We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 10 January 2011

Những Con Kên Kên Thời Đại

Tôn Nữ Hoàng Hoa

Con đường East Longboat của Tampa Florida hôm nay mang một hình ảnh lạ. Đó là sự xuất hiện của những con chim Kên kên.

Mỗi lần về Tampa, chúng tôi ở tại căn nhà của chúng tôi nằm cuối đường East Longboat. Mỗi sáng chúng tôi thường đi bộ ngang qua con vịnh ăn sâu vào đất liền. Bên cạnh cái Vịnh, có cái hồ nhỏ mà mấy chú cá sấu thường hay nằm phơi nắng.

Ở đây chúng tôi ít khi nhìn thấy con Kên Kên. Chỉ có những chim bói cá bắt cá rất nhanh , những con hải âu ríu rít gọi mồi hay những con vịt trời từng đôi bay thành hàng ngang trên mặt biển. Ấy thế, mà hôm nay lại xuất hiện mấy con chim ăn xác người xác súc vật tanh hôi.

Kên Kên tương đối khác so với đại bàng. Cái mỏ và đôi chân của chúng không có cấu trúc đặc biệt để bắt hay tiêu diệt con mồi, “thay vào đó chúng ăn thi thể trên sa mạc hoặc những con vật bị xe cộ cán chết”. Kên Kên được nhận diện dễ dàng dựa vào cái đầu trọc màu đỏ hoàn toàn không có lông của chúng. Đặc điểm này giúp chúng an toàn hơn khi thọc mỏ sâu vào xác chết, lớp da trần trụi trên đầu của nó có thể được làm sạch dễ dàng hơn so với cái đầu có lông thấm nước.

Có nhiều nhà sưu tầm về loài chim cho rằng kên kên thích ăn những cái xác đã chết nhiều ngày. Nhưng thực tế, chúng thích ăn thịt tươi hơn. Loài chim thường có khứu giác kém nhưng với chim Kên Kên chúng có thể ngửi mùi xác chết cách xa cả dặm

Nhìn hình ảnh hai con Kên Kên đang thọc sâu mõ vào xác xương của con gà turkey làm tôi liên tưởng đến bầy Kên Kên Việt Gian Cộng sản ở quê nhà và những con Kên Kên Thời Đại ở hải ngoại đang thọc sâu cái mõm của chúng vào xác thân khô cằn của con dân Việt Nam ở quê nhà, cũng như đang gieo rắc mùi tanh hôi trong hàng ngũ người Việt Quốc gia ỡ hải ngoại.

Người dân Việt Nam đã ví Việt Gian CS như loài Ruồi và Kên Kên. Theo tôi chúng vừa là Ruồi, vừa Kên Kên và vừa Cú vọ. Cú vọ rình rập nhà dân , kên kên rúc rĩa xác chết của dân và Ruồi gây truyền nhiễm sự tán ác hung tàn của chúng.

Trong truyền thuyết của chim kên kên hay Cú Vọ đều đi từ bản chất tham lam hung ác của con người để trở thành những con vật mang dấu hiệu cho sự chết trong cõi ta bà.

Con người tham tàn và hung ác nhất trong lịch sử loài người là con người cộng sản.

Đi từ triết lý chủ nghĩa duy vật con người CS không lấy tâm linh làm căn bản.

Trong khi đó những người không theo chủ nghĩa CS tức là họ đi vào chủ nghĩa Duy Tâm. Duy tâm là con đường đi vào nội tâm bao gồm sự sáng tạo từ kiến thức qua phần ý thức và nhận thức . Từ đó Ý thức hợp tác với kiến thức qua tâm thức để nhận thức những sự việc có tính cách đạo đức hợp với nhân quần xã hội.

Từng ý nghĩa đạo đức kết trái đơm hoa, qua sự nhận thức của giáo lý đạo pháp qua sự giảng giãi của những triết học, con người đi dần vào sự tôn kính các đấng linh thiêng, để làm con đường giãi thoát cho họ trên sự hữu hạn của con người từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt.

Như đã nói ở trên Cộng Sản tin vào chủ thuyết duy vật tức là mọi sự vật ở đời đều do vật chất tạo ra, do đó họ không tôn trọng giá trị tinh thần, không có sáng tạo từ nội tâm. Vì thế họ không tôn trọng sinh mạng của con người.

Việt gian CS lấy chiêu bài ca tụng anh hùng cá nhân để dụ dỗ thanh niên VN hầu phục vụ cho một chủ nghiã vô thần.

Câu chuyện về "anh hùng" Phan Đình Giót và Tô Vĩnh Diện trong trận đánh Điện Biên Phủ "lấy thân mình lấp lỗ châu mai" chỉ được VGCS tô hồng vẽ đỏ cho chói chang, hầu đạt được mục tiêu xách động những thanh niên VN nông nỗi đem bản thân mình phục vụ cho một chủ nghĩa vô thần.

Cho đến bây giờ mỗi lần nói đến "lấp lỗ chân mai" đã không có ai ca tụng sự tan xương nát thịt của Phan Đình Giót và Tô Vĩnh Diện mà lại còn lấy đó làm thí dụ cho những sư ngu xuẫn nông nỗi của con người

Như chúng ta đã biết trong cuộc chiến xâm lăng Nam Việt Nam, CS Bắc Việt đã không ngần ngại xâm trên thân hình trẻ thơ từ 14,15,16 tuổi bằng 4 chữ "Sinh Bắc Tử Nam" không ngoài việc đem sinh mạng con dân miền Bắc hy sinh cho mộng bá chủ toàn cầu của Nga Sô.

Đã có rất nhiều sư đoàn, trung đoàn quân đội chính qui miền Bắc bị tiêu diệt toàn bộ trong những trận chiến đẫm máu tại chiến trường Huế, Khe Sanh Quảng Trị, Hạ Lào, Bình Long An Lộc v.v… từ năm 1968 đến 1972 vì mục tiêu gây áp lực với Mỹ trên bàn hội nghị Ba Lê mà VGCS đã không ngần ngại lùa hàng chục mấy quân đoàn của chúng vào vùng an tòan của Căm Bốt.

Chính VGCS biết lúc bấy giờ Mỹ dùng B-52 oanh tạc bom trung hoà để tiêu diệt quân Việt Cộng. Ấy thế mà VGCS vẫn chuyển quân đi không một chút e ngại cho sinh mạng thanh niên Miền bắc. Trong cuộc tiêu diệt này , VC đã tổn thất cả triệu sinh mạng thế mà Căm Bốt và quốc trưởng Sihanouk của Căm Bốt cũng không hề biết về cường độ oanh tạc bom trung hoà ra sao khi con người nằm chết như ngủ mà trong nhạc Trịnh Cộng Sơn đã diễn tả đồng đội anh em của hắn ta " Nằm Chết Như Mơ".

Tổng kết chiến tranh VN từ 1954-1975, số thương vong của quân đội VNCH và các nước đồng minh bị chết khoảng 300 ngàn trong khi đó thiệt hại về nhân mạng của phía cộng sản miền Bắc cao gấp bốn lần với trên 1 triệu người.

Sự xem rẻ sinh mạng con người của VGCS đã cho thấy sự vô thần của chúng. Trong khi đó các quốc gia Cộng Sản là cha mẹ anh em của VGCS cũng xem rẻ mạng sống của con người tương tự. Tại trại giam Butovo của Nga sô, một trong hằng trăm trại tù ở Nga, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn từ tháng 8 năm 1937 đến tháng 10 năm 1938 đã hành hình trên hai chục ngàn người (20,000)

Ở Trung cộng dưới thời Mao Trạch Đông , hai tác giả Jung Chang và Jon halliday của cuốn "The untold story" đã ước lượng rằng con số người Trung Hoa bị giết hại dưới thời Mao Trạch Đông đã lên đến 70 triệu người. Đó là chưa tính đến con số người bị bức tử, hãm hại chết

Chính vì sự vô thần hung ác tàn sát sinh linh không gớm tay đó mà VGCS nói riêng và bọn CS rất sợ tôn giáo vì tôn giáo hướng dẫn con người "làm lành tránh dữ" trong khi VGCS tuyên bố thà giết lầm còn hơn bỏ sót.

Thứ nữa VGCS rất sợ tôn giáo bởi chính tôn giáo hướng dẫn con người tu học để đi đến Chân, Thiện, Mỹ của cuộc đời. Trong khi đó VGCS dạy con người mánh mung, lừa đảo trí trá ngược ngạo, đổi trắng thay đen để giá hoạ cho con người. Chính vì có tôn giáo con người mới nhận ra được bản chất lừa bịp dối trá tàn ác của VGCS.

Chắc quí vị còn nhớ một Đêm Noel cuả Thập niên 80, người dân từ đâu đã kéo về Giáo Đường Saigon trong một Đêm Thánh vô cùng mà Công An đã tỏ ra bất lực không dám nói đến sự tái lập trật tự vì tín đồ đã ùa vế giáo đường quá đông bất chập lệnh cấm của VGCS.

Những bước chân của tín đồ bước về giáo đường năm nào của một đêm Thánh Vô Cùng đã làm VGCS sợ hãi. Càng sợ hãi càng ra tay đàn áp do đó vào tháng 4 năm 2000 trong một cuộc hội nghị văn hoá tại nhà hát lớn ở Hà Nội, VGCS đã đưa ra kế sách kiều vận hầu lũng đoạn tôn giáo từ quốc nội ra hải ngoại. Kế sách đó là đào tạo nhiều tu sĩ giáo sĩ Quốc Doanh trong các tôn giáo Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo dùng Phật tử đánh Phật tử, dùng giáo dân đánh giáo dân dưới cái chiêu bài gọi là tự phát do chúng lồng vào. Nhất là trên âm mưu gây bất đồng ý kiến giữa các tín đồ của các giáo phái hầu nhìn cảnh ngao sò tranh nhau mà ngư ông thủ lợi.

Chính mục tiêu đê hèn và vô thần đó của VGCS mà chúng ta đã phải chứng kiến quá nhiều những bài viết phỉ báng tôn giáo của VGCS. Những vị tu sĩ chánh tâm cầu đạo sẽ khuyên dạy đệ tử họ không nên tranh cãi bất cứ ai trên diễn đàn khi Thầy mình bị sỉ nhục. Họ giữ chữ nhẫn và dạy cho đệ tử họ chữ nhẫn trong việc tu hành.

Nỗ Nhị Hà Xích là một nhân vật đã khai sáng triều đại nhà Mãn Thanh mà lịch sử Trung Hoa gọi là " Hoàng Đế trên lưng ngựa"

Trong những ngày đi chiêu hiền tài , đã học được chữ NHẪN do một người bán chữ viết trong một ngôi chợ chỉ dẫn.

Nỗ Nhị Hà Xích dừng ở quán người bán chữ hỏi mua chữ TÂM. Ông bán chữ bảo chữ Tâm thì cũng dễ chỉ cần làm việc Thiện nhưng phải có tiền mới mua chữ Thiện đươc. Còn bên trái của chữ Tâm mà có chữ Nhẫn thì không phải ai ai cũng làm được

Bạch NHẪN thành kim

Tỷ bất NHẪN, ắt thành đại loạn

Một khi quý Thầy, quý giáo sĩ đã chánh tâm cầu đạo thì họ sẽ tình nguyện làm mặt đất nhẫn nhịn để hứng chịu mọi dơ dáy hay bất cứ những vật gì.

Còn những vị tu sĩ mà xúi đệ tử của mình hể ai chửi một thì mình chửi 10 đó không phải là ngôn ngữ của nhà chùa hay nhà thờ. Ngôn ngữ của Thầy Tu khác với ngôn ngữ của phường du côn vô lại. Do đó, VGCS đã dùng kế sách tự chúng chửi nhau làm mình nóng mặt nhảy vào bành trướng cuộc chiến tôn giáo do chúng dàn dựng.

Có bao nhiêu người Việt Lưu Vong đang ngậm ngùi xúc động trước hành vi ngụy tạo của VGCS trên cuộc chiến tranh tôn giáo này hầu phá nát niềm tin của tín đồ cũng như lũng đoạn tình đoàn kết của người Việt Quốc Gia

Nếu chúng ta không mắc bệnh tự lừa đối mình thì bất cứ người Việt lưu vong nào có sự cảnh báo sáng suốt sẽ nhận ra được sự uổng phí của chúng ta trong suốt 35 năm qua.

Tuy rằng , chúng ta không có một Đạt Lai Lạt Ma, nhưng tối thiểu chúng ta cũng có trên 3 triệu bộ óc siêu việt thì tại sao những bộ óc ấy lại câm nín cho VGCS tiếp tục tấn công Tập Thể Người Việt Tỵ nạn CS tại hải ngoại từ kế hoạch này đến kế hoạch khác. Tại sao những bộ óc ấy lại câm nín để cuộc chống Cộng của chúng ta hiện nay mặc nhiên chấp nhận những bộ mặt lừa bịp làm đại diện hay những tên Lê Chiêu Thống tân thời mua quan bán chức với VGCS.

Chính những câm nín đó đồng nghĩa với hai chữ thờ ơ đã đẩy đám đông người dân đang làm khán giả vào một nỗi thất vọng vọng sâu xa khi phải chứng kiến sự thụt lùi của một tập thể lưu vong trong suốt 35 năm qua, trước sự bành trướng của phe nhóm của đảng phái đang làm những cánh tay nối dài cho VGCS ở hải ngoại.

Nếu những người cùng tự động bước ra khỏi sự thờ ơ câm nín đó, mọi người cùng đi về một dặm đường dài trong lập trường chống VGCS thì cái thóang gặp gỡ ấy cũng có thể làm vỡ tinh cầu, đủ lấp đầy một đại dương để trở về quê hương trong một đêm dài sáng chói.

Biết đến bao giờ chúng ta mới thực hiện được sự việc trên khi chữ Nếu vẫn đứng đầu câu thì mọi việc cũng chỉ là mơ!!! và những con Kên Kên Thời Đại vẫn tiếp tục rúc rỉa vào những xác xương khô héo khi trên đời này những ống loa bao giờ cũng lớn hơn những giây ghi âm bé nhỏ…

Tôn Nữ Hoàng Hoa

01/9/2011

Cà phê Viet Nam


Nếu có ai về VN thường hay mua Cà phê TRUNG NGUYÊN qua để biếu bà con bạn bè nên thận trọng
Nhân tiện đọc bài về thực phẩm, mời quí thân hữu đọc thêm bài này...để biết tại sao bây giờ ở VN lại có những "tiệm cà phê nằm"(hết cà phê ôm đến cà phê võng ,chỉ ở VN mới có !)...vì uống loại cà phê Trung Nguyên này sẽ...nằm luôn hết ngồi dậy...
Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc được một nghiên cứu thị trường, trong đó nói rằng người Việt Nam rất tự hào là có một ly cà phê “đậm, đắng, đặc quẹo mà người nước ngoài không uống được”.


Minh Yen is interviewing Director General of Trung Nguyen Co.
Dang Le Nguyen Vu -
Thế nhưng, họ không biết rằng niềm tự hào của họ được xây từ những điều dối trá.
Để mở đầu, tôi có thể nói sơ lược như sau: về nguyên thuỷ thì ly cà phê thường được uống nóng. Rồi dân ta, đặc biệt dân Nam, với thói quen thưởng thức dễ dãi của mình, chuyển qua uống đá . Từ đây, loại cà phê nguyên chất không còn được ưa chuộng nữa: trong nước đá, nó loãng ra và không đủ đắng, còn mùi hương thì bị ức chế bởi nhiệt độ thấp.
Và thế là các nhà sản xuất tìm đủ mọi cách để tăng đắng và tăng mùi hương.
Nhưng cuối cùng, Trung Nguyên đã trở thành nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử chế biến cà phê Việt Nam, với việc cho thuốc ký ninh vào cà phê với liều lượng cao. Một biện pháp hết sức rẻ tiền và hiệu quả.
Thêm vào đó, TN đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ cao vào cà phê để tăng hương. Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin. Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da và xương trâu – bò, và đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm thì rất đắt, nên TN đã xử dụng gelatin Trung Quốc làm nền cầm hương.
Và thứ này thì hiển nhiên là không dùng được cho thực phẩm, vì nó chứa rất nhiều preservatives.
Thế nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là khi ly cà phê TN được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu không thì không bán được.
Và như thế, không ngoa khi nói rằng, TN đã đẩy ly cà phê Việt vào một ngõ cụt dối trá.
P/S: Nếu bạn không tin, cứ dùng phin pha một ly cà phê TN bằng nước lạnh, rồi nếm thử cà phê nước ấy xem có vị gì.
Ký ninh từ lâu đã được dùng gây đắng trong thực phẩm, và với hàm lượng nhỏ thì nói chung là an toàn. Tuy nhiên, lượng ký ninh được xử dụng trong cà phê TN nói riêng và TẤT CẢ CƠ SỞ cà phê ở Việt Nam nói chung là ở mức khoảng 0,06~0,08 g/kg thành phẩm, tức khoảng 0,0015g~ 0,002g cho mỗi phin..
Ở mức này, thì việc uống cà phê lâu dài sẽ dẫn tới triệu chứng cinchonism, tức ngộ độ ký ninh, bao gồm dị ứng trên da, ù tai, chóng mặt, giảm sức nghe và nhiều triệu chứng phụ kèm khác.
Còn chuyện bạn hỏi về “tại sao không có ai lên tiếng” – well, Chi cục Y tế dự phòng Đaklak biết rõ mọi chuyện này – nhưng ở Việt Nam nói chung trong mọi vấn đề đều rất khó lên tiếng, và luôn luôn có một kênh nào đó để “bịt”. Cho nên, điều nhỏ nhất mà tôi nghĩ có thể làm được là tự mình không uống cà phê, và khuyến khích những người mình biết không uống cà phê.
Tôi chỉ nói những gì tôi chắc chắn hiểu rõ. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Và cũng hy vọng các bạn không nghĩ thế .
Nhưng về sự giả dối trong ly cà phê Việt Nam, có lẽ các bạn cần hiểu rõ hơn một chút.
So với cách uống cà phê ở phương Tây, thì ly cà phê Việt được uống theo kiểu dễ dãi: cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly nước đá khoảng 180 ml.
Và chính nước đá mới là nguồn gốc của mọi tai hoạ..
Một ly cà phê nguyên chất không đủ đắng để có thể cảm nhận được vị đắng trong chừng ấy nước đá. Nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự bay hơi của hương cà phê tự nhiên. Và cảm quan nó không đủ độ sánh để không bị tan loãng ra trong chừng ấy nước đá..
Cho nên, trước Trung Nguyên từ lâu, thì cách hoàn thiện một ly cà phê đá đã bao gồm 3 việc: tăng đắng cho cà phê, tăng mùi hương cho cà phê, và tăng độ sánh cho cà phê.
Cách chế biến như sau: Để tăng đắng, người ta thường dùng hạt cau rang. Để tăng mùi, người ta thường dùng nước mắm nhĩ. Còn để tăng độ sánh, người ta dùng đường nấu ra caramel.
Trung Nguyen Vietnamese coffee - 15 oz can
Cà Phê Trung Nguyên xuất cảng thường
thấy bán trong các tiệm Thực phẩm Á Đông
tại Hải ngoại

Trung Nguyên chỉ là nhà sản xuất đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất, và biến nó thành chuẩn “cà phê ngon” mà thôi.
Điều đáng nói nhất là khi nó đã thành chuẩn, thì sự giả dối nghiễm nhiên thành chân.
Về phía các nơi sản xuất, thì họ nghĩ – khi những chỉ tiêu chất lượng quan trọng bậc nhất của cà phê – độ đắng, mùi hương, độ sánh – đều là hàng giả, thì việc gì họ phải dùng cà phê thật làm gì?
Về phía người uống, khi đã quen với thuốc ký ninh và đường caramel, họ mất khả năng thưởng thức cà phê ngon thực sự. Và tôi tin chắc rằng, nếu được uống một ly cà phê Blue Mountains hay Hawaii Kona, họ sẽ chửi thề
Và thế người Việt, đa số, đều gật gù trước một ly nước màu đen, pha từ đậu nành hay bắp rang, trộn với caramel, hương liệu, thuốc ký ninh và nghĩ rằng họ đang uống thứ cà phê ” có văn hoá đặc biệt nhất “.
Đến đây chính là một ngõ cụt – Ngõ cụt dối trá.
Câu hỏi cuối – chính xác ai phải chịu trách nhiệm cho tình trạng đó? Sự dễ dãi của người uống? Sự xu thời của Trung Nguyên? Hay là trình độ quản lý chất lượng thực phẩm của Nhà nước ?
P/S: Một điểm cuối , bạn uống ly cà phê Việt, cảm thấy nôn nao, tim đập mạnh, thì đấy có khả năng là ngộ độc ký ninh chứ không phải là do tác dụng kích thích trí não của cà phê như bạn vẫn nghĩ

Viên tướng huyền thoại của Lào, Vang Pao, vừa từ trần tại California vào hôm thứ năm



Nguyễn Dương, Jan 06, 2011

Cali Today News - Viên tướng huyền thoại của Lào, Vang Pao, vừa từ trần tại California, hưởng thọ 81 tuổi. Theo báo The Fresno Bee, ông ta đã qua đời vào ngày thứ năm, sau khi nhập viện 10 ngày do bệnh pneumonia

.
Đó là bản tin mà nhật báo Cali Today mới nhận trước giờ báo lên khuôn.
Tướng Vang Pao là một cựu tướng lãnh uy tín, được kính trọng trong Quân đội Hoàng Gia Lào, từng lãnh đạo đội quân du kích hàng ngàn người do CIA yễm trợ trong cuộc chiến Việt Nam trước đây.
Sau khi Lào lọt vào tay cộng sản vào năm 1975, tướng Vang Pao di tản sang Hoa Kỳ và được xem là nhà lãnh đạo của cộng đồng Hmong rộng lớn, sống tập trung tại Thung Lũng Miền Trung của California, Minneapolis và một số thành phố ở Wisconsin.
Ông ta có một cuộc đời thật anh hùng.
Khi còn niên thiếu, vào thế chiến thứ hai, khi Nhật xâm lăng Lào, ông la tham gia đánh đuổi Nhật.
Vào thập niên 1950, ông ta gia nhập lính Pháp trong cuộc chiến chống lại quân Bắc Việt đang tràn ngập bên Lào, và sau đó hợp tác với CIA để chống cộng.
Ông được cựu giám đốc CIA là William Colby từng tôn xưng là “người anh hùng vĩ đại nhất của cuộc chiến Việt Nam” trong thời gian 15 năm ông lãnh đạo quân đội du kích do CIA bảo trợ để chống lại sự thâm nhập của cộng sản tại bán đảo đông dương. Sau khi quân du kích của ông ta thất thủ trước các lực lượng cộng sản, ông ta đã di tản sang Mỹ và tại đây, ông được xem là người có công trong việc đứng ra dàn xếp cho việc tái định cư hàng chục ngàn người Hmong, một sắc tộc thiểu số sống trên vùng núi của Lào.
Khi đến Mỹ, ông ta luôn được kính trọng. Theo ông Blong Xiong, người Hmong đầu tiên đắc cử thành nghị viên thành phố Fresno, thì mọi người “dù già hay trẻ, khi mà nghe tên ông ta, thì họ tỏ ra kính trọng.”
Ông Blong Xiong có mặt tại bệnh viện với đám đông để tang ngày càng đông. Và họ đang hoạch định tang lễ cho ông, nhưng cho đến nay chưa biết rõ nguyên nhân nào đưa đến cái chết của ông.
Ông được nhiều người Hmong xem là chủ tịch nước Lào lưu vong, nên ông thường xuất hiện ở các lễ hội tôn giáo và văn hóa và thường được mời giải quyết các tranh chấp và các vấn đề.
Vào năm 2007, ông ta đã bị bắt và bị kết án cùng với những nhà lãnh đạo khác của cộng đồng Hmong trong một tòa án liên bang vì âm mưu giết các nhà lãnh đạo CS tại Lào. Các công tố viên liên bang Hoa Kỳ tố cáo phong trào giải phóng Lào, có tên là Neo Hom, đã gây quỹ được hàng triệu Mỹ kim để tuyển quân và có âm mưu mua vũ khí. Ngay cả khi tòa án liên bang Hoa Kỳ truy tố như thế, nhưng ông ta vẫn được cộng đồng Hmong xem là người hùng, và ông ta được chào đón như khách danh dự tại các lễ hội Hmong mừng năm mới ở St. Paul và Fresno, và nơi đó có đông người Hmong, và họ đón tiếp ông rất trân trọng khi ông đến tham dự bằng xe Limousine.
Chúng ta còn nhớ ngay trước phiên tòa xử ông và nhiều nhà lãnh đạo khác của cộng đồng Hmong, nhiều cuộc biểu tình lớn của người Hmong đã nổ ra, nhằm bảo vệ và bênh vực các lãnh tụ của họ, nhất là tướng huyền thoại Vang Pao.

Sau đó, năm 2009, những cáo trạng về ông đã bị hủy bỏ “sau khi các nhà điều tra đã hoàn thành việc dịch thuật 30 ngàn trang tài liệu, một công việc rất tốn thời gian.”
Năm 2002, thành phố Madison của tiểu bang Wisconsin cũng hủy bỏ một kế hoạch đặt tên ông cho một công viên nhằm vinh danh ông, vì một giáo sư của trường đại học Wisconsin-Madison đã trích dẫn những tài liệu nói rằng tướng Vang Pao từng ra lệnh hành quyết nhiều người, kể cả tù nhân chiến tranh của phe địch hay những đối thủ chính trị của ông.
Năm năm sau, năm 2007, ủy ban giáo dục thành phố Madison lại bỏ tên ông ta ra khỏi tên trường tiểu học, được đặt theo tên ông, vì những người bất đồng cho rằng trường học không nên mang tên một người từng có lịch sử bạo động như thế.
Dầu có những phê bình và chỉ trích về ông, nhưng những điều này chẳng có nghĩa gì nhiều đối với cộng đồng Hmong vì họ vẫn nghĩ đến ông như là ngọn hải đăng hướng dẫn khi người Hmong lập lên những nông trang và thương mại ở Hoa Kỳ hay hình thành bản thể mới của họ trên đất Mỹ.
Vị tướng huyền thoại này còn thành lập nhiều tổ chức bất vụ lợi để giúp các cộng đồng Hmong tỵ nạn và thiết lập ra một hội đồng lãnh đạo nhằm giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn trong nội bộ 18 bộ tộc khác nhau (clans) của người Hmong và ông ta cũng chọn lựa người lãnh đạo Hội đồng này trong nhiều thập niên qua.
Theo ông Lar Yang ở Fresno, người phỏng vấn tướng Vang Pao vào tháng qua và cuộc phỏng vấn này được đăng trong niên giám thương mại của cộng đồng Hmong mà chính ông ta xuất bản hàng năm, thì “Tướng Vang Pao là một loại keo dính gắn chặt mọi người lại với nhau. Ông ta là người luôn luôn giải quyết mọi chuyện. Tôi không tin rằng vào thời điểm này không có một người nào có thể thay thế ông ta. Sẽ có thể có một cuộc đi tìm một người như thế. Và sẽ có nhiều hỗn loạn (chaos) trong một thời gian nào đó, trước khi mọi chuyện được dàn xếp.”
Qua câu chuyện ngắn ngủi này, tướng Vang Pao không chỉ là người hùng vĩ đại nhất trong cuộc chiến chống Cộng tại đông dương trước đây, mà còn là một lãnh tụ bất khả thay thế trong hơn 35 năm qua của cộng đồng Hmong tại hải ngoại, mà còn là một vì sao chưa có người nào có thể thay thế khi vì sao này vừa tắt…
Nguyễn Dương

Trong âm mưu lật đổ chính phủ Lào, ngoài Vàng Pao bị bắt giữ, còn có một cựu trung tá Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam.

Một số bị cáo là lính đánh thuê, cựu thành viên lực lượng đặc biệt và những toán thám báo SEAL của hải quân Mỹ trước đây.

Tướng H"mong Vàng Pao đang hầu tòa với tội danh âm mưu bạo động lật đổ chính phủ Lào với chứng cứ bao gồm vũ khí, quân trang, quân dụng dự định được chuyển tới Thái Lan trong tuần tới.

Vàng Pao cùng 9 người khác (và nhiều người nữa có thể bị bắt giữ trong thời gian tới) bị cáo buộc vi phạm đạo luật "Trung lập liên bang" (Federal Neutrality Act) mà án phạt có thể lên đến mức tù chung thân. Công tố viên Mỹ McGregor Scott đã viện dẫn đạo luật này, cho rằng: "Nước Mỹ không thể cung cấp một địa điểm an toàn cho những người âm mưu lật đổ một chính quyền nước ngoài. Công dân Mỹ không thể liên quan tới các âm mưu lật đổ một chính quyền nước ngoài vốn có quan hệ hòa bình với Mỹ".

Tại cuộc họp báo ở Sacramento, thủ phủ tiểu bang California, theo sau việc "trình diện" các bị cáo lần đầu ở Tòa án Liên bang ngày 4/6, trợ lý công tố viên Bob Twiss nói: "Chúng tôi đang xem xét tới một âm mưu giết hại tới hàng nghìn người trong cùng một lúc".

Vàng Pao cùng các thủ lĩnh H"mong khác dự kiến lật đổ Chính phủ Lào bằng phương pháp bạo lực, kể cả giết người, tấn công các nhân viên quân sự và dân sự của Lào, phá hoại cao ốc, công trình dân dụng... Nhóm chủ mưu đã lên một kế hoạch hành động nhằm vào thủ đô Vientiane của Lào "tấn công quân sự vào khu thương mại Vientiane, nhằm vào các cao ốc, cơ quan quân sự... và đánh tan thành bình địa như cuộc tấn công vào Trung tâm Thương mại thế giới (WTC) ở New York ngày 11/9/2001".

Kể từ đầu tháng 1/2007, một số kẻ chủ mưu người H"mong cùng với Harrison Ulrich Jack - cựu trung tá Mỹ thuộc lực lượng Vệ binh California, 60 tuổi - đã cho kiểm tra những chiếc tàu chở quân trang quân dụng đã được mua và sẵn sàng chuyển đi Thái Lan theo dự kiến vào các ngày 12 và 19/6/2007. Tang vật mà giới chức Mỹ thu được gồm hàng trăm súng tiểu liên, súng phóng lựu, súng chống tăng, các loại hỏa tiễn vác vai kiểu Stinger, đạn dược, mìn Claymore và chất nổ C-4.

Tất cả 10 bị can đã bị bắt giữ và bị đưa ra trước tòa án liên bang ở Placerville, California ngày 4/6, trong đó có Harrison Ulrich Jack. Jack tốt nghiệp Trường võ bị West Point năm 1968 và từng tham chiến tại Việt Nam, giải ngũ năm 1977. Cựu trung tá Jack là nhân vật đảm trách phần thu gom vũ khí, chất nổ. Một số bị cáo còn lại là lính đánh thuê, cựu thành viên lực lượng đặc biệt và cựu thành viên những toán thám báo SEAL của hải quân trước đây.

Âm mưu này đã bị phát hiện trong một cuộc điều tra kéo dài 6 tháng dưới mật danh "Operation Tarnished Eagle" của Cơ quan liên bang phụ trách về rượu, thuốc lá, vũ khí và chất nổ của Mỹ. Cơ quan này đã cài người vào để tham gia hàng loạt cuộc hội họp, trao đổi với những nhân vật chủ mưu về kế hoạch đưa vũ khí, đạn dược vào các cứ điểm ở Thái Lan trước khi chuyển qua Lào. Những cuộc gặp gỡ đó thường diễn ra ở khu vực Sacramento, bên trong các quán rượu, nhà hàng, khách sạn hoặc bãi đậu xe của Kmart gần xa lộ 99 ở Stockton.

Chuyến "hàng" đầu tiên trị giá 100.000 USD dự kiến được chuyển giao tại Bangkok, Thái Lan vào ngày 12/6 với 125 khẩu tiểu liên AK-47, đạn dược và các thùng lựu đạn khói. Các chuyến kế tiếp sẽ chở súng phóng lựu, hỏa tiễn chống tăng, quân trang quân dụng trị giá tới 9,8 triệu USD. Số tiền này là khoản đóng góp của một số nhóm trong cộng đồng người H"mong ở Mỹ.


Nếu không bị phá vỡ tình hiềnh Lào và Đông Dương có thể đã đổi khác từ 3 năm qua
Vàng Pao năm nay 77 tuổi, từng lãnh đạo lực lượng người H"mong ở Lào (do CIA hậu thuẫn) trong các thập niên 60, 70 thế kỷ trước, trong vai trò là một sĩ quan cấp tướng của Hoàng gia Lào. Năm 1972, một cuốn sách của tác giả Mỹ Alfred McCoy đã kể chi tiết về vai trò của Vàng Pao trong các hoạt động buôn bán ma túy tại Lào.

Vàng Pao định cư tại Mỹ từ năm 1975 và là thủ lĩnh phong trào mang tên Neo Hom, được thành lập vào thập niên 80 nhằm hỗ trợ các lực lượng chống chính phủ Lào. Tổ chức này từng bị điều tra về tội biển thủ tiền từ các quỹ hỗ trợ dân tỵ nạn và con rể của Vàng Pao là Kao Thao đã bị kết tội. Năm 2005, giới chức tiểu bang Minnesota đã đóng cửa Quỹ Vàng Pao vì tổ chức này vi phạm luật về từ thiện.

Vàng Pao thường di chuyển qua lại giữa những ngôi nhà của ông ta ở Westminster, California và tiểu bang Minnesota, nơi có đông người H"mong sinh sống. Vàng Pao bị bắt ngày 4/6 tại California về tội âm mưu lật đổ Chính phủ Lào.

Bến Tầm Xuân

Bến tầm xuân

Xuân sanh, Hạ chín, Thu héo, Đông tàn. Nếp nghĩ xuôi dòng đang đi theo một con đường mòn miên viễn như thế. Bỗng có một vị sơn tăng – như thiền sư Mãn Giác (1090) chẳng hạn – huơ tay, mỉm cười, tầm nhìn hướng ra ngõ vắng đầy sương, ánh mắt bắt gặp một cành mai hôm trước và kêu lên hồn nhiên:

“Đình tiền tạc dạ nhất chi mai!”

Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết,

Hôm qua sân trước, một cành mai.

Tiếng chổi trong tâm của người quét lá sân chùa vọng lại:

Đừng tưởng tuổi già răng rụng hết

Bảy mươi còn mọc chiếc răng khôn.

Cái “tưởng” là một định kiến ước lệ, khô cằn; trong khi hiện thực là dòng tươi mát, trôi chảy thường hằng. Thiền sư và người quét lá sân chùa chẳng có gì khác nhau. Chỉ có một lằn ranh chưa gặp. Nhưng rồi có thể gặp nhau trong nháy mắt; một lúc nào đó sẽ gặp; hay không bao giờ gặp: Tri giác và Tuệ giác.

Mai nở sớm hay mai cũ của mùa Xuân năm trước là câu hỏi theo cái nhìn cảm giác đời thường. Nhưng với sự tinh anh từ ánh mắt đang phóng nét nhìn lạnh cả hư không, về thế giới hư huyễn – mà chữ nghĩa nhà Phật thường gọi là “quán niệm vạn pháp vô thường” – thì đó chẳng phải là cành mai mới cắt trong vườn nhà ở làng Hương Cần, vác qua Huế bán ở chợ hoa ngày Tết Thương Bạc mà là cành mai “thật”, cành mai tinh túy mang bản chất của mọi cành mai từ cổ sơ đến hôm nay và mãi mãi.

Dựa theo thơ của danh tăng Ashi Zumi, phái Tào động Nhật Bản thì có thể nói như thế này: Cắt một nhành mai hình tướng. Cắm vào bình thủy tinh. Có một cành mai thể tánh. Ẩn trong lòng biển xanh. Phải chăng như Mẹ là hình tướng mà Tình Yêu cao tuyệt vô biên của mẹ cho con là thể tánh? Mẹ không còn nữa, tình yêu của mẹ ẩn trong lòng biển xanh.

Như ngày xưa, cụ nghè tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến cũng nhìn thấy: “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái. Một tiếng trên không ngỗng nước nào?!” Nhưng đây là cái nhìn thông qua cảm xúc, tri giác. Có người hỏi: “Văn chương tự cổ vô bằng cớ. Văn chương từ xưa là sản phẩm của cảm xúc nên không có bằng cớ gì cả. Vậy thì căn cứ vào đâu để nói Nguyễn Khuyến không là một thiền sư như Mãn Giác của hơn nghìn năm trước?” Hình như chỉ có một sự khác nhau rất nhỏ. “Hình như” vì bạn và ta, và cả vũ trụ vô biên nầy đều giả tạm, huống chi là một dòng tư tưởng mơ hồ (?!). Thiền sư Mãn Giác nhìn vạn sự qua nét nhìn tĩnh lặng mà như xoáy vào nhịp biến dịch thành trụ hoại không. Cụ nghè Nguyễn Khuyến nhìn đối thể với sự hồ nghi chất vấn. Còn hồ nghi sẽ thiếu vắng một nụ cười tuệ giác.

Mấy chùm trước giậu “hoa năm ngoái” của Nguyễn Khuyến là hình tướng mà cành mai “đình tiền tạc dạ” của Mãn Giác là thể tánh. Mai nở thông qua cái nhìn tuệ giác – Tuệ giác mùa Xuân.

Nụ cười, tuệ giác và mùa Xuân là ba khái niệm và ba hình ảnh riêng biệt. Nhưng khi kết hợp và hòa quyện vào nhau sẽ thành một nguồn vui trong mơ ước. Nhân gian ai lại không thích nụ cười; ai mà chẳng muốn mùa Xuân. Muốn hái nụ tầm Xuân và tắm bến tầm Xuân nhưng chẳng biết mặt mũi cái “nụ xanh biếc” hay cái bến vạn lý sơ xưa đó như thế nào và ở chốn nào. Tìm đâu cho gặp khi nó ở chính trong ta. Nó là tiếng pháo khi vui, sương khói khi buồn, đóa hoa khi yêu và nỗi đau khi ghét. Khi tìm nỗi lòng trên sông núi thì chính sông núi là nỗi lòng. Ngay khi hết một đời buồn vui, xuôi tay về đất; người ở lại thì khóc bù lu bù loa, thế mà người ra đi vẫn muốn cười, tuy hơi làm biếng hả miệng: Ngậm cười nơi chín suối!

Tôn giáo ra đời cũng chỉ vì nhân gian thích nụ cười vĩnh cửu. Tâm lý muốn lên Thiên Đàng, hay về Niết Bàn cũng chỉ vì… ham vui! Một tâm thức không còn ham vui là đã bị đóng băng trong khổ đau và phiền não. Mọi hồng ân cứu rỗi hay độ trì đều chẳng còn tác dụng gì lên sỏi đá. Bởi vậy, những thế giới hứa hẹn của các tôn giáo sau khi chết mà không có những an lạc vĩnh hằng, yên nghỉ đời đời, chim trời ca hát, nhạc trời véo von, niềm vui vĩnh cửu, hoa thơm cỏ lạ bốn mùa thì hết thảy những người thích cười sẽ “trả lại vé” đã mua với giá một đời tin cẩn, mong cầu niềm vui cho chuyến xe thổ… mộ cuối cùng!

Người theo đạo Phật thể hiện giấc “mơ vui” của mình qua hình ảnh đức Phật Di Lặc. Theo niềm tin và tín lý nhà Phật thì có ba đời, mười phương Phật. Có hằng hà sa số chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Thích Ca Mâu Ni là đức Phật của thời hiện tại trong cõi Diêm Phù Đề mà chúng ta đang ở. Đức Phật tương lai của cõi người nầy sẽ là Phật Di Lặc (Maitreya: Gốc chữ Phạn Maitri, có nghĩa là từ bi, yên vui) là một vị đại bồ tát đang ngự ở cung trời Đâu Suất. Nếu chỉ riêng Việt Nam ta cũng đã có gần cả trăm kiểu cười, cách cười và nụ cười khác nhau thì thế giới cũng nhìn về biểu tượng yên vui của đức Phật Di Lặc qua nhiều dáng vẻ phong phú như thế.

Tuy đạo Phật có nhiều bộ phái và pháp môn khác nhau, nhưng hình ảnh Phật Di Lặc vẫn trở thành một ước vọng chung tràn đầy niềm vui và hạnh phúc ở chân trời tương lai. Đức từ bi của Phật Di Lặc được biểu hiện qua nhiều hình tướng khác nhau, tương hợp với điều kiện và hoàn cảnh xã hội, bản chất con người và đặc tính văn hóa của từng xứ, từng vùng.

Qua những tượng đài và kinh văn Ấn Độ thì Phật Di Lặc là hiện thân của từ bi và trí tuệ với dáng vẻ minh triết, trầm tư. Với Tây Tạng, Tích Lan thì Phật Di Lặc là hóa thân của sự tái sinh an lạc và huyền nhiệm với dáng vẻ đẹp đẽ cao cả và huyền bí. Nhưng tới đất Trung Hoa thì Phật Di Lặc là biểu trưng của sự hoan hỷ, phong phú, mãn nguyện với nụ cười khoan khoái, sắc diện béo tròn, thân đầy, bụng phệ, lúc nào cũng sẵn lòng dang tay đón nhận mọi người. Dưới ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài của kinh điển toàn bằng chữ Hán từ Trung Hoa du nhập vào nước ta (Hán tạng), hình tượng đức Phật Di Lặc ở Việt Nam vẫn chưa đạt được một bản sắc thuần Việt của tinh thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Cũng là Nụ Cười Di Lặc, nhưng bản chất văn hóa “cung hỷ phát tài” của Trung Quốc làm mất đi tính chất tuệ giác của nguồn suối mơ ước tâm linh. Nhiều nơi lẫn lộn giữa Phật Di Lặc và ông Thần Tài. Thậm chí, khi mang ảnh tượng đức Di Lặc của Việt Nam và Trung Quốc sang các nước Âu Mỹ thì trở thành những ông Phật Mập (Fat Buddha), Phật Cười (Laughing Buddha), Phật Phát Tài (Lucky Buddha) hoặc những hình thức tương tự để trang trí quanh những bồn hoa, hồ cá ở vườn sau.

Từ bi là lòng thương không mù quáng, trí tuệ là sự hiểu biết không cực đoan và hoan hỷ là niềm vui không dung tục. Tuy nhiên, qua lăng kính Đại Thừa của Phật giáo Trung Hoa – được đâm chồi nẩy lộc trong khung cảnh xã hội nông nghiệp và buôn bán nhỏ, giữa hoàn cảnh văn hóa Khổng, Lão và phiếm thần dân gian làm xương sống tâm linh – phật Di Lặc trở thành biểu tượng của sự hoan hỷ, sung mãn, hạnh phúc mang tính phàm trần, thực dụng. Vì con người tạo ra tôn giáo; chứ không phải tôn giáo tạo ra con người nên con người có quyền chối bỏ tôn giáo, nhưng tôn giáo không thể chối bỏ con người. Cho nên, không ít người đã chơi trò dung dăng, dung dẻ với quyền tự do tâm linh để trói buộc chính mình và người khác vào một sự dính mắc trầm kha như bệnh dịch hạch. Chỉ riêng trên đất Trung Quốc từ thế kỷ thứ III đến nay, đã có tới con số hàng trăm nhân vật theo Phật giáo xuất gia và tại gia tự xưng là “hiện thân của Phật Di Lặc” giáng trần. Việt Nam ta cũng không thiếu những ông đồng bà vãi như thế. Nhưng tất cả con người và vọng động đều đến rồi đi như những hiện tượng chiến tranh, dịch họa.

Thật ra, đức Phật Di Lặc là tâm ảnh nói lên niềm hy vọng thường an lạc; là biểu tượng mong cầu cho một tương lai thịnh vượng, tươi sáng. Đời có bao nhiêu niềm ước mơ tốt đẹp thì sẽ có bấy nhiêu mẫu hình tướng của nụ cười Di Lặc. Nếu có chăng điều quan ngại thì nó sẽ không dừng lại ở mức độ hình tướng mà ở tác dụng của phương tiện. Nếu nụ cười “niêm hoa vi tiếu” của Ca Diếp là sự khai mở của tuệ giác, nhìn đóa sen trên tay Phật mà thấy hết tánh sen là tánh Phật; thấy ngó sen đang ở trong bùn vẫn theo dòng sinh diệt, lặng lẽ nhô lên khỏi mặt nước và có ngày nở rộ tỏa ngát hương thì nụ cười Di Lặc cũng sẽ “đồng nhất thể” tương ứng như thế. Đó là một nụ cười rất đẹp và trọn lành không phân biệt Bố Đại Hòa Thượng khi cho hay Thằng Bờm khi nhận.

Càng ngày, những nước văn minh Âu Mỹ càng nghiên cứu sâu rộng để tiếp nhận và trân trọng tinh thần phá chấp, từ bi và hóa giải của đạo Phật. Nhưng khác với người phương Đông, ngưởi phương Tây không còn ảo tưởng về vai trò “cứu rỗi” vô điều kiện của tôn giáo. Bởi vậy, họ tìm đến đạo Phật như một triết lý, một nghệ thuật sống và đồng thời là một tôn giáo. Một câu hỏi thường xuyên xuất hiện của những người Âu Mỹ mang nặng định kiến thần học phương Tây khi nhìn về đạo Phật là: “Đạo Phật là một hệ thống triết lý, một học thuyết vô thần hay một tôn giáo?” Người hiểu đạo (nói chung) trả lời không ngập ngừng: “Thưa, cả ba!” Nhưng cũng có người bị dị ứng với khái niệm “vô thần”. Dị ứng bởi vì tư tưởng bị đóng khung và lão hóa trong kiểu cách suy nghĩ duy lý và chủ quan gọi tên, dán nhãn hiệu của phương Tây. Nghĩa là chỉ biết khư khư định nghĩa “Thần” như là một đấng Sáng Thế toàn năng, một Vua Trời, một Thượng Đế. Mahatma Gandhi, người tin vào Thượng Đế Hindu, đã nhận xét: “Đạo Phật không phủ nhận Thượng Đế nhưng định nghĩa Thượng Đế theo một cách khác.” Đấng “Sáng Thế toàn năng” theo đạo Phật là “Duyên Khởi từ bản thể Tánh Không” như cách nhìn của nhà vật lý nổi tiếng nhất thời hiện tại, Stephen Hawking đã viết trong Sự Tạo Tác Vĩ Đại (The Grand Design).

Người phương Tây tìm đến cái đẹp của Phật giáo không phải qua hình thức lễ nghi, bái vọng với một tâm lý đột phá những vòng trói buộc của tín điều và tín lý. Họ đánh giá chân xác với lòng biết ơn Nụ Cười Di Lặc và tin rằng, một đức Phật tương lai sẽ đến như một sự tái khẳng định nếp nghĩ, lối sống hòa bình, an lạc và trí tuệ chứ không phải là để “tái sáng thế” đầy huyền nhiệm và bí ẩn của nếp tâm linh cổ sơ. Nếu quan chiêm những ảnh tượng của Phật Di Lặc trong những chùa viện Phật giáo phương Tây ngày nay, người ta sẽ thấy toát lên vẻ đẹp đầy nghệ thuật phảng phất hay rõ nét nụ cười toát ra từ bên trong. Những ảnh tượng Di Lặc với ngoại hình đầy hoan hỷ đậm nét “thỏa thê trù phú” trong các chùa viện Việt Nam mô phỏng hay chỉ là phiên bản của Trung Quốc đang mất dần tác dụng giải thoát tâm linh trong thời đại mới.

Truyền thống người Trung Quốc dân dã khi gặp nhau thường chào câu đầu tiên: “Đã ăn chưa?” Ngày nay, kinh tế phát triển, cơm áo không còn là nhu cầu bức xúc hàng ngày thì tiếng chào cũng thay đổi dần như phương Tây không còn lo ăn mà lo vui, lo đẹp. Ước mong dáng vẻ Di Lặc cũng sẽ theo phong trào tập “Tai Chi” và “Fitness” mà trở nên thon thả, thanh lịch hơn trong những thế hệ tương lai. Đặc biệt là trong khung cảnh văn hóa Việt Nam, các chùa viện Phật giáo cần tìm cầu một biểu tượng an lạc của đức Di Lặc nói riêng và tất cả các tôn tượng, kiến trúc nói chung, phù hợp với bản chất dân tộc, văn hóa và tính độc lập, độc sáng của mình.

Năm mới, mùa Xuân là sức bật của tuổi trẻ, là điểm hẹn của tuổi trung niên và dấu ghi thêm một bước gần đất của tuổi già. Nhưng tinh thần… ham vui cũng giông giống như “tài không đợi tuổi”. Mong rằng, tinh thần nụ cười của tuệ giác mùa Xuân đang có sẵn trong mỗi lòng người sẽ đâm chồi nẩy lộc tự nhiên và dễ dàng như hoa lá quanh mình.

Natomas, tuần đầu tháng Giêng 2011

© Trần Kiêm Đoàn

Bài Xem Nhiều