We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 18 February 2011

Khiếp Nhược …


Cũng gần đến ngày giỗ năm thứ tư của ông nội mấy cháu. Cho nên anh em trong nhà thường hay quây quần để bàn bạc về ngày kỵ giỗ.

Hôm nay trong lúc chuyện trò vui vẽ thì chú Út lại đem từ ngữ khiếp nhược ra để ám chỉ một số người thích giả nick viết email nặc danh để chửi bới những người họ ghét bằng một văn phong thiếu lễ độ.

Cô Bảy cãi lại đó là nhu nhược chứ không phải khiếp nhược. Chú Út giãi nghĩa phải là khiếp nhược vì khiếp nhược là cả hèn lẫn nhát. Khiếp nhược là chỉ con người hèn nhát. Còn nhu nhược là chỉ tính cách mềm yếu, yếu đuối.

Cô Bảy cãi lại cả hai chữ đều nhược cả thì phân tích cũng giống nhau.

Sau cùng chú Út xuề xoà bảo: Sao cũng được. Tôi chỉ thắc mắc thì hỏi thôi. Tôi nhìn chú Út cười vì ai cũng biết chú Út xuề xoà luôn luôn áp dụng gia hoà thì vạn sự hưng

Mấy cô chú ra về. Còn lại tôi trong căn phòng khách. Bên ngọn nến toả hương thơm, tôi nhìn những giọt lệ sáp nhỏ xuống từng giọt. Nếu tôi tắt đèn thì sẽ thấy bóng mình xiêu đổ trên vách và ánh đèn sáp chập chùng sẽ cho tôi cái thèm nghe lại những tiếng chuông đổ lễ khuya của một trường Xơ nhỏ ngày- tháng- ấu- thơ. Nhớ đến dòng sông Nhật Lệ và Họ Đạo Tam Toà của một thành phố Đồng Hới năm nào.

Một nỗi cô đơn từ đâu ập tới. Tôi nghe trong tôi những lời độc thoại. Một âm vang vô cùng hiu quạnh. và, trong nỗi cô đơn hiu quạnh đó, tôi đã khám phá ra được cái ý nghĩa phi lý của cuộc đời đối diện trong sinh hoạt cộng đồng. Câu hỏi được đặt ra là có phải tham dự vào sinh hoạt các tổ chức, sinh hoạt cộng đồng là phải đứng vào một tư thế hoài nghi? Hoài nghi với người? với đời? Với cuộc đời đối diện??

Đương nhiên khi ở vào những ốc đảo cô đơn thì con người thường mang nỗi hoài nghi cho bất cứ thuyền bè nào cập bến. Cho dù thuyền bè đó mang dấu hiệu phe mình.

Nhìn vào bối cảnh lịch sử của đất nước Việt Nam . Việt gian Cộng Sản đã cho người dân VN một nỗi hoài nghi trên những giai đoạn lừa bịp của chúng.

Đã không những lừa bịp dân tộc Viết Nam mà Đảng Việt Gian Cộng Sản lại còn khiếp nhược hoá cả một dân tộc.

Nói về sự dã man để khiếp nhược hoá một dân tộc, thế giới chỉ biết kết tội Pol Pot tên lãnh tụ Khờ Me Đỏ. Nhưng thế giới chưa bao giờ thấy và biết sự dã man tàn bạo vô cùng khiếp đãm của tên tội đồ Hồ Chí Minh. Pol Pot trong Killing Field đã cho thế giới một nỗi kinh hoàng trên sự dã man tàn bạo của Pol Pot vì sự dã man tàn bạo đó công khai và lộ liễu.

Còn Hồ Chí Minh thì bí mật khủng bố và tàn sát âm thầm. Trong vụ thãm sát Cải cách Ruộng Đất ở miền Bắc, chúng ta đã thấy những hình ảnh đấu tố cắt đầu địa chủ ngay trên hiện trường đấu tố.

Trước đó 1946, ngay sau khi cướp chính quyền, Hồ Chí Minh đã bắt giam rất nhiều người nếu bất cứ một ai mà hắn nghi ngờ thân Tây, thân Nhật hay phản động. Ngay tại Hải Phòng một cuộc tàn sát rất dã man của Hồ Chí Minh và Việt Minh lúc bấy giờ đã làm người dân khiếp đãm. Chúng lùa cả hàng ngàn người bị giam về Kiến an rồi âm thầm thủ tiêu bằng cách cho thuộc hạ của Hồ Chính Minh dùng búa tạ đập đầu nạn nhân cho chết rồi đẩy xác xuống những hố tập thể.

Rồi đến cuộc thảm sát ở đường Ôn Như Hầu mà nay trong lịch sử Việt Nam đã để lại một vết nhơ cho Việt Gian CS qua vụ án Ôn Như Hầu.

Hồ Chí Minh qua Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh mà dân chúng lúc bấy giờ gọi VM sau thành VẸM.

Sau khi cướp chính quyền năm 1945. Hồ Chí Minh lợi dụng tình thế Nhật chiếm Đông Dương kêu gọi các đảng phái Quốc Gia thành Lập Chính Phủ Liên Hiệp. Để được các đảng phái Quốc Gia tin tưởng Hồ CHí Minh đã GIÃI TÁN VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH HỘI.

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, khi Hồ Chí Minh qua Chính phủ Liên hiệp đã ký kết Hiệp định Sơ bộ với Pháp, đồng ý cho Pháp kéo ra phía bắc vĩ tuyến 16 để giải giới quân đội Nhật Bản thay cho quân đội Trung Hoa thì đảng Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng chống lại hoà ước đó

Sự lừa bịp trắng trợn của Hồ Chí Minh đã làm cho các Đảng phái QG vô cùng phẫn nộ. Chính Hồ Chí Minh đã lừa bịp dân tộc VN qua chiêu bài Kháng Chiến Chống Pháp nhưng lại thành lập chính phủ liên hiệp để rước Pháp về. Sau 49 ngày thành lập Chính phủ Liên Hiệp để đạt được mục tiêu Hồ Chí Minh ra lệnh giải tán chính phủ, thành lập Đảng Lao Động tức là Đảng Việt Gian Cộng Sản bây giờ

Độc ác và tàn bạo nhất là Hồ Chí Minh đã hợp tác với Pháp để tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia. Trong khi đó tại đường Ôn Như Hầu ở Hà Nội, Hồ Chí Minh nghi ngờ nơi đó là căn cứ của Việt Nam Quốc Dân Đảng nên đã ra tay giết hại đảng viên bằng cách dùng mã tấu chém bừa bãi và cắt đầu một cách man rợ vào những ai mà chúng nghi ngờ là đảng viên VN QDĐ. Có hằng ngàn đảng viên Quốc Dân Đảng bị bắt và mất tích. Con số mà Hồ Chí Minh đã tàn sát trong vụ án Ôn Như Hầu lên cả 50000 người.

Những đảng viên của VN Quốc Dân Đảng là những người yêu nước . Họ đã vì quốc gia dân tộc mà hy sinh xương máu hầu đem lại độc lập cho đất nước VN. Họ không nhân danh một chủ nghĩa nào mà tranh đấu. Họ từ lòng dân tộc bước ra đem lửa đấu tranh để tạo cho dân tộc VN một nước có tự do và dân chủ.

Cho dù Hồ CHí Minh và Võ Nguyên Giáp đã ngụy tạo chứng cớ cho họ là quân gian để thãm sát tất cả nhân mạng của Đảng viên VNQDĐ nhưng những sự kiện đó đã không làm cho dân Việt Nam lúc bấy giờ nghi ngờ mà trái lại họ tin tưởng những đảng viên của VNQDĐ đã vì Tổ Quốc và dân Tộc VN mà hy sinh.

Sau vụ thãm sát các đảng viên của VNQDĐ ở Ôn Như Hầu rồi đến vụ thãm sát dân cố đô Huế trong Tết Mậu thân, Hồ Chí Minh và Đảng Việt Gian CS đã để lại trong lòng con dân Việt một sự khiếp nhược.

Cho đến hôm nay, dù đã sống bình an dưới một vòm trời có tự do dân chủ, có một nền pháp luật vững chắc nhưng cũng còn có một số người vẫn canh cánh bên lòng một nỗi khiếp sợ do Hồ Chí Minh tạo nên. Nỗi khiếp nhược đó đã thể hiện qua nạn thư rơi, thư rớt.

Thư rơi thường thì không có địa chỉ chỉ dùng gmail.com từ sender và tên người gởi thì cả một "văn chương bình dân thâm thúy". Nếu có ai nói văn chương bình dân là rác rưởi thì coi chừng phạm húy vì đã đụng chạm đến văn hoá bình dân.

Do đó chúng ta cần phải phân thể loại. Những thể loại văn chương này đi từ một nền văn hoá chuyên chính vô sản, mà tác giả là những Zoro bịt mặt. Vì phài thi hành chiến tranh du kích do đó tác giả phải mang mặt nạ và xuất hiện trong bóng tối mới không một ai nhìn rõ cái bịt mặt khăn đen.

Những nhười nhận thư rơi thư rớt thư bịt mặt Zoro gởi đến thường bị tác giả cho là Việt Cộng. Không VC thì cũng bà con với VC hay là đang nhận tiền của VC , hoặc là thành viên đảng Việt tân để những người bịt mặt Zoro là những người Quốc gia 100% , có chính nghĩa đàng hoàng.

Văn chương của những bức thư rơi thư rớt đó có người cho là thiếu lý luận hay không tranh luận được mới viết thư rơi để nhục mạ người khác. Nếu xét cho cùng thì tác giả những bức thư rơi thư rớt này không phải họ thiếu lý luận hay họ không có đầu óc mà tại họ đã ảnh hưởng một nền chuyên chính vô sản quá độ.

Họ bắt chướt Việt Gian CS dùng hình chứ không dùng pháp. Nguyên tắc là "Sát nhất nhân, vạn nhân cụ" có nghĩa là giết một người cho vạn người sợ. Đó là phương pháp du kích của VC nhưng hiện nay những người vì còn mang trong lòng sư khiếp nhược, cho nên họ vẫn dùng.

Thứ hai VC dùng tiểu nhân để cai trị chứ không dùng quân tử trị. Nếu Quân Tử Trị thì họ dùng mực khoan dung để giáo hoá còn tiểu nhân trị thì lấy oán thù, căm phẫn làm chất liệu để đàn áp con người.

Vì tính cách chuyên chính vô sản, cai trị được đồng hoá với đàn áp cho thấy một cảnh tượng tàn sát hãi hùng do Việt Gian CS gây ra từ những thân phận sống vô gia cư, thác vô địa táng được đưa lên làm chủ tịch , huyện uỷ.

Chính những tác giả của những bức thư rơi rớt mang tính cách vi phạm nhân quyền, chà đạp nhân phẫm, vu khống chụp mũ để buột tội đó đi từ bản chất Cộng sản coi thường luật pháp và không dùng luật pháp. Một bản chất chỉ biết khủng bố và gieo rắc khiếp sợ. Phải làm cho mọi người khiếp sợ tới mức tối đa thì nhà cầm quyền VGCS mới có thể cắt cổ nhổ họng ra làm sao cũng mặc lòng.

Hoặc là, cũng có một số người vẫn còn mang nỗi khiếp nhược trong lòng mà từ chối quyền tự do ngôn luận. Không có can đãm nói lên sự suy tư của mình đành lẫn lút trong bóng đêm mang mặt nạ Zoro để thoả mãn tự ái .

Đáng quý thay cho những người cầm bút trong nước dù sống dưới sự cai trị độc tài chuyên chế của bạo quyền Cộng Sản. Họ vẫn không mang nỗi khiếp nhược, đã can đãm nói lên tư tưởng, sự suy tư của họ đối với một bạo sách tàn ác của VGCS thì vì cớ gì mà những người đang sống tại vùng đất tự do lại khiếp nhược từ chối quyền tự do ngôn luận, để chui rúc dưới những nick name của những thành phần "sống vô gia cư, chết vô địa táng" hầu thi hành kế sách cai trị đồng nghĩa với đàn áp, chửi một người để làm khiếp sợ vạn người để dành quyền lãnh đạo, thì có đáng không?

Chúng tôi không buồn về những bức thư nặc danh rơi rớt trên net mà chỉ buồn là người Việt vẫn còn mang nỗi khiếp nhược do tên tội đồ Hồ Chí Minh tạo ra.

Ngày nào dân Việt còn mang nỗi khiếp nhược thì ngày đó VN vẫn chìm đắm trong bóng tối của bạo quyền VGCS.

Tôn Nữ Hoàng Hoa

2/16/2011

Dự báo: Tân Mão… đêm trước đại loạn, chấm dứt 60 năm “bá đạo” của Đảng Cộng Sản Việt Nam






Năm Canh Dần đã đi qua, lúc này đây chúng ta đang trong tháng đầu tiên của năm Tân Mão. Ở ngày tết Canh Dần năm trước người ta thấy “Trước giờ xuân đến là những ngày nắng nóng trái mùa gay gắt đến lạ lùng và ngay sau tiếng pháo hoa đì đùng nổ lúc giao thừa giữa thủ đô Hà Nội là gió lạnh mưa mù… khiến lòng người ớn rợn, cảm giác về chiến tranh, về bạo lực, về đói rách, tủi hờn cay cực, về bóng đêm nô lệ phương bắc đang từ từ hiện hữu trước thềm xuân.” thì ở tết Tân Mão là ngược lại. Hơn một tháng trời rết đậm rét hại bao trùm toàn Miền Bắc… đột nhiên nắng nóng ngay từ ngày mùng một. nhưng cái nóng ấy lại khô, oi ngay trong khi nhiệt độ còn thấp… suốt những ngày tết không một giọt mưa xuân, không một làn gió mang hơi ẩm… cây cối không trổ lộc đâm cành, xác xơ trơ trụi như ở cuối thu vậy…thế thì năm Tân Mão sẽ vẫn là xung đột, vẫn là những gì đã diễn ra ở Canh Dần… có khác chỉ là sự “hoán vị, đảo cực” và gia tăng về mức độ và tần suất để dẫn tới một kết thúc lớn…


Theo nhận định của các nhà tương lại học, dự báo học, thuật số gia trong nước thì nhìn chung đều rất lo ngại cho một năm đầy khó khăn, “xuất hiện nhiều mâu thuẫn, căng thẳng bất an xã hội” có những rối loạn lớn về “tâm linh” về “trị an, trật tự công cộng.” Và tập trung nhiều ở “giới trẻ, vị thành niên”. “Thời tiết thất thường, không thuận đi kèm với gia tăng về thiên tai” . “Vàng, đô-la tiếp tục tăng giá (đồng nghĩa với Việt nam đồng mất giá thê thảm) diễn biến thị trường tài chính, bất động sản thất thường, không theo quy luật nhất đinh nào. Nhiều khả năng Nhà Nước sẽ can thiệp ở mức như một cuộc đổi tiền


Chúng tôi về cơ bản cũng cho là như vậy, Nhưng chú tâm vào “nội quái” của thái tuế Tân Mão với cái nhìn “huyền dịch”, và đặt năm Tân Mão trong một chu kỳ, một quan hệ lớn hơn, một tiến triển, một đích đến và khát vọng chung của toàn dân tộc, đó là: đoạn tuyệt với Chủ Nghĩa Cộng Sản, đó là vượt thoát khỏi ngục tù của độc tài Đảng trị (Đảng lãnh đạo) đó là canh tân đất nước này, khi mà khí số của Đảng Cộng Sản đã hết, kiểu nhà nước độc tài đã lại rơi vào cơn đổ bể ở khắp thế giới A-Rập và đang lan toả sang những vùng khác có những tương đồng về hoà cảnh và điều kiện,


Xin các bạn xem lại hệ thống các bàì chúng tôi đã công bố trước đây để thấy tính liên tục của tiến trình, đích đến cho năm Tân Mão





Qua các bài trên, có thể nói cho đến lúc này những nhận định, phán đoán của chúng tôi là có xác xuất cao, luôn sát với thực tiễn đã diễn ra suốt một năm qua và trong đó một đặc điểm lớn của năm Tân Mão mà trước đây chúng tôi đã đề cập tới là : năm Tân Mão Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ “thu nhỏ lại”.


Và nếu đặt Tân Mão trong một chu kỳ, trong một quan hệ lớn hơn, trong một tiến triển, một đích đến, ta sẽ thấy những năm Canh Dần và Tân Mão là một nhịp, một làn sóng xung đột dữ dội để canh tân đất nước (Canh kim khắc Dần Mộc, Tân kim khắc Mão Mộc. Thuộc tính chính yếu của Canh là canh cải, thuộc tính chính yếu của Tân là mới. Dần và Mão đều họ mèo. Mão là hổ nhỏ – Xin các bạn xem kỹ lại bài Canh dần: bàn thêm về xung đột và canh tân đất nước để thấy cái lý của “huyền dịch” ở chỗ này) … thế thì tất cả sẽ là cần và đủ cho năm tiếp theo là năm Nhâm Thìn 2013 (nhâm biến vi vương) một năm biến động long trời lở đất (có thể mức độ và cách thức sẽ không khác Tuy-ni-di hay Ai-Cập…) và đây sẽ là điểm nút để đưa đất nước Việt Nam quay về với quỹ đạo của “vương đạo” được bắt đầu từ năm Quý Tỵ 2014 (tức là chính danh, chính nghĩa) từ đây chấm dứt vòng “thập lục hoa giáp” 60 năm 1954 -2014, “bá đạo” của Đảng Cộng Sản trên dân tộc quốc gia này.(năm 1954 sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Nhà Nước Cộng Sản độc tài “bá đạo” chính thức được xác lập trên toàn lãnh thổ Miền Bắc Việt Nam)


Xem xét việc “thu nhỏ lại” của Đảng Cộng Sản, nhìn qua có vẻ là nghịch lý, rõ ràng trong các nghị quyết, các hô hào của lãnh đạo chóp bu Đảng Cộng Sản luôn là và mới đây nhất vẫn là “tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng”. Kết quả của Đại Hội XI với một tỷ lệ lớn thành phần lực lượng vũ tran có trong Ban Chấp Hành. Cơ cấu an ninh, tuyên giáo trong Bộ Chính Trị nổi trội hơn các khối kinh tế, ngoại giao… càng khẳng định quyết tâm “lãng đạo toàn diện, tuyệt đối” của Đảng.


http://www.nuvuongcongly.net/wp-content/uploads/2011/02/mungdangmungxuanmungdat.jpgSự “thu nhỏ lại” bắt buộc, mang ý nghĩa giảm gánh nặng: Nhìn sâu vào thể chế, ta sẽ thấy:ngự trị trên bộ máy Nhà Nước đã rất cồng kềnh là bộ máy Đảng, và không đơn giản chỉ là bộ máy Đảng với những ban bệ tương ứng để lãnh đạo các cơ quan nhà nước mà là cả một hệ thống các Đoàn Thể rồi các hội chính trị, xã hội, nghề nghiệp… từ trung ương tới địa phương, bám đu vào đó, tạo ra cái gọi là “hệ thống chính trị” ,


Nhóm ngoại vi ăn bám này ngoài việc chiếm dụng của xã hội một khối lượng tài sản (nhà ,đất, trang thiết bị, phương tiện…) rất lớn, thì tiền lương, tiền thưởng, tiền chi cho các phong trào, các chương trình, dự án vô bổ mà nhóm nhóm ngoại vi này phát động đều từ ngân sách quốc gia và cũng là rất lớn và không kiểm soát được.… hiện ngân sách của một quốc gia vừa thoát khỏi danh sách các nước nghèo và luôn đang ở trong tình trạng có thể tụt hạng không kham nổi nữa…điều cấp thiết phải làm là cắt bỏ phần ngoại vi đu bám kia. Cách có thể ở tầm vóc lãnh đạo kiểu Nguyễn Tấn Dũng, hay Nguyễn Sinh Hùng sẽ là đồng loạt giảm biên chế, giảm đầu mối, giảm màng lưới cơ sở ngoại vi này.


Sự “thu nhỏ lại” của Đảng Cộng Sản còn mang ý nghĩa thoái lui, Đây là sự nhân nhượng, giảm ảnh hưởng vừa mang ý nghĩa của thay đổi cán cân lực lượng trong nội bộ, vừa là một cơ mưu tình thể của cả chế độc tài Đảng trị


Sự “thu nhỏ lại” biểu hiện thay đổi cán cân lực lượng trong trong nội bộ Đảng:


Trước đây trong chiến tranh cũng như thời bao cấp, nhiệm vụ căn bản của Đảng là đấu tranh giai cấp (thủ tiêu các giai cấp đối kháng) thống nhất đất nước bằng con đường chiến tranh, bạo lực. Nền kinh tế chiến tranh chủ yếu là điều tiết, phân phối các nguồn viện trợ và quản lý xã hội là theo kiểu mệnh lệnh của thời chiến. Vai trò của Đảng lúc này là tuyệt đối, là toàn diện, Đảng là tất cả, Đảng ở mọi nơi mội lúc. Đảng tồn tại như một “phủ Chúa “ và Nhà Nước, Quốc Hội hay Chính Phủ chỉ là bù nhìn, được tạo ra để làm đẹp mặt chế độ, giống như “cung Vua” vậy. Đây là hình thức thống trị độc tài “bá đạo” kiểu “vua lê chúa trịnh”, không như mô hình “ngũ bá” thời Trung Quốc cổ đại xa xưa.


Kiểu thống trị ”bá đạo” đã đảm bảo cho Đảng Cộng Sản Việt Nam tồn tại khá lâu và vững chắc trên lưng dân tộc, dù cả dân tộc đã suy kiệt bởi mấy cuộc chiến tranh trong có vài chục năm, bởi cách điều hành tập trung, quan liêu bao cấp thời chiến. Chỉ đến khi hàng loạt các thể chế độc tài Cộng Sản ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ. Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam hết chỗ dựa, buộc phải quay sang quỹ đạo và nhái lại mô hình kiểu của Trung Quốc (một nước XHCN chưa bị sụp đổ). Tức là chấp nhận yếu tố tư bản có giới hạn trong nền kinh tế phi tư bản là Xã Hội Chủ Nghĩa.


Thế là xuất hiện “nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” cùng với đó, trong Đảng hiển nhiên tồn tại 2 phái lớn tạm xãc định là “cấp tiến” và “bảo thủ”. (xin lưu ý các khái niệm “cấp tiến” và “bảo thủ” chỉ là so sánh, phân loại một cách tương đối, ở đây chúng tôi đã loại bỏ những cá nhân, phe nhóm nhỏ, không rõ ràng hoặc ảnh hưởng không lớn để nhìn rõ cục diện. Hơn nữa “cấp tiến” và “bảo thủ” luôn chỉ là lá bài, cửa chẵn, cửa lẻ cho các cuộc tranh giành ngôi vị trong nội bộ Đảng)


Nhóm “cấp tiến” hình thành từ Chính Phủ thuộc khối “cung vua” đại diện cho vế “kinh tế thị trường”. Phái “bảo thủ” đại diện cho vế ”định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” là lực lượng giáo điều mang nặng tính Đảng, vốn vẫn tồn tại trong “phủ chúa”


Yêu cầu phát triển kinh tế đất nước và quá trình hội nhập sâu hơn với quốc tế, đã tạo điều kiện cho nhóm “kinh tế thị trường” đứng đầu là Chính Phủ nổi lên rất nhanh trở thành một phái lớn, từng bước lấn át phái “định hướng XHCN”. Trong năm Canh Dần đã thấy có dấu hiệu “hoán vị đổi cực” là: Các dự án siêu Mafia của Chính Phủ như Bô-xit, hay đường sắt cao tốc… bị Quốc Hội, các nhà khoa học, dư luận phản đối thì đã được dán nhãn ”chủ trương lớn của Đảng” để triển khai. Cả hệ thống tham quan ô lại từ trung ương tới cơ sở không thể bị trừng trị bởi tất cả đều là cán bộ Đảng, là Chấp Hành, Là Thường Vụ là Thường Trực.v…v trong bộ máy Đảng. Điều này cho thấy Đảng đã trở thành tấm bình phong, thành ô che cho cả tập đoàn Mafia đỏ cồng kềnh và tham lam lộng hành. Phái “định hướng XHCN” dần dần mất thế, có nguy cơ trở thành bù nhìn, thành vai phụ và đây chính là nguyên nhân để xẩy ra cuộc cạnh tranh đầy quyết liệt, giành lại ngôi vị trong nội bộ chóp bu Cộng Sản diễn ra suốt khoá X và đặc biệt là trong năm Canh Dần ( 2010.)


Trước thềm Đại Hội Đảng thứ XI, phái “kinh tế thị trường” Đứng đầu là Nguyễn Tấn Dũng Thủ Tướng Chính Phủ lâm vào thế “tứ bề thọ địch”. tưởng sẽ bị đánh gục bởi một loạt vụ siêu tham nhũng bị phanh phui cùng với việc đã để cả nền kinh tế lọt vào vòng chi phối của Trung Quốc (thật ra là bán nền kinh tế này cho Trung Quốc) Thế nhưng bằng cách phù phép ngầm cũng lại vẫn từ phía Trung Quốc, tạo ra sự ổn định kinh tế giả tạo. Kết thúc Đại Hội, Nguyễn Tấn Dũng Vẫn có chân trong Bộ Chính Trị, đảm bảo cho ông ta có thể vẫn đảm nhận vai trò Thủ Tướng thêm một nhiệm kỳ nữa.


Cũng ngay sau Đại Hội, phái “định hướng XHCN” đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng rơi vào một tình huồng dở khóc dở cười là chưa Đại Hội thì “mặt đỏ như vang” Đại Hội xong thì ”mặt vàng như nghệ” bởi một thực tế là: không thể đổi cái ”điều 4 hiến pháp” đổi cái đuôi “định hướng XHCN” hay “đạo đức tư tưởng Hồ Chí Minh” lấy tăng trưởng, lấy đô-la để bù vào ngân khố, vào dự trữ quốc gia, bù vào nền kinh tế quốc dân đã kiệt quệ vì nợ nần và tham nhũng. Lấy gì để nuôi cả bộ máy cai trị gồm cán bộ, đảng viên, công an, quân đội khổng lồ trong cơn bão giá, lạm phát đã ập đến ngay từ những ngày đầu Tân Mão…vậy là thế thượng phong sau Đại Hội lại vẫn thuộc phe “kinh tế thị trường” (dù vài nhân vật quan trọng bị loại) Thủ Tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn đứng đầu phái này, từng bước sẽ nắm quyền “phủ Chúa”. Phái “định hướng XHCN” với những Nguyễn Phú Trọng (dù là Tổng Bí Thư) hay Đinh Thế Huynh, hay Tô Huy Rứa gì đó… chỉ có hai lự chọn: một là tồn tại trong “cung vua”. Hai là dựa hoàn toàn vào Anh Cả Đỏ Trung Quốc để giành lại ngôi vị…chắc chắn họ sẽ theo lựa chọn thứ hai, đó là: bán Đảng của họ cho Trung Quốc.


Phe “kinh tế thị trường” thì bán nền kinh tế!… phe “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì bán Đảng!…tất cả là để cố gắng tồn tại !Thế thì Quốc Gia này thành hàng hoá của Trung Quốc? thế thì dân tộc này thành thiểu số của Trung Quốc? Đây là tình huống “CHẾT” của cả tập đoàn Cộng Sản lũng đoạn! Đại loạn xẩy ra ở đây! Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ phải đối diện với cùng một lúc 3 cơn sóng triều đó là “tinh thần dân tộc”, “khát vọng dân chủ”,” quyền sống trong công bằng, tiến bộ, văn minh”. của cả dân tộc Việt Nam.


Sự “thu nhỏ lại” mang tính cơ mưu tình thể của cả chế độc tài Đảng trị được xét trong bình diện rộng hơn là thời đại, quốc tế và quốc gia, dân tộc và lòng dân.


Với thời đại :Rõ ràng Chủ Nghĩa Cộng Sản cùng mô hình Nhà Nước Độc Tài Cộng Sản đã bị lịch sử đào thải từ thế kỷ trước. Số sót còn lại đến nay cũng chỉ để cho loài người tiến bộ cảnh giác, xa lánh và lên án


Với dân tộc, quốc gia : trên con đường “bá đạo” của mình, Đảng Cộng Sản đã để lại những dấu ấn khủng khiếp, thậm chí là tội ác cho dân tộc. Trước đây là cải cách ruộng đất, đàn áp văn nghệ sĩ trí thức trong vụ “nhân văn giai phẩm”, xoá bỏ các giá trị văn hoá dân tộc, triệt tiêu cácTôn Giáo, rồi cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở cả hai miền Bắc, Nam, khủng bố, xô đẩy cả triệu người vào cảnh bế tắc phải vượt biên và không biết bao nhiêu người đã bỏ mạng trên biển … Giờ đây là một cuộc “cướp đất” có quy mô diễn ra trên toàn quốc, bất luận là mồ mả, nghĩa địa hay thánh địa của các Tôn Giáo.


Để tồn tại Đảng Cộng Sản dựa vào một nền kinh tế mà tăng trưởng chủ yếu là dịch vụ cấp thấp và bán tài nguyên cùng nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, được mở rộng theo kiểu đắp đuổi “đảo đầu tư” (đảo nợ) chứ không phải do tăng năng suất. Nghĩa là nền kinh tế này tăng trưởng không phải là từ “hiệu quả đầu tư cụ thể“ nào mang lại. Hiện nhiều nguồn đầu tư quan trọng đã bị đình hãm… thế thì ngay trong năm Tân Mão nền kinh tế đã có dấu hiệu đổ sập dây chuyền, cả nước sẽ là một Vinasin vĩ đại nhất có thể thấy được từ trước tới nay. Nó sẽ kéo theo và nhấn chìm cả chế độ đã tạo ra nó, tồn tại trên nó.


Trên bình diện quốc tế : Cục diện quốc tế mới đã làm phá sản chính sách ngoại giao “đu dây” giữa các cường quốc của Việt Nam. Mỹ tăng cường Vai trò tại Đông Nam Á chứ không phải trở lại Việt Nam, và vì quyền lợi Mỹ trên toàn khu vực trong tương quan với Trung Quốc chứ không phải vì quyền lợi của nhà nước độc tài Cộng Sản Việt Nam. Trung Quốc bao vây, uy hiếp, lôi kéo Việt Nam nhằm biến Việt Nam thành bàn đạp, rồi thành tiền đồn cạnh tranh với Mỹ tại biển Đông…vậy nguy cơ bất ổn an ninh quốc gia luôn đến từ Trung Quốc… sẽ là bán nước và bị tiêu vong nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam bước vào quỹ đạo của Trung Quốc. Lựa chọn đúng đắn nhất (mà lãnh đạo Cộng Sản chóp bu không thể lựa chọn) đó là: chuyển mầu, mở rộng dân chủ trong quốc nội, tiếp nhận những giá trị cao đẹp của người Mỹ (dân chủ, nhân quyền) sẵn sàng liên minh toàn diện với Mỹ trong việc ổn định an ninh khu vực.


Lòng dân đã chuyển biến căn bản: Đến lúc này ý thức của giới trí thức tiến bộ, các tôn giáo, đại bộ phận nhân dân (không có quyền lợi từ thể chế độc tài) đều ghê sợ và căm phẫn chế độ hiện hành…nhiều phản ứng tập thể đã nổ ra liên tiếp theo các cách khác nhau những năm gần đây, trong đó phản ứng của người Công Giáo đã làm cho giới chức cầm quyền lo ngại nhất. Ngay cả những lãnh đạo gạo cội, cán bộ đảng viên đã từng và hiện đang làm việc trong “hệ thống chính trị” của Đảng đã công khai lên án, đòi hỏi phải có những thay đổi mang tính hệ thống cũng như đặt Đảng ở dưới, ở trong pháp luật, tức là “thu nhỏ lại” tạo chút công bằng xã hội tối thiểu, ổn định xã hội một cách tạm thời.


Thật ra trong lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam dưới sự lèo lái đầy cơ mưu của Hồ Chí Minh, đã từng có những thoái lui chiến thuật quan trọng như: giải tán, rút vào bí mật, đổi tên Đảng, tồn tại cùng nhiều đảng phái chính trị khác mà vẫn bảo toàn, giữ nguyên được cốt cách Cộng Sản để sau đó nuốt chửng tất cả, hay là dựng ra vài đảng phái kiểu “quân xanh quân đỏ”.…Nhưng những hậu duệ của họ Hồ lại trở nên kém cỏi và giáo điều hơn bao giờ hết, họ đã bỏ qua một cơ hội quan trọng để cũng làm một thoái lui chiến thuật như đã từng, đó là: Đại Hội XI vừa qua…Vậy thì tình huống hãn hữu cũng có thể được coi như một cơ hội là bầu cử Quốc Hội sẽ diễn ra vào tháng 5 này để có thể “sửa đổi hiến pháp” bỏ “điều 4 hiến pháp” trên danh nghĩa, sát nhập vai trò Đảng với Nhà Nước trong một đầu mối, một cá nhân, cho phép một cách có đều kiện một số đảng phái hoạt động hợp pháp, trả tự do cho Luật Sư yêu nước Cù Huy Hà Vũ, cùng những công dân yêu nước khác trước bầu cử Quốc Hội …Lúc này kế hoạch tổ chức Bầu Cử đã được khởi động, những người quan tâm chưa thấy có đấu hiệu nào thay đổi dù là cải lương như trên?


Diễn biến sẽ như thế nào nếu như Đảng Cộng Sản thay vì “thu nhỏ lại”, sẽ phình to, sẽ bành trướng hơn bao giờ hết để chống lại, để thủ tiêu các mối nguy hiểm cho chế độ? Đây vẫn luôn là mối bận tâm, day dứt của những người yêu nước, những tri thức chân chính đã và đang dũng cảm đối đầu với thể chế độc tài. Câu trả lời đã rõ: Đảng Cộng Sản Việt Nam “thu nhỏ lại” hay “phình to ra” cũng đều đưa tới một đích đến là chấm dứt 60 năm “bá đạo” trên dân tộc đã chịu quá nhiều đau khổ mất mát và không thể chịu đựng thêm được nữa.


Cái còn lại lại là những người yêu nước, trí thức, lãnh đạo các tôn giáo, thanh niên, sinh viên có nhận thức được tính chu kỳ của vạn vật, “có sinh ắt có diệt”, có nhận thấy trách nhiệm của mình với quốc gia dân tộc, có đón được cơn gió tự do dân chủ đang bùng mạnh lên ở các nước Ả-rập lật nhào những chế độ độc tài thối nát cuối cùng còn sót lại trên hành tinh. Đây đã là đêm trước đại loạn!…việc của năm nay là tranh thủ khoảng trống, khe hở xã hội phát sinh từ việc “thu nhỏ lại” “hoán vị, đổi cực” của Đảng Cộng Sản Việt Nam để hình thành những “lực lượng xã hội” lớn mạnh, đủ sức đứng vững trong đại loạn Nhâm Thìn, đưa đất nước quay về chu kỳ “vương đạo” chính danh, chính nghĩa.


Biết rằng dự báo luôn được hiểu như một thứ lý thuyết, ở dạng mờ, hiểu nôm na nó sẽ luôn đi với “nếu”, “sẽ” và “có thể” “ khả năng là”” tuỳ thuộc vào” v.v..,nó luôn chỉ là những “cơ hội”, những “cho phép” của thế giới khách quan. Thế nhưng dự báo luôn có chỗ trong thực tiễn bởi nó là cái cách duy nhất mà con người có được để quan hệ với tương lại…từ đó những mong có thể xác lập thực tiễn theo ý muốn. Chủ Nghĩa Cộng Sản vốn chỉ là những nghiên cứu, dự báo của Mac, ăng ghen…nhưng những nhà chính trị ma quỷ đã biến nó thành Chủ Nghĩa Cộng Sản bôi và đen một nửa xã hội loài người ngót nửa thế kỷ qua.


Chúng tôi mạnh dạn bàn về một số vấn đề, đưa ra những dự báo để tất cả cùng thấy những tất yếu khách quan trong năm Tân Mão. Tất yếu khách quan này dẫn tới sự sụp đổ không tránh khỏi cho cả tập đoàn độc tài Cộng Sản. Thế nhưng nó sẽ diễn ra theo như lộ trình, thời gian biểu của “huyền dich ”: “đưa đất nước Việt Nam quay về với quỹ đạo của “vương đạo” được bắt đầu từ năm Quý Tỵ 2014 (tức là chính danh, chính nghĩa) từ đây chấm dứt vòng “thập lục hoa giáp” 60 năm 1954 -2014, “bá đạo” của Đảng Cộng Sản trên dân tộc quốc gia này” hay không? thì không còn là lựa chọn của giới lãnh đạo chóp bu Đảng Cộng Sản. Đây là lựa chọn của những người yêu nước, của các “lực lượng xã hội” tiến bộ, những “lực lượng xã hội” là nạn nhân trong suốt 60 năm “bá đạo” của Đảng Cộng Sản.Việt Nam


Xin cảm ơn các bạn đã đọc tới dòng này.


Hồ Học-Trần Trung Luận


Tái bút : sự thật thì thể chế độc tài Cộng Sản có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, ngay cả ở lúc này, khi tôi kết thúc bài viết, nếu xã hội ta đã có những “lực lượng xã hội” lớn và mạnh. Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới việc hình thành các ”lực lượng xã hội”. đây là điểm yếu của cách mạng dân chủ chống độc tài ở nước ta. Trong những bài sau chúng tôi sẽ cùng bàn sâu về nội dung này.



Đời còn vui vì có chút tòm tem


Không biết hai tiếng tòm tem xuất hiện trong ngôn ngữ Việt từ bao giờ nhưng cái chuyện tòm tem thì quả là xưa không kém gì quả đất.

Tuy nhiên dù có xưa cách mấy thì tòm tem vẫn không bao giờ cũ vì loài người còn tồn tại tới ngày hôm nay cũng là nhờ vào tòm tem. Chính vì thế mà thiên hạ vẫn cứ mãi mãi tòm tem và nói về chuyện tòm tem.

Sở dĩ tôi dùng hai tiếng tòm tem này để nói về một chuyện mà ngôn từ dùng để diễn tả lại vô cùng phong phú và thường được thả nổi, ấy là tại vì hai tiếng này vừa có gốc có gác, vừa nôm na dễ hiểu, lại không bị coi là tục để các vị thích rao giảng đạo đức bắt bẻ mà cũng không khô khan như từ ngữ chuyên môn của nhà khoa học. Tôi học được hai chữ này trong bài ca dao sau:

Ðang khi lửa đỏ cơm sôi
Lợn kêu con khóc lại đòi tòm tem
Bây giờ cơm chín lửa tàn
Lợn ăn con ngủ, tòm tem thì tòm

Phải nói là mặc dù mấy câu ca dao này tuy thật là đơn giản nhưng càng đọc tôi càng thấy thấm ý. Con người từ thủa xa xưa cho tới ngày nay, sống trên đời lúc nào cũng cứ tối tăm mặt mũi với hàng trăm thứ chuyện lỉnh kỉnh hằng ngày nhưng xét cho cùng thì chẳng qua cũng chỉ là nhằm đáp ứng cho hai nhu cầu cơ bản là ăn để sống và tòm tem để bảo tồn chủng loại. Có khác chăng là theo đà tiến hóa, con người càng văn minh thì cái ăn và cách ăn cũng trở thành cầu kỳ và cái tòm tem cũng được bày đặt thêm nhiều quy định có tính cách hình thức rắc rối hơn mà thôi.
Tuy cả hai nhu cầu trên đều là cơ bản nhưng nếu sắp theo thứ tự ưu tiên thì cái ăn vẫn là trước tiên rồi mới tới chuyện tòm tem, vì chỉ có "no cơm ấm cật " thì lúc đó mới có thể "rậm rật khắp nơi" chứ bụng mà đói meo thì "chó cũng đành chê cứt". Cái sự ví von này tôi cũng học được trong kho tàng ca dao tục ngữ. Ai không tin cứ giở ca dao tục ngữ ra sẽ gặp khối câu như:

Em như cục cứt trôi sông
Anh như con chó ngồi trông trên bờ

Nếu nhu cầu ăn có từ khi lọt lòng thì trái lại nhu cầu tòm tem phải đợi đến một cái tuổi gọi là biết mắc cỡ vì khám phá ra những cái khang khác nơi mình và nơi người mới bắt đầu có. Lại nữa, cái cường độ của nhu cầu này cũng biến thiên tùy theo nguời và tùy theo thời gian: sung độ nhất vào lúc tuổi còn trẻ nhưng càng về già thì yếu lần và có thể không còn nữa. Chính vì thế mà người ta mới hối nhau:

Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già sồng sộc nó thì theo sau

Mặc dù trong văn học Việt nam cũng đã có những nhà nho xông xáo cỡ cụ Nguyễn Công Trứ từng vỗ ngực tự hào trong một bài hát nói "càng già càng dẻo càng dai" và trong ca dao cũng có những bài như:

Bà già đã tám mươi tư
Ngồi bên cửa sổ biên thư lấy chồng

Hoặc là:

Bà già đi chợ cầu Ðông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng
Thầy bói gieo quẻ đoán rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn

Tuy nhiên nếu nghiệm cho kỹ thì chẳng qua các cụ cũng chỉ là tiếc nuối cho một thời oanh liệt đã qua đi mà nói vớt vát cho vui thế thôi chứ thực tế thì các cụ cũng không làm sao xoay ngược lại định luật của tạo hóa.

Ngoài ra, nếu nhu cầu ăn không thể thiếu thì ngược lại nhu cầu tòm tem có thể hy sinh mà không làm cho cá nhân ấy chết, trừ trường hợp nếu như tất cả giống người đều hy sinh cái nhu cầu này thì lúc đó loài người mới bị tuyệt chủng thôi. Về cái khoản này thì Phật có dạy đời là bể khổ và con người phải diệt dục thì mới dứt được nghiệp chướng để tịnh độ Niết Bàn. Tuy vậy, có một số người dù đã quy y đầu Phật thành sư, nhưng lòng thì vọng động, đôi khi còn bạo hơn cả người phàm nên người đời mới gọi các vị này là "sư hổ mang". Còn nếu chỉ nhè nhẹ thôi thì ca dao cũng đã từng mô tả:

Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu

Khác với Phật giáo chủ trương diệt dục, người Thiên Chúa giáo lại tin rằng khi Chúa dựng nên người nam và người nữ đầu tiên rồi thì có phán: "Hãy sinh sản ra cho đầy mặt đất này". Tuy nhiên khi loài người đã sinh ra tràn đầy trên mặt đất này rồi thì Hội Thánh mỗi khi muốn tuyển chọn người thay Chúa chăn dắt bầy chiên ở trần gian thì lại đòi hỏi người đó phải hy sinh cái niềm vui tòm tem. Ðiều này gây trở ngại cho một số người vừa muốn làm kẻ chăn chiên của Chúa lại vừa không muốn sống trong cảnh "cám treo heo nhịn đói", do đó mà nảy sinh ra Giáo phái Tin Lành. Các ngài mục sư nhờ hiểu Kinh Thánh một cách cởi mở hơn nên đã giúp cho một số người an tâm vừa làm tôi tớ Chúa, vừa vui thú trần gian mà không hề mang mặc cảm phạm tội. Riêng về phía Giáo hội La Mã vì khắt khe với lề luật mà có những kẻ lúc bắt đầu những mong theo chân Chúa làm đến chức cha, chức cố, nhưng rốt cuộc chỉ mới tới được chức "ta ru", nghĩa là đã vào tu rồi nhưng thấy đời còn vui quá lại nhảy ra.

Mặc dù bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền có khẳng định: "Mọi người sinh ra bình đẳng" nhưng thực tế thì Tạo hóa vốn có trước loài người nên hình như không biết có cái luật đó cho nên mới để lọt một số người bị mụ bà nắn thiếu cái "gia tài của mẹ để lại cho con" khiến cho những kẻ này không bao giờ biết được cái niềm vui tòm tem ở cõi đời này. Tuy nhiên vào cái thời đất nước còn được cai trị bởi những ông vua thì cũng có vài anh chàng lại tự nguyện cắt bỏ cái gia tài này để được hầu hạ trong cung hầu kiếm miếng cơm manh áo. Thí dụ như mấy anh chàng muốn xin làm thái giám.

Số là trong xã hội phong kiến ngày xưa, một kẻ làm vua thì tự cho mình có cái quyền tha hồ tòm tem. Do đó mà ông vua nào cũng có trong cung hàng ngàn cung tần mỹ nữ. Tuy nhiều thế và nhiều khi tòm tem không xuể nhưng vì tham lam và ích kỷ nên ông vua nào cũng sợ kẻ khác tòm tem giùm mình do đó mới phải chọn mấy anh chàng thái giám để hầu hạ trong cung cho chắc ăn. Nhiều ông vua cũng vì mê tòm tem đến độ phế bỏ cả triều chính cho nên đành phải mất nước hay mất cả cái chỗ đội vương miện. Có ông thì bệ rạc đến nỗi không còn ngồi dậy nổi để thiết triều đành nằm ườn ra cho đình thần vào chầu như ông vua Long Ðĩnh nhà Lê. Sử gia khi nhắc đến phải đặt cho triều đại này cái biệt danh là Lê ngọa triều.

Cũng vì cái mục ham tòm tem này của kẻ làm vua mà nhiều khi đi đoong luôn cả một dân tộc. Xưa Chiêm thành cũng là một vương quốc lừng lẫy. Vào thời nhà Trần ở nước ta thì có vua Chiêm là Chế Mân bỗng dưng nổi hứng đem dâng luôn hai châu Ô và châu Rí để xin với vua Trần cho được rước công chúa Huyền Trân về tòm tem. Không hiểu có phải vì nàng công chúa xứ Việt tài cao hay vua Chiêm lụ khụ sao đó mà ít lâu sau thì vua Chiêm tịch. Theo phong tục Chiêm thành thì khi vua chết hoàng hậu và phi tần cũng phải tịch theo vua để tiếp tục hầu hạ cho nhà vua cũng được tòm tem nơi chín suối. Nhà Trần tiếc cho tuổi xuân phơi phới của nàng công chúa của mình mà bị đưa lên giàn hỏa với vua Chiêm thì thật là phí hương trời, bèn sai Trần Khắc Chung vào kinh thành Chiêm lén đem công chúa về. Tương truyền sau đó hai người đưa nhau đi đâu làm gì chẳng ai rõ, nhưng dù sao thì cái tên Huyền Trân cũng đi vào lịch sử, còn Chiêm thành thì theo cái đà mất hai châu mà mất lần cho đến mất luôn cả nước và bị diệt vong.

Theo các nhà nghiên cứu về sinh vật học thì trong vấn đề tòm tem, giống cái bao giờ cũng khỏe hơn giống đực. Nguyên lý này hình như cũng đúng cả với con người. Chúng ta chỉ nghe kể ông này ngài nọ đang tòm tem thì bị ngã ngựa rồi đi đoong chứ chẳng bao giờ nghe nói có bà nào lăn quay ra ngáp ngáp trong lúc tòm tem cả. Nghe khoản này có lẽ các ông không đồng ý vì tự hồi nào các ông vẫn tự cho mình là phái khỏe còn đàn bà mới là "liễu yếu đào tơ" phải "núp bóng tùng quân". Tuy nhiên tục ngữ cũng có câu: "con gái mười bảy, bẻ gãy sừng trâu", cho nên nam nhi cỡ mấy anh chàng "trói gà không chặt" mà gặp phải mấy cô này thì cũng coi như là đi đoong, bằng không thì cũng bị cô nàng cắm cho năm bảy cái sừng to tổ bố.

Trở lại với cái chuyện tòm tem ngã ngựa này ở nước ta mà có liên quan đến lịch sử thì phải kể câu chuyện đời Lê. Nguyễn Trãi là một khai quốc công thần từng giúp Lê Lợi đánh thắng quân Minh giành lại nền độc lập cho Tổ quốc và lập nên nhà Hậu Lê. Lúc vua Lê Thái tổ quy tiên, vua con lên nối ngôi thì cụ cũng đã già về nghỉ hưu. Tuy thế, có một hôm nghe tiếng cô nàng Thị Lộ rao bán chiếu trước dinh, cụ bỗng hứng chí cho gọi vào ra mắt, và khi thấy cô hàng chiếu trông cũng tươi mát, cụ bèn ứng khẩu mấy vần thơ trêu ghẹo:

Ả ở đâu mà bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh nay độ bao nhiêu tuổi
Ðã có chồng chưa được mấy con?

Cô hàng chiếu cũng chẳng vừa, họa lại ngay:

Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
Cớ chi ông hỏi hết hay còn
Xuân xanh mới độ trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có, nói chi con!

Nghe cô hàng chiếu ứng đối lanh lẹ, cụ đâm ra mến tài mến sắc nên quyết chí rước nàng về làm nàng hầu. Nếu chuyện chỉ có thế thì cũng chẳng có gì đáng nói. Ðằng này vì cụ đã già nên có lẽ sinh ra lẩm cẩm. Nhân một hôm nhà vua trẻ đi tuần thú qua vùng này bèn ghé lại nhà cụ nghỉ đêm, cụ thương cho cô nàng hầu tuổi xuân phơi phới lâu nay bị bỏ phế mới sai nàng ra hầu hạ nhà vua may ra kiếm được chút ơn mưa móc. Chẳng hiểu ông vua trẻ tòm tem ra sao mà băng ngay đêm đó tại nhà cụ. Thế là triều đình đổ xô vào hạch cụ về cái tội giết vua và cái tước khai quốc công thần của cụ cũng đành vứt đi khiến cho cụ chỉ còn biết cam phận lãnh cái bản án tử đi đoong luôn một lúc cả ba họ.

Các nhà nghiên cứu về sinh vật còn đưa thêm một nhận xét là có nhiều loài sinh vật sau khi tòm tem thì chị cái còn xơi tái luôn anh chàng đực cho đã cơn đói lòng, chẳng hạn như loài bọ ngựa. Ðiều này tưởng chừng không xảy ra nơi con người nhưng nếu nghiệm kỹ ra thì cũng có, nhưng vì con người có đời sống văn minh cho nên cái mục cô nàng xơi tái anh chàng này cũng diễn ra dưới một hình thức mới mẻ hơn, khoa học hơn, tinh vi hơn, trông nhẹ nhàng và không có vẻ rùng rợn nhưng độc ác thì không kém. Nàng chỉ móc cái ví tiền, nắm lấy cái ví tiền thôi chứ không cần moi ngực moi tim gì cả. Có biết bao ông "nam nhi chi chí", chỉ vì tòm tem mà bị thân bại danh liệt do ăn hối lộ, thụt két để cung phụng cho cô nàng no bụng còn ông thì vào nằm nhà đá gỡ lịch. Ðối với những ông có sẵn cơ nghiệp thì cô nàng cứ việc tha hồ ăn cho tới sạt nghiệp rỗng túi phải ra thân ăn mày. Ngay cả những ông được cái tiếng là hiền lành cũng lắm lúc khốn khổ vì đi làm lãnh lương ba cọc ba đồng thôi mà cũng bị bà vợ móc sạch. Thế là đủ cho anh chàng từ đó cứ lệ thuộc vào bà vợ mà ngáp ngáp. Còn bà vợ thì phây phây "chưa đi đến chợ đã lo ăn quà", càng ngày càng phốp pháp ra trong khi đức lang quân thì càng ngày càng cà tong cà teo như que củi.

Chuyện tòm tem mà đi vào văn học sử thì rất nhiều. Vào cái năm Tí Sửu Dần Mẹo gì đó có sứ Tàu sang nước ta. Không hiểu do đâu mà sứ lại gặp bà Ðoàn Thị Ðiểm, lại còn buông lời chọc ghẹo chớt nhả: "An nam nhất thốn thổ, Bất tri kỷ nhân canh", nghĩa là "một tấc đất An nam không biết bao nhiêu là người cày" ý xỏ xiên gái Việt. Bà Ðiểm vốn đã từng dịch Chinh Phụ Ngâm, chữ nghĩa đầy mình, đâu dễ gì chịu mất mặt như vậy, bèn đối ngay: "Trung quốc đại trượng phu, Giai do thử đồ xuất". Câu này có nghĩa là "bậc trượng phu của nước Tàu cũng từ đó mà chui ra cả thôi". Ðúng là chậu nước lạnh hắt vào mặt sứ Trung quốc.

Trên đây là chuyện vào thời nước ta chỉ biết giao hiếu với nước Tàu. Vào cái buổi giao thời Tây Tàu nhố nhăng thì có:

Vị Xương có Tú Xương
Dở dở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quỵt
Thổ đĩ lại chơi lường

Cụ lại còn tự thú thêm:

Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà.

Tuy nhiên đáng nể hơn cả phải nói là bà Hồ Xuân Hương. Sự nghiệp văn chương của bà toàn hướng về trọng tâm duy nhất: phải làm sao nói lên được cái nguyên lý tòm tem ẩn tàng trong mọi sự vật, và tên tuổi của bà gắn liền với sự nghiệp trên đến nỗi hễ một người nào đó chỉ cần nhắc đến tên bà là người khác hiểu ngay ý người kia định nói gì.

Trên đây tôi chỉ đơn cử vài danh nhân tiêu biểu thôi chứ thực ra nếu mà xét cho cùng thì bao nhiêu tác phẩm văn chương nghệ thuật trên thế giới này nếu không liên quan đến ăn thì cũng là do cái động cơ tòm tem thúc đẩy mà ra cả.

Nếu cái chuyện tòm tem nơi loài vật là một sự kiện tự nhiên nên hễ muốn tòm tem thì đi tìm đối tượng hợp tác giải quyết là xong thì nơi con người vì văn minh nên thường "vẽ rắn thêm chân" do đó để thỏa mãn cái nhu cầu tòm tem, con người cũng đặt ra vô số quy định gọi là luật pháp, đạo đức, phong tục, tập quán để làm khó cho mình. Chính vì thế mà chuyện tòm tem của con người mới được phân biệt thành nhiều hình thức.

Thông thường nhất và được xã hội cho phép và nhìn nhận là tòm tem có đăng ký chính thức. Ðể có thể tòm tem theo kiểu này con người phải trải qua nhiều bước gian truân lo lắng và chờ đợi, kết quả có khi được mà cũng có khi chỉ là dã tràng xe cát cho nên mới có chuyện nhiều anh chàng hay cô nàng vì lý do này lý do nọ không hội đủ tiêu chuẩn để xin được giấy phép hành nghề, đành ôm hận đáp chuyến tàu suốt về miền quên lãng, hoặc nhẹ lắm thì cũng là cúi đầu nhìn người yêu ôm cái tòm tem sang ngang không hề ngoảnh lại. Ðiều này nếu có gây đau khổ cho một số người thì chính đó cũng là nguồn cảm hứng để cho những tâm hồn đau khổ đó có thể sáng tác nên những vần thơ tuyệt tác, những áng văn bất hủ và những bản nhạc để đời.

Ðối với những người hân hoan rước được cái tòm tem về rồi thì mọi chuyện bây giờ trở nên như cơm bữa nên không có gì đáng bàn ngoài cái chuyện đêm đêm:

Ðàn ông gì thứ đàn ông
Nửa đêm trở dậy cắm chông đàn bà
Ðàn bà gì thứ đàn bà
Nửa đêm trở dậy rút ruột già đàn ông

Thỉnh thoảng mới có vài trường hợp cá biệt như:

Lấy chồng từ thủa mười lăm
Chồng chê tôi bé không nằm cùng tôi
Ðến năm mười tám đôi mươi
Tôi nằm dưới đất chồng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn chân giường gãy một còn ba ...

Chẳng cần phải giải thích ai cũng thừa biết là thương ở trong lòng thì làm sao gãy được cái chân giường, chẳng qua chuyện gãy cái chân giường là do tòm tem sôi nổi mới ra cớ sự. Tuy nhiên cũng không thiếu gì những trường hợp có kẻ vì những lý do không được tiết lộ nào đó mà cứ phải bóp bụng thở than:

Chàng ơi bỏ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng

Nhờ xã hội bày ra cái chuyện tòm tem phải có đăng ký chính thức này mà có những ông vốn coi trời bằng vung bắt đầu biết sợ, dĩ nhiên là không phải sợ trời mà sợ kẻ cao hơn trời nữa kia. Riêng các bà thì có một số khỏi phải khổ công đèn sách, đánh giặc hay phấn đấu công tác cũng bỗng dưng trở thành cô Tú, bà Bác sĩ, bà Thiếu tướng, bà Tỉnh trưởng v.v... để ra oai tác yêu tác quái, có khi còn thêm màn phụ diễn "gà mái đá gà cồ". Ðiều này có vẻ như là một bất công đối với phái nam vì khi một anh chàng nghèo dốt đặc nào đó vô phúc vớ được một bà luật sư, bà bác sĩ cũng không bao giờ được thiên hạ gọi là ông luật sư , ông bác sĩ gì cả để mà hậm họe với đời hay lên lớp chị vợ.

Thời còn chế độ phong kiến thì tuy vua thay trời trị dân, nhưng vì có vài ông vua lại học được cái câu "nhất vợ nhì trời" của dân gian nên có nhiều bà gốc dân giã, không cần dựng cờ khởi nghĩa để làm vua mà chỉ cần được một ông vua loại trên tuyển về làm Hoàng hậu rồi sau đó lại còn lên Thái hậu là cũng đủ làm cho đất nước điêu đứng.

Riêng đối với đa số các bà thường thường bậc trung không có gì để thi thố với đời thì nhờ có sẵn nhãn hiệu cầu chứng lận trong lưng nên rất hãnh diện phô trương cái thành quả tòm tem của mình, đi đâu cũng vác cái bụng phình chương ướng nghễu nghện ra cái điều ta đây nết na đức hạnh để cho xã hội nhìn vào mà nể nang chứ không giống như mấy cô nàng tòm tem lén, tòm tem chui, lỡ có kết quả là tìm cách dấu còn hơn "mèo dấu cứt".

Mặc dù các nhà đạo đức và các nhà luật pháp thường khuyến cáo con người chỉ nên và chỉ được tòm tem có đăng ký chính thức tại một hộ khẩu thường trú, nhưng nhiều khi vì tính ham vui mà có những cặp chưa kịp làm xong thủ tục đăng ký đã tòm tem. Ðây là loại tòm tem lén cha lén mẹ. Hình thức này rất phổ biến trong lứa tuổi rường cột của tương lai nên đây cũng là niềm lo lắng của các bậc làm cha mẹ. Tuy nhiên có nhiều cô cậu gặp khó khăn trong vấn đề đăng ký hành nghề, thì lại nhờ cái khoản có kinh nghiệm hành nghề trước mà sau đó được cấp giấy phép điều chỉnh, hoặc cũng có khi là bị bắt buộc điều chỉnh giấy phép tùy trường hợp.

Cũng có khi đã đăng ký có nơi có chốn, nhưng vì thích điều mới lạ hoặc ngán cơm nhà ăn hoài nhạt miệng nên ở đâu lúc nào cũng có chuyện "ông ăn chả bà ăn nem" hoặc là ông đi lính "nhảy dù" bà đi tìm nơi "ăn vụng". Ðây là loại tòm tem chui, trốn thuế cho nên thường xảy ra nhiều màn đấu gươm, nổ súng, rượt bắt rất sôi nổi, hoặc nhiều cảnh trừng trị rất rùng rợn. Ngày xưa khi mà "phép vua thua lệ làng", dân nông thôn ở các vùng ven sông đôi khi vẫn vớt được đôi trai gái bị trói thúc ké thả trôi theo giòng nước chỉ vì bị bắt quả tang đang ăn vụng.

Thời Ðệ nhất Cộng hoà, có một ông quan nhà binh súng ngắn nọ không thích bắn súng đồng ngoài chiến trường mà chỉ thích bắn súng cao su ở các vũ trường. Quan bắn giỏi quá nên có một em ca ve xin được rước quan về cận vệ cho mình. Chị cả ở nhà thấy quan lâu ngày không chịu cho mình khám súng mà cứ vác súng đi suốt đêm nên cho tay em đi điều tra. Tay em tìm ra cớ sự bèn về bẩm báo và hiến kế cho chị Cả nên tặng cô nàng nọ một liều a xít để biến cô nàng thành đống sắt vụn. Báo hại sau vụ ấy cả miền Nam mỗi khi nghe có ai nói tới hai tiếng a xít là các bà các cô đua nhau tìm đường chạy trối chết.

Có những bà vì không có phương tiện để theo dõi tìm tòi hoặc không muốn lặn lội thanh toán kẻ địch ở xa cho nhọc công phí sức, nên cứ nhắm ngay đối tượng gần là ông chồng mà trị tội cho tiện. Nghe đâu thời Tây còn cai trị xứ Nam kỳ có một cô Năm Huờn nào đó giận ông chồng không chịu tòm tem với mình mà cứ đi tìm người khác để tòm tem cho nên mới nổi tam bành rưới xăng đốt luôn ông chồng làm đuốc cho đời soi chơi.

Thời Liên khu V kháng chiến, nghe đâu tại Mộ Ðức cũng có một nữ cán bộ thấy đồng chí chồng cứ đi công tác với các nữ đồng chí ấp khác mà không chịu sinh hoạt ở ấp nhà nên tức giận dùng dao phay chặt phăng cái lệnh công tác của đồng chí chồng. Tin này được nhanh chóng loan truyền trong hàng ngũ cán bộ, do đó mà sau này trong các buổi họp giao ban, mỗi khi có đồng chí nào đó thích thảo luận cù nhầy mà có nữ đồng chí nào giơ tay phát biểu: "Tôi xin cắt đứt đồng chí" là các nam đồng chí hè nhau bỏ chạy xanh cả mặt.

Tòm tem chui có khi "chùa" mà cũng có khi là "tiền trao cháo múc". Nếu là tòm tem theo kiểu tiền trao cháo múc thì thường phái nam là kẻ phải chi tiền, họa hoằn mới có vài anh mày dày mặt dạn được đời tặng cho cái danh hiệu là "đĩ đực". Riêng khối chị em ta là vừa được tòm tem lại có tiền ăn bánh nên có nhiều cô nàng bất cần miệng đời khen chê đã xin chọn con đường này làm "con đường em đi". Xã hội nào mà có nhiều cô nàng chọn con đường này thì mấy bà phước ở trong xã hội đó lại càng có dịp nuôi một bầy con không phải con mình. Tuy nhiên cũng có những trường hợp cá biệt, có những cô nàng lúc đầu đi con đường này, nhưng sau đó tình cờ vớ được một anh chàng kiểu Từ Hải mà bỗng hóa thành mệnh phụ phu nhân, trở nên danh giá, ban ân ban phước cho đời. Aáy là chưa kể đến chuyện vào hậu bán thế kỷ 20 lại còn có thêm hiện tượng hàng loạt chị em ta nhờ tòm tem với của lạ nước ngoài mà về sau biến thành Việt kiều được đồng bào cả nước mến mộ vì mấy đồng đô la trong ví.

Ngoài các hình thức tòm tem có đăng ký, tòm tem lén, tòm tem chui, tòm tem nhảy dù còn có một hình thức nữa gọi là tòm tem ẩu. Ðây là một hình thức tòm tem không thông qua sự thỏa thuận của đôi bên mà chỉ đến từ một phía. Loại tòm tem này có thể là hình thức nhẹ như của mấy anh chàng thích thả dê theo kiểu trong ca dao:

Vú em chum chúm hạt cau
Cho anh bóp cái có đau anh đền
Vú em chẳng đáng một tiền
Cho anh bóp cái anh đền quan năm

Có nhiều anh chàng nhờ trước thả dê, sau thành duyên nợ, nhưng cũng có khối anh chàng bị ăn tát tai, đòn gánh, guốc cao gót có khi lỗ máu đầu, hoặc phải ra hầu toà về cái tội hành nghề không có giấy phép.

Hình thức mạnh thì thường đi kèm với dao găm, lưỡi lê, súng đạn, hoặc ít nhất là cũng đôi cánh tay gân guốc. Ðây là một hình thức dã man thô bạo, thường gắn liền với những tội ác mà con người không thích thấy nhưng lại cứ hay diễn ra tại những nơi nào có chiến tranh, loạn lạc, bất công và áp bức. Chuyện kiểu này thì vô cùng, xin để dành phần hành này cho các nhà làm chính trị, các nhà làm luật pháp, các nhà rao giảng đạo đức, tôi không dám lạm bàn.

Mặc dù tòm tem là một nhu cầu tự nhiên nhưng con người lại thích khoác cho nó cái vẻ không tự nhiên cho nên mới sinh ra lắm cái nực cười hay những chuyện thương tâm đầy nước mắt.

Trong một phiên họp Quốc hội thời Ðệ nhất Cộng hòa tại Miền Nam để biểu quyết một dự luật về vấn đề bảo vệ tòm tem, có hai vị dân biểu nọ tranh luận nhau sao đó mà vị nữ dân biểu bỗng đứng dậy một tay rút guốc đập lên bàn, một tay xỉa xói vào mặt vị nam dân biểu và the thé: "Không có đàn bà làm sao có đàn ông?" Vị nam dân biểu bị xúc phạm liền hùng hổ không kém đứng lên vung tay quát: "Không có đàn ông làm sao có đàn bà?" Chẳng ai biết hai vị dân biểu kia rốt cuộc ai thắng ai nhưng dân chúng nghe qua chuyện này đều ôm bụng cười và bảo nhau là hai vị nọ rõ khéo thừa hơi vì nếu không có tòm tem thì làm quái gì có đàn ông hay đàn bà để mà cãi cọ.

Còn các ngài Cộng sản Việt nam khi đề cấp đến vấn đề tòm tem thì tung ra cả một nền đạo đức cách mạng thật là kêu nhưng thực tế thì các ngài chỉ dùng nó làm cái bình phong để kẻ khác không dám nhìn xem các ngài là những kẻ chuyên tòm tem ẩu hoặc ít ra cũng là hạng "ăn vụng chùi mép" một cách tài hơn ai hết. Một cụ tự phong là "cha già dân tộc" qua bao năm được sơn son phết vàng như một thần tượng của đạo đức cách mạng thì bây giờ thiên hạ phanh phui ra không biết bao nhiêu chuyện. Riêng về cái mục tòm tem thì "cha già khả kính" đã từng "sinh hoạt bí mật" với vợ của đồng chí của mình, đã tưng tiu đặc biệt một "cháu ngoan của bác" người vùng Thượng du. Ngày bác bỏ núi rừng về tiếp thu cái dinh Bắc bộ phủ, em cháu ngoan nghe nói bác về Thủ đô ở nhà cao cửa rộng nhưng vẫn không quên cất thêm một căn nhà sàn bên cạnh bèn bế con về thăm. Bác sợ bị lòi cái đuôi chồn lâu nay vẫn dấu kỹ bèn ra lệnh cho đồng chí phụ trách bộ Tẩm Quất giải quyết êm đẹp. Ðồng chí bộ trưởng bộ Tẩm Quất vốn có thời ôm cây đàn ghi ta ca bài "Nụ cười sơn cước" mà chưa có dịp tòm tem, nay nhân dịp "mỡ dâng miệng mèo" bèn không ngần ngại vét chuyến tàu chót trước khi chuyển em thiếu nhi cháu ngoan người Thượng xuống Hồ Tây để rửa cho hết bụi trần.

Cái chuyện tòm tem không phải chỉ có người mới thích mà ngay cả thần tiên cũng còn đam mê. Trong dân gian vẫn truyền tụng những câu truyện như Sơn Tinh và Thủy Tinh chỉ vì tranh nhau nàng công chúa con vua Hùng mà đánh nhau hết năm này sang năm khác, gây ra cảnh gió mưa bão lụt làm khổ cho dân. Lại có những nàng tiên còn vương vấn mùi tục lụy nên mới xui khiến cho chàng Từ Thức lạc động Hoa vàng. Có nàng thì lại còn ham vui xuống tận trần gian xem hội của người đời để rồi gây ra cớ sự khiến cho phải vướng vào duyên nợ với người trần như truyện Giáng Kiều và Tú Uyên.

Tòm tem là nguyên lý của sự sống cho nên hình như dân tộc nào cũng đề cao. Văn minh Văn lang cũng có sự tích "ông Ðùng bà Ðà". Tương truyền là ngày xưa có nhà nọ sinh ra được hai con một trai một gái. Ðến tuổi trưởng thành thì cả hai chị em nhà này đều cao lớn dị thường do đó khi bắt đầu biết đến tòm tem thì nhìn quanh nhìn quẩn không thấy đâu có đối tượng có khả năng hợp tác với mình nên cuối cùng cả hai đành phải hợp tác với nhau. Dân làng cho rằng đây là một hành vi loạn luân bèn xúm lại tẩm quất cho hai chị em nhà này một trận, đến lúc dừng tay lại thì chỉ còn thấy hai đống thịt. Dân làng sợ Trời phạt cái tội cả gan hủy diệt cái nguyên lý của sự sống mà bắt phải tuyệt tự cho nên mới lập đền thờ. Hằng năm đến ngày giỗ thì lại làm hai hình tượng khổng lồ rước đi nghễu nghện khắp làng sau đó là trai gái trong làng được một đêm tự do ra đình làng tòm tem bằng thích để tạ tội. Nghe chuyện này biết đâu chừng có nhiều người cũng đang tiếc hùi hụi tại sao ta lại không được sinh ra tại cái làng ấy.

Khờ khạo như Bờm nhưng một khi đã biết đến tòm tem thì cũng mê mẩn ra phết. Chuyện kể là ngày xưa có hai ông bà hiếm hoi sinh hạ được có mỗi một cậu con trai đặt tên là Bờm. Vì sợ mất giống nên Bờm được cha mẹ cưới vợ cho rất sớm. Chị vợ lớn hơn Bờm nên hàng ngày cứ phải bế chồng đi chơi, đút cơm và lo tắm rửa cho chồng năm này sang năm khác mà ban đêm thì chẳng xơ múi gì. Ðùng một cái đến cái năm con chuột rúc rích gầm giường, chị vợ táy máy sao đó mà Bờm bừng sáng trí khôn hiểu ra cái lẽ sống ở đời.

Từ hôm ấy Bờm cứ mê mẩn quanh chị vợ tối ngày làm chị vợ không còn thì giờ làm công việc nhà nên bị bà mẹ chồng đay nghiến nhiếc móc. Chị vợ ức quá bèn dấu cục đá dưới váy rồi dẫn chồng đến bờ ao lôi cục đá thảy tòm xuống ao và bảo chồng: "Thôi nhé! Tôi đã quăng cái tòm tem xuống ao rồi! Từ nay đừng có theo tôi mà đòi nghe rõ chưa." Bờm tiếc của trời nên ngày nào cũng lội xuống ao mò mẫm. Ðược vài ngày chị vợ thấy vừa thương hại vừa nhớ nên mới ra ao bảo chồng: "Thôi về nhà đi rồi tôi đền cho! " Bờm không dám tin vào người vợ đã từng nhẫn tâm quăng mất niềm vui của mình nên cứ ở lì dưới ao. Chị vợ tức quá bèn vén váy vỗ phành phạch mà bảo: "Nó đây rồi nè!" Bờm ngước lên thấy vợ mình vẫn còn giữ cái món của hồi môn tưởng chừng như đã bị quăng mất ấy y nguyên chỗ cũ bèn hớn hở bò lên theo vợ về nhà. Nghe nói từ đó về sau Bờm tòm tem rất tiến bộ, sinh ra cả bầy con, rồi con cái Bờm lại nối gót mẹ cha mà tòm tem cần cù để tiếp tục sinh ra cháu chắt hàng đàn hàng đống ở chật ních cả giải đất hình chữ S.

Chuyện tòm tem mà có nói mãi thì cũng không bao giờ cùng, cho nên tôi cũng không tài nào nói hoài, chỉ xin tóm lại một câu: dân tộc ta qua hàng ngàn năm nô lệ, hàng ngàn năm thiếu ăn, hàng ngàn năm chinh chiến, người chết như rơm rạ mà vẫn không bị diệt chủng là vì nhờ dân ta ở đâu lúc nào cũng khoái tòm tem và có thể tòm tem. Và cũng chính vì nhờ có chút tòm tem mà đời vẫn còn vui để cho chúng ta cứ mê muội ngụp lặn trong vòng khổ ải.

Đoàn văn Khanh (Saigon-Echo)

Bài Xem Nhiều