We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 17 March 2011

THÔNG BÁO BIỂU TÌNH của Phong Trào Yểm Trợ

San Jose Bieu Tinh


http://vietlist.us/CD_Cali/cdcali656_2.shtml

VIỆT-KIỀU

VIỆT-KIỀU

Tống-Phước-Hiến

*


Cuộc chiến-tranh vừa qua, nhiều người lầm tưởng đã kết thúc vào 30.4.1975 và bị đánh giá là cuộc nội-chiến Nam Bắc, mà Cầu Hiền-Lương vắt qua giòng sông Bến-Hải, trên Vĩ-tuyến 17 là biểu-tượng cho một giai-đoạn xót-xa của lịch-sử. Thật ra, cuộc chiến-tranh đó vẫn được tiếp-diễn, nhưng theo thế-trận khác và ý-nghĩa cũng được nhận-định lại đúng đắn hơn !

Sau 30.4.1975 Cộng-sản phơi bày chân-tướng là một lũ phỉ quyền tham ác lưu-manh; nên Người Quốc-Gia giành đoạt được chính-nghĩa và tiến-hành cuộc chiến-tranh giải-phóng Dân-tộc hầu có điều-kiện đưa đất-nước đến phồn thịnh, nhân-dân được tự do. Trận quyết đấu nầy, người Quốc-Gia đang thắng-thế, từng bước chứng-minh Cộng-sản Việt Nam là tội-phạm nhân-loại, là tội-đồ Dân-tộc. Nhưng bỗng nhiên hàng-ngũ chúng ta có hiện-tượng giao-động, địch biết tránh né, thoát hiễm. Thì ra, chúng ta đang bị một loại “nội thù” rất nguy-hiểm mà mọi người thường gọi bằng tên nghe khá hiền lành “Việt-kiều” !.

Tất-cả những người Việt Nam (VN), nếu không là bọn có quyền thế sống hoan-lạc trên nỗi thống-hận Dân-tộc, và nếu có điều-kiện đều phải đành lòng chấp-nhận gian-nan, nghiệt-ngã, nguy-hiểm, đau nhục để đào thoát ra đi. Sóng nước đại-dương, rừng sâu, hải tặc, thổ-phỉ…... không cản ngăn được ý chí. Họ đào thoát khỏi Cộng-sản dưới nhiều hình-thức như vượt biên, vượt biển, con lai, bảo-lãnh đoàn tụ, cựu tù nhân (H.O), Cựu nhân-viên Chính-phủ Hoa-Kỳ (U.11), thuyền-nhân hồi hương (ROVR); đào tỵ khi xuất ngoại như công-tác, biểu-diễn nghệ-thuật, thi đấu, công-nhân trong chương-trình"xuất-khẩu lao-động"; ngay cả những du-học-sinh hay du-lịch… v.v...phần đông trong thâm tâm họ cũng mơ ước cho toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách nạn Cộng-sản.

Ðối với Việt-cộng (VC), những người hội đủ điều-kiện được tái định-cư ở nước ngoài khi trở

về Việt Nam đều bị xếp vào loại người có danh xưng là “VIỆT-KIỀU” (VK).

Nếu lấy 30.4.1975 làm thời-điểm, thì trước đó đã có nhiều đợt người Việt Nam đến sinh sống tại nhiều nước khác với nhiều lý-do:

A.- Tỵ-nạn do bị bức hại:

I/ Thời nhà Lý có hai đợt ra đi của hai Thân Vương nhà Lý và cùng trôi giạt vào nước Cao-Ly (hay còn gọi là Triều-Tiên hoặc Ðại-Hàn):

1/-Ðại-Ðô-Ðốc Kiến-Hải-Vương Lý Dương-Côn cùng chiến thuyền binh-sĩ thuộc quyền, gia-nhân và gia-thuộc ra đi vì sợ bị phía bà Chiêu-Hiếu Thái-Hậu và Cảm-Thánh Hoàng-Hậu giết chết trong âm mưu tranh đoạt ngai vàng cho Hoàng-tử Thiên-Tộ (Tức vua Lý-Thần-Tôn).

2/-Các Ðô-Ðốc Kiến-Bình-Vương Lý-Long-Tường, Bình-Hải-Công Lý-Quang-Bật cùng hạm đội dưới quyền và khoảng 6.000 người vì tránh họa diệt tộc của Thái-Sư Trần-Thủ-Ðộ trong mưu-đồ tiếm-đoạt Vương quyền nhà Lý cho nhà Trần.

II/ Thời nhà Nguyễn cũng có nhiều đợt với nhiều lý-do, đa số cư ngụ tại Bangkok Thái-Lan:

1/ -Nhóm cùng bôn tẩu theo Nguyễn-Ánh (tức vua Gia-Long), vào cuối Thế-kỹ thứ 18.

2/ -Nhóm theo Thiên-chúa-giáo lánh-nạn sát đạo dưới thời Minh-Mạng, Thiệu-Trị (1820 –1847).

3/ -Nhóm thuộc hạ của Cụ Phan-Ðình-Phùng trốn giặc Pháp vào khoảng 1895.

4 -Nhóm theo Cụ Phan-Bội-Châu (1908 – 1909).

B.-Vì những lý-do khác:

Bị Thực-dân Pháp lưu-đày, ép buộc trong chương-trình mộ dân, gia-nhập Quân-đội Liên-hiệp Pháp, du-học và không trở về hoặc xuất bôn chiến-đấu giành chủ-quyền cho Tổ-Quốc. Phần đông lưu-trú tại Pháp hay các Quốc gia thuộc Pháp, hoặc Trung-Hoa, Cao-Mên. Ai-Lao. Ngoài ra còn có một số ít định-cư tại những Quốc-Gia khác vì nhiều lý-do.

Trước khi đất nước rơi vào tay Cộng-sản, những người có nguồn-gốc Việt Nam, đang sinh-sống ở nước ngoài được gọi là Kiều bào để phân-biệt những sắc dân khác trú ngụ trên lãnh-thổ Việt Nam như Ấn-kiều, Hoa-kiều, Pháp-kiều. Nên khi Cộng-sản gọi những người Việt Nam đang định-cư ở nước ngoài là VK đã hàm chứa ý-nghĩa những người nầy không còn là người Việt Nam. Số phận VK chơi-vơi giữa người Ngoại Quốc và người Việt Nam tùy theo từng trường-hợp, nhưng bao-giờ VK cũng bất-lợi kể cả trường-hợp so-sánh giữa VK và những người thuộc các sắc dân khác cùng vào lãnh-thổ Việt Nam trong cùng thời-gian và cùng có lý-do phạm pháp giống nhau.

C.- So-sánh giữa Việt-kiều và ngoại-kiều:

1/-Giống nhau: Tất cả mọi ràng buộc về pháp-lý, hành-chánh, thuế khóa, kiểm-soát; những quy định gắt gao về giá trị kim ngạch hối xuất. Tóm lại không có sự khác biệt về phương-diện kiểm-soát quản lý và những gì thuộc về kinh-tế, tài chánh.

2/-Khác nhau : Nếu vì bất cứ lý do gì có liên-quan đến pháp-lý thì ngoại kiều được chi-phối bởi luật-pháp và thói quen mà quốc-tế đã chuẩn-nhận. Nhưng trong trường-hợp nầy thì VK bị xem là " Công-dân Việt Nam”. Nghĩa là chúng thông-báo, hoặc xử phạt tùy theo ý chúng.

Chưa Quốc-gia nào có chính-sách kỳ-thị và ty-tiện với Kiều bào của mình như ngụy-quyền Cộng-sản Việt Nam. Dưới mắt chúng, VK là thành-phần nguy-hại cho sự tồn tại chế-độ chúng, mặc dầu VK cũng là con bò sữa giúp chúng hồi sức, đồng thời VK cũng là những kẻ vong thân, nên VK bị VC xem như là những kẻ nô-lệ dùng để kháng-cự và tấn-công các tổ-chức yêu nước chân chính. Tóm lại, Cộng-sản Việt Nam xem khinh, xử -dụng sai khiến VK nhưng lúc nào cũng rắp tâm hãm hại VK .

Khi nền kinh-tế kiệt quệ, Cộng-sản thử nghiệm chính-sách chiêu-dụ VK bằng nhiều hình-thức như: Gởi tiền, gởi quà, trở về thăm thân-nhân, du-lịch, hợp-tác, đầu tư làm ăn tại Việt Nam.

Có khá nhiều trường-hợp những Người Quốc-Gia chân-chính rất khổ tâm khi phải gởi tiền hay phải về Việt Nam vì tình-cảm, vì trách-nhiệm đối với thân-nhân, đồng-bào, đang lâm cảnh thiên-tai, lao đao cơ cực, hay đồng đội bị lăng nhục: xin được chia xẻ những hoàn cảnh cần có sự cảm-thông ấy. Ðồng thời cũng xin chân-thành nghiêng mình cảm tạ, ngưỡng-mộ những anh-hùng trở lại quê hương đối diện trực chiến với quân thù với quyết tâm lật đổ bạo-quyền Cộng-sản Việt Nam.

Ðối-tượng câu chuyện hôm nay là những VK trở về trên tư-thế của kẻ “hãnh-tiến “, loại "áo gấm về làng", những kẻ đi tìm hoan-lạc trên nỗi đau thương bất hạnh của đồng-bào, đồng đội, những kẻ ích-kỷ manh tâm đồng-lõa với Cộng-sản bất chấp lương-tâm, làm chậm hoãn ngày bạo quyền sập đổ. Hãy nhìn lại VK đã lưu lại dấu vết gì với đồng-bào, đồng đội trong nước:

D.-Việt-kiều đã làm đồng-bào, đồng đội trong nước thêm tủi nhục, cơ cầu:

Một Mỹ-kim có giá-trị tương-đương khoảng trên 20.000 đồng VC nên VK tiêu xài hoang-phí làm ảnh-hưởng vật giá gia tăng trong khi tiền lương không gia tăng. Tầm cách biệt giữa người có hay không có thân nhân hoặc thành-phần sống bám theo ảnh-hưởng VK dài ra và cao thêm. Ðồng tiền ấy cũng xô đẩy những hạng người nầy với VC gần nhau hơn và từ dó, hình thành ra giai-cấp mới gọi là liên-minh thống-trị. Ðồng tiền VK cũng là nguyên-nhân chủ-yếu của các tệ-nạn hối-lộ tham nhũng, mãi-dâm, trộm cướp, cờ bạc dẫn đến bất công áp bức, và dĩ-nhiên nạn-nhân vẫn là lương dân nghèo khó.

E..-Việt-kiều giúp cho VC chạy tội vi-phạm nhân-quyền :

Dù vô tình, thiển cận hay có toan tính, VK tung những thông-tin, những hình ảnh phiến diện, biện hộ cho Cộng-sản; làm lu mờ chính-nghĩa, làm hàng ngũ chống Cộng bị ngộ nhận, bị trở ngại. Dưới nhiều hình-thức như hợp-tác, đầu tư, cố-vấn, giao-lưu “văn-hóa, nghệ-thuật”..., và dù khoác chiếc áo “tình thương, cứu-trợ...”. VK vẫn là lực-lượng tiếp-sức hữu-hiệu cho bọn VC. Bởi vì chính bọn VC mới là kẻ được thụ-hưởng còn những người cùng khổ là đại đa-số người dân Việt Nam nghèo đói, khốn cùng chỉ được làm “vật nhân-danh”, thậm chí còn tủi nghèo cơ cực hơn, và bọn VC càng phè phỡn tàn ác hơn. Thế nhưng chưa bao giờ VK dám nhìn nhận sự ấu-trĩ, hèn nhát, phản-bội, và bất nhân của họ.

Tùy thuộc vào những gì VK có và những gì VC cần mà bọn chúng đổi thay sách lược. Sách lược hay chính sách là chiến-thuật. Chiến-lược là : trấn-lột là trả thù không bao giờ thay đổi ! Hãy đi ngược thời-gian để thêm lần nữa nhận-diện VC đổi thay về cái gọi là chính-sách đối với VK.

F.-Việt-Kiều là Phản-Quốc:

Cộng-sản xem những người vượt biên, vượt-biển trốn chạy chúng là phản quốc, phản-động, phản bội, là cặn bã, là bọn quen ăn bám, là vong bản, dĩ điếm, lười biếng v.v... không một hình-dung-từ xấu xa nhơ bẩn nào mà VC không dùng để ám chỉ, mô tả những người nầy, và dĩ-nhiên VC cũng có chính-sách trả thù. Nếu không thoát được thì họ có thể bị bắn chết, bị hãm hiếp (nếu là nữ giới), bị lao tù đầy ải, tài sản bị tịch-thu. Bị gây muôn trùng khó khăn trong đời sống như thân-nhân bị giam giữ, bị điều-tra, vợ con, cha mẹ, anh chị em bị kềm chế quản-lý, bị kỳ thị ... Và cuối cùng chỉ có tiền và vàng mới may ra những áp-lực những khe khắc được nới lỏng, nhưng cái tội Phản-Quốc vẫn còn đó, chờ cơ-hội lên án và trừng phạt.

G.- Việt-Kiều là khúc ruột nối dài:

Khi nền kinh-tế trì-trệ, tài sản Quốc gia bị VC đục khoét tham nhũng; lầm than, thống-hận vượt tràn qua sức chịu đựng toàn dân, hội đủ những điều-kiện làm cuộc bạo loạn. VC liền nhớ ra và cải danh bọn “Phản-Quốc” kia thành VK; rồi hóa thân cho VK thành “Khúc ruột nối dài”. Sau thời gian dè dặt thử-nghiệm, VC thấy rằng còn có thể khai-thác tận-dụng phần bên trong của cái khúc ruột nối dài nầy. Và từ đó, thượng tầng đảng Mafia đỏ hình thành bộ phận Kiều-Vụ (KV).Nhiệm-vụ chủ-yếu của KV là nghiên cứu tìm ra phương cách gom góp ngoại tệ, khả-năng, trí-tuệ của VK hầu giữ vững chiếc ghế quyền-lực, để túi tham được phồng thêm. Bộ-phận KV không những chiêu dụ VK về thăm, làm cái gọi là từ thiện mà còn về mua bán đầu tư, thực hiện chương-trình giao lưu làm nền tảng cho bọn tư-bản đỏ đi ra, bọn phản-bội đi vào. Chúng kết nạp bọn vong thân, bọn bất lương rồi tổ-chức những bọn nầy thành lực-lượng khuấy phá, tạo hỏa mù làm mờ đi chính-nghĩa, làm nản lòng Người tâm huyết.

Nhưng hạnh-phúc không bao giờ đến với kẻ phản-bội ! Không phải đó là lời răn đe mà còn là kinh-nghiệm, không những ở tình trường mà còn ở nhân-cách. Thật vậy, người Việt Nam định-cư nước ngoài tuy vì nhiều lý-do nhưng lại cùng một nguyên-nhân là kinh-tỡm Cộng-sản, họ cũng là chứng-nhân xác nhận bọn ngụy-quyền Cộng-sản Việt Nam là quân vô lại, bất-nhân, bạc-ác không đáng để được gọi là NGƯỜI nữa. Hầu hết, trước khi ra đi VK đều ít nhiều ấp ủ:

Một ước mơ : Cộng-sản phải đổ

Một hoài bão: Nhân-dân Việt Nam được sống đúng với giá-trị con NGƯỜI.

Thoát được xiềng ách Cộng-sản, họ sẽ thay mặt đồng bào, đồng đội còn lầm than cơ cực, còn bị kềm kẹp để tố cáo tội ác Cộng-sản Việt Nam trước lương-tâm nhân-loại. Ước-mơ và ý-chí của họ thật đáng yêu và đáng kính. Họ đã làm rúng động lương-tâm loài người, và Nhân-loại cũng đã nghiêng mình cảm phục những Người Tỵ-Nạn Cộng-Sản Việt Nam họ đã từng được:”thế giới ngưỡng-mộ như những anh-hùng”.

Nhưng rồi vì một số trong những người Tỵ-nạn Cộng-sản Việt Nam năm xưa ấy đã nhẫn tâm trở giáo chém anh em cùng chung chí-hướng, họ phản-bội ngay cả ước mơ ban đầu của chính họ. Và chắc chắn rằng họ sẽ nhận lại hậu quả từ chính những người từng là đồng cảnh, cũng từng là đồng-tâm, đồng-bào, đồng đội và cũng chính ngay từ kẻ họ đang qùy gối cúi đấu. Sự phản-bội đã có hậu-quả xảy ra. Tương-quan giữa hậu-quả và nguyên-nhân là tỷ-lệ thuận.

H.- Loại VK áo gấm về làng :

Mang tâm địa của kẻ hãnh-tiến nên chúng lấy sự đau xót, thương hận số phận bẽ bàng kém may mắn, hay sự mơ ước của những người vất vả nghèo khổ để tự mãn, để huênh-hoang, kiêu căng và thích thú. Chúng bất chấp đạo lý tối thiểu để thỏa mãn hoan-lạc dục vọng, chúng thú tính ngay cả những trẻ vị thành niên (lắm khi là con em của thân nhân, bè bạn, đồng đội năm xưa). Thế nhưng chúng cũng rất hèn hạ với bọn cán-bộ Cộng-sản để an toàn. Chính bọn VK nầy, phần đông đã cung-cấp tin-tức, vu khống người Việt hải-ngoại cho VC, biện-hộ và đồng-lõa sự tham bạo của VC với nhân-dân trong nước. Khi trở lại nơi định-cư, chúng rỉ tai tuyên-truyền, nghe ngóng để báo cáo. Bọn VK vô lại nầy tình-nguyện làm nô bộc không công, làm con chó giữ nhà và đánh cắp tài sản của người khác, có khi VK cống nạp hoặc hỏang sợ trước quyền lực mà cúi dầu phũ phục trước mũi giày Cộng-sản hoặc a tòng với cộng sản trong những mưu-đồ bất chính. Thời gian qua, một số trong bọn nầy đã bị VC cướp đoạt tài sản qua dàn dựng hoạt cảnh tai nạn lưu thông, du đảng xã hội đen; có tên bị thanh-toán bởi ghen tương.

K.-Việt-Kiều nhân-danh tình thương:

`Tình thương và lòng nhân-ái, Quê-hương và Tổ-quốc luôn trên đầu môi chót lưỡi bọn VC, VK. Kẻ lưu-manh tàn bạo thường che giấu chân-tướng bằng mỹ ngữ. Nên nạn nhân thiên tai, người nghèo khổ tật nguyền, những đồng đội ngày xưa oanh liệt nay gãy cánh bất hạnh lại bị bọn VC liên minh với VK bất lương kinh-doanh. Lấy tình thương làm bình phong. Nếu bị vạch mặt, chúng sẽ lẩn trốn với tấm thẻ bài khẩu hiệu không cấm vận tình thương (nói theo ngôn ngữ của Nhật-Tiến). Có người còn tính đến cả chuyện xây nhà, xây trường học, đào giếng, trả tiền lương cho cô thầy giáo, mở trường dạy nghề, xóa đói giảm nghèo v..v...(như của Nguyễn xuân Bảo hay của Vũ thành An - nghe đến đây Cộng-sản vừa ngạc-nhiên vừa mừng!)

Ðây là trách-nhiệm của ngụy-quyền Cộng-sản, toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước có nghĩa-vụ bắt buộc chúng phải trả lại quyền sống, quyền làm Người cho Dân Việt. Tại sao kinh-tế Quốc-doanh bao giờ cũng ghi nhận thua và ngân-sách Quốc-gia phải bù lỗ nhưng chúng không cho giải tư ? Bởi vì, toàn-bộ các công-ty Quốc-doanh phải đài thọ cho cá-nhân và toàn gia-đình của non 500 ủy-viên trung-ương đảng vừa hưởng bổng lộc suốt đời, vừa có tiền gởi ở ngoại quốc để thủ thân khi có biến động, vừa phải chi cấp cho khoảng 2.000 du học sinh là con cháu bọn cán-bộ. Theo sự tiết-lộ của "Tổng công-ty Xuất khẩu hải sản Miền Nam Seaprodex" (đơn-vị trực tiếp chi trả mọi chi-phí cho Mai-chí-Thọ, và tên Ðại-tá quản-gia của y, cho Vũ-đình-Liệu và một số quan chức đỏ khác) thì cứ 4 tháng 1 du học sinh (loại được du học do lý lịch) phải đóng cho trường học (College hay University) khoảng 1.500 USD học phí, tiền chi tiêu (ăn ở, xe cộ, bảo-hiểm...) 1.500 USD nữa. Như thế, cứ mỗi 4 tháng, chỉ riêng cho con cháu bọn cán-bộ đang du học thì toàn dân Việt Nam phải móc ra khoảng 6 triệu USD. Có biết nỗi niềm nầy không hởi phường bất lươ

J.-Việt-Kiều văn hóa, văn-nghệ:

Loại VK nầy trở về khúm núm bợ đỡ xin áo cơm (như Hương Lan, Hoài Linh, Lệ Thu, Chí Tài, Chế Linh, Phượng Mai, Ý Lan…).Nhưng áo cơm không đủ cho nô bộc, có đâu cho lũ phản trắc. Bọn nầy bị lừa, chưa về thì háo-hức, lúc về bị khó khăn và trở ra bị chê bai là hương sắc tàn phai, là rẻ tiền, là phản giáo dục, là phi nghệ thuật (xem Thời-luận số ra ngày 12 và 19/8/2000) và đương-nhiên loại VK nầy không tránh khỏi bị Người Việt Tỵ-nạn vốn là những khách hàng đang nuôi sống họ trách cứ hoặc tẩy chay .

Chưa về, cứ tưởng mình ngon

Về rồi cúi mặt như con chó hèn

Hay

Ngậm đầy một miệng bẩn nhơ

Nhổ ra e thẹn, nuốt vào thối tha

Việt kiều về nước hát ca,

Thân con chó ghẻ lê la gầm bàn.

Ước mong các ca-sĩ, các trung-tâm băng nhạc không dẫm lên nỗi đau của đồng bào dù nhìn với chiều hướng nào.

k.-Việt-Kiều về hơp tác kinh-doanh:

Bọn nầy là những tên thương lái vô lương-tâm, chúng biết đồng-bào, đồng đội nghèo khó, cần tiền, phải nhẫn nại, chịu đựng, nên chúng móc ngoặc với bọn cường quyền chèn ép bóc lột hà hiếp đồng-bào. Những vụ làm sỉ nhục công-nhân Việt Nam như bắt quỳ, đánh giày lên đầu, phạt trừ lương…...những chủ VK nầy có thái-độ gì không ? Thưa không, rất rõ ràng là không !

Dưới mắt bọn VC thì VK phải là vật hy-sinh: Để bảo-vệ manh mối làm ăn, để tỏ thái-độ quyết-liệt với nhau khi nội-vụ bị phanh phui, để giữ bí mật lưu manh thương trường, lập tức Mafia VC xử tử VK để bịt đầu mối như vụ bà VK Nguyễn Thị Hiệp ở Canada, hay vụ tống vào tù để trấn lột như VK Trịnh-vĩnh-Bình ở Hòa-Lan với số vốn bị tước đoạt lên tới 20 hoặc 30 triệu Mỹ-kim; và VK Lưu-hùng-Sơn tức Sonny Lưu 55 tuổi trú tại vùng Little Sài-Gòn Nam California, Hoa-kỳ đang bị “rắc rối” vì mang số tiền 25 triệu đô-la về làm ăn và đang quỵ lụy khẩn cầu được bỏ của cứu lấy thân !

Thực tế người dân trong nước quá bi thương khốn cùng. Đồng-bào căm hận Việt-kiều đã đóng vai Việt-gian, đồng lõa với Việt-cộng, gieo bao đau thương tan tác thãm-nạn, nên trong nước có câu ca-dao mới như sau:

Việt-Gian, Việt Cộng, Việt-Kiều,

Ba thằng Việt ấy, tiêu-điều Việt Nam.

Hay :

Việt-gian, Việt-cộng, Việt-kiều,

Ba thằng Việt ấy, đem bêu thằng nào ?

Việt-kiều, Việt-cộng, Việt-gian

Ba thằng giặc ấy, thằng nào cũng bêu !

Ðể chấm dứt câu chuyện trao đổi hôm nay, tôi xin lược trình bài phóng-sự của ký giả Xuân Mai báo áp phê số 4 tại Paris :

Ông Nguyễn Minh Tuyền, 59 tuổi, định-cư tại Pháp năm 1980 với lá đơn có lời lẽ chân thành thống-thiết như sau : "Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù tôi không có ngày ra. Vì lý-do nhân-đạo, tôi trân-trọng thỉnh-cầu nước Pháp vui lòng chấp-thuận cho tôi được tỵ-nạn chính-trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự-do nầy, và tôi chỉ trở về xứ cũ, khi nào Quê-hương tôi không còn duy trì chế-độ Cộng-sản”. Nhưng ông Tuyền đã phản-bội tư-cách tỵ-nạn của ông liên-tục từ năm 1995 đến Tết Canh-Thìn 2.000 tới 7 lần (Chôn bà nội 3 lần, 2 lần chôn bố và 2 lần chôn mẹ mà không hề xin phép OFPRA (Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptrides – Cơ-quan bảo-vệ những người tỵ-nạn và vô Tổ-quốc tại Pháp) hoặc giấy Sauf-Conduit (hộ-chiếu đặc-biệt) của Cảnh-sát địa phương. Ngày 26.7.2000 ông Tuyền và 544 người Việt khác được OFPRA gởi thư thông-báo rút lại thẻ tỵ-nạn với lý-do : "Ông tự-ý trở về xứ cũ, khi chế-độ độc-tài Cộng-sản chưa chấm dứt, nhưng không hỏi ý-kiến hoặc thông-báo cho cơ-quan chúng tôi biết, để bảo-vệ sinh mạng cho ông, tức là ông đã từ bỏ quyền tỵ-nạn chính-trị, không cần đến sự che chở của chúng tôi nữa. Chiếu theo đìều I khoản A-2 của Hiệp-định Genève ngày 28.7.1951, chúng tôi thu hồi lại thẻ tỵ-nạn. Ðồng thời cũng trình lên Cao-Ủy Tỵ-Nạn Liên-Hiệp-Quốc, kể từ hôm nay, OFPRA không còn chịu trách-nhiệm với ông, về tình-trạng cư-trú, xin việc làm, hưởng trợ -cấp xã-hội, theo diện tỵ-nạn chính-trị”. Ðược biết từ năm 1988 đến tháng 7 năm 2000, tổng số người Việt lâm vào tình-trạng tương-tự là 22.417 người. Theo lời ông M.Motu thì người tỵ-nạn có quyền trở về xứ cũ trong trường-hợp đặc-biệt như con cái, cha mẹ, anh chị em ruột bị bịnh nặng, đang hấp hối, chết ; trong các trường hợp đó người tỵ-nạn có thể đến Préfecture sở tại xin cấp Sauf-Conduit. Sẽ phạm luật nếu đến tòa Ðại-sứ VC xin visa trước khi có hộ-chiếu đặc-biệt. Tên trưởng-phòng cấp chiếu-khán VC rất đểu cán khi giải-thích vấn-đề nầy : "nhà nước Việt Nam rất có thiện-chí trong vấn đề hàng tháng cung cấp danh-sách ghi nhận tất-cả người Việt Nam mang Titre de Voyage (thẻ thông-hành) lên sứ-quán xin nhập cảnh cho Préfecture biết để Préfecture thông báo lại cho OFPRA. Chúng tôi hợp tác việc ấy với chính-phủ Pháp là nhằm mục-đích chứng-minh cho dư luận Quốc-tế thấy rằng, bọn Việt-kiều nầy lếu láo, chạy qua đây vì lý-do kinh-tế, kiếm việc làm, chớ không phải vì nhà nước chúng tôi đàn áp, bắt bớ, tra tấn, giam cầm, chà đạp nhân-quyền như bọn họ đã từng vu-khống”. Và một giới chức cao cấp trong bộ Ngoại-giao Pháp mạnh-mẽ phản-đối :

- Chính-phủ Pháp không bao giờ hại người vô tội như thế. Chính-phủ VC từ lâu, qua các trào Võ-văn-Sung, Mai-Văn-Bộ, Trịnh-ngọc-Thái, Nguyễn-chiến-Thắng và Nguyễn-mạnh-Dũng đã xem người Việt Nam là thành-phần cực-kỳ phản-động, cần phải triệt-hạ, khéo-léo áp-dụng chính-sách gậy ông đập lưng ông” .

- Dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho người Việt tỵ-nạn về thăm nhà, dù thừa biết rằng, họ không có quyền. Ðây là cách thức giúp người tỵ-nạn phạm pháp, để một ngày kia họ sẽ bị OFPRA rút thẻ ty-nạn.

- Sau khi cấp chiếu khán bừa- bãi, tòa đại-sứ lại ra thông-cáo cho Bộ Nội-Vụ Pháp biết rõ tên tuổi từng người xin cấp visa về Việt Nam .

- Một khi bị rút thẻ ty-nạn, họ bị mất luôn thẻ thường-trú (Carte de séjour). Muốn xin việc làm phải có thẻ Lao-động (Carte de travail). Nếu muốn cư-ngụ trên 3 năm phải trình Passport của CSVN. Như thế người tỵ-nạn đang được sống Tự-do, bỗng trở thành công-dân VC, đặt mình dưới sự kiểm-soát của CSVN cho đến mãn kiếp.

- Chính-phủ CSVN cũng phải hiểu rằng, tán trợ, hoặc giúp đỡ người phạm pháp, cũng phạm tội đồng-lõa. Cấp visa cho người tỵ-nạn tức là cố ý phạm luật bang giao giữa hai nước. Chúng tôi nghĩ, đã đến lúc nên đặt lại vấn-đề nầy với chính-phủ CSVN”.

Ðồng-bào trong Nước đã đầy ắp thống khổ và căm-hận. Chấm dứt ngay những con người manh-tâm mang "lòng Việt gian" trong chiếc áo VK. Những hình ảnh nêu trên chắc cũng đủ thức tỉnh lương tâm một số người, nếu có và còn.muốn trở thành VIỆT KIỀU.



Tống-Phước Hiến

Việt Cộng đã chiếm được chùa Linh Sơn tại Londres





Thông Báo



Kính gửi:


Quý đồng hương Phật tử tỵ nạn Việt gian Cộng sản tại Vương quốc Anh và trên toàn thế giới.



V/v Thích trí Như tục danh Lê văn Thành (Thành râu) xuất thân từ


Canada, hiện tiếm đoạt Linh Sơn Tư (LST) tại Anh Quốc.



Thưa quý vị,


Cho đến ngày hôm nay 16/3/2011, thời gian vừa đúng một tháng kể từ ngày bức vi thư (e-mail) 7 điểm của chúng tôi được đưa lên mạng nhằm phúc đáp e-mail ngày 13-2-2011 của Thich trí Như/Le van Thanh (được Chủ tịch Hội Ðồng Hương Hải Phòng Hoàng Lộc (VGCS) phổ biến trên mạng) mời chúng tôi đến tiếp nhận việc bàn giao chùa Linh Sơn tọa lạc tại Luân Ðôn, Anh Quốc, nhưng chúng tôi vẫn chưa nhận được hồi âm nên buộc lòng chúng tôi phải cho phổ biến thêm vi thư này để trình bày nội vụ cho rõ ràng hơn..



Hoàng Lộc, chủ tịch lâm thời Hội ÐHHP


Vũ kim Thanh, phó chủ tịch Hội ÐHHP

Trần Quang Hoan, đại sứ Việt gian CS tại Vương quốc Anh và Ai Nhĩ Lan

Lê Văn Qúy, phó giám đốc sở ngoại vụ thành phố Hải Phòng, Việt Nam

Tăng nhân Thích Trí Như/Lê văn Thành chúc mừng đại hội

Theo nguyên tắc hành chánh ở Vương quốc Anh, thời hạn hồi đáp thư tín có ba đẳng cấp:

1) một tuần lễ (7 ngày) dành cho trường hợp thật khẩn cấp.

2) hai tuần lễ (14 ngày) dành cho những trường hợp kém khẩn cấp hơn.

3) ba tuần lễ (21 ngày) là thời hạn tối đa để hồi đáp cho một vụ việc được yêu cầu.



Bảy (7) dữ kiện được nêu lên trong bức vi thư (e-mail) gửi cho Thích trí Như ngày 16/2/2011 nhằm mục đích yêu cầu tăng nhân này cung cấp cho chúng tôi, là thể theo những thủ tục pháp định trong việc chuyển giao chùa Linh Sơn. Ðây là lời yêu cầu hợp lý và minh bạch. Vậy thì, vì lẽ gì mà Thích trí Như lại giữ im lặng trong khi chính đương sự là người đã đề xuất ra việc gửi thư mời chúng tôi đến bàn giao chùa!!!???




Phải chăng, Thích trí Như/Lê văn Thành (TTN/LVT) xem việc gửi thư mời chúng tôi đến để bàn giao chùa Linh Sơn và công khai tuyên bố sự việc này trên mạng (net) cho mọi người được biết chỉ là một sự đùa cợt ? Như vậy thử hỏi, liệu Thích tri Như có hiểu đươc ý nghĩa của bốn (4) nguyên tắc căn bản (The Four Noble Truths - Bốn Thực Tế Cao Siêu) trong đạo Phật dành cho người tu hành thường gọi là Tứ Diệu Ðế hay không?




Toàn bộ bảy (7) điều chúng tôi đã nêu ra trong vi thư trả lời TTN/LVT ngày 16/02/2011 đều là những nguyên tắc hành chánh thông thường mà bất cứ một công ty, hãng xưởng, nhà hàng, tiệm buôn, hội đoàn và cộng đồng nào, dù có tính cách vụ lợi (kinh doanh ”business”), bất vụ lợi (từ thiện “charity”) hay tư nhân (private) cũng đều phải hội đủ để được cấp giấy phép hoạt động nếu như hoạt động này liên hệ đến các vấn đề như ô nhiễm môi sinh (pollution), sức khỏe (health), an toàn (safety), xuất nhập cảng (import & export) hay thuế vụ (income tax).


Bất cứ tổ chức nào có những hoạt động nhằm mục đích trên mà không có giấy phép, đều bị coi như hoạt động bất hợp pháp, có thể bị chính quyền truy tố về những tội danh dành cho các vi phạm này.



Chỉ mới mấy năm trước đây (không nhớ rõ năm), chùa Linh Sơn đã từng bị Council truy tố ra Tòa về tội tổ chức đại nhạc hội bất hợp pháp trong khuôn viên chùa, làm náo động dân chúng cư ngụ trong vùng nên đã bị Tòa tuyên án cấm hoạt động. Không rõ cho đến nay chùa đã được phép hoạt động lại hay chưa ?


Ngoài ra, vào ngày 26-02-2011, Thích Trí Như/Lê Văn Thành vanle76@hotmail.co.ukĐịa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. cũng gửi e-mail thông báo trên mạng cho biết là đã tụ tập được gần 60 người để thành lập Ban Hộ Trì Tam Bảo (Ban Trị Sự) nhiệm kỳ 2011-2014 do chính tăng nhân này làm Hội Trưởng! (xin xem danh sách đính kèm cuối thư).



Như vậy, ngoài bảy (7) điều đã được chúng tôi nêu lên trước đây, nay còn thêm một (1) điều nữa: đó là, việc bàn giao giấy phép tái hoạt động này để chúng tôi có đầy đủ tài liệu đính kèm vào hồ sơ nhờ cảnh sát và thẩm quyền địa phương (police and council authority) duyệt xét giấy phép hoạt động đồng thời xác nhận những thành viên có tên trong ban trị sự là đúng sự thật chứ không phải là giả mạo.




Trí Như đã tự thăng chức ÐÐ và tiếm đoạt quyền trụ trì chùa Linh Sơn như thế nào?




Thời kỳ Tu Viện Linh Sơn bên Pháp còn được đặt dưới sự trụ trì của Hòa Thượng Huyền Vi thì vào năm 1989 đã nổ ra một ‘sì căng đan’ liên quan đến vấn đề “trai gái” do Trí Như gây ra làm xấu hổ lây đến hàng ngũ Tăng Ni và Phật tử đang tu học tại Tùng Lâm Linh Sơn (thường gọi là Ðại Tùng Lâm).




Cũng vào thời gian này ở bên Luân Ðôn thì thầy Trí Cảnh, vị Sư đang trụ trì tại chùa Linh Sơn rời chùa đi Ðài Loan tu học. Vì chùa thiếu người trụ trì nên một số phật tử thỉnh thầy Phước Huệ, lúc đó đang tu tại một Phật đường ở Birmingham lên Luân Ðôn tạm thời kiêm nhiệm thêm công việc Phật sự của chùa Linh Sơn, đồng thời nội vụ cũng được thông báo về chùa Linh Sơn tại Pháp để xin cử người thay thế. Chính Hòa Thượng Huyền Vi đích thân từ Pháp qua Anh để gặp thầy Phước Huệ (lúc đó đang tu riêng ở Birmingham) và đề nghị sáp nhập Phật Ðường ở Birmingham với chùa Linh Sơn. Thầy Phước Huệ đã đồng ý việc sáp nhập này và đổi pháp danh Phước Huệ thành Trí Châu và được cử nhiệm vào chức vị Ðại Ðức để chính thức trụ trì chùa Linh Sơn thay thế sư Thích Trí Cảnh. Nhân dịp này, HT Huyền Vi cho sa di Trí Như (TN) từ Pháp qua Anh làm phụ tá cho Ðại Ðức Trí Châu vì lúc đó Sư Tri Châu đang bận bịu lo việc Phật sự cho cả hai chùa ở Birmingham và Luân Ðôn. Việc cử nhiệm Trí Như làm phụ tá cho Ðại Ðức Thích trí Châu, trên thực tế, chỉ nhằm để Thích trí Như tạm thời lánh mặt, hầu làm giảm bớt sự căng thẳng đã xảy ra tại đại Tùng Lâm bên Pháp mà thôi (chuyện này sẽ được thuật lại chi tiết hơn trong một dịp khác).




Vài tháng sau, khi đã quen nước quen cái và nhân cơ hội đại đức Trí Châu bận lo việc Phật sự cho hai ngôi chùa, cứ vài ngày có mặt ở Luân Ðôn thì vài ngày sau lại về Birmingham nên sa môn Trí Như sanh lòng tham, muốn làm trụ trì chùa Linh Sơn nên đã rủ rê ba (3) người phật tử nhẹ dạ (xin được dấu tên) lên tiếng đề nghị cho Trí Như chính thức trụ trì thay thế sư Trí Châu. Sư Trí Châu (Phước Huệ) và đa số phật tử không đồng ý, cho đó là sai với nguyên tắc truyền thừa Phật Giáo, và đòi hỏi phải có sự chấp thuận của HT Huyền Vi.




Trí Như thừa biết rằng không thể nào HT Huyền Vi lại chấp thuận cho đương sự trở thành vị trụ trì khi còn là Sa Di, chưa đạt đến chức vị Ðại Ðức, ngoài ra lại còn có hạnh kiểm không tốt, đã gây ra tai tiếng ở đại Tùng Lâm bên Pháp, cho nên Trí Như nhất quyết phải giành cho được quyền trụ trì chùa mà không cần đến sự thừa nhận của HT Huyền Vi nữa. Chính vì vậy mà y đã nổi loạn, đập bàn vung tay múa võ thị uy như muốn đánh người đối diện (hành vi này có ghi âm và thâu hình “video”). Một số phật tử hiện diện thấy sự việc nghiêm trọng nên đã gọi cảnh sát đến can thiệp (thật xấu hổ). Khi Cảnh sát đến nơi, họ thấy có hai (2) nhà sư, nên hỏi trong hai người thì người nào là thượng cấp (leader) của người kia và chịu trách nhiệm công việc của chùa. Mọi người đều chỉ qua Trí Châu và nói với Cảnh sát rằng sư Trí Châu chính là người trụ trì ngôi chùa. Cảnh sát hỏi ý kiến sư Trí Châu có muốn họ giải tán đám đông đang náo loạn tại đây không? Ða số phật tử, sau khi hội ý với sư Trí Châu, đã trả lời Cảnh sát rằng: “ Xin để chúng tôi tự giải quyết công việc nội bộ cho êm thấm, hơn là đuổi họ đi (giải tán) bởi lẽ, sau khi cảnh sát ra về nếu những người này trở lại làm náo loạn lần nữa thì sự việc còn tệ hại đến thế nào nữa”. Cảnh sát chấp thuận đề nghị và rút lui.




Sau khi cảnh sát đi khỏi, sự tranh cãi có phần dịu lại, đa số phật tử đề nghị HT Huyền Vi qua Anh dẫn Trí Như về Pháp (nhất là những phật tử đã từng nghe Trí Như “dê nữ tu” gây chuyện xấu hổ ở đại Tùng Lâm, và từng đọc qua lá “thư tình” của một người phụ nữ đã có bầu với Lê Văn Thành trước khi y rời Việt Nam, hiện sống tại Phan Thiết gửi thư qua Pháp hỏi Trí Như xin tiền nuôi con) nếu không, họ sẽ công khai tố cáo những hành vi bất lương và bỉ ổi của Trí Như/ Lê Văn Thành (Thành râu) cho mọi người biết. Vì thế, HT Huyền Vi hứa với phật tử Ph. (người có lá “thư tình” của Trí Như) sẽ dẫn TN/Lê Văn Thành về Pháp cho êm chuyện.




Giữ y lời hứa với phật tử, HT Huyền Vi đem xe qua Anh chở Trí Như về. Trí Như rất xảo quyệt, ngoài mặt thì giả bộ nghe lời, thu xếp hành lý theo HT Huyền Vi về Pháp, nhưng âm thầm lập kế hoạch xúi dục ba (3) phật tử nhẹ dạ nói trên, nằm đường cản đầu xe không cho xe của Hòa Thượng Huyền Vi di chuyển nếu trên xe có chở Trí Như. Cuối cùng, HT phải gọi điện thoại nói với phật tử Ph. thông báo sự việc xảy ra đột ngột này nên HT đành bó tay. Thế là, Trí Như xuống xe trở vào chùa, và từ đó bất chấp đạo nghĩa, tung hoành tiếm đoạt quyền trụ trì; sư Trí Châu ngán ngẩm lòng tham, sân, si quá độ của Trí Như, nên về lại ngôi chùa ở Birmingham đặt tên chùa Từ Ðàm, lấy lại pháp danh Phước Huệ (như trước) và rời khỏi phái Linh Sơn vì sư Phước Huệ cho rằng, một Hòa Thượng lãnh đạo mà không giáo dục được đệ tử (Trí Như), thì không có lý do gì sư phải tiếp tục phục tùng giáo phái này nữa.




Trở lại câu chuyện Trí Như, sau khi Trí Châu rời khỏi chùa, Trí Như tự tung tự tác thăng chức vị Ðại Ðức cho mình và tiếm quyền Trụ Trì, một mình một cõi tung hoành, tách khỏi phái Linh Sơn Pháp (nhưng vẫn để tên “Linh Sơn Tự Anh Quốc” nhưng đây chỉ là hình thức treo đầu dê bán thịt chó) không còn nể nang và tuân lời HT Huyền Vi nữa, thậm chí, khi HT bệnh toàn thân bất toại (nằm liệt giường), nhiều lần Trí Như đi cùng phật tử sang Paris mua thực phẩm và xì dầu cho chùa, vẫn không hề có ý thăm viếng; ngày Hòa Thương Huyền Vi viên tịch, Trí Như cũng không trở về để thọ tang Sư Phụ, người đã từng cưu mang và xuống tóc cho mình quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng)! Thử hỏi, một người như thế cho dù là phàm tục cũng không xứng đáng để khuyên bảo người khác, huống chi là một tăng nhân mà phật tử phải noi gương và phải gọi bằng Thầy (?) Xin dành mọi sư phê phán nơi quý phật tử.




Bức vi thư này không ngoài mục đích nhắc nhở cho Thích trí Như phải gấp rút cung cấp bảy + một (7+1) điều đã nêu ra trong thư trước của chúng tôi để chúng tôi chuẩn bị tổ chức ban tiếp nhận việc bàn giao chùa Linh Sơn. Nếu Thích trí Như vẫn im lặng, không chịu cung cấp đầy đủ những dữ kiện liên quan đến công việc điều hành của chùa Linh Sơn như nêu lên trong thư trước của chúng tôi, thì điều này là bằng chứng hùng hồn, chứng tỏ rằng Trí Như/LêVănThành cũng chỉ là phường bịp bợm xảo trá, mượn đạo tạo đời, ngồi mát ăn bát vàng do các phật tử nhẹ da dâng cúng.




Trường hợp này chúng tôi buộc lòng phải nhờ đến cơ quan sau đây can thiệp trước khi thực hiện việc chuyển giao chùa, đồng thời cũng nhằm để chấm dứt những vi phạm pháp luật do Trí Như đã gây ra do sự kém hiểu biết về nguyên tắc hoạt động công cộng tại Anh Quốc:




. Head of Mission, kiểm tra di trú những người lạ mặt đến chùa trú ngụ


. Council Authority, thanh tra hoạd động chùa trong và sau thời gian nghiêm cấm

. Health & Safety Authority, thanh tra ô nhiễm môi sinh và an toàn

. Charity Commissioner, thanh tra hoạt động từ thiện

. HM Revenue & Customs, thanh tra sổ sách thu nhập

. HMRC for Import/Export, thanh tra thuế xuất nhập cảng pho tượng Phật



Sau hết, khi thời gian cho phép, chúng tôi sẽ lần lượt cống hiến quý phật tử những chuyện chưa từng được biết về Lê văn Thành (tự Thành râu) ở Canada:




1. Tại sao rời bỏ vợ con xin vào chùa Thuyền Tôn ở Canada bị từ chối rồi lưu lạc sang Pháp, cùng đường vào chùa ẩn náu?

2. Gạ gẫm nữ tu tại Tùng Lâm Linh Sơn ở Pháp bị phát hiện nên bị tống cổ qua Anh?
3. Gạt gẫm một người phụ nữ có bầu trước khi rời khỏi Phan Thiết, Việt Nam?
4. Du dỗ nữ phật tử có gia đình có con nhỏ dại, vào chùa tu với Trí Như, rồi nửa đêm mò đến phòng riêng?
5. Tham, sân, si thịnh nộ la mắng người già lớn tuổi vào chùa làm công quả?
6. Giao du với Việt gian cộng sản?
7. Thư của một người phụ nữ ở Phan Thiết đã có bầu trước khi LVT rời Việt Nam, gửi sang Pháp để xin Trí Như tiền nuôi con?



Khi mọi việc được phơi bày, chừng ấy sẽ thấu hiểu ai là ma vương quấy phá người tu hành hay chính kẻ đội lốt tăng nhân quậy phá Tùng Lâm Linh Sơn, cướp chùa của phật tử tỵ nạn cộng sản tại Anh đóng góp xây dựng nên.




Ðã đến lúc TTN/LVT nợ đền, vay trả! Hãy chờ coi.




Trân trọng,



Ngô ngọc Hiếu
http://www.bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=4002:cng-sn-a-chim-uuoojc-chua-linh-sn-ti-londres&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

Cách Mạng Hoa Lài Tây Tạng

Tibet jasmine Revolt

Video Free Tibet

Sau 3 tuần lễ kể từ cách mạng hoa lài tại Trung Quốc và 2 tuần lễ cách mạng hoa lài tại Việt Nam được phát động.Làn sóng Cách Mạng Hoa Lài đã lan đến Tây Tạng.

52 năm trước người dân Tây Tạng nỗi dậy chống Trung Quốc(người Hán)vào ngày 10 tháng 3 năm 1959 bất thành dẫn đến việc Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 của Tây Tạng là Tenzin Gyatso lưu vong qua Ấn Độ.Thêm nữa,cuộc nỗi dậy cách đây 3 năm của nhân dân Tây Tạng tại thủ đô Lhasa vào ngày 14 tháng 3 năm 2008 bất thành và bị quân đội Trung Quốc đàn áp dập tắt.

Năm nay nhân đúng 52 năm, và 2 ngày kỷ niệm lễ vào tháng 3,một nhóm” Những người Tây Tạng đòi tự do” đã chuyển tải thông tin hô hào tập hợp đi bộ vào ngày 13 tháng 3 năm nay(2011) .

Cũng nội dung giản dị bản nhắn tin ngắn gọn :

“Thực hiện Cách Mạng Hoa Lài tự phát : tản bộ,dạo chơi và cầu nguyện .Và nhấn mạnh, nhân quyền và tự do là quyền của mọi người dân tại mọi quốc gia(nhân quyền,tự do bất phân dân tộc,địa lý).

Ngày 10 tháng ba năm nay là ngày kỷ niệm 52 về cuộc nổi dậy của người Tây Tạng chúng ta, ngày 14 tháng 3, cũng đau thương và vang dội với kỷ niệm 3 năm cuộc nổi dậy năm 2008 ở đất nước chúng ta. Chúng tôi hy vọng rằng từ chủ nhật này (tháng ngày 13 tháng 3 ) bắt đầu lúc 2 giờ chiều mỗi Chủ Nhật, người Tây Tạng tập hợp đi bộ và cầu nguyện tại 3 địa điểm sau:

- Xigaze bar Temple Square (Rights Yunnan Zhongdian Shangri Deqin State Plaza)
- Kangding County Music Square (Ga Square Qamdo Peas)
- Khu vực tứ giác đường Ba Quách-Lhasa

Hiệu triệu ngày 11 tháng 3 năm 2011
Những người Tây Tạng đòi tự do"

Khuynh hướng dân chủ hóa đang lan rộng toàn cầu qua Cách Mạng Hoa Lài.Tùy các điều kiện riêng của mỗi nước,người dân nước đó hành xử quyền đối kháng với các chế độ độc tài,nhất là độc tài đảng trị CS nhằm hỏi thực thi dân chủ tự do là chính đáng và phải được tôn trọng.Ba nước châu Á là Trung Quốc,Việt Nam và Tây Tạng tiếp nối cách mạng hoa lài từ Bắc Phi và Trung Đông sẽ gặp những thử thách quyết liêt.Nhưng cuối cùng ý dân là ý Trời.Chắc chắn tin tưởng được rằng rồi cuối cùng,không sớm thì muộn sẽ thành công.

Cao Kim Liên


http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php/4664-C%C3%A1ch-M%E1%BA%A1ng-Hoa-L%C3%A0i-T%C3%A2y-T%E1%BA%A1ng

VIỆT THƯỜNG CŨNG LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN NÒI!


Lời người viết: từ lâu nay, chúng tôi rất dè dặt trước những người từng:" sống, học tập, lao động và chiến đấu, theo gương bác hồ vĩ đại", nên theo dõi và chỉ tin một phần những tiết lộ của người Cộng Sản qua những bài viết, tài liệu, còn lập trường của họ thì cần phảI xét lại cẩn thận và nhất là tìm xem cái" ý đồ" của họ nằm đâu?. Người Cộng Sản nói một đàng làm một nẻo, ngụy trang khéo léo, có khi dùng cả" khổ nhục kế" để xâm nhập vào hàng ngũ quốc gia, đoạn khi tạo được thế đứng vững chắc, lòng tin… là chúng ra tay, hành động để có lợi cho Việt Cộng. nhất là trong những lúc đảng Cộng Sản lâm nguy, gặp khó khăn.

Do đó, trường hợp của nhà báo Việt Thường, không phải là một ngoại lệ. Những người phía bên kia, khi trở về với chính nghĩa quốc gia, dù miền Nam không còn nhưng chính nghĩa luôn tồn tại; một số cán bộ Việt Cộng cũng nương theo đà:" tung cánh chim tìm về tổ ấm" khi ra hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng phải xem lại để nhận dạng ra ai thật lòng và ai giả dạng để xâm nhập, thời gian và biến cố chứng minh thật giả như câu:" trường đồ tri mả lực" hay ca dao bình dân có hai câu:

'" Còn lỏm bỏm biết đâu Rô-Sặc.
Lúa cạn đìa mới biết Lóc-Trê".


Ông Trần Văn Đắc, tức là thượng tá Tám Hà, sau khi trở về với chánh nghĩa quốc gia, đã nói một câu đi vào lịch sử:" Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỷ những gì Cộng Sản làm", sau đó được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập lại trên hệ thống truyền thông, phổ biến trên toàn quốc và sau năm 1975, được người Việt bỏ nước ra đi mang theo trong hành trang tỵ nạn chính trị để cảnh giác bọn Việt Cộng xâm nhập qua nhiều dạng. Qua nhiều kinh nghiệm xương máu về bản chất của người Cộng Sản, trong thời chiến, có nhiều trường hợp chiêu hồi giả, để đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, những thành phần" nằm vùng hợp pháp" tại vùng quốc gia dưới nhản hiệu chiêu hồi, đầu tiên nhảy ra tiếp thu các cơ quan của chính phủ VNCH, bắt không sót một người nào nằm trong khu vực, để đưa vào nhà tù, ngụy trang bằng từ ngữ" cải tạo".

Trường hợp Phạm Ngọc Thảo được coi là khá phổ biến về người Cộng Sản, mà trước 1975, nhiều người vẫn tin Phạm Ngọc Thảo, người theo Công Giáo, bỏ hàng ngũ Việt Minh, trở về với chính nghĩa, được chính phủ Ngô Đình Diệm trọn dụng. Nhưng tháng 4 năm 1975, trung tướng Trần Bạch Đằng, với chức vụ là chính ủy thành Hồ, ca tụng một số điệp viên nằm vùng theo đúng nguyên tắc" trèo cao lặn sâu" như Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo..

Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, sinh ngày 7-6-1921 tại Vĩnh Long, quốc tịch Pháp, dòng dõi vọng tộc miền nam. Thời gọi là" đánh Tây giành độc lập" trong Việt Minh ( bị Cộng Sản khuynh đảo), Phạm Ngọc Thảo giữ nhiều chức vụ quan trọng: làm giao liên chuyên vận vũ khí, cán bộ từ miền bắc vào, năm 1948 phục vụ trong Phòng Mật Vụ Nam Bộ, sau đó làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 420, đơn vị chủ lực của bộ tư lịnh phân khu miền Tây Nam bộ. Tiểu đoàn nằm hoạt động nhiều nhất trong khu rừng U Minh Hạ, nên tiểu đoàn của Phạm Ngọc Thảo trở thành đơn vị bảo vệ cho tên Lê Duẩn và trung ương cục miền nam. Chính vì thế mà Phạm Ngọc Thảo thân tín với Lê Duẩn và nhiều tên cán bộ cao cấp. Đó là lý do mà Phạm Ngọc Thảo là tên nội gián" cao cấp" hoạt động đơn tuyến với Lê Duẩn, nằm sâu trong hàng ngũ quốc gia, do gốc che đậy là gia đình Công Giáo, dân Tây, điền chủ…năm 1954, tiểu đoàn 540 được lịnh xuống tàu của Ba Lan, tập kết ra Bắc, tại bến Sông Ông Đốc Vàm ( quận Sông Ông Đốc, tỉnh Cà Mau).

Phạm Ngọc Thảo dùng cái vỏ bọc Công Giáo, được Tổng Giám mục Ngô Đình Thục tin cậy, đúng vào thời điểm tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành lịnh trọng dụng những người không Cộng Sản nhưng từng đi theo Việt Minh, nên nhiều người được trọng dụng như ông Trần Chánh Thành, làm bộ trưởng thông tin. Phạm Ngọc Thảo được phục vụ trong phủ Tổng Thống và sau đó được gởi đi thụ huấn tại trường Võ Bị, được mang cấp bậc theo chức vụ thời Việt Minh, nên Phạm Ngọc Thảo được mang cấp đại úy, sau đó lên thiếu tá, trung tá…. được làm tỉnh trưởng Kiến Hòa ( Bến Tre) là nơi nổi tiếng Việt Cộng, quê hương của" cai tổng Cống" tức là thiếu tướng Việt Cộng Đồng Văn Cống sau nầy. Sau đó, Phạm Ngọc Thảo được chính phủ đệ nhất Cộng Hòa, với văn phòng cố vấn chính trị, giao nhiệm vụ cố vấn đặc biệt chương trình xây dựng Ấp Chiến Lược…

Đại tá Phạm Ngọc Thảo từng đóng góp nhiều biến cố miền nam: thời làm tỉnh trưởng Kiến Hòa, nơi nầy được trung ương khen là rất có an ninh, lý do là Lê Duẩn cho rút các đơn vị Việt Cộng, du kích, để tạo cho Phạm Ngọc Thảo chỗ đứng vững chắc về lòng tin của chính phủ Ngô Đình Diệm. Chính Phạm Ngọc Thảo cũng đã có tham gia vào vụ đảo chánh chính phủ Ngô Đình Diệm, vụ trung tướng Nguyễn Khánh" chỉnh lý" Dương Văn Minh ngày 30 tháng 1 năm 1964. Sau đó cũng chính Phạm Ngọc Thảo lại hạ bệ Nguyễn Khánh qua việc báo với đại sứ Hoa Kỳ về việc quốc trưởng Nguyễn Khánh bí mật cấu kết với Việt Cộng, điển hình là ngày 4 tháng 1 năm 1965, Khánh bí mật đưa vợ của tên Huỳnh Tấn Phát là Bùi Thị Nga vào mật khu; bà Nga mang theo lá thư của Nguyễn Khánh viết cho Huỳnh Tấn Phát, chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.. Đại tá Phạm Ngọc Thảo, một thứ điệp viên cao cấp, được bao bởi vỏ bọc: tín đồ Thiên Chúa Giáo, gia đình địa chủ, dân Pháp, tham gia hoạt động chính trị tại đầu não miền nam Việt Nam….sau nầy Việt Cộng vinh danh Phạm Ngọc Thảo, hài cốt được dời về nghĩa trang liệt sĩ.

Trường hợp Việt Thường cũng không phải là ngoại lệ, từ khi có mặt Việt Thường, với danh nghĩa" nhà báo", đã có những bài viết nẩy lửa, tố cáo những thứ mà Việt Cộng không thể dấu được: tội ác tết Mậu Thân tại Huế, bắt hàng trăm ngàn quân nhân cán chính miền nam đi tù, lùa dân đi kinh tế mới, đánh tư sản, bản chất gian manh của đảng Cộng Sản….và cũng để lấy lòng tin người Việt hải ngoại, nhà báo Việt Thường còn vạch mặt những tên phản tỉnh giả, ông gọi là:" những tên đặc công đỏ trong phong trào phản tỉnh" trong nước như Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang….và di trí ở nước ngoài như Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Nguyễn Chí Thiện….chính Việt Thường đã tố giác những tên phản tỉnh giả một cách khá đầy đủ từ " sơ yếu lý lịch" đến hoạt động. Đương nhiên là hầu hết những tên" đặc công đỏ trong phong trào phản tỉnh" đã bị lộ mặt qua tư tưởng, bài viết…thì việc bạch hóa nầy cũng không phải là chuyện mới mẻ, do người Việt hải ngoại rất sáng suốt.

Việt Thường cũng có cái" sơ yếu lý lịch" không thua gì đại tá Phạm Ngọc Thảo: tên Việt Thường là Trần Hồng Văn, thuộc gia đình" dòng dõi cách mạng nòi" nên mới được đi Nga du học trong ngành truyền thông (đây là một ngành rất quan trọng trong đảng, là cán bộ tuyên truyền nồng cốt). Việt Thường cũng nhận là tín đồ Thiên Chúa Giáo, giao du thân mật với một số linh mục tại Anh Quốc, để coi đây là một tín đồ Công Giáo ngoan đạo. Cũng bỏ thiên đàng Cộng Sản, sống tại Anh quốc. Thời gian" tung cánh chim tìm về tổ ấm" nhà báo Việt Thường đã tung ra nhiều chuyện" thâm cung bí sử" của đảng Cộng Sản và nhất là tên Hồ Chí Minh…nhưng những thứ đó, có nhiều người đã biết, nhất là sau khi đế quốc đỏ Liên Sô sụp đổ, nhiều tài liệu về đảng, Hồ Chí Minh đã bị bạch hóa. Tuy nhiên, có một số người tin Việt Thường là người" từng ở trong chăn, biết chăn có rận" nên tin y nói thật và có tấm lòng.

Như cây kim để trong bọc lâu ngày, tất cũng ló ra, ngày nay cuộc cách mạng Hoa Lài lan rộng tại Bắc Phi, Trung Đông…đang lan dần đến các dân tộc bị Cộng Sản cai trị quá lâu như Trung Cộng, Việt Nam. Một số nhà dân chủ cuội như linh mục Nguyễn Văn Lý, Đặng Phúc Tuệ ( Thích Quảng Độ), bác sĩ Nguyễn Đan Quế….không thể dùng bài thuốc an thần" dùng bất bạo động để tháo gỡ độc tài" với: biểu tình tại gia, thay đổi sợ làm xáo trộn xã hội, kêu gọi biểu tỉnh" tại gia", phổ biến tâm thư" tại gia" và phổ biến rộng rải ra nước ngoài, còn trong nước thì" bị công an bao vây, phong tỏa..".

Trước nguy cơ nầy, một số lá bài tẩy " trèo cao lặn sâu" như Nguyễn Minh Cần hốt hoảng, đe dọa những ai biểu tình tại Việt Nam, sẽ gây đổ máu…cũng như trường hợp gã chủ động đĩ Bà Mau là" ngục khỉ" Nguyễn Chí Thiện, sau thời gian dài được băng đảng Việt Tân đánh bóng, thành" thần tượng", được vận động dự giải Nobel, nhưng sau cái vụ kêu gọi người Việt hải ngoại đừng biểu tình, đến gặp cán ngố VC đến Mỹ, gọi bằng" hiền huynh" là VC sẽ" giác ngộ" và thay đổi, nên bị rơi mặt nạ.

Nay đến lượt nhà báo Việt Thường cũng đã để lộ bộ mặt thật của" đặc công đỏ trong phong trào phản tỉnh" khi mới đây, trong video ngày 21 tháng 2 năm 2011, tung ra hỏa mù, y như sách lược của băng đảng Việt Tân là về nước tranh ghế vào quốc hội Việt Cộng, để từ từ gây ảnh hưởng, tiến tới dân chủ.

Khi hô hào như vậy , nhà báo Việt Thường không phải là "một người kém hiểu biết về sinh hoạt chánh trị " , chắc phải biết rằng điều đó không thế nào thực hiện được vì theo điều số 46 được sửa đổi của Luật số: 63/2010/QH12 trong kỳ đại Hội Đảng CSVN lần thứ 13 ( cũng như từ trước đến nay) muốn ứng cử dân biểu QH CSVN thì phải được Mặt Trận Tổ Quốc VN ( MTTQVN) giới thiệu như dưới đây :

…….
10. Điều 46 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 46

Căn cứ vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội được Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng bầu cử gửi đến các Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hữu quan danh sách những người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương.
……


Như vậy chỉ có những người Cộng sản hay không CS (??) được MTTQVN giới thiệu mới ứng cử được mà thôi ( phải chăng đó là những người của Việt Thường nằm vùng trong đảng CSVN ?). Còn những người hải Ngoại QG tỵ nạn CSVN thì tìm "đỏ con mắt " cũng chẳng thấy điều khoản nào cho phép ứng cử đại biểu Quốc Hội theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 31/2001/QH10 ngày 25 tháng 11 năm 2001 của Quốc hội khóa X, Kỳ họp thứ 10

Như vậy Việt Thường có dụng ý gì ? Phải chăng " nói để mà nói " và khinh thường người việt Quốc Gia hải ngoại không biết chi hết. Lối hành xử như vậy chỉ tự hạ nhục mình thôi!

Việt Thường sinh ra, đào tạo từ lò Marx Lenin rất kỷ, du học Liên Sô ( không phải là dân hay cán ngố thường), nên biết rất rỏ các cơ chế" quốc hội Việt Cộng" chỉ là nơi qui tụ những thành phần sau đây: đảng viên Việt Cộng, tay sai thân tín của đảng…muốn ứng cử phải qua cửa ải của Mặt Trận Tổ Quốc, một công cụ của đảng. Quốc hội Việt Cộng, là XƯỞNG GẬT" cao cấp", chuyên dơ tay" nhất trí" những thứ luật rừng trong việc đàn áp dân, bán nước, nhượng đảo, vùng biển, cho Trung Cộng ra vào tự do, khai thác tài nguyên như quặng Bô Xít, cho mướn rừng dài hạn 50 năm…

Những luận cứ khác như tranh đấu nghị trường trong Quốc Hội, hay tố cáo với Tây Phương là CSVG không dân chủ, điều đó nghe chán lắm , vì Tây Phương nhất là Mỹ rất rành " sáu câu vọng cổ ".

Thật ra, rõ ràng hơn cả " đêm giữa ban ngày" là Việt Thường dùng " buzz internet" để người Việt hải ngoại lo tranh luận về "vụ Việt Thường" và để yên đảng Cộng Sản VN được an toàn trước cao trào dân chủ toàn cầu đang lan nhanh, lan mạng và lan rộng từ Bắc Phi đến Trung Đông và các chế độ độc tài Cộng Sản còn sót lại cũng đang quan ngại, lo sợ viễn ảnh ảm đạm của chúng.

Nhà báo Việt Thường, sau khi tạo uy tín như đại tá Phạm Ngọc Thảo, nay đến lúc" hành động" khi nhìn thấy" tình huống" tại Việt Nam đang diễn biến" cực kỳ" bất lợi cho đảng cướp Việt Cộng về cuộc cách mạng Hoa Lài, ảnh hưởng kinh tế suy sụp do trong nước lạm phát và tác động kinh tế toàn cầu qua những ảnh hưởng thiên tai; nhất là ở Nhật, là nước viện trợ nhiều nhất cho Việt Cộng, hàng tỷ Mỹ kim hàng năm, nay đang đối diện thảm họa sóng thần và lò nguyên tử. Tình hình tại Việt Nam đang" diễn biến phức tạp" trước vật giá leo thang, lạm phát không kiềm chế, nhu yếu phẩm khan hiếm, khủng hoảng tiền tệ và vàng làm cho dân chúng hốt hoảng đi đổi lấy tiền Đô La Mỹ, mà không nhận tiền Hồ, dân chúng ùn ùn sang Miên rút tiền, nhà nước Việt Cộng ăn cướp là không trả bằng Đô La, gây xáo trộn thị trường tiền tệ… là cuộc cách mạng" hoa GIẤY" để bỏ vào sọt rác các cuộc cách mạng dỏm" hoa Thúi Địt và nay chuyển sang Hoa Lài Cắm Bãi Cứt Trâu" do các nhà đối kháng dỏm, luôn lập lại câu than vắn thở dài:" đấu tranh ôn hòa mà vẫn bị bắt"…và họ chủ trương: nằm ì, tọa kháng tại gia, thì làm sao đánh đổ chế độ VC như tất cả các cuộc cách mạng từ 1789 đến Nga, Đông Âu, Trung Đông, Bắc Phi…

"Nuôi quân ba năm , dụng một giờ" sau nhiều năm " lặng sâu" và tạo uy tín trong cộng đồng tỵ nạn hải ngoại, đến lúc nhà báo Việt Thường phải "tuân hành" lệnh cấp trên để cứu đảng, dù phải bị " cháy rụi " nên cái video ngày 21-2-2011 kêu gọi nhào vô quốc hội bù nhìn, để" đấu tranh ôn hòa" là chuyện ruồi bu, ai cũng biết điều đó, nhưng nhà báo Việt thường lại đưa ra vào thời điểm nầy, để hướng dẫn công cuộc đấu tranh tại Việt Nam tránh được biểu tình như ở Nga, Đông Âu và nay ở Ai Cập, Libya, Tunisia….nhưng lòi ra đây là đặc công đỏ nữa trong phong trào phản tỉnh giả nữa./.

- TRƯƠNG MINH HÒA ( tinparis.net) -
16.03.2014? or 2011


-----------------

Việt Gian vsViệt Cộng ?




Bài Xem Nhiều