We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 10 March 2011

Y ĐỨC CỦA THẦY THUỐC


Một người bạn tôi đang làm việc tại một bệnh viện lớn ở Sai Gon, mới đi công tác nước ngoài về, và chị kể lại vài câu chuyện mà chị nghĩ sẽ là động cơ để làm mới dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở bệnh viện của chị. Trong thời gian ngắn ở nước ngoài, thay vì đi shopping, chị bỏ thì giờ ghé qua thăm các trường đại học và bệnh viện, được mời đi "grand round" và xem cách đồng nghiệp nước ngoài tiếp xúc với bệnh nhân. Tôi hỏi ấn tượng của chị sau khi thăm và xem qua phong cách làm việc ở bên Tây ra sao, chị nói rằng các bác sĩ ở đây rất lịch sự với bệnh nhân, nói năng thân mật và nhỏ nhẹ với bệnh nhân, không bao giờ ra lệnh hay tỏ ra là "bề trên" của bệnh nhân. Cho dù có bận cách mấy, bác sĩ vẫn phải tự mình ra ngoài mời bệnh nhân vào phòng khám. Các y tá cũng rất tận tụy với công việc của mình, chăm sóc bệnh nhân từ tấm trải giường, đèn giường, tạo sự thoải mái, và lúc nào cũng quan tâm sự an toàn của bệnh nhân.

Phong cách chăm sóc vừa kể rất khác với phong cách của giới bác sĩ và y tá ở Việt Nam vốn tự xem mình là người ban phát ân huệ, và từ cái vị trí tưởng tượng đó, họ tự cho mình cái quyền hà hiếp bệnh nhân. Tôi hỏi chị làm sao thay đổi được cái "văn hóa" y khoa ở Việt Nam trong tình hình hiện nay, thì chị cũng thấy đầy trở ngại. Trở ngại thứ nhất là phải thuyết phục được cấp lãnh đạo dám thay đổi văn hóa y khoa. Bệnh viện may mắn có lãnh đạo trẻ và quyết tâm làm, nhưng ngay cả với một lãnh đạo như thế, chưa chắc đã thay đổi được một hệ thống trong khi các thành viên trong hệ thống đó đã quá quen với lề lối cũ. Nhưng trở ngại lớn nhất có lẽ là từ phía giáo dục. Bởi vì cả một hay hai thế hệ đã được đào tạo ra trong môi trường và đạo đức mà người bạn mô tả trong bài dưới đây thì vấn đề không chỉ là một bệnh viện hay một trung tâm mà là chuyện của một quốc gia. Nghĩ đến đây, bạn tôi chợt thở dài ...

NVT



http://drnikonian.wordpress.com/2009/05/15/sad-smile/

Báo Tuổi Trẻ, mấy ngày nay khá nóng về cuộc tranh luận chung quanh cái gọi là lương tâm chức nghiệp của giới thầy thuốc ở các bệnh viện công. Khen có, chê cũng kha khá. Lại có một ý kiến của đồng nghiệp HT bị ném đá tơi bời. Nó như thế này:

"Tôi là một BS làm việc ở một bệnh viện công của TP.Sai Gon. Đọc bài “Bác sĩ công và bác sĩ tư” của bạn Hoàng Mai, tôi thấy chạnh lòng vì tôi từng chứng kiến nhiều đồng nghiệp đối xử như vậy với bệnh nhân (tâm trạng của tôi lúc đó cũng rất mâu thuẫn).

Tôi biết cư xử như thế là không đúng, nhưng thực tế có bao nhiêu phần trăm BS thật sự xem công việc ở bệnh viện là quan trọng trong cuộc đời, toàn tâm toàn ý cho công việc? Dù không thể đổ lỗi cho thu nhập, nhưng thật sự chúng tôi đi làm vì cái gì, chỉ vì lương tâm thôi sao, chỉ để được xã hội công nhận là từ mẫu thôi hay sao?

Chúng tôi cũng cần phải sống, con của chúng tôi cũng cần phải ăn, phải học. Mà thử xem Nhà nước trả cho chúng tôi lương tháng được bao nhiêu? Tôi đã học sau đại học mà lương 3 triệu đồng, tiền cơm 500.000 đồng nữa là 3,5 triệu đồng. Rồi bị trừ tiền bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp, công đoàn… thì làm sao tôi có thể sống ở thành phố này?

Tôi cũng không thể trách đồng nghiệp sao nhăn nhó với bệnh nhân vì biết BS ấy đang lo lắng bố mẹ ốm mà không có đủ tiền. Tôi nghĩ cũng khỏi phải bắt chúng tôi học những lớp giao tiếp với bệnh nhân làm gì, chuyện quan trọng đầu tiên là phải trả công cho chúng tôi xứng đáng với trách nhiệm mà chúng tôi đảm đương, và đủ để chúng tôi sống đã.

Không phải lo lắng về tiền bạc quá nhiều như hiện nay thì chúng tôi có thể yên tâm lo cho chuyên môn. Còn như hiện nay thì vấn đề đó sẽ tiếp tục như thế và rất khó để giải quyết bạn ạ. Bạn cứ chờ xem.
….."

Lời phân trần này làm tôi nhớ lại một câu chuyện cách đây 20 năm, mà tôi là nhân chứng. Hôm đó, tôi đưa cháu vào cấp cứu ở một BV lớn ở TP. Cháu tôi bị tiêu chảy mất nước nặng. Dưới con mắt nhà nghề, tôi biết cháu tôi đang trụy mạch, cần được cấp cứu. Vậy mà chờ mãi, vẫn không thấy động tĩnh gì. Biết thân biết phận, biết câu rừng nào cọp ấy, tôi rón rén gõ cửa phòng trực BS. Đây rồi, một đồng nghiệp rất trẻ, đang cắm cúi trên một cuốn sách dày cộp. Chỉ vừa mới mở miệng bẩm báo về tình trạng mạch nhanh không bắt được, da tím, lạnh… của cháu, tôi nhận được một ánh mắt lạnh như băng, quét từ đầu xuống chân, qua một cặp kính trắng lấp lánh rất trí thức, và một câu nói cũng lạnh tanh: “Có biết học BS là khó lắm không?” (??????)

Không cần bình luận gì thêm về tính chất vô giáo dục và cực kỳ ngạo mạn của câu nói này, mà nên thấy, xã hội chúng ta đang sống, đã sản sinh ra một tầng lớp, tạm gọi là trí thức, không tim, thiếu một căn bản tối thiểu về giáo dục và giao tế xã hội (social etiquette). Không thể đổ lỗi cho đồng lương, cho sự thiếu thốn vật chất để gật gù thông cảm cho sự phi nhân, nhất là sự phi nhân đó xảy ra trong ngành giáo dục và y tế. Nói được một câu “xuất sắc” như đồng nghiệp trẻ năm xưa, chắc không phải vì lương thấp, vì bức xúc mà bật ra (?)

Tôi cười nhạt, khi nghe đồng nghiệp HT than vãn về thu nhập. Giấy trắng mực đen, thì BS công nào cũng nghèo. Trà dư tửu hậu, thì các BS công thường dè bĩu các BS tư là chạy theo đồng tiền, bỏ quên nghiên cứu khoa học (?). Nhưng thực tế, trừ một số BS trẻ vừa chân ướt chân ráo vào nghề, các BS công hiện tại đang giàu, rất giàu. Cứ nhìn các dãy xe hơi đời mới trong sân các BV lớn thì rõ.

Chẳng nên đổ tại tiền! Mà không lẽ vì tiền, tôi có quyền hạ thấp phẩm giá, sự cao quí của nghề nghiệp, bằng những hành vi cục súc (xin lỗi, tôi không tìm được từ nào văn hoa hơn), mà các đồng nghiệp của tôi cư xử với bệnh nhân, và cả với nhau (?) Làm thầy thuốc, phàm cứ ít tiền thì hỗn xược với người bệnh (?). Phải đợi đến lúc nhiều tiền mới lễ độ, vồn vã, thì có khác chi bà phở chưởi học nghề chiều khách?

Tuy nhiên, con người là sản phẩm của xã hội. Nói đi thì cũng phải nói lại, cho nó công bằng. Hệ thống y tế của chúng ta là cha đẻ của một tầng lớp học cao hiểu rộng, hợm hĩnh, kiêu căng và …dùi đục như thế.

Còn nhớ, khi mới ra trường, lọ mọ đến Sở Y tế một tỉnh nọ có việc, tôi phải bỏ dép, đi chân không vào phòng ông Giám đốc. Chẳng khác gì một chị Dậu với nón mê, váy đụp khúm núm chốn công quyền, mặc dù tôi đi bán tôi (xin việc), không phải đi bán chó, thưa các bạn! Tại sao, một BS trẻ như tôi hồi ấy, không được quyền có một việc làm đúng sở học, một cách đường hoàng, tự tin, mà phải hèn hạ đến thế?

Điều ấy, nó tổn hại cho phẩm giá!

Còn nhớ, chúng tôi, hơn 30 BS nam, phải nhường WC cho các BS nữ, nên phải vừa tiểu tiện, vừa rửa mặt trong một cái lavabo suốt 10 năm trời ở một BV lớn nhất nước.. Chuyện ấy, giờ còn hay không, tôi không biết! Nhưng, nó cũng làm tổn hại phẩm giá. Nó làm con người ta, mất dần dà đi cái ý thức về lịch sự, riêng tư, nhân cách…, từ những điều nhỏ nhặt như vậy!

Còn nhớ, chúng tôi phải đi vận động, hay nói trắng là đi ép buộc, bệnh nhân chúng tôi phải mua, phải ăn những suất cơm tồi tệ, nuốt không trôi của BV. Chỉ vì ông giám đốc khả kính một thời của BV đó, có mối quan hệ rất đáng ngờ với công ty cung cấp khẩu phần bệnh viện. “Không ăn ư, cứ cho ra viện. Vì ăn cũng là một cách điều trị! Không ăn, là chống đối chế độ điều trị, cho ra viện”. Ghê chưa?

Còn nhớ, cũng chính ông GĐ đó, ép buộc và ra chỉ tiêu chúng tôi phải kê toa một loại thuốc cực kỳ nhảm nhí, chỉ vì ông ta và gia đình vừa mới được mời đi du hí châu Âu về. Ai mời? Câu trả lời là một cái cười nụ. Mà cũng chính ông ấy, lại nói về y đức rất dõng dạc, rất tự tin, ai nghe cũng phải giật mình kính phục.

Còn nhớ, khi mới ra trường, lòng còn nhiều mộng ước, gặp ngay gã y tá chuyên tu, phó phòng tổ chức. Béo tốt, vênh váo (tuy còn rất trẻ): “ĐM, BS trẻ chúng mày ngu bỏ mẹ. Khoa ấy có đ. gì để ăn mà cứ xin vào đấy?” Sau đó là những chầu nhậu, những tăng 2, tăng 3…để được việc. Về nhà, nhục nhã, uất ức, nhìn con thơ đang ngủ mà phải cắn răng lại để khỏi trào nước mắt. Không chìu lòn chúng nó, bố tìm đâu ra việc để kiếm tiền mua sữa cho con. Tội nghiệp con, và tội nghiệp cả bố nữa, con trai ạ!

Một gã thất phu như thế, lại được trọng dụng, cất nhắc nắm sinh mệnh khoa học (và cả sinh mệnh chính trị) của hơn ngàn BS, bạn có tin nổi không?

vân vân và vân vân…

Thế đấy, người thầy thuốc VN tội nghiệp, sau bao nhiêu năm tháng sống trong một hệ thống kém văn hóa, hỗn xược như thế, đã bị vùi dập, thui chột những tố chất bắt buộc phải có của người thầy thuốc: sự lễ độ, lòng thấu hiểu, phong cách thanh lịch văn minh…mà ta vẫn thường thấy trong các phim Âu Mỹ. Nó là sự thật, không phải là phim giả tưởng đâu, thưa các bạn. Nó là kết quả của một xã hội tôn trọng người đọc sách, coi thầy thuốc là tầng lớp quí tộc, ưu tú. Và huấn luyện, đòi hỏi người thầy thuốc phải xứng đáng với những phẩm chất đó. Dĩ nhiên, không chỉ bằng những lời hô hào suông, bằng các loại giấy khen thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, mà bằng nhiều cách khác. Không nói ra thì ai cũng biết những cách đó là gì!

Thiếu căn bản giáo dục cá nhân, gia đình. Thiếu một nền tảng văn hóa tối thiếu từ xã hội, cơ quan (ở đây là BV), thì dù một số không nhỏ BS dù đã rất giàu, họ vẫn không thể hành xử ‘xứng với kỳ đức’ mà nghề nghiệp và xã hội mong đợi. Chung qui, thì cũng nên nghĩ ngợi về cách chúng ta đào tạo trí thức. Và cách chúng ta đối đãi (không phải là đãi ngộ) với người trí thức! (Lại hoan hô Marx một cái cho đúng lề phải, khi ổng phán thế này: “con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”)

Chưa một lần, tôi dám hô hào y đức. Vì nó thâm sâu chẳng khác gì tôn giáo. Nhìn vào y đức, để thấy thẹn với lòng, vì không bao giờ vươn đến được cái nghĩa lý cao quí của hai từ đó. Nhớ lại y đức, để răn mình, chứ chẳng dám răn ai như các quan chức trơn lông đỏ da vẫn thường rao giảng. Y đức cao quí (nhưng không cao xa), nên xin các quan chức, thôi hô hào, thôi khuấy động các phong trào thi đua chấn hưng y đức để tự đánh bóng bản thân. Y đức nào tồn tại được, theo cái cách chúng ta đang vận hành guồng máy y tế như bây giờ? Bộ máy y tế ấy, đã phản y đức về cơ bản, khi phân loại bằng giấy trắng mực đen, các quyền lợi và hệ thống khám chữa bệnh của nó theo chức vụ, cấp bậc, mức lương. Lẽ nào, một người dân đen, không được quyền chăm sóc ngang bằng một cán bộ cao cấp?

Tôi may mắn, tự thoát ra được khỏi hệ thống ấy, cũng hơn 10 năm có lẻ. Nhưng thỉnh thoảng, nhớ lại một thời cay đắng ấy, không khỏi ngậm ngùi mà lẩy một câu Kiều: “chút lòng trinh bạch từ nay xin chừa”.

Lại thêm một lý do, để tôi mong ước con trai tôi về, sau khi ăn học thành tài ở xứ người. Chẳng để trả thù ai, mà làm gì được cho dân mình bớt khổ thì làm!

Về mà thay thế, về mà chấn hưng lại cái hệ thống y tế nhàu nát mà bố phải chịu đựng ngần ấy năm để nuôi con, con ạ!

Độc tài, đảng trị cáo chung?


Thông thường, cơn hấp hối của một con người kéo dài không lâu. Nhưng ngày nay với nền y khoa tân tiến, có thể kéo dài cơn hấp hối cho một người đến nhiều tháng nhiều năm với trạng thái sống thực vật, vô tri vô giác. Như trường hợp Võ Nguyên Giáp hiện giờ.
h
Có thể đoán mà không lầm rằng đảng CS Việt gian sợ Giáp chết là do lòng mê tín dị đoan! Cũng như hiện tượng “Kụ Rùa” Hồ Gươm, chúng nó chẳng thiết tha hay nhân đạo gì đối với một sinh vật già nua, ghẻ lở, mà phải bỏ nhiều công sức tiền của để lo cứu chữa. Chúng cũng chẳng yêu thương gì một viên tướng già trăm tuổi mà bọn đàn em lâu lâu lại lợi dụng tên tuổi để gởi “thư ngỏ thư nghiếc” than phiền trách cứ lôi thôi! Lại phải tốn tiền tỷ để kéo lê kiếp sống cho một thân xác vô hồn!

Hẳn là bọn VGCS cũng nghe ngóng và được biết ở Sài Gòn trước tháng Tư 1975 có ông cụ Diễn, một nhà bói Dịch tài giỏi, đã tiên tri khá chính xác nhiều chuyện quốc gia đại sự, đã đoán trước sự nghiệp và số phận của nhiều nhân vật quan trọng; vào thời đó đã có loan truyền chính cụ Diễn “hé lộ thiên cơ” rằng “CS có thể chiếm được Miền Nam, chỉ sau khi HCM chết, rồi chúng sẽ tan rã sau cái chết của Võ Nguyên Giáp!”


Quả thật, Tết Mậu Thân 1968 Hồ đã bội ước lời đề nghị hưu chiến để cho đồng bào Miền Nam được yên vui trong những ngày Tết cổ truyền của dân tộc; Hồ đã chỉ thị cho Cộng quân (qua bài thơ con cóc chúc Tết) là phải dồn mọi nổ lực đánh chiếm Miền Nam cho bằng được, nhưng Hồ đã thất bại! Dù bị tấn công bất ngờ, Quân lực VNCH đã đẩy lui và tiêu diệt nhiều đơn vị địch. Hồ uất ức mà chết năm 1969. Thế rồi thời cơ đưa đẩy, 6 năm sau phỉ quyền CS Bắc Việt chiếm được Miền Nam một cách dễ dàng!


Kiêu căng và hãnh tiến, Việt gian CS từ sai lầm nầy đến sai lầm khác, từ việc đem quân xâm lăng cướp bóc ở Campuchia dẫn đến bị quan thầy Tầu Cộng “dạy cho bài học!” Rồi quan thầy Liên Xô và đồng bọn Đông Âu sụp đổ, chúng phải muối mặt quay lui dâng nộp cương thổ để khấu đầu tạ tội xin tái thần phục thầy cũ Đặng- Giang! Mất hết viện trợ lại bị Tầu Cộng đòi nợ, nền kinh tế suy sụp, dân đói, chế độ tưởng chừng đã cùng đường. Nhưng chúng lại may mắn được Âu Mỹ nắm tay cứu vớt! Chúng lại kiêu căng là nhờ tài “đổi mới!” Thay vì khôn khéo điều chỉnh một nền chính trị lương hảo cho thích nghi với thời đại thì chúng vẫn nhắm mắt đi theo lối mòn lưu manh và gian dối!

Dù Võ Nguyên Giáp đã chết hay đang sống đời cây cỏ thì những dấu hiệu suy tàn, cáo chung của chế độ đã hiển bày. Nhưng cơn hấp hối của một triều đại, một chế độ sớm hay muộn là điều khó tiên đoán: một chế độ gian ác nhiều khi phải kéo dài cơn hấp hối như một trạng huống bị trừng phạt, đọa đày!
Cơn hấp hối của “triều đại HCM bán nước” đã nhen nhúm từ lâu, như bài viết năm 2007:

Từ lời Sấm Ký?

Ông cựu thủ tướng ngồi ghế lâu năm nhất Thế giới Phạm Văn Đồng chết hôm thứ Bảy ngày 29 tháng Tư năm 2000, mà theo tin tức thì Bộ chính trị đã cố dùng mọi phương tiện y khoa để kéo dài cơn hấp hối, làm sao cho Đồng sống qua khỏi ngày “ăn mừng chiến thắng” 30 tháng Tư, nhưng không được, BCT cũng không thể thay đổi ngày chết cho thích hợp như đã từng thay đổi ngày chết của HCM, bèn loan tin đúng ngày chết cho Đồng nhưng loan tin trễ! Mừng chiến thắng xong đã!

Người Cộng Sản vui trước, buồn sau. Vui mới quan trọng, buồn là thứ yếu, chuyện nhỏ! Thập niên 90 Thế kỷ trước người viết có người “bà con” xa là một đảng viên cán bộ trung cấp, trong lúc người cha ruột của đương sự vừa mới chết chưa khâm liệm ở nhà, thế mà vợ chồng hắn phải lo đi nhà hàng dự đám cưới con của một thượng cấp! Đạo đức xhcn là như thế!


Lại nói về ông Thủ tướng, ngày hôm sau khi nghe tin Đồng chết liền có bài thơ:


Điếu Phạm Văn Đồng

Ông đi tháng xấu gặp ngày trùng
Chúng nó lúc nầy hẳn rối tung
Ngoài mặt huênh hoang mừng đảng thắng
Nội tình bấn loạn sợ dân bung
Hồ khô từ đó theo lời sấm
Đồng cạn nay là vận cáo chung
Thế nước báo điềm thời mạt đảng
Xui ông đầu nậu chết giờ hung !
(30/4/2000)

Câu sấm ký vẫn lưu truyền từ lâu ở Miền Nam:
“Bao giờ đá nổi, lông chìm.
“Đồng khô, hồ cạn, búa liềm ra tro !”

Người ta cho là sấm cụ Trạng Trình, nhiều giải đoán về sự liên hệ tồn vong giữa chủ nghĩa CS và bốn nhân vật tiếng tăm Việt- Tầu: Hồ, Đồng, Mao và Tưởng, Tưởng Giới Thạch đã chết đem chôn trên núi (đá nổi?), HCM chết (1969) xác ướp khô để lộng hòm kiếng! Mao chết đem chôn năm 1976 (?), người dân Miền Nam càng bàn tán, hy vọng chờ hiện tượng “đồng khô cạn”, nhưng Đồng sống dai, sống cho đến lực cùng sức cạn mới chịu ra đi!
Lời sấm ký hiệu nghiệm, chủ nghĩa CS tan rã khắp nơi, còn năm nước cố bám cái thây “xã hội chủ nghĩa” Lào, Tầu, Việt, Bắc Hàn, Cuba chỉ là thứ CS nửa dơi nửa chuột, búa liềm hết linh!

Sự kềm kẹp sắt máu của CSVN mất dần hiệu quả, trước đó những người bất đồng chống đối dù đông đảo nhưng vẫn bị tiêu diệt hay nhốt chặt trong tù, người dân câm lặng trước sự cướp bóc vơ vét ngang nhiên của bọn cán bộ đảng viên có chức có quyền từ cấp thôn xã! Mặc dù vậy, bọn đảng viên cán bộ lớn nhỏ còn sợ lẫn nhau, còn dòm ngó xoi bói nhau, đứa nào cướp được thì cũng vàng chôn bạc giấu, chưa dám se sua xây tư thất, biệt thự, dinh lũy, đồn điền đồ sộ như bây giờ.

Nay đúng là thời “mạt đảng!” Thời “dân bung!”


Cái thời quyền uy tối thượng của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ không còn nữa, kỷ cương bây giờ là “trên bảo dưới không nghe” như thủ tướng chăn trâu Phan Văn Khải từng thú nhận, mà nghe làm sao được! Trên làm sao thì dưới làm vậy, trên ăn gian thì dưới ăn cướp! Trên bán biên cương, rừng biển, tài nguyên, chia tiền đầu tư, xén viện trợ thì dưới cướp đất của dân, đớp tiền cứu trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai! Ngu hay sao mà nghe! Chỉ nghe khi nào quyền lợi chung cả đảng bị đe dọa, xã- ấp, huyện- tỉnh sẵn sàng hợp lực để đàn áp khủng bố những người bất đồng chính kiến, những người dân đi khiếu kiện vì bị cướp đất phá nhà , để dân bung thì đảng lâm nguy. Thế nhưng dân vẫn bung, đường cùng thì phải quay lại. Dân bung thì đảng phải bóp!
Đảng CSVN chỉ còn kỳ vọng vào sách lược “trăm năm trồng người” lấy chủ trương “học tập gương đạo đức HCM” làm nền tảng, thật ra không cần phải học tập, con người sống dưới môi trường xhcn cũng tự sản sinh ra đủ loại người có thứ đạo đức đó: con tố cha đấu mẹ, vợ giết chồng, em giết anh, thầy hiếp dâm trò, trò đánh thầy, côn đồ xã hội đen được trọng dụng, người nói điều ngay thật bị nhốt tù, bị khống chế đánh đập. Trí thức thì chỉ biết luồn cúi, nhà văn, ký giả chỉ biết xu nịnh.

Nhưng thời nay đảng không còn khả năng bít kín thông tin, nên càng “học tập” người ta càng đem đối chiếu, phân tích và suy luận thì cái “tính bản thiện” từ “nhân chi sơ” nơi con người lại trỗi dậy như nhiều trí thức trẻ hiện nay đã tỉnh ngộ mà đảng rất lo sợ.


Đối với người Việt hải ngoại, VGCS cũng thủ đoạn và máy móc suy nghĩ rằng lớp người già “đầy lòng thù hận” sẽ qua đi, lớp người trẻ không dính líu gì với cuộc chiến sẽ thuộc về của chúng nó. Điều nầy có thể đúng nếu chúng chịu từ bỏ mọi sự dối trá, lừa bịp gian manh! Bằng chứng là đếm được bao nhiêu trí thức trẻ hải ngoại bùi tai theo lời đường mật của nghị quyết 36 để về nước làm thân chó ngựa cho chúng nó? Trong khi có quá nhiều người trẻ có kiến thức đã và đang đem hết khả năng tâm trí để chống laị chế độ vẫn độc tài tham ô, giả dối và bịp bợm, lớp trẻ còn mạnh mẽ và tinh thần chống đối có bài bản không thua kém lớp cha ông.


CS thâm hiểm nhưng ngu muội vì chủ quan!


Hiện nay CSVN chỉ còn dựa vào lực lượng công an và côn đồ xã hội đen để khống chế, đàn áp dân chúng nổi dậy. Càng ngày chúng nuôi dưỡng thêm tầng lớp thân nhân, bè đảng càng giàu có để tăng thêm vây cánh.

Lực lượng quân đội võ trang chúng cũng đem chính trị để kiểm soát, chế ngự, có lẽ cũng có nhiều người thật sự có tâm huyết với dân tộc và đất nước, nhưng dù ít hay nhiều, mạnh hay yếu đang lúc còn quyền có chức lại trù trừ do dự không dám áp lực một sự đổi thay triệt để hầu đối phó với hiện tình nguy cơ mất nước cận kề đến từ nhiều phía. Đợi tuổi hồi hưu trí (phục viên) mới tỉnh ngộ, mới lớn lối phản kháng, phản tỉnh thì cũng chỉ là tiếng kêu than, bất mãn cuối đời, cũng chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, nắm đấm vào khoảng không. Rồi thì “mạt dân trước mạt nước sau”, cuối cùng “mạt đảng” sẽ xô nhau chạy qua Âu Mỹ sống, đã có những kho châu báu, đô la dự trữ sẵn rồi! (4/12/ 2007)


*


Cái đuôi “định hướng xhcn” đã đầy ghẻ lở, lá bùa “đổi mới” đã rách tả tơi! Màn chiêu dụ chất xám Việt kiều đã lùi vào bóng tối lừa mỵ, du học sinh tốt nghiệp tìm cách trốn ở lại nhiều hơn quay về, nền kinh tế “ngữa tay lừa bịp” trơ tráo đã hết thời: Thụy Điển rút sứ quán, Anh Quốc cúp viện trợ! Nợ đáo hạn năm nay phải trả 4 tỷ Mỹ kim! Dân phải gồng mà trả, tiền vay ODA một phần trung ương đảng chia nhau gởi ngân hàng Thụy Sĩ, một phần thì chìm theo những dự án như Vinashin! Xuất khẩu lao nô để vơ vét ngoại tệ, nhưng khi có biến lại kêu gọi quốc tế giúp đỡ di tản hàng ngàn lao công cần rời khỏi chiến trường Lybia! Không chút hổ thẹn!

Người dân đang âm thầm chờ một cuộc nổi dậy như Tunisia, Ai Cập, Lybia…đảng đang tăng cường củng cố lực lượng công an “còn đảng còn mình!” đang vuốt ve chấn chỉnh quân đội “trung với đảng!” để đối phó với tình hình có thể xẩy ra bất cứ lúc nào!


Búa liềm đã ra tro từ thuở “hồ khô, đồng cạn” thế nhưng cơn hấp hối, diệt vong của những chế độ thú vật, ma quỷ vẫn đang còn kéo lê những đợt giẫy dụa đến bao giờ?!


6/3/2011
nguyễn duy ân

Lỡ sinh ra làm phụ nữ

Ngày 8 tháng 3 vừa qua là ngày kỷ niệm 100 năm quốc tế phụ nữ . Ngày mà chúng ta thấy hàng triệu triệu người phụ nữ được hưởng những quyền lợi như đi làm, đi bầu, cắp sách đi học, tham gia chính trường và ít bị kỳ thị hơn xưa. So với 100 năm trước, người phụ nữ quốc tế ngày nay khác hơn nhiều. Ở Hoa Kỳ có khoảng 48% phụ nữ hiện có việc làm và 20 % phụ nữ có những địa vị lãnh đạo. Tuy nhiên ở Việt Nam và Đông Nam Á, họ vẫn còn là những thân phận bọt bèo trôi nổi rất thương tâm. Họ từ từ được tham chính nhưng con số phụ nữ đứng vào hàng lãnh đạo vẫn còn là con số rất khiêm nhường.

Theo một bản phân tích báo cáo của chương trình phát triển phụ nữ Liên Hiệp quốc “The United Nations Development Programme (UNDP) and UN Women”, sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo ở nông thôn, thành thị và các vùng phụ cận còn rất thấp. Những nơi cần có các cấp lãnh đạo phái nữ phải gia tăng như Bangladesh, India, Pakistan và Việt Nam. Năm 2009, số phụ nữ toàn cầu được tham chính vào khoảng 18.4 %. Ở Đông Nam Á, con số ấy rất tệ. Bangladesh chỉ có 1.37 % phụ nữ được bổ nhiệm vào các vị trí cao cấp.

Riêng ở VN, trong kỳ bầu Đại hội đảng kỳ thứ XI, có 175 ủy viên chính thức được bầu, có 15 gương mặt nữ đắc cử. Chúng ta có tỷ lệ vào khoảng 8 %. Ngoài ba vị trí của địa phương là bí thư tỉnh Điện Biên, Hà Nội và Vĩnh Long còn phần lớn các vị trí khác thuộc về toàn quốc trong các lãnh vực xã hội, y tế, thương binh, dân vận và liên hội phụ nữ.v..v.

Từ nghìn xưa, vai trò người phụ nữ chỉ đứng sau người đàn ông và vị trí lãnh đạo là của nam giới. Tuy nhiên ngày nay vai trò của họ đã thay đổi. Ngoài việc chăm sóc và quan tâm đến gia đình là bản chất chính của người phụ nữ, họ còn phải trau dồi kiến thức, giáo dục, bươm chải kiếm sống, và thăng tiến trong nghề nghiệp và địa vị xã hội. Theo thời gian đã biết bao nhiêu người phụ nữ thành công không chỉ trong lãnh vực gia đình, nghề nghiệp mà cả trên lãnh vực lãnh đạo.

Là một người phụ nữ, tôi muốn nhắc nhở tới ngày phụ nữ quốc tế. Đây là dịp tôi bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với những nỗ lực của người đi trước đã làm việc, tranh đấu, bảo vệ và giúp đỡ cho cuộc sống phụ nữ ngày nay được khá hơn.

Nhìn lại chặng đường mình đã đi qua từ thời thơ ấu ở Việt Nam cho tới lúc trưởng thành. Ở Mỹ, tôi đi học đi làm và được sống đủ đầy, thực hiện được nhiều ước mơ bằng chính công sức và tiềm năng riêng của mình. Tuy không phải điều gì cũng toàn hảo, nghĩa là tôi cũng có những thất vọng, buồn chán và đôi lúc cảm thấy bị kỳ thị vì mình là phụ nữ. Nhưng nói chung tôi vẫn cảm thấy mình hạnh phúc và may mắn hơn nhiều phụ nữ khác, nhất là những phụ nữ còn ở VN.

Ngày nào tôi về nước chơi, ra chợ nhìn những người phụ nữ Việt ngồi chồm hổm ngoài chợ buôn vài mớ rau, bán vài con cá, mồ hôi ướt thẫm bờ vai chua lét mà thấy lòng mình nao nao. Đêm nằm, tôi nghe tiếng những người đàn ông say rượu đánh vợ ồn ã vang rền đêm vắng. Nhìn những thiếu nữ trẻ bị bỏ mặc, lạc lõng tìm người thông dịch ở phi trường xứ người, tôi thấy chua xót. Họ bị đám con buôn ngụy trang dưới lớp “dịch vụ hôn nhân” gạt người một cách hợp pháp lấy gần hết số tiền công mai mối, rồi “đem con bỏ chợ”, làm sao thì làm, tự lo liệu lấy, biết tiếng Anh hay không mặc kệ. Không biết mấy mươi năm nay, con số phụ nữ VN chọn con đường lấy chồng ngoại quốc qua loại dịch vụ hôn nhân lên tới bao nhiêu mà ai cũng biết là rất nhiều. Tôi có theo dõi nhiều bài báo, các phóng sự và tin tức thì nguyên nhân các thiếu nữ bỏ quê hương, mái nhà êm ấm thân yêu của mình ra ngoại quốc không chỉ thuần lý do nghèo, mong có cuộc sống khá hơn mà còn có một nguyên nhân sâu xa là họ chán đàn ông Việt. Hình ảnh phái nam trong nước hiện nay không còn là một hình ảnh đẹp như như mơ trong trí phái đẹp nữa. Nào là họ không biết tôn trọng phái nữ, ăn nhậu say xỉn, cờ bạc, đánh vợ, đập con và ăn hiếp người đàn bà chân yếu tay mềm. Việc bỏ đi lấy chồng ngoại quốc của phụ nữ trong nước có phải là một cuộc cách mạng ngầm để vượt thoát? Không phải tất cả người ra đi đều gặp bất hạnh mà người thành công trở về thì giàu có hạnh phúc, khoe chồng ngoại quốc giỏi, thương vợ, chiều và trọng vợ. Điều này đánh bóng cho những phụ nữ cam đảm đã lên đường, và biết bao người theo vết chân họ để tiếp nối.

Tôi tuy ở hải ngoại nhưng vẫn thường xuyên đọc báo chí trong nước qua mạng. Tôi theo dõi tin tức, thời sự, văn học xã hội, phim ảnh và cả việc xem phim bộ nữa. Tôi thấy được người phụ nữ trong nước ngày nay đã bước những bước khá dài, để đuổi cho kịp phụ nữ quốc tế. Họ lên mạng, tìm bạn, chit chat, chơi game, theo đuổi thời trang, quan tâm đến giáo dục, nghề nghiệp, nghĩa là làm mọi thứ mà phái nam có thể làm. Thậm chí trong những phim bộ tôi đã xem qua, hình ảnh một người phụ nữ lý tưởng ngày nay trong óc phụ nữ VN là người thích độc thân, lo tới tương lai sự nghiệp và học vấn trước khi nghĩ tới hôn nhân. Không phải là phim bộ chỉ có những hư cấu, nó không ít thì nhiều cũng thể hiện được đời sống, tư duy và môi trường sống của các tầng lớp con người trong xã hộị. Họ cũng buôn bán, cạnh tranh nghề nghiệp, thích vai trò lãnh đạo và không ít phụ nữ đã thành công và giàu có nhờ tài khéo của mình. Việt Nam là một nước đang phát triển, luồng gió mới nào thổi vào cũng có cái độc và cái lành. Phụ nữ phần nào cũng được hưởng những làn gió lành tươi mát trong trận cuồng phong ấy. Tôi thấy những báo mạng trong nước cũng nhắc nhở nhiều tới ngày phụ nữ quốc tế và ngày phụ nữ VN. Thật là một điều đáng khích lệ.

Nỗi mừng luôn đi đôi với nỗi lo. Chuyện những em gái bị bắt cóc, bị bán hay đem giao cho các động mãi dâm khắp nơi trong nước và ngoài nước vẫn còn là mối thương tâm rỉ máu hoài không dứt. Có ai thấu nỗi đau, sợ, nhục nhằn của các em trong các cảnh vô luân ấy?. Có ai nhìn được vết thương xé lòng của các bà mẹ mất con, khi tưởng tượng đến các đứa bé tuổi mới 9, 10 mà đã làm những công việc nô lệ tình dục một cách thành thục và vô cảm?. Chắc tất cả các phụ nữ ấy ai cũng oán cho số kiếp làm con người nữ tội nghiệp của mình.

Tôi có một người bạn vẽ một bức tranh tặng các bạn nữ cho ngày quốc tế này. Anh vẽ một người phụ nữ có nhiều cánh tay hệt như hình tượng Phật Quan Âm ngàn tay. Anh cảm thông được những vai trò và các trách nhiệm của người đàn bà trong cuộc sống tất bật hàng ngày. Người phụ nữ không những cần nhiều cánh tay mà còn cần nhiều đôi chân cũng như nhiều bộ óc. Một người bạn gái phê bình “Em cảm ơn bác đã nhớ đến chị em chúng em. Sao bác không vẽ bức tranh cổ động các bác trai giúp đỡ chị em phụ nữ nhỉ? Để thực hiện các thiên chức, Chị em chúng em chỉ cần hai tay thôi nhưng rất cần những người biết trợ giúp và san sẻ.”.

Đó có phải là điều khó khăn lắm không khi phụ nữ chúng tôi cần san sẻ? Sự thông cảm chỉ là ý nghĩ nhưng trợ giúp và san sẻ mới thực sự là hành động. Các ông có lẽ sẽ la lên “Đòi hỏi chi quá lắm thế, các mợ này? Nào là đòi đối xử công bằng, học hành tương đương, vị trí lãnh đạo xứng đáng, tôn trọng nhân phẩm, có việc làm như người nam và cả bình đẳng tình dục nữa. Thật là đàn bà nhiều chuyện và đòi hỏi quá nhiều”.

Nhưng các bạn phái nam ơi, các bạn nghĩ lại đi, những người phụ nữ ấy là mẹ, là con gái, em gái và người phối ngẫu của các bạn. Bạn phản đối và giận dữ., bỏ bê hay đối xử không đẹp với họ thì ai sẽ là người giúp đỡ, hỗ trợ tinh thần và thương yêu họ đây. Nếu bạn làm cha, làm anh thì bạn sẽ khuyên con, em gái bạn như thế nào khi chúng hỏi bạn về những nỗi bất hạnh của việc sinh ra làm người phụ nữ?.

Trịnh Thanh Thủy

Thánh Địa Hòa Hảo

Thánh Địa Hòa Hảo

Uyển MaiTháng 2 vừa qua Đạo Tràng Phật Giáo Hòa Hảo Minh Thiện và Huệ Thọ tại quận Ô Môn, TP Cần Thơ cho biết họ bị chính quyền điạ phương sách nhiễu. Khoảng 90 công an và Thượng tá Bùi Đức Hồng đã tới đạo tràng đòi các tu sĩ mở cổng. Tín hữu Đặng Văn Nhàn ôm can xăng 20 lít chế từ trên đầu xuống hết phân nửa, sau đó tu sĩ Huệ Thọ cầm nửa can xăng còn lại, nói: “Anh Hồng ơi, đừng xúi lực lượng công an tràn vào, vì mấy anh kia vô tội, còn anh là người chỉ đạo. Anh có ngon thì vô đây, còn can xăng này tôi với anh ‘cưa hai’. Anh nhiệt tâm về Đảng, tôi nhiệt tâm về Đạo, hai anh em mình cưa hai”. Cuối cùng, Thượng tá Hồng và toán công an phải bỏ đi (1).


Từ khi chiếm được miền Nam, nhà cầm quyền cộng sản không ngừng khống chế giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo bằng nhiều thủ đoạn như kiểm soát thánh lễ, cắt bỏ thánh huấn cổ truyền, đàn áp bắt bớ tín đồ, thành lập giáo hội quốc doanh, và mưu toan phá đi An Hòa Tự, thánh tích của PGHH tại tỉnh An Giang. Nếp sống thanh bình yên ả của những tín đồ PGHH bị xáo trộn và tàn phá từ 1975 cho tới tận nay(2).


Để thấy lại cảnh sống nền nếp hiền hòa của miền đồng bằng sông Cửu với những tín đồ PGHH chất phác nhưng đầy lòng can đảm, mời bạn đọc ngược dòng thời gian thăm Chợ Mới, An Giang, qua ngòi bút của tác giả Phan Lạc Tiếp.


Vài hàng về Phan Lạc Tiếp - Phan Lạc Tiếp sinh năm 1933 tại Sơn Tây, là một cựu sĩ quan Hải Quân VNCH. Ông từng giữ chức vụ Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến BTL/HQ và Hạm Trưởng tàu HQ-601. Sau đó được Tư lệnh HQ giữ lại Sài Gòn “để cho tiện, khi cần viết lách gì…” nên về Khối Thanh Tra. Ðêm 29, rạng ngày 30 /4/ 1975, ông đã hỗ trợ vị Hạm Trưởng chiến hạm HQ-502 rời bến, đem theo trên 5 ngàn đồng bào thoát được ra khơi (3).


Cuối năm 1979, khi làn sóng người vượt biển lên cao và thảm nạn thuyền nhân trở nên khủng khiếp nhất, Phan Lạc Tiếp đã cùng Giáo Sư Nguyễn Hữu Xương thành lập Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People SOS Committee). Liên tục trong 11 năm hoạt động, Ủy Ban đã hợp tác với những tổ chức nhân đạo thế giới, đem tàu ra biển Ðông, cứu vớt hơn 3 ngàn thuyền nhân, và xin định cư cho hàng ngàn đồng bào tại các quốc gia đệ tam.


“Thánh Địa Hòa Hảo-Miền đất hứa” nằm trong tập bút ký “Bờ Sông Lá Mục” do nhà Xuất Bản Hồng Đức in lần thứ nhất năm 1969 (Saigon). Nhà xuất bản Kẻ Nủa in lần hai năm 1997 (San Diego).





An Hòa Tự - Thánh tích của Phật Giáo Hòa Hảo




Thánh Địa Hòa Hảo-Miền đất hứa


Phan Lạc Tiếp


Rời quận Chợ Mới để đến công tác tại Thánh Địa Hòa Hảo, lòng tôi vẫn còn phân vân. Biết đâu ông Quận Chợ Mới chẳng nói quá đi như thế. Mình cứ nên cẩn thận là hơn. Tàu đến vào buổi chiều. Giòng sông mênh mông. Tôi đứng trên đài chỉ huy, lấy ống nhòm nhìn sang hai bên bờ. Nhà cửa thưa thớt nhưng thật khang trang. Độ một vài ba trăm thước, lại có một cái nhà nhỏ ở ven sông, có tấm bảng ghi đẹp đẽ: “Phòng Đọc Giảng” và có hệ thống loa chĩa ra bốn phía.


Những chiếc ghe tam bản chạy dọc theo mé sông. Máy đuôi tôm kêu lè xè. Trên đó, các ông già mặc áo trắng, cầm ô đen, các bà đội nón, nhai trầu bỏm bẻm. Các cô gái thì nghiêng nghiêng đầu, chỉ chỏ, cười. Càng đến gần khu Thánh Địa thì khu nhà cửa càng nhiều hơn, nhưng phần nhiều vẫn chỉ là những mái nhà tranh, đơn sơ, nhưng rất khang trang, thơ mộng.


Tàu chạy chầm chậm để tránh gây sóng lớn cho ghe xuồng hai bên. Trên đường dọc theo bờ sông, từng đàn trẻ nhỏ chạy theo tàu cười đùa. Nhìn kỹ hơn, trước mỗi nhà đều có bàn thờ lộ thiên, đơn giản thì là một tấm ván mỏng đóng trên đầu một khúc gỗ cao. Cầu kỳ thì là một bàn thờ xây bằng gạch. Song trước bàn thờ đều có một cột cờ khá cao. Phía trước cột cờ là một mảnh gỗ hình lưỡi dao chĩa ra, và là nơi lá cờ màu nâu, có bốn chữ Phật Giáo Hòa Hảo được kéo lên tại đó. Tàu dừng máy, bỏ neo và ủi mũi vào bờ. Đồng bào xúm tới đông nghẹt. Hệ thống phóng thanh từ trên bệnh viện hạm trình bày rõ mục đích của chiến dịch Cửu Long Giang và công tác Dân Sự Vụ sẽ được thi hành tại đây. Sau mỗi đoạn trình bày, đồng bào trên bờ vỗ tay cười, hoan hô ào ào.


Bên kia sông là Tổ Đình. Tôi quan sát kỹ, chẳng có gì đặc biệt. Ngoài cùng là một cầu tàu bằng xi măng nhỏ, chỉ có thể để các tàu nhỏ, chiến đỉnh hoặc ghe xuồng cặp vào mà thôi. Phía trong qua con lộ đất là một căn nhà tranh tầm thường nằm ẩn nấp trong cây. Các nhà đọc giảng thấp thoáng. Xa về phía mặt của Tổ Đình là một nhà tranh to lớn, có bảng đề: “Nhà Cơm”. Trước sự bình an của toàn vùng Hòa Hảo, tôi vẫn tưởng Tổ Đình phải là to, tốt, uy nghiêm lắm. Nay thấy cảnh trí đơn sơ vậy, tôi bỗng lại hoài nghi.


Chiều đã xuống, mặt sông như rộng hơn. Phái đoàn chúng tôi từ bệnh viên hạm dùng chiến đỉnh nhỏ sang bên kia bờ vào thăm Tổ Đình.


Vị Hạm Trưởng hướng dẫn phái đoàn, mang theo một món quà của Thiếu tướng Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương Nguyễn Cao Kỳ tặng bà thân sinh đức Huỳnh Giáo Chủ. Đó là một củ hồng sâm, vì được tin cụ bà yếu mệt đã lâu. Bác sĩ y sĩ trưởng cũng mang theo các y cụ và các thứ thuốc cần thiết để khám bệnh cho Cụ Bà. Tất cả phái đoàn chúng tôi đều mặc tiểu lễ, quần áo trắng tinh, lon vàng óng ánh, huy chương cuống và bảng tên trên nắp áo. Bỗng bốn phương bùng lên những âm thanh réo rắt. Vị đại diện ông Quận vội giải thích ngay:


“Dạ... đấy là giờ đọc giảng.”


Các loa từ các nhà đọc giảng cùng một lúc ngân ngan qua các lời kinh của Đức Thày. Chiều êm ả, gió hiu hiu, lời thơ êm đềm. Tất cả vũ trụ như bồng bềnh trôi đi thật nhẹ.


Chiến đỉnh ghé vào cầu tàu xi măng. Cậu Năm, vị Tế Tử của Cụ Bà và là người giữ nhiệm vụ coi sóc Tổ Đình, trong quần áo lục trắng tinh, đón tụi tôi tại đó.


Phái đoàn được hướng dẫn vào Tổ Đình. Một số chức sắc cũng đã có mặt tại đây. Ai nấy đều khăn áo chỉnh tề. Qua mảnh sân đất là một căn nhà ba gian. Những cánh dại chắn gió cũng bằng tre. Trên đó có dán một số hình ảnh của phái đoàn đã đến đây thăm viếng. Bàn thờ được trần thiết tuy tranhg nghiêm nhưng phải nói là đơn sơ, như một bàn thờ tổ của nhà trung lưu nào đó mà thôi. Đèn nến lung linh, tất cả phái đoàn chúng tôi đều làm lễ trước bàn thờ Tổ Đình. Sau đó bác sĩ y sĩ trưởng xin phép vào thăm bệnh Cụ Bà. Tôi ngồi nhìn mọi góc, đơn sơ quá. Bữa ấy có sự hiện diện của cụ Lương Trọng Tường, là hội trưởng Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo và một số chức sắc khác. Do đó tôi có trình bày một vài thắc mắc khác của tôi với các vị ấy.


Tôi hỏi: “Thưa... như tôi biết thì Giáo Hội ta có trên 2 triệu tín đồ, đặc biệt là đa số đều quy tụ quanh Thánh Địa. Vậy chúng tôi nghĩ quý vị có ý định xây cất một Tổ Đình đồ sộ xứng đáng với sự to lớn của Giáo Hội không?”


Cụ Lương Trọng Tường nói: “Vâng, ông nói thật hợp lẽ. Chúng tôi có hơn 2 triệu tín đồ. Nếu mỗi tín đồ chỉ đóng 2 đồng, chúng tôi có trên 4 triệu bạc để xây Tổ Đình. Vậy mà chúng tôi đã không làm như vậy, cớ sao? Vì như vầy. Thứ nhất đây là Tổ Đình nguyên thủy, nơi mà Đức Thày đã được sinh ra và lớn lên tại đây. Nó là một vật vô giá cần được bảo tồn y nguyên như vầy. Hai là bổn đạo coi việc hoằng dương đạo pháp, theo như Đức Thày đã dạy là trọng, không coi cái hình thức là trọng. Do đó có lẽ chúng tôi không bao giờ cất Tổ Đình to cao, mà ngược lại cố duy trì Tổ Đình này. Chẳng những thế, cả con đường trước mặt, khúc sông ngoài kia, chúng tôi cũng gắng giữ nguyên như khi Đức Thày còn có mặt, vì thế nào Đức Thày cũng còn trở lại.”


“Nghĩa là quý vị chờ Ngài từ năm 1947 và vẫn còn chờ đến bây giờ?”



“Vâng, Đức Thày chỉ tạm thời khuất mặt mà thôi. Thế nào Đức Thày cũng trở lại với bá tánh. Ngày đó chắc cũng không xa đâu. Và khi ấy, Đức Thày cũng lại cư ngụ trong căn nhà này. Căn nhà tranh đơn sơ như đại đa số bá tánh chúng sanh...”




Tổ đình PG Hoà Hảo - Nơi sinh của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ



Tôi chịu lời trình bày trên của cụ Lương và tôi hỏi tiếp:


“Đại úy Quận trưởng Quận Chợ Mới, ông Lâm Hồng Thời, có cho chúng tôi hay là chung quanh vùng Thánh Thất 50km suốt ngày đêm thật bình an, tụi Việt cộng không hề có mặt tại đây được. Điều ấy đúng không?”


Cụ Lương cười vui vẻ và nói: “Tôi xin giới thiệu với ông đây là ông...(một người tôi không nhớ tên). Người đã theo hầu Đức Thày. Ông này cũng đã từng là một chỉ huy trưởng, của một đơn vị lớn của Dân Xã ngày trước, một vị quân sự thứ "gắt" của chúng tôi...”


Người được cụ Tường giới thiệu, cũng khăn áo chỉnh tề, ngoài năm chục, vẻ quắc thước, khoẻ mạnh, vị này nói: “Dạ, trước là vậy, sau này lực lượng của chúng tôi giải tán để nhập vào Quân Đội Quốc Gia mình. Nay cũng không cần nữa. Lúc đầu tụi Việt Minh làm quá, nên phải có lực lượng mà trị nó. Dạ bây giờ khác. Ngoài kia sao tôi không dám nói, chứ nội địa phận quanh Tổ Đình đây, 50km, ông cứ cho anh em lính tráng đi lại đêm ngày, có gì xảy đến lông chân quý vị, xin lấy mạng tôi mà bảo đảm...”


Vị này nói quyết liệt. Mặt đỏ, tay dơ cao, toát ra một khí phách lẫm liệt như một nhân vật nào đó trong các truyện Tàu. Nhìn vị ấy, tôi thấy sợ thế nào. Vị này lại tiếp: “Tụi nó cũng nhiều phen mò về đây chớ. Khi thì ngon ngọt kêu xí xóa sự hiểu lầm xưa, khi thì gian manh trà trộn vào đám đạo hữu... Ôi thiên hình vạn trạng đó chớ. Riết rồi đạo hữu chúng tôi đồng một lòng một dạ... Vì thế đã bao nhiêu người bị chúng chặt, bỏ bao bố trôi sông... Biết bao nhiêu mà nói.”


Tôi nghĩ đến những lời đồn đãi kinh khiếp về các chiến sĩ Hòa Hảo, nên rụt rè hỏi: “Dạ, tôi có nghe nói nhiều thảm cảnh lắm. Như có khúc sông nào đó, hễ ghe xuồng của dân qua đó, là phải ghé vào bờ để mua thịt... người. Khi thì cái chân, khi thì cái đầu. Trả bằng tiền để rồi ra thả xuống sông.”


Một vị khác vội trả lời tôi ngay: “Chiến tranh thì biết bao nhiều điều đau khổ. Đức Thày cũng đã có cho hay:


Mèo kêu bá tánh lao xao,

Đến chừng rồng, rắn máu đào chỉnh ghe.

Con ngựa lại đá con dê,

Khắp trong thiên hạ nhiều bề gian lao.

Khỉ kia cũng bị xáo xào,

Canh khuya gà gáy, máu đào mới ngưng.


“Dà... Đức Thày thấy trước chớ. Có điều ai gây nên cảnh tang thương thì phải nói là tụi Việt Minh nó vừa ăn cướp vừa la làng. Tụi nó là giỏi cái vụ này lắm. Tụi nó vô thần. Mình là người có đạo làm sao được. Cùng lúc ấy bác sĩ y sĩ trưởng đã khám bệnh cho Cụ Bà xong từ trong buồng bước ra. Không khí bỗng trở nên khác hẳn. Mọi người hỏi vị bác sĩ về tình trạng sức khoẻ của Cụ Bà, sau đó là một tuần nước trà và cùng nhau bàn định chương trình công tác tại đây.


Để mở đầu cho chương trình Dân Sự Vụ ngay tối hôm ấy toán văn nghệ đã được ban Quản Trị Tổ Đình yêu cầu trình diễn tại Nhà Cơm. Tất nhiên là chúng tôi thi hành ngay. Nhà cơm tuy làm bằng tre, lợp lá, nhưng rộng quá, có thể chứa nổi cả ngàn người. Khi văn nghệ trình diễn, tôi có hỏi một vị chức sắc tại đây về lai lịch của nhà cơm như sau:


“Thưa, tại sao lại gọi là ‘nhà cơm’?”


“Dà... nhà cơm là để ăn cơm.”


“Ai ăn?”


“Dà, hàng năm cứ đến ngày kỷ niệm lễ Khai Sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo là biết bao nhiêu người đổ về. Đạo hữu đã đành, người thập phương còn đông hơn nữa, họ đến để lễ Tổ Đình, để xem thuyền rồng thắp sáng trên sông... Ôi đẹp biết bao mà nói. Khi ấy thì nhà cơm đã sẵn. Ai đói cứ đến ăn. No rồi lại ra bờ sông coi.”


“Mà ai lo cơm nước?”


“Dà, cái đó chúng tôi có các đạo hữu tình nguyện. Làm lấy phước. Gạo, nước, cá, mắm cũng vậy. Hễ thiếu là tự khắc có người mang đến à... Mà có khi dư. Dư thì chúng tôi thiếu gì cách cho. Do đó nói là ngày Đại Lễ to quá xá mà bổn đạo đâu có tốn một đồng xu. Muốn gì là có, mà đó là đạo hữu muốn là chúng tôi làm. Thành ra của như của chung. Tình đạo hữu cũng vì thế mà khăng khít hơn.”


Hôm sau, đoàn văn nghệ trình diễn cách Tổ Đình hơi xa, có đến trên mười cây số. Chúng tôi đi bằng bốn chiếc đỉnh nhỏ, vừa chở nhân viên, vừa chở lực lượng bảo vệ. Đoàn tàu đi từ lúc chiều còn chưa tắt nắng. Qua mấy khúc kinh nhỏ, nước nôi mênh mông. Tàu chỉ căn cứ vào hai dãy cây ven kinh mà đi. Chỗ nào cũng nước trắng xóa. Nơi trình diễn là một nhà lồng chợ. Âm thanh của cuộc trình diễn khởi đầu ngay khi trời vừa tối. Sau khi ngỏ mấy lời cùng bà con cô bác cho phải lẽ, tôi và Davis đi ra ngoài mé chợ nhìn ra dòng nước lấp lánh. Davis nói với tôi:


“Nơi đây nước nhiều quá. Ngập thế này làm sao họ sống?”


Tôi cũng chưa biết trả lời ra sao. Lát sau có một vị đâu như xã trưởng gì đó đến tìm tụi tôi. Tôi đem điều thắc mắc của Davis ra hỏi:


“Dạ thưa bác, chứ nước lụt như vầy làm sao sinh sống được?”


“Dà... chỉ mấy tuần là qua à.”


Nói rồi ông xã trưởng mở thuốc mời tụi tôi. Davis nhận ngay một điếu cầm tay, không hút. Ông xã lại tiếp:


“Cứ như mấy tờ nhật trình trên Sài Gòn nói thì chắc tụi tôi chết hết. Còn tụi tôi, sống cả đời ở nơi đây, quen rồi, mà nhiều khi tụi tôi cầu mong có lụt nữa...”


“Sao vậy bác?”


“Dà, thì có gì đâu. Lâu lâu mình nghỉ chơi một kỳ. Bạn bè lại gặp nhau tại nơi lồng chợ này chẳng hạn. Vui chớ!”


“Tôi chỉ biết “dà” cho qua. Rồi ông lại tiếp:


“Nói cho ngay, nước lụt có cái hại lúc đầu nhưng sau lại là cái lợi vô cùng.”


“Bác cho biết thêm cái lợi?”


“Dà nhiều chứ. Thứ nhất là cá tôm trên Biển Hồ đổ về biết bao nhiêu mà kể. Giờ nước đã bắt đầu rút hết rồi nè. Các nơi ruộng cao, nước đã mỏng, cá chịu nóng đâu có thấu. Đó… ta cứ việc làm phên be bờ cho các chạy vô rọ của ta. Ôi quá xá là cá tôm. Rồi nước rút hết. Các hồ ao của mình đặc là cá tôm. Sài Gòn đâu có tiêu thụ hết, tụi tôi phải làm mắm. Có khi phải dùng cá làm phân bón.”


“Vâng, thế thì hay quá.”


“Dà... còn cái lợi khác gấp bội cái lợi của cá tôm.”


“... Là cái chi?”


“Là đất màu phủ hết trơn mọi nơi. Năm sau vụ lụt là được mùa vô số kể.”


“Nhưng năm lụt thì chắc lạ kẹt lúa gạo?”


“Cũng có chút đỉnh thôi. Sống lâu mình biết chớ. Đề phòng chớ. Ngoài ra còn có thứ lúa "ma". Loại lúa hoang đó mấy ông. Đâu có ai trồng cấy đâu. Lúa trời cho đó mà.”


“Sao?”


“Thì loại lúa mọc theo con nước. Nước cao tới đâu nó ngoi tới đó. Tuy hạt cơm không được ngon như gạo nàng hương, nhưng cũng ăn được. Chịu khó bơi xuồng ra ruộng nước vớt lên. Một buổi là ăn cả nhà.”


“Chà... ”


“Rồi cá đó mấy ông... ”


“Còn gì nữa bác? ”


“Còn chớ…”


“Xin bác cho biết thêm. ”


“Dà, khi mùa nước nổi, cái lo của tụi nhà nông tụi tôi là làm sao giữ cho con trâu được an toàn. ”


“Sao... ”


“Dà. Con trâu là bạn thiết của nhà nông. Nước cao ngập hết, nhà cửa cũng ngập hết, cả nhà lên ghe, tìm được chỗ đất cao nào đó. Còn con trâu, xuồng ghe nào chở được nó. Để nó ngâm nước lâu nó cũng chết. Để nó đứng trong nước, lâu quá chân trâu thối móng, cũng chết. ”


“Vậy làm sao?”


“Dà, trời sanh lạ lắm. Lúc nước cao, lục bình từ các con rạch đổ ra, vô số kể. Loại lục bình già, cành dài cả thược Chúng tôi làm một vuông chuồng, dùng cây cao đóng cọc chắc, xem lại cho vững, rồi ẩn lục bình vào. Một lớp lục bình lại có một lớp phên tre, và trên chót là mấy bộ ngựa ken lại, để trâu đứng trên đó. Nước cao tới đâu, lục bình nổi tới đó. Trâu đứng trên đó, kho rang, khoẻ ru bà rù. Cứ tiếp tế rơm cho trâu. Sau mùa nước nổi, trâu béo thấy rõ, mà lười cũng thấy rõ... ”


“Dà, cái này tụi trẻ đâu có thấy. Chỉ có tụi già này mới thấy rõ đó mấy ông.”


Tôi dịch qua loa cho Davis nghe. Anh ta nói:


“Ông này giỏi quá.”


Tôi chỉ ừ hử cho qua và xin ông ta kể tiếp. Hút một hơi thuốc dài, thở khói nồng nặc, ông xã kể tiếp:


“Mấy ông có thấy hàng cây đen đen thẳng tắp kia không? Đó là dãy cây điên điển. Các ông nhờ nó mà biết đâu là bờ kinh, đâu là ruộng để mà đi tàu, đi ghe. Thứ cây này lạ lắm. Như khi tui còn nhỏ, cái cồn tui ở có một xẻo à. Ông già tui chặt cây điên điển này về, cắt khúc cặm xuống cù lao phía hạ giòng. Chỉ ít lâu là ra lá xanh um. Rễ ra tua tủa, bết lại đặc nghẹt. Cứ thế qua mấy năm chỗ mép cù lao thành đất, mà đất tốt quá xá chứ!”


“Hay quá nhỉ.”


“Dà... ông già tui còn nói khi Tây nó mới qua đây dân mình chạy về U Minh, sống trong đám điên điển này nhiều lắm. Hoa nó vàng đẹp, hái xuống nấu với cá lóc, ôi ngon biết mấy. Thân nó phơi khô, đốt lên lấy than pha với ít diêm sinh làm thuốc súng... Tự dó mà mình cầm cự với tụi nó biết bao lâu.”


“Vâng, vậy ra đây là thứ cây làm nên đồng ruộng miền Nam ta.”


“Dà, nói thế nghe hay quá há! Mà thật chứ không giỡn đâu a, mấy ông...”


Lúc này chương trình văn nghệ đã hết. Tiếp theo là phần chiếu phim, loại phim toàn ca sáu câu vọng cổ. Đồng bào nghe đã chiếu bên Chợ Mới, nên nóng lòng lắm lắm. Khi sửa soạn chiếu phim mới hay là ống kính đã bị bỏ quên trên tàu lớn. Làm sao đây? Đi bằng tàu thì lâu quá, vừa đi vừa lại mất mấy tiếng, còn gì là đêm. Ông xã biết vậy bảo tôi:


“Dà, để tui cho thằng em đưa anh nào đi về tàu bằng đường bộ.”


“Đường bộ liệu được không bác?”


“Được chớ. Nó quen đường đất rồi. Lấy cái xe mobilette chạy mấy hồi.”


Tôi gọi một nhân viên tới bảo đi với anh nghĩa quân về tàu lấy ông kính. Trong khi anh ta đi, lòng tôi không khỏi lo âu. tôi nghĩ đến sự bất an như ở Trà Ôn, Việt Cộng giả làm đám cưới, vây toán Dân Sự Vụ của tụi tôi, chỉ cách quãng đường chưa tới một cây số, bắn lòi ruột một anh nghĩa quân, nhưng thấy ông xã nói “Được mà” nên tôi đành ngồi chờ đợi.


Lúc ấy bà con mang đủ thứ quà bánh cho các anh chị em ca sĩ. Có người cứ nhìn chầm chầm vào mặt các cô ca sĩ. Họ mang theo mía nướng, bánh ú, bánh bột lọc. Có người mang ra một nồi cháo cá thơm lừng. Họ đơn giản nói “Mời các anh chị ăn lấy thảo mà”. Cuộc ăn uống vừa xong thì anh lính nghĩa quân đã chở nhân viên của tôi về, mang theo cái ống kính chiếu phim. Mọi người biết phim xắp chiếu la ó rầm trời, rồi vội vã dọn đồ ăn đi thật nhanh.


Ai nấy ngồi im như thóc. Màn ảnh được chiếu sáng. Sáu câu vọng cổ ngân nga xuống “xề” khiến khán giả vỗ tay ào ào từng đợt.


Sau những ngày công tác tại Thánh Địa Hòa Hảo, tụi tôi nhổ neo đi Hồng Ngự và Tân Châu. Trước khi chấm dứt công tác, ông Quận Trưởng Chợ Mới Lâm Hồng Thời đánh điện lên yêu cầu phái đoàn trở lại Chợ Mới thêm hai ngày. Tụi tôi dàn xếp để chiều lòng ông Quận. Tại đó hai con bê làm sẵn của dân địa phương đón chúng tôi. Dầu salad oil của chúng tôi tưới lên những mảnh ngói để rửa, thịt bò thái mỏng cháy thơm lừng. Bánh tráng, rau húng, mắm nêm... cả mấy trăm anh em dưới tàu và trên Quận hả hê, hân hoan ăn mừng công tác đã hết.





Giáo chủ PG Hoà Hảo Huỳnh Phú Sổ


Tàu nhổ neo trở lại Saigon. Riêng tôi được một tặng phẩm đặc biệt: cuốn Sấm Giảng Thi Thơ Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, dày hơn năm trăm trang, có chữ ký của Ban Trị Sự Tổ Đình. Tàu chạy qua các khu vực Thánh Địa Hòa Hảo. Nước lớn dâng cao, êm đềm. Bắc cái ghế vải ra sân sau chiến hạm, nằm mở cuốn kinh ra đọc. Gió nhè nhẹ thổi ở bên tai. Hai bên bờ, những hàng cây điên điển thấp thoáng, những mảnh tam bản mỏng manh lướt đi. Trên đó, những cô gái áo bà ba trắng, quần đen, óng ả nghiêng nón bên mái chèo. Tôi thấy như tôi vừa mới đi cắm trại về. Bao nhiêu là ngày vui. Nơi đây, đất thiêng, nơi phát xuất ra một người rất lạ, Đức Huỳnh Phú Sổ. Dưới niềm tin của Đức Thày, bao nhiều đạo hữu đã sống những ngày thật thanh bình giữa lúc đất nước đang chìm đắm trong chiến tranh.


Davis hỏi tôi:


“Sao các nơi không bắt chước nơi này?”


“Cái đó đâu có dễ. Đối với Cộng Sản, ở xa thấy nó hay, đẹp lắm. Sống với nó mới thấy cái kinh khiếp giảo quyệt của nó. Giáo Hội Hòa Hảo đã kinh qua những thử thách máu xương với Cộng Sản, đặc biệt tất cả các đạo hữu của họ đều có một lòng tin sắt đá vào vị Giáo Chủ, nên họ đã làm được.”






Nguồn: (1). Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục bị đàn áp, Thanh Quang, RFA, 03/02/2011

(2). Đập phá hay sửa chữa chùa An Hòa Tự PGHH?, Thanh Quang, RFA, 12/03/2009


(3). Thư Gửi Bạn Bè, Phan Lạc Tiếp, 10/01/2001


THÁI ĐỘ VÔ CẢM CỦA ĐẢNG CS!

Thái độ vô cảm


Vô cảm là một trạng thái của đá sỏi chứ không phải của sinh vật. Con trùn khi bị đạp sẽ quằn quại, thú rừng khi thấy người đến gần thì chạy trốn, ngay cả con nhái khi thấy ai đến cũng bật mình phóng ra xa. Ấy vậy mà con người lắm lúc lại đứng sửng sờ chẳng có phản ứng hay động tác gì khi thấy kẻ thù rình rập mình hoặc đồng bạn đang lâm nguy. Khúc phim ghi lại cảnh anh Phạm Thanh Sơn tự thiêu ở Đà-Nẳng cho thấy khách qua đường dừng xe và trân tráo nhìn một cách vô cảm, chẳng có ai dám tiến lại gần cũng như có hành động gì để cứu cấp. (xem khúc phim này ở địa chỉ sau đây

http://www.youtube.com/watch?v=UjhEZ3jp8TA )

Họ là những người “vô cảm”, họ là sản phẩm đã được “đá sỏi hóa” rất thành công của chế độ khủng bố Việt Cọng. Sau đây xin kể một ví dụ về một con chó hèn nhưng không vô cảm để quý vị đánh giá nó ra sao nhé : Trước cổng nhà tôi bổng xảy ra một vụ ẩu đả giữa bầy khuyển, ba bốn con chó vây quanh một con và tới tấp xông vào cắn, riêng con chó bị bao vây thì quằn quại và la hoảng. Tôi thấy bất công nên chạy ra đuổi bọn chó “quần chúng tự phát” để giải thoát cho con chó bị nạn. Nó bị thương nặng, lết đi không nổi. Nó là một con chó hoang, da bọc xương. Tôi chợt hiểu : Thì ra trong “xã hội chó” cũng có cảnh ỷ mạnh hiếp yếu, con chó hoang ốm yếu đó chẳng hề dám gây hấn hoặc tranh giành gì với lủ chó nhà, thế
mà vẫn bị bọn này kỳ thị và muốn tiêu diệt. Tôi kéo con chó bị thương vào nhà, tróng nó lại và bôi thuốc đỏ vào các vết thương của nó và cho nó ăn. Nó đói lắm, đã ăn hết một tô cơm tôi đổ xuống trước miệng nó. Nó không tỏ vẻ cám ơn mà vẫn rất sợ hãi tôi, cặp mắt nhìn tôi len lét. Tôi lại hiểu thêm một điều nữa, nó đã từng bị con người hành hạ (có thể là do bọn trẻ con ác độc nào đó) cho nên e sợ con người. Sau ba ngày chăm sóc thì tôi thả nó ra, nó liền thoát chạy, nhưng mỗi ngày nó vẫn lai vãng trong hàng rào nhà tôi để mong chờ được bố thí cơm thừa canh cặn. Có một điều rât đặc biệt ở con chó này là bất cứ nghe một tiếng động nào lớn, một tiếng vổ tay hoặc thấy một cử chỉ thoạt nhanh của ai đó đứng gần thì
nó thót người và thét lên một tiếng “cẳng”. Ấy là phản xạ của “con chó Pavlov” sau một thời kinh nghiệm bị khủng bố bởi những kẻ hiếp đáp. Đem so con chó này với loại người vô cảm của chế độ Việt Cọng thì con chó này có phản ứng khá hơn họ, vì nó biết thét lên, biết thót người. Tuy là đã mất khả năng chống cự nhưng nó còn cái miệng để la !!

Trong những cuộc đàn áp của Công An với dân lành, tôi thường thấy chỉ một vài người dám xông tới để đối diện với chúng, còn đa số đều giữ một khoảng cách an toàn, khoảng cách của vô cảm và vô vi, chỉ lỏ con mắt ra nhìn như kẻ bàng quan. Họ sợ đến nổi mất đi phản ứng cần có của con người !

Đúng vậy, sợ thì phải hèn ! Nhưng tại sao lại hèn và sợ Công An khi mình cũng là một công dân có quyền ngang bằng với bọn chúng ? Dù chúng nó có súng, có dùi cui, nhưng những vủ khí này thường được dùng với những kẻ cô thân độc mã và hung hản tấn công. Một người dân hiền hoà không hung hản, chẳng hạn một người dân bị cướp đất hoặc có mồ mả bị chính quyền đào bới thì họ có quyền hiên ngang tiến đến trước mặt chúng để cật vấn và đòi hỏi, vì đó là quyền hiến định, vì thế họ không cần phải sợ vì hành động này không khiến họ bị bắn hoặc đánh bằng dùi cui ! Và nếu có 1 thằng Công An điên khùng nào đó thích đánh người vô tội thì liệu hắn có đủ dũng khí để đánh một lượt 5, 10 người vây quanh nó không ? Chắc
chắn là không, vì ai cũng ý thức “mãnh hổ bất địch quần hồ”. Vì vậy muốn tránh bị đánh một mình bởi những thằng Công An điên thì mình nên sát cánh cùng nhau thành một đám đông. Đám đông tự nó vốn có sức mạnh tiêu biểu của mình. Vì vậy trong một cuộc cật vấn hoặc biểu tình, nếu chỉ để một vài người tiến lên trước để đối mặt với lực lượng đàn áp trong khi đa số đứng tách rời ở phía sau thì quần chúng đã tự đánh mất sức mạnh đó của mình và gián tiếp cô lập những người tiên phong thành nạn nhân.

Sức mạnh của quần chúng khi công khai đòi hỏi là kết hợp cùng nhau ca hát, hô hào, và sát cánh. Sát cánh là gì ? Đó là phải đứng gần nhau, vai kề vai, không xa quá một bước để không có kẻ hở khiến kẻ địch có thể chen vào giữa, một trăm người sát cánh thì không còn là một trăm chiếc đủa riêng rẻ dễ bị bẻ gảy mà là một bó đủa vô cùng cứng rắn. Mọi người đều biết nguyên lý này, nhưng không hề biêt áp dụng trong cuộc sống hàng ngày. Tại sao một vị linh mục bị năm bảy thằng Công An hùa nhau đánh tét đầu dập mặt đến bất tỉnh ? Ấy là bởi giáo dân không sát cánh với linh mục để chia xẻ phần “dùi cui” với ngài, bao quanh ngài để ngăn chặn bọn tấn công và bảo vệ ngài , không biết dùng sự hợp quần để phân tán mỏng lực
lượng đàn áp vào giữa vòng vây của đám đông. Quả thật nếu áp dụng được chiến lược dụ cho những thằng Công An nằm lọt giữa đám đông, 1 đứa được vây quanh bởi 10 người dân, thì người dân chỉ cần dang vòng tay ôm hôn chúng thì chúng cũng té đái trong quần và tìm cách chuồn lẹ, không dám ra tay đánh đá nữa. Chiến thuật của đám đông là không dùng vủ khí gây thương tích cho bọn Công An sẳn sàng giết người, mà dùng số đông để bao vây và phân tán bọn chúng thành những cá nhân đơn độc, rồi vây quanh chúng, không cho chúng di chuyển trở lại đội ngủ của chúng. Không ai bắt tội người dân vì ôm hôn Công An cả !!

Ngoài ra bọn Công An chỉ chờ dân chúng dùng vủ khí để trả đủa bằng vủ khí, và dỉ nhiên là nhân dân không thể có vủ khí bằng bọn cướp cho nên trong mọi cuộc đối đầu công khai với Công An, dân chúng không bao giờ nên dùng súng đạn giáo mác, ngoại trừ những lúc chúng cô thế và ở những chỗ vắng vẻ không có máy quay phim chụp hình. Nguời dân luôn sẳn có một vũ khí tinh thần rất dũng mãnh có thể xử dụng bất cứ lúc nào, đó là sức mạnh của “biển người”, của tập thể đông đảo tràn ngập ! Quý vị chắc ai cũng đã xem qua đoạn phim đàn trâu tập trung đông đảo để đàn áp bọn sư tử chứ ? (xem đoạn video này ở

http://www.youtube.com/watch?v=noKzY5GCKiU&feature=player_embedded )

Sức mạnh của tập thể là như vậy đó ! Trong một cuộc biểu tình, toàn thể người dân chỉ cần hô hào và đồng loạt tiến bước thì không có lực lượng nào có thể đối lại ngoại trừ bọn “mất trí” xả súng giết người vì di truyền tính khát máu gian tặc Hồ Chí Minh ! Tôi xin nhắc lại : Đồng loạt tiến bước là sức mạnh, người đi trước cảm thấy sau lưng mình có người đẩy tới thì họ sẽ có thêm can đảm để đối mặt với bọn đàn áp. Không ai có thể ngăn chặn một đàn trâu đang chạy hoặc một đàn kiến đang tràn đến. Dân chúng cũng vậy, khi đã biểu tình thì không thụt lui thụt tới mà phải tiến tới, cùng đồng loạt chạy tới thì tuyệt hảo . Ngoài ra, khi trong tay mình không mang theo vũ khí thì mình không cần sợ, vì biết rằng sẽ
không bị đánh trả bằng vũ khí (ngoại trừ gặp bọn người “súc vật” điên khùng thuộc loại quân đội khát máu ở Thiên An Môn .

Dân chúng biểu tình chỉ nên mang theo những dụng cụ tự vệ không đả thương người như dây thừng hoặc những tấm khiên (là những dụng cụ cản dùi cui hữu dụng) và cứ tiến lên thì bọn Công An phải lùi bước ! Trong vụ dân Cồn Dầu bạo loạn, họ dùng những bó đuốc (hay pháo cải gì đó) để cản Công An cũng là một cách tự vệ hữu hiệu.

(xem video tại http://www.youtube.com/watch?v=ur1d5MisfJc )

Ngoài ra, dân tộc Việt không giống như dân Trung Quốc, vì người Việt từ Bắc chí Nam ai cũng trưởng thành trong đau khổ, ai cũng kinh nghiệm với bất công cho nên họ dễ thông cảm với người dân bị đàn áp. Thiết nghĩ rằng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam sẽ không đàn áp đẩm máu người dân của mình giống như bọn lính Tàu Ô. Hơn nữa giờ này dân Việt không còn căm thù Nam Bắc như thời trước 75 cho nên bọn Cọng Sản khó dùng kế ly gián xúi dục lừa bịp dân này giết hại dân kia. Giờ này ai cũng nhìn rõ bộ mặt ghê tởm lừa đảo và ăn cướp của Đảng Cọng Sản Việt Nam, các cán bộ và bộ đội ai cũng có con em nằm trong khối nhân dân cho nên họ sẽ không ra tay tàn sát giống kiểu Tàu Cọng. Chỉ có Công An Việt Cọng là luôn trung thành với Đảng, vì vậy
Công An sẽ luôn là lực lượng chống lại nhân dân và chính họ sẽ nổ súng bắn vào bà con thân nhân của họ vì họ là thứ bị bùa mê thuốc lú của chế độ, luôn chủ trương “Còn Đảng Còn Mình”. Nhưng lực lượng Công An sẽ bị quân đội chà nát, vì quân đội chỉ biết gìn giữ non sông và bảo vệ nhân dân khỏi nạn ngoại xâm và sự đàn áp của cường quyền Việt Gian Cọng Sản tay sai của kẻ thù phương Bắc.

Chúng ta hãy đoàn kết, hãy sát cánh, hãy đồng loạt tiến lên đạp đổ lực lượng Công An chó điên của chế độ bán nước Việt Cọng. Hãy biết mình có sức mạnh của “biển người”, cứ 10 người nhào đến ôm hôn một “anh Công An dễ thương” thì sẽ không còn một anh Công An nào rảnh tay để đánh đập chúng ta nữa !

Hãy thử dùng 10 người ôm hôn một anh Công An thì sẽ biết rằng mình không bị bắn hoặc ăn dùi cui đâu ! Chỉ sợ không chịu được mùì dơ bẩn của anh ta mà buồn nôn thôi !!

Trường Sơn

Anh Lê Dinh nói về ban nhạc DẬY MÀ ĐI


From: Minh Duc minhduc9293@...>
Date: 2011/3/8
Anh L
ê Dinh nói v ban nhạc DẬY MÀ ĐI


Anh Hậu mến,
Phạm Trọng Cầu (còn có một tên nữa - tên sáng tác - là Phạm Trọng) là một nhạc sĩ ở miền Nam trước 1975, làm việc ở trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, nhưng là một VC nằm vùng. Phạm Trọng Cầu du học bên Pháp, sau về nước nhưng là một trí thức thiên Cộng.
Phạm Trọng còn là tác giả ca khúc "Trường làng tôi" mà tôi chắc anh cũng đã có một lần nghe qua (Trường làng tôi, 2 giang là đơn sơ, cây xanh uốn vây quanh...).
Phạm Trọng Cầu đã qua đi cách nay 9,10 năm rồi và đám tang của anh ta cũng được VC làm rình rang lắm.
Nếu anh nói bài "Sinh viên hải ngọai hành khúc" là của Phạm Trọng Cầu thì tôi nghĩ là đúng, vì bài này anh ta viết để kêu gọi anh em sinh viên hải ngọai đòan kết để chống chính quyền VNCH thuở đó (thuở anh ta còn du học ở bên Pháp) chứ không phải tác giả viết bài này để kêu gọi người tỵ nạn ngọai chống VC.
Khi nghe một bài nhạc, chúng ta cần nên biết xuất xứ của nó, tác giả là ai, bài nhạc được viết trong thời gian nào. Tỷ dụ như bà DẬY MÀ ĐI mà từ ngày Khối 8406 ra đời, họ lấy bài này để làm bài đòan ca cho Khối. Thật là một sự sai lầm to lớn: Bài này là của tác giả CS tên là Tôn Thất Lập (cùng một thời với Trịnh Công Sơn, Hùynh Tấn Mẫm, Lê văn Nuôi, Miên Đức Thắng...) viết năm 1968 để kêu gọi đồng bào "dậy mà đi" chống chính quyền VNCH (xem attachment)
Trong bài có những câu như:
Dậy mà đi, hỡi đồng bào ơi...
Bao năm qua, dân ta sống xa nhà
Bao năm qua dân ta chết không nhà...
Lời lẽ thật không đúng với thời VNCH chút nào, làm gì dân sống không nhà, dân sống xa nhà... chỉ có "bọn sinh Bắc tử Nam" mới xa nhà hay không có nhà mà thôi. Bài này đã được bọn văn

Tôn thất Lập công thần của VGCS
Nhạc sĩ Tôn Thất Lập, với các bút danh khác là Trần Nhật Nam, Lê Nguyên, sinh ngày 25 tháng 2năm 1942 tại Huế, là Phó Chủ tịch Hội Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội nhạc sĩ Việt Nam và là Tổng Biên tập Tạp chí Âm nhạc Việt Nam.
Trong chiến tranh Việt Nam, Tôn Thất Lập hoạt động trong phong trào âm nhạc Hát cho đồng bào tôi nghe, ông đã sáng tác các ca khúc và hợp xướng như: Hát cho dân tôi nghe, Xuống đường, Hát trong tù, Lúa reo trên khắp đồng bằng... đã được hát trong phong tranh đấu của học sinh, sinh viên miền Nam. Sau đó, ông ra Bắc học tại Nhạc viện Hà Nội rồi quay vào Nam làm công tác văn hoá của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Kết thúc chiến tranh, ông công tác tại Sở Văn hoá - Thông tin thành phố Sài gòn . Nhiều ca khúc ông sáng tác trong thời kỳ này đã được đông đảo quần chúng mến mộ: Tình ca mùa xuân, Tình ca tuổi trẻ,Trị An âm vang mùa xuân, Mưa thì thầm, Oẳn tù tì, Cô bé dễ thương, Tình yêu mãi mãi,...

việt gian Tôn thất Lập





việt gian Phạm Trọng Cầu, ăn cơm quốc gia , hại người quốc gia .
Năm 1953, việt gian Phạm Trọng Cầu vào học tại trường Quốc gia Âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn. Sau khi tốt nghiệp, năm 1962 ông sang Pháp thi vào Nhạc viện Paris (Conservatoire Supérieur de Musique de Paris). Và tại Paris, Pham Trọng Cầu đã viết bản Mùa thu không trở lại nổi tiếng.
Năm 1969, ông về nước giảng dạy tại trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, tham gia các đoàn văn nghệ như Nguồn Sống, sinh viên Phật tử Vạn Hạnh... và hoạt động nội thành. Năm 1972, ông bị bắt và bị giam cho đến 1975.
Sau ngày thống nhất đất nước, Pham Trọng Cầu về công tác ở Hội Văn nghệ thành phố Sài gòn , và là ủy viên Hội Âm nhạc thành phố. Từ năm 1976, ông đã cùng với một số nhạc sĩ việt gian khác nhưTrịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, Miên Đức Thắng, Hoàng Hiệp, Nguyễn Ngọc Thiện, Trương Thìn, ... thành lập nhóm Giới thiệu sáng tác mới tại Hội Trí thức yêu Cộng Sản . Có thể nói đây là nhóm giới thiệu ca khúc có tổ chức đầu tiên tại thành phố Sài gòn sau 1975.
Pham Trọng Cầu còn cùng với nhạc sĩ Nguyễn Nam (Đài Truyền hình Tp.Sài gòn ) khuấy động phong trào ca hát thiếu nhi, thành lập các nhóm hát. Bản thân ông cũng có nhiều ca khúc thiếu nhi thành công như Nhịp cầu tre, Em nhớ mãi một ngày... đặc biệt là Cho con. Tuy tốt nghiệp Nhạc viện Paris nhưng ông không có nhiều sáng tác khí nhạc, gia tài của ông chủ yếu là ca khúc.
Ông mất năm 1998 tại thành phố Sài gòn .

chính nghĩa

Nếu chống cộng để thờ Hoàng Minh Chính, ca tụng Trần Độ yêu nước, đội Bùi Tín làm thầy, mê nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn, yêu thơ Tố Hữu thì đầu hàng chúng nó cho rồi.

DẬY MÀ ĐI!
việt gian Tố Hữu


Dậy mà đi! Dậy mà đi!

Đừng tiếc nữa, can chi mà tiếc mãi?

---------------------------------

DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI!”


Lm NGUYỄN HỮU LỄ

Tôi xin mượn câu “DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI!” trong một bài hát khá phổ biến mà không nhớ tên tác giả để làm tựa đề cho bài khai bút đầu năm 2010. Xin chân thành cám ơn tác giả bài hát đã viết lên một câu rất phù hợp trong thời điểm lịch sử của Dân Tộc Việt Nam hiện nay. Trước tình trạng dầu xôi lửa bỏng với hiểm họa thôn tính của Bắc Phương đang gần kề câu hát “DẬY MÀ ĐI HỠI ĐỒNG BÀO ƠI!” không còn chỉ là một lời kêu gọi nhưng đã trở thành mệnh lệnh của Quốc Tổ ban ra cho đàn con dân nước Việt đang trong cơn ngủ mê.










Chương Trình phát thanh của Khối 8406

Dư Luận: "DẬY MÀ ĐI"



Mới nghe Chương Trình phát thanh của Khối 8406 phát ngày hôm nay trên làn sóng 1430AM - San Jose, Thứ Bảy ngày 05 tháng 03/2011 cách đây 20 phút, bài DẬY MÀ ĐI, khiến tôi nhớ lại cũng bài nầy được phát trong Chương Trình LTCG vừa qua.

Tôi bỗng giật mình, vì chính bài nầy, do nhóm sinh viên Cộng sản Huỳnh tấn Mẫm, Lê văn Nuôi, Dương văn Đầy…tập trung thanh niên và Cán bộ Thành đoàn HCM tại Trung Tâm Sinh Hoạt Thanh Niên / Tổng Hội Sinh Viên - tại số 4 đường Duy Tân, đốt lửa trại, ca hát, và tuần hành theo đường Tự Do tràn xuống, dừng lại trước trụ sở Hạ Nghị Viện VNCH, / tức Quốc Hội, biểu tình ngồi đòi hỏi chấm dứt chiến tranh, Mỹ cút về nước, đả đão Thiệu…….

Khi Lê văn Nuôi và Dương văn Đầy bắt nhịp bài ca DẬY MÀ ĐI, thì cả đoàn biểu tình đứng dậy, nhắm thẳng hướng Chợ Bến Thành cùng nhau hát nhiều bài phản chiến khác, trong đó có các bài của TCS. Đặc biệt với bài hát nầy đã khích động lòng người dân bàng quan nhập đoàn như một dòng thác hoảng loạn, bất chấp lưu thông, tấn công cảnh sát……

Kết quả của cuộc Dậy Mà Đi đó, là Bót Cảnh sát Lê văn Ken bị đốt lần thứ hai ( lần nhất, sau khi DVM hoàn tất sứ mạng sát hại TT Diệm và Bào đệ, thì đoàn người tràn xuống đường ăn mừng " cách mạng " và phóng hỏa đốt Bót Cảnh sát nầy với lý do : đạn từ trong nầy bắn ra, giết chết Quách thị Trang )

Ghi chú : Huỳnh Tấn Mẫm, sinh viên Y khoa, Chủ Tịch Tổng hội Sinh Viên Sài gòn 2/ ly khai khỏi Tổng Hội SVSG( phe quốc gia ) – Liên danh Cộng sản của Huỳnh tấn Mẫm được Phó TT Kỳ ủng hộ ( chống Nguyễn v Thiệu ), cùng với Lê văn Nuôi học sinh, trường TH/Kỹ Thuật Cao Thắng ( sau 1975 là Bí thư thành đoàn thành Hồ ), Dương văn Đầy…thuộc Thành Đoàn TP/HCM do Trần bạch Đằng Bí Thư kiêm Khu Ủy Sài Gòn – Gia Định điều khiển phá rối hậu phương khắp Sài gòn - Gia Định......

Nay xin mời Quý vị nghe lại bài nầy dưới dạng MP3 – non-stop/ để tìm hiểu vì sao cũng bài nầy do nhóm Thanh Niên Việt Tân trong Trại Hè tại Úc Châu ca lên…thì bị phản đối kịch liệt, mà tại San Jose thì được …khuyến khích, cổ võ, phát lên làn sóng phát thanh !

Tư Tưởng – Lời Ca và Biến Cố lịch Sử, tự nó quấn quyện với nhau thành KÝ ỨC, một ký ức đau thương, hay một ký ức phấn khởi hòa vào lòng người….

Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền Bản lên tiếng về vụ án ở Hà Giang

Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền

Bản lên tiếng về vụ án ở Hà Giang


Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam,


Ngày hôm nay, 10-03-2011, tại tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang sẽ mở phiên xử kín vụ hiệu trưởng Sầm Đức Xương mua dâm 2 nữ sinh vị thành niên là Nguyễn Thị Thanh Thúy và Nguyễn Thúy Hằng. Trong phiên xử kín này không có người bảo hộ của 2 nữ sinh cũng như luật sư biện hộ cho hai cháu. Luật sư Trần Đình Triển đã bị Tòa án cộng sản không cấp giấy chứng nhận bào chữa, với lý do “bị can từ chối luật sư biện hộ”.

Trước sự kiện này, và dựa trên nhiều thông tin từ các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền tuyên bố:

1- Chúng tôi cực lực lên án nhà cầm quyền CS Việt Nam tại tỉnh Hà Giang, với sự bao che của nhà cầm quyền trung ương Hà Nội, đã tạo ra một vụ án với nhiều bất công và sai phạm:

- Trong phiên tòa đầu tiên ngày 6-11-2009, hai bị cáo Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thị Thanh Thúy đã bị truy tố tội danh “môi giới mại dâm” và bị tuyên án 6 năm (với Hằng) và 5 năm (với Thúy). Đang khi hai cháu chỉ là những học sinh vị thành niên, nạn nhân của một đường dây mua bán dâm mà người tổ chức là viên hiệu trưởng và khách hàng là nhiều viên chức cao cấp tại tỉnh Hà Giang. Phiên tòa và bản án này đã bị công luận lên án kịch liệt.

- Từ đó trở đi, hai nữ sinh vô tội này đã bị giam giữ trong những điều kiện hết sức dã man và tàn tệ: không được chăm sóc y tế đầy đủ (dù có bệnh phụ khoa), không được gặp mặt gia đình thường xuyên (để nhận thuốc men và sự an ủi), bị hăm dọa vì đã tiết lộ tên tuổi những cán bộ cao cấp từng phá hại đời mình và bạn bè mình, bị cấm cản không được thuê luật sư bào chữa với lý do sẽ chẳng có ngày ra khỏi ngục.

- Đến hôm nay, ngoài việc bị tước quyền căn bản của công dân trước tòa án là có luật sư biện hộ (với lý cớ vô cùng gian trá và đầy cưỡng bức nói trên), hai nạn nhân vô tội còn bị tước quyền có người giám hộ là cha mẹ hiện diện, với lý cớ hai cháu đã đến tuổi trưởng thành (đang khi theo luật pháp, quy định hành vi ở thời điểm nào thì áp dụng pháp luật ở thời điểm đó để xử lý, tức là lúc hai cháu còn tuổi vị thành niên).

- Phiên tòa này sẽ là một phiên tòa kín với mục đích duy nhất và trắng trợn là bao che tội trạng của các quan chức cao cấp ở Hà Giang, đứng đầu là nguyên chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô, vốn đã hại đời hai cháu và nhiều bạn bè của hai cháu. Việc bao che tội trạng này đã được thực hiện từ lâu, đặc biệt là đích thân ông Tô Huy Rứa, thành viên Bộ chính trị và nguyên trưởng ban Tuyên giáo trung ương, đã cấm cản báo chí loan tin về tội ác tầy trời này.

2- Chúng tôi cương quyết phê phán các tổ chức trong chính quyền và trong xã hội có liên hệ đến thân phận của hai cháu Hằng và Thúy, từ tháng 11-2009 đến nay, đã hoàn toàn câm nín dửng dưng một cách hết sức vô trách nhiệm:

Bộ Tư pháp đã không lên tiếng cứu hai công dân vị thành niên bị án oan của mình, Bộ Giáo dục đã không lên tiếng cứu hai học trò bé nhỏ của mình, Bộ Dân tộc và các Vấn đề miền núi đã không lên tiếng cứu hai công dân sống miền núi của mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ đã không lên tiếng cứu hai thành viên tiềm năng của mình. Nhiều Ủy ban Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân, Hội khuyến học, Hội Bảo trợ bà mẹ và trẻ em, nhiều tờ báo “lề phải”… tất cả cũng đều dửng dưng trước bất công thấu trời và bất hạnh khủng khiếp này. Phải chăng các vị chỉ là công cụ của một đảng phái, một tập thể thống trị bất chấp luật pháp và coi rẻ phẩm giá con người?

3- Chúng tôi quyết liệt đòi hỏi đảng, nhà cầm quyền, bộ tư pháp và tòa án Cộng sản tại tỉnh Hà Giang:

- phải trả tự do lập tức và vô điều kiện cho hai cháu Thúy Hằng; tiếp đó phải xin lỗi nhân dân, gia đình và bản thân hai cháu vì vụ án man rợ và khốn nạn chưa từng có trong lịch sử này; cuối cùng là bồi thường xứng đáng cho hai cháu và gia đình về tinh thần lẫn vật chất.

- phải đưa ra xét xử công minh và tuyên án đích đáng những kẻ đã lợi dụng địa vị và chức quyền hoặc để hại đời các nữ sinh vị thành niên, hoặc để bao che cho các thủ phạm gây ra hành vi ghê tởm đó, hoặc để dựng nên một phiên tòa ô nhục biến nạn nhân, mà là nạn nhân thơ trẻ, thành tội nhân, làm mất danh dự uy tín của Quốc gia và tàn phá văn hóa đạo đức của Dân tộc.

4- Chúng tôi xác tín mạnh mẽ rằng bao lâu còn chế độ Cộng sản trên đất nước Việt Nam

- thì luật pháp chỉ là phương tiện biện hộ cho các hành vi gian trá và tàn bạo của những kẻ thống trị và là phương tiện đàn áp các công dân đòi hỏi sự thật và công lý.

- thì bộ máy nhà nước (chính quyền, tòa án…) chỉ là công cụ của các lãnh đạo tự coi mình là những ông trời con, ngồi xổm trên luật pháp và chà đạp tiếng nói của công luận.

- thì nền giáo dục tiếp tục băng hoại với những vụ việc không ai có thể hình dung nổi trong cái nôi đào tạo phẩm cách con người: thầy hiếp trò, trò đánh thầy, thầy đứng lầm bục, trò ngồi nhầm lớp, thầy dạy bằng giả, trò học điểm giả, thầy nêu gương gian dối lẫn tàn bạo cho trò, trò được giáo dục thành thần dân khiếp nhược thay vì thành công dân tự do….

Cuối cùng, chúng tôi nguyện cầu Thiên Chúa là Cha mọi loài nhanh chóng ra tay bảo vệ các con cái vô tội đáng thương của Ngài, soi lòng mở trí các con cái thất nhân ác đức của Ngài để công lý sớm được toàn thắng và tình thương sớm được nở rộ.

Lên tiếng tại Việt Nam nhân ngày ô nhục của nền tư pháp và nền giáo dục VN, 10-03-2011.

Đại diện Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền

- Linh mục Têphanô Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn

- Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế.

- Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế.

- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh

Bài Xem Nhiều