứ không ai dại gì nắm đuôi mèo mà kéo để rồi bị mèo phản ứng quay mình lại quào cho rướm máu liền.

Móng của mèo rất nhọn và sắc nhưng chỉ giương ra khi quào cấu hay cần bám vào vật nào đó để leo trèo, chứ lúc bình thường thì lại co rụt vào dấu dưới lớp da của bàn chân, cho nên đừng thấy bàn chân của mèo mềm mại rồi tưởng lúc nào cũng êm như nhung mà lầm. Mèo lại có thói quen hay chuốt móng chân cho thêm sắc bằng cách quào cấu vật này vật nọ, và khi mèo cần mài giũa móng mà không có gì để quào cấu thì coi chừng mùng mền chiếu gối của chủ cũng sẽ rách bươm luôn. Ngoài ra, vì tứ chi của mèo đều là chân cho nên mèo chỉ có thể có “hoa chân” chứ không tài nào có “hoa tay”, do đó những vết quào của mèo trông ra cũng thiếu thẩm mỹ không khác gì những nét chữ nguệch ngoạc của mấy anh học trò lười, vừa dở văn, vừa vụng bút, cho nên mấy ông thầy giáo mới hay dùng câu “gà bươi, mèo quào” để ví von và răn đe mấy anh học trò này.

Mèo cũng có râu làm cho mặt mèo đôi lúc trông cũng có vẻ bớt hiền dịu đi. Tuy vậy, mèo lại có được đôi mắt tròn và trong đến nỗi người ta đã dùng để đặt tên cho một loại ngọc có màu xanh là “ngọc mắt mèo”. Không những thế, mắt mèo lại có khả năng nhìn rõ trong đêm tối, cũng như có khả năng phản chiếu ánh sáng cho nên đang đêm mà chủ nhà có bất chợt nghe tiếng động nên thức dậy đi rình mò bắt trộm nhưng không thấy trộm đâu, trái lại chỉ thấy ánh mắt của mèo - cũng đang đi tìm đồ để ăn vụng - loé lên trong bóng tối thì đâm hoảng, cứ ngỡ như là mình nhìn thấy yêu tinh. Có lẽ cũng vì thế mà mấy ông thầy bói mới bảo mèo là thứ “ăn vụng thành tinh”. Một lẽ nữa khiến cho các cụ xưa cho mèo là tinh vì các cụ tin rằng nếu trong nhà có người chết chưa được tẩm liệm mà không lo bắt mèo nhốt lại hoặc cắt người canh xác để lỡ có con mèo nào - nhất là mèo mun - vô tình nhảy qua là cũng đủ làm cho xác chết phải bật dậy theo.

Mèo cũng rất hay săn sóc bộ lông của mình, nhưng chỉ bằng cách le lưỡi liếm thôi chứ không bao giờ dám tắm vì mèo rất sợ nước. Mèo mà lỡ té ao hay mắc mưa khiến cho bị ướt sũng thì trông cũng co ro cúm rúm thật thảm hại không khác gì con chuột lột, cho nên người ta cũng hay ví mấy người nhút nhát chẳng bao giờ dám làm một thứ gì cho ra hồn là thứ ‘mèo ướt”, “mèo mắc mưa”. Lạ một điều là cọp còn dám vọc nước, thế mà vẫn cứ hôi, ngược lại mèo chỉ tắm khô thôi nhưng lúc nào cũng có vẻ sạch sẽ, có điều là những gì mà mèo phế thải ra thì nồng nặc mùi khỏi chê đến nỗi người ta vẫn hay ví “chua như nước đái mèo”. Còn cứt mèo thì có lẽ chính mèo cũng còn sợ đạp phải nên mỗi lần muốn trút cái của nợ chất chứa trong lòng, mèo đều tìm chỗ kín đáo đào lỗ chôn, cho nên người ta mới bảo: “giấu như mèo giấu cứt”.

Mèo thường hay kêu “meo meo” cho nên mấy cụ có tí máu dê trong người hễ mà nhậu say ngà ngà rồi bày trò “đố vui để chọc”, thế nào cũng có màn xách tai mèo lôi vào cho mèo bị đau kêu lên “meo méo” để các cụ dùng đó làm lời giải đáp cho cái câu đố về một vật trời sinh ra “vốn sẵn là méo chứ không tròn”, rồi cùng nhau cười hỉ hả. Trái lại mấy bác thuộc diện quanh năm chật vật với miếng cơm manh áo thì lại cho rằng tiếng mèo kêu nghe cứ như “ngheo ngheo” rồi liên tưởng đến cái phận nghèo của mình mà tủi thân, cho nên chỉ thích nghe tiếng chó sủa “gâu gâu” để còn diễn ra cái ý “giàu” mà hy vọng. Đó cũng là cái lý do khiến cho các cụ xưa thường tin rằng “mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”, có điều khi buồn tình thì các cụ lại thích lôi chó ra mà làm rựa mận để đánh chén với nhau chứ không có cụ nào dám bắt mèo ra làm món ra-gu, có lẽ vì sợ mèo bị chết oan như thế sẽ thành tinh quay trở lại ăn thịt các cụ chăng? Họa hoằn mới có một vài tay bợm nhậu cỡ “coi trời bằng vung” mới cả gan bắt mèo làm thịt để giải quyết cho cái nhu cầu túng mồi của mình.

Cũng vì tin rằng mèo hay mang lại xúi quẩy cho nên các cụ bảo đầu năm mà thấy mèo thì cũng không khác gì xuất hành “ra ngõ gặp gái”, tức là cả năm coi như không tài nào khấm khá nổi. Tuy thế, vẫn có nhiều cụ thích lân la làm bạn với “bác thằng bần” thì lại hay bảo nhau là ai mà kiếm được cái nhau mèo đẻ làm bùa lận lưng rồi thì tha hồ yên chí mà “xóc, xoa, xoè, binh, tố…” để được thấy “tiền bạc vô như nước”, vì nhau mèo đem lại sự may mắn. Không biết điều này có đúng không, nhưng mèo vốn nổi tiếng cứt còn biết giấu thì dễ gì có cái nhau của mình đẻ ra lại để rơi rớt cho các cụ lượm, cho nên nếu có cụ nào khoe mình có lận nhau mèo trong lưng thì e rằng đó cũng chỉ là nhau mèo dởm thôi, vì xưa nay chưa từng thấy có cụ nào ghé chơi nhà “bác thằng bần” rồi trở về làm nên sự nghiệp cả, mà chỉ thấy các cụ lần lượt rủ nhau đem sự nghiệp cúng hết cho mấy tay xì thẩu, rồi mình thì tự nguyện gia nhập “làng bị gậy”.

Sở dĩ làng này có cái tên “bị gậy” là vì ngày xưa dân làng này mỗi khi đi hành nghề đều phải trang bị tối thiểu cho mình một cái bị và một cây gậy. Bị là cái bắt buộc phải có để đựng của ăn xin được, còn gậy thì trước nhất là để chống đi cho đỡ mỏi, sau nữa là còn để phòng hờ đáp lễ mấy con chó, vì hễ chó mà thoáng thấy bất cứ cụ nào thuộc “dân bị gậy” lò dò đến là thế nào cũng đem món võ gia truyền ra thị oai, nên buộc lòng các cụ phải vừa dùng gậy “huơ loạn xà ngầu”, vừa từ từ từng bước “thụt lui trong vòng trật tự” nếu không muốn bị chó ngoạm vào chân. Chó chỉ trung với chủ thôi chứ với người lạ và nhất là với mấy cụ thuộc “hàng bị gậy” thì chó không bao giờ niềm nở. Đó cũng là cái lý do khiến cho chó phải chịu cảnh người thương thì ít mà kẻ ghét thì nhiều, cho nên chó mới hay gặp cái nạn bị mấy bác bợm ghiền rựa mận rình rập đánh bã hay bắt cóc đem về bỏ vào nồi đun lên cho bõ ghét. Chỉ có mèo mới biết chủ trương “dĩ hòa vi quý” đối với mọi người, cho nên gặp chủ cưng cũng “hẩu lớ”, mà có ai lạ vuốt ve cũng “ô kê”, còn kẻ đi qua người đi lại thì mèo chỉ nhìn bằng đôi mắt bàng quan nên dễ sống.

Cũng vì trong cái tổ tự quản theo quy chế súc vật sống chung dưới một mái nhà với chủ chỉ có chó và mèo mới được chủ ban cho chức phận, cho nên nếu lỡ như có một biến cố nào đó xảy ra khiến cho lạc mất chủ, hoặc cái mái ấm bỗng dưng bị tan tành thì chỉ có mèo và chó mới phải lâm vào cảnh “sẩy nhà ra thất nghiệp” rồi bị đời gọi là mèo hoang, chó hoang, riêng chuột trước sau gì cũng chỉ là dân ở chui cho nên không hề lo, mà ngay cả khi có “cháy nhà lòi mặt chuột” đi nữa thì chuột vẫn có thể bồng bế nhau “di tản” qua nhà hàng xóm mà tiếp tục sống kiếp chuột nhà chứ không bao giờ bị gọi là chuột hoang cả. Mèo hoang còn có cơ may săn được chuột đồng chuột cống mà ăn chứ chó mà lang thang thì chỉ ăn cứt thôi, vì “chó mà không ăn cứt thì không phải là chó”, các cụ dân “Hà lội” vẫn thường “ní nuận” như thế. Chính vì chó có nhiều cái ngu quá cho nên người đời mới hay ví “ngu như chó”. Còn mèo có thông minh không thì căn cứ vào câu truyện dân gian Trạng Quỳnh ăn cắp mèo sẽ thấy mèo cũng không hơn gì chó bao nhiêu.

Truyện kể rằng vua ta có nuôi một con mèo tam thể rất xinh nên cưng lắm, bữa nào cũng cho mèo ăn toàn cao lương mỹ vị. Trạng Quỳnh thấy thế sinh tức tối bèn lập tâm ăn trộm mèo đem về nhốt ở nhà. Hằng ngày Trạng lại xách mèo đặt trước một chén cơm có thịt cá và một bên là đống cứt. Hễ mèo vừa mon men lại gần chén cơm là Trạng Quỳnh dùng roi đánh đập tới tấp. Sau nhiều lần thấm đòn, mèo đói quá bèn lân la qua đống cứt thì thấy Trạng để yên cho nên mèo đành ăn thử. Tập như vậy một thời gian mèo trở thành quen, cứ mỗi lần thấy chén cơm và đống cứt là mèo tự động chạy đến đống cứt ăn ngay chứ không còn màng đến cơm nữa.

Nhà vua mất mèo tiếc lắm mới cho người đi tìm. Có người mách vua nhà Trạng Quỳnh có một con mèo tam thể rất giống mèo của nhà vua. Thế là vua truyền lệnh cho Trạng Quỳnh phải đem mèo vào cung trình cho vua xem. Trạng Quỳnh ung dung mang mèo vào. Vua thấy con mèo này giống y con mèo của mình bị mất nên đòi Trạng Quỳnh trả mèo lại. Quỳnh tâu rằng con mèo này chính là mèo của Trạng vì nhà Trạng nghèo nên chỉ quen cho mèo ăn cứt thôi. Vua không tin nên ra lệnh cho quân lính bày ra một chén cơm đầy cao lương mỹ vị và một đống cứt để thử. Trạng Quỳnh bèn thả mèo ra thì mèo chạy ngay lại đống cứt ăn liền. Thế là Trạng Quỳnh lại ung dung ôm mèo về, còn nhà vua thì đành chịu mất mèo.

Có thể nói cái sáng kiến đem mèo ra làm thực nghiệm này của Trạng Quỳnh cũng là một công trình còn đi trước công trình đem chó ra làm thí nghiệm của nhà tâm lý học Palov ở bên Nga hàng trăm năm, nhưng có lẽ vì chuyện “mèo nhà khó không bằng chó nhà sang”, nên Trạng ta mới không công bố kết quả ra cho thế giới biết, mà chỉ đúc kết thành cái bí quyết: “Không có chó bắt mèo ăn cứt”, rồi giấu vào trong cái “túi khôn” của mình, sau đó mới truyền miệng cho dân ta biết để áp dụng vào việc giải quyết cái vấn đề “tồn tại” của một dân tộc vốn tự hào có hàng ngàn năm văn hiến nhưng lại không hề biết cái cầu tiêu là gì, vì người lớn thì đã có sẵn cái thú “thứ nhất quận công, thứ nhì ỉa đồng”, còn thằng cu cái hĩm chưa có thể tự mình bò ra đồng để hưởng cái thú vị trên, thì lại cứ tự nhiên bạ đâu phóng bừa ra đấy, do đó, lỡ mà thiếu chó để làm cái công tác dọn dẹp những thứ “tồn tại” ấy thì từ nay đã có thể bắt mèo thay chó thanh toán gọn.

Kể ra cái chuyện nuôi chó nuôi mèo ở trong nhà thì dân xứ nào cũng có, nhưng cái chuyện bắt chó mèo phải ăn cứt thì có lẽ chỉ những dân tộc được Trời phú cho cái tính thích trông vào “cái khó ló cái khôn” để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống như ở xứ ta mới xảy ra thôi. Khổ một nỗi “cái khôn ló ra từ cái khó” này thường chỉ là những cái mánh khoé dạy cho người ta cái cách để có thể thích nghi với hoàn cảnh theo kiểu “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, “chịu đấm ăn xôi” v.v… chứ không phải cái khôn của sự hiểu biết dựa trên nền tảng của suy luận khoa học, nên không làm thay đổi được hoàn cảnh, mà chỉ làm cho đời cứ phải đẻ ra các “cụ khôn luẩn quẩn ” để cho các “cụ khôn” có cơ hội lên lớp “khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương” rồi cứ nhằm đầu thằng “dại” mà trút hết cái lòng “thương cho roi cho vọt” xuống để cho lòng mình nhẹ nhõm mà “ngồi mát ăn bát vàng”, còn “dại” thì cứ an tâm mà “đói nghèo” từ đời này sang đời khác.

Mãi đến khi các dân tộc bên trời tây nhờ phát triển được khoa học mà trở nên hùng cường rồi rủ nhau đi làm mưa làm gió khắp bốn bể năm châu thì một số dân ta mới bừng tỉnh, nhưng vì đa số thì vẫn không thoát ly khỏi cái não trạng co cụm của mình cho nên hễ nghe “lời thật thì mất lòng”, lại còn hay “cãi chày cãi cối” với nhau toàn những chuyện “ăn ốc nói mò”, khiến cho đất nước bị Tây đô hộ, rồi sau đó lại thêm những cụ “khôn nhà dại chợ” dòng họ “vẹm” bị mấy tay đại ca quốc tế chính hiệu “búa liềm” xúi bẫy mà chia bè kết đảng rồi lôi kéo dân ta đi theo con đường “cắt mạng” chí choé đầy xương máu trong suốt 30 năm để giành dựt “cơm no áo ấm”, bắt đầu từ cái mùa thu khói lửa của “năm con gà chết đói” cho đến một ngày cuối tháng mùa xuân “năm con mèo gặp nạn”, khi các cụ vẹm lùa xong dân cả nước vào chung một chuồng mới thôi. Có điều là đến đây thì cơm no áo ấm đâu chả thấy mà chỉ thấy dân cả nước bị biến thành những “con mèo của Trạng” để cho các cụ vẹm ra tay “thắt lưng buộc bụng” giùm và tập cho “ăn độn”, còn các cụ vẹm thì đang là “vô sản” bỗng một bước nhảy vọt thành “hữu sản” và tha hồ mà “ăn quả cướp được của kẻ trồng cây”, còn đất nước có tan hoang thì đã có dân “ngu thì ráng chịu”.

Ba chu kỳ 12 con giáp đã trôi qua kể từ cái năm con mèo mắc nạn ấy, trên thế giới đã có không biết bao chủ nghĩa cũng như chế độ đi ngược lại trào lưu tự do dân chủ và tôn trọng quyền con người lần lượt bị đào thải, nhưng riêng tại xứ sở của con Rồng cháu Tiên thì các cụ khôn dòng họ vẹm lại càng “thừa thắng xông lên”, xén luôn cả cái “gia tài của mẹ” đem ra bán cho “láng giềng gần”, và không quên xớt luôn những “đồng tiền tình nghĩa” của những “khúc ruột ngàn dặm” đã có lần từng bị các cụ thảy ra biển làm mồi cho cá mập mà không chết lại còn nhờ trôi giạt qua xứ người mà làm ăn ra, rồi vì xót xa cho người ở lại mà cứ phải gửi tiền về giúp đỡ, để cho các cụ vẹm càng có tiền xây thêm “nhà cao cửa rộng” cho mình ở thoải mái mà “ăn sung mặc sướng”, rồi đẻ thêm một đàn “con cháu khôn nối dõi”, hòng sau này kế tục cái sự nghiệp đục đẽo rất “hoành tráng” của các cụ. Còn những người dân mang thân phận con mèo của Trạng thì cứ bị ám ảnh bởi cây roi oan nghiệt lúc nào cũng hờm sẵn trên đầu cho nên cứ phải ngoan ngoãn mà nhận lấy cái lòng “thương lòi xương ra ngoài” để mà thấm thía hơn cái “chân lý không bao giờ thay đổi” của các cụ vẹm: “khôn nhờ dại chịu, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.

Không biết rồi đây năm con mèo này, dân ta có chịu mở mắt ra mà nhìn lại mình, nhìn lại người rồi thực sự “đổi mới tư duy” ngõ hầu có thể tìm ra một lối thoát cho dân tộc hay chưa, hay là vẫn cứ luẩn quẩn trong cái vòng “đóng cửa dạy nhau” bằng nhữmg trò “dại khôn, khôn dại”, để cho “khôn” thì vẫn cứ “đè đầu cưỡi cổ” kẻ “dại” mà sống cho riêng mình, còn “dại” thì cứ “nín thở qua sông”, lâu dần rồi cũng quen, cho nên mỗi khi được các cụ khôn nương tay cho thở một tí là cũng cảm thấy như mình đang được hưởng tự do hạnh phúc, do đó nhiều khi không còn dám mơ tưởng đến những chuyện đổi thay, mà có khi lại còn “cầu cho bạo chúa sống lâu”, để cho mình cứ được yên tâm trong cái chuồng của mình.

Trạng "Đoàn Văn Khanh"

Bài Xem Nhiều