We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 31 January 2011

LỊCH SỬ PHÁN XÉT



(Trình bày trong Lễ Tưởng niệm do Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Ontario

tổ chức tại Toronto ngày 29-1-2011)



Trần Vă
n Hương sinh năm 1902 tại làng Long Hồ, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Tuy gia đình khó khăn, nhưng nhờ học giỏi, nên sau khi đỗ bằng thành chung (diplôme d'études primaries supérieures indochinoises) tại trường Trung học Mỹ Tho, ông ra Hà Nội theo học trường Cao đẳng Sư phạm. Sauk hi tốt nghiệp, ông trở về dạy tại Trung học Mỹ Tho, rồi làm đốc học Tây Ninh năm 1945. Khi Việt Minh (VM) cướp chính quyền, VM cử ông Hương làm chủ tịch Ủy ban hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh, nhưng chỉ trong thời gian ngắn, ông từ chức, không hợp tác với VM và cũng không hợp tác với Pháp. Sau đó, Trần Văn Hương đến Sài Gòn sinh sống, bán thuốc cho “Pharmacie Kim Quan”, gần chợ Bến Thành. (Tài liệu của Hứa Hoành)



Sự nghiệp chính trị của Trần Văn Hương có thể tóm lược như sau:




- Hai lần làm đô trưởng Sài Gòn. Lần thứ nhất ngày 27-10-1954 dưới thời thủ tướng Ngô Đình Diệm. Lần thứ hai ngày 9-9-1964 dưới thời thủ tướng Nguyễn Khánh.


- Hai lần làm thủ tướng VNCH. Lần thứ nhất, từ ngày 4-11-1964 đến 27-1-1965, dưới thời quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Lần thứ hai làm thủ tướng từ ngày 25-5-1968 đến 1-9-1969 dưới thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trong nền Đệ nhị Cộng hòa.

- Phó tổng thống VNCH. Ngày 29-8-1971, Trần Văn Hương ứng cử phó tổng thống trong liên danh của Nguyễn Văn Thiệu. Liên danh nầy độc diễn, được tuyên bố đắc cử ngày 3-10-1971 và nhận chức ngày 31-10-1971.

- Tổng thống VNCH. Ngày 21-4-1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay theo hiến định.



Khi nhận chức, tổng thống Trần Văn Hương 73 tuổi. Ông biết tình hình đang hết sức khó khăn, hầu như không giải quyết được, nên tổng thống Thiệu phải từ chức. Ngoài ra, tổng thống Hương cũng biết rằng ông chỉ là con cờ đệm; vai trò của ông chỉ có tính cách tạm thời theo hiến định, để chuyển giao cho một nhân vật khác mà lúc đó người ta lầm tưởng là có thể đứng ra thương thuyết với phía CSVN. Đó là đại tướng Dương Văn Minh. Vì vậy, tổng thống Hương trao quyền cho quốc hội quyết định việc chọn lựa người thay thế và tối 27-4-1975, quốc hội quyết định chọn đại tướng Dương Văn Minh lên làm quyền tổng thống VNCH. Cuối cùng, như ai cũng biết, lúc 10 G. 24 phút sáng 30-4-1975, quyền tổng thống Dương Văn Minh đọc nhật lệnh cho QĐVNCH buông súng, ngưng chiến đấu. Thế là hết.




Đúng như Trần Văn Hương nói trước, sau khi cưỡng chiếm miền Nam, CSVN bắt giam vô thời hạn, đày ải hàng triệu quân nhân, công chức lên miền rừng thiêng nước độc. Riêng về phần Trần Văn Hương, CSVN sợ dư luận thế giới, nên đề yên cho ông về sống tại căn nhà cũ của ông trong một con hẻm trên đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn cho đến khi từ trần ngày 27-1-1982, nhằm ngày Mồng 3 Tết Nhâm Tuất, thọ 82 tuổi.




Ngày 30-4-1975 là ngày tang chung của dân tộc Việt Nam, ngày QUỐC HẬN cho cả nước. Trong cái tang chung của đất nước, người Việt Nam, nhất là cựu quân nhân Quân đội VNCH, không bao giờ quên những người đã hy sinh thân mạng, chết theo vận nước đen tối, nhất là những vị tướng lãnh, sĩ quan theo gương của danh tướng Trần Bình Trọng, “thà làm quỷ nước Nam, không thà làm vương đất Bắc”. Nổi tiếng nhất, chúng ta được biết là đại tá Hồ Ngọc Cẩn, chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, chuẩn tướng Lê Văn Hưng, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, thiếu tướng Phạm Văn Phú, chuẩn tướng Trần Văn Hai.




Đại tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24-3-1938, học Trường Thiếu sinh quân Gia Định năm 1951, rồi Liên trường Võ khoa Thủ Đức năm 1961. Rời trường Thủ Đức, chuẩn úy Hồ Ngọc Cẩn học tiếp khóa huấn luyện Biệt Động Quân, và về phục vụ tại Tiểu đoàn 42 BĐQ, thăng dần lên trung úy và làm tiểu đoàn phó TĐ nầy. Lên đại úy năm 1966, Hồ Ngọc Cẩn được chuyển đi làm tiểu đoàn trưởng TĐ 1 Trung đoàn 33, SĐ 21 BB. Sau vụ Tết Mậu Thân (1968), ông thăng thiếu tá, rồi lên trung tá năm 1970. Ông được cử giữ trung đoàn trưởng TĐ 15, SĐ 9 BB. Trong chức vụ nầy, ông đã hành quân giải cứu An Lộc năm 1972. Cuối năm 1973, ông giữ chức tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện.




Khi đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh buông súng, đại tá Hồ Ngọc Cẩn vẫn tiếp tục chiến đấu đến viên đạn cuối cùng tại tiểu khu Chương Thiện. Ông bị CS bắt và đưa ra xử bắn tại Sân vận động Cần Thơ ngày 14-8-1975.




Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ sinh ngày 22-8-1933 tại Sơn Tây, Bắc Việt. Năm 1951, ông theo học khóa 2 Trường Võ Bị Địa Phương ở Huế (đóng ở Đập Đá), và tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy. Dần dần, ông thăng lên thiếu tá năm 1965. Sau cuộc tử thủ An Lộc trong Mùa hè đỏ lửa năm 1972, đại tá Lê Nguyên Vỹ được cử làm tư lệnh phó sư đoàn 21 Bộ Binh, dưới quyền chuẩn tướng Lê Văn Hưng.




Sau đó, đại tá Vỹ được cử đi tu nghiệp khóa chỉ huy và tham mưu cao cấp tại tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Trở về Việt Nam, đại tá Vỹ được thăng chuẩn tướng và giữ chức tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh.




Ngày 30-4-1975, sau khi nghe nhật lệnh của đại tướng Dương Văn Minh, quyền tổng thống VNCH, kêu gọi quân đội buông súng, chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ ra lệnh cho binh sĩ giải tán. Phần ông, ông dùng súng tự sát tại sân cờ Bộ Tư Lệnh SĐ 5 BB ở Lai Khê, Bình Dương.




Chuẩn tướng Lê Văn Hưng sinh ngày 27-3-1933 tại Hóc Môn (Gia Định). Ông tốt nghiệp khóa 5 (khóa Vì Dân) Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức vào tháng 1-1955. Ông rất nổi tiếng trên chiến trường đồng lầy miền tây nam, thăng thiếu tá năm 1966, lên trung tá năm 1967 và đại tá năm 1968. Năm 1970, ông được bổ nhiệm là tỉnh trưởng Phong Dinh (Cần Thơ), rồi tư lệnh Sư đoàn 5 BB năm 1971.




Năm 1972, Lê Văn Hưng cương quyết tử thủ tại An Lộc và cuối cùng đẩy lui cuộc tấn công của CSVN. Ông được thăng chuẩn tướng, giữ chức tư lệnh phó Quân khu III. Năm sau, ông được bổ nhiệm làm tư lệnh SĐ 21 BB, rồi thăng tư lệnh phó Quân đoàn IV, dưới quyền thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Dầu CSVN đã vào đến Sài Gòn, chuẩn tướng Lê Văn Hưng và thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam cố gắng lập mặt trận miền Tây chống CSVN, nhưng thất bại. Lê Văn Hưng dặn dò vợ con, từ biệt thuộc cấp, rồi vào văn phòng tự sát lúc 8G 45 phút tối 30-4-1975.




Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, nguyên quán làng An Cựu, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh tại Đà Nẵng ngày 23-9-1927. Năm 1953, sau khi rời Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, ông gia nhập binh chủng Nhảy Dù tháng 10-1953.




Năm 1965, Nguyễn Khoa Nam thăng thiếu tá và giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 ND. Năm 1967, ông lên trung tá và được bổ nhiệm lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 ND. Cuối năm 1967, ông lên đại tá. Năm 1969, Nguyễn Khoa Nam được chuyển làm tư lệnh Sư đoàn 7 BB. Tháng 11 cùng năm, ông được thăng chuẩn tướng. Năm 1972 Nguyễn Khoa Nam thăng thiếu tướng. Tháng 11-1974, ông được cử giữ chức tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng IV Chiến thuật.




Khi Sài Gòn bị CSVN tràn ngập, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam cùng chuẩn tướng Lê Văn Hưng dự tính lập phòng tuyến chống cộng tại miền Tây, nhưng thất bại. Cuối cùng, trong lễ phục trắng của QĐVNCH, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát tại bộ chỉ huy lúc 7:30 sáng 1-5-1975.




Thiếu tướng Phạm Văn Phú sinh năm 1925, tại Hà Đông, tốt nghiệp khóa 6 Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt năm 1953 và gia nhập binh chủng Nhảy Dù. Trong trận Điện Biên Phủ, ngày 15-4-1954, trung úy Phạm Văn Phú được thăng đại úy tại mặt trận.




Sau trận Điện Biên Phủ, đại úy Phú bị VM cầm tù và được trao trả sau hiệp định Genève (20-7-1954). Đại úy Phú tiếp tục phục vụ trong QĐVNCH. Năm 1962, Phạm Văn Phú thăng thiếu tá, giữ chức Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quan sát 77 Lực lượng Đặc biệt. Năm 1964, ông thăng trung tá, giữ chứ tham mưu trưởng LLĐB. Hai năm sau, ông thăng đại tá và chuyển qua là tư lệnh phó Sư đoàn 2 BB, rồi tư lệnh phó Sư đoàn 1 BB. Năm 1968, đại tá Phú được cử giữ chức tư lệnh Biệt khu 44 gồm các tỉnh biên giới Việt Miên. Năm sau ông được thăng chuẩn tướng. Năm 1970, ông trở về làm tư lệnh LLĐB, rồi làm tư lệnh SĐ 1 BB và thăng thiếu tướng năm 1971. Tháng 11-1974, thiếu tướng Phạm Văn Phú thay tướng Nguyễn Văn Toàn giữ chức tư lệnh Quân đoàn II Vùng II Chiến thuật.




Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ vào tháng 3-1975, ông được lệnh rút quân từ cao nguyên vầ đồng bằng. Cuộc lui quân bị thảm bại. Ngày 29-4-1975, thiếu tướng Phú uống thuốc độc quyên sinh và tuẫn tiết vào trưa hôm sau.




Chuẩn tướng Trần Văn Hai sinh năm 1929 tại Cần Thơ, tốt nghiệp khóa 7 Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt năm 1951, cấp bậc thiếu úy. Năm 1960, đại úy Trần Văn Hai được gởi tu nghiệp khóa Tham mưu cao cấp tại Hoa Kỳ. Năm 1963, ông được thăng thiếu tá, giữ chức chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Dục Mỹ. Năm 1965, ông Hai lên trung tá và làm tỉnh trưởng Phú Yên.




Sau biến cố Tết Mậu Thân (1968), Trần Văn Hai lên đại tá và được cử giữ chức tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia thay thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan. Năm 1970, Trần Văn Hai lên chuẩn tướng và được cử giữ tư lệnh Biệt khu 44, rồi năm sau, làm chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Động Quân. Năm 1972, Trần Văn Hai phụ trách tư lệnh phó hành quân của Quân đoàn II đặc trách biên phòng. Năm 1973. ông trở thành chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn kiêm chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ Quân đoàn II. Năm 1974, ông thay thế thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, làm tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh.




Chiều ngày 30-4-1975, được lệnh của quyền tổng thống Dương Văn Minh, chuẩn tướng Trần Văn Hai cho binh sĩ trở về đời sống dân sự, ông vào phòng chỉ huy ở Mỹ Tho, uống độc dược quyên sinh lúc 5G.




Trên đây là tóm lược sự nghiệp của tổng thống Trần Văn Hương và sáu sĩ quan cao cấp đã tuẫn tiết ngày 30-4-1975. Thật ra, trong suốt cuộc chiến vừa qua, không biết bao nhiêu người đã hy sinh vì lý tưởng tự do dân chủ. Ngay trong ngày 30-4-1975, rất nhiều người đã tuẫn tiết, từ hàng binh lên tới cấp tướng, mà càng ngày người ta càng phát hiện, như mới đây vụ ở Quy Nhơn, ở Huế...




Những vị nầy đã chọn cái chết, hoặc ở lại chịu đựng với đồng đội mà không ra đi khi CS tràn vào, dầu họ có điều kiện để ra đi. Ví dụ trường hợp tổng thống Trần Văn Hương. Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: “Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.”




Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: “Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.” Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu “Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó” (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), , đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau. (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355.).




Đó là tư cách và khẩu khí một tổng thống, một nhà lãnh đạo. Về phía các quân nhân, có lẽ nhiều người đã đọc những bài tường thuật về sự tuẫn tiết của các vị anh hùng nầy. Ở đây, xin nhắc lại những lời cuối cùng của đại tá Hồ Ngọc Cẩn.




Sau khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị bắt tại bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện. Ngày14-8-1975, ông bị CS đưa đi xử tử tại Sân vận động Cần Thơ. Trước khi hành hình, quân CS hỏi ông có nhận tội không, thì đại tá Hồ Ngọc Cẩn trả lời như sau: “Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không hạ nhục các anh như ác anh bôi lọ tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Các anh không có ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phán xét các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, các anh cứ giết đi. Không cần phải bịt mắt.” Sau đó, đại tá Hồ Ngọc Cẩn hô lớn: “Đả đảo cộng sản! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm!” (Theo lời kể của hai nhân chứng: cựu trung tá Bùi Văn Địch (Berlin, Đức) và bà Vũ Thị Quỳnh Chi (Marseille, Pháp).
(đại tá)



Tưởng niệm những anh hùng đã tuẫn tiết ngày 30-4-1975, cũng là cơ hội cho chúng ta ôn lại lịch sử những ngày tháng đen tối trên đất nước chúng ta. Chế độ chúng ta sụp đổ không phải vì lãnh đạo hay vì quân đội chúng ta bất lực hay bất tài như nhiều người đổ lỗi. Phải công bình mà thấy rõ rằng, sau khi người Mỹ và Đồng minh rút quân vào năm 1972, quân đội VNCH đơn độc chiến đấu chống CSVN rất hữu hiệu trong các năm 1972, 1973, 1974 nhờ lúc đó hỏa lực còn đầy đủ. Chỉ khi bị cắt viện trợ, thiếu đạn dược, quân đội VNCH mới bắt đầu lúng túng và thất thế.



Có thể nói chế độ chúng ta bị bức tử từ cả hai thế lực tư bản và CS. Ai cũng biết trong khi Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ, thì CSQT giúp đỡ tối đa cho Bắc Việt để Bắc Việt tấn công chúng ta.



Chúng ta nhìn lại quá khứ không phải để trách cứ quá khứ, hay để đổ tội cho ai, mà nhìn lại quá khứ để từ đó rút ra kinh nghiệm cho tương lai. Sau năm 1975, bản chất độc tài toàn trị, phản dân, bán nước của CSVN đã lộ quá rõ trước mắt toàn dân. Ai ai cũng thấy rõ điều nầy. Ngay cả những cán bộ CS cũng sáng mắt ra vì điều nầy. Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã nói đúng: “Lịch sử sẽ phán xét các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy.”



Ngày nay, tuy chỉ mới hơn 35 năm, LỊCH SỬ ĐÃ PHÁN XÉT. Chân lý đứng về phía lý tưởng Quốc gia Dân tộc. Chân lý đứng về phía Tự do Dân chủ. Bởi vì không bao giờ dân tộc Việt Nam chấp nhận một chế độ phản quốc như chế độ CSVN hiện nay, cam tâm bán đứng đất đai, biển cả mà tiền nhân đã tốn bao nhiêu xương máu tạo dựng và bảo vệ. Trước tình hình hiện nay, xin mọi người hãy rút kinh nghiệm từ quá khứ, để cùng nhau tiếp tục cuộc tranh đấu cho tương lai.



Có người hỏi, thời còn binh hùng tướng mạnh mà chúng ta không thành công, bây giờ làm sao mà tranh đấu? Câu trả lời rất đơn giản: Có người nào muốn CS ngự trị mãi trên đầu trên cổ dân tộc Việt Nam hay không? Nếu không muốn, thì chúng ta phải tiếp tục tranh đấu. Dĩ nhiên cuộc tranh đấu ngày nay không phải bằng võ khí đạn dược, mà bằng văn hóa và chính trị, bằng dân chủ pháp trị. Cuộc tranh đấu bằng văn hóa và chính trị chắc chắn cũng cam go và lâu dài không kém bằng cuộc tranh đấu võ lực trong thời gian trước năm 1975. Có thể còn chậm chạp hơn là đàng khác. Chúng ta phải tiếp tục tranh đấu để làm ngắn bớt đời sống của CSVN, để làm giảm tuổi thọ của CSVN trên quê hương chúng ta. Chuông không gõ không kêu, đường không đi không đến. Đời chúng ta không thành công thì đời con cháu chúng ta sẽ thành công.



Xin tất cả hãy tiếp tay với những người trong nước, đòi hỏi xóa bỏ độc tài, đòi hỏi dân chủ, bởi vì dân chủ là con đường duy nhất để xây dựng tương lai đất nước. Chắc chắn lẽ phải sẽ tất thắng. Chắc chắn dân chủ sẽ tất thắng.



Trên bước đường tranh đấu cho tương lai dân chủ Việt Nam, các Hội Cựu Quân Nhân Hải ngoại giữ một vai trò rất quan trọng, không kém gì quân đội VNCH trước năm 1975. Xin hết lời ca ngợi các Hội CQN Hải ngoại đã giữ lửa trên 35 năm nay. Xin chúc các Hội CQN vững tin nơi chính mình, nơi lý tưởng của mình, đừng mệt mỏi vì đường dài hun hút, đừng chao đảo vì những tuyên truyền xuyên tạc của CSVN. Đồng ý rằng trong cuộc sống mới tại quê hương mới, mọi người đều cần có thời gian thư giản sau những ngày làm lụng mệt nhọc, nhưng bên cạnh những cuộc vui chơi thư giản, xin đừng quên mình là cựu quân nhân, đừng quên mình đã từng mang trên người 6 chữ vàng TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM.



Vâng, 6 chữ vàng TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM là tiếng gọi thiêng liêng cao cả, suốt đời hướng dẫn chúng ta đi tới mục đích cuối cùng, làm tròn nhiệm vụ với đất nước, với sự tin tưởng của quần chúng, với sự hy sinh anh dũng của tiền nhân, nhất là sự hy sinh của những người đã tuẫn tiết ngày 30-4-1975.



TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 29-1-2011)

Đêm Qua Em Mơ Gặp Bác Hồ



Đêm qua trong giấc ngũ chập chờn, tôi thấy có ai đó giống như là ông Hồ, nhưng vì sợ nhận lầm người nên tôi hỏi:

-Thưa cụ, có phải cụ là ông Hồ Chí Minh không ạ?


Ông ấy đáp lại:


- Vâng, tôi là ông Hồ Chí Minh đây.


Tôi lại hỏi tiếp:


- Ôi, sao cụ lại đi lang thang ngoài này? cháu nghĩ là cụ phải đang nằm nghỉ ở trong lăng rồi chứ!


Giọng cay đắng ông ta rít lên:


- Nghỉ thế đéo nào được!


Tôi kinh ngạc:


- Thế, cụ... Cụ bị ốm á?


- Cậu thật vớ vẫn! Tôi chết rồi, thì làm sao mà ốm được!


Ừ nhỉ, ông ấy chết ngõm từ đời nào rồi, thì làm sao mà ốm được! Tôi lại hỏi:


- Thế cụ đang đi đâu đây?


- Tôi đang đi chợ.


Với giọng ngạc nhiên, tôi hỏi lại cho chắc:


- Đi chợ! Cụ... Đi chợ để làm gì!?


- Tôi đi chợ mua ít quà để đi thăm vài người quen đang ở trong tù.


Tôi lại càng ngạc nhiên hơn:


- Cụ đi thăm tù...! Vậy cụ đi thăm ai, vậy cụ?


- Tôi đi thăm mấy người tù lương tâm đang bị chúng nó giam cầm.


- Xin cụ cho cháu hỏi, những người tù lương tâm đó có phải là những anh Cù Huy Hà Vũ, Blogger Điếu Cày hoặc chị Phạm Thanh Nghiên?


- Đúng vậy.


- Thì ra là như vậy. Sao cụ không bảo họ thả hết những người tù nhân lương tâm đó ra để cụ khỏi phải vất vã...


Với một giọng bồi hồi:


- Bây giờ có thằng nào còn nghe tôi đâu mà nói với chúng nó chứ...! Ông cụ nghẹn ngào nói tiếp:


- Ngày xưa, tôi mắc phải cái lỗi lầm lớn vì ngu muội nhất thời mà mang cái chủ nghĩa cộng sản lai căng về nước. Đến lúc gần chết, tôi hối hận vô cùng và có ý định từ bỏ cái chủ nghĩa vô thần này, nhưng chúng nó lờ đi và tước đoạt hết quyền lực của tôi. Sau đó, chúng âm thầm ra lệnh chích thuốc độc vào người tôi để tôi mê man không còn biết gì nữa và dùng tôi làm tấm bình phong để thực hiện ý đồ đen tối của chúng...


Với giọng an ủi tôi nói:


- Cụ ơi, việc này thì ai cũng đã biết hết. Những tội lỗi mà cụ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam, thì đã được ghi vào trong lịch sử rồi. Cháu lấy làm tiếc cho cụ lắm...


Ông cụ oà lên khóc:


- Tôi biết mình là tội đồ của dân tộc vì đã gây ra biết bao nhiêu là đau khổ cho đồng bào. Vì vậy, vào lúc cuối đời, tôi muốn làm một điều gì đó để chuộc lại lỗi lầm, nhưng chúng nó có cho tôi làm đâu... Tôi hối hận lắm cậu ạ... Cậu thấy đó, hồn ma của tôi vẫn còn phải vất vưỡng trên cỏi đời này vì tâm nguyện của tôi vẫn chưa được hoàn thành...


- Thế cụ có báo mộng và nói cho các ông lãnh đạo trong bộ chính trị biết tâm nguyện của cụ chưa?


- Tôi đã nhiều lần hiện về báo mộng khuyên chúng nó nhiều lần lắm rồi, nhưng cái bọn đầu trâu óc lợn này có thèm nghe tôi đâu. Chúng nó nói với tôi rằng: "Ông già đầu hói Minh râu, cái của nợ này là do ông mang về chứ có phải là do bọn tôi làm ra đâu. Bây giờ nó đã trở thành con quỷ dữ rồi, làm sao mà chúng tôi cản nó được?" Cậu thấy đó, chúng nó đã bán linh hồn cho quỷ rồi, làm sao mà tôi khuyên được đây?


Tôi hít một hơi dài, rồi nói:


- Mọi chuyện cũng tại cụ cả thôi. Ai bảo cụ chạy đôn, chạy đáo rước cái của quỷ chủ thuyết cộng sản về làm gì để bây giờ nó đày đọa cả dân tộc mình.


- Tôi biết chứ, vì vậy, tôi đang đau khổ lắm cậu ạ. Tôi có chết thêm hàng trăm ngàn lần cũng không thể nào bù đắp lại những tội ác mà tôi đã gây ra.


- Cụ à, điều quan trọng là cụ đã thấy được lỗi lầm của mình mà sửa sai. Cháu tin tưởng rằng dân tộc Việt Nam của mình vốn giàu lòng nhân ái sẽ tha thứ cho cụ thôi.


- Nếu mà được như vậy, thì tôi sẽ được an ủi một phần nào và linh hồn của tôi sẽ sớm được siêu thoát, nhưng linh hồn của tôi vẫn cần phải tồn tại trên cỏi đời để chứng kiến cái ngày toàn bộ chế độ bạo quyền cộng sản này sụp đổ, thì lúc đó tôi mới thật sự an tâm mà ra đi.


- Cụ cứ yên tâm. Cái ngày đó sẽ không còn xa nữa đâu. Nhất định sẽ có một ngày toàn thể dân tộc mình không còn bị kềm kẹp bởi bạo quyền cộng sản nữa.


- Cám ơn cậu rất nhiều. Không dám làm phiền cậu nữa, tôi phải chạy đi mua sắm ít đồ mang vào tù biếu các nhà đấu tranh dân chủ đây. Cái bọn khốn này, chúng nó cứ hành hạ dân mình mãi thôi!


- Vâng, cháu chào cụ.


Cái bóng ông cụ biến dần vào trong bóng đêm và tôi cũng vừa tỉnh giấc. Thì ra đó chỉ là một giấc mơ! Cái hình ảnh gầy gò và tiều tụy của ông ấy đã làm cho tôi thật sự vô cùng cảm động. Điều mà tôi đã thương hại cho ông ấy, có lẽ không gì đau khổ bằng khi mình đã gây ra tội ác, rồi hối hận cho những việc mình đã làm mà không có cách nào để chuộc lại những lỗi lầm đó.


Lại một cái tết gần đến, không biết các người bạn tù nhân lương tâm đang sống ra sao trong những cái ngục tù âm u đó. Họ sẽ đón một năm mới như thế nào với chung quanh là những bức tường vô cùng cô đơn và lạnh lẽo? Sự dấn thân và cống hiến cho một ngày mai tươi sáng trên quê hương của các bạn sẽ không bao giờ đi vào quên lãng. Tổ quốc và dân tộc Việt Nam mãi mãi ghi nhớ những công ơn của các bạn và tất cả những yêu thương, trìu mến và lòng kính trọng của tôi xin được gửi đến các bạn, những người tù lương tâm của thời đại...


Nông Đức Dân

Hà Giang, người đàn bà hiếm có.

Nghỉ hè ở Mallorca

Sinh ra và lớn lên tại Khánh Hòa, Tuổi Quý Mùi. Mất mẹ lúc 3 tuổi, nên sống với ông bà nội. Lúc nhỏ, theo học tại trường Trung học Văn Hóa và Võ Tánh Nha Trang. Nhập ngũ: Khóa 18 SQ Trừ Bị Thủ Đức. Phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB. Sau tháng 4/75: Đi tù tại các trại tù Nam và Bắc Việt Nam.(Thân sinh cũng bị đi tù và chết trong tù cải tạo vào tháng 6/1976). Vượt biên, định cư tại Vương Quốc Na-Uy từ năm 1984. Đi học và làm việc trong ngành Ngân Hàng Bưu Điện. Về hưu từ đầu năm 2008. Tác phẩm: Ở Cuối Hai Con Đường (2008), Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (sẽ xuất bản)

1-
Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tôi tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.
Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.
Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt. Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. (Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment, mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn). Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.
Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa một nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.
Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô gái tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh và đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.
Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của một người chủ gốc Tàu, thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào và bắt tay chúng tôi. Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi vừa nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:
-Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.
Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:
-Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?
-Sao ông bà biết tên tôi? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.
-Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây - Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người- Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Chúng tôi xin được mời ông bà và cháu Lam Khê.
Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để đánh tan không khí căng thẳng, tôi giải thích:
- Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ ngay đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.
Bà nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn khuôn mặt và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà ta đang ưu tư một điều gì đó.
Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong một mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.
Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của người nào đó: “Hoa lạc giữa rừng gươm”!
Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là các chú và xưng mình là em. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cấm cọc, căng giây. Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.
Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Cô kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.
Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!
Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một lâm trường khác, cách nơi này hơn hai mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lâp gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!
Chúng tôi ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rổ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô, không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật nặng, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!
Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp cô, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho chúng tôi biết, Cộng Sản luôn gài nhiều cái bẫy chung quanh, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luôc, rồi buột miệng hỏi:
-Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?
- Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình - Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời.
Cô trầm ngâm giây lác rồi lên tiếng:
- Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng. Chỉ có những kẻ ngu muội, luôn cúi đầu làm tay sai ngoại bang, mà cứ tưởng là mình đại thắng, để cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chỉ trong các nước Cộng Sản mới có chuyện lạ đời: một lũ ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!
Bọn tôi chỉ im lặng. Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, Cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác.
Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong gần bảy năm tù.

2-
Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy, mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.
Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng cô và đột ngột hỏi tôi:
- Anh còn nhớ anh Đôn không ?
Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:
- Trần Chánh Đôn!
Tôi hỏi lại:
- Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?
Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:
- Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với ba người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam. Họ cho biết là tất cả bốn anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưởng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường, nên em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường. May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ hơn mười ngày là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ. Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và chở che em.
Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa.Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ là sẽ tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.
Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.
Bà xã tôi hỏi:
- Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn?
- Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do: người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói bố mẹ anh đều là thầy giáo, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?
Tôi đưa tay ngăn lời cô:
- Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi cũng đều là người gốc Nha Trang. Tôi có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.
Hà Giang chau mày:
- Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ e-mail để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.
Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, đã không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng ba người bạn tù khác trốn trại, khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn tám tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.
Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn, ở Nha Trang.
Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Nha Trang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nơi khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.
Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:
“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được...“
Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất“, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết.
Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:
“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng và làm trụ trì. Tội nghiệp, ông Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp.“
Tôi viết e-mail cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.
Sáng hôm sau tôi nhận e-mail hồi âm của Hà Giang:
“Anh Chị ơi.
Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân.
Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú.
- Cháu Lâm Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu giông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng l giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm.“

3-
Cuối cùng, vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng cũng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi sống ở Nha Trang khá lâu, lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.
Không ngờ Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.
Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:
...Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động.
Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện thầy bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì thầy nhất định không khai người nào đã giúp thầy cùng ba người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù thầy đã kịp giấu tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà thầy chẳng biết vì sao không chết. Hà Giang ngồi khóc nức nở.
Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa thầy đi sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, thầy cũng chối từ, bảo thầy đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây. Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa.
Đêm cuối cùng ở Nha Trang, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, ở lại một thời gian nữa. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền...
Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, và cuộc tình đẹp và bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu.

Phạm Tín An Ninh

Việt Cộng luôn chú ý đến những TỤ ĐIỂM SINH HOẠT CỦA CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN HẢI NGOẠI, NHẤT LÀ NHỮNG TỤ ĐIỂM VĂN NGHỆ"

Kính báo động



Kính thưa Bà Con Tỵ Nạn Chân Chính khắp nơi;

Chắc nhiều Bà Con cũng đã nghe cả một năm qua (2010) , có nhiều tin đồn rằng TRUNG TÂM THÚY NGA đã bán cho Việt Cộng từ lâu. Không phải là những tin đồn đó là vô căn cứ, không đáng tin cậy.

Nhưng cho đến nay, tin tức THÚY NGA ĐÃ BÁN THÂN CHO VIỆT CỘNG vẫn chưa được chứng minh bằng những bằng chứng cụ thể rõ ràng.

Tuy nhiên đối với cá nhân tôi thì ngay từ những tin sơ khởi được loan truyền báo động thì tôi đã mạnh tin là " Việt Cộng luôn chú ý đến những TỤ ĐIỂM SINH HOẠT CỦA CỘNG ĐỒNG TỴ NẠN HẢI NGOẠI, NHẤT LÀ NHỮNG TỤ ĐIỂM VĂN NGHỆ" để đưa người của chúng len lỏi vào đó nhằm gây ảnh hưởng, lèo lái cái tụ điểm đó. Nếu căn cứ vào sách lược Ngọai Vận của Việt Cộng được thể hiện công khai qua Nghị Quyết 36 thì chúng ta đã thấy mức độ khả tín rất cao của nguồn tin về Thúy Nga đã bán cho Việt Cộng.

Ngoài mục đích của Nghị Quyết 36 ra; chắc bà con khắp nơi cũng đã từng nghe qua chính TÔ VĂN LAI đã ỡm ờ xì ra cái tin là Thúy Nga đã quyết định thay đổi công việc làm ăn, không nói là từ bỏ Thúy Nga Ban Đêm. Nhưng liên tục Thúy Nga đã than phiền sự kiện BĂNG COPY đã bán tràn ngập ở mọi nơi, kể cả trong nước nên Thúy Nga phải đổi sang nghề CHUYỂN HÀNG BẰNG CARGO ... ra vào Việt Nam.

Sự tiết lộ của Tô Văn Lai chỉ là bước dọn đường ... để từ từ Thúy Nga sẽ công khai hóa việc chuyển nhượng Thúy Nga cho Việt Cộng mà Bà Con sẽ biết rất chậm sau nầy thì tự nhiên cảm giác sẽ chai lì một phần nào vì đã nghe từ lâu; sẽ không sửng sốt như khi đột ngột hay tin Thúy Nga bán cho Việt Cộng !

Với một lý do xa hơn, khiến cho có nhiều Bà Con cũng như tôi đều tin nguồn tin Thúy Nga đã bán cho Việt Cộng xong rồi. Chắc quý vị còn nhớ khá lâu, trong chuyến công du Hoa Kỳ TÔN NỮ THỊ NINH là một tai mắt có thớ của Việt Cộng đã thẳng thừng tuyên bố hăm dọa Hải Ngoại là " Chính quyền Việt Cộng sẽ MUA HẾT truyền thông báo chí của Người Tỵ Nạn Hải Ngoại." Lời tuyên bố của TÔN NỮ THỊ NINH đã đi trước Nghị Quyết 36 và các ĐẠI HỘI VIỆT KIỀU mà VC rầm rộ tổ chức mỗi năm ở trong nước.

Với những dấu hiệu tổng quát như đã sơ lược lướt qua ở trên cho thấy chuyện THÚY NGA đã bán cho Việt Cộng , mặc dù đã được chúng bưng bít và tảng lờ ; nhưng nó còn ầm ỉ âm vang trong Cộng Đồng Tỵ Nạn Hải Ngoại của chúng ta, khiến cho chúng ta cần phải quan tâm theo dõi cẩn thận hơn.

Bởi vì nếu Việt Cộng đã mua được THÚY NGA thì coi như chúng đã THIẾT LẬP ĐƯỢC MỘT HẬU CẦN NGAY TẠI HẢI NGOẠI. Từ đó chúng sẽ chỉ huy , điều hành các Ổ ĐẶC CÔNG TÌNH BÁO một cách dễ dàng và nguy hiểm hơn vì chúng đã TRỰC TIẾP ban hành các chỉ thị ngay tại địa phương, không cần phải chờ xin lịnh đâu xa.

Nếu Việt Cộng mua được THÚY NGA thì chúng sẽ lần hồi ĐƯA CÁC VĂN CÔNG ra Hải Ngoại một cách kín đáo và dễ dàng hơn nữa, vì đã có cơ sở để hoạt động do chính chúng điều hành. Chừng đó nhứt định chúng sẽ mua chuộc được nhiều NẰM VÙNG hơn và chiến lược bao vây NGƯỜI VIỆT TY NẠN sẽ được chúng xiết chặt gọng kềm ác liệt hơn nữa.

Tôi viết đơn sơ mấy lời nầy, chỉ với tâm nguyện BÁO ĐỘNG cùng Bà Con Tỵ Nạn chân chính khăp nơi nhằm lưu ý đến NHỮNG NGÓN ĐÒN NGOẠI VẬN CỦA VIỆT CỘNG, cụ thể là Trung Tâm Ca Nhạc THÚY NGA. Nếu quả thật đã lọt vào tay Việt Cộng thì TAI HẠI sẽ lớn lao vô cùng cho đồng bào tỵ nạn chúng ta.

Tôi thành thật nghĩ rằng: Ngày nào Việt Cộng đã công khai hóa viêc chúng sở hữu THÚY NGA thì thời điểm đó chúng đã bám rễ rất sâu trong Cộng Đồng Hải Ngoại rồi. Hiện giờ chúng còn đang mập mờ là vì chúng đang song song ra sức THIẾT LẬP CÁC TỔ TÌNH BÁO TRÁ HÌNH bằng cách gấp rút thành lập CÁC HỘI KINH DOANH VIỆT KIỀU. Như chúng đã hoàn thành ở Melbourne Úc Châu, Thụy Sĩ, Wash.DC; Canada và San Jose mới đây nhứt.

Kính thưa Bà Con;

Sau đây tôi xin đi vào một vài chi tiết mà tôi đã giựt mình nhận thấy trên DVD mới nhứt , số 101 với chủ đề " HẠNH PHÚC ĐẦU NĂM" vừa mới phát hành trước Tết Tân Mão nầy.

1- MÀU MÁU ĐỎ TRÀN NGẬP TRÊN SÂN KHẤU.
Kính xin quý vị cứ mở DVD 101 ra xem thử thì sẽ thấy hay đã thấy rồi ! MÀU ĐỎ đã được chú tâm dàn dựng SUỐT TỪ ĐẦU ĐẾN CUỐI, chứ không phải chỉ hiện ra ở một vài dàn cảnh. Riêng một cảnh mà NHƯ QUỲNH cầm những chiếc đũa để múa hát thì họ đã cố cột dính vào tay NHƯ QUỲNH và các vũ công , mỗi người MỘT TẤM VẢI ĐỎ như những lá cờ VC , chỉ thiếu sao vàng nữa là công khai hóa đủ bộ.

Nhìn vào SÂN KHẤU , bất cứ ai cũng đã nhìn thấy chúng treo các LỒNG ĐÈN MÀU ĐỎ giống hệt như là sân khấu của VIỆT CỘNG hay bắt chước theo lối trang trí rập khuôn của TRUNG CỘNG. Không biết tôi có lầm không ? Nếu không thì hình như trang trí về TÊT CỦA TA thì từ trước tới giờ không ai treo lồng đèn có đúng không bà con ? Lồng đèn là chúng ta chỉ treo vào dịp Trung Thu mà thôi , thưa có phải vậy không quý vị ?!!!

2- CÁC CHI TIẾT PHỤ.

Tôi chú ý thấy TÔ NGỌC THỦY vẫn còn làm việc trong hậu trường. Nhưng riêng TÔ VĂN LAI thì tôi thấy hơi lạ là TÔ VĂN LAI đã ngồi thụt lùi ở mấy hàng ghế sau, lẫn lộn với khán giả thường. Không như từ trước là TÔ VĂN LAI luôn ngồi ở hàng ghế đầu, dành cho các VIP ca ca ??? Có phải TÔ VĂN LAI để lộ cho thấy hắn ta không phải là VIP quan trọng , chủ nhân ông của Thúy Nga nữa chăng ???
Một chi tiết khác là Nguyễn Ngọc Ngạn lại giới thiệu QUANG DŨNG là một ca sĩ được đồng bào Hải Ngoại mến mộ số 1 (dùng chữ gì đó nghe hơi chỏi tai?). Quang Dũng là ca sĩ số 1 của VC thì đúng ! Còn nói QD là ca sĩ số 1 của chung người Việt, nhứt là ở Hải Ngoại thì hoàn toàn là những lời lẽ " BỢ TRỨNG" của NNNgạn. Quang Dũng đã về sống trong nước , đã mở tiệm cà phê kiếm chác và nếu nói đến các CA SĨ GIAO LƯU mà VC thả ra nước ngoài thì QUANG DŨNG chính là đứa giao lưu chính thức hơn cả.

Một chi tiết nhỏ nữa mà người nghe , nếu không phải là khán giả VC thì chắc đã ngạc nhiên không ít khi nghe CAROL KIM dùng chữ "HOÀNH TRÁNG" để mô tả sân khấu Thúy Nga.

Cá nhân tôi khi nghe hai chữ "HOÀNH TRÁNG " tôi tự nghĩ ; vô tình Carol Kim đã nhận xét đúng ý nghĩa xác thật về sân khấu THÚY NGA 101 . Quả là "SÂN KHẤU THÚY NGA BAN ĐÊM 101 RẤT HOÀNH TRÁNG " THEO KIỂU CÁCH TRÌNH BÀY CỦA THÓI QUEN SÂN KHẤU VIỆT CỘNG , nổi bật nhứt là MÀU MÁU ĐỎ TRUYỀN THỐNG CỦA CỘNG SẢN.

Tóm lại tôi chỉ BÁO ĐỘNG CẢNH GIÁC , chứ tôi cũng chưa tìm được bằng chứng gì chắc chắn hơn về tin đồn THUÝ NGA ĐÃ BÁN THÂN CHO VIỆT CỘNG. Tuy nhiên tôi vẫn tin rằng, nếu VC đã mua THÚY NGA thì lần hồi VIỆT CỘNG SẼ LỘ DIỆN theo cách thức hành sự rập khuôn, theo thói quen bất biến của chúng.

Nếu đúng thế thì MÀU MÁU ĐỎ THÚY NGA 101 ... là dấu hiệu khởi đầu dưới bàn tay đạo diễn trực tiếp của Việt Cộng rồi chăng ???

Trân trọng kính báo động ./-

Trần Cao Lãnh
USA
29 Jan 2011

Chuyện Phiếm Năm Mèo

Cái lông mèo mướp thật là dị kỳ. Nó vừa trắng màu lụa, vừa xám màu tro, lại vừa đen xỉn. Khắp mình ba màu ấy trộn lẫn với nhau mà tròn rất nhỏ, hoà hợp lại thành một màu đặc biệt như màu chăn dạ của các chú lính tập. Chỉ ở dưới bụng mới có một mảng lông trắng mềm mềm. Màu mướp ấy trông bẩn, vì đen ngòm ngòm, nhưng chính ra sạch lắm… Hai mắt mèo tròn và quắc như hai hòn bi ve dưới ánh mặt trời. Hắn không có môi, nhưng hắn có mũi đo đỏ, đẹp như môi son hồng của các cô gái đương thì…Hai bên mép có hai hàng ria cứng nhắc như ria làm bằng thép nước… Gã ăn ở thì giờ như một người đúng mực. Ban ngày hắn ngủ hoài, cái dáng mèo nằm, dáng êm, dáng thanh, đẹp biết bao!.. ’ Nhân năm Tân Mão-năm Con Mèo- xin mở đầu bài viết với một đoạn văn trích trong truyện O Chuột của nhà văn Tô Hoài – một cây bút có lối tả chân và nhân cách hoá loài vật thật tài tình và linh động.

Trong 12 con Giáp, Mèo đứng trước Cọp và sau Rồng. Sau Cọp thì dễ hiểu vì cùng loài tương cận vồ mồi ăn thịt. Còn không cánh mà đến trước Rồng thì thất là ngược ngạo khó tin, vì thế các cụ trong Bộ Chính Trị Cộng Sản VN bực mình phải tổ chức 1000 năm Thăng Long để mời Rồng Thiên Triều giáng lâm sớm – nếu không lại học đòi Xứ Cà-Ri thành 1001 năm Thăng long thì kỳ quá!

Dựa theo Tử vi Đông Phương, trong Thập nhị chi gồm 12 con Giáp: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi và Thập Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Qúi. Theo thứ tự 1 Can ghép với 1 Chi thành tên gọi của năm. Như năm 2009 là Kỷ Sửu – 2010 Canh Dần – 2011 Tân Mão. Cứ 12 năm con Giáp cũ trở về và đúng chu kỳ 60 năm sau lại có năm Tân Mão -Ứng theo Tử vi các ông các bà sinh năm Tân Mão 1951 năm nay 61 khá tốt. Qúi ông gặp nhiều may mắn về tiền tài, công danh thành đạt, kinh doanh 1 vốn 4 lời, tranh các chức vụ dân cử vẫn còn nhiều hy vọng. Qúi bà tướng sang và nhàn hạ nhờ vào phúc đức con cái, hơi gặp tiểu hạn rồi cũng qua. Nhưng nên lưu tâm về pháp lý, tránh kiện tụng như gọi Police khi bị các ông bắt nạt hay các ông còn ham vui về VN kiếm bồ nhí, đòi ra toà li dị, chia tài sản…coi chừng tiền mất tật mang. Nên nghe lời các cụ xưa răn dạy ‘dĩ hoà vi qúi’, rồi qúi ông sẽ thức tỉnh ‘ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn’-Đặc biệt các cháu trai sinh Tân Mão năm nay thật là qúi tướng, lớn lên có triển vọng thành Thống Đốc hay Tổng Thống Hoa Kỳ, đừng sợ cứ nhìn ông Obama mà theo. Cháu gái sinh năm nay, tài sắc song hành dễ trở thành Hoa Hậu Hoàn Vũ hay ít nhất cũng là Siêu Sao hay Siêu Em-Si.

12 con Giáp thì Chó và Mèo gần gũi với người nên được yêu qúi hơn-đặc biệt là Mèo Mỹ.

Mèo còn được gọi là Mão, Mẹo hay Miêu. Thân hình thon nhỏ giống hổ, báo, nặng chừng 3 đến 5 ký. Bốn cẳng có móng sắc nhọn, hai tai vểnh, mắt to, tròn và sáng. Hai mép có râu dài, cứng dương ra như cần ăng-ten rà mồi. Đuôi dài để giữ thăng bằng khi chạy nhảy. Thân phủ lồng dầy mềm mại. Việt nam gọi Mèo tùy theo màu lông như: mèo Mun, mèo Bạch, mèo Mướp, mèo Tam thể.. Nhưng ở Mỹ người ta gọi mèo tuỳ theo quốc gia mèo phát xuất như: mèo Âu châu, Ba Tư, Ai Cập, Thổ nhĩ Kỳ, Xiêm La (Thái Lan)… Giống mèo rừng Liberia, lông xám đốm vàng, có lông cằm giống hổ báo - rất qúi hiểm, được xếp vào sách đỏ là động vât cần được bảo tồn vì chỉ còn khoảng 120 con sống rải rác tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. -Theo các nhà khảo cổ Mèo đã xuất hiện 2000 năm trước Công nguyên qua các tượng thần Bastet và nghĩa trang Mèo được khai quật tại Ai Cập.

Mèo tuy có móng sắc nhưng các bà các cô vẫn ưa thích, vì nuôi Mèo không phải bắt chuột, nhưng để làm cảnh hay vuốt ve ôm ấp khi buồn-nhất là nhìn Mèo với những bước đi uyển chuyển, nhịp nhàng ‘cat-walk’ giống các siêu mẫu thì thật hấp dẫn. Nhưng qúi bà lại rất ghét các ông có bệnh ‘mèo chuột’. Ở Việt Nam đi xe đò mang theo Mèo là bị mời xuống sợ xui dễ gây tai nạn. Có lẽ vì thế các bợm nhậu không thích ăn thịt Mèo vì xui, nhưng lại thích đón Xuân với thịt Chó lấy hên rất rôm rả như tại vùng Xóm mới, Gò Vấp, Hố Nai, Gia kiệm và khu nhà ‘Giây thép Chó’gần ngã 3 Ông Tạ…Nhưng bọn cán bộ Cộng sản tham nhũng Việt nam chẳng cần kiêng cữ gì cả, chỉ mong thuộc cấp tặng mình ‘Mèo vàng 999’để tăng thêm lộc mừng Xuân Tân Mão.

Ông bà ta nói rằng: nuôi Mèo già hóa cáo, bỏ vô rừng rồi đêm mò về bắt gà vịt.

Đọc Liễu Trai Chí Dị thấy mèo còn hoá kiếp thành hồ ly, đêm đêm thoát xác biến thành thiếu nữ đẹp mê hồn, dụ dỗ các thư sinh miệt mài kinh sử nơi các lều thơ. Trong Lục súc Tranh Công, vì biết mình yếu thế không thể thi công cùng trâu, ngựa, chó, dê, gà, lợn, nên không thấy Mèo xuất hiện. Nhưng trong truyện Tô Hoài: Mèo oai phong như Ông Ba Mươi, mắt lim dim nằm nơi xó bếp, làm bọn chuột nhắt trốn trong đống củi hết hồn không dám lộ diện. -Có lẽ vì thế mà Mèo và Chuột có mối thù truyền kiếp và sinh ra thù cả Ông Táo.

Truyện xưa kể rằng: vì chuột phá hoại mùa màng dưới trần gian thấu đến tai Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ngài liền truyền lệnh cho Táo Thần sai Mèo hạ giới trừ diệt loại chuột. Từ ngày đó Mèo không còn được hưởng cao lương mỹ vị thiên đình, mà phải ăn món hạ đẳng của giới cùng đinh, nên rất thù Táo Quân, cứ mò vô bếp mà phóng uế lên đầu Ông Táo cho hả giận.

Có câu truyện rất thú vị trong ‘Yết hầu ngữ’ xin tặng riêng các vị lãnh đạo nhà nước Cộng Sản VN để làm bài học ‘Luận cổ suy kim’. Truyện kể: Ngày kia có chị Mèo đi thất thểu, gặp chú Cọp đói ăn, nằm ruồi đậu mép không thèm đuổi, chị bèn hỏi:

- Thân tôi bé nhỏ, thiếu ăn mới gầy ốm, còn chú to xác vùng vẫy khắp nơi thiếu gì đồ ăn mà cũng khốn khổ thế sao ?

Cọp uể oải trả lời:

- Chị biết không, thức ăn của tôi bây giờ không phải thú vật mà là con người. Nhưng nhìn khắp nơi lại không thấy giống người vì đã hoá thành ngợm, vậy tôi biết ăn gì đây ?

Nhưng còn chị đồ ăn là chuột thì đầy rẫy cớ sao lại thiếu ?

Chị Mèo thở dài:

- Chuột trên thế gian này thì nhiều lắm, nhưng bây giờ thế hệ sinh sau đẻ muộn, trí tuệ đỉnh cao, khôn ranh qủi quyệt lắm, nhiều mưu mẹo lại canh gác cẩn mật thì làm sao tôi bắt được chúng!

- À ra thế! Tôi với chị cùng chung số phận! Thôi thì gặp thời thế thế thời phải thế biết sao!”- Nói rồi, Cọp ngao ngán lết đi…

Viết đến đây tôi chợt nhớ đến câu chuyện ‘Con Mèo già dạy Mèo con bài học sống ở đời’ như sau: con Mèo trẻ quần quần mãi, đến tai vểnh, râu giương mà vẫn không chịu buông cứ mãi quần bắt cho được cái đuôi của mình.

Thấy thê con Mèo già mới hỏi:

- Con à! Con làm gì thế? Sao con cứ mãi đuổi theo cái đuôi của con vậy?

- Dạ, con nghe rằng đối với Mèo ta hạnh phúc là điều cao qúi nhất và hạnh phúc nằm trong chính cái đuôi. Vì vậy mà con cố đuổi bắt cho được cái đuôi của mình.

Con Mèo giả thấy thế trả lời:

- Này con ạ! Ta đã suy nghĩ rất nhiều về hai chữ hạnh phúc. Ta cũng công nhận hạnh phúc của Mèo chúng ta là ở trong cái đuôi. Nhưng con ơi! Ta cũng đã nhận rằng mỗi khi ta cố đuổi theo cái đuôi thì ta lại không thể nào bắt được. Trong khi đó, nếu ta làm một việc khác, nhất là khi ta lo lắng cho một con Mèo khác, thì cái đuôi của ta lại đi theo ta bất cứ nơi đâu!….

Vì hạnh phúc không phải ở trước ta, mà ở sau ta và đi theo ta!…..

(Theo Frere Fortunat Phong, FSC )

Trong Cổ Học Tinh Hoa có truyện về một loài chim dữ: mắt giống mắt mèo, cũng hay lò mò về đêm bắt chim nhỏ và chuột ăn thịt. Tiếng kêu đêm ai cũng ghét cho là báo hiệu điềm xui xẻo, chết chóc.. , phần nào tương cận với loài mèo nên được gọi là Cú Mèo.

Một ngày kia Cú Mèo gặp Chim Gáy, Chim Gáy hỏi:

- Bác sắp đi đâu đấy?

Cú Mèo trả lời: - Tôi sắp sang ở bên phương Đông.

- Tại làm sao lại đi thế ?

- Ở đây người ta nghe tôi kêu người ta ghét, cho nên tôi phải đi chỗ khác.

- Bác có thể đổi tiếng kêu đi mới được. Chớ không đổi tiếng kêu, thì sang phương Đông, người ta nghe tiếng kêu, cũng lại ghét bác thôi, vì nhân tình đâu mà chả thế. Cứ như ý tôi, thì không gì bằng bác phải rụt cổ, thu cánh suốt đời không kêu mới là hơn!..

(Lời bàn: Cú kêu ra ma, cú ở phương Tây kêu người ta ghét, lấy gạch ngói, mảnh sành ném. Cú tưởng sang ở phương Đông thì người ta ưa được, nhưng tiếng kêu nếu vẫn như cũ, thì người phương Đông cũng ghét chẳng khác gì người phương Tây. Nếu cứ muốn người yêu, thì một là phải đổi tiếng kêu, hai là thôi hẳn không kêu nữa, chứ không phải đổi chỗ ở mà được. Bài này cốt ý nói người ác, thì đi đến đâu ai cũng ghét, ở đâu người ta cũng không dung. Muốn người ta yêu, thì phải cải ác, vi thiện, làm cho người ta yêu mới được…)- Có lẽ phát xuất từ truyện này, vì chị Cú Mèo đã biết sửa đổi nếp sống theo lời khuyến cáo của chú Chim Gáy, nên được người đời khen là ‘Tuyệt Cú Mèo! ‘. Đúng sai xin các Vị cao minh chỉ giáo hộ. Vào thập niên 60 tại Việt Nam phong trào đọc truyện kiếm hiệp Kim Dung và xem phim chưởng Hồng Kông lên cao độ. Các báo đua nhau dịch truyện Kim Dung mỗi ngày-thỉnh thoảng muốn câu khách làm độc giả nóng lòng chờ đợi, lại nêu vài dòng cáo lỗi lý do là máy bay Hồng Kông chưa đem nguyên bản qua kịp để dịch tiếp-Thế là ngày hôm sau báo bán chạy như tôm tươi. Rồi các rạp chiếu bóng nối đuôi rồng rắn chen chúc mua vé và đặc biệt có hình quảng cáo 1 nữ tài tử Trung Quốc dáng hình nhỏ nhắn thanh tú, trong vai nữ kiếm khách trừ gian diệt bạo, xuất quỉ nhập thần, luôn che mặt, bay nhảy nhẹ nhàng như mèo, biệt hiệu: Miêu Khả Tú.

Miền Thượng du Bắc Việt có sắc dân thiểu số đinh cư trên những triền núi cao, giỏi leo trèo, gọi là người Mèo. Trong vùng Tam giác Vàng (trồng cần sa) gíáp ranh giới Lào -Việt. Tướng Vàng Pao được người Mèo (Hmong) gọi là vua Mèo. Sắc dân này do CIA huấn liệu và phối hợp với Green Berret Hoa Kỳ chống Cộng Sản Lào, nên sau này chính phủ Hoa Kỳ giành qui chế dễ dàng cho định cư tại Mỹ. Tướng Vàng Pao mới qua đời ngày 6/1/2011 tại California là mất mát lớn cho người Hmong, Lào đang sinh sống tại Hoa Kỳ-vì họ đã mất một thủ lĩnh uy tín và được mến trọng.

Mèo sống gần gũi người, trong chữ nghĩa bình dân nước ta, Mèo được gán ghẽp với nhiều ngôn từ đơn sơ mộc mạc, nhưng ý nghĩa rất phong phú như: ‘Mèo cào chó cắn-Mèo mả gà đồng-Mèo đàng chó điếm-Chửi chó, mắng Mèo- Mèo khen Mèo dài đuôi-Không biết Mèo nào cắn mửu nào-Chó treo Mèo đậy-Rửa mặt như Mèo-Lấm la lấm lét như Mèo ăn vụng-Mèo già thua gan chuột nhắt-Buộc cổ Mèo treo cổ chó-Không chó bắt Mèo ăn cứt-Như Mèo thấy mỡ-Chuyện Mèo chuột-Mèo móng đỏ-Có Mèo !…. ”

Câu đồng dao về Mèo trẻ con đều thuộc lòng:

- Con Mèo mà trèo cây cau,
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà,
Chú chuột đi chợ đàng xa,
Mua mắn mua muối giỗ cha chú mèo.


Hay những câu mộc mạc biến thành trò chơi vui nhộn trẻ thơ:

- Bốn con chuột đưa xác con Mèo,
Tò te tò, to te te tò.
Bốn con chuột đưa xác con Mèo,
Tò te tò, tò tí tí te.


Kẻ cho mình là khôn khéo dễ uốn lượn theo thế sự dòng đời:

- Mèo khen Mèo dài đuôi,
Chuột cậy mình nhỏ dễ chui dễ luồn.


Còn điều này Qúi Vị có tin không thì tuỳ:

- Mèo đến nhà thì khó,
Chó đến nhà thì sang.


Thật là bất công cho nhưng người ‘ăn no phải vác nặng’:

- Con Mèo nằm bếp ro ro,
Ỉt ăn nên mới ít lo, ít làm!


Rồi còn phải vất vả kiếm kế sinh nhai mỗi ngày:

- Con mèo con mẻo con meo,
Muốn ăn thịt chuột phải leo xà nhà.


Và đây là hình ảnh đẹp ‘Mèo nhí’ của các đại gia:

- Mèo nằm bồ lúa khoanh đuôi,
Vợ anh đẹp lắm đuổi ruồi không bay.

Giống như các chị Mèo Mỹ:

- Mèo nằm chỗ mát vểnh râu,
Chuột chạy không bắt, lắc đầu nghêu ngao.


Đã làm biếng, lại còn lên mặt dạy đời dễ ghét:

- Con Mèo trèo lên cây vông,
Con chó đứng dười ngó mong con Mèo,
Mèo rằng sao chó chẳng theo,
Lên đây chị sẽ dạy leo cho mà!


Còn cả bài học dạy thế thái nhân tình ở đời:

- Mèo tha miếng thịt xôn xao,
Kễnh tha con lợn thì nào thấy ai.


Số phận mỗi con người tạo hoá đã định sẵn thật thường tình:

- Con Mèo con chó có lông,
Bụi tre có mắt, nồi đồng có quai.


Do đó nhiều khi khó tránh khỏi ‘oan ôi ông địa’:

- Con Mèo làm bể nồi rang,
Con chó chạy lại mà mang lấy đòn.


Cổ nhân dạy ‘nhất nghệ tinh, nhất thân vinh’. Thật đúng với anh thợ mộc tài hoa này, khiến bà vợ nức nở khen vì anh đã xây dựng cho đôi uyên ương một Lâu đài tình ái ‘Tuyệt cú Mèo!’:

- Bốn cửa anh chạm bốn dê,
Bốn con dê đực chầu về tổ tông.
Bốn cửa anh chạm bốn rồng,
Trên là rồng ấp, dưới thì rồng leo.
Bốn cửa anh chạm bốn Mèo,
Con thì bắt chuột, con leo xà nhà.
Bốn cửa anh chạm bốn gà,
Đêm thì nó gáy, ngày ra làm vườn.
Bốn cửa anh chạm bốn lươn,
Con thì thắt khúc, con trườn ra xa.
Bốn cửa anh chạm bốn hoa,
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.
Bốn cửa anh chạm bốn đèn,
Một đèn dệt cửi một đèn quay tơ,
Một đèn đọc sách ngâm thơ,
Một đèn anh để đợi chờ nàng đây!


Mèo còn mang cả triết lý chính trị chính em vào cuộc đấu tranh giành chiến thắng, như lời cựu lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình bày tỏ lập trường ‘ Mèo trắng, mèo đen, không hệ gì, miễn là bắt chuột ‘- Thật đúng như câu ‘vè đổi mới’ mà người dân Việt nam tặng cho các lãnh tụ CS ‘Ăn như nhà tu, ở như nhà tù, nói như lãnh tụ’. Còn câu “ Sát nhất miêu, cứu vạn thử “ có đi ngược chính sách tàn bạo của Cộng Sản Việt Nam “ Thà giết lầm, hơn bỏ sót “ không nhi ?

Tại xứ Mỹ, Mèo được chăm sóc yêu qúi hơn cả giới mày râu. Mèo được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Ở đây nuôi Mèo không phải để bắt chuột-vì chuột nhiều virus dễ lây bệnh, Mèo phải lánh xa- Các Me Mỹ nuôi Mèo làm cảnh, làm dáng, ôm ấp, vuốt ve tiêu sầu, gọi Mèo là ‘Honey’ ngọt sớt nghe mà ham. Còn tổ chức hội chợ thi Hoa Hậu Mèo Mỹ. Chăm sóc Mèo đủ kiểu, có thực đơn riêng, có thú y và chuyên viên thẩm mỹ lo sức khoẻ và sắc đẹp. Mèo theo chủ dạo phố, đi shopping, vacation. Nghĩa trang giành cho Mèo có cả mộ bia đẹp đẽ. Đôi khi Mèo còn nhận được di chúc thừa kế tài sản. Có chị Mèo còn đắt giá hơn cả một năm lương của một công nhân bình thường tại Việt Nam, nên khi thất lạc được loan tin trên báo, dán thông cáo khắp cột đèn, hứa trọng thưởng cho ai đưa ‘châu về hợp phố’. -Mỹ có nhiều sách báo nói về đủ các loại Mèo đông tây kim cổ khắp năm châu, để các fan tìm hiểu nghiên cứu-Mèo được cưng chiều như thế nên cũng đi vào một số ngôn ngữ giống VN: vợ chồng con cái gây gổ hoài gọi’like cat and dog’. Đứng ngồi không yên, lo lắng bồn chồn ‘like a cat on hot brick’. Sáng như mắt Mèo ‘cat eyed ’-Dáng đi nhẹ nhàng uyển chuyển ‘cat footed ’, có lẽ vì thế mà bước đi của người mẫu gọi ‘cat walk ’-Tên trộm giỏi leo trèo đột nhập vô nhà ‘cat burglar’-. Buổi trưa làm việc mệt các cô thư ký thường làm một giấc ngủ ngắn‘cat nap’ trên sa-lông tại văn phòng -Xưa người ta bắt nô lệ chịu hình phạt để cho mèo cào rách lưng ‘cat haul ’ hay dùng roi đánh các chú lính ba gai vi phạm quân luật ‘cat-o-nine-tail ‘….. Chắc còn nhiều câu độc đáo hơn, mong các vị thức giả chỉ giáo thêm và xin đừng chê là ‘dốt lại thích nói chữ’…..

Nghe nói ở bên Đức có anh chàng ‘mail-man’tên Uwe Mitzcherlich nuôi em Mèo Cecilia nhiều năm, đã trở thành bạn tâm tình ngày đêm thủ thỉ vui buồn, nên quyết định cưới Cecilia làm vợ, nhưng khổ tâm ví không thị xã nào chấp nhận làm lễ cưới cho anh. Sau cùng anh phải bỏ ra 300 Euros mướn một nữ diễn viên đóng vai nhân viên hộ lại làm chủ hôn lễ và người em song sinh làm nhân chứng ( Đọc chuyện này người viết nghĩ chắc anh chàng Đức này đã đọc chuyện Ba Giai -Tú Xuất Việt nam, biết Mèo cô Hàng nước nói được, nên nhất quyết cưới bằng được em Mèo Ceci- Các Vị cao niên đều biểt rõ chuyện này, còn quí anh chị trẻ tuổi muốn rõ Mèo biết nói hay không, hãy tìm đọc truyện Ba Giai-Tú Xuất sẽ rõ thực hư…. )- Xin giới thiệu cuốn phim mang tên mèo ‘Cat on a Hot Tin Roof ’ tuy xưa nhưng rất hay đã đoạt giải ‘Quả Cầu Vàng’năm 1957 do hai tài tử gạo cội nổi tiếng đóng vai chính là Elisabeth Taylor & Paul Newman…..

Còn theo tin báo Mỹ cho biết kể từ ngày 16/2/10 thành phố West Hollywood quyết định chấm dứt mua bán chó mèo để giảm bớt tình trạng vô nhân đạo trong việc kinh doanh thú vật. Nên vị nào thích nuôi Mèo hãy đến Trung tâm quản lý thú nuôi hay Cơ quan quản lý chó mèo bị bỏ rơi để nhận về nuôi. – Quyết định này được ban hành chắc vì thành phố kế Thủ đô Điện Ảnh nên các Tài Tử Minh Tinh trong Hội Bảo Vệ Xúc Vật can thiệp.

Cũng có tin vui đang giờ thất vọng: qua năm Mèo mà tình hình Mỹ Quốc không rục rịch biến chuyển, là tới năm Rồng sẽ xuất hiện Rồng Cái đang nằm phục sẵn ngoài biển Alaska. Rồng Cái cảnh báo rằng năm 2012 sẽ bay về Thủ đô Hoa thịnh Đốn dương móng vuốt đỏ nhọn cắp ngài Ngưu Vương ra khỏi Nhà Trắng. Hãy chờ mà xem ‘ Miêu nào cắn Mửu nào!!!

Nhân năm Mão, góp nhặt dông dài kể chuyện phiếm về Mèo, mong mua vui cùng Qúi Vị qua mấy ngày Xuân nơi đất khách quê người-Năm qua xảy ra nhiều tai ương hoạn nạn, kinh tế xuống quá, thất nghiệp tràn lan, sống thắt lưng buộc bụng. Hy vọng năm tới an bình thảnh thơi hơn. Với niềm chân thành qúi mến, xin gởi Qúi Vị lời cầu chúc tốt đẹp nhất trong năm Tân Mão:

- Vung roi sắt, đuổi chú Hổ về rừng- Năm Canh Dần vô tích sự.
- Nâng ly rượu, đón chị Miêu vô nhà- Năm Tân Mão ắt hạnh thông.
Đinh văn Tiến Hùng
http://www.vietcatholic.net/News/Html/87380.htm

HỒI CHUÔNG BÁO TỬ CHO AI?

"Người Cộng Sản hễ mỡ miệng nói là nói láo"

“… Năm 61, 62 chi đó, tôi có gặp 4 nhân sĩ trí thức ở miền Nam ra miền Bắc. Trong các vị, có một tên là Tôn Thất Dương Kỵ thì phải. “Họ không chịu nổi chế độ độc tài” Ngô Đình Diệm, nên xin ra sống ở xứ Bắc Kỳ Xã Hội chủ nghĩa thiên đàng. Và đã được chính phủ Sàigòn cho phép.

Gặp các cụ đi lóm thóm ở phố Tràng Tiền, nom nom ngó ngó và ở các tủ kiếng mậu dịch Bách Hóa Tổng Hợp chưng toàn là “hàng mẫu, không bán” gồm có rượu Tây, vải ta, nồi soong chảo bằng gang của Hợp Tác Xã sản xuất) những tám váng sặc sỡ của người Thượng (tất cả đều là hàng để xem chơi chớ không bán!). Không hiểu các vị có định mua món gì không? Nếu muốn mua chắc không dễ như ở Sàigòn. Tôi tự nhủ thầm: Tôi muốn trốn về Sàigòn mà không trốn được, các cụ ở trong đó lại chui ra đây! Rõ thật tréo cẳng ngổng quá trời! Sau này không rõ các cụ được ưu đãi đến mức nào mà không thấy nói tới nữa.

Ai cũng biết ở miền Bắc có 2 nhà trí thức lớn nhất dân tộc Việt Nam: Đó là cụ Nguyễn Mạnh Tường và cụ Trần Đức Thảo. Cụ Nguyễn đã được phép sang Paris chơi vài tháng đâu hồi 92 thì phải. Về Hà Nội cụ viết cuốn “Kẻ bị khai trừ”. Người ta hỏi, cụ không sợ tù à? Cụ bảo tôi 82 tuổi rồi còn sợ gì?

Cụ Trần cũng được Hà Nội cho sang Paris công tác (gì đó không hiểu - vận động trí thức Pháp và trí thức ta chăng?) Ở đây cụ đã nói chuyện trước nhiều loại thính giả. Trong một cuộc nói chuyện cụ bảo “Chính Mác sai!” Người ta hỏi tại sao? Cụ bảo: Mác lấy các điểm trong duy tâm luận của Hégel (không phải Angels) làm ra duy vật biện chứng. Duy tâm áp dụng trên trời có sai cũng không hại ai, còn duy vật đem ra áp dụng trên mặt đất sẽ làm chết người. (Mà chết người thật! Chết hàng trăm triệu người chớ không ít.) Chỉ vài hôm sau cụ qua đời.

Ai cũng biết Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm gồm toàn những văn nghệ sĩ ưu tú của dân tộc đi kháng chiến 9 năm trở về Hà Nội, hãy còn chân ước chân ráo đã quay ra chống Đảng quyết liệt: Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Phần lớn là đảng viên. Thế có lạ không?

Tại sao họ không yêu Đảng của họ nữa? Hỏi tức trả lời vậy.

Nhạc sĩ Văn Cao vừa mới qua đời. Trước khi nhắm mắt, ông nói: “Bây giờ tôi không còn sợ nữa. Tôi cứ nói… “Tố Hữu đã ‘phạt’ tôi 30 năm không sáng tác gì được!” Đau đớn cho ông là năm 1994, trong một buổi lễ phát phần thưởng về Âm Nhạc, ông được xếp hạng 13 (gần hạng bét) đáng lẽ phải hạng nhất, không có hạng 2 đến hạng 10.

Trên đây tôi vừa liệt kê một vài trường hợp trí thức văn nghệ sĩ Xã Hội Chủ Nghĩa chống Đảng, thà chịu khổ nhục nhận “hình phạt đày ải” của Đảng Cộng Sản, chớ không thay đổi thái độ với nó kể từ họ bắt đầu “ghét” Đảng. Nhìn kỹ lại không thấy ai nói “ghét” thành “yêu” đối với Cộng Sản bao giờ. Những người trước kia yêu, nay cũng ghét Đảng.

Khi đọc cái bài tường thuật của cụ Trần Đức Thảo ở Paris, tôi mới thấy não lòng. Một triết gia độc nhất Việt Nam được người ngoại quốc kính nể trên thế giới lại không được dùng đúng chỗ ở chính trên quê hương mình.. Phải biết rằng chính cụ cũng đã mê Mác Xít khi còn ở Paris cho nên cụ đã xin về Việt Nam để phục vụ đất nước trong công cuộc kháng Pháp, xây dựng thiên đàng. Về đến nơi thì than ôi! Thiên đàng đâu không thấy chỉ thấy tang thương địa ngục. Nhiều người đứng ở ngoài Chủ Nghĩa Xã Hội cứ tưởng nó là thiên đàng. Nhưng khi nhảy vào sống với nó rồi mới biết mặt mũi nó mồm ngang miệng dọc ra sao. Chừng đó muốn thối lui cũng không đuợc. Phải ghê gớm lắm mới dứt nổi “đường tơ”. Nếu Mác bảo tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc con người thì Mác Xít chính là thuốc độc giết chết con người. Và tác hại vô cùng cho dân tộc nào cưu mang nó Picasso về già mới trả thẻ đảng. Howard Fast cũng xin ra Đảng lúc gần đất xa trời. Phải khó khăn lắm mới nhận ra bộ mặt thật của nó. Chẳng thế mà dân Liên Xơ bị bịp trên 70 năm!

Tôi cũng đã sống 10 năm trên miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Tôi không có lý luận như cụ Trần, nhưng bằng cảm tính nảy ra trong sinh hoạt hàng ngày, trước tiên tôi thấy Chủ Nghĩa Mác kỳ cục. Nếu biết trước nó như thế này thì không ai đi đánh Tây làm gì. Bởi vì như Nguyễn Chí Thiện đã nói:

“So với Đảng thì móng vuốt thực dân êm dịu gấp 10 lần”.

Nhưng đã lỡ nhúng chàm rồi, có nhiều người đành cam chịu, không nói ra, để cho những người hậu tiến mắc lầm như mình. Dại rồi nên ngừa cho người khác đừng dại như mình…

Người Cộng Sản hễ nói là nói láo. Nhưng trước đây vẫn có nhiều người tin. Tin rằng chính sách hợp tác xã, tổ chức quốc doanh… đều tuyệt vời. Nay thì dân chúng đã thấy ở giữa miền Bắc và miền Nam ai hơn ai, giữa Liên Xô và Hoa Kỳ ai đi trước ai (những 50 năm).

Tất cả nhân loại đều đã bừng mắt trước một sự thực vô cùng rõ rệt: chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là một sự ngu xuẩn và chính những kẻ theo đuổi nó gần 1 thế kỷ nay cũng không hiểu nó là cái gì.

“Tiếng chuông báo chết cho ai” đã đổ ở Liên Xô, ở Đông Âu bằng những triệu chứng xáo trộn và bằng sự nổi dậy của dân chúng bị bịp. Nó cũng đã báo chết cho Trung Cộng bằng Thiên An Môn. Việt Cộng đang lo sợ tiếng chuông ấy vang lên ở Ba Đình nơi tên bịp lớn nhất lịch sử đang nằm rã rục.” (*)

*

Xin thưa đây là “Vài cảm nghĩ về quyển tiểu luận “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ” của bà Nguyễn Việt Nữ của (cố) nhà văn Xuân Vũ vào năm 1995.

Phần trình bày rất thấu lý, đạt tình của cố nhà văn Xuân Vũ, tác giả những truyện ngắn, truyện dài “Chuyện Bò Đái”, “Đường Đi Không Đến”, “Xương Trắng Trường Sơn”, “Đồng Bằng Gai Góc”…đưa ra mặt thật và móc moi ra cả tim, gan, phèo, phổi của cái gọi là “thiên đàng” Chủ Nghĩa Xã Hội miền Bắc với hình ảnh mở đầu là “4 vị nhân sĩ trí thức miền Nam đi lóm thóm ở phố Tràng Tiền” trong đó có một vị “đi chàng hảng” được nêu danh là Tôn Thất Dương Kỵ. Xuân Vũ tên thật là Bùi Quang Triết, là một nhà văn tập kết ngay sau khi hiệp định đình chiến 1954 được ký kết.

“Tôi tự nhủ thầm: Tôi muốn trốn về Sàigòn mà không trốn được, các cụ trong đó lại chui ra đây! Rõ thật là tréo cảng ngổng quá trời!”

Cái giọng văn chơn chất của người miền Nam đã cực tả cái cảnh:

“Thiên đường xã nghĩa cong cong

Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào!”

Sau hiệp định Paris năm 1972, nghe nói cũng có những kẻ “Đông gia thực phạn, Tây gia miên” (tạm dịch “Ăn cơm ở nhà bên Đông mà lại ngủ ở nhà bên Tây”) như luật sư Nguyễn Long, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm… cũng được trao trả về “thiên đường xã hội chủ nghĩa” của họ.

Chuyện các ông “người đuôi chó” như Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hữu Liêm, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm v.v… theo tôi, không có gì đáng trách; bởi vì họ “chưa biết… mặt thật của thiên đường xã hội chủ nghĩa” cũng như họ chưa phải gánh chịu những đau thương, nhục nhã trong những trại tù của VC. Chuyện lạ là chuyện của những kẻ đã từng phải ở lại trong nước sau ngày 30-4-1975, đã phải hèn nhát nói lời nịnh bợ Đảng và Nhà Nước để được yên thân như các ông nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, cựu Thẩm phán Nguyễn Cần tức Lữ Giang, Tú Gàn, bác sĩ Bùi Duy Tâm v.v… ; sau đó, đã phải liều chết tìm đường vượt biên hoặc được đi Hoa Kỳ theo diện HO. để lo cho bản thân mình và tương lai của gia đình mình; nay, lại quay lại nói lời bợ đỡ, kiss ass nhà cầm quyền Việt Cộng. Nói theo cách nói hơi tục một chút của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, nhưng rất cực tả là những kẻ này nhớ cái cũi (mà bọn VC đã rọ mõm họ).

Bài viết này không nói về “những người đuôi chó” này. Mục đích của bài viết này muốn nói đến hồi chuông báo tử đã và đang vang lên tại các nước theo chủ nghĩa cộng sản và độc tài.

Năm 1986, hồi chuông báo tử vang lên tại các nước theo chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu, sau đó vang sang cái nôi của chủ nghĩa cộng sản là Liên Xô. Người cắt “cái cây cộng sản đại thụ” Liên Xô của “đồng chí” Tố Hữu - người thương các ông Lénin, Xít Tả Lìn còn hơn cả thương cha mẹ, ông cố nội, ông cố ngoại của mình) là Tổng Thống M. Gorbachev và ông ta đã bị đối thủ chính trị của ông ta là Boris Yeltsin gạt ra khỏi chiếc ghế quyền lực. Nước Nga bây giờ đã là một nước tự do, dân chủ.

Năm 1992, “tiếng chuông báo chết” cho Trung Cộng cũng đã vang lên tại Thiên An Môn; nhưng, nhà cầm quyền sắt máu Trung Cộng đã dùng quân đội ngoại biên kéo về nả súng bắn vào đoàn sinh viên biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn. Tuy cuộc biểu tình bị thất bại nhưng bức ảnh một thanh niên Trung Hoa tay không cản bước bánh xích xe tăng rầm rập xốc tới đã là ngọn đuốc tranh đấu đã bừng lên tại đất nước có dân số đông nhất thế giới này. Và năm ngoái, đất nước này đã bị mất mặt vì đã hèn nhát không dám để người nhà của nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba (đang bị nhà cầm quyền Trung Cộng nhốt tù) đến Olso lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình.

Trong tuần lễ vừa qua, cuộc xuống đường biểu tình của người dân Tunisia khiến Tổng Thống Ben Ali của xứ sở độc tài này phải cuốn gói trốn ra nước ngoài tỵ nạn.

Nguyên nhân cuộc xuống đường là từ cái chết của anh sinh viên nghèo 26 tuổi Mahamed Bouazizi bán hàng rong trên đuờng phố bị cảnh sát tịch thu cả gánh hàng rong. Anh sinh viên nghèo đã tỏ thái độ phản kháng bằng cách biến thân mình thành ngọn đuốc sống. Ngọn lửa đấu tranh để thiêu rụi chế độ bạo tàn đã bùng lên khi hàng ngàn người tham dự tang lễ của anh. Hàng ngàn người tham dự tang lễ của người sinh viên Tunisia can đảm đã biến thành cuộc biểu tình tuần hành - như trước đây, hàng ngàn người dân Ấn Độ đã nghe theo lời kêu gọi của “Thánh” Mahatma Gandhi, cha đẻ của chủ thuyết bất bạo động đi làm muối để tranh đấu cho độc lập, tự do, dân chủ cho Ấn Độ thoát khỏi ách thực dân của đế quốc Anh.

Hương thơm của cuộc “Cách Mạng Hoa Lài” đã lan sang các nước láng diềng như Ai Cập, Lybia.

Trong một cuộc biểu tình tại Ai Cập, một thanh niên đã hô to khẩu hiệu: "Hãy treo cổ nó lên!”

Nhiều nhà bình luận đã tiên đoán “hồi chuông báo tử” của cuộc “Cách Mạng Hoa Lài” ở Tunisia sẽ lan qua Miến Điện và sẽ đến Việt Nam trong một ngày không xa!

*

“Đọc tin Tunisia mà nhớ tới đất nước Việt Nam cũng trong tình trạng khốn khó tương tự: đại đa số người dân thất nghiệp bị bóc lột, và giá thực phẩm cao, trong khi một thiểu số người thì sống sung túc, xa hoa trong sự hối lộ, tham nhũng. Bao nhiêu công nhân Việt Nam nghèo khổ bị tư bản ngoại quốc bóc lột ngay chính trên đất nước mình với sự thông đồng của chính quyền bản xứ. Bao nhiêu nông dân Việt Nam phải mất nhà cửa, ruộng vườn, gia đình tan nát. Những người Cộng Sản vô cảm chỉ biết có mình và đảng của mình mà không đoái hoài đến quyền lợi của dân tộc. Người dân Việt Nam xét ra cũng không đến nỗi nào hèn kém lắm so với Tunisia và các nước Bắc Phi khác. Cho nên chế độ này không thể tồn tại, mà sớm muộn gì cũng phải chấm dứt, để người dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng nhau xây dựng đất nước”.

Xin mượn ý kiến của nhà bình luận thời sự Tuệ Vân, người có chương trình “Bàn Chuyện Thời Sự” mỗi tuần trên trang mạng “Tâm Thức Việt Nam” để kết thúc bài viết này.

Và rất hy vọng hồi chuông báo tử sẽ sớm vang lên trên đất nướcViệt Nam để toàn dân có cuộc sống đầy đủ tự do, dân chủ và nhân quyền!

*

Viết thêm: Chỉ còn vài ngày nữa là tới Tết Tân Mão, xin chúc Ban Biên Tập các Diễn Đàn, các tờ điện báo, các cộng tác viên, các vi hữu vào diễn đàn góp ý và các độc giả một năm mới an khang, thịnh vượng và nhất là chúc đất nước ta, đồng bào ta sớm thoát khỏi ách cai trị bạo tàn của chủ nghĩa cộng sản đang tới hồi tàn lụi.

LÃO MÓC NGUYỄN THIẾU NHẪN

Bài Xem Nhiều