We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 25 January 2011

Người phụ nữ Việt Nam truyền thống:


Cũng như các nước trong vùng và cả phương Tây, trước khi chuyển sang chế độ phụ hệ, Việt Nam đã trải qua một thời kỳ mẫu hệ. Ảnh hưởng văn hóa Tàu do sự đô hộ của Tàu kéo dài hàng ngàn năm, các định chế và triết lý phụ quyền của Tàu lẽ dĩ nhiên đã được đem thiết lập ở Việt Nam.Tuy nhiên, khác với khuôn mẫu Tàu, ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 13, thời Tống nho cực thịnh, một thứ "chế độ quan chức" dành cho phụ nữ được thực tế "thừa nhận". Các phụ nữ như nhà giáo Ngô Chi Lan, Đoàn thị Điểm, đã lập ra trường học, và môn sinh của các Bà đã thi đậu, trở thành quan chức cao cấp trong triều đình. Trở ngược thời gian xa hơn nữa, dưới thời nhà Lý, các công chúa nắm giữ tài chánh triều đình. Mà nắm tài chánh là nắm được một phần quyền lực thật sự.

Điều quan trọng và nổi bật vì không giống phụ nữ Tàu, người phụ nữ Việt Nam hoạt động trên cả lãnh vực sản xuất ngoài vai trò nội trợ trong gia đình: cấy gặt, trồng hoa màu, quay tơ, dệt vải, và buôn bán nhỏ.

Một học giả Hoa kỳ đã nhận xét: "Vai trò của phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống được xác định bởi một sự pha trộn phức tạp mà hấp dẫn giữa đạo đức Nho giáo, các đặc thù văn hóa dân tộc mang theo dấu vết của chế độ mẫu hệ, và các đạo luật chánh thống đầy mâu thuẫn"...(William S. Turley, Phụ nữ trong cuộc cách mạng cộng sản ở Việt Nam, nghiên cứu Á Châu số 12, 1972, Hoa kỳ).

Thật thế, trong luật pháp và đời sống gia đình, người phụ nữ Việt Nam đều gìữ được địa vị ưu đải. Người con gái trong gia đình được quyền thừa kế bình đẳng với con trai. Trái lại người chồng không có quyền thừa kế nếu vợ chết đi không để lại con trai nối dõi.

Địa vị người phụ nữ Việt Nam càng nổi bật nếu đưa cái nhìn quan sát so sánh gia đình Tàu với gia đình Việt Nam: " Nếu như gia đình Trung hoa mang nét đặc trưng bởi quyền lực của người cha trùm lên tất cả các thành viên gia đình thì gia đình Việt Nam lại khác, người vợ hầu như bình đẳng với chồng và các thành viên khác cũng khẳng định tư cách của mình". (Yu Insum, luật pháp và gia đình ở Việt Nam thế kỷ 17 và 18, Hoa kỳ, 1987).

Địa vị của người phụ nữ Việt Nam được qui định rõ qua bộ luật cổ của Việt Nam đời nhà Lê "Quốc triều Hình luật" (thế kỷ 17-18) và sửa đổi qua bộ Hoàng Việt luật lệ dưới thời nhà Nguyễn (thế kỷ 19-20- Xem Codes de LE của Nguyễn Ngọc Huy dịch và chú giải, Thư viện Cujas, Paris V). Trên thực tế, một số điều khoản của 2 bộ luật trên đây không phù hợp với tập quán Việt Nam đã không được áp dụng, nên mới có câu "luật vua thua lệ làng".

Phụ nữ và Gia đình ở Việt nam sau Chiến tranh giải phóng

Dân số Việt Nam hơn 80 triệu, phụ nữ chiếm một tỷ lệ cao hơn nam giới, (90 - 94 nam trên 100 nữ). Trong số hơn 15 triệu phụ nữ lập gia đình, có 18, 24 % ly hôn và phải sống độc thân vì khó tái lập gia đình trở lại.

Trong tổng số tuổi trẻ từ 15 tuổi trở lên chưa lập gia đình, nữ giới chiếm 31,30%, còn nam giới chiếm 37, 4%, số nữ giới có gia đình thấp hơn nam giới (56% nữ, 59, 7% nam).

Gia đình Việt Nam không giống gia đình ở Tây phương chỉ gồm vợ chồng và con chó. Gia đình Việt Nam bao gồm chững người có liên hệ huyết thống như ông bà, cha mẹ, con cháu và cả những người được nuôi dưỡng mà không có liên hệ huyết thống. Ở Việt Nam Cộng sản, gia đình bị biến thành Hộ, như Hộ tập thể... để chỉ một đơn vị gia cư trong mối quan hệ với chánh quyền (công an hộ khẩu, khu vực), không cần thiết phải dựa trên liên hệ huyết thống.

Theo cuộc kiểm tra dân số do Hà nội thực hiện năm 1989, số gia đình tăng lên 3, 04% sau 10 năm. Gia đình gồm 4 người năm 1979 chiếm 15%, 10 năm sau tăng lên 18, 9%.

Những "hộ tập thể" đã biến mất nhường chỗ cho những gia đình theo liên hệ huyết thống. Con cái tách ra ở riêng nhưng vẫn giữ quan hệ thân thiết với ông bà, cha mẹ, họ hàng và vẫn duy trì sự giúp đỡ, tương trợ trong gia đình.

Chánh sách xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó những hộ tập thể thay thế gia đình truyền thống vì cá nhân bị bốc rời khỏi mối liên hệ họ hàng để được chế độ quản lý, ngày nay đã hoàn toàn sụp đổ theo chế độ công sản liên-xô và đông âu.

Bộ mặt của Gia đình ở Âu Mỹ ngày nay

Sự quan hệ Nam / Nữ ngày nay tới đâu rồi? Sau 40 năm tranh đấu không ngừng nghỉ, Phong trào Nữ Quyền đã thua trận? Vùng lên tranh đấu sanh tử nữa?

Từ ít lâu nay, người ta vẫn tưởng Phong Trào Giải phóng Phụ nữ đã bị chôn vùi. Không đâu. Trái lại, theo Bà Caroline de Haas, Phát ngôn viên của tổ chức Phụ nữ « Osez le Féminisme » ở Pháp, Phong trào ấy lại sinh động hơn bao giờ hết. Nó không chỉ đang là thời thượng vì trên thực tế, sự bình đẳng Nam / Nữ chưa có, mà giới trẻ ngày càng dấn thân tham gia tranh đấu đông đảo.

Người phụ nữ đã đạt được những nữ quyền. Năm 1946, Hiến pháp Pháp nhìn nhận quyền bình đẳng Nam / Nữ. Năm 1949, Bà Simone de Beauvoir cho ấn hành « Le Deuxième Sexe »

(Phái thứ hai, tức phái yếu) đã làm thay đổi thật sự thế giới. Nam 1954, Françoise Sagan cho ra đời "Bonjour tristesse" (Buồn ơi! Chào mi) thêm một phen làm bùng nổ kỷ cương xã hội, đề cao đời sống buông thả theo những đòi hỏi cá nhân tự do. Năm 1960, phụ nữ độc thân có quyền có sổ gia đình. Từ năm 1963, trường học bắt đầu nhận trai gái cùng học chung. Năm 1967, thuốc uống ngừa thai ra đời phục vụ đời sống sinh lý phụ nữ theo yêu cầu cá nhân. Năm 1975, luật phá thay của Simone Veil ban hành.

Trật tự ái tình và gia đình cũng từ đây thay đổi. Người Phụ nữ đã không còn bị coi là một thứ "người ngốc kiều diễm" nữa, mà trái lại, đã thủ đắc được quyền tự do suy nghĩ và ưa thích. Quan hệ luyến ái đồng phái công khai xuất hiện. Năm 1980, sự phát minh kỷ thuật sinh học đã làm đảo lộn qui luật gia đình, vai trò Cha và Mẹ. Lý lịch của đứa con bị mờ nhạt hay không thể xác định theo một tiêu chuẩn cố định. Một đứa trẻ có thể có cùng một lúc 3 người Mẹ: mẹ huyết thống, mẹ mang bầu và mẹ nuôi. Điều này không tránh khỏi dẩn tới xung đột gia tăng mạnh giữa khoa học và văn hóa xã hội mà hệ quả bắt đầu chi phối cấu trúc gia đình ngày nay.

Trong gia đình đoàn tụ vào dịp lễ cuối năm, cứ 3 người con, có 1 không sống với cha hoặc với mẹ, vì cha mẹ ly dị hoặc cha mẹ không phải là vợ chồng chánh thức vì không thành hôn. Ngày càng có thêm nhiều người sống chung với nhau mà không cưới nhau. Họ hỏi tại sao phải cưới nhau mới là gia đình chớ?

Theo kết quả điều tra của Trung tâm Pew Research ở Huê kỳ kết hợp với tuần báo Time vừa công bố hồi tháng 11/2010 thì ý niệm về Gia đình nay đã có nhiều thay đổi từ nền tảng. Cơ quan Kiểm tra Dân số Huê kỳ đang tìm cách đưa ra định nghĩa mới về Gia đình một cách rộng rải hơn, mới hơn, cho phù hợp với sự diển biến của thực tế xã hội.

Theo kết quả điều tra của Cơ quan trên đây, 29 % thanh niên 18 tuổi hiện sống với cha hoặc mẹ không kết hôn hoặc ly dị. Số này gia tăng 5 lần từ năm 1960. Nói rỏ hơn, có 15 % thanh niên sống với cha hoặc mẹ, 14 % là con của cha mẹ không cưới nhau.

Nay có 39 % dân chúng Mỹ cho rằng hôn nhơn là lỗi thời nên Thị xã và nhà thờ vắng hẳn đám cưới, chỉ còn 52 % còn tổ chức cưới hỏi. Năm 1978, có 28 % người phản đối kết hôn khi cần phải sống chung.

Khi được hỏi thế nào là Gia đình, thì phần đông trả lời « Cưới hỏi nhau, có con hay không, đó không phải là yếu tố thiết yếu để định nghĩa Gia đình ». Trong 5 người được thăm dò, có 4 người thừa nhận một cặp có con không cưới nhau hoặc cha mẹ độc thân nuôi con là « bình thường » như một gia đình truyền thống. Cũng trong 5 người trả lời điều tra, có 3 người nhìn nhận những cặp "homo" nuôi con chung với nhau là "gia đình".

Giáo sư Xã hội học Andrew Cherlin ở Đại Học Johns Hopking, Huê kỳ, nhận xét hiện tượng xã hội này như sau: "Hôn nhơn còn rất quan trọng trên đất nước này nhưng nó không chi phối gia đình như trước đây nữa. Giờ đây, có nhiều cách khác nhau để có một đời sống gia đình hạnh phúc. Nên có nhiều người vui vẻ chấp nhận thực tế đó".

Thanh niên chọn sống chung không qua hôn nhơn khi có nhu cầu, một phần vì đời sống khó khăn. Họ sợ mọi cam kết lâu dài. Năm 2010, những cặp sống chung không cưới hỏi gia tăng 13 %, vị chi 7, 5 triệu cặp.

Trước thực tế xã hội như vậy, Cơ quan Kiểm tra Dân số Huê kỳ đã phải thay đổi định nghĩa về Gia đình. Ngày nay, Gia đình bao gồm những cặp sống chung không cưới hỏi, những cặp « homo » nuôi con không có liên hệ máu mủ.

Giáo sư Andrew Cherlin nhận xét “ Người ta suy nghĩ lại Gia đình là gì cho đúng? Trước tình hình thực tế, chúng ta phải chấp nhận như là Gia đình mối quan hệ giửa hai người cùng chung sống ngoại hôn, coi đó là căn bản để từ đó họ có thể được hưởng những quyền lợi xã hội giống như những gia đình theo đúng qui định luật pháp trước đây. Nhưng người ta nghĩ nền tảng gia đình ở Mỹ sẽ không vì vậy mà sớm biến mất ».

Ông Andrew Cherlin tin tưởng như vậy vì theo ông có tới 67 % dân chúng tỏ ra lạc quan về tương lai của hôn nhơn và gia đình. Họ lạc quan hơn đối với hệ thống giáo dục quốc gia (50 %), với nền kinh tế hiện tại (46 %), hoặc với đạo đức xã hội(41 %).

Gia đình và vai trò người Phụ nữ

Người ta có thể định nghĩa Gia đình một cách mới mẻ hơn, rộng rải hơn nhưng chỉ về mặt kinh tế xã hội. Chớ thật khó tìm được một định nghĩa Gia đình cho trọn vẹn về mặt nhân xã để có thể chấp nhận hình thái gia đình thay đổi theo thực tế ngày nay. Phong trào tranh đấu cho Nữ Quyền, sau thời gian dài, đã đem lại cho người phụ nữ những quyền tự do cá nhơn. Nhưng về mặt bình quyền và tôn trọng nhân phẩm, người phụ nữ vẫn còn phải tranh đấu hơn nữa, khó khăn không ít.

Chưa thấy có một nghiên cứu nào xác nhận cụ thể « những gia đình mới » thành hình từ những diển biến xã hội trong gần đây thật sự hạnh phúc hơn những gia đình truyền thống với vai trò cột trụ của người phụ nữ. Khi nói tới gia đình, người ta khó bỏ qua sư hiện diện tích cực của người phụ nữ.

Gia đình Việt Nam từ ngàn xưa giữ vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân cũng như trong sự phát triển xã hội. Gia đình luôn luôn là nơi tạo ra hạnh phúc cho mỗi người bởi con ngưởi tìm thấy trong gia đình sự đùm bọc về vật chất và tinh thần, thụ hưởng sự giáo dục, những niềm vui của cuộc sống, sự an ủi khi khó khăn, sự phụng dưỡng lúc tuổi già yếu.

Gia đình đảm nhiệm vai trò cân bằng về tâm lý và tình cảm, hạnh phúc cho mỗi cá nhân.

Khi đặt vấn đề « quyền » như nữ quyền theo quan niệm "phụ nữ giải phóng" thì sự quân bình trong đời sống gia đình bắt đầu chao đảo. Người phụ nữ Việt Nam có chấp nhận trách nhiệm nặng nề trong gia đình hơn chồng, nhưng được hiểu đó là thiên chức cao quí làm vợ, làm mẹ. Về mặt thể chế, thiên chức phụ nữ ở Việt Nam đã sớm được luật pháp bảo vệ tốt hơn ở nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Theo Giáo sư Andrew Cherlin, có 69 % dân Mỹ tin tưởng một cách lạc quan về tương lai gia đình ở Mỹ sẽ không bị mất vi giới trẻ không lập gia đình. Nhưng trong lúc đó, chỉ có 41 % dân chúng tỏ ra tin tưởng ở đạo đức xã hội thì gia đình sẽ căn cứ trên cơ sở nào để tồn tại?

Nguyễn thị Cỏ May

Trăm Tuổi Bạc Đầu Râu


Lúc còn nhỏ, mỗi năm đến dịp Tết, mẹ tôi thường dạy cho tôi một công thức phải học thuộc lòng để
gọi là

đi “mừng tuổi”. Được mặc quần áo mới, được mang giày hay xanh-đan ít nhứt một lần vào dịp đầu năm và nhứt là được lì xì, đứa trẻ nào mà chẳng thích đi “mừng tuổi”.

Sau khi thực tập một vòng trong nhà với ông bà, cha mẹ, các anh các chị và dĩ nhiên với cái túi cũng tương đối được rủng rỉnh, chúng tôi mới bắt đầu đi “xông đất” những gia đình bà con, láng giềng. Người đầu tiên mà lũ trẻ xóm giáo chúng tôi phải làm nghĩa vụ “chúc tết” là cha mẹ đỡ đầu. “Cha mẹ đỡ đầu” là người được cha mẹ nhờ “cầm đầu” đứa bé sơ sinh khi nó được mang đến nhà thờ để chịu phép rửa và gia nhập vào Giáo hội Công giáo. Chúng tôi còn gọi cha mẹ đỡ đầu là “vú bõ”. Ông “bõ đỡ đầu” của tôi đi lập nghiệp ở xa cho nên tôi được miễn lễ. Nhưng ở trong cái thôn làng mà mọi người đều có giây mơ rễ má với nhau, đi làm nghĩa vụ “mừng tuổi” hết một vòng từ đầu trên đến cuối xóm có khi cũng mất cả ngày mùng Một Tết. Dĩ nhiên, mặc dù đi làm nghĩa vụ, nhưng lũ trẻ chúng tôi không cảm thấy bị bó buộc và khổ sở như khi phải cắp sách đến trường hay đi học giáo lý. Trái lại là khác. Ai cũng cảm thấy vui sau một lần vào xông đất và đọc xong cái công thức “mừng tuổi”. Lũ trẻ vui vì được lì xì, mà tôi cũng nghĩ rằng người lớn càng vui hơn vì được “mừng tuổi”.

Bây giờ, bước vào cái tuổi thích ôn lại những kỷ niệm của tuổi thơ và nhớ chuyện “đời xưa”, tôi mới nhận thấy ông bà trong cái thôn làng nhỏ ở miền Trung chúng tôi có một triết lý thật thâm thúy khi nghĩ ra hai chữ “mừng tuổi”. Ngày nay, theo văn hóa Tây Phương, người Việt nam ngoài cũng như trong nước đều biết mừng “sinh nhựt”. Đến ngày sinh mà không nhớ là cả một thiếu sót lớn lao, có khi còn dẫn đến cả thảm kịch gia đình nữa. Nhưng ngày xưa, có lẽ cha mẹ tôi cũng chẳng biết các ngài sinh vào ngày nào. Cùng lắm họ chỉ nhớ mình cầm tinh con vật nào đó trong 12 con giáp mà thôi. Ngay cả như tôi, mỗi lần tôi hỏi ngày sinh tháng đẻ chính xác của tôi thì cha mẹ tôi chỉ nói một cách lờ mờ vào khoảng cuối năm con chó. Dựa vào “biên bản thế vì khai sinh” mà kiểm chứng thì cũng chẳng đi tới đâu, bởi vì cũng như người tự xưng là “Bác Hồ”, cha tôi cũng chế cho tôi một ngày sinh tháng đẻ đại khái gần với khoảng cuối năm chó cho xong chuyện.

Điều quan trọng đối với ông bà ngày xưa không phải là ngày sinh tháng đẻ, mà là cái tuổi mà mình phải nhớ mỗi dịp Tết đến. Ngày để nhớ không phải là ngày sinh mà là ngày Tết. Ngày Tết là “Ngày sinh nhựt chung” của mọi người. Cứ đến Tết là thêm một tuổi. Riêng tôi, vì sinh gần cuối năm, cho nên mới có mấy tháng mà tôi đã được những hai tuổi. Cho nên “mừng tuổi” là phải!

Người dân làng tôi “mừng tuổi” bởi vì người có tuổi lúc nào cũng được kính trọng. Bất kể giàu sang hay nghèo hèn, thông minh hay đần độn, quan quyền hay bần cố nông…hễ có tuổi là hơn người khác. Có lẽ vì vậy mà lúc nhỏ, cứ mỗi dịp Tết đến, tôi cũng thường đưa cái tuổi “nhảy vọt” đến hai bước của tôi ra mà hù dọa mấy đứa trẻ khác. Cứ như nhiều tuổi hơn là mạnh hơn, giỏi hơn, đáng nể hơn vậy. Mà thật vậy, trong cái làng quê của tôi, cứ càng thêm tuổi là càng được trọng nể. Vào cái thời mà tuổi thọ trung bình của người Việt nam chưa quá 40, có những người chỉ mới 60 đã lên hàng cụ ông cụ bà hay bậc tiên chỉ đáng kính trong làng. Chính vì vậy mà hình ảnh của các cụ già râu tóc bạc phơ và lời dạy “kính lão đắc thọ” vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi cho đến bây giờ. Ngày nay, dù sống trong xã hội nào, tôi vẫn luôn xem tuổi già là một giai đoạn “thánh thiêng” trong cuộc sống con người. Với tôi, không cần biết tư cách của người đối diện, hễ hơn tôi một tuổi là người đáng tôi kính trọng.

Mỗi lần cầm trên tay một tờ báo tiếng Việt, tôi thường mở xem trước tiên các trang cáo phó và phân ưu. Tôi xem để đồng cảm trong nỗi mất mát chung của người Việt xa xứ, nhưng cũng để “mừng tuổi thọ” ngày càng cao của người Việt. Và dĩ nhiên, mỗi dịp Tết đến, niềm vui vì tuổi già ngày càng thọ của người Việt cũng như niềm kính trọng đối với tuổi già cũng luôn được khơi dậy trong tôi. “ Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu”, câu thơ này của ông Trần Tế Xương, dù có ý trào phúng đến đâu, cũng gợi lên niềm mong ước chân thực của người Việt nam: người Việt nam mong được sống thọ chứ không phải mong được “trường sinh bất tử” hay “cải lão hoàn đồng”.

Nhưng có lẽ không riêng gì người Việt nam, mà người Á đông nói chung cũng đều quý tuổi thọ hơn là sự trường sinh bất tử. Sự khôn ngoan mà tuổi già là một biểu tượng, được người Á đông tìm kiếm hơn là trường sinh bất tử. Có lẽ vì muốn đề cao sự minh triết ấy của tuổi già mà tác giả bộ “Tây Du Ký”, ông Ngô Thừa Ân, đã cho cái đám đệ tử “mất dạy” của Thày Tam Tạng là Tôn Hành Giả, Sa Tăng và Bát Giới “đại náo” tại Miếu Tam Thánh để quấy phá một nhóm đạo sĩ đang khấn vái cầu kinh để xin “nước trường sinh”. Nước “kim đơn để sống lâu” thì không thấy đâu, mà chỉ toàn là “nước tiểu” của ba cái tên súc sinh này.

Nhưng thâm thúy hơn phải là câu chuyện cổ tích về “Suối Trường Sinh” của người Nhựt Bản. Chuyện kể rằng đảo Miya Jima của Nhựt Bản xưa kia là môt hòn đảo nổi tiếng linh thiêng. Dân ở đảo này hầu như không có quyền chết.

Trong số dân cư ngụ trên đảo có hai vợ chồng người tiều phu già, hết sức già. Họ được cả làng yêu mến và trọng nể. Ai nấy đều khen sự kiên nhẫn và lòng chung thủy của hai người. Cũng như mọi người, cuộc sống của cặp vợ chồng già này cũng được dệt bằng vô số niềm vui và nỗi khổ. Vui vì họ liên tiếp sinh được ba người con trai. Nhưng buồn khổ nhứt là cả ba người con trai này đều bị chết trong một ngày vì nghề đánh cá.

Trong tuổi già, hai người chỉ biết lấy sự kính yêu làm nguồn an ủi duy nhứt cho những ngày còn lại. Mỗi người đều muốn làm cho người kia bớt đau khổ. Dần dà tâm hồn họ được bình thản trở lại. Hai cụ già thường nghiền ngẫm câu nói quen thuộc của người Nhựt: “Khi hoa anh đào đã tàn, không phải lấy sự tiếc thương mà làm cho hoa nở lại được.”

Giờ đây, hai ông bà đã già lắm; họ già như những con đồi mồi cổ kính. Người chồng thì da nhăn nheo, chân tay run lẩy bẩy trong khi tóc và lông mày của người vợ cũng đã rụng nhẵn. Người dân trong đảo thường gặp hai ông bà bước đi chậm rãi, theo phong tục của người Nhựt, chồng đi trước vợ đi sau. Nhìn chung, mọi người trên đảo đều nhìn nhận rằng đây là một cập vợ chồng già hạnh phúc. Họ biết gác ra ngoài những nỗi khốn khổ của loài người để hưởng cuộc sống yên tĩnh, an bình và tình yêu đối với nhau.

Dù vậy, họ vẫn còn một mối sầu vương vấn trong tâm hồn. Ai cũng nghĩ rằng: nếu có một người phải ra đi trước thì kẻ ở lại phải đau khổ biết chừng nào. Nghĩ như thế cho nên họ mơ ước được còn trẻ để sống bên nhau lâu dài hơn; đời sống của họ sẽ trở nên thơ mộng biết bao!

Thế rồi, một ngày mùa Thu nọ, không rõ do một sự thôi thúc huyền bí nào đó, người chồng đi về phía rừng một mình. Đây là nơi mà trước kia ông đã từng làm nghề đốn củi. Giờ đây, ông chỉ muốn nhìn lại cây cối một lần trước khi nhắm mắt lìa đời. Nhưng khi đến nơi, ông không còn nhận ra phong cảnh ngày xưa nữa. Ngay cửa rừng, ông không còn thấy cây phong to lớn, với lá đỏ nổi bật giữa đám thông xanh mỗi khi mùa Thu đến nữa.

Sau một hồi đi bộ, ông lão cảm thấy khát nước. Thấy có dòng suối trong xanh ngay cạnh lối đi, ông liền đưa tay vốc nước lên và uống. Liền sau đó, nhìn bóng mình trong dòng suối, ông không còn nhận ra mình nữa: tóc ông trở nên đen nhánh, mặt không còn lấy một vết nhăn và các bắp thịt săn chắc lại. Ông thấy mình biến thành một chàng thanh niên tuổi đôi mươi. Thì ra, ông lão đã vô tình uống nước nơi nguồn suối “trường sinh”.

Khỏe mạnh, vui tươi, đầy nhựa sống, con người “cải lão hoàn đồng” hay “trẻ mãi không già” này cảm thấy thơ thới, yêu đời và vội vã trở về. Thấy có người thanh niên bất thần xuất hiện trong nhà, bà lão sợ hãi đến chết đứng.

Nhưng sau khi được người chồng giải thích, bà lão cảm thấy sung sướng hơn ai hết. Thế là ngày mai, bà cũng vào rừng để uống cho bằng được nước suối trường sinh ấy. Nhưng bà đi mãi mà không bao giờ trở về. Không biết điều gì đã xảy ra cho vợ, người chồng liền chạy vào rừng. Người thanh niên nghe thấy tiếng nước suối chảy, mà không thấy vợ mình đâu cả. Bỗng có một tiếng rên nho nhỏ từ đâu vọng lại. Anh đi đến gần bờ suối và ngạc nhiên vô cùng khi thấy giữa một đám cỏ cao có một đứa bé con chừng vài tháng đang giơ tay về phía anh với vẻ thất vọng. Đôi mắt êm dịu của đứa bé cho anh biết đấy chính là vợ anh. Thì ra, đã được trẻ lại, người vợ còn muốn trẻ hơn chồng cho nên đã uống quá độ và biến thành một hài nhi.

Người chồng buồn bã bồng đứa bé lên và đưa về nhà. Nước suối trường sinh đã cướp mất người vợ của anh và cũng lấy đi niềm vui được sống bên nhau của đôi vợ chồng già. (xem Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Cái Cười của Thánh nhân)

Người nghĩ ra câu chuyện cổ tích trên đây có lẽ muốn nhắn gởi với chúng ta rằng tuổi nào cũng có cái vẻ đẹp và giá trị riêng của nó. Cách riêng, tuổi già là tuổi đáng “mừng” và trân quý nhứt.

Về điểm này, tôi rất tâm đắc với những suy tư của một người Á đông nổi tiếng là ông Lâm Ngữ Đường. Ông đưa ra nhận xét rằng Tây Phương và Đông Phương đều có quan niệm và thái độ giống nhau về một số vấn đề cơ bản như quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, về tự do cá nhân, về dân chủ, về quan hệ giữa nhà cầm quyền và dân chúng. Nhưng theo ông, quan niệm và thái độ của người Tây Phương và Đông phương đối với người già và tuổi già thì hoàn toàn khác hẳn. Ở Á đông, đặc biệt là tại các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, khi hai người mới quen nhau, sau khi hỏi tên họ nhau rồi, họ liền hỏi tuổi của nhau. Chắc chắn đây là một điều cấm kỵ đối với người Tây Phương. Sở dĩ người ta tránh hỏi tuổi nhau là bởi người ta sợ “tuổi già” và cũng sợ cả người già. Tại Trung Hoa, những ông lão hành khất, râu tóc bạc phơ cũng được đối đãi một cách đặc biệt. Càng thêm tuổi thì càng tổ chức “ăn mừng” trọng đại hơn.

Ông Lâm Ngữ Đường còn đưa ra một nhận xét khác khá lý thú về xã hội Mỹ. Theo ông, sở dĩ người già ở Mỹ vẫn tiếp tục làm lụng hăng hái là vì họ theo chủ nghĩa cá nhân một cách thái quá; họ muốn độc lập vì cho rằng nhờ vả con cái là một tủi nhục. Tác giả viết rằng trong rất nhiều quyền cơ bản của con người được ghi vào Hiến Pháp Hoa Kỳ, có một quyền không được nhắc đến đó là quyền “được con cái phụng dưỡng”. Ông lập luận rằng nếu cha mẹ đã làm việc để nuôi dạy con cái, đã mất ăn mất ngủ khi chúng đau ốm, đã phải nuôi nấng chúng trong một phần tư thế kỷ, thì tại sao khi về già họ lại không có quyền được con cái phụng dưỡng?

Ngày nay, nhứt là khi đang sống trong các xã hội Tây Phương,có lẽ nhiều người không đồng ý với quan niệm về “quyền được con cái phụng dưỡng” do ông Lâm Ngữ Đường đề nghị. Nhưng cái nhìn về tuổi già của ông thì thật là thâm thúy: “Điểm quan trọng là ai cũng muốn sống lâu và nếu trời cho sống lâu thì sẽ tới một thời phải già…Ta phải tổ chức đời sống của ta như thế nào để thời kỳ vui vẻ nhất trong đời sẽ thuộc về tuổi già ở trước mặt ta, chứ không thuộc về tuổi thơ ở sau lưng ta…Đã không chống nổi với luật tự nhiên thì sao chẳng thuận theo tự nhiên mà hưởng lạc trong tuổi già?”(Lâm Ngữ Đường, Một Quan niệm về Sống Đẹp, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, trg 173)

Với quan niệm “kính lão đắc thọ”, tôi xin được trở lại làm đứa trẻ nhỏ như mấy chục năm trước, trông chờ ngày Tết, mang giày mới, áo mới, tóc tai sạch sẽ, theo “công thức” mẹ dạy, khoanh tay, cúi đầu “mừng tuổi” tất cả các vị cao niên Việt nam trong và ngoài nước: “Dồi dào sức khỏe, tâm hồn an lạc và sống lâu trăm tuổi.”

Chu Thập

" Thiên đường" do Hồ Chí Minh dựng nên: Giấc ngủ giữa đêm Sài Gòn trở lạnh

DSC_1354
Đêm TP.HCM mấy bữa nay trở lạnh, nhiệt độ xuống dưới 20 độ C. Trong lúc nhiều người thích thú vì giấc ngủ trở nên ngon hơn trong mền ấm áp, nhiều người nghèo vẫn phải qua đêm dưới cái lạnh “không quen với Sài Gòn” trên hè phố.

Dạo một vòng lúc 3 giờ sáng, từ Cầu Đỏ quận Bình Thạnh đến bến xe Miền Đông, về khu Miếu Nổi, qua chợ Tân Định..., hình ảnh của những người lấy trời làm màn được ghi nhận như những lát cắt rất mỏng của đời sống nơi đô thị đông người nhập cư nhất Việt Nam.
DSC_1336
Một trong những người chạy xe ôm lấy yên xe làm giường, tranh thủ chợp mắt lúc chưa có khách. Họ dường như đã chai lì với cái lạnh.
DSC_1349
Anh Hùng, một người chạy xe ôm đã 20 năm trị lạnh bằng rượu và nhạc ‘sến’.
DSC_1356
DSC_1354
Hai vợ chồng người mua ve chai chọn một góc vỉa hè ngủ qua đêm sương, sau khi đã khoá xe vào cột rào.
DSC_1366
So với người chạy xe ôm thì giấc ngủ của người đạp xích lô này còn sướng chán.
SAI GON LANH
Chú bé say giấc gần nơi cha mẹ em bán hàng rong xe đẩy.
DSC_1375
Lò sưởi của những người bảo vệ quán.
DSC_1370
Qua đêm trên một góc hè đường.

http://www.haingoaiphiemdam.info/index.php?option=com_content&task=view&id=18443&Itemid=1

LỘT MẶT NẠ VIỆT CỘNG HOÀNG DUY HÙNG






KHAI TRỪ TÊN PHẢN BỘI

Lươn lẹo trổ tài đủ mánh mung
Mồm loa mép giải gã gian hùng
Bắt tay giặc Cộng không ngần ngại
Phản bội đồng hương chẳng thẹn thùng
Cáo đã lòi đuôi còn lấp liếm
Cuội đà lộ tẩy khó bao dung
Nuôi ong tay áo mà mang họa
Dứt khoát khai trừ thứ bất trung
Jan 24, 2011
HỒ CÔNG TÂM


LỘT MẶT NẠ VIỆT CỘNG

HOÀNG DUY HÙNG



HOÀNG DUY HÙNG là ai? Một tên Việt-cộng nằm vùng được cộng sản Việt nam nuôi dưỡng gần 20 năm, kể từ khi hắn bị bắt về tội hoạt động chính trị ở Việt nam. Chúng đã cấy “Việt-gian cộng sản” HDH vào cộng đồng người Việt quốc gia tự do Houston theo bài bản và xảo thuật của cộng sản “hắn che giấu bằng mặt nạ quốc gia, lừa đảo đồng bào”. Chờ đợi thời cơ, thành lập đầu cầu kinh tế “Việt cộng và Hoa kỳ” Thu và chia nguồn lợi Mỹ kim từ thành phố Houston, của Mỹ quốc.

HDH tinh xảo, đã dùng đúng bài bản và xảo thuật Việt cộng “che mặt nạ của người quốc gia” khuyến dụ những người Việt nhẹ dạ, phe phái “chính trị xôi thịt”, ru ngủ thành phần quốc gia cả tin, thiển cận. Tin theo lời chửi bới cộng sản lung tung, xông xáo chống cộng mãnh liệt, “rất thật”, để ru ngủ người quốc gia, lầm tưởng ông ấy là người “quốc gia chân chính”, tin tưởng và đã bầu cho ông ta vào các chức vụ quan trọng của cộng đồng, vị trí mà cả hai: ông và cộng sản Việt nam đều mong muốn. Cử tri của cộng đồng Việt nam đã nhầm lẫn, còn tích cực, mạnh mẽ ủng hộ, giúp ông này thắng cử vào chức vụ nghi viên thành phố, đại diện cho người dân Việt nam tự do. Một vị trí Việt cộng mong muốn HDH “làm tay trong” cho Việt cộng, tiếp cận, đại diện, thương lượng và biểu quyết những thương mại lớn và quan trọng của Việt cộng với thành phố Houston, hốt tiền Việt kiều tẩm bổ cho quan chức cộng sản, giữ vững chế độ độc tài cộng sản ở Việt nam.

Với chức vụ nghị viên này đủ tầm cỡ cho hắn tiếp cận và thân thiện với chính quyền thành phố Houson. Lập một đầu cầu tiếp cận giao thương, trả giá với chính giới Hoa kỳ, để thu hoạch nguồn lợi kinh tế. Chia chác đầy đủ cho các giới chức cộng sản Việt nam lẫn Tập đoàn Việt gian Cộng sản tôi tớ, nằm vùng tại Houston.

Để bắt kịp thời điểm Việt cộng và Houston giao thương. HDH nhanh chóng âm mưu tung tin xây dựng trụ sở cộng đồng đồ xộ, quy mô. Chủ đích phô trương tài nghệ lãnh đạo cộng đồng, tạo uy tín với cả cộng đồng Việt nam lẫn chính giới Hoa kỳ. Để kịp thời nhanh chóng chụp lấy vị trí nghi viên. Bỏ dở chức vụ Hội trưởng CĐVN nhỏ bé, không thẩm quyền lấy mối giao thương cho Việt cộng. Lập đầu cầu “kinh tế vận”. Hắn đã âm mưu xử dụng ngay cái toà nhà bỏ hoang, bị phá sản của cha vợ hắn sắp bị nhà băng tịch thu. Hùng tung tin vịt, bỏ ra mấy trăm nghìn để mua trụ sở. Dụ khị mấy con mồi nhẹ dạ chầu tiền vào trang trải chi phí trụ sở, mỗi người năm bảy nghìn, rồi lấy cớ chính đáng, rầm rộ tổ chức gây quỹ, dùng tiền này trả cho cơ sở phá sản của cha vợ hắn, vừa được tiếng tâm có thành tích hoạt động hiệu quả, để rồi, tranh giành và đắc cử nghị viên dễ dàng.

Hùng âm thầm đào luyện và cấy “hạt mầm em gái cộng sản” ngu dốt của ông ta, vào nắm giữ những chức vụ then chốt quan trọng trong cộng đồng, tiếp cận, gây thân thiện với chính giới Hoa kỳ, vừa lập công xin tiền trợ giúp của chính phủ, cho quyền lợi cộng đồng, nhưng thực chất, gia đình ông ta lợi dụng số tiền này thanh toán món nợ của toà nhà bỏ hoang và tu bổ cơ sở cho cha vợ thêm phần giá trị. Trong vị trí nghị viên Houston quan trọng ông cố tình che giấu mối lợi lớn tương lai chia chác nguồn lợi kinh doanh với Việt cộng trước khi tranh cử. Hắn đã đào luyện cô em gái của gã và chuẩn bị cho cô ta trong những chức vụ quan trọng, sẽ tiếp nối công trình “giao thương với cộng sản” trong trường hợp hắn bị bại lộ và bị tẩy chay.

Món lợi giao thương kết xù “Đường hàng không trực tiếp Việt-nam-Houston” Việt cộng dự kiến sẽ thu về vài tỉ Mỹ kim hàng năm. Số tiền môi giới của họ Hoàng sẽ không phải nhỏ và số tiền chia phần lợi nhuận hàng năm không dưới 10 triệu Mỹ kim. “Ruồi nhặng chính tri” Houston đã ngửi thấy “bã fund cộng sản” kết xù này đặt tại Houston. Nhảy bổ ra tranh giành, đấm đá túi bụi, bầm cả mặt mũi bà Chu Mỹ Dung. Nhất định phải làm cho ứng cử viên đại tài Teresa Hoàng phải thắng, để nối nghiệp “cộng sản” của ông anh Việt gian đại tài HDH.

Quan thầy lãnh sự quán Việt cộng ở Houston, sẵn sàng cung cấp cho “đạo diễn Việt-gian” HDH ba con dao sắc bén để đánh hạ bất cứ ứng viên Quốc gia nào tranh cử với “em gái Việt cộng” của ông Hùng. Đồng bào Việt nam Houston đã nhìn thấy rõ ba lưỡi dao đó chính là: BÀI BẢN CHỤP MŨ: rập khuôn những bài bản “Chụp mũ, đổi trắng thay đen, phân hoá cử tri” Việt cộng đã có quá nhiều kinh nghiệm, đã luôn luôn áp dụng, hiệu quả rất cao và truyền trao cho HDH. TIỀN: Chúng âm thầm cung ứng tài chánh đủ mua chuộc các cơ quan truyền thông, phát hình, quảng bá “hình ảnh ảo, xấu xa của các ứng viên đối lập”. Đặt để lên bàn và trả giá những “đống fund kinh tế kết xù” cho việc “giao thương Việt-Mỹ” tương lai, Thu hút “ruồi nhặng chính trị” ào ào bay vào tiếp tay đánh gục đối phương, để chỉ còn một liên danh cộng sản “thâm độc” chiến thắng huy hoàn. “CỬ TRI CUỘI” “Bàn tay Máu mủ” Cộng sản đã chuẫn bị từ lâu một lực lượng “cử tri quốc doanh” tại Hoa kỳ. Đã đến lúc phải bí mật gửi cho HDH một lực lương cử tri tinh nhuệ này. Chỉ bao nhiêu bằng chứng rõ ràng đó, đồng hương đã uất ức những cái “loa Xã Hội Chủ Nghiã” ra rả trên đài truyền hình cuộc bầu cử rất trong sạch, công bằng và hợp pháp. Cũng có nhiều người đã nghe rất bùi tai, phấn khởi và tin tưởng cuộc bầu cử quá tốt đẹp.

Nhờ cuộc tranh cử “Quốc-Cộng” 21-11-2010. Chúng ta đã khám phá và có đầy đủ một danh sách dài: Việt gian, Tôn giáo quốc doanh, cử tri quốc doanh, du sinh quốc doanh, truyền thông xôi thịt, chính trị gia ruồi nhặng “sẵn sàng bán đứng cộng đồng quốc gia Houston” cho cộng sản Việt nam, cấu kết thân nhân và Việt cộng nằm vùng, phối hợp nhịp nhàng cùng các quan chức cộng sản tại trụ sở Lãnh Sự Quán Houston. Chúng đã vây kín, dày đặc, quấy nhiễu, cấu xé, triệt hạ cộng đồng quốc gia Việt nam. Lý do chính của sự bất ổn, làm tiêu hao tài sản và công sức chống cộng của cộng đồng người Việt nam Houston.

Người Việt nam Quốc gia cần lưu giữ kỹ danh sách và quan tâm đặc biệt, đánh gục những nhân vật Việt gian và cộng sản trong danh sách dài vừa kể, mới có thể bẻ gãy được những âm mưu hoạt động phá hoại, lũng đoạn cộng đồng và tiếp thu Houston như Bọn Quỉ Đỏ Việt Nam đã tiếp thu Sài gòn, ngày 30 tháng Tư, 1975. “Trên đất nước tự do không thể để cho Việt cộng độc tài tự tung tự tác!”

MẶT NẠ VIỆT CỘNG HDH LỘ DIỆN: Không còn lo ngại người quốc gia đánh phá, không màng che giấu sự thật nữa. HDH tự tháo gỡ mặt nạ ngay khi vừa đạt được mục tiêu của ông ta và Việt cộng mong muốn, là chức vụ nghi viên thành phố Houston. Ông ta công khai, trắng trợn, thách thức cộng đồng, mạnh mẽ ủng hộ ứng cử viên Việt-gian đồng sàn khác là Danny Q. Đoàn. Công khai lên tiếng và xác nhận công tác về Việt nam nhận lệnh, lập đầu cầu kinh doanh của Viêt cộng, làm trung gian thương lượng (chắc chắn không miễn phí cho Việt cộng) kinh doanh Việt cộng và thành phố Houston. Đường bay trực tiếp Việt nam đến Houston, với nguồn lợi kết xù vài tỉ Mỹ kim mỗi năm, và thù lao cho người trung gian, lập công trạng làm “hợp đồng” béo bở, không phải nhỏ, thưa quý đồng hương! Toàn bộ lâu la Việt gian “hồ hởi”, đã sẵn sàng lộ diện cùng tiếp tay cho “Việt-tặc” HDH.

Nói thật, ghi nhận dữ kiện thật của những người Việt nam ưa ăn ngay nói thẳng. không bị vật chất cám dỗ. Không bị quyền lực lay chuyển. Chiến đấu với một quả tim bền bỉ và sắt đá. Cho dù chỉ còn một nhóm nhỏ, cũng phải chỉ điểm và tiêu diệt những kẻ Việt gian nằm vùng thâm độc, báo cáo với Việt cộng hại người, quấy nhiễu sự an ninh cộng đồng, để hưởng lộc cộng sản, một thứ lộc, hưởng từ máu mủ của nhân dân Viêt nam. Quyền quyết định là của mọi người Việt nam yêu chuộng tự do cùng nhận xét, biểu lộ ý chí và quyết tâm chống cộng đến cùng.

Helen Tran

TỰ DO KHÔNG AI CHO KHÔNG! DÂN CHỦ KHÔNG AI BẢO VỆ CHO MÌNH!

NẾU CHÚNG TA KHÔNG TỰ HY SINH CHỐNG CỘNG CÙI HỦI,

CHÚNG TA SẼ HỐI HẬN KHI NHÌN ĐÁM CON CHÁU CHÚNG TA Ở HOA KỲ BỊ Ô NHIỄM VI TRÙNG CỘNG SẢN,

ĂN MÀY, NGU MUỘI, XẢO QUYỆT

NHƯ GIỚI TRẺ TỘI NGHIỆP Ở VIỆT NAM DƯỚI BÀN TAY UỐN NẮN

ĐIÊN RỒ CỦA VIỆT CỘNG.

RẤT CẦN NHỮNG CẢM TỬ TINH NHUỆ VNCH, DÁM NÓI DÁM LÀM,

TIỀN, DANH LỢI KHÔNG BỊ CÁM DỖ,

BẠO LỰC KHÔNG SỜN LÒNG LAY CHUYỂN.

NGỒI LẠI VỚI NHAU TÍNH CHUYỆN ĐẠI SỰ.

MỚI CÓ THỂ GIỮ ĐƯỢC AN NINH CỘNG ĐỒNG,

BẢO VỆ SỰ TINH KHẾT CHO CON CHÁU VIỆT NAM HẢI NGOẠI.

Bài Xem Nhiều