We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 16 February 2011

ĐAU LÒNG !!!

ĐAU LÒNG !!!


Đọc tin tức Quê Nhà, ĐAU LÒNG nhỏ lệ.....


Thương cho Dân Tộc nghiệp chướng quá nhiều !!!

Ít khi được hưởng HẠNH PHÚC ĐỜI NGƯỜI như các nước khác, buồn thiu !

Càng cảm thương thân phận hẩm hiu , bi đát !

Muốn SINH TỒN phải đủ KIÊN CƯỜNG không thể YẾU HÈN

Kẻ thù truyền kiếp có bao giò để ta yên

Tiền Nhân cũng đã từng Quật Cường Bất Khuất

Nhờ SINH TỬ mới bảo vệ được NON SÔNG GẤM VÓC tới ngày nay

Không lẽ đến thế hệ hiện tại

Đành ôm đầu than khóc ? !

Kẻ ÁC , mình phải Quyết Liệt Tranh Đấu mới hy vọng thôi

Còn khiếp nhược thì không bao giờ ngốc đầu lên nổi

Đã gần năm ngàn năm lập quốc , không lẽ buông xuôi ? !

Trở thành một tình nhỏ như Tây Tạng ? !

Nếu vậy , quê hương kể như bị xoá tên ? !

Bắc thuộc lần thứ năm tái diễn ? !

Hỡi ai còn nhận mình là con cháu Lạc Long

Không thể khoanh tay CHỊU NHỤC ? !

Phải tìm cách vùng lên KHÔI PHỤC

Đục lũ Việt gian, Hán gian RỬA NHỤC !!!

KIỀU PHONG ( Toronto)

CÔNG DÂN YÊU NƯỚC




Đọc được dòng thơ đầy Dũng Khí


Cuả Công Dân Yêu Nước Nguyễn Tân Cư

Tuy đang sống trong nhà tù lớn nhất vẫn ưu tư

Về vận mệnh Tồn Vong cuả Dân Tộc

Mang dòng máu Anh Hùng Hào Kiệt

Thà chết vinh hơn sống nhục cuả Tiền Nhân

Đã viết lên những trang sử liệt oanh

Xây dựng , gìn giữ Non Sông Gấm Vóc

Chứ không phải như lũ súc sinh Ô NHỤC !

Muôn đời sẽ bị phỉ nhổ ,thối tha

Ươn hèn, khiếp nhược trước lũ gian tà

Nỡ đoạn đành dâng quê Cha, đất Tổ cam phận NÔ TÀI cho giặc .

Nguyên nhân bởi tên già Hồ gian tặc !

Bưng bô, đội điã cho kẻ thù truyền kiếp từ khuya

Nhất cử , nhất động, ôm hôn mao sến sáng lia chia

Bộ hắn là ông nội cuả ngươi hả ?

Rập khuôn theo bọn chó má

Chả chút xót thương mảnh Đất Việt nhà

Biết bao thế hệ tưới máu xương tô điểm Sơn Hà

Nay lũ súc sinh cúi quì dâng ráo !

Tội TRU DI , Di Chúc Tiền Nhân dạy bảo

Bất cứ kẻ nào nhượng một tất đất cho ngoại nhân

Giờ mất biết bao thước đất, Hải Đảo, Lãnh Hải, cốc cần!

Làm như tài sản riêng cuả Ác đảng !

Tội tày Trời , Ô NHỤC giống nòi !

Nước Thái Bình Dương cũng không rưả sạch

THIÊN CỔ TỘI NHÂN sắp đến ngày trả Ác nghiệp đã gieo

Chống mắt chờ xem các ngươi chạy đâu cho khỏi .

KIỀU PHONG (Toronto)

ÐỜI VẪN ÐÁNG SỐNG

Hồi học đệ Thất trường Trung học Phan bội Châu Phan thiết năm 1956, thầy Thủy già phụ trách môn Việt văn có dạy bài “thần Chết và lão tiều phu” của Nguyễn văn Vĩnh dịch từ “La Mort et le bÛcheron”, lấy ý từ một lão tiều phu “than rằng sung sướng nỗi gì. Khắp trong thế giới ai thì khổ hơn?” muốn chết, kêu to: “Hỡi thần Chết thương tình chăng tá, đến lôi đi cho đã một đời”. Khi thần Chết đến nơi thì “Lão tiều thấy cơ nguy đến sợ. - Nhờ tay ngài nhắc đỡ lên vai”. Con người vốn “tham sanh húy tử” cho nên, dẫu biết “Ðành chết là hết nợ. Sao mà ai cũng sợ. Mới hay bụng thế gian. Khổ mà sống còn hơn”. Nghĩ cũng buồn cười. Trước nỗi đau nhân thế, ai cũng nghĩ đến cái chết cho hết đời tục lụy. Nhưng mấy ai chịu cho người ta giết mình; Mấy ai mình dám giết mình!? Người ta nói “tự tử là hèn nhát”. Xin lỗi, tôi thì nghĩ khác và cho rằng, những ai vì bất cứ lý do gì dám mình làm mình chết là can đãm biết chừng nào! Dĩ nhiên không lý đến những nguồn gốc tâm thần. Chúng ta sinh ra, lớn lên biết bao thăng trầm trên thế gian loài người. Ðời có kẻ ân may thênh thang hạnh phúc cũng có kẻ lầm lũi cơ cầu. Giàu hay nghèo cũng phải chết. Sướng hay khổ cũng phải chết. Nhưng trước cái chết, có người thanh thản chờ như đợi đò qua sông dù biết là không bao giờ trở lại; Có người bịn rịn thế tục không muốn vĩnh biệt làm người thiên cổ như chiếc lá vàng đong đưa nỗi niềm lưu luyến đâu nỡ lìa cành. Ai, tôi không biêt. Tôi thì không muốn chết một chút nào. Nhất định là tôi không nói đến kiếp sống già chỉ chật đất thiên hạ. Nhất định là tôi không nói đến sống lâu quá phiền hà con cháu. Và nhất định tôi cũng không nói đến sống trường thọ chỉ tủi nhục, ê chề. Tôi chỉ muốn nói đến cái tình cảm sao mà nó thênh thang quá, sâu đậm quá, mặn mà quá, quyến luyến quá mà dứt đi thì không đành đoạn, dẫu bao phen đời bềnh bồng trời ơi đất hỡi. Vì dẫu gì, tôi cũng ở đây trên trái đất nầy còn chín ngày nữa là đúng sáu mươi tám năm hai tháng rồi. Thời gian đằng đẵng xấp xỉ bảy mươi tuổi đời đó chung đụng với trời đất, con người, vạn vật làm sao không có kỹ niệm buồn, vui mà thương, nhớ, yêu, ghét, giận, tủi, hờn... để dễ dàng dứt bỏ ra đi?

Một chiều chạng vạng mùa Thu năm Nhâm Ngọ 1942, tại thôn Tô đà, xã Thủy tân, quận Hương thủy, tỉnh Thừa thiên, má tôi sinh tôi ra ngoài vườn chuối sau nhà. Bà cụ lấy miếng mẻ chai lăn lóc đâu đó cắt rún cho, xé miếng vải áo cũ băng bó nó lại, đem tôi vô nhà, cho bú, chê “ mần răng mi khốc dữ rứa?”. Miền Trung thuở đó quê mùa lắm, nghèo nàn và lạc hậu vô cùng. Nghe mấy ông bà ở ngoải, không riêng gì Huế, là láng giềng tôi bây giờ có con đàn cháu đống hiện đang cư ngụ ở cái nước văn minh nầy đây, nói rằng: “vùng nhà quê nhà mùa ngoài mình thời xưa, người ta thường dùng những cái kéo, cái dao, miếng mẽng sành, miếng mẻ chai sét, cùn, rỉ có khi càng nhiều càng tốt để cắt rún cho mấy đứa mới đẻ. Có đứa mô bị nhiễm trùng, bị làm độc, bị tétanos bao chừ?”. Việc má tôi dùng mẻ chai dính bụi phong trần cũ rích cũ rang cũng không có gì là lạ. Nhà nghèo, việc đồng áng quần quật, đẻ chưa qua ba ngày, má tôi đã phải ra ruộng dãi dầu sương gió, nắng mưa. Nhờ ơn Trời, Phật, mẹ cũng tròn con cũng vuông. Vì là vùng đất trũng, không năm nào là không bị lụt một, hai, ba lần. Cực lực cũng khó qua những cơn ngặt nghèo thường trực không tiền, đói ăn, thiếu mặc. Nhìn qua bên kia Phú thứ và xung quanh Phú bài bên đây, biển trời mênh mông nước dập dìu cơn sóng cuộn lao xao mà ngao ngán. Ba má tôi đành bỏ xứ trốn đi. Nói trốn đi vì bà con, thân thuộc, anh em chòm xóm ai ai cũng can ngăn, khuyên “đừng bỏ ôn mệ mà đi, đành bỏ bà con mà như rứa răng!?”

Một đêm cuối tháng mười năm Quý Mùi 1943, trời đen như mực, ba má tôi dắt, cõng, bồng sáu đứa con gạt nước mắt, đoạn trường lặng lẻ bước đường phiêu bạt vào Phan thiết khi tôi chưa kịp thôi nôi. Nhà tôi ở sau phòng ngủ Hải thiên, cái phòng ngủ “xưa thật là xưa” có từ thuở nào duy nhứt thời bấy giờ nằm bên hữu ngạn sông Mương mán nhìn qua cây cầu Quan bằng gỗ và cái Château d’eau cao vòi vọi bên kia sông phủ kín những bông vông đỏ thắm. Cái phòng ngủ mà thường trú là những anh chàng lính Lê dương Légionnaires của Pháp cứ quăng ra hoài những “capote” mà bây giờ gọi là “condom” hay đơn giản hơn là “bao cao su” mới vừa xài xong, mấy đứa trẻ ngây thơ vô tình giành nhau lấy làm bong bóng thổi chơi. Bên hông nhà là tiệm điện chú Quảng Ích sau nầy bán lại cho chú Sáu Kim làm tiệm vàng Thành Kim là nơi quen biết làm đồ nữ trang cho má tôi, chị tôi mỗi khi nhà cửa khấm khá một chút. Chú Quảng Ich có thằng Hợp, một thời bạn thân con nít năm, ba tuổi của tôi hồi đó những năm 1947, 1948, 1949. Vào Sài gòn, chú lập tiệm điện Thái Sanh trên đường Cộng hòa. Kế bên Thành Kim là tiệm giày trước có tên là Thành Phát của anh Hùng, sau đổi lại Cao văn Hùng thêm nghề thú nhồi bông. Gọi quen là anh, thật ra ảnh còn lớn tuổi hơn ông anh cả của tôi rất nhiều.

Hồi cuối thập niên 1950, cứ cuối năm, ba tôi dắt anh em chúng tôi xuống đóng giày sandale và ngắm những con cọp, con gấu, con beo ảnh “nhồi” y như thật. Trong xóm có nhà chú Năm Xõ làm nghề guốc và nhuộm guốc cẩm mà hai đứa con nhỏ của chú thím là thằng Chánh ốm và thằng Ðiểm mập thường trực là những thằng bạn cà nhỏng của tôi. Chú thím có mở một tiệm guốc kế bên tiệm vải Ðắc thuận, nằm ngay ngả tư Quốc tế. Trước mặt là nhà ông Tàu nhuộm vải, thường căng những cây vải xanh xanh, đỏ đỏ dài thường thượt mà con ổng, thằng Khuông không còn thì giờ lêu lỏng như chúng tôi lúc bấy giờ mới sáu, bảy tuổi. Lớn lên, nó ra làm cho tiệm bán vải Chấn Ký trên đường Gia Long. Một bên nhà nó là nhà ông Chà và đối hông với tiệm điện chú Quảng Ích bên kia con đường nhỏ không tráng nhựa. Chúng tôi thường gọi là “ông chà già” có vợ người Việt nam gọi là bà Hai Chà. Bà con lối xóm kháu với nhau rằng “họ tốt lắm”. Ổng bả có mấy đứa con lai Việt-Ấn rất đẹp tên “Mi Seo”, “Mi Sên”, “Sơ Mi” gì đó. Chị Mi Seo trắng như đầm mà chị Sơ Mi lại đen như trinh nữ Rhadé. Ổng đen thủi đen thui mà mặc cái “saron” trắng tinh, chuyên ngồi xếp bàng ăn bốc. Tụi nhỏ ưa chọc “Chà-già-cà-ri-nị, ăn bốc ăn hốt dơ như ri như rị” để ổng chửi “mẹc xa lù” mà lớn lên tôi mới biết là chữ Pháp “merde salaud” và xua hai con chó berger cùng màu chocolat to tổ nái ra sủa dữ dằn. Về sau, gia đình ổng bả dọn vào Sài gòn mà năm1953, 1954 tôi có dịp vào ở vài ngày. Nhà ở đường Colombo gần ga xe lửa Sài gòn, bên kia chợ Bến thành? Sát vách nhà còn là nhà bà Chín bán bánh ít có anh Cu Chảy bị bệnh phung. Ba của ảnh là dân Tàu rặt, nặng nề lắm cũng không rặn ra được một tiếng Việt nam, chỉ nói “:ngộ tả nị lớ, ngộ tả nị lớ” vì tôi có tật táy máy tay chân chọc mấy con chuột bạch cưng của ổng đang đánh đu trong lồng sắt. Ở tù về, năm 1985 tôi lại gặp anh Cu Chảy, bệnh vẫn như xưa. Không biết làm sao, trên ba mươi lăm năm trời vật đổi sao dời, ảnh còn nhớ tôi thằng nhỏ năm, bảy tuổi hồi đó, bây giờ đã bốn mươi ba tuổi rồi!? Bước ra mấy bước là nhà hàng sang trọng nằm dưới dốc cầu Quan của ông Tây cụt tay thích săn voi, nhà hàng Marceau? Nhà hàng mà khách vãng lai là những ông bà Tây ăn uống, nhảy đầm thâu đêm suốt sáng cho đỡ lạnh lùng đời viễn chinh. Nhà hàng cũng thường là nơi lính Lê dương Légionnaires bắn lộn với lính thân binh Partisans làm thất kinh người dân khu phố. Biết bao nhiêu lần nghe bắn lộn, nghe la, nghe đánh lộn dữ quá, tôi quẩn trí chạy lung tung, la khóc om sòm, không ai dỗ nín được. Về sau, trước khi ông Tỉnh trưởng Lưu bá Châm đập phá, làm vườn bông Cộng hòa trước năm 1960, nó là phòng đọc sách của ty Thông tin tỉnh Bình thuận và dọc theo là hàng kiosque bán trái cây, nước giải khát, hàng lưu niệm...

Cái Château d’eau mà anh Dục, con bác Hai Xê của tôi khi quét vôi, đã té từ trên giàn tre lỏng lẻo xuống, gãy chưn. Tôi thấy những con dòi lúc nhúc nơi vết thương không chịu lành của ảnh. Ảnh không chết vì dòi mà chết vì lính Pháp phục kích bắn chết kế bên nhà. Từ đó, bác Hai của tôi, lần lượt mất thêm người con rể tên Hùng, người con trai trưởng tên Luông, người con trai thứ, em anh Dục tên Bê nữa vì theo Việt minh. Anh Dục chết, máu me đầy mình nằm chèo queo, có ai dám đứng ra nhận xác! “Deuxième bureau” xúc ngay. Lúc đó, tôi cũng đã tám, chín tuổi rồi, đứng nhìn trơ trơ, có được xúc động một giọt nước mắt nào đâu! Không dám khóc một chút nào như ngày các ông người Việt đi lính Tây ở đồn Ngả hai túm gọn ổ gà mái ấp của tôi nuôi cắt ca cắt cũm từ hồi còn cỏn con kêu chim chíp. Còn ông trai út Cu Lọ, đứa con trai cuối cùng của gia đình nhà bác lâu sau đó cũng vào mật khu Ba hòn theo Việt cộng, ăn đói nhịn khát cũng lấy vợ và đẻ con. “Sợ lính Việt nam Cộng hòa lùng và diệt” mấy lần tưởng bị bắt, bị chết, xin “hồi chánh” năm 1972 nên mới còn người nối dõi tông đường giòng Nguyễn quang. Thật tình mà nói, dân nhà quê hồi đó mà dẫu có sau nầy đi nữa, không ngán người Quốc gia một chút nào. Họ chỉ sợ, chỉ khiếp tụi Việt minh Viêt cộng. Làm sao họ không sợ, không khiếp cái bọn sẳn sàng băm thây người, chặt đầu người, chôn sống người!? Vợ chồng bác Hai Bé cũng ở gần, có một anh Khương là con trai độc nhứt cũng theo Việt minh nhưng không chết vì đánh trận mà chết vì bệnh thương hàn, kiết lỵ hay thổ tả gì đó. May là ảnh bị bệnh nặng, được bọn “kháng chiến” trong rừng cho về, mới có đám tang, tiếng khóc, chén cơm cúng. Chị Ba Thơm, người tình của ảnh nguyện suốt đời không lấy chồng. Năm 1985 sau khi ở tù Việt cộng về, tôi có ghé thăm chỉ lúc bấy giờ là bà già chống gậy 65 tuổi cô độc, lủi thủi. Bác gái hay kiêng kỵ, rất dị đoan. Xóm làng thường nói, ai không may “đạp đất” nhà bác vào ngày Tết mà nhà bác bị một năm xui xẽo thì chết với bác. Bác tìm cho ra tung tích xấu của người đạp đất mà dè biểu, chữi chó mắng mèo đến giáp năm. Bác khuyên một người bạn đừng đi xa ngày hăm ba, vì “mùng năm mười bốn hăm ba, đi chơi cũng lỗ, huống là đi buôn”. Bà bạn tin, hôm sau ngày hăm bốn đi xe lửa vào Sài gòn thăm con, không may bị Việt minh giựt mìn chết ở Phú hội. Bác có tật mượn tiền người ta thì ưa quên nhưng ai mượn tiền của bác thì bác nhớ dai lắm. Bác thường “nhớ lời” tiền nhiều hơn cho mượn. Người ta mượn một trăm, bác nhớ dai là trăm mốt, trăm hai. Ði chợ hay đi đâu xa năm, bảy cây số, mắc “đái” hay mắc “ĩa” chết cha, bác cũng cắn răng, nín đến cùng. Về nhà bác mới chịu “xả” vào cái lu nước tiểu và “phẹt” vào hố cứt, Bác nói “mấy thứ đó quậy mà tưới cải, tưới rau thì không phân nào bằng, vung vãi giữa đường là phí của trời.

Ở “Cây số 6”, vùng Phú lâm có một đồn lính Pháp gọi là đồn ngả Hai, lính cứ đi “patrouille”hoài, làm khiếp đảm người dân quê biết mấy. Ðồn dưới sự chỉ huy của ông Tây quan Một. Ông nầy bụng bự lắm nên có biệt danh là Tây bụng. Việt minh có câu bêu rếu “Sếp đồn Tây bụng ngả Hai. Ban đêm rút cổ, ban ngày nghênh ngang...”. Mấy ông du kích như bóng ma-rút-ruột“Ó ma lai” ở cái xứ sở của tôi mang tiếng “ma Bình thuận”. Họ đợi tối đen như mực mới chui đầu ra tuyên truyền, tổ chức, thu góp, bắt bớ, ám sát. Người dân sống đời đồng áng cùng cực vì ruộng nương đã đành, còn phải chịu đựng oan khiên biết là bao nhiêu giữa hai lằn đạn thù Pháp, Việt minh. Chịu sao nỗi!? Không phải nói vong bản, lính Pháp có hành hạ người dân mình còn đỡ hơn Việt minh ác với chính đồng bào của họ. Không theo họ, người dân quê chất phác sẽ bị kết tội “Việt gian”, “Gián điệp” và bản án tử hình treo lủng lẳng trên đầu trên cổ. Cái chết cho “người có tội?” đã đành. Cái chết thường ăn lan “chết” cả gia đình, có khi đèo bồng đến giòng họ mới đáng ghê tỡm! Ở nông thôn Việt nam, ai dám không theo!? Ba má tôi đành phải dọn về thành. Mang tiếng là thành nhưng Ðức long thời đó khác gì vùng nhà quê. Phố, đường, nhà không có điện. Chung quanh là mả mồ, đụn cát, lưỡi long, xương rồng, bồn bồn, mù u, keo mộc um tùm. Nhớ ông bạn Bé lúc nào cũng bồng đứa em gái, nuôi thay mẹ và ông dượng ghẻ Khoa. Ông nầy, người xâm không còn chỗ trống. Bé hơn tôi một hai tuổi, thông minh, thèm đi học nhưng cũng tới lớp Tư là cùng. Một lần tắm ngoài Mã lở, ổng đã cứu tôi sống, khỏi chết đuối làm “ma da”.

Năm 1984 về lại Phan thiết sống, tìm lại những người bạn khố rách áo ôm hồi nào. Gặp Bé bây giờ là ông chủ tiệm may Khánh nổi tiếng trên Ðức long. Trước 30 tháng 4 năm 1975 anh chàng nầy cũng ráng bò lên được Trung sĩ nhất và ráng học để có với người ta cái bằng Tú tài toàn phần bằng học đêm học ngày, học hàm thụ vân..vân...Hồi đó, ở cái xóm Ngũ hành nầy, dân chưa từng quen biết nhau từ đâu về định cư rất đông. Chỗ kia nhà chú Năm ngói làm nghề thợ hồ, giỏi tay nghề nhưng không siêng năng lắm nên ở nhà nhiều hơn đi làm. Chú là Ngói đặt tên các con là Sỏi, Sành, Sạn, Ðá, Cát. Thằng Sỏi, con trai đầu, đi lính như đi buôn. Nay thấy đội mũ xanh Thủy quân Lục chiến, mai thấy đội mũ đỏ Nhảy dù, mốt thấy đội mũ nâu Biệt động quân. Nó không chết ngoài chiến trường ác liệt nhưng chết vì viên đạn của anh lính truyền tin bên Tiểu khu bắn trong cuộc hành quân hỗn hợp bắt lính. Ðằng nầy, nhà anh Hốt, nguyên Chuẩn úy Adjudant Pháp, giận đời đen bạc lấy súng lục “hủy hoại” thân thể về làm dân thường chơi. Dù chỉ có Yếu lược mà thôi nhưng ở cái xóm nầy, ảnh là người văn hay chữ tốt lại viết đơn bằng tiếng Pháp được. Năm 1960, anh Hốt làm phường trưỏng Ðức long. Tính ưa rượu trà, không thích văn phòng nên bỏ chức phường trưởng để có thì giờ thù tạc vài chung rượu học đời phiêu lãng Lưu linh, chết cũng vì rượu. Ðằng nọ, gia đình thím Quảng có anh Quảng, con Gái chị, con Gái em thường đánh lộn với mấy đứa con trai, bị “mét vốn” hoài. Năm 1954 cả gia đình thím về lại quê cũ Quảng Bình, sau 1975, không thấy bóng dáng một ai trong gia đình thím trở lại. Kế bên là nhà chú thím Thí. Không biết giận đời đen bạc làm sao mà chú đâm đầu vào xe Poids lourd chết nát bấy gần cây cầu số Năm Phú phong. Những người chạy xe đêm nói: “thường thấy chú lảng vảng quanh đó với hình hài tàn phế, nghèo nàn và tiếng than khóc thảm thiết vô cùng”. Người ta lập cái am thờ vong hồn linh thiêng của chú. Có phải vậy không, sau đó không thấy bóng ma u uẩn của chú nữa. Sát đây, nhà chú Bổn trong bưng Ba hòn chán theo Việt cộng về đạp xích lô. Cần cần cù cù, vài năm sau chú có trên mười chiếc xích lô cho mướn. Nhà anh Thanh trong khuôn viên nhà ông Ðạo, ba thằng Chài, thằng Lưới. Ông già nầy thích đập đầu chó nấu “rựa mận”, “rồi” và uống ba xị đế rồi ngủ gà ngủ gật năm, ba ngày dài. Nghe nói, thằng chà đi Thủy quân Lục chiến chết. Thằng Lưới theo Biệt động quân cũng chết theo. Ông Ðạo buồn, uống rượu nhiều. chết sớm. Anh Thanh lúc nào cũng “complet” chemise trắng cài manchette bỏ trong quần tây trắng, mang kính trắng, đi đôi giầy trắng, cái cà vạt trắng, sợi dây nịt cũng trắng. Chắc ảnh nghĩ, vi trùng sợ màu trắng chăng? Ảnh đến hơn bốn mươi tuổi mới chịu lấy chi Ðọt Hoa làm vợ. Trong thơ mời đám cưới, tôi còn nhớ có câu “hôn nhân là quá trình sáng tạo”. Ảnh có bà chị ruột không may bị thằng “Tây đen rạch mặt” nào đó trong bọn lính Lê dương Légionnaires xứ Sénégalais hay Maroccain làm bậy khi đi “patrouille” qua làng chị ở Phú bài ngoài Huế, đẻ ra thằng Ðông đen thủi đen thui và tóc quăn chằng quăn chịt. Người ta thương hại hai mẹ con chị nhưng không quý trọng cho lắm!. Thằng Ðông được cái là, mau mắn làm theo việc ngườì ta nhờ. Cái đầu quăn của nó, một ngày không biết mấy trăm bận được người lớn, kẻ nhỏ xoa. Xoa đến nổi “đau trốt con tui bi chừ!”, chỉ thường nói như vậy. Về sau, anh chị Thanh dời nhà ra Nha trang vừa sống nghề Y tá chích dạo vừa đúc những thứ xây dựng nhà cửa, đẻ con cái, hạnh phúc. Mẹ con thằng Ðông không biết trôi giạt nơi đâu!?

Tôi học trường làng Ðức long từ 1952 đến 1954, trường Nam Tiểu học Phan thiết từ 1954 đến 1956, trường Trung học Công lập Phan bội Châu từ 1956 đến 1963. Thời Tiểu học, khoảng các năm 1954, 1955 người Bắc di cư vào Phan thiết rất nhiều. Nói là Bắc, thực ra họ là dân Ba làng, Nghệ an. Họ đến đây cho chúng tôi, những thằng chưa biết trời cao đất rộng là gì những lạ lùng, những ngạc nhiên, vừa tò mò vừa không thiện cảm chút nào. Chiếc xe đạp đàn ông sườn ngang không chịu đi mà chịu chạy bộ để “thồ” những bó củi, những thúng hoa quả từ xa cả chục cây số về cho kịp phiên chợ. Họ chê Việt minh, vào đây mang theo cái khăn mỏ quạ đen thui, bộ quần áo nâu sậm vải thô, đôi dép râu xuệch xoạc, lời nói lắc léo, khó nghe. Lúc đó, tôi đang học lớp Nhất B của thầy Lô ở trường Nam Phan thiết. Một hôm thầy đi vắng, ông Hiệu trưởng người ngoải mới vào, tạm thay thế trong giờ tập làm văn, đã ra đề “em hãy tả con gà sống nhà em”. Chúng tôi, những thằng bé tí teo dân Phan thiết đã hiểu nghĩa “con gà sống” trái nghĩa với “con gà chết”. Trớt quớt! Zéro hết trơn! Nhiều đứa khóc! Từ sau đó, chúng tôi biết thêm “ruộm” là nhuộm, “rựa” là nhựa, “chúa nhật” là chủ nhật, “hoa” là bông, “nước hoa” là dầu thơm, “bệnh” là bịnh, “thư” là thơ...Thời đó, xóm chúng tôi có một gia đình người di cư sống trà trộn, gọi là nhà ông Bắc. Ổng có đứa con trai tên Bình, Trần thái Bình rất ỷ thế “ba tao là của cụ Ngô” cứ ngông nghênh đe dọa thường nhật bọn học trò chúng tôi, những thằng con dân cố cựu địa phương không có chức, có quyền. Cái thằng nầy tại ba nó cố tình hay tại nó chùng lén, khi thì trái lựu đạn, khi thì cây súng lục một cách trịch thượng đe thằng nầy, dọa đứa kia “đụng tới ông thì biết tay, thì bỏ bố nghe con”. Nghe người lớn nói “ba nó là Cần lao Nhân vị gộc, là Mật vụ, là Thanh niên Cộng hòa, là Phong trào Cách mạng Quốc gia, là người của chế độ Ngô đình Diệm-Ngô đình Nhu, nên nhịn nghen tụi bây”. Thằng Phi người Huế tức khí không “nhịn nghen tụi bây” được, đánh nó một trận nặng đòn rồi bỏ học, bỏ trốn ra Phan rang. Ba má nó ở nhà “năn nỉ người ta cho êm chuyện” cũng bị “địt bố chúng bay” dài dài và “đụng tới con ông, ông bắn bỏ mẹ”. May có Cách mạng 1 tháng 11 năm 1963, ba thằng Bình bị bắt bỏ tù, thằng Phi mới được nghênh ngang trở về, không thì “tàn đời rồi con ạ”. Thời những năm còn Chế độ Gia đình trị Diệm-Nhu, những ông Linh mục được gọi là “cha” thường chễm chệ ngồi phách lối chỗ nào quan trọng nhứt trên khán đài danh dự. Phan thiết có “cha” Nguyễn viết Khai, người lập ra trường Trung học Tư thục Ngô đình Khôi, sau nầy là Chính tâm. thường giành ghế đó, được dành cho ghế đó. Nói tới ông Khai, ai mà không ngán, ngán từ trong dinh Tổng thống Ngô đình Diệm ngán ra. Các ông Tỉnh trưởng xớ rớ là bị đá đít ngay. Hồi đó dù mới học những lớp Nhứt, lớp đệ Thất thôi, nhưng dưới mắt thằng nhỏ của tôi, những ông tăng lữ nầy không có một chút nào kính trọng hết, ghét lắm mà cũng ngán lắm! Không ngán sao được? Các ổng là đại dương. Mình là hột cát biển cả. Ông Tỉnh trưởng, ông Biện lý, ông Chánh án còn run cầm cập làm gương kia mà. Dĩ nhiên quý vị Linh mục, Mục sư, Thượng tọa, Ðại đức, Chức sắc... không ham leo trèo lên ghế danh vọng đó, tôi tôn kính vô cùng, đâu dám vô lễ theo thói vô thần của Việt gian Cộng sản.

Nghĩ cũng tội nghiệp đời mấy thằng nhỏ thời chúng tôi. Không có tiền mua được một trái banh để đá. Giấy vụn không có cho người ta cân ký lô đem bán để gói đồ, có đâu dư cho bọn con nít làm trái banh! Trái banh chỉ là lá chuối, bẹ chuối làm tròn lại. Sân đá là ruộng khô cứng như đá mà lồi lõm biết bao nhiêu là lỗ chân trâu. Cầu thủ trẻ măng cở mười hai mười ba tuổi, trần trụi dưới nắng chang chang, đá chân trần lúc nào cũng bị xước bị trầy, về nhà thường khi còn bị chửi, bị đòn. Xóm tôi có những thằng mê “giàn thun” bắn chim hơn mê gái. Chúng tôi, những thằng Cẩm, thằng Hùng, thằng Bảy, thằng Hai và tôi, thường xách giàn thun đi khắp Xà khòm, cầu Bốn mươi, Xung phong, Ðại nẫm, Phú hội, Phú lâm, Thanh hải, lầu ông Hoàng...bắn se sẻ, dồng dộc, sáo, cu, cưởng. Một buổi sáng trời mưa, tại nhà máy xay lúa ở cây số Năm, Phú lâm, tôi đã không bắn đàn chim sẻ cả trăm con lại bắn ngay đầu chú gà cồ đang đạp mái. Nó “oát” một tiếng và nhảy đành đạch chờ chết. Thằng Hùng, thằng Cẩm, tôi muốn “dông” cho mau nhưng ba đứa đều mang guốc xuồng nặng chình chịch lớp đất thịt dầy dính cứng bên dưới. May, người ta lo cải nhau, không biết gì. Thoát nạn! Lớn lên, thằng Cẩm tử trận sớm ở Năm căn, trên vai nát bấy lon Trung sĩ Thủy quân Lục chiến như những con chim nó bắn nát đầu hồi còn nhỏ năm nào mới đó. Thằng Hùng, Trung úy Hải quân mãi miết quậy nát kinh đào, sông, rạch vùng Bốn, nếm mùi tù Cộng sản hơn năm năm mà bây giờ lúc nào cũng nhe răng hề hề trên vùng Seattle, Mỹ quốc. Tôi “lù đù lụ đụ” cũng Ðại úy, phụ tá cho Trung tá Công binh Cao khánh Sang và Trung tá An ninh Quân đội Trần ngọc Giang về nghành Cảnh sát Ðặc biệt, ăn cơm tù lao động khổ sai biệt xứ trong Nam, ngoài Bắc chin năm tròn.

Nhớ năm 1956, giờ Hán-Việt với thầy Thư dạy Việt văn lớp đệ Thất trên lầu trường Phan bội Châu, Phan thiết mà buồn cười quá sức cho cái ngu ngơ “bé cái lầm” của mình. Thầy dạy chữ Dương có nhiều nghĩa: mặt trời, tên một thứ cây, con dê, khen ngợi, dâng lên...”Các trò cho ví dụ”. Ðứa thì “thái dương”, “dương gian”; Ðứa thì “sơn dương”, “dương liễu”...Tôi không chịu thua, thưa thầy “dương vật’. Thầy Thư đập bàn, “ mất dạy, double zéros, ra ngoài”. Cả lớp im thin thít. Con ruồi bay qua còn nghe được tiếng vỗ cánh. Tôi đứng ngoài hành lang mà không hiểu tại làm sao? Sau có đứa bảo “dương vật là cái của mấy ông đó ông nội”. Lạ! Ðứa bảo đó không phải là thằng con trai mà là mụ con gái. Chuyện trớ trêu, buồn cười! Tôi cứ nghĩ, “dương vật” là dâng vật phẩm lên cho ai. Ai biết “dương vật là cái của mấy ông đó ông nội”. Sau đó, tôi mới biết những tiếng “ngọc hành”, “dương vật”, “nhũ hoa”, “âm hộ “, “giao cấu”...trong tiếng Việt, tiếng Anh tụi bạn học trai cũng như gái, có khi gái còn rành rọt hơn đều thuộc lòng nhuần nhuyễn hết trơn, duy tôi ra. Tôi không phải không nghịch nhưng không có nhu cầu cũng như không mất thì giờ tò mò ba cái tơ lơ mơ đó. Thì giờ của tôi là đá banh, bắn giàng thun, tắm biển, tắm sông, bắt bướm còn không đủ.

Năm 1961, bác Quế làm Công an Phường bị Việt cộng tới nhà bắn chết. Bác là Công an nhưng cả phường Ðức long ai cũng quý, cũng mến, không như Công an Phường, Công an Khu vực bây giờ của ba anh cà chớn Việt cộng đến đâu người ta cũng chữi thúi đầu. Bác chết, ai cũng buồn, cũng thương. Về sau, thằng cha Cầm trong xóm Câu theo Việt cộng về “hồi chánh”, nói “chính tôi đã ám sát ông Quế”. “Thằng khốn nạn, lưu manh”, ai cũng xỉa xói nó như vậy. Bác chỉ có một cô con gái duy nhất là cô Phấn. Có lẻ là con một được cưng, cổ học như tài tử đóng phim “khi vui nó đậu, khi buồn nó bay”. Có người nói với tôi, “con Phấn thương mầy lắm đó”. Tôi có phần hơi biết biết. Năm đó, chúng tôi cùng học lớp đệ Tứ. Tôi học trường Trung học Công lập Phan bội Châu. Phấn học trường Trung học Tư thục Tiến đức. Năm sau, bác gái dọn nhà, dắt Phấn đi biệt tích, không biết về đâu?

Năm 1963 thiếu ¼ điểm để đậu Tú tài I. Buồn hết sức. Buồn vỉ thua bạn bè. Buồn vì con bồ mới quen nghe mình rớt, đã vội đi lấy chồng. Buồn vì để cha mẹ đi vô đi ra không một chút vui lòng. Năm đó, Phạm Duy cho ra bài “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc”, đi đâu tôi cũng “... anh Quốc ơi! từ nay trong gió ra khơi, từ nay trên cánh mây trôi, có hồn anh trong cõi lòng tôi...” như một người thất tình, thất chí, thất vọng. Tội “nghèo mà ham”, tôi không biết thân thằng vừa thi rớt mà con đường cát bụi sờ sờ trước mắt với “cánh gà” trên vai, trên ngực, trên nón cứ rè rè mấy con nhỏ con bà Thuận thiên đẹp quá trời và cả con nhỏ Phượng ở Lạc đạo “nhìn mà mê điếng hồn” nữa. Anh Hai chà chạy xích lô như xoi mói tâm can của mình, đong đưa cái võng bện dây dừa bắt chước Út Trà Ôn nghêu ngao hát chọc mấy câu vọng cổ “Khóc mồ em Phương”: “trăng tàn in đáy nước. Hoa rơi rụng mái đầu. Phượng còn đâu, Phượng ở đâu? Tình ta cách trở nhịp cầu nhớ thương”.

Năm 1973 có lần tôi gặp lại các cô gái đẹp hồi nào đó tôi mê tình trai gái bước vào Tín nghĩa Ngân hàng của ông Nguyễn tấn Ðời trên đường Ðôc lập Nha trang. “Các cổ lấy chồng Phi luật tân hết trơn”. Tiếc hết sức! Tôi hơi thắc mắc, các cổ đẹp như dzậy, kẹt làm sao mà làm vợ Phi luật tân, không phải Việt nam như tôi chẳng hạn hay “Mỹ quốc viện trợ” có hơn không? Ðố trời mà biết? Ông bà mình ghép chữ hay lắm. Hể có “mê” thì phải có “mệt”. Mê mệt mà! Hồi đó, ngày nầy qua ngày khác “mệt” chờ cô bé tan lớp học đêm trường Tiến đức để kè kè xe đạp miết tới Sở muối, dài cũng cả ba, bốn cây số, có được gì, rồi tòn ten tõn tẽn đạp xe về.

May đầu năm 1964, Tết Giáp thìn, một cô gái Bắc ở ấp Ðông ba Gia định theo bạn ra Phan thiết chơi. Cổ tuổi Giáp thân, thông minh, linh hoạt, khéo léo, đẹp gái, có duyên, nhanh nhẹn... như khỉ. Tôi vui lây. Các thằng Long cận làm thợ sửa máy ghe, máy tàu, thằng Bảy cao làm thơ đóng ghe nhỏ đánh lưới rùng, đóng ghe buồm hốt cá nục, thằng Nghĩa lùn chủ con tiệm hủ tiếu, mì quảng ngay đồn chữ Y, tất cả mê như bị bùa, bỏ hết theo cổ vào Sài gòn ăn cơm tháng, ở nhà trọ của ba má cổ mà học nghề thợ dệt để “gần em mà chiêm ngưỡng” như tụi nó từng thổ lộ. Khoảng gần ba tháng sau, các ông mê gái tỏn tẻn bò về. Cổ “coi Bảy, Nghĩa, Long là bạn” mà thôi vì “người yêu của tôi đang ở Phan thiết”. “Người yêu của tôi đang ở Phan thiết” chính là tôi đây. Hằng tuần tôi nhận nhiều lá thư tình thương nhớ não nùng và những nụ hôn nặng chình chịch đôi môi son hồng, thơm mùi thơm Chanel No 5 trên những trang giấy pelure trinh trắng mỏng manh. Tôi, rồi thời gian, trái tim còn trống trơn hình bóng một cô gái, đâm nhớ nhớ thương thương! Mối tình đơn sơ kèm theo đời trai học trò non nớt kinh nghiệm tình trường, không đủ sức níu kéo, gắn bó. Nàng đi lấy chồng có chút nào bịn rịn, luyến lưu!? Còn tôi, chăc tình chưa đủ đậm, không dư mặn nồng nên chưa dính vào vòng tục lụy ưu phiền, ray rứt! Bây giờ cũng gần bốn mươi bảy năm rồi, nhắc lại chuyện xưa, đâu đây còn chút hơi hám kỷ niệm xao xuyến, bồi hồi, mơ màng...Năm Mậu thân 1968, cháu ngoan bác Hồ chẳng kiêng kỵ gì ba ngày Tết thiêng liêng, tấn công vào khắp các tỉnh, thành phố Việt nam Cộng hòa vào đêm Giao thừa, đem súng đạn trong rừng ra đốt phá, bắn giết. Một Tết ảm đạm, đau thương, thảm thiết! Nhà tôi trên Ðức long không ảnh hưởng gì nhưng ầm ầm bên kia Văn thánh, trên kia Căn, dưới kia thị xã Phan thiết. Tụi Việt cộng bị chận đánh khắp nơi, không ngóc đầu lên được. Trên nóc nhà tôi, những chiếc trực thăng chiến đấu nhả rocket rào rào.

Năm 1965, làm précepteur cho mấy đứa nhỏ trong xóm Vạn chài, sau rạp ciné Văn hoa Ðakao. Một cô bé Bắc kỳ dễ thương chi lạ của trường Văn hiến hồi nào ở đó, bây giờ năm 1968 gặp lại, đã là một thiếu nữ đẹp quá. Mê lắm, lấy làm vợ. “Sắm cái jupe serrée ngắn màu tím hoa cà nhé”. “Ăn mặc cũn cỡn coi không được”. Vợ và bà má vợ khác ý hoàn toàn. Nhưng “nhứt vợ nhì trời” mà. Bà vợ mặc cái jupe serrée trông vừa “mignone” lại vừa “à la mode” và đẹp biết chừng nào! Ðúng là hoa khôi trường Trung học Tư thục Văn hiến. Cái trường nằm trong hẻm Trần quang Khải có người con gái “Ngày Xưa Hoàng Thị” Hoàng thị Ngọ của Phạm thiên Thư, “em tan trường về, anh theo Ngọ về. Chân anh nặng nề, lòng anh nức nở. Mai vào lớp học, anh còn ngẩn ngơ. ngẩn ngơ”. Trong vòng không hơn bốn cây số, vùng Ðakao-Tân định nầy vào các giờ tan trường học, đường sá chật cứng học sinh là học sinh các trường Văn hiến nằm sau ciné Văn hoa, Văn lang ở đường Trần quý Khoách, Huỳnh thị Ngà trong đường Trần nhật Duật, Huỳnh khương Ninh ngay đường Huỳnh khương Ninh, Vương gia Cần trên đường Phan thanh Giản và hai trường Lê văn Duyệt bên kia cầu Bông trên đường Lê văn Duyệt, Hồ ngọc Cẩn ở Lê quang Ðịnh. Dù hai trường nầy nằm bên Gia định, sát lăng Tả quân Lê văn Duyệt nhưng cũng là chòm xóm của Ðakao-Tân định. Chưa nói từng đoàn người túa ra từ các rạp ciné Văn Hoa Ðakao trên đường Trần quang Khải, Casino Dakao ở ngả ba Ðinh tiên Hoàng với Hiền vương, Moderne bên hông chợ Tân định trên đường Trần văn Thạch và Kinh thành nhìn ra đường Hai Bà Trưng trước chợ Tân định. Nhắc đến đây lại nhớ tới thằng Hòa thợ hồ. Nó không còn trên đời. Tức vợ làm sao, năm 1985 nó dám tẩm xăng tự thiêu để vợ đi lấy chồng khác và hai con thì mất cha, mẹ bỏ, ở với ông bà nội trên bảy mươi tuổi.

Năm 1967, nó cả gan dắt hai thằng bạn Chuẩn úy cùng quê vào Quốc thanh coi “cọp” đại nhạc hội. Bà xét vé gát cái chưn mập ú lên ghế ngáng đường, kế bên có anh Quân cảnh và anh Cảnh sát. Nó sửa lại cái áo ca rô màu bỏ vào trong cái quần tây xệ đì, nhá làm sao để “nhô” lên cái gì bên trong cho người ta nghĩ là cây súng lục. Nghiêm mặt, vừa ngoắt tay bảo hai thằng bạn “dô” vừa hất cái chưn ngáng đường của bà xét vé khuôn mặt lúc nào cũng lầm lầm lì lì dễ ghét, bảo “dô được không?”. Ba đứa thong dong đi vào trước mắt nhân viên công lực và người đàn bà không hiền một chút nào nghi nghi, ngờ ngờ dòm theo. Có gì đâu, nó lận vào bụng một ổ bánh mì thịt vừa lấy le là súng vừa vào rạp ăn cho đỡ cái bụng. Cái thằng “gan dữ” “lì quá”. Mấy ông Chuẩn úy Mạnh, Chuẩn úy Hùng một phen hết hồn, hú vía, “có cho vàng, tao cũng đếch dám theo mầy lần nữa”. Một hôm thằng Nhàn, bạn cùng quê, cùng nghề của nó hớt ha hớt hải chạy về báo “em mất chiếc xe đạp mượn của thằng Hòa rồi”. Nó từ đâu lại dắt chiếc xe đạp đó về, nói “tao đang ngồi nơi bùng binh ngả Bảy, thấy có thằng lạ quá, lúi húi dựng chiếc xe đạp của mình. Tao hét to: “mầy lấy xe tao?”. Nó hoảng hồn bỏ chạy. Lần sau cẩn thận nghen mậy”.

Năm 1969, tôi dắt cô vợ trẻ măng mười sáu tuổi trên mặt giấy tờ, bỏ Nam ra Trung, mướn nhà ở khu phố Hải châu, Ðà nẳng. Cuộc sống có thanh bạch, thanh đạm nhưng hạnh phúc thì tuyệt vời. Chúng tôi dè sẻn tiền nông lính lác không nhiều, làm sao để cuối tuần nào cũng có hai ngày thứ Bảy và Chủ nhật ăn tiệm và coi ciné. Một cô gái mới khập khểnh lên lớp đệ Tứ vừa bước qua tuổi mười bảy, có phải “mười bảy bẻ gãy sừng trâu” không mà đã bước một bước thật dài lưu lạc rầy đây mai đó “nhọc nhằn mà vui” đời nhà binh với chồng! Sài gòn, Phan thiết, Ðà nẳng, Phan thiết, Nha trang, Phan thiết, Sài gòn, Nha trang, Quảng đức, Sài gòn chỉ trong vòng chưa tới bảy năm ngắn thiệt là ngắn với ba đứa con bồng, dắt mà tình yêu vợ chồng thì nồng nàn tràn lan, trong sáng, tươi mát, tuyệt vời, kỳ diệu. Những năm kế cận 1975, mỗi tối vợ chồng bồng bế con cái xuống hầm chiến đấu vừa ngủ vừa canh thù qua lỗ châu mai. Ðịch pháo tầm bậy, trật tầm bạ, sự sống chết là may rủi. Ngủ một đêm thấy mình chưa chết thì biết là còn sống một ngày. Trong tình hình chiến sự có thể xẩy ra bất kỳ ngay trong thành phố như chơi. Tôi đã “bày” bà vợ bắn súng ngắn, bắn súng dài, mở chốt lựu đạn M.26 mà quăng, giựt mìn Claymore M18A1 cho nổ... để cũng là một chiến sĩ ngoài mặt trận với chồng. Một lần bả giận cái chi chi không nhớ, đã mở chốt lựu đạn “cho cả nhà chết chung”. Tôi tìm chốt lựu đạn “bét mắt”. Tôi năn nỉ bả hết hơi. Chắc bả cũng sợ chết chăng nên mọi việc coi như là “hăm”, “dọa”, “hù” mà thôi.

Một chiều mùa Thu năm 1974, tôi dắt Trung úy Thuận, Thiếu úy Lan đến phân ưu ba anh lính Thám sát người Thượng của mình dưới vùng đất trũng Trung tâm Truyền giáo Dak nông của cha Moriceau vừa bị tử thương ở Nam Khiêm đức mà nghe lòng đau đứt ruột. Nhìn thân nhân mấy anh em đó vật vã, dù ai sắt đá, chai lòng như thế nào đi nữa cũng phải quặn nhói, nước mắt không giữ nổi. Sự hy sinh nào cũng cao cả. Cao cả hơn hết vẫn là sự hy sinh vì dân, vì nước. Họ nằm xuống, không có gì, không còn gì. chỉ có tiếng gào than thống thiết làm hành trang đi vào cõi thiên thu miên viễn! Ðầu tháng 4 năm 1975 chúng tôi lái xe từ Quảng đức về Nha trang họp. Hôm sau, Ðại úy Bình giành lái, quá giang về Phan thiết thăm gia đình luôn thể. Bình là Bùi Bình, độc thân vui tính, không thèm lấy vợ, là bạn học cùng trường Trung học Công lập Phan bội Châu, Phan thiết với tôi. Xe qua cầu Sở muối, qua quán cơm Thuận thiên, tới nhà máy xay lúa Huỳnh hương. Một bầy bò đủng đỉnh băng qua đường. Thằng nhỏ chăn bò đứng nhìn. Xe chậm lại. Thinh lình, nó “dzọt” ra đường. Thằng Bình đứng thẳng người đạp thắng gấp. Tôi, vợ con tôi, tài xế tôi xáng đầu vào nhau. Thằng nhỏ chăn bò “chắc chết dẹp dưới xe rồi”. Xe dừng lại. “Thằng nhỏ tai hại quá trời” lòm còm dưới xe bò ra. May quá! Chở nó lên nhà thương. Lạy trời, nó không có gì! Ba hôm sau, tài xế Sơn lái xe về lại Nha trang để hôm sau lên Ban mê thuột. Ngày 8 tháng 4 năm 1975 chúng tôi rời Ban mê thuột về Quảng đức sau cả tuần lễ vừa công tác vừa tư tác. Ðêm đó, Ban mê thuột bị Việt cộng tấn công và kéo theo lụy vong quốc 30 tháng 4 năm 1975 nhằm ngày thứ Tư năm Ất mão, tôi vừa đúng 32 tuổi 5 tháng 11 ngày, Ðại úy, một vợ, ba con. Tôi ở Quảng đức đuợc ba năm rưởi. Thời gian đủ dài để ngậm ngùi nhớ cảnh nhớ người. Các Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng lần lượt đến, đi: Trung tá Nguyễn Duân, Ðại tá Phan đình Niệm, Trung tá Trần văn Chơn, Trung tá Nguyễn hữu Thiên, Ðại tá Phạm văn Nghìn. Hai ông Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia bám trụ hơn bốn năm: Trung tá Cao khánh Sang và Trung tá Trần ngọc Giang. Tôi đến đây một chiều mùa Ðông 1971, gió rừng, bụi đỏ, lạnh lùng và phố phường như đang ngái ngủ cơn hôn mê dài. Nơi phi trường Gia nghĩa, trần trụi một xe, một tài xế, một escorte theo lệnh “đi đón Ðại úy”. Hai ông bạn, Thiếu tá Phi chết vô duyên nơi quán Mây hồng vì mê gái và xỉn rượu; Thiếu tá Tư đền nợ nước ở Ðạo nghĩa vì cái lệnh “trời ơi đất hởi” của ngài Trung tá Trần văn Chơn. Vậy mà tháng Tư năm 1972, ông Ðại úy Hối, nói cho rõ ra là Hồ Hối- cái tên làm thằng tôi khó quên Bùi Cà-Hồ Hối-Ðồng Thủ- mỗi khi điểm danh phải “ồ!” lên một tiếng cười rộ. Ổng lên đây không phải “Xuân du phương thảo địa. Hạ ngoạn Lục hà trì...” gì ráo, mà để thay thế Ðại úy Hương lấy cái oai Ðại úy, lấy cái mạnh của Ðệ nhất đẳng Huyền đai Thái cực đạo, lấy cái tâm của cấp chỉ huy “trị” Ðại đội 213 CSDC chắp vá ngang tàng bốn phương về đây “quậy”. Ba tháng ngắn ngủi làm “ông Thiên lôi”, lính nhớ, lính thương biết mấy. Ngày 23 tháng 3 năm1975, các ông Tiểu khu, các ông Cảnh sát rủ nhau học kế “tẩu vi thượng sách” của thỏ đế trốn chui trốn nhủi ra khỏi tỉnh rồi gọi là di tản cho có vẻ chiến thuật, chiến lược một chút lấy oai. Phải nói là hết sức can dảm, bây giờ có người còn“ta đây” dám vỗ ngực xưng tên giành công chỉ huy “chạy”. Tôi cũng chạy. Chạy tán loạn! Nhục lắm chớ! Buồn lắm chớ! Thế nước cuộc cờ, biết làm sao! Giong ruổi lại gặp ông Hối vẫn là Ðại úy ở Bảo lộc dắt về cơ sở Ðại đội “đãi” ăn, “đãi” ngủ, “đãi” tình. “đãi” nghĩa và còn tìm máy bay “đãi” cho về Nha trang nữa. Quý hóa quá chừng. Có gì, còn gì kẻ chạy lấy thân!? Tôi tặng ổng cây “Browning” bạc nhỏ chút xíu chút xiu đã giữ kỹ từ lâu như thể báu vật để gọi là “chút nghĩa cũ càng”.

Ngày 27 tháng 6 năm 1975 chun đầu vào “học tập cải tạo?” chin năm để gần 42 tuổi mới chịu về. Ngày 19 tháng 11 năm 1992 qua Hoa kỳ theo chương trình ra đi có trật tự với số hồ sơ HO.14 thì đã hơn năm mưoi tuổi đời, gìa đình định cư tại thành phố Kansas thuộc tiểu bang Missouri, lạnh thì lạnh dữ mà nóng thì nóng cũng dữ! Những anh em tứ chiếng giang hồ khắp bốn Vùng chiến thuật của đất nuớc Việt nam Cộng hòa “tay trắng, trắng tay”, gặp nhau đây, chưa từng quen biết mà tay bắt mặt mừng, vui thiệt là vui. Ðúng là “đồng thị thiên nhai luân lạc nhân. Tưong phùng hà tất tằng tương thức?” trong Tỳ bà hành của Bạch cư Dị mà tôi đã học lóm từ thuở nào không biết nữa. Cụ Trần trọng Kim đã dịch “cùng nhau góc bể long đong. Gặp nhau lọ phải đã cùng quen nhau”. Thời gian có làm phôi phai lòng người? Năm, mười, mười lăm, hai chục năm sau, anh em khoe nhau tiền của, giàu sang phú quới, làm ngơ nhau, hiềm khích nhau, ít thấy “vui thiệt là vui” như hồi nào. Tôi có bà xã “lận đận lao đao” cơm đùm cơm bọc nuôi tôi trong tù vẫn một lòng lẽo đẽo “có chồng thì phải theo chồng. Chồng đi hang rắn hang rồng cũng theo” qua tận bên nay mà lo tuổi già với nhau. Dẫu là thường tình nhưng cũng buồn cười hết sức. Trước năm 1968 chỉ có một mình mình mà bây giờ một vợ, năm con, tám cháu, mười lăm người, buồn cũng có mà vui cũng không ít. Con người, hóa ra đẻ nhiều quá hén! Hèn gì, dân số địa cầu đã ngót nghét bảy tỷ người rồi. Ghê thiệt! Ai biết được tưong lai? Hẹn hò với anh em năm nay đón Giao thừa Canh dần-Tân mão ở chùa Quan âm vừa mới xây xong hậu liêu ở cái thành phố lớn đất, thưa người Việt nầy để nói chuyện đời xưa, đời nay, đời người “Thất thập cổ lai hi”. “Mưu sự tại nhân. Thành sự tại thiên”. Trời đất xáng xuống liên tù tì tuyết với tuyết tới đầu gối và lạnh thấu xương chịu không nổi. Án binh bất động, ai ai đều “bế quan, tỏa cảng” ở nhà coi phim bộ, “email” bạn bè, độc ẩm”Hoàng hoa tửu” , khề khà “bạch tuyết thi”, khai bút thơ với văn...vui thú nhàn hạ thanh bần. Tôi vừa ngụm Heineken vừa cọc cọc cạch cạch tập làm thơ:

Hồ trường! Hồ trường!
Uống với ai, hát với ai?
Chuyện đời xưa, chuyện đời nay!
Rượu chưa kịp rót đã có đứa nằm dài.
Bài ca chưa kịp hát có đứa đã im hơi.
Những thằng còn lại:
Có đứa khập khểnh đá trời, té đất.
Có đứa ba gai, bợm trợn “mặc kệ ai”.
Lại có đứa bù đầu vắt óc tính chuyện tưong lai.
Sao gặp lại?
Bốn bốn năm tao mầy hồi đó:
Trời là gì?
Ðất là gì?
Chỉ là rượu, chỉ là tình.
Bốn bốn năm bây giờ:
Tàn mạt.
Tan hoang
Mỗi thằng một ngả.
Xứ lạ.
Chỉ là trăng khuyết, hoa tàn, lá rụng.
Hồ trường! Hồ trường!
Nâng bầu ta rót. Rót mời ai!?
Một mình ta uống.
Một mình ta say.
Ngủ một giấc dài, thật dài. Ngày mai ai biết!!!”

Ðịnh “tu” cho hết chai Heineken mà quăng đi thì chuông nhà reo. Cô Mỹ trắng, trẻ, đẹp của UPS “đạp đất”, đưa gói hàng thằng con trai dưới Dallas gởi lên mừng Tết, “chúc Ba trăm tuổi”. Một cái áo ấm hiệu Lacoste có hình con cá sấu. Chắc nó nghĩ, ba nó già quá rồi, yếu quá rồi, không biết có qua được mùa Ðông hắc ám nầy không chắc? Nhà cửa có người ngoại quốc không mời mà đến “xông” ba ngày Tết. Tốt, xấu đây? Chắc tốt. Một cô gái trắng tinh, đẹp đẽ, vui hơn xuân, còn như con nít, không lẻ “uế tạp” mà không ra gì một năm 360 ngày? Tôi đứng dậy. Kìa bé Ðan Vy hát bài “Chiến sĩ Vô danh”. Thật la bất ngờ. Thật là xúc động. Thế hệ con cháu của chúng ta thật tuyệt vời. Cái nón trên đầu, cái áo dài thướt tha màu vàng, sọc đỏ, giọng Bắc đặc sệt Hà nội thời xưa, Ðan Vy mới bảy tuổi mà biết vung tay một cách anh thư khí khái, “khi ra đi đã quyết chí nuôi căm hờn...Gươm anh linh đã bao lần vấy máu...”. Tôi kêu vợ tôi lại. Tôi kêu hai đứa con út tôi lại. Nói là út chứ tụi nó đã ra Ðại học mấy năm nay rồi. “Tất cả lại mà nghe”. Nhìn tôi, vợ tôi nói: “anh làm sao vậy?” Nhìn tôi, hai đứa con tôi nói: “sao ba khóc?”. Phải rồi, nước mắt tôi đang chảy. Tôi hạnh phúc lắm! Hậu duệ chúng ta giỏi giang biết chừng nào. Xin ơn trên phù hộ Tổ Quốc Việt Nam Muôn Năm Hùng Cường.

Con người thường nói liều nhưng ít khi dám làm liều. Lão tiều phu của La Fontaine có dám chết thiệt đâu. Cái ông Vưong phạm Chí của Tàu nhà ta ngon lắm. Bởi vì đói, bởi vì rét mà: “hoàn nhĩ thiên sinh ngã. Hoàn ngã vị sinh thời”. Ý rằng, trả lại ông trời cái ông trời sinh ra tôi và ông trời hãy trả lại tôi cái thời tôi chưa sinh ra. Nói thô tục, lỗ mãng một chút là muốn chết phức đi cho rồi. Tiếc là, lòng dạ của ổng, Trời chưa thử nên ổng “chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ” mới dám khiêu khích, lòe vậy mà. Sống là bản năng sinh tồn của một động vật. Con người là một động vật trên hết các động vật. Con người yêu sự sống biết chừng nào. hằng hà sa số đồng chủng của ta bị nghiệt ngã vô cùng nhưng vẫn lăn lóc, chịu sống đời bi ai, thống thiết “kêu trời không thấu”, vẫn sợ chết cha cái chết. Dĩ nhiên trên đời, mọi sự việc đều có hai mặt; thiệt giả, đúng sai. Ba tôi, má tôi nhứt đinh không sợ chết chút nào. Hai cụ sắm sẳn quan tài, tang phục, tang chế để sẳn trong nhà, thanh thản chờ ngày “về với ông bà”. Má tôi đêm 18 tháng 9 Ðinh mão, năm 1988 bắt đứa cháu gái tắm rửa sạch sẽ, bảo cất giữ chiếc nhẩn một chỉ vàng y và thay áo quần sạch sẽ, tốt đẹp. Hôm sau, má tôi ngủ một giấc dài mãi mãi không thức dậy. Bà cụ ra đi một cách êm ái, thanh thản, miệng còn nụ cười chưa tắt trên môi. Ba tôi, ngày 18 tháng 11 Bính tý, năm 1996 cũng từ từ giả biệt con, cháu, chắc về bên kia thế giới như trong cơn ngủ say, sắc mặt y như bình sanh, không gợn chút dấu vết người về bên kia thế giới. Người ta nói: “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”. Ðiều nầy không đúng với tôi một chút nào. Tôi cứ thích sống hoài, sống mãi, bởi đời vẫn đáng sống mà./.

Nguyễn Thừa Bình
Những ngày trong Tết Tân mão năm 2011

Của Thiên Trả Cho Địa


Ở Ai cập, cuộc biểu tình lật đổ TT Mubarak, một liệt lão 83 tuổi đã cai trị Ai cập bằng bàn tay sắt 30 năm đã thành công.
Sôi sục là khi công nhân các ngành xe bus, xe lủa, điện và công chức bắt đầu đình công, quá câm hờn khi báo chí đăng gia dình Mubarak ăn cướp của nước của dân hàng chục tỷ Đôla trong khi theo Ngân Hàng Thế Giới cho biết 40% dân số 80 triệu của Ai cập sống dưới mức nghèo khó, chỉ có 2 Đô một ngày. Các thế lực trong nước và ngoại quốc lúc đó bàn việc nhà độc tài này bàn giao chánh quyền mà Ông cố bám đến hết nhiệm kỳ vào tháng 9 năm nay. Tin báo Figaro của Pháp, có đề nghị dàn xếp cho TT Mubarak đi Đức tái khám túi mật của Ông bị cắt và khối u ruột bị mổ ở Bayer cách đây một năm. Trong thời gian tịnh dưỡng này, ông Mubarak chuyển giao quyền hành cho phó tổng thống như ông đã từng làm trước đây vào năm 2004 và 2009, khi đi chữa bệnh nước ngoài. Phó TT Suleiman có thể tiến hành cải tổ,coi như chuyển quyền êm thấm mà hầu hết các siêu cuờng thế giới khuyến nghị. Phương thức này mọi bên đều có lợi. TT Mubark không mất mặt coi như làm tổng thống tới tháng 9 như Ông yêu cầu. Việc chuyển giao chánh quyền để dân chủ hoá êm thấm. Tuy Ai cập chưa yêu cầu, thế mà nhiều đảng phái ở Đức đã chống đối. Đảng Xanh cho là Đức không nên trở thành nơi ẩn náu của những kẻ độc tài. Một số tổ chức bảo vệ nhân quyền cho biết ý định đưa ra một loạt đơn kiện tổng thống Mubarak nếu ông đến Đức.
Nhưng rồi Mubarak đã bỏ chạy. Thụy Sĩ tuyên bố niêm phong tài sản của Mubarak và những người liên hệ.
Như ở Tunisia việc đầu tiên là chánh quyền mới yêu cầu các nước bắt giữ và phong toả tài sản của những người đã ăn cướp của nước và của dân. Đáp lời Văn phòng Cảnh sát Quốc tế chi nhánh Tunis thông báo khẩn cho 188 chi nhánh Interpol trên thế giới định vị, truy tầm, và bắt TT Ben Ali và sáu thân nhân gia đình của y đang tại đào ở ngoại quốc. Bộ Ngoại Giao Canada tuyên bố sẽ "sử dụng mọi phương tiện cần thiết" để người em vợ của Ben Ali phải rời Canada càng sớm càng tốt. Ngoại trưởng các nước trong Liên hiệp châu Âu đã đồng ý đóng băng các tài sản của Ben Ali và những người trong gia đình y. Thụy Sĩ, một nước với nhiều ngân hàng có nhiều lãnh tụ các nước gởi tiền, hôm 19 tháng 1 đã quyết định phong tỏa tài sản của Ben Ali.
Gia đình Ben Ali và phe cánh theo tin ghi nhận được, trong 23 măm độc tài đã ăn cướp của nước và dân Tunisia - bên chồng khỏang 5 tỷ Mỹ kim và bên vợ khoảng 12 tỷ. Bà vợ này là vợ thứ hai mà ăn bạo hơn chồng là tổng thống nữa. Bà này có một người em vợ ăn cũng quạo lắm nhưng nhanh chân chạy trốn trước ở Canada.
Qua tin này người Việt liên tưởng ngay đến những câu của người xưa rất ứng nghiệm: “Ngày xưa quả báo thì chầy, Ngày nay quả báo thấy ngay nhãn tiền”, “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Cao phi viển tẫu giả nan tàng”. Đúng là “của Thiên trả cho Địa”, tội tình người làm ác riêng mang mà thôi.
Và những tai to mặt lớn của CS như Lê đức Anh, Đỗ Mười, Nông đức Mạnh, Nguyễn tấn Dũng và những tỷ phú Đô la do ăn cướp của dân, ăn cắp của nước nhứt định có gởi tiền dấu ở ngoại quốc ắt phải suy nghĩ.
Trường hợp truy nã những người ăn cướp của nước, của dân và truy hồi số tài sản đó để phục vụ nhân dân ở Tunisia sau cuộc cách mạng Bông Lài không có gì mới. Đã xảy ra cho nhà độc tài Marcos ở Phi luật Tân, cho nhà độc tài Suharto ở Nam Dương sau khi bị đảo chánh.
Đến đây có người nói, CS Hà nội là một chế độ của những người cầm quyền chuyên về du kích chiến, gỉỏi chém vè, lặn sâu, trốn kín. Cách của họ dấu tiền khó mà tìm khi họ bị lật đổ, đừng mong chánh quyền mới truy lùng.
Thực tế trái lại. Tuy không có tin chánh thức, nhưng trên truyền thông dân báo, các mạng, blog chánh trị, người dân đã lập ra một danh sách rất dài những cán bộ đảng viên CS ăn cướp của nước của dân, bán đất, đảo cho Trung Cộng. Còn nhiểu sinh viên du học hợp tác với sinh viên tại chỗ đã vạch mặt một số cán bộ đảng viên gởi tiền ở ngoại quốc.
Thêm vào đó chắc chắn CIA, FBI biết rất rõ số tiền cán bộ đảng viên CS rửa đem cất dấu ở hải ngoại. Đa số cán bộ đảng viên cao cấp có nhiều quyền nhiều tiền là những “người mới giàu” nên không biết “quản lý” số tiền bạc tỷ ăn cướp được, không rành cơ chế gởi tiền lắm đâu. Chuyện gởi tiền ăn cướp, ăn cắp họ không thể tự làm mà phải có người giúp họ. Bí mật nào có người thứ nhứt biết thì có thể có người thứ hai biết. Nhưt là người biết nhiều khi đi tố cáo để được khoan hồng.
Hơn nữa với thói quen độc tôn, độc tài coi mình là “ưu việt, đỉnh cao trí tuệ” nên cán bộ đảng viên CS coi dân như cỏ rác.Vì của cướp được quá nhiều giàu nứt đố, đổ vách, hết chỗ cất dấu nên “vô tư” khoe của nổi của chìm.
Lê Khả Phiêu tư dinh như cung điện, dùng cả một tầng để trồng rau sạch ăn. Nông Đức Mạnh trang trại lớn nhứt ở tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Tấn Dũng, gia đình nắm gần hết hệ thông kinh doanh ngon lành ở Miền Nam.
Alastair Leithead, phóng viên của đài BBC từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”. Chơi xe máy dầu Harley Davison mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét "Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới." Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý ngưởi đặt hàng mua.
Còn Đài RFA của Mỹ cho biết Bộ Công Thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu “những mặt hàng xa xỉ lên đến 10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.
Còn những tin này đã thành kiến thức phổ thông. Số triệu, tỷ phú Đô la nổi trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay riêng để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có chức, có quyền, có tiền tham nhũng quá nhiều khiến tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân thôi vô số kể.
Trong thời gian đảng viên cán bộ CS và những người ăn theo trở thành trọc phú, tư bản đỏ đang còn quyền thế mà những người dân thương dân, yêu nước còn tố cáo trên Internet, thì khi chế độ CS sụp đổ, dân chúng sẽ đòi hỏi chánh quyền mới mạnh cỡ nào trong việc truy tầm, tịch thu, thu hồi lại tài sản của quốc dân bị họ cướp lấy. /. ( Vi Anh)

Hãy ngừng uống Trà Đinh ngay.



Trong đại hội Y khoa châu Âu ngày 16 tháng 10, tại Hotel Novotel Paris 14, mà chủ đề là bệnh Tiểu đường. Giáo sư Trần Đại Sỹ diễn giảng đề tài về khả năng Y khoa Trung quốc, Việt Nam trong trị tiểu đường có đoạn : « Tại Trung quốc, sau khi Hồng quân chiếm được Hoa lục (tháng 9-1949), họ đã thiết lập mỗi tỉnh đều có một viện nghiên cứu, giáo dục y học cổ truyền mang tên Trung y học viện. Tại Việt Nam thì cấp quốc gia có Viện Đông Y, rồi Viện Y Học Dân Tộc, rồi Viện Châm Cứu. Ấy là chưa kể bên cạnh còn những hội nghiên cứu từng loại bệnh, từng loại thảo dược.

Việt Nam là một quốc gia có nền y học dân gian, khác hẳn với y học Trung quốc. Trong suốt chiều dài chiến tranh (1945-1985, kể cả chiến tranh Hoa-Việt, Miên-Việt) hoàn cảnh khó khăn, người ta khai thác cùng kỳ cực y học dân gian. Sau chiến tranh, các kinh nghiệm đó được chỉnh đốn lại, rồi khai triển, xử dụng. Kết quả không thua nền y khoa bác học và Tây y.

Đó là nói về những nét chung chung sự quan tâm của giới cầm quyền, lưu tâm đến kinh nghiệm dân gian. Thế nhưng trong dân gian, người biết cùng kỳ cực thì ít, mà người chỉ nghe qua, biết qua thì nhiều. Họ không tự hiểu rằng họ chỉ nghe truyền khẩu chút ít mà thôi. Thế nhưng họ rồi khăng khăng cho rằng điều mình biết là thuốc tiên thuốc thánh.
Bỏ qua những phong trào chỉ xuất hiện trong một làng, một huyện hay một tỉnh. Tôi xin nói qua về ba phong trào lớn, khắp quốc gia, lan ra thế giới do làn sóng Việt kiều.

– Một là Xuyên tâm liên,

Sau 1975, Tây dược khan hiếm toàn miền Nam Việt Nam. Thảo dược không đủ đáp ứng nhu cầu. Dân chúng một vài nơi có kinh nghiệm dùng cây Xuyên tâm liên để trị sốt, viêm. Sau khi một ký giả đăng tin có thầy lang dùng Xuyên tâm liên trị được bệnh viêm phổi, sưng khớp. Thế là cả nước cùng dùng Xuyên tâm liên trị đủ thứ bệnh. Xuyên tâm liên được rút nước cốt chế thành viên, dùng trong hầu hết các bệnh xá, bệnh viện. Mà trên thực tế Xuyên tâm liên chỉ có tác dụng làm hạ nhiệt mà thôi.

Xuyên tâm liên còn có tên là Công cộng, Nguyên cộng, Lam khái liên. Thời Pháp thuộc tại Pondichery có tên Roi des amers. Tại Anh là Green chireta. Tên khoa học là Andrographis paniculata (Burm). Còn có tên là Justicia paliculata Burm. Thuộc họ Ô rô (Acanthaceae)

Cái nguy hiểm là Xuyên tâm liên có độc tố phá vỡ các tế bào não, tâm, thận. Sau một thời gian, Xuyên tâm liên cướp đi cuộc sống không biết bao nhiêu người, phong trào này mới dứt.

– Hai là Tim sen,

Tim sen vị đắng, nhập tâm, tâm bào kinh . Tác dụng của nó là hạ nhiệt. Hạ nhiệt tim, thận, tỳ, phế. Vì vậy những người bị thực nhiệt uống vào thì hỏa hạ xuống; trong người cảm thấy sảng khoái, ngủ được. Những người bị âm hư, uống vào cũng ngủ được, nhưng ít lâu sau sẽ bị mệt mỏi, mất trí nhớ, tim đập thất thường, tắc tĩnh động mạch. Nam thì bất lực sinh lý (Dysfonction Érectille), nữ thì kinh nguyệt xáo trộn. Ngoài ra tim sen tim sen có độc tố. Độc tố này làm hủy hoại tế bào óc, thận và tim.

– Ba là trà đắng (trà đinh),

Gần đây trong nước rộ lên phong trào uống Trà đắng. Trà đắng có hai loại, một tên là Ilex cornuta Lindl mọc ở Giang tô, Triết giang, Thượng du Bắc Việt. Một loại có tên Ilex latifonia Thund mọc ở Triết giang, Phúc kiến, Quảng Tây và Thượng du Bắc Việt. Sau khi thu thái, người ta cuộn lại giống hình cái đinh, nên gọi là Trà đinh. Trong nội địa Việt Nam rộ lên phong trào dùng trà đinh để trị huyết áp cao, mất ngủ, cholestérol, tiểu dường. Rồi con buôn nhảy ra khai thác : Trà tiên trị bách bệnh. Phong trào đó lan ra hải ngoại. Hầu hết những bà thất học, bất chấp lời can của Bác sĩ gia đình, của thân thuộc là nạn nhân. Họ như bị ma, quỷ nhập, cứ thi nhau uống. Loại trà này dược học Trung quốc gọi là Khổ đinh trà. Có tác dụng tả hỏa, thanh nhiệt rất mạnh vì vậy nó làm cho dễ ngủ, nhất là một vài dạng huyết áp cao, tiểu đường hạ xuống (Huyết áp cao do Can dương thượng thăng. Tiểu đường do Phế âm hư). Tính của nó hàn. Khi dùng từ 5g một ngày :
– Khí huyết bị bế tắc.
– Thận, tâm, tỳ, phế dương bị tổn hại.
– Máu ứ đọng trong các tiểu mạch, tim đập chậm lại.
Tại Liên Âu đã xẩy ra rất nhiều tai nạn khi dùng loại trà này. Trà được đưa vào Liên Âu qua đường du lịch, bất hợp pháp. Những nạn nhân hầu hết là phụ nữ lớn tuổi, thất học, khi về thăm Việt Nam, Nam Trung quốc mang sang.

Xin thuật hai y án mới nhất:

1. Bà X R, 53 tuổi, thất học, buôn bán, sống tại Berlin (Đức)
Có một con gái 18 tuổi, đã cắt tử cung. Tuyệt kinh từ năm 43 tuổi.Thường bị mất ngủ, phong thấp. Tết A^'t Dậu (2005) về thăm quê. Được người nhà khuyên uống Trà đinh. Sau khi uống, thấy ngủ được (do tính hàn), và phong thấp giảm đau (do tính hàn, chống phong là dương tà). Khi rời Việt Nam về Berlin, mang theo 10 kg, chia thành túi nhỏ 5g, tặng cho khách hàng của bà. Riêng bà mỗi ngày uống 5g buổi sáng, 10 buổi chiều. Sau hơn tháng :
– Tóc bắt đầu đổi mầu úa vàng, sáng dậy tóc bị gẫy.
– Trí nhớ giảm thoái,
– Nhịp tim còn 55/ phút,
– Bàn chân, tay lạnh,
– Lưng lạnh,
– Độ kính lão từ 1,5 tăng lên 2,5.
– Ăn vào đầy ứ, khó tiêu.
Bác sĩ gia đình là người Đức, nên không hề biết gì về Trà đinh, mà cứ cho rằng bà X bị tình trạng lão hóa tăng do làm việc quá độ. Sang tháng thứ 5, đang đi đường bị choáng váng, ngã. Đưa vào bệnh viện. Bệnh viện tìm ra :
– 65% tế bào óc không làm việc,
– Tâm lực suy yếu.
– Bao tử, ruột, gần như không làm việc.
– Siêu vi gan B, do độc tố.
Bà từ trần tại bệnh viện sau 21 ngày.


2. Bà ZM, 75 tuổi. Không nghề nghiệp, hưởng tiền trợ cấp già.
Vì con dâu bà là học trò của tôi. Luật nước Pháp không cho con điều trị cho cha mẹ. Nên con dâu bà nhờ tôi làm y sĩ điều trị cho bà (Médecin traitant) đã 9 năm. Cũng qua liên hệ này tôi nhận thù lao của bà bằng CMU. Suốt 9 năm, tôi săn sóc bà cực tận tình : chích ngừa, kiểm soát ăn uống, dạy Khí công. Cho nên sức khỏe của bà rất tốt. Tới tháng 7-2005 bà chỉ phải dùng 2 loại thuốc là 2 gói (sachets) trà Hao ling trị Cholestérol và Amlor 5 trị huyết áp cao. Giữa tháng 7 bà về Việt Nam thăm quê hư! ơng. Không biết ai khuyến khích, bà bỏ hết 2 loại thuốc trên mà chỉ uống Trà đinh với lượng cao là 10g một ngày, mà lý ra chỉ dùng 5g là đã có tai vạ rồi. Khi về Pháp, bà mang theo 5kg Trà đinh. Bà có hẹn với tôi định kỳ hằng tháng vào ngày 5 tháng 9 năm 2005, để kiểm soát sức khỏe. Khi bà trình diện, nhìn sắc diện bà, tôi kinh hãi :
– Tóc, lông mi, lông mày hóa ra mầu úa thay vì muối tiêu,
– Da mặt ủng vàng,
– Tứ chi lạnh,
– Huyết áp 13-7 (trước kia là 16-8).
– Tim đập 50/ phút.
– Kiểm soát đường tại chỗ 8,5 g/l.
Vì buổi sáng bà không ăn gì, tôi gửi thẳng bà tới laboratoire, hai ngày sau tôi được kết quả :
– Hồng cầu còn 3.5 triệu,
– Créatinine tăng tới 54
– Bà bị Hépatite B+C.
Tôi gửi bà tới một đồng nghiệp nội khoa, và báo cho con dâu bà biết. Tôi khẩn thiết yêu cầu bà ngừng Trà đinh ngay. Bà cự nự rằng chết thì chết, chứ bà không bỏ thuốc tiên đó. Con trai bà biết không cản được mẹ, anh ta dấu hết Trà đinh của bà. Bà đứng trước balcon đe dọa : Nếu không trả thuốc tiên cho bà thì bà nhảy lầu tự tử ngay. Bà được toại nguyện. Ngay lập tức ngày 9-9-2005 tôi nhận được thư bảo đảm có báo nhận. Trong thư bà rút lại không nhận tôi là y sĩ điều trị của bà. Thông thường muốn đổi y sĩ điều trị, thì bệnh nhân chỉ viết thư báo cho cơ quan bảo hiểm y tế biết, và điện thoại cho y sĩ điều trị là đủ. Đây bà muốn trả ơn 9 năm chăm sóc bà bằng hành động làm nhục trên. Tôi vội fax thư của bà cho văn phòng bảo hiểm y tế của bà và con dâu bà. Tôi xoa tay, hết trách nhiệm.
Ngày 14 -9-2005, con dâu bà báo cho tôi biết, bà bị hôn mê, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Bệnh viện kết luận bì bị hôn mê vì trúng độc. Hiện (11-10-2005) bà bị liệt 2 chân, tay phải, một mắt mù 100%, một mắt thị lực còn 40%. Trong cơn hôn mê bà réo tên tôi cầu cứu. Nhưng tôi vô thẩm quyền, chỉ có thể vào nhà thương thăm bà vì bà là mẹ chồng của một người học trò tôi, chứ tôi không còn quyền y sĩ điều trị ».

Dr. Bùi Kim Loan (Gyneco-Obst)
Hopital Bietighiem, Universitat Heidelberg, Germany

Posted Yesterday, 09:52 PM
Posted Image

Bài Xem Nhiều