We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 26 January 2011

Cuối năm nghe chơi một CD nhạc Tết

Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung tròn …

Nếu thực sự có mùa xuân êm đềm,và tươi thắm tới cỡ đó mà bạn vẫn chưa hài lòng thì xin nghe thêm vài câu nhạc nữa – cũng từ bản “Hoa Xuân,” của Phạm Duy:

Có một chàng thi sĩ miền quê
Hái bông hoa trao người xuân thì
Có một bầy em bé ngoài đê
Hát câu i tờ đón xuân về …

Tôi dám cá là ngay cả vào Thời Trung Cổ, cũng không nơi nào có một mùa xuân an bình và tươi đẹp đến như vậy. Mà Phạm Duy đâu phải là người thuộc Thời Trung Cổ. Vậy chớ thằng chả kiếm ở đâu ra một mùa xuân (vào thời đại chúng ta) mà thái hòa và an lạc dữ vậy cà?

Xuân này con không về

Thiệt nó đẹp như mơ vậy đó nha. Và sao tui nghi là ổng đã nằm mơ (thiệt) quá hà. Chớ giữa chúng ta, nhất là những kẻ sinh trưởng ở miền Nam Việt Nam, có mấy ai đã từng nhìn thấy cái đê. Bờ đê trần trụi vắng hoe cũng khỏi có luôn, nói chi đến “một bầy em bé … hát câu i tờ đón xuân về “ – vào một buổi chiều xuân nào đó, đã xa lắc xa lơ – trên bờ đê lộng gió!

Còn chuyện “có một chàng thi sĩ miền quê, ngắt bông hoa trao người xuân thì “ (… ôi thôi ) nhắc đến làm chi cho nó thêm buồn. Tìm đâu ra (nữa) một thằng cha làm thơ dễ thương và hiền lành đến thế?

Tui nói vậy bạn dám cãi lắm nha. Bạn dám sẽ đưa Nguyễn Bính ra làm bia đỡ đạn, với lý do “ổng là thi sĩ miền quê cuối cùng” của thời đại chúng ta. Tệ hơn nữa, bạn còn dám mang những bài thơ lục bát (đã được “phóng ảnh treo tường” để bán) của Nguyễn Duy ra để hù tui nữa – không chừng?

Xin lỗi bạn chớ, cỡ Tú Xương đây mà cũng đã có lúc phải ứa lệ – rấm rứt khóc thầm (dám bằng tiếng Pháp) vì nạn đô thị hóa, đây nè :

Sông kia giờ đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ giồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng ai gọi đò …

Xá gì Nguyễn Bính, nói chi tới cỡ Nguyễn Duy. Tóm lại, tui tin rằng Nguyễn Khuyến mới đích thực là thi sĩ miền quê cuối cùng của dân tộc Việt Nam :

Tháng Giêng hai mươi mốt chợ Đồng
Năm nay chợ họp có đông không
Dở giời mưa bụi còn hơi rét
Nếm rượu tường đền được mấy ông

Chớ còn mấy trự làm thơ (lóc nhóc) sau này đều đã bị đô thị hóa, đã ” phong sương mấy độ qua đường phố “ hết trơn rồi – theo như cách nói của Sơn Nam. Và tôi ngại nhất là cái kiểu bụi đời (ướt át) của ông Thế Lữ :

Rũ áo phong sương trên gác trọ
Ngắm nhìn thiên hạ đón xuân sang

Cái gác trọ này – tôi bảo đảm – nằm ở Hà Thành, vào cuối thập niên ba mươi hay đầu bốn mươi gì đó. Thêm cái kiểu cách ” rũ áo phong sương ” đủ khiến chúng ta hình dung ra được cả đám Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Xuân Diệu, Huy Cận … đã sống cải lương chết mẹ đi rồi. Đâu còn “thi sĩ miền quê ” nào nữa, mấy cha?

Đô thị hóa, tất nhiên, không phải chỉ xảy ra ở Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường. Không tin, cứ đọc Nguyễn Bính mà xem :

Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Đã mấy mùa xuân én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa mận nở
Riêng ta với người buồn lắm thay

Bạn thấy chưa : lại thêm hai ông nhô con bỏ nhà ” dzô ” Nam, thuê gác trọ, sống giữa Sài Thành Hoa Lệ. Mà đi giang hồ chút đỉnh vậy là phải chớ. Chính quê hương của Nguyễn Bính cũng đã nhiễm bụi thị thành từ lâu rồi, còn nấn ná ở đó làm chi cho mụ người ra :

Hoa chanh mọc ở vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình dân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hoa đồng cỏ nội bay đi ít nhiều …

Coi: nàng mới ra tỉnh về (có chút xíu hà) mà hoa đồng cỏ nội đã bay đi mất liền một mớ. Lỡ mà ” ẻm ” ghé chơi Hà Nội hay Hải Phòng ( chậm lắm ) ba đêm kể như rồi, còn gì là ” người xuân thì “theo tiêu chuẩn” chân quê ” nữa, đúng không ?

Bạn hết cãi chưa ? Dù bạn đã tắt đài, tôi biết bạn vẫn còn ấm ức vì cái giọng điệu hoài cổ cực đoan và (hơi) quá khích của tui từ khi đặt bút xuống cho tới bây giờ – phải không nào?

Đừng có nghĩ bậy bạ như vậy, mang tội chết à nha, cha nội. Coi : cuộc tình dấm dớ của một anh thi sĩ miền quê với một cô gái xuân thì – hay hình ảnh một bờ đê lộng gió, với bầy em bé tung tăng, hát câu i tờ, vào buổi chiều xuân có nắng vàng hanh nào đó – hoàn toàn và tuyệt đối có liên quan, dính dáng gì tới tui đâu. Cớ sao tôi lại hoài cổ chớ ? Đây là chuyện riêng của … Bà Huyện Thanh Quan hay ( cùng lắm ) là của ông nội hoặc của ông già tôi thôi hà.

Mà hoài cổ, theo tôi, là thứ tình cảm hơi khó hiểu. Làm sao chúng ta có thể yêu mến hay ngưỡng mộ một thời đại mà mình tuyệt đối không có dính dáng gì tới nó ? Hoài vọng hay hoài cảm, có lẽ, dễ hiểu và phổ biến hơn. Mọi người, khi bắt đầu luống tuổi, hẳn đều thấy tiếc nuối ít nhiều khoảng ấu thơ hay niên thiếu của mình – dù chúng ta sinh ra và trưởng thành ở bất cứ đâu.

Dù vậy, tôi vẫn lậy Trời cho bạn đừng xui tới cỡ là sinh ra ở miền Bắc – vào khoảng thập niên 1940, 50 hay 60 – và cứ phải sống mãi ở nơi đó cho đến bây giờ. Tuổi thơ và tuổi trẻ của bạn – tất nhiên – cũng đẹp, cũng thơ mộng vậy ; tuy nhiên, tôi tin là nó sẽ đẹp hơn, mộng mơ hơn (chút đỉnh) nếu Bác và Đảng đừng xía vô cuộc đời bạn quá nhiều – như họ vẫn cứ thích làm như thế, từ hơn nửa thế kỷ qua.

Còn nếu bạn sinh trưởng ở miền Nam thì đỡ mệt biết chừng nào mà nói. Sẽ không ai bắt bạn phải đeo khăn quàng đỏ và đi nhặt rác để hoàn thành kế hoạch nhỏ. Bạn cũng được miễn cái vụ ” thay trời làm mưa ” hay ” nghiêng đồng cho nước chảy ra ngoài, ” và bạn được tự do đi biểu tình ” đả đảo ” hoặc chửi rủa bất cứ thằng cha hay con mẹ (cà chớn) nào mình không thích.

Trong một hoàn cảnh sống tương đối dễ thở như thế (và nếu bạn lại sống trong một thành phố ở cao nguyên ) thì nhìn thấy ” xuân về trên bãi cỏ non “ (kể như) là chuyện nhỏ thôi. Điều đáng tiếc là những ngày tháng an lành, phẳng lặng đó không kéo dài lâu.

Đến khoảng cuối thập niên năm mươi, theo trí nhớ non nớt của tôi, trong không khí an bình của miền Nam thoang thoảng đã có mùi vị chiến tranh – qua những bản nhạc tâm lý chiến ( thường được hát ở phòng trà và nghe ra hơi nhiều kịch tính ) của những ông nhạc sĩ quân đội, như bản “Phiên Gác Đêm Xuân” của Nguyễn Văn Đông chả hạn:

Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chờ xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay
Nào ngờ đâu hoa lá rơi …

Trời đất, đơn vị bạn đụng địch, ” súng xa vang rền ” mà Nguyễn văn Đông vẫn đang mơ ngủ. Không hề nghe ổng ban lệnh ứng chiến hay kế hoạch cứu viện gì hết trơn hết trọi ; đã vậy, sau khi tỉnh giấc, ổng bắt đầu … mơ mộng :

Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
Mơ rằng đây mái nhà tranh
Và ước chiếc bánh ngày xuân
Cùng hương khói vương niềm thuơng…

Thiệt tình, ổng làm đảo ngược binh pháp hết trơn. Người ta thì cư an tư nguy còn ổng thì cư nguy tư an. Những sĩ quan cao cấp trong quân đôi miền Nam, như đại tá Nguyễn văn Đông, chắc có hơi nhiều ; bởi vậy – chỉ chừng mười năm sau – năm 1968 thì súng AK của Trung Cộng và Tiệp Khắc nổ thiệt, và nổ khắp bốn mươi tỉnh lị và thành phố của miền Nam ( kể luôn thủ đô Sài Gòn ).

Cũng từ đây, chiến tranh lan vô thành phố. Nay, ” plastic ” đặt nổ “lầm” chỗ này ; mai, hỏa tiễn 122 ly rơi ” lộn ” vô chỗ khác. Và dù vậy, xã hội miền Nam vẫn cứ vui như tết – khi Tết đến.

Nếu so với miền Bắc – nơi mà vì ” hoàn cảnh đất nước khó khăn ” nên chỉ có quí vị ủy viên trung ương đảng CSVN uống rượu mừng xuân, thay cho cả nước – người dân miền Nam hoàn toàn bình đẳng trong chuyện đón xuân. Cứ nghe bản “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình Chương là đủ biết:

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó
Á … a … a … a
Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
Á … a … a … a
Nhấp chén đầy vơi chúc người người vui
Á … a … a … a
Muôn lòng xao xuyến duyên đời
Rót thêm tràn đây chén quan san
Chúc người binh sĩ lên đường
Chiến đấu công thành
Sống cuộc đời lành
Mừng người vì nước quên thân mình

Kìa nơi xa xa có bà mẹ già
Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa
Chúc bà một sớm quê hương
Bước con về hòa nỗi yêu thương
Á … a … a …
Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính
Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương
Nào cạn ly mừng người nghệ sĩ
Tiếng thi ca chấm phá tô nên đời mới
Bạn hỡi vang lên lời hứa thiêng liêng
Chúc non sông hào bình hòa bình
Ngày máu sương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
Đợi anh về trong chén tình đầy vơi
Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hòa

Ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình dâng phơi phới

Coi: nẫy giờ mới chừng mười phút mà mỗi người đã uống đâu cỡ chục ly : ly tặng anh nông phu, ly chào anh công nhân, ly mừng ông thương gia, ly mừng người nghệ sĩ … Chưa đã, còn thêm vài ” chén quan san ” để ” chúc người binh sĩ lên đường ” nữa. Thiệt, vui còn hơn tết và cả nước (chắc chắn)– đều ” xỉn ” thấy mẹ luôn!

Thỉnh thoảng mới có vài chiến sĩ say mê chiến đấu (hay đãng trí) đến độ quên luôn cả nhậu, và nhất định “Xuân Này Con Không Về” :

Con biết không về mẹ chờ em trông
Nhưng nếu con về bạn bè thương mong
Bao lớp trai hùng chào xuân chiến trường
Không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này không về …

Những chàng “trai hùng chào xuân chiến trường” như thế, tiếc thay, không nhiều và cũng không mấy khi được giữ những chức vụ cao trong quân đội. Điều đáng tiếc hơn nữa là trong cuộc chiến tự vệ vừa qua, quân dân miền Nam đã áp dụng một chiến lược (rất) sai lầm. Thay vì ” vui nhiệm vụ không quên xuân ” thì họ đã làm ngược lại là ” vui xuân nhưng không quên nhiệm vụ “. Nói cách khác ” vui xuân ” mới là chuyện chính, còn ” nhiệm vụ ” chỉ là chuyện phụ (và là chuyện nhỏ) thôi !

Cùng lúc – ở miền Bắc Việt Nam – khi Tết đến ( sau khi nghe chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, tổng bí thư, thủ trưởng ban ngành, đơn vị … chúc tết xong ) là mọi người đâm bổ đi ” tranh thủ làm việc gấp hai ” để ” thi đua lập chiến công dân đảng.” ( Đ … mẹ chơi vậy ai chơi cho lại, mấy cha ! )

Cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt ra sao, vào mùa Xuân năm 1975, mọi người đều biết (và đều tiên đoán được). Từ đó, nhân dân hai miền đều chỉ còn được nghe một bản nhạc xuân duy nhất : Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh, ôi đẹp biết bao, biết mấy tự hào. Sài Gòn ơi cả nước vẫy tay chào …

Cũng như bạn, tôi chịu không nổi cái loại nhạc (thổ tả) này nên đã vẫy tay chào ” thành phố Hồ Chí Minh quang vinh ” để … ra đi – và đi hơi sớm. Từ đó đến nay đã hơn một phần tư thế kỷ. Ba mươi lăm năm qua biết bao nhiêu là nước sông, nước suối, nước mương, nước rãnh … đã ào ào chảy qua cầu ( và qua cống ) ?

Chiều nay, chiều cuối năm, ở một góc trời xa, tôi ngồi ghi lại những ý nghĩ lan man vụn vặt để gửi bạn đọc chơi – sau khi nghe hết một CD nhạc trong quán vắng, bắt đầu từ bản Hoa Xuân của Phạm Duy, đến bản cuối cùng (“Xuân Này Con Không Về”) của Trịnh Lâm Ngân.

Nhạc xuân gì mà nghe buồn quá má ơi!

© Tưởng Năng Tiến

© Đàn Chim Việt Online

thằng chó đẻ của má



Tiểu Tử

Má ơi ! Bữa nay là ngày 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo. Không biết những người Việt lưu vong như tụi con có còn giữ phong tục hằng năm cúng đưa ông Táo về Trời hay không, chớ vợ của con năm nào đến ngày này cũng mua hoa quả bánh ngọt cúng đưa ông Táo, cũng thành khẩn như ngày xưa, hồi còn ở bên nhà.

Năm nay, nhờ vợ của con lau dọn bàn thờ ông Táo để sửa soạn bày lễ vật ra cúng, nên con mới nhớ ra là ngày 23 tháng chạp. Ngày này cũng là ngày sanh của má. Hồi đó, má hay nói : « Ngày sanh của đứa nào còn khó nhớ, chớ ngày sanh của tao là ngày ông Táo về Trời, không dễ gì quên ! ». Và ngày này hồi đó, khi cúng vái, má hay cầu khẩn : « Ông về ở trển nhờ tâu lại bữa nay tôi lên thêm một tuổi, cầu xin Ngọc Hoàng bớt cho tôi chút đỉnh khổ cực … ». Hồi đó, nghe má cầu xin, con phì cười. Bây giờ, nhớ lại, con bỗng ứa nước mắt… Cuộc đời của má - theo lời tía kể - cũng lắm gian truân từ ngày má bỏ cái làng quê ở bờ sông Vàm Cỏ để đi theo tía dấn thân làm cách mạng vào những năm 1928/29. Gia đình giòng họ từ bỏ má cho nên hồi sanh con, tía bận đi xa, má nằm chèo queo một mình trong nhà bảo sanh, chẳng có người nào đi thăm hết. Vậy mà sau đó, má vẫn tiếp tục bôn ba …Mãi về sau, khi con lên sáu bảy tuổi, có lẽ chỉ vì sanh có một mình con nên tía má mới « trụ hình » - vẫn theo lời tía kể - với nhiều cực nhọc và khó khăn tiếp nối dài dài… Hỏi sao sau này mỗi lần đưa ông Táo má không có lời cầu khẩn nghe tội nghiệp như vậy ?

Nhớ lại, cách đây ba năm má thọ tròn trăm tuổi. Tính ra, từ ngày con đi chui theo ý má muốn - má nói : « Mầy đem vợ con mầy đi đi, để tao còn hy vọng mà sống thêm vài năm nữa » ! – cho đến năm đó, con xa má 25 năm. Con mới 72 tuổi mà cứ bịnh lên bịnh xuống nhưng năm đó con quyết định phải về. Và con đã về …

Thằng Bảy, con chị Hai Đầy ở Thị Nghè nghỉ chạy xe ôm một bữa để đưa con về cái làng quê nằm bên sông Vàm Cỏ. Nó nói : « Đi xe đò chi cho tốn tiền, để con đưa cậu Hai về, sẵn dịp con thăm bà Tám luôn ».

Hồi tụi con bước vào nhà, cả xóm chạy theo mừng. Con nhỏ giúp việc vội vã đỡ má lên rồi tấn gối để má ngồi dựa vào đầu giường : « Thưa bà cố, có khách ». Má nhướn mắt nhìn, hai mắt sâu hỏm nằm trên gương mặt gầy nhom đầy vết nám thâm thâm : « Đứa nào đó vậy ? ». Con nghẹn ngào : « Dạ, con… ». Chỉ có hai tiếng « Dạ, con » mà má đã nhận ra con ngay mặc dầu đã xa con từ 25 năm ! Má nói : « Mồ tổ cha mầy ! Trôi sông lạc chợ ở đâu mà bây giờ mới dìa ? Mà dìa sao không cho tao hay ? » Con ngồi xuống cạnh má : “ Sợ cho hay rồi má trông ” Má nói mà gương mặt của má nhăn nhúm lại : “ Tao trông từ hai mươi mấy năm nay chớ phải đợi đâu tới bây giờ ! ” Rồi má nhắm mắt một vài giây mới để lăn ra được hai giọt nước mắt. Cái tuổi một trăm của má chỉ còn đủ hai giọt nước mắt để cho má khóc mừng gặp lại thằng con ... Xúc động quá con gục đầu vào vai má khóc ngất, khóc lớn tiếng, khóc mà không cần biết cần nghe gì hết. Cái tuổi bảy mươi hai của con còn đầy nước mắt để thấm ướt cái khăn rằn má vắt trên vai...

Suốt ngày hôm đó, má con mình nói biết bao nhiêu chuyện, có sự tham dự của họ hàng chòm xóm. Nhớ gì nói nấy, đụng đâu nói đó ...vui như hội. Vậy mà cuối ngày, không thấy má mệt một chút nào hết. Con nhỏ giúp việc ngạc nhiên : “ Bình thường, bà cố nói chuyện lâu một chút là thở ồ ồ. Bữa nay sao thấy nói hoài không ngừng ! Có ông Hai dìa chắc bà cố sống thêm năm bảy năm nữa à ông Hai !”

Đêm đó, má “đuổi ” con vô mùng sớm sợ muỗi cắn. Con nằm trên bộ ván cạnh cái hòm dưỡng sinh của má. Con hỏi : “ Bộ cái hòm hồi đó má sắm tới bây giờ đó hả ? ” Má cười khịt khịt vài tiếng rồi mới nói : “ Đâu có. Cái hòm mầy nói, tao cho cậu Tư rồi. Hồi Cao Miên pháo kích quá, tao đem cậu Tư về đây ở, rồi ổng bịnh ổng chết. Tao có sắm cái hòm khác, cái đó tao cho thằng Hai con cậu Tư. Tội nghiệp thằng làm ăn suy sụp nên rầu riết rồi chết !” Con nói chen vô : “ Vậy, cái nầy má sắm sau đám của anh Hai ” Má lại cười khịt : “ Đâu có. Cái hòm sắm sau cái hòm cho thằng Hai, tao cho dì Sáu rồi. Hồi chỉ nằm xuống, nhà chỉ không có tiền mua hòm thì lấy gì làm đám ma ? ” Ngừng lại một chút rồi má mới nói : “ Còn cái hòm nầy chắc tao không cho ai nữa. Họ hàng quyến thuộc lần hồi chết hết, còn lại có mình tao thôi, có nó nằm gần tao cũng yên bụng ! ”.

Nằm tơ lơ mơ một lúc bỗng nghe má hỏi : “ Thằng chó đẻ ... ngủ chưa ? ” Con trả lời : “ Dạ chưa ” Má tằng hắng : “ Tao tụng kinh một chút nghen ” Con : “ Dạ ” mà nghe tiếng “ Dạ ” nghẹn ngang trong cổ. Mấy tiếng “ Thằng chó đẻ ” của má kêu con đã làm cho con thật xúc động. Hồi đó – lâu lắm, cách đây sáu mươi mấy bảy chục năm, hồi con còn nhỏ lận – má hay gọi : “ Thằng chó đẻ, lại hun cái coi ! ”. Hồi đó, mổi lần cưng con, nựng con, ôm con vào lòng má luôn luôn gọi con bằng “ thằng chó đẻ ” ! Mà con thì chỉ biết sung sướng khi nghe má gọi như vậy. Rồi con lớn lần, má không còn gọi con bằng “ thằng chó đẻ ” nữa. Con không để ý và chắc má cũng không để ý đến chuyện đó. Mãi đến bây giờ má lại gọi con bằng “ thằng chó đẻ ”, gọi tự nhiên như hồi còn nhỏ. Chỉ có mấy tiếng thật thô thiển bình dị, nghe khô khan như vậy mà sao con cảm nhận tình thương thật là tràn đầy. Và đối với má, dầu tuổi đời của con có cao bao nhiêu nữa, con vẫn là “ thằng nhỏ ”,” thằng chó đẻ cưng ”. Con bắt gặp lại sự sung sướng của hồi đó khi được má gọi như vậy. Rồi bao nhiêu hình ảnh thuở ấu thời hiện về trong đầu con, liên miên chớp tắt. Đêm đó, con trằn trọc tới khuya...

Sáng hôm sau, má biểu con đẩy xe lăn đưa má đến từng bàn thờ để má thắp nhang tạ ơn Trời Phật, Ông Bà. Cuối cùng, đến bàn thờ của tía, má nói : “ Ông ơi, Có thằng nhỏ nó dìa đó. Ông độ cho nó được mạnh giỏi, độ cho vợ con nó ở bên tây được suông sẻ trong công việc làm ăn...” Đứng sau lưng má, con phải cắn môi thật mạnh để khỏi bật lên thành tiếng nấc !

Đẩy má ngang bàn viết cũ của tía, con thấy trên tường có treo hai khuôn kiếng lọng văn bằng đỏ chói có đóng dấu cũng đỏ chói của Nhà Nước. Con ngừng lại đọc : một tấm là huân chương hạng nhứt và một tấm là huy chương hạng ba cấp cho Lê thị Ráng. Con hỏi : “ Cái gì vậy, má ? ” Má nói : “ Mề-đai của tụi nó cho tao. Tụi nó bươi chuyện thời ông Nhạc nào đâu hồi mấy năm 1928-29 rồi chạy lại cho. Cái hạng nhứt đó cho năm ngoái, còn cái hạng ba mới cho đây ” Con cười : “ Vậy là họ hạ cấp má rồi ” Má hỏi : “ Sao mầy nói vậy ? ” Con giải nghĩa: “Thì từ hạng nhứt tuột xuống hạng ba là bị hạ cấp chớ gì nữa ?” Má cười: “Mầy không biết. Cái đầu hạng nhứt đó, cho treo chơi chớ không có tiền. Cái hạng ba đó mới có cho tiền ” Con đùa : “ Vậy má chia cho con chút đỉnh lấy hên coi ! ” Má khoát tay : “ Ối ...từ ngày nhận cái mề-đai đó tới nay đã ba tháng rồi mà có thấy tụi nó đưa tiền đâu. Nghe nói còn mấy khâu gì gì đó chưa thông nên có hơi trễ ! ” Thấy trên văn bằng đề “Lê Thị Ráng ” con thắc mắc : “ Ụa ! Mà Lê Thị Ráng đâu phải là tên của má. Trong khai sanh của con, má là Lê Thị Láng mà !” Má cười khục khục mấy tiếng rồi mới nói : “ Để tao nói cho mầy nghe. Hồi đó tao sanh mầy ở gần nhà thờ Cha Tam, trong Chợ Lớn. Cô mụ người tàu, nói tiếng Việt còn lơ lớ. Cổ hỏi tao tên gì để làm khai sanh. Tao nói tao tên Ráng, mà R cổ nói không được, nên ra sở khai sanh, cổ nói Ráng thành Láng là như vậy ” Mãi tới bảy mươi hai tuổi con mới biết tên đúng của má là “ Ráng ” !

Hôm đưa ông Táo, con có tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng một trăm tuổi của má, có họ hàng tham dự đầy nhà. Vừa ngồi vào bàn, dì Bảy Giang nói : “ Theo phong tục mình, con cái phải quì lạy để chúc thọ mẹ cha. Bây giờ, chị Tám được một trăm tuổi, hiếm lắm, quí lắm. Mầy phải lạy má mầy đi rồi ăn uống gì ăn ” Mọi người vỗ tay tán thành. Má cũng cười, nói : “ Ồ phải ! Hồi nẳm, đám cưới của mầy, mầy có đi học lạy với cậu Bảy Dinh, nhưng bên đàng gái miễn lễ chỉ bắt xá thôi, rồi về đây tía mầy cũng miễn luôn. Cho nên tao chưa thấy mầy lạy ra sao hết. Đâu ? Mầy lạy tao coi ! ” Mọi người lại vỗ tay nữa. Con đứng trước mặt má, chấp tay ấp úng: “ Thưa má. Hôm nay là ngày sanh thứ một trăm của má, con xin lạy mừng thọ má ” Rồi con lạy ba lạy, cũng đủ điệu bộ lên gối xuống gối như con đã học lạy cách đây gần năm chục năm. Con lạy mà nước mắt chảy quanh. Con biết rằng lần lạy đầu tiên này có thể là lần lạy cuối cùng, bởi vì qua Tết, con sẽ trở về Pháp với cái lạnh cắt da của mùa đông, rồi sau đó biết có còn về nữa hay không ? Sức khỏe của con càng ngày càng kém, bao nhiêu thứ thuốc uống vô hằng bữa liệu kéo dài sự sống của con được đến bao lâu ? Điều này, con đâu dám cho má biết. Mọi người lại vỗ tay khi con lạy xong. Rồi thì nhập tiệc. Bữa tiệc hôm đó thật là vui. Người vui nhứt là má.

-oOo-

Má ơi ! Bữa nay là ngày sanh thứ 103 của má, ngày đưa ông Táo về Trời. Vậy là ba năm qua rồi, con đã không về thăm má. « Thằng chó đẻ » của má vẫn còn « trôi sông lạc chợ », để cho má cứ phải trông nó về, trông hằng ngày, trông mòn con mắt, trông khô nước mắt !

Má thương con , xin má tha thứ cho con... tha thứ cho con ….

Tiểu Tử

NGƯỜI BÁN CHIẾU Ở SAIGON

Giọng rao rền ấm vang lên:

-Chiếu đây! Chiếu đây! Ai mua chiếu không! Chiếu đây.

Đó là giọng quen thuộc của anh bán chiếu có thân hình đẫy đà, tướng mạo khôi ngô và dấp dáng có điệu như diệu võ dương oai của một vì tướng ngày xưa.

Cứ vài ba ngày gần đây, anh ta lại xuất hiện đẩy chiếc xe hai càng dài thoòng chở đầy ắp các loại chiếu đem bán. Miền Trung cứ sau thiên tai, dân chúng lại đổ vào thành phố nhiều. Họ làm đủ mọi nghề như nghề mua ve chai, nghề bán dép nhựa cao su... Dép cũ đổi dép mới đây! Bánh đa, bánh tráng kẹp đường đây! Cứ thế mà khu phố cứ tấp nập ồn ào lên mãi dường như quá quen thuộc. Có nhiều khi tôi chờ giọng rao chiếu của anh, chiếc xe đẩy của anh, chỉ để gật đầu chào. Anh nhìn tôi cười rất lạnh, tôi định hỏi han gì đó rồi lại thôi. Muốn hỏi anh về chuyện trước nay sống ra sao, làm gì, nhưng thấy anh vẫn vậy, vẫn nửa tỉnh nửa quê. Anh không thấy già, chắc là gầy hơn một chút nên thấy cao hơn một chút vẫn trong bộ đồ bà ba quen thuộc cũ kỹ và lầm lũi đi theo ngày tháng. Cái giọng cao rền trầm ấm đó cứ đọng mãi ở trong tôi như một làn gió ấm áp gần gũi buổi lập đông này..

Tôi thấy có nhiều người đàn ông, đàn bà người thì vác vài chục đôi chiếu mới trên đầu, người thì gánh chiếu bằng một chiếc đòn gánh bóng láng trên vai, người chở xe đạp, người thì đẩy xe với hai càng sắt như loại xe mua heo đời trước, có hai bánh ở giữa xe. Lúc có ai mua thì đặt xe xuống nghiêng về sau một chút có hai cây sắt làm chân trụ vững vàng. Họ đứng nép bên hàng ba hàng xóm, dốc chai nước lên uống vài ngụm rồi lấy ra bao thuốc lá con mèo Việt Nam mồi lửa phì phà thả khói bay, nghỉ chân xả hơi và có vẻ vô tư lự. Khác hẳn với các người làm công nhân, công chức tất bật nét mặt luôn căng thẳng gay go trong tính toán công việc.

Khi thấy anh bán chiếu đi qua thì tôi bận không gọi anh lại được. Khi chờ để hỏi chuyện chơi thì anh lại biến mất tăm hơi!

Chiều nay không mưa gió, trời còn ửng nắng nóng và khô khan, tôi thấy một người đàn ông gọn gàng mặc áo bỏ vô quần, tóc tai ngắn gọn, dáng gầy của dân miền Trung đang đẩy xe chiếu đi qua.

Chiếc xe chở ắp chiếu, chiếu dài lớn ở dưới, chiếu ngắn nhỏ sắp xếp ở trên gọn gàng cũng giống như chiếc xe đẩy của anh chàng cao lớn thường ngày. Anh kia có vẻ nông dân miệt vườn hơn, anh này thì ăn mặc theo lối công chức sạch sẽ từ đầu đến chân, nét mặt có vẻ tươi vui, hăng hái trong mùa bán chiếu tết năm nay.

Tôi bèn gọi lại:

-Anh ơi cho tôi xem chiếu với nào.

Lập tức người đàn ông nhỏ gầy đó cười vui rồi ngồi ngay xuống cái ghế đẩu tôi đặt thường ngày ở trước nhà. Anh không chờ tôi mời ngồi nữa, chắc là anh ta đã đẩy xe đi từ sáng đến chiều đã mệt.

Đúng như câu nói. Buồn ngủ gặp chiếu manh! Nhưng đây không phải chiếu để ngủ mà chỉ là chiếc ghế đầu nghỉ chân mà thôi.

Tôi hỏi:

-Anh ở đâu đi bán chiếu vậy?

Anh bán chiếu trả lời:

-Tôi ở Đà Nẵng vào Sài Gòn bán chiếu từ nhỏ, cỡ mười ba tuổi đến nay đã năm mươi hai rồi. Tôi có ba đứa con. Thằng lớn đi học đến năm lớp mười hai rồi thi đại học rớt, bây giờ được chia đất ruộng để làm ở nhà quê. Hai đứa em nó, một trai một gái còn đi học và làm ruộng rẫy với bà xã.

-Anh làm ruộng sống đỡ không!

-Thật ra mỗi hộ người lớn nhận một sào 500m2 tính theo đất miền Trung.

-Tại sao mỗi sào có 500m2.

-Đó là đất miền Trung chia cho từng đầu người lớn, từ mười bảy trở xuống thì chia phân nửa thôi.

-Anh nói vậy thì diện tích ruộng chia theo miền à?

-Đúng! Miền Bắc tính mỗi sào có 360m2 thôi vì đất ít. Đất trong Nam rộng, nên mỗi sào đến một ngàn mét vuông.

Tôi gật đầu:

-Ừ, lâu nay tôi là dân Sài Gòn không để ý. Nhưng sao anh không ở nhà làm ruộng mà lại đi bán chiếu?

Anh ta cười vui vẻ:

-Buôn bán ở Sài Gòn vui hơn. Vả lại đất miền Trung mà tôi được chia phèn nhiều quá, không trồng lúa được nên cả nhà đều đi trồng lác để dệt chiếu. Từ ông bà cha mẹ tôi đền giờ bán chiếu đã quen nghể.

Anh giải thích dài dòng thêm:

-Đất chỗ nào tốt trồng hoa màu phụ hay trồng lúa. Còn lác thì trồng đất phèn cũng được. Cả năm hoặc hai năm mới thu hoạch được. Năm, mười năm mới phải trồng lại. Cứ cắt ngang gốc thì lác bắt đầu lên mau. Từ đó thu hoạch đều hằng năm. Lác lên cỡ một thước sáu đến một thước tám. Nếu dài quá thì cắt bỏ, canh sao cho vừa các loại chiếu khổ nhỏ, khổ lớn, dài hay ngắn. Hai người dệt chiếu phụ nhau để đưa thoi. Đàn ông, đàn bà đều dệt giỏi cả.

Chúng tôi làm thủ công, dệt từng tấm dài cỡ hai chiếc chiếu rồi cắt ra, dệt cái khác. Bây giời thì có chiếu nylon đẹp dệt đại trà bằng máy nhưng nằm không êm, không mát như nằm chiếu thường vì thế người quen nằm chiếu vẫn chuộng chiếu lác hơn.

-Vậy anh mỗi khi về nhà lấy chiếu Đà Nẵng đem vào bán ở Sài Gòn?

-Có khi tiện thì chở, không thì thôi. Chiếu trong Nam cũng đẹp lắm. Tôi lấy ở Quận Mười, Quận Tám trong thành phố. Ngoài ra có các loại chiếu Long An chở lên nữa.

Tôi lật xem mấy tấm chiếu:

-Nhiều loại quá, không biết chọn thứ nào.

Anh bán chiếu nhanh nhảu chào hàng ngay:

-Đây là chiếu tơ thường và đây là chiếu đặt hàng. Chiếu đôi rất dầy. Còn chiếu nylon anh coi, rất nhẹ và mỏng nhưng mau gãy. Chiếu đặt khoảng một mét sáu thì bán từ môt trăm đến một trăm rưỡi, có loại trắng không màu chỉ cỡ sáu chục ngàn một chiếu.

-Có loại nào nữa không?

-Loại đặt thì 1m2, 1m7, 1m8 cỡ hai trăm năm chục ngàn mỗi chiếc. Có loại 8 tấc, có loại một mét, có loại 1m2, 1m4 tùy người đặt nữa, đến 1m6.

-Vậy anh ở Sài Gòn bán chiếu quanh năm à!

-À, tôi chỉ bán cho tới khoảng 25 hay 27 tết thì về nhà. Ở quê vui tết cho đến khoảng 20 tháng giêng âm lịch tôi mới về Sài Gòn lại.

-Vậy anh kiếm sống bằng nghề chiếu cũng được đó chứ!

-Vâng! Cứ ít nhất mỗi ngày chừng một trăm. Có khi khá hơn tới hai trăm ngàn đủ sống thôi. Trên Thanh Đa cũng có nơi đầu mối bán chiếu. Hết chỗ nào tiện tôi lấy ở đó.

-Vậy mỗi chiếc anh lời bao nhiêu?

Anh đáp:

-Mỗi chiếc lời cỡ mười ngàn đồng. Còn ngoài quê, nghề dệt chiếu vợ con tôi cứ làm chung với ruộng rẫy, hoa màu và nuôi gà heo thêm.

Tôi ngắm chồng chiếu:

-Chiếu có màu đủ sắc mướt và đẹp quá.

-Lác nhuộm cắt rồi đem phơi, sau đó mới dệt chiếu. Có khi không dệt bằng sợi lác màu thì người ta in thẳng màu vô chiếu. Loại dệt màu công phu hơn nên đắt hơn loại in màu!

Tôi cười nói qua chuyện khác:

-Nè, có khi nào anh cúng tổ hay không?

-Tôi có cúng, nhưng cúng để vái mua may bán đắt thôi.

Tôi nói:

-Vậy anh biết ông tổ nghề chiếu là ai không? Dệt vải, dệt chiếu hay hát cải lương đều có ông tổ cả đấy!

Anh cười đáp:

-Đúng, nhưng tôi chỉ cúng thường, còn tổ chiếu là ai tôi không biết.

-Đó là ông Trạng Phạm Đôn Lễ. Sau khi đi sứ đã mang kỹ thuật dệt chiếu của Trung Hoa về cải tiến nghề dệt chiếu Hới, tỉnh Thái Bình. Nhân nói chuyện với anh vui quá tôi kể anh nghe mấy câu chuyện về chiếu không biết anh đã nghe chưa?

-Anh kể nghe chơi đi.

Tôi gật đầu, rót nước thêm mời anh và nói mau:

-Đây, chiếu Bắc có loại chiếu hồi xưa gọi chiếu gon, nên khi cụ Nguyễn Trải từ quan về trí sĩ thì gặp nàng bán chiếu là Thị Lộ. Ông hỏi:

-Ả ở đâu mà bán chiếu gon. Chẳng hay chiếu ấy hất hay còn. Xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi. Đã có chồng chưa được mấy con?

Thị Lộ là cô gái bán chiếu hay chữ sính thơ lập tức trả lời:

-Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon. Cớ chi ông hỏi hết hay còn. Xuân thu nay độ trăng tròn lẻ. Chồng còn chưa có có chi con!

Thế là ông Nguyễn Trãi thấy cô gái Tây Hồ đẹp bèn lấy làm vợ lẽ lập nên một giai thoại đẹp. Trong Nam cũng có một loại chiếu mà người ta đem thờ cúng rất tôn nghiêm.

Anh bán chiếu hỏi:

-Sao kỳ vậy?

Tôi giải thích:

- Cụ Nguyễn Trung Trực chống Pháp bị chém đầu. Trước khi chết, người ta trải chiếc chiếu Tà Niên cho ông đứng, khi giết xong máu ông chảy xuống làm ướt cả chiếc chiếu Tà Niên. Người dân thương xót kính trọng ông, nên cuốn cả chiếc chiếu Tà Niên có dính máu ông đem về thờ cúng đấy.

Anh bán chiếu quê Đà Nẵng có vẻ thích thú, nghe rồi nói:

-Anh biết nhiều sự tích quá hén!

Tôi gật đầu:

-Không phải chiếu ta có tích mà chiếu Tàu cũng thế.

-Anh kể nghe chơi đi!

-Để tôi kể ngắn gọn thôi. Vốn nhà Hán có ông Lưu Bị lúc còn nhỏ thường ngồi dệt chiếu dưới cội cây lớn che tảng mát cả vùng như cái lọng vàng của vua, ai nấy đều khen Lưu Bị có số lạ lùng. Sau ông lên làm Vua ở xứ Ba Thục, đến đời con cháu thì bị mất nước nên sau đó nghe nói linh hồn vua Thục Đế nhớ nước non biến đầu thai thành con Quốc, người Bắc gọi là Cuốc nên bà Huyện Thanh Quan có thơ rằng.

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc.

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia!

Gia gia là chim đa đa đó!

Nhà thơ Phạm Giật Đức tác giả Đường Sang Khu Chiến có viết trong thời chống Pháp bài thơ Đường Sang Khu Chiến không thua gì thơ Hoàng Cầm có câu:

Ai xuôi ai ngược bến Hồ

Ai rao chiếu Hới, ai vô phủ Hoài

Bây giờ cực lắm con ơi

Người ở bên nay xanh mắt vạc

Ngày lo thuế mà tơi bời

Em tôi lên Bắc từ năm trước

Tin nó đưa về đi dân công

Gánh gạo sang Tàu không trở lại

Vắng nó hoang thêm những ruộng đồng…

Anh thợ bán chiếu không nói gì, cứ ngồi yên ra chiều suy nghĩ, lúc sau nhỏm đứng lên. Tôi lập tức nói:

-Nè anh lựa cho tôi một chiếc chiếu trải ghế bố đi. Rồi tính tiền luôn.

Anh đưa tôi chiếc chiếu thường rồi nói:

-Có hai loại. Loại ba mươi ngàn, loại kia sáu mươi ngàn anh lấy thứ nào?

-Cho tôi loại sáu mươi.

Anh lại nói:

-Có loại chiếu xếp tư vuông góc rất tiện mang theo ba lô để đi du lịch, gọi là chiếu du lịch đó.

Tôi nhìn chiếc chiếu xếp vuông làm tư như cái bánh chưng rất gọn và nói:

-Đúng là mùa du lịch rất thịnh hành mà!

Tôi lấy chiếu trả in sáu mươi ngàn, cám ơn anh đã ngồi tán gẫu với tôi qua gần hết buổi chiều.

Đâu đây gió mùa Xuân đang thổi tới.

Khi anh cầm hai chiếc càng xe chiếu sắp đi quay lại chào tôi.

Tôi bèn nói:

-Khi nào đi qua nhớ ghé đây chơi nghen anh.

Người đàn ông bán chiếu nói:

-Anh kể chuyện chiếu nghe hay quá.

Tôi nói:

-Còn một câu chuyện ly kỳ về chiếc chiếu nữa. Chiếu Gò Công, chiếu Mỹ Tho… có câu chuyện Tình Anh Bán Chiếu của soạn giả Viễn Châu hay lắm, dân miền Nam ai cũng mê khi nào anh ghé chơi tôi sẽ kể tiếp anh nghe. Thôi chúc anh bán đắt hàng nhé.

Duy Thức

Ý NGHĨA NGÀY TẾT TRUYỀN THỐNG

Nhân dịp mọi người dân Việt ở quê nhà cũng như hải ngoại đang nhộn nhịp chuẩn bị đón xuân, tôi viết lại những kỷ niệm đã qua của những ngày Tết truyền thống trong năm với mùa xuân dân tộc, hầu góp phần lưu lại tập quán cổ truyền của quê nhà cho thế hệ trẻ Việt Nam đang sống nơi hải ngoại cũng như ở trong nước.

Đối với dân tộc Việt Nam, hương vị mùa xuân được coi như là một truyền thống văn hóa của tổ tiên ta để lại từ thời lập quốc và cứ mỗi năm lại bồi đắp thêm những ý đẹp, lời thơ cho thật trang nghiêm long trọng với một niềm vui vô tận, để truyền bá lại cho hậu thế noi theo.

I)-TẾT NGUYÊN ĐÁN VỚI XUÂN DÂN TỘC :

Hàng năm dân tộc Việt Nam có một cái TẾT gọi là TẾT Nguyên Đán, vào ngày cuối năm âm lịch, đây là những ngày lễ long trọng nhất của nhân dân Việt Nam, kéo dài từ ngày 30 tháng chạp âm lịch đến hết ngày 3 tháng giêng, có nơi ăn tết đến ngày 7 tháng giêng.

Tết Nguyên Đán là những ngày hội lớn, đánh dấu sự trở lại của một chu kỳ thời gian một năm trọn. Ngôn từ về mùa xuân và Tết hết sức phong phú, mùa xuân và Tết đồng nghĩa với thanh bình, hy vọng, sum họp, ước mơ, tin tưởng, thương yêu, vui vẻ, trẻ trung, tình tứ : Sắc xuân, tình xuân, ý xuân, tuổi xuân....

Tết cũng có thể coi là ngày lễ sinh nhật chung. Sinh nhật của thiên nhiên, đất nước và dân tộc. Trước đây ta tính tuổi theo Tết chứ không theo ngày sinh chính thức.. Đến Tết mỗi người thêm một tuổi... Chữ Tết là do chữ Tiết đọc chệch ra. Ví dụ như thời tiết, tiết nhật, tiết chế, tiết lệnh, tiết hạnh...

Tết Nguyên Đán (Nguyên là đầu, Đán là sớm mai. Nguyên Đán có nghĩa là buổi sớm mai đầu năm). Trước đây, Tết Nguyên Đán ở nước ta có 7 ngày. Người xưa quan niệm rằng 7 ngày Tết, trời cho đất sinh ra mọi vật để nuôi sống con người, ngày thứ nhất, trời đất sinh ra gà, ngày thứ hai sinh ra chó, ngày thứ ba sinh ra dê, ngày thứ tư sinh ra heo (lợn), ngày thứ năm sinh ra trâu, ngày thứ sáu sinh ra ngựa, và ngày thứ bẩy sinh ra lúa. Sau này vì công việc bận rộn, dân ta chỉ ăn Tết có 3 ngày.

Ngày 30 mươi Tết là ngày bận rộn nhất. Mọi nhà đều dọn dẹp, sắm sửa cho chu tất trước khi đón gia tiên, ông bà về ăn Tết. Ngày trước, chiều 30 Tết, người ta dựng cây nêu trước cửa nhà.

Cú kêu ba tiếng cú kêu,

Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè.

Trưa 30 Tết, cúng mặn rất thịnh soạn, trên bàn thờ trang hoàng rất trang nghiêm, để đón Ông Bà, gia tiên, đây là sự tỏ lòng biết ơn của con cháu đối với Ông Bà, Cha Mẹ đã khuất. Ngày 1 TẾT tất cả mọi gia đình đều ăn chay, đi Chùa lễ phật, hai lộc cầu may, xin xăm cầu tài, Ngày 3 cúng mặn gia tiên ở nhà, để tiễn đưa Ong Bà, Gia Tiên nội ngoại.

Đặc biệt đêm 30 TẾT ngày cuối cùng của năm âm lịch, hầu hết tất cả các gia đình đều thức suốt đêm, để đón giao thừa vào đúng 12 giờ đêm, trong nhà cúng gia tiên, ngoài sân cúng giao thừa đón xuân, với những tiếng pháo nổ ran để mừng năm mới.

Để chuẩn bị đón xuân, từ thành thị đến thôn quê mọi gia đình đều sửa soạn nhà cửa, sơn phết quét vôi, ngoài sân được các chủ nhà vẽ các cung, tên bằng vôi bột trăng xoá, mũi tên đều hướng ra ngoài ngõ (cổng), được truyền tụng rằng đó là cung tên bắn các ma qủi không cho xâm nhập vào nhà, để xua đuổi những cái rủi ro, xui xẻo của năm đã qua hầu đón nhận một mùa xuân mới với niềm hy vọng cho tương lai tốt đẹp hơn.

Để chuẩn bị cho những ngày TẾT, đón xuân mới, trẻ, già, trai gái lo sắm sửa lễ vật, sửa soạn bàn thờ gia tiên, để rước ông bà về thờ cúng những ngày đầu xuân hầu tỏ lòng biết ơn đến các vị sinh thành và cầu xin gia tiên nội ngoại phù hộ độ trì cho năm mới được vạn sự an lành, hạnh phúc, làm ăn phát đạt, cho nên dân gian có truyền lại lời thơ, ý đẹp như sau:

Tết đến nhộn nhịp thành quê

Trẻ già, trai gái hướng về hân hoan

Cửa nhà đã được sửa sang

Bàn thờ bông trái trầm nhang thơm lừng

Mứt kẹo, bánh tét, bánh chưng

Cỗ bàn phẩm vật chúc mừng lẫn nhau

Mọi người khoẻ mạnh sống lâu

Bán buôn tài lộc sang giầu vẻ vang

Đầu năm ta đón xuân sang

Giao thừa cúng lễ rộn ràng niềm vui.

Ý nghĩa mùa xuân đến với nhân dân ta thật là vô tận, ngoài Bắc thì trồng nêu, cây đào, bánh chưng, bánh nòng, mứt kẹo ....Trong Nam cành mai, bánh tét, dưa hấu, kẹo mứt....Nhà nhà, người người đều nhộn nhịp đón Xuân với vẻ đẹp niềm vui, hương sắc mùa xuân tỏa ngát bốn phương trời.

Quê tôi một năm có 4 mùa : Xuân, Hạ, Thu, Đông mỗi mùa có 3 tháng. Mùa Xuân tháng giêng, hai, ba. Tục ngữ quê tôi có truyền rằng:

Tháng giêng là tháng ăn chơi

Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè...

Mùa Xuân là mùa đẹp nhầt, khí hậu ôn hoà, mát mẻ. Không mưa, không nắng bầu trời trong sáng, cây trái xanh tươi, bông hoa nở rộ để cùng tô điểm thêm hương sắc của một mùa xuân cho nên Ong Nguyễn Công Trứ đã tận hưởng thú vui xuân thể hiện các câu thơ lục bát như sau:

Chơi xuân kẻo hết xuân đi

Xuân tàn hoa rụng còn gì vui xuân..

Cùng một ý niệm vui xuân chị em Thuý Kiều đã đua nhau trưng diện son phấn, áo quần, xe ngựa vui xuân trẩy hội, đã được thi hào Nlguyễn Du diễn tả như sau:

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Dân tộc Việt Nam vui Xuân, đón Xuân bằng ăn tết ở nhà, lên Chùa Lễ Phật và hái lộc cầu may đã thể hiện hai câu thơ sau:

Tháng giêng ăn tết ở nhà

Lên Chùa lễ Phật tòan gia an lành.

Mỗi độ Xuân về lúc còn thơ ấu, tôi lại có dịp đi xông nhà, chúc tết, lễ gia tiên ở nhà thờ họ và đi Chùa lễ Phật, cái vui của thời thơ ấu thật là hồn nhiên, không lo, không nghĩ, không phiền đến ai. Nay thì tuổi đã trên thất thập ngũ cổ lai hy, vương vấn trần ai nặng một lòng. Tôi cố gắng quên đi, để nhớ lại những kỷ niệm ngày xuân của tuổi ấu thơ, trong thời thanh bình nơi quê tôi, hầu tạo cho sự thanh thản cho tâm hồn trong những ngày xuân dân tộc.

Tôi còn nhớ, nhớ mãi không bao giờ quên những ngày “Trẩy Hội Mùa Xuân” có rất nhiều hội hè, đình đám. Các nơi đua nhau tổ chức vui xuân với những trò chơi có tính chất thể dục, thể thao và mở mang trí tuệ như: đánh đu, cầu thùm, leo giây nhẩy bao bố, đấu vật, múa lân, đá cầu, đá gà, đua ghe, thả diều, võ thuật, đấu cờ tướng (cờ người),.

A)-CỜ NGƯỜI :

Cờ người đây là người thật, được tuyển chọn 16 nam và 16 nữ, tuổi từ 16 đến 20, được ăn mặc theo đúng các quân cờ, có nhiêu mầu sắc như Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã và Tốt. Mỗi người đều cầm một cây cờ bàng gỗ, sơn son, thiếp vàng trông rất trang nghiêm và lịch sự. 2 người đấu cờ là 2 ông giỏi nhất sau khi đã được tuyển chọn sơ kết, chung kết, mới được thi đấu.

Người trọng tài là một danh thũ đã từng đoạt giải quán quân ở các năm trước, sau khi dàn quân theo vị trí trên bàn cờ đã được vẽ (kẻ) trên sân rộng trước cửa đình làng. Trọng tài có nhiệm vụ khởi xướng, 3 hồi chiêng trống vang dội chấm dứt, lúc đó bên nào đã bốc thăm được đi trước bắt đầu xướng thí dụ:

Chốt 3 tấn 1, Pháo 2 bình 4, mã 1 tấn 2, xe 1 bình 1, ....Trong cờ tướng có muôn hình vạn trạng của các thế cờ, biến hoá như rồng bay phượng múa. Sau đây là một thế cờ tuyệt hảo “ Đại Xa Mã” trong bách cuộc tượng kỳ gọi đây là thế cờ “Đả Mã Tháo Điền”. Nhưng trong Trúc Hương Trai và nhiều tài liệu khác đều cho là “Đại Xa Mã” như xa 2 tấn 4, mã 3 tấn 4, xa 3 tấn 1, mã 4 tấn 5....mỗi lần hô như vậy người cầm quân cờ có nhiệm vụ di chuyển cùng với quân cờ đến chỗ quy định theo tiếng hô của ông đấu cờ, cứ như thế tiếp tục cho đến khi một bên bị thua.

Không bên nào được nghĩ quá 1 phút tuỳ theo giao ước. Nếu chậm quá thời gian quy định thì trống bỏi (trống con) lại đánh bong bong bên tai thúc dục người đấu cờ, đây là môn chơi đấu trí, tổ chức rất công phu và thu hút nhiều người xem nhất.

B)-TRẨY HỘI CHÙA HƯƠNG:

Mùa Xuân còn là mùa trẩy hội, đi hành hương ở các nơi xa xăm như đi “Trẩy hội Chùa Hương”. Chùa Hương là một “Đệ nhất danh lam thắng cảnh”, thơ mộng tuyệt vời, sơn thuỷ hữu tình. Từ làng tôi dến Chùa Hương Tích khoảng cách độ 80 mai, (trên 100 cây số,) có thể đi bằng đường bộ hoặc đường thuỷ, các cụ làng tôi thường hay tổ chức đi đường thủy bằng những chiếc thuyền (ghe) nho nhỏ.

Mỗi chiếc chở được 15 đến 20 ngưởi. Một đoàn thuyền khoảng 10 đến 15 cái mang theo đủ các phẩm vật với những dàn trống, chiêng, nhạc cổ truyền và mọi người ăn mạc rất sang trọng, loè loẹt. Đoàn thuyền với những mái chèo hai bên đua nhau chạy dọc theo sông cái từ phủ Kinh Môn lên Chí Linh ngược lên sông Hồng Hà qua Hà Nội đến sông Hương tới Chùa - vừa đi vừa kèn trống, hò hát vang dội khắp con sông thật là nhộn nhịp và vui thú biết bao.

Đến Chùa Hương tất cả các du khách từ bốn phương đổ về gặp nhau trong một trái tim. Cảnh sơn núi hữu tình, nên thơ. Trai gái trẻ già dập dìu dắt nhau lên Chùa lễ Phật thật là “Bầu Trời Cảnh Bụt” bao la với từng đòan thiện nam, tín nữ từ khắp nơi đổ về hành hương chiêm bái mà như thơ Tản Đà, đã diễn tả:

Chùa Hương trời điểm lại trời tô

Một bức tranh tình trải mấy thu

Xuân lại Xuân đi bao dấu vết

Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.

Phong cảnh Chùa Hương thật hữu tình, thơ mộng nhớ đến Bến Đục, Suối Yên, với giòng nước chẩy nhẹ nhàng trên sông, in bóng những dẫy núi chập chờn tô điểm cảnh thiên nhiên. “Trẩy Hội Chùa Hương”, không những đến lễ Phật câu may, xin xâm cầu tài, mà còn là nơi trai tài gái sắc có dịp gặp nhau trao đổi tâm tình, ôn lại cảnh cũ người xưa, chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu, hạnh phúc trăm năm đến với nhau.

Ai ai cũng hái lộc cầu may, xin xâm cầu tài, xem tướng, xem bói để biết thời vận hên xui, tương lai may rủi đến với mình. Mọi người đều hân hoan với niềm hy vọng tràn đầy:

Du Xuân lễ Phật đầu năm

Lên Chùa Lễ Phật xin xâm cầu tài

Nguyện cầu Phật Tổ Như Lai

Phù hộ thân quyến trong ngoài bình an.

Và tôi cũng luôn luôn nhớ đến quê tôi, mỗi độ xuân về :

Quê tôi có gió bốn mùa

Có trăng giữa tháng, có Chùa quanh năm

Chuông kêu, gió sớm, trăng rằm

Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi

Lâu ngày tôi bỏ quê tôi

Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi, bỏ Chùa

Đem thân đi với giang hồ

Trên đường phẳng lặng, bến đò lênh đênh.

C)-MÚA LÂN - MÚA RỒNG :

Theo một số tư liệu có tính khảo cứu, người ta cho rằng múa lân ra đời rất sớm, có thể nói là từ lúc mà người nguyên thủy có tục lệ thờ cúng vật tổ. Căn cứ vào hình thù quái dị của chiếc đầu lân thì có thể là một hình tượng nghệ thuật được thêu dệt lên từ trí tưởng tượng của người xưa. Đầu lân được sơn vẽ đủ các mầu : xanh, đỏ, tím, vàng, đen, ...cái sừng nhô lên như sừng con tê giàc ở phía gáy nó. Cái mũi rất to nhô lên. Khắp trên trán, trên má, người ta đính những chiếc gương nhỏ ...

Người mang đầu lân là một nhân vật chính, kèm theo là người cầm đuôi, để rồi cả hai tuỳ theo nhịp trống, thanh la mà uốn lượn, khi lồng lên, khi giương oai, khi thu mình để nghỉ,..Hàm dươi của lân có rất nhiều râu và râu dài. Cái miệng lúc nào cũng hớp hớp theo nhịp trống ....

Đặc biệt trong múa lân có một nhân vật rất kỳ lạ, gọi là ông Địa, mặt to, tai lớn, bụng phệ, cười rất vui, một tay dương cao cây gậy trên có quả cầu, một tay phe phẩy chiếc quạt giấy. Có người cho rằng ông Địa là một nhân vật biểu hiện của niềm lạc quan, yêu đời, vui vẻ. Có người lại cho rằng ông Địa phản ảnh ước mơ của người xưa muốn thông qua vật tổ của mình để chinh phục thiên nhiên.

Trong dịp Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu thường có tổ chức múa lân “Tùng xoèng, tùng xoèng..”đội múa lân đi đến đâu, phố phường, làng xóm nhộn nhịp đến đó, trẻ em, người lớn đổ ra xem, thật là nhộn nhịp trong những ngày vui xuân.

Bây giờ ở các thành phố vào những ngày Tết, hay Trung Thu, cả những ngày khai trương cửa hàng cũng mời các đội múa lân đến múa, các hiệu buôn tuỳ theo khả năng mà treo giải lớn, nhỏ, có chủ hiệu treo giải cực to để lấy tiếng và quảng cáo. Thường lân đến múa nơi nào thì nơi đó có đốt pháo, hoặc do chính đội lân mang pháo đến đốt.

Múa Rồng là điệu múa của một số nước phương Đông, nhưng ở Việt Nam điệu múa này có bản sắc riêng. Người Hoa ở nước ta rất thích múa Rồng. Hình con rồng Việt Nam thân dài, uyển chuyển uốn khúc như thân rắn, nhưng có nguồn gốc từ hình cá sấu. Việt Nam là xứ sở nông nghiệp, trồng lúa nước lâu đời, nên rất thích rồng vì nó là biểu tượng của vị thần làm ra nước, sấm chớp, để luá má tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nẩy nở. Vì vậy múa rồng rất phổ biến trong dân gian.

Hính con rồng ta thường thấy trong các đội múa ngày nay mang dáng dấp con rồng truyền thống, là con rồng của thời Lý, Trần (1009-1400). Thân của những con rồng này dài, mềm mại, có vây, vẩy, dọc lưng đến đuôi có hàng gai. Hình rồng được làm bằng vải mầu vàng, vẩy, vẽ bằng mầu đen, mắt cũng mầu đen. Thường có 8 người đội hình rồng : Một người đội đầu, sắu người đội thân và một người đội đuôi. Những người này múa theo nhịp trống dân gian

D)-THẢ DIỀU :

Chơi thả diều là một thú tao nhã,và có rất nhiều người rất thích thú, say mê và còn thi đua làm diều. Diều người ta chế ra nhiều loại : Diều sáo, diều cánh phản, diều chuồn chuồn.....theo sử liệu diều có từ lâu đời. Nhưng có tài liệu nói nguồn gốc chơi diều ở Trung Quốc và một số nước Tây phương.

Ngoài Bắc có câu ca dao :

Cầm dây cho chắc,
Lúc lác cho đều,
Để bố đâm diều,
Kiếm gạo con ăn,

Còn thi sĩ Tản Đà thì không quên được cánh diều :

Nước gợn sông Đà con cá nhẩy,
Mây trùm non Tản cái diều bay,

Con diều thật là một giống chim thuộc bộ cắt, họ Ưng chuyên ăn thịt, Ở nước ta có khoảng 20 loài của họ Ưng. Từ diều trắng, diều lửa, diều hâu, đến kên kên, ...Diều ta thường thấy mầu hung, cánh đen, bụng đỏ nhạt, mắt rất tinh, chân đầy móng sắc, các con thú nhỏ như chim, chuột, gà con, vịt con, đều là mồi ngon của diều. Diều bay lượn rất đẹp và có tốc độ cao, từ 70 đến 80 cây số giờ.

Trong dịp Hội đình làng tháng ba năm 1998 tôi có về thăm quê và dự “Đại Hội Truyền Thống Đình Làng” trong dịp này tôi cũng vui chơi với một số các cụ và dân làng đi thả diều đây là một dịp tôi hồi tưởng lại cái thú vui xuân của thời kỳ thơ ấu, Nghề chơi diều có sức lôi cuốn ghê gướm và cũng lắm công phu. Ở Pháp có liên đoàn chơi diều gồm 6 hiệp hội với khoảng 600 thành viên.

Trên đây tôi chỉ tưởng nhớ lại một số trò chơi tao nhã và thú vị theo sở thích của tôi lúc còn thiếu thời sống trong cảnh thanh bình, thịnh vượng xưa kia ở tại quê nhà, ngoài các trò chơi trên còn nhiều môn chơi khác như : Đánh đu, leo cầu thùm, đấu vật, các cụ thì tổ tôm, tài bàn, xóc đĩa, chắn cạ...đấu võ. Võ nghệ cũng rất quan trọng đối với nhân dân ta. Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam ta vốn có truyền thống thượng võ. Võ được xếp ngang hàng với văn chương.

Theo truyền thống từ ngàn xưa của thời thanh bình nơi quê tôi, quả thực vô cùng thích thú với tuổi thanh xuân. Một năm các cụ trong dân gian có tám cái Tết, tôi xin ghi lại đây để truyền bá lại cho các thế hệ mai sau biết về truyền thống văn hoá cua dân tộc mình. Dù ngày nay người Việt Nam sống ở bất cứ thời gian hay không gian nào cũng cần phải biết đến truyền thống nòi giống của dân gian từ bao đời để lại.

Tết Nguyên Đán là tết khởi đầu của một năm. Ý nghĩa tôi đã dẫn giải nêu trên, bây giờ xin quí độc giả hãy cùng tôi điểm sơ lược về ý nghĩa và mục dích của các ngày Tết tiếp theo trong năm :

2)-TẾT HÀN THỰC :

Tết Hàn Thực (Hàn thực nghĩa là ăn đồ lạnh) được tổ chức vào ngày 3 tháng 3 âm lịch mỗi năm. Trong dịp này người ta nấu bánh trôi, bánh chay để cúng gia tiên. Ta du nhập tục lệ này của người Trung Hoa. Người Trung Hoa tổ chức Tết Hàn Thực (ngày không đốt lửa, không có lửa thì tức là không nấu nướng, nên dùng đồ ăn nấu sẵn từ ngày hôm trước) để kỷ niệm vị công thần tên là Giới Tử Thôi (thường gọi tát là Giới Tử) thuộc nhà Tần đời Xuân Thu bị chết thiêu.

3)-TẾT THANH MINH :

Tết Thanh Minh được tổ chức vào tháng 3 âm lịch hàng năm. Thanh Minh nghĩa là tiết trời mát mẻ trong sáng, không mưa, không nắng. Trong dịp này người ta đi tảo mộ, tức là thăm mộ thân nhân, nhổ sạch cỏ hoang, đáp lại mộ Ông Bà gia tiên nội ngoại, thân bằng quyến thuộc đã quá vãng. Thắp nhang bày hoa quả cúng mộ. Sau khi tảo mộ, người ta về nhà làm cỗ cúng gia tiên. Trong những tài liệu nói về phong tục Việt, người ta không đề rõ ngày nào là ngày thanh minh. Nguyễn Du cũng chỉ nói : Thanh Minh trong tiết tháng ba – Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh (Kiều câu 43-44)-. Thanh Minh vừa là ngày Tết và vừa là ngày lễ hội vui như ngày Tết. Chính vì thế người ta mới coi ngày Thanh Minh như ngày Tết. Tuy nhiên theo lịch ta, nhà làm lịch đã tuỳ theo thời tiết để ấn định ngày nào là ngày Thanh Minh. Mỗi năm có ngày Thanh Minh khác nhau.

4)-TẾT ĐOAN NGỌ (VÀO NGÀY 5 THÁNG 5 ÂM LICH).

Tết Đoan Ngọ hay Đoan Dương mà người ta còn gọi Tết giết sâu bọ, được tổ chức vào ngày 5 tháng 5 ta. Trước ngày Tết này độ 3 ngày người ta làm rượu nếp để cúng và ăn vào sáng ngày 5 Tết. Đây là món ăn tiêu biểu cho ngày Tết Đoan Ngọ của Việt Nam ta để “giết sâu bọ”. Ngoài ra dân ta còn nấu bánh đa kê và mua các trái cây như mận, xoài, dưa hấu, chanh,...để cúng gia tiên và cho các trẻ con và người lớn ăn để “giết sâu bọ”. Sáng ngày 5 mọi người đi hái lá cây như lá cối xay, và lá vối đem phơi khô nấu nước uống để trừ bệnh hoạn. Trong dịp này nhiều người còn mua bùa đeo vào cổ cho trẻ con để trừ tà ma nữa.

5)-TẾT TRUNG NGUYÊN :

Tết Trung Nguyên được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 ta. Tết này còn được gọi là Tết rằm tháng bẩy, “Lễ Vu Lan. Mùa báo hiếu”, ngày nhớ ơn sinh thành của Ông, Bà, tổ tiến đã quá vãng và cha mẹ hiện tiền, cũng là ngày cúng các cô hồn và xá tội vong nhân.

6)-TẾT TRUNG THU :

Tết Trung Thu được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 ta. Tết này còn được gọi là Tết Rằm Tháng Tám, Tết Nhi Đồng, hay Tết trẻ em. Vào đêm rằm tháng tám trăng Trung Thu rất tròn và trong sáng tỏ rõ, thời tiết mát mẻ, khí hậu ôn hoà. Trong dịp này có nhiều thú vui để cho trẻ em và người lớn hoà nhịp chung vui. Trẻ em thì rước đèn, ca hát các bài hát Trung Thu, và vui hưởng bánh kẹo (đặc biệt loại bánh Trung Thu, như bánh nướng, bánh dẻo, chỉ ngày Tết Trung Thu mới có) cùng các thứ trái cây do cha mẹ bầy ở ngoài sân trong đêm Trung Thu dưới hình thức mâm cỗ. Theo tục lệ, việc trẻ con thưởng thức bánh kẹo trái cây này được gọi là “phá cỗ”. Người lớn thì tổ chức các đội muá lân, múa rồng (như tôi đã nói ở mục Tết Nguyên Đán) nêu trên. ăn bánh Trung Thu, uống nước trà tầu thưởng trăng, ngám trăng, sao để tiên đoán được thời tiết và vận mệnh của đất nước trong năm.

Tết Trung Thu trăng tròn vằng vặc,
Nhớ mẹ cha canh cách bên lòng”
“Cha còn như ngọn đèn trong,
Mẹ còn như ánh trăng rằm Trung Thu

7)-TẾT TRÙNG CỬU : (Tết được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 ta).

Tết Trùng cửu còn gọi là Tết Trùng Dương được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 ta (số 9 là số Dương). Tết này lấy sự tích từ câu chuyện lánh nạn của Hoàng Cảnh, đời Hậu Hán bên Tầu, Hoàng Cảnh theo học đạo tiên với Phi Trường Phòng, một hôm Phi Trường Phòng bảo Hoàng Cảnh là đến ngày 9 tháng 9, gia đình của anh ta sẽ gạp tai nạn. Muốn tránh nạn thì cả nhà phải đi lên núi chơi vào ngày hôm ấy, nhớ mang theo rượu hoa cúc để uống, phải đeo ở tay mỗi người một túi đỏ để đựng hạt tiêu và ở chơi trên núi cao tối mới trở về. Quả thực tối mọi người trở về đến nhà thì thấy các gia súc đều chết hết. Chính vì sự tích này mà Tết Trùng Cửu, người ta có tục bỏ nhà lên núi uống rượu cúc. Sau này không ai tổ chức Tết Trùng Cửu, vì nó hoàn toàn theo tục lệ của người Tầu. Tuy nhiên, các tao nhân mạc khách thường mượn dịp này lên núi uống rượu làm thơ.

8)-TẾT TRÙNG THẬP : (song thập vào ngày 10 tháng 10 ta)

Tết Trùng thập là tết được tổ chức vào ngày 10 tháng 10 ta. Tết này cũng là tết của người Tầu, (hiện nay ở Đài Loan vẫn tổ chức Tết song thập) ít được người Việt mình theo. Chỉ có các nhà đồng cốt (người lên đồng bóng) và các thầy thuốc ta còn theo phong tục này. Ở nhà quê cũng có một số nơi người Việt ta ăn Tết Trùng Thập, Người ta thường làm bánh dầy và chè kho để cúng gia tiên và cúng thần trong dịp Tết Trùng Thập.. Có nơi ăn Tết Trùng Thập vào ngày 31 tháng 10 để nhớ đến công Tiên Nông và để ăn mừng công việc thu hoạch vụ mùa đã xong.

9)-TẾT TÁO QUÂN : (ngày 23 tháng 12 (chạp) hàng năm)

Tết Táo Quân (Táo Quân là vua bếp) được tổ chức vào ngày 23 tháng chạp (tháng 12) ta. theo tục truyền ngày ấy vua bếp lên chầu “Ngọc Hoàng Thượng Đế” để tâu việc thiện ác của trần gian. Vì thế người ta làm lễ tiễn Táo Quân vào ngày đó. Ở quê tôi thời xưa nhà nào cũng thay mấy ông đầu rau bếp cũ đem liệng xuống ao, hồ và thay thế các ông đầu rau mới thường làm bằng đất xét. Mỗi bếp có 3 ông đầu rau (là một khối gạch nung, được nặn với hình thể riêng biệt dùng cho nhà bếp, khối gạch này phía dưới đáy phẳng và lớn, phía trên thì cong, nhỏ lại và xéo để vừa vặn ăn khớp với đáy nồi, người ta xếp ba ông đầu rau ở ba phía, giữa là khoảng trống để đốt rơm hay củi mà nấu nướng) Trong lễ cúng ngoài các phẩm vật, cỗ bàn thường lệ ra còn phải có con cá chép để làm ngựa cho Táo Quân cưỡi về trời. để tâu Ngọc Hoàng như:

Khởi tấu Ngọc Hoàng, Thần Táo sức sống, Đến năm đúng ngày. Hai ba tháng chạp, Khẩn đầu trước bệ, Trình tấu mọi bề, Chuyện ở trần gian..........

Trên đây là các ngày Tết của một năm, khởi đầu là Tết Nguyên Đán. ./.


Tác giả Nguyễn Đức Can

TẾT VÀ MÙA XUÂN DÂN TỘC

Như vậy là chỉ còn hơn một tuần lễ nữa là đến Tết Nguyên Đán năm Tân Mão 2011, một cái Tết đến sớm hơn mọi năm có lẽ vì năm nay không có năm nhuận, nghĩa là không có 13 tháng. Thế nhưng, do hoàn cảnh sống tha hương nơi đất khách quê người, bầu không khí Tết chỉ bàng bạc đâu đây, các gia đình người Việt nam chỉ âm thầm chuẩn bị đón Tết khác hẳn với những cái Tết được chuẩn bị chu đáo rộn ràng, nhộn nhịp những năm nào nơi Quê nhà.

Tất nhiên, dù phải vui Xuân đón Tết trong âm thầm, lặng lẽ, gia đình nào cũng cố gắng chuẩn bị mua những đòn bánh chưng, bánh tét, dăm ba hộp bánh mứt thập cẩm, có đủ loại mứt gừng, mứt dừa, hạt sen và không thiếu hạt dưa đỏ mầu như xác pháo, một cặp dưa hấu và những chậu bông cúc vàng tươi trang hoàng trong những ngày Tết.

Đối với nhiều gia đình còn Ông Bà Cha Mẹ và còn tha thiết bảo tồn những phong tục tập quán của ngày Tết cổ truyền, thì thường có những chuẩn bị chu đáo hơn, như dọn dẹp nhà cửa, trang hoàng bàn thờ đón rước tổ tiên về ăn Tết, cúng giao thừa, mua trước những bao mầu đỏ tươi đề lì xì lấy hên đầu năm cho con cháu xa gần tụ họp về ăn Tết. Những ngày xum họp gia đình vui xuân đón Tết , thường không đúng những này Tết mà phải xum họp vào những ngày cuối tuần gần những ngày Tết nhất. Bởi vì, trong những ngày Tết, nhiều người vẫn phải đi làm việc, không muốn nghỉ vì sợ ảnh hưởng đến công việc làm ăn sinh sống.

Đối với Cộng Đồng, các đoàn thể xã hội, tôn giáo, hàng năm đều có tổ chức các Hội Chợ để gây quỹ thực hiện các chương trình phúc lợi cho Cộng Đồng hay đoàn thể, tôn giáo mình. Đồng thời cũng là dịp cho đồng hương tụ tập vui xuân đón Tết, qua đó bảo tồn một truyền thống văn hoa tốt đẹp của dân tộc.

Thực ra, truyền thống ăn Tết của dân tộc ta xuất phát từ người Trung Hoa sau hàng ngàn năm đô hộ dân ta. Mặc dù ý đồ đồng hoá dân ta không thành, nhưng ít nhiều đã ảnh hưởng được về mặt văn hoá, với một số phong tục tập quán của người Trung Hoa đã thẩm nhập được vào đời sống Việt tộc. Như vậy truyền thống Tết không xuất phát từ dân tộc Việt, nên đã có ý kiến đề nghị hay là Việt Nam nên chuyển đổi ngày Tết theo Dương Lịch cho tiện dụng và phù hợp với thời đại toàn cầu hoá hiện nay. Chúng ta chỉ chuyển đổi thời gian, nhưng vẫn giữ lại những phong tục tập quán tốt đẹp của những ngày Tết cổ truyền y như những ngày Tết Nguyên Đán theo Âm Lịch. Nếu có sự chuyển đổi được những ngày Tết cổ truyền theo Dương Lịch, không những tiện lợi thích dụng về mặt thực tiễn, mà còn nói lên ý nghĩa độc lập tự chủ của dân tộc ta trước họa xâm lăng thường trực và ý đồ muốn đồng hoá dân tộc ta của ngoại bang Phương Bắc, có biên giới lãnh thỗ cận kề.

Hiểm hoạ xâm lược đất đai và ý đồ đồng hoá dân tộc ta không chỉ ở quá khứ lịch sử, mà hiện tại vẫn đã và đang trở thành một quốc nạn có nguy cơ trước tham vọng của nhà cầm quyền Bắc Kinh muốn thực hiện chủ nghĩa thực dân đại Hán. Nguy cơ này đã là sự thật khi Trung quốc ngang nhiên cưỡng chiếm hầu hết các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam. Hành động xâm lược trắng trợn này nhà cầm quyền Bắ Kinh lại được tiếp tay hay chỉ phản ứng yếu ớt, chiếu lệ của nội thù là tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam.

Sự thật là trong quá khứ xa gần, Cộng đảng Việt nam đã có những hành vi cắt đất nhượng biển cho Trung Cộng như cái giá tìm sự bảo hộ của ngoại bang để củng cố quyền thống độc tôn, độc quyền và độc tài toàn trị. Nguy cơ này vẫn tồn tại và gia tăng sau khi đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại Hội XI khẳng định tiếp tục thống trị nhân dân y như quan thầy Trung cộng mà không dám đưa ra một kế sách nào gián chỉ sự xâm lăng của Trung cộng. Nghĩa là về chủ trương, chính sách cai trị căn bản vẫn bắt chước Tàu cộng, là “Tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội” bằng con đường làm ăn “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục nắm giữ độc quyền thống trị, không chấp nhận dân chủ đa nguyên, đa đảng… Chủ trương chính sách cai trị này vẫn học từ quan thầy Trung Quốc, dù trái với ý nguyện của nhân dân, và là tai hoạ cho đất nước trong nhiều thập niên qua, để lại di hại nghiêm trọng, toàn diện, lâu dài cho đất nước và dân tộc mai hậu.

Chính vì vậy mà đã 35 mùa xuân qua, người Việt hải ngoại cũng như đồng bào trong nước đã không có sự chọn lựa nào khác, là phải kiên trì đấu tranh dưới mọi hình thức, bằng mọi phương cách, trong mọi điều kiện khó khăn cách mấy, nhằm tiêu diệt nội thù cộng sản Việt Nam, để giành quyền dân chủ và độc lập tư chủ cho dân tộc, hầu tạo dựng những mùa xuân trọn vẹn cho quốc dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước.

Bởi vì, ngày nào đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm độc quyền thống trị, cấu kết với ngoại bang, ngày đó chưa có Mùa Xuân Dân Tộc, hiểm hoạ xâm lăng đất nứơc và đồng hoá dân tộc Việt của kẻ ngoại thù Phương Bắc vẫn còn là nguy cơ; Nhân dân Việt Nam không thể có tự do, ấm no, hạnh phúc và không có điều kiện để vui xuân đón Tết trọn vẹn như thực tế hiện nay tại Quê Mẹ Việt Nam đang phải sống dưới ách độc tài toàn trị, độc quyền áp bức bóc lột của một thiểu số 3.6 triệu cán bộ đảng viên cộng sản trên hơn 80 triệu nhân dân Việt Nam.

Thiện Ý

Houston, ngày 24 tháng 1 năm 2011

Lê Ðức Thúy ăn, cả nước nhục

Ông Lê Ðức Thúy bỗng dưng nổi tiếng. Các tờ báo ở Úc Châu (Australia) đang nêu tên ông. Kể từ bây giờ khắp thế giới phải biết tên ông, và biết chuyện con ông đã được cấp học bổng đi dùi mài kinh sử ở Ðại Học Durham bên Anh Quốc. Nhiều người Việt Nam đang ở Úc cảm thấy nhục khi bạn bè hỏi về chuyện này.

Nhưng ở Việt Nam thì ông Lê Ðức Thúy đã nổi tiếng từ lâu. Năm 2006 ông đã nổi tiếng vì xin “trả lại” một ngôi nhà mặt tiền cho nhà nước, và được chấp thuận ngay. Ông có gốc lớn; từng là “trợ lý” cho Tổng Bí Thư Ðỗ Mười, trước khi lên làm thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam từ năm 1999, kế vị ông Nguyễn Tấn Dũng (chuyện có thật, ông Nguyễn Tấn Dũng cũng từng làm thống đốc Ngân Hàng Trung Ương nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa). Ðến năm 2007 ông mới mất chức thống đốc nhưng sang tháng 3 năm sau, ông lại được Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm làm chủ tịch Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia, chức to hơn nhưng phần ăn uống bị giảm.

Ông Lê Ðức Thúy là một ủy viên Trung Ương Ðảng hai khóa, đến khóa 11 này thì ngưng, cho nên không bị sóng gió xô đẩy trong cuộc tranh hùng giữa Tư Sang và Ba Dũng trước đại hội đảng. Nhưng ông Thúy từng được hưởng rất nhiều quả thực trong thời gian ông Dũng làm thủ tướng. Ðầu năm 2005, theo một nghị định của chính phủ, ông được mua “hóa giá” một ngôi nhà trên đường Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Hóa giá là thủ đoạn biến của công thành của tư theo định hướng xã hội chủ nghĩa). Nhà mặt tiền, diện tích đất gần 80 mét vuông. Các thủ tục hành chính về nhà đất vốn rất rắc rối, phiền phức luôn luôn kéo dài (để cho các quan chức có đủ thời gian nhận quà bánh). Hiện nay hàng triệu người Việt Nam đã sống hàng chục năm trong ngôi nhà mình dựng lên nhưng vẫn không được “cấp sổ đỏ,” tức là chưa được nhà nước công nhận quyền sở hữu, nếu chưa làm đủ những “thủ tục đầu tiên.” Nhưng đối với ông Thúy thì thời gian hóa giá lại chạy quá nhanh. Ngôi nhà này thuộc sở hữu của chính phủ; cho nên trước hết “nhà nước” phải bàn giao căn nhà cho Sở Tài Nguyên Môi Trường Nhà Ðất Hà Nội; sau đó họ mới đem “hóa giá” cho ông Thúy. Từ lúc đầu cho đến khi ông Thúy được “cấp sổ đỏ” chỉ trong vòng 40 ngày. Không những nhanh, lại còn bán rẻ nữa. Giá trị thị trường ngôi nhà có thể lên đến hàng chục tỷ đồng nhưng được định giá khoảng 600 triệu đồng; rồi lại được hưởng nhiều khoản miễn giảm cho nên ông Thúy chỉ phải móc túi trả 476 triệu đồng thôi. Tất cả đều theo định hướng xã hội chủ nghĩa cả.

Ở đời phàm ăn miếng to quá và nuốt vội quá thì thế nào cũng bị nghẹn. Nhân lúc có bàn tay bên trong xùy cho báo chí tung tin vụ Chủ Tịch Thành Phố Hà Nội Hoàng Văn Nghiên bị tố về chuyện mua nhà hóa giá, người ta cũng đem ngôi nhà của ông Lê Ðức Thúy ra bàn. Nuốt chưa được hai năm, Lê Ðức Thúy phải nhả, xin trả lại ngôi nhà Lý Thái Tổ để dùng làm công sở như cũ! (Ông Hoàng Văn Nghiên vốn đã nổi tiếng ở Hà Nội ngang với ông Nguyễn Phú Trọng; qua câu đồng dao cũ: Giầu như Phú, Lú như Trọng, Lật lọng như Nghiên,...)

Nếu chỉ có chuyện nhà đất thì ông Ủy viên Trung Ương Ðảng Lê Ðức Thúy cũng chỉ nổi tiếng trong cái chuồng gà quanh quẩn ở Hà Nội mà thôi. Từ hôm Chủ Nhật vừa rồi, ông Thúy lại nổi danh quốc tế. Nhiều người biết tiếng ông, từ Úc qua Thụy Sĩ, qua Hồng Kông, chỉ vì vụ in tiền Việt Nam bên Úc. Báo chí bên đó đã nêu tên ông Thúy và con trai ông, trong lúc cảnh sát liên bang đang điều tra vụ hối lộ của công ty thuộc Ngân Hàng Trung Ương Úc.

Vụ này ở Việt Nam được gọi là vụ in tiền polymer. Năm 2007, có những lời tố cáo Lê Ðức Thúy đem in tiền bằng polymer vì con trai ông môi giới với nhà in Securency để nhận hoa hồng. Ngày 5 tháng 6, Phó Tổng Thanh Tra Lê Tiến Hào đã nêu danh Lê Ðức Minh, con trai Thống Ðốc Lê Ðức Thúy, làm việc cho công ty Banktech mà “công ty này tham gia quá trình thực hiện bộ tiền mới và cung cấp vật tư, thiết bị cho việc in tiền.” Nhưng đoàn thanh tra không “phát hiện hành vi tham nhũng nào cả.” Báo Tuổi Trẻ viết rằng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “đã yêu cầu thống đốc và các phó thống đốc đề cao tinh thần tự giác phê bình, tổ chức kiểm điểm... có hình thức xử lý nghiêm minh với các trường hợp sai phạm. Ðồng thời đề ra các biện pháp cụ thể để sửa chữa, khắc phục kịp thời, báo cáo kết quả lên” vân vân. Khi một ông thủ tướng cộng sản ra lệnh các quan “đề cao tự giác phê bình, tổ chức kiểm điểm, xử lý nghiêm minh, vân vân ” là coi như chìm xuồng rồi. Nhưng ở Úc, một nước tự do dân chủ cai trị bằng pháp luật thì không cho chìm xuồng dễ dàng như vậy.

Tại Úc cũng như ở Mỹ, có đạo luật cấm các doanh nghiệp không được hối lộ quan chức nước khác để được lợi thế trong việc cạnh tranh. Ðây cũng là một hệ quả của quy tắc tự do cạnh tranh mà WTO muốn các quốc gia phải bảo vệ. Cảnh Sát Liên Bang Úc đã điều tra coi công ty Securency có hối lộ ai ở Việt Nam không. Và bây giờ thì, như nhật báo Người Việt đã loan tin, báo chí bên đó họ loan tin có hối lộ thật!

Nếu cảnh sát Úc đưa vụ này ra tòa thì thế nào tòa án cũng mời ông Lê Ðức Thúy hoặc cả con trai ông qua Úc làm nhân chứng. Ðây sẽ là vụ vi phạm luật cấm hối lộ quan chức ngoại quốc đầu tiên được đem ra xử ở nước Úc. Vinh dự “tiến lên hàng đầu” này là thành tích riêng của cha con ông Lê Ðức Thúy mà cũng là một vinh dự chung cho cả nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Có thể so sánh nó “ngang tầm thời đại” với vụ Viện Công tố Ðịa Phương Tokyo, vào năm 2008, đã mời ông Huỳnh Ngọc Sỹ qua Nhật Bản làm chứng về vụ hối lộ của công ty Tư Vấn Quốc Tế Thái Bình Dương (PCI); khi công ty PCI được trúng thầu tư vấn trong Dự án đại lộ Ðông Tây Sài Gòn. Ông Sỹ đã từ chối vinh dự đó. Tháng 12 năm 2008, chính phủ Nhật tuyên bố đình chỉ các dự án viện trợ ODA cho Việt Nam, một mối nhục có tầm cỡ quốc gia! Mất viện trợ thì Ðảng sẽ mất chỗ làm tiền, cho nên sang năm 2010 ông Sỹ được đưa ra tòa án ở Việt Nam, lãnh bản án chung thân. Phải coi ông Sỹ đã bị hy sinh, như nhiệm vụ của một đảng viên trung kiên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đảng! Ông Nguyễn Phú Trọng từng đậu tiến sĩ triết học ở Liên Xô, chuyên ngành về Triết lý Xây dựng Ðảng; trong trong nhiệm kỳ của ông thế nào ông cũng chiếu cố tới công lao bảo vệ Ðảng của Huỳnh Ngọc Sỹ!

Nhưng số tiền ông Sỹ chấm mút chỉ có vài triệu đô la Mỹ, còn số tiền được báo chí Úc nói ông Lê Ðức Thúy được hưởng lên tới 15 triệu.

Theo các nhà báo lấy nguồn tin từ Cảnh Sát Liên Bang Úc thì người đứng tên nhận những món tiền này tên là Lương Ngọc Anh, và tiền được chuyển qua ngân hàng ở Thụy Sĩ và Hồng Kông. Làm thống đốc một Ngân Hàng Trung Ương thì ông Lê Ðức Thúy phải biết rằng những món tiền được chuyển qua ngân hàng, nhất là chuyển từ nước này sang nước khác, thế nào cũng có dấu vết trong máy vi tính.

Ngoài tội ăn hối lộ thiếu trình độ chuyên nghiệp để bị lộ, có lẽ đảng Cộng Sản Việt Nam còn phải xử lý nội bộ ông Lê Ðức Thúy về tội sơ suất trong nghiệp vụ đến nỗi “tiết lộ bí mật của Ðảng.” Vì ông đã để lại những dấu vết trên các trương mục ngân hàng! Nếu có ai rút tiền từ các trương mục đó đưa cho người khác, thế nào cũng còn dấu vết. Nếu điều tra tận cùng, thế nào người ta cũng biết món tiền 15 triệu Mỹ kim đó được chuyển tiếp sang những trương mục nào khác; tức là tiền bạc được dâng lên những cấp trên nào của ông Thúy, mỗi người bao nhiêu, cấp bậc nào được hưởng bao nhiêu! Tất cả các chứng cớ đó, sau này, khi nước Việt Nam có một chế độ dân chủ tự do, người ta có thể sẽ tìm ra. Danh tính của những người ăn hối lộ đó sẽ còn được lưu trữ trong máy điện thoán các ngân hàng, để lưu danh cho con cháu xem. Ðúng như câu ca: Trăm năm bia đá còn mòn - Ngàn năm bia điện vẫn còn trơ trơ! Xem trong vụ Huỳnh Ngọc Sỹ thì ta thấy trình độ nghiệp vụ của các đảng viên đã được nâng cao rất nhiều: Công ty PCI không ký ngân phiếu cho ông Sỹ. Ðại diện công ty phải đem phong bì đựng tiền, hàng trăm ngàn Mỹ kim tiền mặt, đem đến tận bàn giấy để nộp cho ông Sỹ. Cứ như thế, sau này họ không có bằng cớ nào trên máy điện toán cả! Có như vậy Huỳnh Ngọc Sỹ mới thật là một đảng viên chân chính!

Trong những ngày tháng tới, Cảnh Sát Liên Bang Úc có thể sẽ tiếp tục điều tra các nhà quản trị công ty Securency. Họ có thể sẽ mời các quan chức cộng sản Việt Nam sang làm chứng. Báo chí Úc sẽ tiếp tục loan tin từng bước kết quả cuộc điều tra. Dư luận bên Úc sẽ theo dõi chuyện này trong cả năm chưa chắc đã hết. Tuy nhiên, đảng Cộng Sản Việt Nam phải rút ra một bài học kinh nghiệm, không nên tái diễn một trò đã thử dùng trong vụ Huỳnh Ngọc Sỹ. Ðó là trò “dậy khôn” một chính phủ nước khác về cách “quản lý báo chí.”

Sau khi Nhật Bản mời ông Sỹ sang Nhật làm chứng, tháng 8 năm 2008, Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam tên là Hồ Xuân Sơn tuyên bố trâng trâng rằng: “Việt Nam đã đề nghị phía Nhật Bản trong khi vụ việc đang được điều tra, chưa có kết luận cuối cùng thì các cơ quan truyền thông đại chúng của hai nước đều không nên đưa tin, đăng bài về việc này.” Ông Hồ xuân Sơn không biết rằng ở một nước tự do như Nhật Bản, họ không có một chức quan cho ông Tô Huy Rứa hay Ðinh Thế Huynh, để được phép ra lệnh cho các báo phải nói gì! Ở Việt Nam, sau khi báo Tuổi Trẻ loan tin một đại biểu Quốc Hội yêu cầu “lập ủy ban điều tra vụ Vinashin,” chỉ cần ban Tuyên Huấn kêu các cán bộ làm báo đến “làm việc” một buổi, ngày hôm sau các báo loan tin ngược chiều lại, xóa hết những điều đăng hôm trước! Không nên có thêm một Hồ Xuân Sơn lên lớp dậy dân Úc Châu phải học tập đường lối chuyên chính vô học, bóp nghẹt báo chí! Cán bộ ăn cắp của công, trâng tráo đòi tiền hối lộ, để cả nước Nhật người ta biết, báo chí người ta yêu cầu đừng phí tiền đi viện trợ cho một đám tham quan ăn; đó đã là một mối nhục lớn. Lại còn mách nước chính phủ Nhật Bản áp dụng chính sách ngu dân bịt miệng báo chí, để cả nước người ta biết nhà báo nước mình không có tự do; lại càng nhục hơn nữa! Hai nỗi nhục này đến bao giờ mới rửa sạch?

Nhưng không biết đảng Cộng Sản Việt Nam có chịu rút lấy bài học kinh nghiệm trên đây mà thay đổi hay không. Người ta chỉ có thể tiếp nhận được bài học này mà thay đổi nếu họ cũng cảm thấy có một mối nhục thấm thía, lo lắng cho con cháu sau này sẽ bị nhục lây. Nếu người ta đã hít thở trong không khí “văn hóa mặt dầy” lâu năm thì có khi họ không còn biết thế nào là hổ thẹn nữa! Một người bạn mới gửi cho chúng tôi 10 chuyện lạ ở Việt Nam năm 2010. Xin kể lại hai chuyện đầu:

1. Một số quan chức ở tỉnh Bình Thuận giả danh “lâm tặc,” những kẻ đốn cây lậu, để được cấp đất rừng, gọi là đất “hoàn lương.” Ông Phan Dũng, giám đốc Sở Kế Hoạch Ðầu Tư tỉnh, cùng vợ là hai trong số các “lâm tặc” được cấp đất “hoàn lương” nhiều nhất.

2. Mừng đại lễ 1,000 năm Thăng Long, chính quyền quận Hà Ðông (thuộc Hà Nội) đã chặt toàn bộ cây xanh lâu năm ở hai bên quốc lộ 6 đoạn qua Hà Ðông để trồng mới 1,000 cây sao đen con với kinh phí 6 tỉ đồng. Ở đâu moi ra tiền là có mặt các chiến sĩ cộng sản!

Không có gì bảo đảm là các lãnh tụ cộng sản còn giữ được khả năng biết hổ thẹn (Tu Ố chi tâm), mà Mạnh Tử coi là đầu mối của đạo Nghĩa!

Ngô Nhân Dụng

Bài Xem Nhiều