We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 18 March 2011

Lá thư Canada: Ni Sư Maria


Tôi được nhận vào Canada năm 1975. Nhìn tôi lên đường, nhiều người trong trại tỵ nạn Thái Lan thương tôi dại dột vì dám liều mình chui vào đống tuyết. Sống ở Canada một thời gian tôi có thấy Canada là đống tuyết đâu. Mùa đông thì có, khi nhiều khi ít, nhưng không phải toàn cõi Canada là đống tuyết. Thế nhưng năm nay thì Canada là đống tuyết thật các cụ ạ. Ngày Tết Con Mèo vừa qua, nha khí tượng báo động sẽ có bão tuyết, và miền Toronto sẽ chìm trong biển tuyết dày. Mọi người lo hết sức. Làng An Hạ đã bảo nhau:: Nhà ai mà mất sưởi mất điện thì kêu cho nhau đến cứu. Thành phố dặn dân chúng kêu số 911, vì thành phố đã sẵn sàng ứng chiến, với 300 xe ủi tuyết, 1.600 nhân viên cào tuyết, và 10.000 tấn muối làm tan tuyết. Nhưng may qúa, trung tâm Toronto thoát bão. Tuyết rơi sơ sơ có 15 phân. Ai cũng thở phào. Rồi trời lại sáng. Người Việt phe ta gặp nhau ai cũng cười sung sướng: Rõ ràng ông Trời kính trọng tết VN. Phe ta đã rần rần đi hội chợ Tết con Mèo. Chỉ tội nghiệp phi trường Toronto tuyết cao nửa thước, nhiều chuyến bay phải hủy bỏ. Tới nay thì đống tuyết lớn đã tan và hình như trời đang chuẩn bị sang xuân. Tôi nói ‘ hình như’ là vì chú chuột đất đã báo tin mừng. Các cụ phương xa không biết chuyện này đâu. Để tôi kể các cụ nghe. Dân Canada có thói quen là cứ đầu tháng Hai, lúc còn giữa mùa đông, họ đem con chuột đất, tên Canada là ground hog, ra ngắm ở ngoài trời. Nếu năm nào mà nó không soi bóng trên mặt đất thì năm đó mùa đông sẽ còn rất ngắn, nếu năm nào nó rọi bóng xuống đất thì năm đó mùa đông sẽ dài lê thê. Giữa tháng Hai vừa qua, cụ chuột đất Canada không hề có bóng trên mặt đất nên dân Canada vui vẻ qúa chừng. Làng An Hạ chúng tôi đã sống ở Canada ba chục năm, cái đầu đã Canada-hóa, nên chúng tôi cũng tin sắp hết mùa đông.

Đó là tin tuyết. Tin tiếp theo là Canada vừa khai mạc đại hội thể thao mùa đông toàn quốc, Canada Winter Games 2011, vào ngày 11 tháng Hai tại tỉnh Halifax thuộc bang Nova Scotia miền đông. Đại hội kéo dài hai tuần với 2.700 lực sĩ đến từ 800 thị trấn. Canada là đất thể thao, quanh năm là thể thao. Xứ này mà không có thể thao thì chắc dân chúng phát điên và nổi loạn. Trên các hệ thống truyền thông, 50% thời lượng là nói về thể thao. Những lực sĩ nổi tiếng, lương hàng năm mấy chục triệu. Theo họ, bắng cấp thạc sĩ tiến sĩ vất đi hết.Tháng trước tôi đã trình các cụ tin Đại Hội Thể Thao Liên Châu Mỹ, Pan Am Games, vào năm 2015 tại Toronto, mà quên trình về đai hội thể thao toàn quốc Canada này.

Nhân nói tới thể thao, xin khoe với các cụ tin vui: Một em bé VN, mới 12 tuổi, vừa đoạt giải vô địch trượt băng thiếu nhi nghệ thuật toàn quốc Canada. Cuộc thi mang tên Canadian Figure Skating Championship, tại Victoria bang British Columbia. Đó là em Nguyễn Nam. Báo chí Canada gọi em là ‘Super Nam’ / ‘Em Nam Siêu Đẳng’. Đây là lần thứ 4 em được giải này. Nhìn em lên lãnh huy chương vàng, em nhỏ xíu so với 2 em khác đoạt giải bạc và đồng đứng hai bên. Trông em như con châu chấu đứng bên hai cỗ xe khổng lồ. Xin chúc mừng em Nguyễn Nam. Em là niềm hãnh diện của người VN chúng tôi. Đến tháng 5 này, em sẽ 13 tuổi và sẽ đủ tiêu chuẩn đi dự thi giải quốc tế, ai cũng đoán em sẽ đem giải nhất về cho Canada. Báo chí cho biết ngay từ lúc 6 tuổi em đã say mê môn trượt băng này. Hiện em đang học lớp 7 bậc tiểu học. Cha mẹ em là kỹ sư điện tóan, gốc thuyền nhân tỵ nạn.

Tin tiếp theo là đến tháng Tám giữa mùa Hè này, Toronto miền đất thân yêu của làng An Hạ chúng tôi sẽ có một đại hội thế giới của Khối Nha Y Dược VN Hải Ngoại. Đại hội sẽ kéo dài 4 ngày. Đây là lần họp quốc tế thứ 11. Chương trình hội ngộ và trao đổi kinh nghiệm này có nhiều tiết mục hấp dẫn. Các cụ ở xa có thể ghi danh đến dự thính nếu không trực tiếp trong ngành. Trưởng ban tổ chức là BS Hồ Thị Cẩm Nhung ở Toronto, tel: (416) 398-0292, www.ynd2011.com. Phụ tá là bác sĩ nhà văn Nguyễn Trùng Khánh, cũng ở Toronto. Tôi sẽ viết bài về đại hội uy tín này vào tháng Chín.

Một tin khác cũng khá sốt giẻo là tháng vừa qua Canada đã chính thức nhận thêm 50 người tỵ nạn Thượng VN. Các cụ còn nhớ chuyện tỵ nạn sôi nổi này chứ, tin quốc tế nóng hổi mà. Đó là khối 76 người Thượng gốc Tây Nguyên VN trốn khỏi nước thiên đàng XHCNVN chạy sang Cao Mên năm ngoái. Họ đã được Cao Ủy Tỵ Nạn sàng lọc. Canada nhận 50 người, Hoa kỳ nhận 5 người. Số còn lại bị trả về VN. Thấy dư luận thế giới xôn xao về số phận những người bị trả về, VNCS sợ mất mặt đã phải hứa sẽ đối xử tử tế. Các cụ đã thấy Canada bao giờ cũng nhân đạo hơn Hoa Kỳ và yêu người tỵ nạn VN chưa? Canada nhận những 50, Hoa Kỳ đông dân và nhiều tiền mà chỉ nhận có 5!

Cũng xin loan tin tiếp về thuyền tỵ nạn Tamil đến Canada tháng Tám năm ngoái. Tàu chở 492 người. Canada đang làm các thủ tục cứu xét. Mới có 5 tháng làm việc mà Canada đã tiêu mất 25 triệu đồng. Không biết khi xét xong 492 người này thì tiền thuế của dân Canada sẽ tốn thêm bao nhiêu nữa. Được biết khối dân số gốc Ấn Độ và Tamil này có khoảng một triệu người ở Canada. Hy vọng trong khối di dân mới này không có ai thuộc bọn tôn giáo qúa khích đang tàn sát và đốt phá các cơ sở tôn giáo khác.

Cụ Chánh và Bà Cụ B.95 trong làng tôi nghe tin Canada mở cửa đón nhận người tỵ nạn trên đây thì tỏ ra cảm động lắm. Hai cụ đều nói: Chính vì lòng nhân đạo cứu người tỵ nạn như vậy mà ông Trời thương Canada đặc biệt. Trời đã ban cho nước này mọi phước lành, như thanh bình, an lạc, giầu có. Cụ Chánh bao giờ cũng nói: Tôi đã thề là trọn đời tôi, đời con tôi, và đời cháu tôi, lúc nào dòng họ tôi cũng ghi ơn Canada.

Anh John lên tiếng: Cháu xin kể tin người đẹp Canada lãnh giải Prix de Rome. Trong mùa tết con Mèo vừa qua, Cô Samantha Lynch kiến trúc sư tại Đại Học Manitoba vừa được Hội đồng Nghệ Thuật Canada trao giải khôi nguyên Prix de Rome về những đóng góp mới lạ của cô trong thời gian qua. Với số tiền giải thưởng này, cô dự định sẽ đi một vòng Âu Châu để tìm hiểu thêm về các đồ án kiến trúc ở Âu Châu. Tên giải Prix de Rome làm tôi nhớ tới một kiến trúc sư nổi tiếng của Miền Nam, KTS Ngô Viết Thụ. Các cụ còn nhớ ông kiến trúc sư tài ba này chứ? Thập niên 1950, ông du học kiến trúc ở Ý và đậu giải khôi nguyên, cũng Prix de Rome. Ông là người đã vẽ hoạ đồ Dinh Độc Lập của VNCH và nhiều kiến trúc khác nữa.

Sau tin giải Prix de Rome, anh John nói sang chuyện thời sự vẫn còn nóng hổi là tin săn bắt hải cẩu ở Canada. Xưa nay Canada cho phép ngư dân mỗi năm giết 250.000 con hải cẩu để bảo vệ ngành ngư nghiệp, việc này làm Hội Bảo Vệ Súc Vật Âu Châu la ầm lên và họ kêu gọi dân Âu Châu tẩy chay hàng hóa Canada. Nay Canada vừa cho phép ngư dân xả thịt hải cẩu bán cho Trung Quốc, Đại Hàn và Nhật Bản, việc này Hội Bảo Vệ Súc Vật Âu Châu giận dữ và to tiếng hơn nữa. Canada mang việc này kiện nơi toà án Âu Châu, nhưng tòa này lờ đi vì áp lực của các ông bà to mồm. Canada hiện đang phải mang việc này ra kiện trước toà án quốc tế World Trade Organization / WTO. Coi bộ sẽ nổ lớn đây.

Vừa nghe anh John nói đến đây thì ông bồ chữ ODP trong làng lên tiếng ngay: Chú nói ‘coi bộ sẽ nổ’ tức là chú chưa chắc sẽ nổ lớn hay không. Còn tôi thì nghĩ sẽ nổ lớn là cái chắc, vì hải cẩu Canada là vấn đề lớn, nó liên hệ tới kinh tế, tới hàng hải, tới sĩ diện. Các anh Âu Châu xưa nay vốn ghen tị với Canada về tài nguyên thiên nhiên phong phú, Canada chưa khai thác về đàn hải cẩu khổng lồ mà Canada đã giàu có như vậy, nay để Canada khai thác kho hải cẩu vĩ đại thì Canada sẽ giầu có thêm, mà miệng của kẻ giầu tiền thì có gang có thép, Âu Châu ngứa mắt lắm.

Nói xong thì ông ODP cười hà hà. Đấy là chuyện đại sự quốc gia. Riêng làng ta thì hải cẩu cũng là việc đại sự. Nếu các nhà quân tử làng ta chịu để tâm khai thác món ‘ngầu pín’ của hải cẩu chế thành thuốc viên rồi xuất cảng thì làng ta sẽ giầu to. Chỉ nguyên xuất cảng món xuân dược này sang Mỹ cũng đủ thành tỷ phú. Nhiều bạn bè tôi bên Mỹ đã viết thư xin tôi cho làm đại lý. Đấy mới là ngành thuốc. Lần trước Chị Ba Biên Hoà còn định chế biến pín hải cẩu thành món lẩu và cũng xuất cảng nữa thì trời ơi, năm Mão này làng ta trúng số độc đắc to rồi.

Anh H.O. nhảy vào chuyện này ngay. Anh cười hì hì. Anh kể tết con Mèo vừa qua anh đi chúc tết một cụ già. Cụ này rất tếu. Cụ kể cho anh nghe một chuyện tiếu lâm về lời chúc tết. Rằng có một cặp ông bà già kia đã ngoài thất tuần mà còn du dương âu yếm nhau lắm. Hôm tết, hai ông bà chúc nhau hạnh phúc thêm về mặt tình ái. Cụ bà chúc cho cụ ông được cứng rắn và kiên cường, còn cụ ông chúc cụ bà bớt khô khan nguội lạnh. Nghe đi thì chưa thấy hay, nghĩ lại thì thấy hai lời chúc hay cực kỳ. Các cụ có đồng ý với tôi không. Hay thấm thía ấy chứ.

Riêng phe liền ông trong làng nghe vừa xong 2 lời chúc ấy thì phá ra cười ngặt nghẽo, còn phe liền bà bản chất ngây thơ trong trắng nên chả hiểu gì, họ nhìn phe liền ông mà ngạc nhiên hết sức. Mãi rồi Chị Ba mới hiểu rồi chị rỉ tai từng bà. Lúc đó họ mới cười rũ ra, vừa cười vừa la ‘ Dơ dáy! Quỷ! Quỷ!’

Đợi cho phe liền bà hết cười rồi anh H.O. mới nói tiếp: Rằng cụ ông cụ bà chúc nhau mới bằng lời thôi. Lời chúc mới chỉ là một ước mơ. Để sự ước mơ trở thành sự thực thì phải có chất xúc tác. Chất ấy là thuốc xuân dược hải cẩu của làng ta sắp sản xuất, và món lẩu hải cẩu của chị Ba sắp làm. Bao giờ chúng ta bắt tay hành động để trở thành tỷ phú đây, thưa các bác?

Chà, câu hỏi này gay cấn, phải không cơ.

Trong khi làng còn suy nghĩ về phương cách khai thác hải cẩu, và nhân nghe câu chuyện lời chúc của hai cu cao niên, tôi chợt nhớ tới một chuyện tiếu lâm vừa đọc trên máy điện toán. Nó cũng có hơi hưóm của lời chúc trên đây. Rằng trong một cuộc thi hoa hậu giai đoạn chung kết, ban giám khảo hỏi một cô thí sinh:

- Theo cô, mẫu người chồng tương lai của cô phải như thế nào?

Cô này đáp ngay: Theo em, người chồng lý tưởng của em là phải có chỗ đứng và phải cứng …ở chỗ đó. Nghe xong, khán thính giả trong hội trương đều đứng lên vỗ tay râm ran. Cô đã được toàn thể ban giám khảo cho điẻm tối cao và đoạt giải hoa khôi.

Phe liền ông trong làng chúng tôi lại một lần nữa cười bò lăn bò càng. Không ngờ câu chuyện đầu năm mèo của tôi được làng thích làm vậy. các cụ có thích không cơ? Mà tôi chưa nói hết. Câu trả lời của cô thí sinh hoa hậu cũng lại là một vế câu đối nữa cơ đấy. Cô nói ‘ Anh phải có chỗ đứng và phải cứng chỗ đó’ là vế một, là phần thách đối. Chưa có lời đối lại. Vậy xin các cụ bốn phương đối lại nha. Cụ nào đối hay nhất sẽ được làng tôi tặng một tễ xuân dược hải cẩu Canada.

Cụ B.95 để cho làng cười thoải mái rồi mới nóí: Các bác nóí chuyện mùa xuân nhiều chất hải cẩu qúa, đủ ngấy rồi. Anh John đâu xin anh kể chuyện Canada đi, chuyên nào không mặn và không có mùi hải cẩu nha.

Anh John bèn vâng lời. Anh đáp: Xin cụ an tâm, cháu biết khẩu vị của cu mà. Cháu xin kể một chuyện liên quan tới cái vĩ đại của nước Canada thân yêu này.

Rằng có một du khách Âu Châu tới thăm Hoa Kỳ và Canada lần đầu. Anh ta đến Hoa Kỳ trước. Anh ta đi viếng một nhà thờ ở Boston. Anh thấy gần bàn thờ có để một cái điện thoại bằng vàng và mẩu giấy ghi giá tiền mỗi lần gọi là 10.000 mỹ kim. Anh thắc mắc tại sao giá mắc như vậy, anh bèn đi hỏi cha sở. Cha trả lời ngay: Đây là điện thoại gọi lên thiên đàng, nói chuyện trực tiếp với Chúa, nên mắc tiền như vậy. Du khách này lần đầu tiên trong đời nghe sự lạ nên không dám hỏi gì thêm. Rồi anh đi Los Angeles. Anh vào thăm nhà thờ chính toà, anh cũng thấy cái điện thoại bằng vàng và hàng chữ ghi giá 10.000 mỹ kim. Lần này anh không tìm cha sở mà tìm một bà sơ phụ trách lớp học gần đó. Anh cũng hỏi về giá tiền điện thoại. Bà sơ cũng trả lời y như ông cha sở ở Boston. Anh du khách này rất sửng sốt về việc này nhưng không phát biểu gì cả. Rồi anh đến thăm thủ đô DC. Anh viếng nhà thờ thủ đô. Anh cũng thấy cái điện thoại vàng ở gần bàn thờ và cũng giá tiền 10.000 mỹ kim. Anh hỏi một giáo dân đang qùy cầu nguyện và ông này cũng được trả lời y như vậy.

Rồi anh sang du lịch Canada. Nơi đến đầu tiên là thủ phủ Toronto. Anh đến ngay nhà thờ chính tòa St. Michael. Anh cũng thấy một máy điện thoại gần bàn thờ và mẩu giấy ghi giá tiền. Cho chắc chắn, anh đeo kính vào hẳn hoi. Anh thật vô cùng sửng sốt khi thấy giá tiền cho mỗi lần gọi là 50 xu. Anh giữ mối ngạc nhiên này trong lòng rồi âm thầm đi Montreal. Anh đến nhà thờ Oratoire St.Joseph là nơi Thày André mới được phong hiển thánh. Ngay dưới chân bàn thờ này cũng có một máy điện thoại bằng vàng và lời ghi giá cũng là 50 xu. Anh ngạc nhiên và thắc mắc vô cùng nhưng cố giữ kín việc này trong lòng. Rồi anh đi thủ đô Ottawa. Anh đến ngay nhà thờ thủ đô, cũng thấy một máy điện thoại vàng với hàng chữ cũng giá 50 xu mỗi lần gọi. Bây giờ thì anh không thể giữ kín trong lòng nỗi thắc mắc của anh, anh tìm gặp cha sở và đặt câu hỏi: Tại sao bên Hoa Kỳ gọi điện thoại ở bàn thờ thì giá 10.000 đồng, còn ở Canada cũng gọi như thế mà giá chỉ có 50 xu. Ông cha sở nhìn anh rất ấu yếm rồi nói: Con ơi, bên Hoa Kỳ, gọi từ Hoa Kỳ lên thiên đàng là gọi viễn liên, vì xa lắm nên mới đắt như thế, còn Canada này với thiên đàng thì gần xịt à, đây là đường giây địa phương, giây local, con hiểu chưa?

Phe các bà nghe xong câu chuyện thì khen hay qúa, tả Canada đúng qúa.

Anh John giải thích: Canada đúng là thiên đàng hay cận kề thiên đàng. Chết xong ta chỉ đi vài bước là tới cửa thiên đàng.

Trên đây là chuyện cười, chứ các chuyện thật mang ý nghĩa ca ngợi Canada như thế thì nhiều lắm. Chẳng hạn ngay đầu năm nay, ngày 4.1.2011, báo Washington Times bên Mỹ đã viết một bài ca ngợi Canada hết lời. Bài này do ký giả nổi tiếng Jim Bacon viết. Ông bảo không phải nhìn đâu xa, cứ nhìn vào hệ thống ngân hàng, thị trường đia ốc, quy chế thuế má của Canada là đủ rõ. Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cũng đã hết lời ca ngợi. Bà Jane Moffat, giám đốc điều hành Hội Đồng các kinh tế gia Hoa Kỳ và Canada cũng đồng ý như vậy. Bà cho biết càng ngày càng nhiều người Mỹ ước mơ có một đất nước như Canada, đặc biệt bà nhấn mạnh: Hệ thống ngân hàng Canada là một bài học người Mỹ cần lưu tâm.

Phe các bà xin anh John cho nghe thêm một chuyện nữa, đại loại như vậy. Anh John được phe các bà khen và chị Ba chớp mắt gật gù thì thích qúa sức. Anh xin kể tiếp một chuyện nữa. Rằng có một anh Mỹ sang Pháp du lịch. Bữa đó anh đang ăn sáng trong một nhà hàng ở Paris thì có một anh Pháp đến ngồi ở bàn bên cạnh. Anh Tây này miệng nhai kẹo cao su lép bép. Anh Mỹ tiếp tục ăn sáng, còn anh Tây thì tìm cách bắt chuyện. Anh Tây chỉ vào ổ bánh mì rồi hỏi:

- Người Mỹ các anh có ăn hết cả ổ bánh mì không?

- Hết chứ, dĩ nhiên rồi

- Bên Pháp này thì không. Chúng tôi chỉ ăn ruột bánh mì còn vỏ bánh mì thì gom lại rồi chế biến ra bánh croissant và xuất cảng sang các nước khác.

Anh Tây nói xong thì phá ra cười, giọng đầy khoái trá. Rồi anh ta lại hỏi tiếp:

- Người Mỹ các anh ăn bánh mì với mứt à?

- Dĩ nhiên rồi

Anh Tây thổi kẹo cao su thành bong bóng rồi cho nổ tung, đoạn nói:

- Người Pháp chúng tôi thì không. Chúng tôi chỉ ăn trái cây tươi cho bữa sáng, rồi gom vỏ, hột trái cây vào thùng, rồi chế biến thành mứt rồi xuất cảng sang các nước khác.

Người Mỹ ngồi yên lặng lắng tai nghe, sau đó thì hỏi anh Tây:

- Ở bên Pháp này người ta có làm tình không?

- Có chứ. Sao anh lại hỏi vậy?

- Vì tôi muốn biết là sau khi làm tình thì người Pháp làm gì với bao cao su condom?

- Chúng tôi vất đi

- Bên Mỹ chúng tôi không vất đi bao giờ. Chúng tôi gom các bao cao su lại, rồi chế biến ra kẹo cao su, và xuất cảng sang Pháp.

Anh John kể đến đây xong thì tuyên bố hết chuyện. Ai cũng khen câu chuyện hay, còn Chị Ba Biên Hòa thì góp ý: Hay thì có hay nhưng ý chuyện đã xúc phạm tới người Pháp!

Ông ODP gật gù khen câu chuyện không có vị hải cẩu, không có vị mặn mà hay thấm thía. Chắc gốc câu chuyện này là ở Mỹ. Xưa nay Mỹ và Pháp có ưa nhau bao giờ!

Cụ B,95 cũng gật gù khen hai câu chuyện của anh John hay. Cụ đòi thêm. Cụ bảo hôm nay anh John toàn nói chuyện quốc tế, từ chuyện Canada, sang tới Hoa Kỳ rồi tới Pháp. Anh còn chuyện nào đi xa hơn một chút nữa không?

Cái anh John này thật là giỏi và ứng đối tuyệt không chịu được. Anh xin kể câu chuyện bên Úc Châu. Chuyện này có thật vì vừa mới xảy ra. Đó là câu chuyện Đại Tướng Peter Cosgrove của quân đội Úc mới trả lời một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh quốc gia ABC, về việc ông tiếp đón đoàn thiếu niên Hướng Đạo Sinh đến viếng thăm một doanh trại. Rất nhiều báo chí nói tới cuộc phỏng vấn này. Người phỏng vấn là một cô phóng viên. Cô hỏi:

- Xin Đại Tướng cho biết khi các em Hướng Đạo này tới thăm trại thì Đại Tướng sẽ chỉ bảo cho các em những điều gì?

- Chúng tôi sẽ dạy các em cách trèo cao, cách chèo thuyền, cách bắn cung và cách bắn súng.

- Đại Tướng dạy các em cả cách bắn súng nữa sao? Như vậy có vẻ như quân đội vô trách nhiệm!

- Tại sao vô trách nhiệm? Chúng tôi sẽ chỉ bảo và giám sát các em rất cẩn thận trên sân bắn mà.

- Đại Tướng không thấy như vậy là một hành động rất nguy hiểm sao?

- Không nguy hiểm vì chúng tôi chỉ dẫn rất cẩn thận trước khi các em động tới khẩu súng.

- Nhưng như vậy là Đại Tướng đang chỉ bảo cho các em trở thành những kẻ giết người tàn ác.

Câu này của cô phóng viên đã làm đại tướng Úc nổi giận. Ông đáp ngay:

- Thưa cô, nếu nói theo lập luận của cô thì tôi cũng có thể nói cô cũng có đủ đồ nghề trở thành gái điếm mà cô đâu có phải là gái điếm.

Cuộc phỏng vấn tự nhiên im lặng trong 45 giây, rồi chuyển sang mục khác.

Cụ B.95 nghe xong thì cười sung sướng. Cụ bảo: Xin lỗi Chị Ba nha, anh John chồng chị đúng là thần tượng của tôi!

Ông ODP đáp ứng: anh ấy cũng là thần tượng của phe liền ông chúng tôi nữa đấy. Người đâu mà giỏi lạ lùng. Khen anh John xong thì ông chuyển sang chuyện khác: Nhân nghe cái câu thách đối trên đây, câu ‘cứng chỗ đó’ ấy mà, tôi chợt nhớ ra vài câu đối khác, xin cho phép tôi trình làng. Câu đối đầu tiên tôi thấy trên báo điện tử SINA bên Tàu dịp tết vừa qua. Đôi câu đối bằng tiếng Anh, như thế này:

- Eat Well, Sleep Well, Have Fun Day by Day

- Study Hard, Work Hard, Make Money, More and More

Đọc xong tôi thấy cũng hay hay, vì chữ và ý thì được cả, nhưng còn thiếu mặt bằng trắc, thua tiếng VN. Câu đối tiếng Việt của ta mới là hay tuyệt diệu, vì vừa phải đối ý, đối lời, vừa phải đối cả âm nữa. Tiếng Việt Nam ta hay hơn tiếng Tàu là vậy. Nhân mùa Tết còn lai rai, xin cho lão trình bầy một câu đối mới xuất hiện:

Cô giáo Thường nằm trên giường, ngửa cái bình thường lên trên

Thày giáo Trọng ngồi ở chõng, đút cái quan trọng xuống dưới

Cả làng vỗ tay khen hay. Ông ODP được hứng, kể tiếp. Rằng tôi cũng vừa nhận được từ bạn bè hai câu dáng như câu đối mà không phải câu đối. Đây là hai câu nói lịch sử và có thật, chữ thì xo le, ý tưởng không đối nhau nhưng ăn khớp, ghép chung lại nghe hay quá chừng. Đây là hai câu nổi tiếng, câu trước của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, câu sau của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Thời gian hai câu nói khác nhau, nhưng ghép lại thấy đúng lạ kỳ:

- Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gỉ Cộng Sản làm

- Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi

Biết rằng phe các bà có thể kêu nhức đầu, ông ODP kể tiếp ngay. Rằng ông cũng vừa đọc được bốn câu thơ tả rất đúng và rất hay tâm trạng của đồng bào ta tại quê hương VN bây giờ:

Những người Đảng ghét dân yêu

Ngẫm ra không ít bậc siêu anh tài

Những người Đảng đến khoác vai

Xem ra phần lớn là loài bất nhân

Nghe xong bài thơ thì Chị Ba giơ tay. Chị bảo lúc nãy chồng chị mải kể chuyện cười quốc tế mà quên kể chuyện thời sự Việt Nam. Chị xin bổ túc cho chồng. Có một tin về tôn giáo khá cảm động đã xảy ra tại VN vào cuối năm 2010 vừa qua. Đó là tin Ni Sư Lương Thị Phụng của Chùa Quan Âm ở Bình Hưng, Bình Chánh, Saigon, đã gia nhập đạo Công Giáo khi Ni Sư bệnh nặng phải vào bệnh viện.Việc nhập đạo Công Giáo này chắc không phải đột nhiên. Nó đã phải nung nấu trong tâm can của Ni Sư từ lâu. Biết mình sắp ra đi nên Ni Sư đã tỏ rõ ý định. Lễ Nhập Đạo đã diễn ra tại nhà thương. Ni Sư mang tên Thánh Maria.Vì bệnh nặng vô phương cứu chữa nên Ni Sư xin được về lại chùa. Tại đây Ni sư đã nhắm mắt ra đi. Một thánh lễ an táng theo nghi lễ Công Giáo đã diễn ra tại chùa. Các ni cô Phật Giáo và các nữ tu Công Giáo đã nắm tay nhau cùng tụng niệm. Hai bên cùng cầu nguyện cho Ni Sư Maria sớm được về Cõi Vĩnh Hằng. Lễ an táng vô cùng cảm động. Nó đã đi vào lịch sử.

Kể đến đây, mắt chị Ba đỏ hoe.
Trà Lũ

Chuyện hai người con gái Việt Nam, Hạnh và Phượng

Chuyện của Hạnh

Vũ Đông Hà (danlambao) - Lúc ấy, Hạnh 24 tuổi, tuổi của Cô Giang khi vị anh thư đầy khí phách của ngày Yên Bái tự kết liễu đời mình vào một buổi sáng mờ sương bên gốc cây Đề của làng Thổ Tang…

Hạnh sinh vào ngày 13 tháng 3 năm 1985 tại Di Linh, Lâm Đồng. Lớn lên ở vùng núi đồi cao nguyên Hạnh là người con hiếu thảo, một người bạn được mọi người quý mến và một học sinh giỏi. Là người sinh ra và lớn lên trong môi trường XHCN, Hạnh cũng như nhiều bạn bè học sinh trung học khác bị che khuất bởi màn đêm bưng bít thông tin và tuyên truyền một chiều của đảng và nhà nước. Cho đến khi về Sài Gòn, trong khuôn viên Đại học, Hạnh mới tiếp cận những luồng thông tin khác nhau, nhận thức được thực trạng của đất nước và tình trạng quyền làm người.


Nhận thức dẫn đến hành động. Hạnh đã chọn cho mình một con đường sống: sống một đời sống có ý nghĩa. Hạnh tham gia các sinh hoạt xã hội, nhân đạo giúp đỡ người nghèo khó. Con đường Hạnh chọn không chỉ dừng lại ở việc làm giảm bớt khổ đau cho một số người mà phải góp phần thay đổi hiện trạng của đất nước để dân tộc có thể theo kịp khuynh hướng của thời đại và cất cánh toàn diện. Trên con đường ấy, cô gái sinh viên 19 tuổi đã tìm đến gặp gỡ những công dân Việt Nam khác không cùng suy nghĩ với cách cai trị và nắm quyền của đảng và nhà nước đương thời.

Một năm sau, vào những ngày lập xuân, khi người người chào đón mùa xuân mới, Hạnh nếm mùi vị tết tù đầu tiên của một công dân nước CHXHCNVN. Công an Hà Nội đã bắt giữ trái phép Hạnh trong nhiều ngày. Không một lý do chính đáng. Không một luật lệ nào cấm hay nêu rõ Hạnh không được phép gặp công dân A hoặc công dân B của nước CHXHCNVN. Chỉ tùy tiện bắt giam, thẩm vấn, tra hỏi và sau đó giam lỏng theo cái gọi là áp giải về địa phương để địa phương quản lý.

Mùa xuân ấy là mùa xuân năm 2005. Hạnh – Đỗ Thị Minh Hạnh vừa tròn 20 tuổi.

Suốt chiều dài hơn 4000 năm, lịch sử VN thấp thoáng những anh thư mà câu chuyện của họ theo năm tháng đã trở thành những huyền thoại. Nhưng có lẽ nếu chứng kiến được từng ngày họ sống như thế nào chắc hẳn họ cũng bình dị như bao người. Hạnh cũng thế. Những ngày bị CA của đảng tròng một sợi dây thòng lọng vào cổ, Hạnh chăm sóc gia đình như một con người con hiếu thảo. Khi sợi dây thòng lọng được nới rộng một chút, Hạnh về lại Sài Gòn để vừa đi học, vừa đi làm và… vừa giúp dân oan.

Dân Oan! Dưới thiên đường XHCN, nước Việt Nam có nhiều từ mới, đa dạng phong phú cũng có và tầm bậy cũng có. Nhưng không cụm từ nào oái ăm bằng Dân Oan khi nó được ra đời tại một đất nước mà khẩu hiệu đại trà là Nhân Dân Làm Chủ. Nó làm cho các “chiến sỹ” Công an Nhân dân phải léo lưỡi, ngọng miệng, ngượng nghịu khi lỡ mồm gọi nhân dân là Dân Oan. Những người dân oan khiên bị tập đoàn cán-bộ-đầy-tớ cấu kết với nhau để tiến hành đại chính sách lẫn đại kế hoạch ăn cướp với tên gọi mỹ miều “Giải Phóng Mặt Bằng”. Họ đã tiếp tục sự nghiệp giải phóng và lần này đối tượng của dòng thác cách mạng là quần chúng nhân dân, mục tiêu của công cuộc đấu tranh là làm giàu, thành quả vinh quang là hình thành một thành phần mới trong xã hội: Dân Oan.

Hạnh đã đến, đứng vào hàng ngũ và sánh vai chiến đấu với những người Dân Oan Việt Nam trong lúc sợi dây thòng lọng của đảng quang vinh và vĩ đại vẫn lơ lững trên đầu. Đây cũng là thời khoảng Hạnh gặp Nguyễn Hoàng Quốc Hùng.

Cách đây hơn 80 năm, giữa những dòng nhạc của bản đại hùng ca Yên Bái, xen lẫn giữa tiếng thét Việt Nam Muôn Năm của những anh hùng Việt Nam Quốc Dân Đảng trước khi bị máy chém cắt ngang đầu, người ta rướm lệ bởi chuyện tình của Nguyễn Thái Học với một thiếu nữ phi thường của Việt Nam ở thế kỷ 20 – anh thư Nguyễn Thị Giang. Cô Giang gặp Nguyễn Thái Học vào lứa tuổi đôi mươi. Họ thề nguyện với nhau ở đền Hùng, nắm tay nhau hẹn ước cùng hiến dâng đời mình cho tổ quốc. Ngày Nguyễn Thái Học không thành công cũng thành nhân, Nguyễn Thị Giang lặng lẽ nhìn chồng lên máy chém, trở về quê quán quấn khăn tang và tự kết liễu đời mình bằng khẩu súng lục mà Nguyễn Thái Học đã tặng ở đền Hùng năm xưa.

Hơn 80 năm sau, những người con, người cháu của Cô Giang và Nguyễn Thái Học lại gặp nhau ở chốn này. Chung quanh họ là những người cùng khổ thời đại mới. Cuộc tình của Hạnh và Hùng được tưới xanh bằng lòng yêu nước và niềm thương cảm đối với những người dân khốn cùng. Hai sinh viên đại học đã nắm tay nhau đồng hành trên con đường hỗ trợ Dân Oan và bảo vệ những người công nhân lao động. Họ đã phải đi ngược thời gian đến gần 70 năm để hát lại bài ca mà nhiều thế hệ cha anh đã cất lời: vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian. Bài hát đó ngày hôm nay đã trở thành một lời nguyền ngược ngạo, cay đắng. Những kẻ cầm cờ lôi kéo lũ nô lệ ngày xưa giờ đã chết hoặc già nua. Còn lại là một tập đoàn ăn bám hào quang (dày công thêu dệt) của quá khứ, vẫn tự xưng là đại diện của tầng lớp nhân dân mà chính họ đã biến thành nô lệ. Thực dân trắng cuốn gói. Thực dân đỏ lên ngôi. Nô lệ vẫn còn đó. Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian… Hạnh đã cùng với Hùng lên đường, phẫn nộ nhưng không hận thù, hiền hòa nhưng dũng cảm, chông gai nhưng không khiếp nhược, thất bại nhưng không sờn lòng.

Tháng 1 năm 2010 Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng cùng với Đoàn Huy Chương và những người bạn cùng chí hướng về Trà Vinh để hỗ trợ cho các công nhân nhà máy Mỹ Phong. Trong các ngày từ 29/1 đến 1/2 năm 2010, hàng vạn công nhân nhà máy Mỹ Phong – Trà Vinh đã đồng loạt đình công sau khi một số công nhân nữ bị xúc phạm nhân phẩm và bị bóc lột nặng nề. Sau đó, các cuộc đình công khác tiếp tục nổ ra trên khắp các tỉnh thành, kéo dài 7 ngày liên tục.

Gần 2 tháng sau, tập đoàn “đại diện cho giai cấp công nhân” ra lệnh Công an còn đảng còn mình bắt giam Hạnh và Hùng sau khi đã bắt giam Đoàn Huy Chương. Nguyễn Hoàng Quốc Hùng bị đánh đập gẫy sống mũi, tra tấn tại một nhà giam bí mật tại Sài Gòn. Sau 7 ngày bị tra tấn, khi Hùng vẫn kiên cường không khai bất cứ điều gì, công an áp giải anh về trại giam B14 – Nguyễn Văn Cừ. Đỗ Thị Minh Hạnh cũng bị đánh đập, bỏ đói và tra khảo.

Ngày 26 tháng 10 năm 2010 trong một phiên toà vội vã, không luật sư, không nhân chứng, toà án tỉnh Trà Vinh của đảng CSVN chớp nhoáng tuyên án xử tội những thanh niên thiếu nữ đã đứng lên vì quyền lợi của Dân Oan – những người là chủ của đất nước và Công Nhân – giai cấp tiên phong của đảng. Hạnh 7 năm tù. Hùng 9 năm tù. Chương 7 năm tù.

Trước vành móng ngựa của các quan tòa thực dân đỏ cộng với đám công an ldày đặc, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương đã tự làm luật sư bào chữa chính mình, hiên ngang bày tỏ khí phách can trường của những công dân yêu nước và nắm trong tay chính nghĩa dân tộc.

Tháng 10 năm 2010, lúc ấy Hạnh 24 tuổi; tuổi của Cô Giang khi vị anh thư đầy khí phách ấy tự kết liễu đời mình vào một buổi sáng mờ sương bên gốc cây Đề của làng Thổ Tang.




*


và chuyện của Phượng

Phượng sinh năm 1981. Phượng đi du học tại Thụy Sĩ, ra trường và tiếp tục học Thạc sỹ Quản trị tài chính tại Geneva, Thụy Sĩ. Ngoài thời gian học, Phượng đến thực tập tại tập đoàn Holcim. Ngay vừa mới tốt nghiệp xong, Phượng đã được tập đoàn này mời về Việt Nam làm Phó Giám đốc Tài chính cho công ty liên doanh Holcim Việt Nam.


Năm ấy, Phượng vừa tròn 25 tuổi, độ tuổi mà Đỗ Thị Minh Hạnh bị kết án 7 năm tù.

Công ty Holcim trước kia là công ty xi măng Sao mai ở tỉnh Kiên Giang vốn là quê quán của ba Phượng. Đây là một công ty của Thụy Sĩ đầu tư với một phần vốn nhà nước VN với nhãn hiệu Đầu trâu. Ba của Phượng có nhiều liên hệ mật thiết với công ty này và qua đó đã gửi gắm Phượng du học Thụy Sĩ, học ở đâu, làm sao tốt nghiệp… Có lúc ba của Phượng đã ép công ty Holcim phải ký hợp đồng mua bao bì tại công ty bao bì Hakipack.

Hiện nay Phượng là giám đốc đầu tư / chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Quản lý Quỹ Đầu Tư Bản Việt (Viet Capital Fund Management – VCFM), một công ty đầu tư với số vốn từ 500 – 800 tỉ đồng và có khả năng vận động vốn đầu tư ngoại quốc 100 triệu USD nhờ những quan hệ của Phượng – người đi gom tiền.

Phượng trở thành đảng viên đảng CSVN khi còn là học sinh, là một người phục sức sành điệu với quan niệm sống: học cho bản thân mình và “tôi muốn Phượng của ngày mai, của năm sau phải thật sự khác Phượng của ngày hôm nay”. Điều này được thể hiện qua “resume” của Phượng:

18 tuổi vào đại học.

4 năm ở trường Đại học Kinh tế Quốc Dân.

22 tuổi đi học tại Thụy Sĩ 3 năm.

Từ 25 tuổi đến 28 tuổi, trong vòng 3 năm Phượng là:

– Phó giám đốc tài chính của Holcim VN

– Giám đốc đầu tư của Vietnam Holding Asset Management

– Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị công ty quản lý quỹ đầu tư Bản Việt (Viet Capital Fund Management -VCFM)

Phượng không cần phải bắt đầu từ một vị trí thấp nào của bất kỳ công ty nào. Phượng ngay từ đầu đã khác với muôn người và mỗi năm sau của Phượng đều thật sự khác với năm trước.

Trên con đường thênh thang của chủ nghĩa tư bản, Phượng trở thành người bạn đời đồng hành với Nguyễn Bảo Hoàng, Tổng Giám đốc Quỹ đầu tư IDG Ventures tại Việt Nam. Hoàng là con trai của ông Nguyễn Bang, là một thứ trưởng trong chính quyền VNCH.

Chuyện của Phượng không có gì hồi hộp, gay cấn. Chuyện của Phượng cũng rất riêng, không có bóng dáng người Dân Oan, hay Công Nhân buồn bã nào. Cũng không có nhiều điều để kể ngoài những chức vụ và con số đô la hàng trăm triệu.

Phượng là Nguyễn Thanh Phượng. Ba của Phượng là Nguyễn Tấn Dũng, thành viên BCT, ủy viên Trung Ương Đảng CSVN – đảng đại diện cho giai cấp vô sản và công nhân. Ngày Hạnh vào tù là ngày ba Phượng nâng ly Champagne chúc mừng con gái cưng về thành công của một mối đầu tư bạc tỷ mới.

CÓ MỘT BÀ TÊN HUYEN (HUYỆN) HỌ QUAN LÓT CHỮ THANH


Mảng văn học cổ của Việt Nam (VN) là một phần quan trọng của nền văn học và văn hóa VN nói chung; nó góp phần tạo nên sự tự hào trong mỗi người VN chúng ta về truyển thống văn hóa rực rỡ của dân tộc. Có lẽ mọi người VN, dù ở đâu, đều dễ dàng đồng thuận với việc giới thiệu văn học cổ VN hòa nhập với nền văn học thế giới. Đó là chuyện quan trọng và cần thiết. Nhưng việc giới thiệu không phải chỉ cần có người am hiểu ngoại ngữ là đủ. Dù rất thông thạo ngoại ngữ nhưng nếu dịch giả không có một sự "quen biết" tối thiểu về văn học và không lãnh hội được hoặc hiểu sai lạc nội dung các tác phẩm của tiền nhân thì sự giới thiệu sẽ không những không mang lại hiệu quả mong muốn mà còn gây hậu quả bôi bác rất tai hại đối với các di sản tinh thần của cha ông ta, biến các tác phẩm của cha ông ta thành những thứ xoàng xĩnh vô bổ, thậm chí một thứ trò cười dưới mắt độc giả trí thức từ các nền văn hóa khác. Chuyện đó đã xảy ra và không phải là một hai trường hợp cá biệt.

Bài viết dưới đây nêu ra một trong những trường hợp như thế. Chỉ với mong muốn đánh động để những người có trách nhiệm thận trọng hơn với công việc quan trọng họ đang thực hiện, chớ không nhằm gây tổn thương hay tổn thất (nếu có) cho một cá nhân nào, nên người viết sẽ không nêu tên dịch giả và nguồn xuất xứ của bản dịch thiếu chính xác đề cập trong bài. Tuy nhiên, đối với quý vị làm công tác về văn học có liên quan cần có các chi tiết cụ thể làm cơ sở chứng liệu để có thể tìm đến nguyên thể bản dịch nhằm xác định, đối chiếu văn bản và tìm hiểu thêm vì mục đích nghiên cứu, xin vui lòng liên hệ với người viết qua địa chỉ email: thieukhanh@gmail.com.

Trận trọng.

***

Nguyễn Thị Hinh là tên một nữ sĩ Việt Nam nổi tiếng sống vào khoảng đầu thế kỷ 19 mà văn học sử thường đề cập đến với tên Bà Huyện Thanh Quan. Sở dĩ được gọi như thế vì đương thời bà là vợ của một vị quan tri huyện tại Huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Ninh, tỉnh Thái Bình) (1) mà thời đó người ta tránh gọi tên húy của những nhân vật có địa vị trong xã hội.

Số tác phẩm thơ văn của bà Huyện Thanh Quan để lại chỉ còn được khoảng tám hay chín bài thơ thất ngôn Đường luật, trong đó có bài Thăng Long Thành Hoài Cổ:

Thăng Long Thành Hoài Cổ

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Bài thơ này được dịch ra tiếng Anh để giới thiệu với vãn học thế giới, đãng trong một tập san kỷ niệm 1000 nãm Thãng Long - Hà Nội.

Đây là bản dịch tiếng Anh đó:

CONSIDERING THE ANCIENT CITY OF HANOI

By Mrs. Huyen Thanh Quan

One wonders why the Creator puts on such a show.
So much time has gone by since the City began -

carriages once rolled where now there is autumn grass

The setting sun casts shadows on old palace floors

and old stone walls lie upon under the moon.

The country frowns at such scene of modern squalor -

a thousand years lie on the face of the old mirror.

The people here have always had to endure misery.

Trước hết không hiểu sao dịch giả không muốn dịch tựa đề của bài thơ vốn rất quen thuộc đối với tất cả những ai đã từng có đọc thơ của bà huyện, mà tự ý đặt cho bài thơ dịch của mình một cái tên mới:

CONSIDERING THE ANCIENT CITY OF HANOI, có nghĩa là xem xét hay cân nhắc về thành cổ Hà Nội (!).

Còn tên tác giả thì được "dịch" sang tiếng Anh một cách rất... ngộ nghĩnh: Mrs. Huyen Thanh Quan. Tức là một bà họ Huyen (Huyện) tên Quan, lót chữ Thanh ở giữa. Hoặc hiểu theo lối tên trước họ sau của người Anh Mỹ thì bà ấy có tên là Huyen (Huyện), họ Quan, chữ lót cũng là Thanh.

Nhìn vào hình thức của bài dịch có thể thấy dịch giả hoàn toàn không hiểu cấu trúc của một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Các chữ đầu các câu thứ ba, thứ nãm và thứ bảy trong bài dịch không viết hoa, như thể các câu ấy được dứt ra hoặc nối tiếp từ các câu chẳn thứ hai, thứ tư và thứ sáu ở trên chúng, trong khi một bài thơ thất ngôn bát cú gồm bốn phần, mỗi phần hai câu riêng biệt: hai câu đầu là phá đềthừa đề, hai câu ba và bốn là cặp câu thực; câu nãm và sáu là cặp câu luận, và hai câu cuối là cặp câu kết thúc. Như thế các câu thứ ba, thứ nãm, và thứ bảy phải mở ra một ý mới chớ không tiếp nối từ các câu chẳn ở trên chúng.

Nhưng điều kỳ lạ hơn hết là dịch giả không hiểu chút gì trong nội dung bài thơ Đường luật "tám câu nãm vần" rất nổi tiếng này của bà Huyện Thanh Quan. Dịch và giới thiệu ra văn học thế giới một tác phẩm của cổ nhân mà người dịch không có chút hiểu biết mảy may nào cả về hình thức lẫn nội dung của nó là một chuyện thật hiếm có.

Nói dịch giả không hiểu chút gì bài thơ Thăng Long Thành Hoài Cổ của bà Huyện Thanh Quan không phải là nói ngoa hay cường điệu. Ngay từ cái tựa ðề bài dịch mang nghĩa Xem xét Thành cổ Hà Nội người dịch đã tỏ ra không hiểu gì về tâm tình hoài cổ của tác giả đứng trước những cảnh phế hưng ở nơi vốn là kinh đô lâu đời của đất nước. Người dịch đã tự ý loại bỏ tâm tình hoài cổ của tác giả, mà đó vốn là trọng tâm của bài thơ, và biến Thăng Long thành Hà Nội một cách vô lối. Sao phải làm vậy? Không hiểu "hoài cổ" nghĩa là gì chăng?

Sau khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La vào năm 1010 và đổi tên Đại La thành Thăng Long Thành, Thăng Long trở thành kinh đô của nước Đại Việt từ đó. Nhưng đến khoảng cuối thế kỷ 18, khi Lê Chiêu Thống bỏ kinh đô chạy theo giặc để mưu "cõng rắn cắn gà nhà" một cách nhục nhã thì Thăng Long bắt đầu đánh mất vai trò chính trị quan trọng của nó theo với sự chấm dứt của triều Lê. Nguyễn Huệ, dù với tước Bắc Bình Vương, nhưng khi lên ngôi hoàng đế thì hoàng đế Quang Trung không đặt kinh đô ở Thăng Long (như được hoàng-đế-anh Thái Đức phong cho ở phía Bắc) mà vẫn đóng đô ở Phú Xuân (Huế), đồng thời cho xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An để làm kinh đô mới. Từ đây Thăng Long chính thức không còn là kinh đô của đất nước nữa. Vua Gia Long lên ngôi, tiếp tục đóng đô ở Huế, đổi Thăng-Long-thành thành Bắc Thành, và đặt quan Tổng trấn cai trị, đồng thời đổi cách viết chữ Long để Thăng Long không còn nghĩa Rồng bay lên, mà thành ra "vươn lên và phát triển". Thăng Long thực sự mất "rồng". Đến năm 1831 vua Minh Mạng đổi tên Thăng Long Bắc thành thành tỉnh Hà Nội. Tên Hà Nội này tồn tại đến nay. Chúng ta không rõ bà Huyện Thanh Quan sinh và mất năm nào, cũng như không biết thời gian ra đời chính xác của bài thơ "Thăng Long thành hoài cổ", nhưng chúng ta biết tác giả từng được vua Minh Mạng mời vào triều giữ chức Cung Trung Giáo tập để dạy lễ nghi cho cung nữ. Như thế nhà thơ sống đồng thời với vua Minh Mạng và biết rõ tất cả những biến đổi trong "thân phận" của thành Thăng Long.

Hai câu phá và thừa đề của bài thơ:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
chính là tác giả đề cập đến những đổi thay đã xảy ra cho "số phận" của kinh thành này mà tác giả ví như những màn tuồng hát biến diễn trên sân khấu. Khi được dịch thành:

One wonders why the Creator puts on such a show.
(Người ta không biết tại sao tạo hóa dựng lên một vở diễn như thế này)

thì rõ ràng dịch giả không hiểu tâm tình của nhà thơ: cuộc hý trường mang nghĩa biến đổi rộng lớn hơn such a show - chỉ là một "sô diễn", cho nên puts on such a show là không chính xác - (kể cả việc dùng động từ put ở thì hiện tại, thay vì dùng present perfect thì phải hơn). Sự không hiểu của dịch giả càng rõ hơn với câu dịch thứ nhì:

So much time has gone by since the City began -
(Đã qua nhiều thời gian kể từ khi thành phố này bắt đầu)

Câu thơ nguyên tác Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương - "Tinh sương" là khoảng thời gian mới chuyển từ đêm sang ngày (còn nhìn thấy sao và còn mù sương)". (Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học ấn bản 1992) Vậy tinh sương là cách để nói một ngày. Thấm thoắt mấy tinh sương - mới đó mà đã trải qua nhiều thời gian rồi.

Nhưng cái gì thấm thoắt mấy tinh sương ? Đó không phải là cái thành Hà Nội - không phải "đã qua nhiều thời gian từ khi thành phố này bắt đầu".

"Thăng Long thành" đề cập trong bài thơ là khu vực hoàng thành (citadel), chớ không phải toàn bộ tỉnh thành Hà Nội (mà dịch giả gọi là City). Về mặt thành quách, thì thành Thăng Long đời Lý hay đời Nguyễn khi bà huyện Thanh Quan làm thơ nó vẫn thế thôi. Nó có thể được tu sửa, mở rộng ra hay xây cao lên tùy theo yêu cầu của mỗi thời. Điều đó không có giø đáng nói hay đáng gợi lòng hoài cổ cả. Cái đáng làm cho nhà thơ - hay bất cứ ai - bâng khuâng hoài cổ chính là sự thay đổi ý nghĩa, tư thế hay vai trò chính trị của thành Thăng Long qua những biến cố phế hưng của lịch sử như nói trên. Từ vị thế kinh đô "Rồng bay lên" của cả nước, giờ đây Thăng Long chỉ còn là một trấn thành "không còn rồng" hay một tỉnh thành bình thường do một quan tổng trấn - về sau là quan Kinh lược - cai quản. Cảnh huy hoàng rực rỡ xe ngựa vua quan ngày xưa không còn nữa, thay bằng những sinh hoạt bình thường của một tỉnh thành bình thường. Những thay đổi đó khiến nhà thơ liên tưởng cảnh tuồng diễn biến trên sân khấu rạp hát (hý trường). Và nhà thơ nhận thấy cảnh hý trường biến đổi đó "thấm thoắt" đã "mấy tinh sương", chớ đâu phải "từ khi thành phố này bắt đầu" đến nay trải mấy tinh sương! Mà "thành phố này bắt đầu" (since the City began) là sao? Bắt đầu cái gì - began... what?

Hai câu thực trong bài thơ:

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,
được dịch một cách... thật thà đến ngộ nghĩnh:

carriages once rolled where now there is autumn grass
The setting sun casts shadows on old palace floors

Xe ngựa trong câu thơ không nhất thiết mang nghĩa đen là chiếc xe ngựa - thời đó vốn không có nhiều. Đó là phương tiện sang trọng biểu hiệu của quyền lực tối cao chỉ dành riêng cho vua chúa. Các quan toàn đi kiệu, hoặc cỡi ngựa. Cho nên Dấu xưa xe ngựa không nhất thiết mang nghĩa đen là nơi xe ngựa từng chạy qua (carriages once rolled), vốn không làm nổi rõ ý của tác giả. Nó chỉ có nghĩa là nơi sang trọng ngày xưa dập dìu võng lọng ngựa xe vua quan qua lại.

Hồn thu thảo không phải là cỏ mùa thu (autumn grass) như trong câu thơ dịch, tuy thu thảo có nghĩa đen là cỏ mùa thu. Mùa thu thì cây cỏ vàng úa trông ảm đạm buồn bả, nên hồn thu thảo chỉ có nghĩa là vẻ thê lương vàng vọt của cảnh vật, trái ngược với cảnh dập dìu xe ngựa ngày xưa. Nhà thơ nhìn cảnh vật thông qua tâm trạng cho nên dù tả cảnh thành cổ vào mùa xuân thì tác giả cũng chỉ nhìn thấy mọi vật mang hồn (của) thu thảo.

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

mà được dịch là

The setting sun casts shadows on old palace floors - Mặt trời lặn tỏa bóng vào các old palace floors là hoàn toàn không đúng.

Old palace floors không có nghĩa là "nền cũ lâu đài" mà là những tầng lầu của (một) cung điện cũ. Khi cung ðiện lâu đài không còn nữa, cái nền cũ hoang phế của nó là ground.

Tịch dương là mặt trời lúc sắp lặn. Nhưng bóng tịch dương trong câu thơ nguyên tác không mang cái nghĩa đen như trong câu thơ dịch, mà gợi không khí u buồn ảm đạm của cảnh vật nơi ngày trước là cung điện lâu đài lộng lẫy vàng son; đồng thời tác giả nhìn thấy quá khứ rực rỡ đang lụi tàn dần như bóng chiều sắp tắt.

Đến hai câu luận:

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
mà được dịch là

and old stone walls lie open under the moon.
The country frowns at such scene of modern squalor -

(và những bức tường thành bằng đá nằm phơi ra dưới trãng - Đất nước cau mặt với quang cảnh bẩn thỉu tồi tàn hiện đại)

thì người dịch đã hiểu sai lời và ý thơ ... "by a mile" (2). Đá được tác giả đề cập ở đây chỉ là... đá một cách chung chung (để đối với nước) thôi, chớ chẳng phải "những tường thành cũ bằng đá" (old stone walls) nào cả.

Tuế là năm hay tuổi. Bách tuế = trãm nãm hay trãm tuổi; "vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế" thường nghe trong các phim Tàu là "muôn năm, muôn nãm, muôn muôn nãm".

Nguyệt là tháng. Tuế nguyệt là năm tháng. Trơ gan cùng tuế nguyệt là trơ trơ ra đó thách thức với thời gian chớ, sao lại... nằm tênh hênh dưới trăng?

Nước là... nước, water - thứ chất lỏng gần gũi hàng ngày với chúng ta, chớ không phải là đất nước (country) như dịch giả hiểu lầm. Có lẽ rất khó hình dung đất nước (country) cau mặt như thế nào, nhưng nhìn thấy mặt nước (trên hồ hay trên sông chẳng hạn) gợn lăn tãn, tức thì người ta hiểu nhà thơ đã nhân cách hóa (personify) cái mặt nước kia, thấy nước như con người cau mặt vì đau đớn hay khó chịu trước những đổi thay lớn lao trong cuộc sống.

Tang thương, ai không biết đó là nói tắt câu "Thương hải biến vi tang điền" (Biển cả hóa thành ruộng dâu), chỉ sự biến đổi lớn lao. Mặt nước (hồ...) cau lại khó chịu với cái tang thương đó, chớ có gì là "cảnh nhếch nhác bẩn thỉu hiện đại" (such scene of modern squalor) đâu! Hồi đó chắc chắn là chưa có cảnh ô nhiễm như bây giờ. Và câu thơ cũng không hề nói gì dù gần hay xa về chuyện đó.

Với hai câu kết của bài thơ

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
được dịch giả dịch thành:

a thousand years lie on the face of the old mirror.
The people here have always had to endure misery.

(một ngàn năm nằm trên mặt tấm gương cũ / Nhân dân ở đây vẫn luôn phải chịu đựng sự lầm than khốn khó)

Đọc câu thơ nguyên tác ai cũng hiểu nhà thơ có ý nói nhìn cảnh vật thành Thăng Long hiện nay có thể thấy cả những biến đổi bể dâu trải qua thời gian dài từ trước đến nay như thể nhìn vào một tấm gương, chớ không có một "tấm gương cũ" (old mirror) cụ thể nào có một ngàn năm nằm trên mặt nó như dịch giả hiểu cả.

Trong câu thơ "Cảnh đấy người đây..." thì người đây chính là tác giả. Tác giả nhìn khung cảnh thành quách và liên hệ với những đổi thay đã diễn ra trên cảnh vật này mà bùi ngùi cảm thán, chớ có phải là nhân dân (people) nào đâu!

Đoạn trường nghĩa đen là đứt ruột, một cách diễn tả ước lệ sự đau lòng. Chính tác giả cảm thấy đau lòng trước cảnh biển dâu đã diễn ra trên thành Thăng Long thân yêu của bà, chớ chẳng phải "nhân dân ở đây luôn phải chịu cảnh lầm than khốn khó" (The people here have always had to endure misery) gì cả!

Bài thơ của bà Huyện Thanh Quan có tám câu, thì cả tám câu dịch giả đều hiểu không đúng và dịch ra tiếng Anh một cách hoàn toàn sai lạc. Có thì giờ và hứng thú dịch văn thơ chơi, thì muốn dịch thế nào tùy thích, có lẽ chẳng ai quan tâm làm gì chuyện mình dịch đúng hay sai; nhưng dịch để giới thiệu vãn học Việt Nam ra nước ngoài là một chuyện khác. Giới thiệu như thế thì oan cho bà Huyện Thanh Quan quá, và cũng tội nghiệp cho văn học Việt Nam nữa.

Vậy mà ở dưới bản dịch ấy - như với tất cả các bản dịch của dịch giả người Việt khác in trong tập san này - cũng có một dịch giả người Mỹ ký tên mình hiệu đính. Một sự xác nhận tai hại cho cả... bốn bên. Người dịch đã vậy, còn [những] người ký tên hiệu đính thì đã làm công việc hiệu đính đó như thế nào? How did they do that? Chuyện này có lẽ sẽ bàn riêng vào một dịp khác.

*

NOSTALGIA ON THĂNG LONG CITADEL
by the Lady of the Thanh Quan District Chief. (3)

English translation by Thiếu Khanh.

Why has the Creator staged such a drama here?
How much time has elapsed so far is unclear
Old splendid streets are now deserted gloomy ways
Those palaces and castles have seen their better days
Rocks and stones stubbornly challenge the time to stay
Water frowns at the great changes that display
It's like a mirror reflecting a thousand years in a vision
The sight has made me greatly heartbroken













__________________

(1) - Vị quan tri huyện này tên Lưu Nghi, có nơi ghi tên ông là Lưu Nguyên ÔN hay Lưu Nguyên Uẩn. Nguyên Ôn hay Nguyên Uẩn có lẽ là tên hiệu, kiểu như chí sĩ Phan San hiệu là Bội Châu, tự là Sào Nam, nên thường được gọi là Phan Bội Châu hay Phan Sào Nam

(2) - Rất xa

(3) - Bà Huyện Thanh Quan " không phải là tên riêng hay bút hiệu của nhà thơ nữ Nguyễn Thị Hinh mà chỉ là một từ được gọi thay tên, theo cách người xưa bày tỏ sự kính trọng, cho nên dịch ra tiếng nước ngoài để đọc giả người nước ngoài hiểu có lẽ là cần thiết. Trong phần tiểu sử các tác giả (tiếng Anh) in ở phần sau tập san đề cập trên đây danh hiệu "Bà Huyện Thanh Quan" được dịch là "the Thanh Quan District First Lady". Thiết nghĩ dịch như thế là không chính xác. "First Lady" là một từ đặc biệt chỉ riêng dùng cho phu nhân Tổng thống Mỹ hoặc phu nhân của thống đốc một tiểu bang của Hoa Kỳ (The first lady: the wife of the President of the US, or of the governor of a US state - Longman Dictionary of Comtemporary English).

Tuy nhiên, riêng chữ Lady là một từ vừa xưng hô lịch sự, vừa có nghĩa (informal) "phu nhân" (a man's wife). Trong khi chờ có một cách dịch chính thức và chính xác hơn, người viết tạm dịch danh hiệu mà người đời gọi bà Huyện Thanh Quan là The Lady of the Thanh Quan District Chief - với nghĩa "vợ của ông quan huyện (của) huyện Thanh Quan", theo cách gọi lịch sự vừa trân trọng.


Thiếu Khanh

ĐÁM TÒNG PHẠM VỚI TỘI ÁC CSVN: CẢN MŨI KỲ ĐÀ

ĐÁM TÒNG PHẠM VỚI TỘI ÁC CSVN: CẢN MŨI KỲ ĐÀ

CÁCH MẠNG QUẦN CHÚNG

Dưới chủ đề TRÁCH NHIỆM QUỐC NỘI DỨT BỎ CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH, chúng tôi đã viết được 10 Bài và sẽ còn viết tiếp nữa về cuộc NỔI DẬY của quần chúng. Từ năm 2006, trong khung cảnh Tiên trình Dân Chủ Hóa Việt Nam do những Trí thưc Dân chủ khởi xương, chúng tôi đã nhận định và xác tín rằng chỉ có quần chúng NỔI DẬY mới có thể dứt khoát lật đổ được Cơ Chế CSVN hiện hành và chúng tôi luôn nhấn mạnh rằng Trí thức Dân chủ phải đi với quần chúng nghèo mới có lực lượng nổi dậy.

Từ cuối năm 2010, việc tụt dốc Kinh tế VN và hố sâu Giầu—Nghèo mỗi ngày mỗi cách biệt thê thảm, chúng tôi thấy rằng quần chúng nghèo khổ, phải sống với BỤNG ĐÓI, là lực lượng chủ yếu đứng lên chấm dứt cái Cơ chế làm phát sinh lớp người Giầu nứt khố do Tham nhũng Lãng phí cướp bóc sức lao động của dân và khai thác tài sản quốc gia làm của riêng..

Chúng tôi khởi xướng viết về Chủ đề này trước khi có biến cố Cách Mạng Hoa Nhài từ Tunisie lan sang các nước khác Bắc Phi và Trung Đông. Điều đó có nghĩa là không phải vì Phong trào Bắc Phi và Trung Đông mà chúng ta bị ảnh hưởng tâm lý để nổi dậy tại Việt Nam. Việc quần chúng NỔI DẬY để chấm dứt Cơ chế CSVN là một ĐÒI HỎI phải làm vì tương lai phát triển đất nước. Trong số những Bài đã viết, chúng tôi có đề cập đến Cách Mạng Bắc Phi và Trung Đông như những kinh nghiệm mà chúng ta có thể áp dụng khi cuộc NỔI DẬY tại Việt Nam bùng nổ lên.

Ngay từ những Bài đầu, chúng tôi đã nói tại sao quần chúng phải nổi dậy, đòi hỏi của quần chúng rõ rệt gồm những gì và chỉ điểm đích danh kẻ thù mà quần chúng phải diệt trừ. Với Bài thứ 10 này, chúng tôi muốn nói đến những loại người sống giữa hàng ngũ của chúng ta, nhưng lén lút làm tay sai che chở cho kẻ thù của quần chúng. Loại người này là TÒNG PHẠM với kẻ thù mà quần chúng đã gọi đích danh để diệt trừ.


Nhắc lại Lý do đứng lên,
Mục đích đòi hỏi và
đích danh Kẻ thù của quần chúng

LÝ DO CƠ BẢN của từng cá nhân đứng lên là cái BỤNG ĐÓI của họ. Cái bụng họ đói không phải là do sự lười biếng không muốn làm việc để kiếm đủ miếng cơm nuôi sống thân xác mình, nhưng bụng đói vì có những người giữ quyền hành đã cướp lấy sức làm việc vất vả của dân chúng để làm của riêng cho mình và sống sung sướng trong giầu có hoang phí. Việc BỤNG ĐÓI kêu lên để mong có miếng ăn là bản năng của mọi sinh vật. Đứa trẻ sơ sinh, khi bụng đói, cũng khóc la lên để mẹ nó biết mà cho bú. Quần chúng nghèo, khi bụng đói bởi chính những kẻ cầm quyền bóc lột, cũng đứng lên đòi hỏi miếng ăn, đó là việc đấu tranh tự nhiên mà không ai có quyền đàn áp kết tội. Chỉ những kẻ tệ hơn súc vật mới đàn áp kết tội những người nghèo yêu cầu có miếng ăn.

Chính vì vậy, trong nhiều bài viết trước đây, chúng tôi tha thiết mong mỏi những vị Trí thức Dân chủ hãy tôn trọng cái lý do chính yếu NỔI DẬY của quần chúng đói nghèo, chứ đừng nhào vô tuyên bố trống rỗng rằng quần chúng đứng lên đấu tranh trong Lãnh vực Chính trị (Lutte Politique) đòi những ý niệm Tư do, Dân chủ, Nhân quyền để những tên CSVN kém súc vật kia ngụy biện đàn áp, kết án dân nghèo nhân danh Điều 88. Xin cũng hiểu biết cho rõ rằng ngay cả để có thể thực hiện cụ thể Tự do, Dân chủ, Nhân quyền, cũng cần phải có trước tiên những điều kiện Kinh tế khả dĩ. “Có thực mới vực được Đạo“ !

MỤC ĐÍCH ĐÒI HỎI cụ thể và tiên quyết của quần chúng nghèo đứng lên trên đây tất nhiên là Dạ Dầy của mỗi cá nhân phải có miếng ăn. Phải nhấn mạnh đến Mục Đích tiên quyết này. Như ở đoạn trên đã nói, quần chúng đói bụng không phải là do họ lười biếng không chịu làm việc, nhưng là do kẻ cầm quyền ăn cướp sức làm việc quần quật của họ. Họ phải chống lại sự bóc lột bất công này để bảo vệ cái kết quả của sức lao động.

Khi nói đến LÝ DO và MỤC ĐÍCH của quần chúng nghèo đứng lên như trên, chúng ta có thể chỉ đích danh KẺ THÙ của quần chúng. Đó là đảng CSVN chủ trương và vẫn còn “kiên định“ lấy Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế. Đó là cái Cơ Chế phát sinh ra và nuôi dưỡng THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ làm cho quần chúng nghèo kiết xác và đảng CSVN giầu nứt khố.

Chỉ đích danh KẺ THÙ như vậy, thì cuộc NỔI DẬY của quần chúng nghèo tất nhiên là phải DỨT BỎ hẳn cái Cơ chế CSVN.

Có một số Trí thức Dân chủ muốn biện luận về thái độ đấu tranh: Bạo Động hay Bất Bạo Động? Chúng tôi không cần dài dòng về vấn đề này, mà chỉ nói ngay rằng Quần chúng NỔI DẬY không bao giờ muốn BẠO ĐỘNG, nghĩa là họ đấu tranh Bất Bạo Động. Chỉ có những kẻ cầm quyền dùng BẠO ĐỘNG, lấy võ lực ĐÀN ÁP cái Bất Bạo Động của quần chúng. Nếu kẻ cầm quyền không dùng Bạo Động đàn áp, thì quần chúng luôn luôn Bất Bạo Động. Việc quần chúng lấy sức mà chống lại sức Bạo Động của kẻ cầm quyền, đó là quyền TỰ VỆ chính đáng của quần chúng. Con chó khi mà người ta dùng gậy gộc đuổi nó vào chân tường, thì nó cũng phản ứng cắn lại, đó là quyền TỰ VỆ của mọi sinh vật.


Loại người sống giữa chúng ta,
nhưng TÒNG PHẠM với KẺ THÙ
của quần chúng

CSVN, với Cơ chế Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế, là KẺ THÙ của quần chúng nghèo khổ. Chúng ta chỉ đích danh kẻ thù đó rồi. Nhưng có một loại người sống giữa chúng ta, ẩn náu ở đũng quần, vạt áo của chính chúng ta, nhưng lại là TÒNG PHẠM với TỘI ÁC mà Kẻ Thù CSVN đang gây cho quần chúng. Loại người này không vô tình, nhưng hoàn toàn hữu ý làm tay sai cho KẺ THÙ mà đánh bóng cái Cơ chế CSVN hiện hành để cản ngăn việc quần chúng NỔI DẬY. Đám Tòng phạm này còn nguy hiểm hơn Kẻ thù bởi lẽ chúng ẩn hiện tranh tối tranh sáng để làm hoang mang quần chúng. Chỉ vì một vài mẩu bánh rơi rụng CSVN thẩy xuống cho mà hớp như đàn chó đói mà đám TÒNG PHẠM này luồn trôn CSVN để bao che cho KẺ THÙ tiếp tục gây tội ác.

Không cần dài dòng, mà chỉ cần nêu ra những loại luồn trôn này đã tòng phạm với tội ác CSVN trong nhiều năm trường :

1) Một số Trí thức Chính trị ở nước ngoài

Lịch sử đã chứng minh rành rành rằng CSVN đã phản bội lòng thành của phía Quốc gia để thanh toán mọi đối lập. Một số Trí thức Chính trị biết rõ sự phản bội này, nhưng vẫn ngoác mõm hô hào Hòa Giải Hòa Hợp nhằm CSVN thẩy xuống cho mấy mẩu bánh rơi rụng để hớp giống như đàn chó đói.

2) Đám môi giới kiếm Tiền Hoa hồng

Đám này thuộc đủ loại: thất nghiệp, về hưu muốn có tiền hoa hồng hoặc lui tới đi về Việt Nam với gái. Đó là những lý do cá nhân khiến họ phải luồn trôn đánh bóng Cơ chế CSVN hiện hành. Xin đừng nghĩ Nguyễn Cao Kỳ thay đổi lập trường mà hãy nhìn một vài cái lợi nào đó về hoa hồng để tên này có chi phí lui tới Việt Nam. Cũng có những người vẫn chống Cộng, nhưng chỉ vì cái Visa mà họ phải câm miệng như hến.

Những quan chức ở Việt Nam bầy vẽ ra những Dự án để có dịp Tham nhũng. Một số Việt kiều thất nghiệp, về hưu hay ham gái, về Việt Nam khoe khang làm vương làm tướng bên này, biết nhiều nguồn Tài chánh, nhiều Cơ xưởng máy móc. Một bên muốn có Dự án để ăn bẩn, một bên khoe khoang để mong có tiền hoa hồng và lấy cớ về Việt Nam.

Dần dần, CSVN quy tụ những người này để lập những “Nhân vật yêu nước “, “Hội doanh nhân“ để tuyên truyền lừa bịp đồng bào quốc nội, đánh bóng cho Cơ chế tại nước ngoài.

Tôi xin đưa ra một tỉ dụ tại Thụy sĩ: Nguyễn Thành Trung được coi như nhà Tài chánh yêu nước, hợp tác với Cơ chế CSVN và được Sứ quán CSVN khen tặng. Tôi biết Nguyễn Thành Trung từ thời còn sinh viên. Học xong muộn màng và có dịp may làm việc trong một Ngân Hàng, nhưng bị sa thải sau hơn một năm. Sống thất nghiệp đến nỗi không có tiền trả góp tiền mua Nhà. Nhà bị lấy lại. Anh chỉ biết lui tới Tòa Lãnh sự CSVN, đưa đón những quan chức Cộng sản sang đây. Anh dẫn đi một số hãng xưởng để xem những máy cũ. Quan chức từ Việt Nam muốn ăn bẩn, lại ham mua máy móc cũ cho Dự án, nhưng tính tiền cao lên để mua và Nhà Nước phải trả. Đó là cách ăn bẩn khi mua máy “second hand“. Khi đọc trong danh sách Hội doanh nhân yêu nước và được khen thưởng, tôi giật mình !

Những doanh nhân “yêu nước“ này biết rõ Cơ chế CSVN là thối nát, làm tội ác đối với Dân tộc, nhưng vẫn luồn trôn, tòng phạm với tội ác CSVN.

3) Một số Lãnh đạo Tôn giáo quốc doanh

Những ngợm Giáo gian quốc doanh này được CSVN cho những quyền lợi cá nhân ưu đãi và được CSVN dùng quyền lực xếp vào những chức vụ, một mặt làm chia rẽ giới Lãnh đạo Tôn giáo, một mặt cản ngăn Giáo dân trong việc làm nhiệm vụ Công dân cần thiết của mình. Thậm chí những ngợm Giáo gian quốc doanh này còn tổ chức những Đoàn thể Giáo dân để nhân danh Tôn giáo ủng hộ chính cái Cơ chế CSVN tham nhũng lãng phí.

a. Giáo Hội Phật Giáo VN

Giáo Hội Phật Giáo VN được Nhà Nước tạo ra để kềm chế những vị tu trì chân chính. Số lớn những Lãnh đạo ngợm này được CSVN cho những quyền lợi vật chất, thậm chí đàn bàn bà con gái phục vụ, để làm công việc buôn thần bán thánh, ủng hộ Cơ chế. Tôn giáo được sử dụng làm phương tiện che chở cho Cơ chế.

b. Hội Thánh Tin Lành Miền Nam

Hội Thánh Tin Lành Miền Nam được CSVN cho Giấy phép tại Đà Nẵng. Sau khi có Giấy phép, Hội Thánh được sử dụng như phương tiện ra ngoại quốc, nhất là Mỹ, để “giải độc“. Chính Mục sư Giáo Hội trưởng (hiện nay đã chết) đã dẫn một Phái đoàn sang Mỹ hồi ấy để nói về Tự do Tôn giáo tại Việt Nam. Tại trong nước, Hội Thánh Tin Lành Miền Nam đã được CSVN sử dụng để phá các Hội Thánh Tin Lành thuộc các Phái khác. Một số lớn Mục sư thuộc Hội Thánh Tin Lành Miền Nam được cho phép lui tới Hoa kỳ để làm tiền vì các Hội Thánh Tin Lành Hoa kỳ giầu có. Các Mục sư này tìm đủ mọi cách đưa những người thuộc gia đình sang Mỹ sống.

c. Giáo Hội Công Giáo Việt Nam

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không trở thành quốc doanh. Nhưng một số Giám mục đã làm tay sai cho CSVN để giữ “trật tự “ Giáo dân khỏi đòi hỏi Công lý đối với Cơ chế. Hãy kể ra điển hình những vụ đất đai Tòa Khâm sứ, xứ Thái Hà, Tam Tòa. Những Giám mục quốc doanh đã làm mất sự tôn kính của Giáo dân với chiêu bài “đối thoại “ lừa bịp để loại trừ Đức TGM NGÔ QUANG KIỆT và dẹp Phong trào Giáo dân đứng lên hàng trăm ngàn người đòi CÔNG LÝ. Chúng tôi có thể kể đích danh những vị đó. Hồng y Phạm Minh Mẫn, Giám mục Nguyễn Văn Nhơn, Giám mục Võ Đức Minh… Những vị này làm tay sai cho CSVN, che chở cho một Cơ chế CSVN đầy tội ác đối với Dân tộc. TGM NGÔ QUANG KIỆT và Phong trào Giáo dân đòi CÔNG LÝ là một cơ hội hiếm có để Công Giáo góp phần với Dân tộc tiễu trừ quốc nạn CSVN. Giáo dân Công giáo chắc chắn không quên tội tòng phạm của những Giám mục này với tội ác CSVN.


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN

Nhìn Nhựt Lo Việt Nam


Hoạ vô đơn chí. Nhựt vừa bị cơn sóng thần, một thiên tai thiệt hại trầm trọng nhứt từ Thế Chiến 2 đến giờ. Và thêm một hậu quả trầm trọng hơn nữa, ba lò phản ứng nguyên tử làm ra điện nổ sau cơn sóng thần.
Trong Đại Chiến Thế Giới lần thứ hai, Mỹ bỏ hai trái bom nguyên tử trên hai thành phố Nhựt, để cứu nước, cứu dân, Nhựt Hoàng lúc bấy giờ cắn răng nói với nhân dân đành phải chấp nhận điều mà quốc gia dân tộc này không thể chấp nhận được là đầu hàng Đồng Minh. Thủ Tướng Nhựt chịu tội trước nhân dân và Nhựt Hoàng tự sát bằng gươm theo truyền thống hiệp sĩ đạo Samurai của Nhựt.
Còn bây giờ trong cơn sóng thần tàn phá vùng duyên hải Nhựt và làm nổ mấy lò nguyên tử ở Fukushima, vào ngày 16 tháng 3, bằng một hành động đặc biệt kể từ Thế Chiền Thứ Hai đến giờ, trong suốt thời gian từ khi kên ngôi trị vì 22 năm, Nhật Hoàng Akihito lần đầu tiên đích thân qua truyền hình, truyền thanh xúc động trình bày cùng quốc dân quốc gia dân tộc Nhựt đang trải qua một “ biến cố hoàn toàn không dự báo được” “với một quy mô chưa từng thấy”.
Số nạn nhân càng ngày càng cao, và phải di tản trong những điều kiện vô cùng khó khổ. Ngài “cầu nguyện cho sự an toàn của đông đảo người dân, “đảm bảo là cả nước sẽ dấn thân vào công cuộc cứu nạn” và kêu gọi quốc dân bình tĩnh vượt qua cơn khó khổ.
Còn Thủ Tướng Nhựt Naoto Kan đích thân bay xuống hiện trường. Nội các và chánh quyền địa phương làm việc 24 giờ một ngày, làm bất cứ điều gì có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào để cứu cấp nạn nhân và ổn định đời sống. Chính Thủ Tướng Nhựt kêu gọi Mỹ yểm trợ. Mỹ dùng trực thăng xả nước làm nguội các lò nguyên tử mà không thành công.
Số nạn nhân vì sóng thần và động đất trong 5 ngày đầu thôi đã đếm được, 3.676 chết, 7.558 mất tích và 1.990 bị thương. Mỗi ngày con số này mỗi tăng. Cả một đoàn xe lửa bị cuốn, nhưng người còn sống. Phải nói thiệt hại thật kinh hồn. Đó là chưa nói thiệt hại do phóng xạ của các lò nguyên tử có thể gây ra nếu không kiểm soát được.
Truyền thông Nhựt, phát thanh, phát hình, loan tải tin tức liện tục, người dân nhờ thế nắm vững tình hình.
Dân trí rất cao, tinh thần cộng đồng rất mạnh, dân chúng Nhựt rất bình tĩnh dù trong cơn hoảng loạn. Chấp hành nghiêm chỉnh lịnh của chánh quyền. Không đầu cơ tích trữ. Nhiều hình ảnh rất cảm động và đáng ca ngợi. Dù trong khó khổ, trời lạnh, không nhà, cụ ông, cụ bà, tráng niên và trẻ em Nhựt nhận một miềng shu si cứu trợ vẫn kính cẩn nghiêng mình gần 90 độ để cám ơn theo phong tục xã giao của người Nhựt.
Nhựt là một nước kinh tế tiên tiến, chánh trị dân chủ, tự do cao, dân trí cao mà trước biến cố ba lò điện nguyên tử nổ còn chới với. Kinh tế của Nhựt đứng hàng thứ hai trên thế giới rất lâu đời. Sư phát triển bền vững. Danh hiệu made in Japan là một bảo đảm phẩm chất tốt. Ngoại thương Nhựt đều hoà trên các thị trường thế giới, nhứt là Tây Âu, Bắc Mỹ.
Nhật Hoàng trị vì thôi nhưng uy tín rất cao, nhân dân vô cùng thương kính. Chánh phủ Nhựt nói chung là những người vì dân, của dân và do dân nhiều tinh thần trách nhiệm với quốc dân. Nhân viên chánh phủ từ thủ tướng, bộ trưởng theo truyền thống là những người có tinh thần trách nhiệm cao, khi phần vụ trách nhiệm thất bại, thường theo tinh thần triết nhân tự xử, từ chức sau khi khắc phục hậu quả tai hại xảy ra. Nói tóm lại chánh quyển và nhân dân Nhựt giàu mạnh mà còn điêu đứng với trận sóng thần thiên tai và lò điện nguyện tử nhân hoạ.
Tai hoạ lò nguyên tử xây gần bờ biển bị sóng thần làm nổ hậu quả nghiêm trọng. Liên Âu phải họp để bàn biện pháp kiềm soát 58 lò của 13 nước thuộc Liên Âu trong đó nhiều lò thành lập cùng thế hệ với các lò của Nhụt bị nổ. Thủ Tướng Đức thận trọng hơn ra lịnh đóng của những lò hoạt động trước 1980 trong vòng ba tháng để kiểm soát an toàn. Mỹ cũng thế, TT Obama yêu cầu xem xét độ an toàn của các lò nguyên từ của Mỹ. Còn Nga, thủ tuớng Vladimir Putin cũng thế.
Ở Á châu, Ấn Độ có hai lò điện nguyên tử, Thủ tướng Manmohan Singh ra lệnh kiểm an toàn toàn bộ. Trung Quốc có 27 lò đang xây dựng và 50 lò đang dự trù, cho biết sẽ “rút ra những bài học” nhưng vẫn đẩy mạnh chương trình nguyên tử. E ngại dân hoảng loạn trở ngại cho kế hoạch lò nguyên tử của nhà nước, TC cấm cửa không cho người dân truy nhập vào những dữ kiện rò rĩ nguyên tử.
Riêng VN có kế hoạch xây tổng cộng 8 lò nguyên tử trong vòng 20 năm tới. Nhà máy đầu tiên ở Ninh Thuận sẽ khởi công vào năm 2014. Ông Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Vương Hữu Tấn nói tai nạn nguyên tử ở Nhật sẽ không có ảnh hưởng gì đến các kế hoạch điện nguyên tử ở Việt Nam.
Nghe Ô Viện trưởng quá tự tin, quá chủ quan, “duy ý chí” nói mạnh như thế, người ta không khỏi lo. Nga và Nhựt khoa học kỹ thuật cao hơn VN nhiều mà còn bị nổ lò nguyên tử Tcherbonyl và ở Fukushima. Con Người không qua nỗi Ông Trời. Với thiên tai, Con Người có thể dự báo, đề phòng hậu quả chớ chưa ai ngăn cản được núi lửa, sóng thần, bão tố. Còn địch hoạ ai dám bảo đảm hoàn toàn tránh được các cuộc phá hoại, khủng bố, hành động cảm tử vì thù ghét hay mục đích chánh trị, cuồng tín. Người Nhựt có tiếng là thận trọng, kỹ lưỡng mà còn bị như vậy, thì VN làm sao không lo.
May là Việt Nam chỉ mới có kế hoạch. Hai lò điện nguyên tử đầu tiên năm 2014 mới bắt đầu xây cất. Hẳn nhiên VN sẽ mua lò thuộc thế hệ sau an toàn hơn của Nhựt đã có trước gần một phần ba thế kỷ. Nhưng gần đây ở VN bắt đầu có triệu chứng động đất ngoài biện, rung chuyển Saigon, Hà nội và một số tỉnh bờ biển. Hai lò nguyên tử đầu tiên làm ở Ninh Thuật rất gần bờ biển.
Với đà tham nhũng thành quốc nạn người ta lo nén bạc sẽ đâm toạt tờ giấy khi đấu thầu và giám sát các dự án làm lò nguyên tử cho VN, nhứt là cho các công ty xây dựng thân thế của VN phó thầu san lắp mặt bằng, làm nền móng, v.v.
Khi có chuyện xảy ra, chắc chắn hệ thống báo động, báo nguy của VN không bao giờ bằng của Nhựt cả. Việc huy động cấp cứu, ngăn chận của nhà cầm quyền sẽ chậm lụt, thiếu phương tiện và tinh thần hơn Nhựt. Nhứt là cái bịnh bưng bít của CS sẽ ngăn trở sự tham gia tiếp cứu của ngoại quốc, của người dân cứu trợ cũng như tỵ nạn.
Ai là người chịu hậu quả nặng nề nếu lò nguyên tử VN rò rĩ hay nổ vì lý do nào đó. Khỏi nói cũng biết là người dân VN đóng thuế để nhà nước làm lò và lãnh đủ phóng xạ khi lò rò rĩ hay nổ.
Cái thói “cha chung không ai khóc”, núp dưới bóng tập thể, chờ trên đưa “hướng giải quyết” để vô trách nhiệm cá nhân của CS sẽ làm việc cứu trợ chậm trễ, tai hoạ sẽ trầm kha – là cái chắc.
Lãnh đạo là tiên liệu, hy vọng những người cầm đầu Đảng Nhà Nước VNCS không bốc đồng như Ông Vương Hữu Tấn Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, mà lắng nghe nhiều người chuyên môn, nhiều đại diện dân hơn, suy tư nhiều hơn trong việc thành lập lò điện nguyên tử./.


(Vi Anh)

Thực Phẩm Và Phóng Xạ


Hình ảnh thực phẩm và phóng xạ.

Nguyễn Thượng Chánh, DVM

Biến cố sóng thần tại Nhật Bản đã làm thế giới bàng hoàng lo ngại.
Vấn đề chinh là các nhà máy điện lực nguyên tử tại vùng thiên tai đả lần lược phát nổ.
Tính đến 15/3/2011, nghĩa là chỉ có 4 ngày sau trận sóng thần khóc liệt ngày 11/3/2011, 3 lò nguyên tử thuộc trung tâm Fukushima Daichi nuclear power facility, đã phát nổ rồi và thải chất phóng xạ ra môi sinh. Lò số 4 bị hỏa hoạn và số phận của nó cũng rất là mong manh.
Về lâu về dài, hậu quả trên sức khỏe con người và môi sinh sẽ ra sao? Không ai đoán được hết.
Lẽ đương nhiên là chánh phủ và các giới chức trách nhiệm đã tìm đủ mọi lý lẽ dể trấn an dư luận và thế giới.
Phải đợi mãi cho đến 15/3/2011 chánh phủ Phù Tang mới chịu thua và chánh thức yêu cầu thế giới trợ giúp họ trong vấn đề ngăn chặn ô nhiễm nguyên tử.
Tình thế biến chuyển ngoài mức dự đoán của Nhật Bản.
Hôm nay 16/3/2011, Nhật Hoàng Akihito đã xuất hiện trên Tv đễ có đôi lời chia sẻ với toàn dân nỗi đau đớn chung trước thảm họa của đất nước.
Tuy nguyên tử rất nguy rất nguy hiểm nhưng trong thực tế y khoa cũng thường sử dụng chất phóng xạ trong chẩn đoán và trị liệu.
Kỹ nghệ thực phẩm cũng áp dụng phương pháp xạ chiếu để bảo quản thức ăn.
Sử dụng năng lượng nguyên tử bị chống đối khắp nơi nhưng quyền lực và đồng tiền vẫn lãnh đạo và quyết định vận mạng của cả thế giới.
***
Tại sao phải sử dụng phóng xạ trong kỹ nghệ thực phẩm
Mấy năm gần đây, vấn đề ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn E.coli 0157:H7, Staphylococcus aureus, Salmonella spp, Campylobacter jejuni và Listeria monocytogenes đã làm cho dân chúng rất lo ngại.
Kỹ nghệ thực phẩm đã gánh chịu nhiều sự thiệt hại khá nặng nề vì bị bắt buộc phải cho thu hồi để hủy bỏ hằng triệu cân thịt bò xay bị nhiễm khuẩn.
Các giới trách nhiệm trong chính phủ cũng như trong kỹ nghệ đều rất bối rối trước tình huống không mấy tốt đẹp nầy nên phải cấp tốc tìm biện pháp thích nghi để bảo đảm sức khỏe của người tiêu thụ.
Kỹ thuật chiếu xạ thực phẩn
Từ những năm 1960, Hoa Kỳ và Canada đã bắt đầu cho áp dụng kỹ thuật chiếu xạ (irradiation) vào một số thực phẩm và ngũ cốc để diệt trùng.
Hoa Kỳ cho phép chiếu xạ trái cây tươi, thịt gà từ năm 1990 và trứng gà từ năm 2000. Năm 1997 cơ quan FDA đã bật đèn xanh cho việc chiếu xạ các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt cừu và thịt heo (để diệt giun bao Trichinella).
Năm 2000 thịt bò xay ép miếng (beef patties) được chiếu xạ, lần đầu tiên được thấy xuất hiện tại một số chợ ở Minnesota; sau đó thì mặt hàng nầy từ từ lan dần sang các tiểu bang khác.
Tháng 9/2008 Environmental Protection Agency của Hoa Kỳ đã cho phép các nhà xuất cảng Mỹ có thể chiếu xạ rau mồng tơi spinach.
Thịt bò hamburger chiếu xạ ngày nay đã có mặt tại một số chợ và siêu thị Hoa kỳ mà dẫn đầu là Wal Mart. Beef patties thấy có bán tại những chợ như SuperValu, Rainbow Foods, Hy-Vee Supermarkets, Price Chopper, Wegmans Food Markets, Publix Supermarkets, D’Agostino Supermarkets, Lowes Foods, Pathmark Supermarkets, Kroger Co., Schnucks Market Inc.v,v...
Phần lớn thịt bò xay đều do đại công ty SureBeam Corp. mà trụ sở chánh đặt tại San Diego đảm trách việc chiếu xạ. Các nhà máy của SureBeam nằm rải rác ở Sioux City, Iowa; Glendale Heights,Ill.; Vernon, Calif.; và College Station,Tex…
Cty SureBeam có khả năng chiếu xạ 500 triệu kg thịt hamburger/năm.
Tại Minnesota, ngoài các chợ và siêu thị ra, các nhà hàng thuộc hệ thống International Dairy Queen cũng có bán hamburger làm từ thịt bò chiếu xạ. Người ta tự hỏi, không biết hiện nay trên đất Mỹ còn có bao nhiêu nhà hàng nào khác nữa đã sử dụng thịt chiếu xạ để phục vụ khách hàng hay không?
Đối với Canada, từ 40 năm nay quốc gia nầy cũng đã thường cho áp dụng kỹ thuật chiếu xạ vào một số nông sản như khoai tây, củ hành, lúa mì, bột mì và các loại gia vị khô.
Gần đây hơn, theo sự yêu cầu khẩn thiết của kỹ nghệ thực phẩm, Health Canada hiện đang duyệt xét lại vấn đề chiếu xạ thịt để hy vọng có thể giải quyết phần nào vấn đề nhiễm khuẩn ở các loại thịt bò xay, thịt gà, tôm và xoài…
Chiếu xạ thực phẩm không có tính cách bắt buộc tại Canada. Đây chỉ là một phương pháp tự nguyện của giới kỹ nghệ mà thôi.
Vấn đề áp đặt chiếu xạ vào thực phẩm là quyền cửa giới kỹ nghệ và tùy thuộc vào thái độ cũng như sự đáp ứng của người tiêu thụ.
Bên trời Âu, Thượng viện Liên Âu (European Parliament) có vẻ hơi khắc khe, họ chỉ cho phép chiếu xạ các rau mùi khô, và các loại gia vị mà thôi. Tuy vậy cũng có rất nhiều quốc gia Âu châu đã xé lẻ và áp đặt những quy định riêng cho xứ họ.
Pháp là quốc gia cởi mở nhất với lối 15 sản phẩm và nguyên liệu được cho phép chiếu xạ như: các loại gia vị, rau mùi khô, củ hành, hành lá, tỏi, rau quả khô, thịt gà, tôm tép, đùi ếch, chất gomme arabique, các chất phụ gia như ovalbumine (lòng trắng hột gà), caséine và caséinates.
Công nghiệp chiếu xạ thực phẩm tại Pháp được thực hiện tại 7 trung tâm lớn, đó là các trung tâm Berric, Sable, Orsay, Chaumesnil, Pouzauges, Dagneux và Marseille.
Úc châu và Tân Tây Lan cho phép chiếu xạ nông sản để ngừa sâu bọ côn trùng: các loại gia vị, rau mùi khô, táo (apple), trái carambola, trái vải, xoài, măng cụt, đu đủ, chôm chôm…Tất cả sản phẩm chiếu xạ đều phải mang ký hiệu radura.
Ở Việt Nam kỹ thuật chiếu xạ thực phẩm cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng từ năm 1985 tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt.
Hiện nay cả nước chỉ có vài ba trung tâm chiếu xạ thực phẩm với quy mô bán công nghiệp.
“ Ngày 23/12, PGS. TS Lê Xuân Thám, Phó Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ Lâm Đồng cho biết, đang gấp rút hoàn thành các thủ tục để xúc tiến xây dựng Trung tâm chiếu xạ tại TP Bảo Lộc.
Theo đó, Trung tâm chiếu xạ được xây dựng gần khu công nghiệp Lộc Sơn, TP Bảo Lộc, trên diện tích dự kiến khoảng 12 ha, có tổng số vốn đầu tư ban đầu là 100 tỷ đồng
PGS. TS Lê Xuân Thám cho biết, đã phối hợp với Viện nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đào tạo nguồn nhân lực cho Trung tâm và thành lập đoàn đi tham quan các mô hình hoạt động các trung tâm chiếu xạ ở một số nước trên thế giới
Hiện cả nước đã có 5 điểm chiếu xạ là Viện nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, hai địa điểm ở TP.HCM, một ở Hà Nội và một ở Bình Dương ” (theo Lâm Đồng thành lập trung tâm chiếu xạ. Khoahoc.com 24/12/10).
Chiếu xạ thực phẩm là gì?
Người ta sử dụng tia bức xạ gamma của chất phóng xạ Cobalt 60 hoặc của chất Césium 137 để chiếu vào thực phẩm nhằm diệt vi trùng (thịt), vi sinh vật, sâu bọ, côn trùng và ký sinh trùng (lúa mì, bột, đồ gia vị, ngũ cốc, trái cây khô), làm chậm lại sự phát triển, làm chậm chín cũng như ngăn chận sự nẩy mầm ở các loại trái cây và củ hành...
Phóng xạ tác động thẳng vào phần DNA tức là phần quyết định tính chất di truyền, làm tế bào không thể phân cắt được.
Đôi khi phương pháp chiếu xạ thực phẩm còn được gọi bằng những tên như khử trùng bằng điện tử electronic pasteurization hoặc cold pasteurization (phương pháp khử trùng lạnh) vì không sử dụng đến nhiệt để phân biệt với phương pháp pasteurization dùng hơi nóng để khử trùng sữa. Sữa được đun lên ở nhiệt độ 73 độ C trong vòng 16 giây rồi làm lạnh lại liền ở 4 độ C.
Lợi ích của phương pháp chiếu xạ
Ngoài mục đích bảo vệ sức khỏe của người tiêu thụ ra, chiếu xạ thực phẩm còn có lợi ích về kinh tế rất quan trọng nữa.
Với kỹ thuật nầy thời gian tồn trữ thực phẩm được lâu dài hơn…Phương pháp chiếu xạ đã được các quốc gia Tây phương biết đến từ lâu.
Từ năm 1972, cơ quan NASA Hoa Kỳ đã cho chiếu xạ tất cả thực phẩm dùng trong các chuyến du hành trong không gian.
Các dụng cụ y khoa, phòng thí nghiệm cũng thường được chiếu xạ để tiệt trùng.
Ngoài ra còn phải kể đến các dung dịch dùng cho kính áp tròng contact lens, băng vệ sinh, tã trẻ em, băng vải dùng cho vết thương, dụng cụ giải phẩu, bao bì đựng thực phẩm, các màu sơn cho trẻ em sử dụng, thức ăn chó mèo, v,v...
Tất cả các phúc trình từ trước tới nay đều nói lên tính chất hữu ích và an toàn của phương pháp chiếu xạ thực phẩm.
Có rất nhiều tổ chức khoa học và hiệp hội quốc tế đã hết lòng ca ngợi và xác nhận tính chất an toàn của phương pháp chiếu xạ. Đó là các cơ quan thuộc khối Liên hiệp Quốc như Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), Tổ Chức Lương Nông Thế giới (FAO), và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế International Atomic Energy Agency (IAEA); Về phía Hoa kỳ và Canada thì có Cơ quan Quản Trị Thực Phẩm và Dược Phẩm (FDA), Hiệp Hội Y Sĩ Hoa Kỳ (The American Medical Association), Hiệp Hội các nhà Dinh Dưỡng Hoa Kỳ (The American Dietetic Association), Cơ quan y tế Health Canada và lẽ đương nhiên các giới công nghệ biến chế thực phẩm cũng hết lòng cổ võ và ca ngợi phương pháp chiếu xạ thực phẩm như một kỹ thuật an toàn và có ích để làm giảm thiểu vi khuẩn gây bệnh hiện diện trong thực phẩm.
Institut National de Recherche Scientifique INRS Armand Frappier (Canada) thì quả quyết rằng chiếu xạ là một phương pháp rất an toàn.
Ngày nay kỹ thuật chiếu xạ thực phẩm đã được 39 quốc gia nhìn nhận và cho phép thực hiện trên 40 (?) loại mặt hàng khác nhau.
Phe chống đối phương pháp chiếu xạ đã nói gì?
Theo nhóm nầy, chiếu xạ là một phương pháp vừa nguy hiểm và vừa tốn kém vô ích.
Tại Hoa Kỳ có 2 nhóm: The Center For Science In The Public Interest và nhóm The Pure Food Campaign.
Theo các nhóm nầy thì phóng xạ rất nguy hiểm đối với sức khỏe. Phóng xạ làm thay đổi cơ cấu hóa học của thực phẩm, tạo ra những gốc tự do (free radicals), và các chất nầy sau đó sẽ tác động với một số các chất khác để cuối cùng cho ra những hóa chất mới mà khoa học gọi là chất ‘radiolytic products’ chẳng hạn như formaldehyde, benzene, formic acid, và quinone.
Đây là những chất độc cho cơ thể nhất là benzene là chất có thể gây ra cancer.
Một khảo cứu gần đây của Đức và Pháp cũng cho biết chiếu xạ những thực phẩm có chứa chất béo sẽ làm sản sinh ra chất 2-dodecyclobutanone rất độc và có thể tạo ra cancer.
Về mặt dinh dưỡng, tia phóng xạ cũng làm mất đi một phần các vitamin nhóm B, vitamin A, C, E, K, các amino acids và các acid béo không bão hòa.
Các chất dinh dưỡng cũng có thể bị giảm đi, hương vị cũng có thể bị biến đổi. Vì cường độ tối đa của chất phóng xạ sử dụng đã được quy định cho mỗi một loại thực phẩm, thường thì ở mức độ rất thấp nên có thể có một số vi khuẩn vẫn còn sống sót, và ngẫu biến ra những dòng vi khuẩn con cháu có khả năng tồn tại với những cường độ phóng xạ rất mạnh sau nầy.
Vấn đề tai nạn phóng xạ và ô nhiễm môi sinh (do chất cặn bã phế thải phóng xạ) cũng đã được các nhóm nầy cảnh giác.
Các giới kỹ nghệ thực phẩm, vì ỷ lại là đã có phương pháp phóng xạ để diệt trùng rồi nên họ có thể thờ ơ chểnh mảng không chú trọng nhiều đến việc giữ gìn vệ sinh ở các khâu sản xuất và biến chế.
Nên nhớ là chiếu xạ thực phẩm không phải là phương pháp hoàn toàn hữu hiệu 100% đâu. Thịt dù đã được chiếu xạ trước đó nhưng nó vẫn có thể bị nhiễm trùng lúc đem ra khỏi bao để được biến chế thành món ăn!
Dù có chiếu xạ hay không chiếu xạ, muốn được an toàn thì phải nấu thật chín thịt trước khi dùng.
Nỗi lo ngại của người tiêu thụ.
Nói chung, người tiêu thụ rất sợ xạ chiếu thực phẩm. Họ thường gắn liền danh từ chiếu xạ vào phóng xạ nguyên tử và vào hình ảnh hãi hùng của hai thành phố Hiroshima và Nagasaki đã phải lãnh hai quả bom nguyên tử của Hoa Kỳ vào tháng 8 năm 1945..
Hơn tất cả các phương pháp khác, chiếu xạ thực phẩm đã dấy lên rất nhiều câu hỏi.
Chữ “phóng xạ” đã gắn liền đến chết chóc, với cancer, bệnh tật, vô sinh và quái thai.
Nhưng thật sự ra, tựu trung chỉ có hai câu hỏi thường được đặt ra là: “Sản phẩm có tinh khiết hay không?” và “Chiếu xạ có an toàn, có nguy hại cho sức khỏe hay không?”…
Các khoa học gia khắp mọi nơi trên thế giới đều xác nhận rằng chiếu xạ thực phẩm là phương pháp rất an toàn vì chỉ sử dụng tia phóng xạ ở một cường độ thật thấp mà thôi...
Cường độ 0.15 kGy có thể làm ngăn cản sự nẩy mầm của củ hành và của khoai Tây. Cường độ từ 3 đến 7 kGy (kilo Gray) có thể diệt được vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella.
Nhờ sử dụng tia phóng xạ ở cường độ quá thấp, nên sản phẩm chiếu xạ sẽ không trở nên phát xạ (radioctive) được để gây hại đến sức khỏe của chúng ta. Các chất dinh dưỡng khác như protein, glucide và chất béo lipid cũng không mấy bị thay đổi. Hương vị có thể bị thay đổi ở một mức độ rất thấp không khác chi cho lắm nếu so sánh với các kỹ thuật hấp khử trùng bằng autoclave như thường được sử dụng từ xưa nay.
Người ta đã giải quyết một phần điểm bất lợi nầy bằng cách áp dụng kỹ thuật vô bao trong chân không (vacuum packed), nghĩa là sau khi cho thịt vào trong bao, không khí liền được rút hết ra ngoài trước khi ép kín bao lại, và sau đó thì cho chiếu xạ sản phẩm.
Phải nhìn nhận là trên lý thuyết vấn đề tai nạn phóng xạ tại nhà máy cũng như vấn đề ô nhiễm môi sinh vẫn có thể xảy ra…Thật vậy, phải cần một thời gian lâu dài để có thể làm mất đi tác dụng của các chất phế liệu cặn bã đồng vị phóng xạ. Hiện giờ thì khối lượng các phế liệu nầy còn ít nên chưa đặt thành vấn đề cho lắm, nhưng chúng sẽ trở thành một vấn đề nan giải cho môi sinh trong tương lai nếu phương pháp chiếu xạ thực phẩm được áp dụng rộng rãi khắp mọi nơi.
Hình ảnh hãi hùng của tai nạn môi sinh xảy ra tại nhà máy nguyên tử Tchernobyl bên Nga năm 1986 vẫn còn ám ảnh mạnh mẽ trong tâm khảm của tất cả chúng ta!
Và mới đây, biến cố sóng thần ngày 11/3/2011 tại Nhật Bản đã làm phát nổ ba lò nguyên tử thuộc trung tâm Fushishima Daichi (tính đến hôm nay 14/3/2011) đã làm khốn đốn Nhật Bản và cũng làm cả thế giới lo ngại.
Tchernobyl và Fukushima là hai bài học rành rành trước mắt và đồng thời cũng là cảnh báo chung cho cả nhân loại về hiểm họa nguyên tử.
Hiện nay, 20% điện năng trên thế giới được cung cấp bởi 442 nhà máy nguyên tử phân bố trên 31 quốc gia. Hiểm họa trước mắt là ở chỗ đó!
Roger Brunet. Centrales nucléaires et uranium dans le monde
http://www.mgm.fr/PUB/Mappemonde/M400/Brunet.pdf
Vấn đề bao bì và nhãn hiệu
Vấn đề cuối cùng cũng làm người tiêu thụ lo ngại, đó là vấn đề bao bì và nhãn hiệu.
Cũng như các quốc gia bên Âu châu, Hoa Kỳ và Canada đã ban hành những luật lệ chặt chẽ bắt buộc các bao bì đựng sản phẩm chiếu xạ phải có mang dấu ký hiệu quốc tế chiếu xạ thực phẩm, gọi là Radura, gồm có 1 vòng tròn đứt đoạn nhiều khúc, bên trong có 2 cánh hoa, ngoài ra phải có kèm theo câu “sản phẩm được chiếu xạ” (Treated by irradiation or Treated with radiation, Irradiated).
Luật Canada bắt buộc ký hiệu radura phải hiện diện trên nhãn hiệu nếu 10% nguyên liệu sử dụng trong sản phẩm đã được chiếu xạ từ trước.
Người tiêu thụ có quyền tự do quyết định mua hay không mua!
Làm sao biết được sản phẩm đã bị chiếu xạ?
Bằng mắt thường không thể nào nhận biết được vì màu sắc và mùi vị của sản phẩm chiếu xạ, nó không mấy gì thay đổi so với sản phẩm bình thường. Chỉ có các test trong phòng thí nghiệm mới cho ta biết được tính chất chiếu xạ mà thôi.
Trong thực tế, chỉ có dấu hiệu radura trên bao bì mới cho ta biết được đó là sản phẩm đã được chiếu xạ mà thôi.
Kết luận
Các cuộc thăm do dư luận tại Canada cho biết trên 54% dân chúng chưa sẵn sàng chấp nhận kỹ thuật chiếu xạ thực phẩm.
Nói chung, họ còn rất e dè trước phương pháp quá mới mẻ nầy.
Còn rất nhiều ẩn số chưa có đáp số thỏa đáng. Tác dụng về lâu về dài của việc tiêu thụ thực phẩm chiếu xạ sẽ ảnh hưởng ra sao trên sức khỏe con người?..
Chuyện gì sẽ xảy ra cho chúng ta trong tương lai?
Là người tiêu thụ chúng ta có quyền được biết rõ thêm hơn nữa tất cả mọi khía cạnh liên quan đến vấn đề thực phẩm chiếu xạ hầu có thể quyết định một cách sáng suốt.
Tài liệu tham khảo:
- Health Canada, Food irradiation.
- U.S. Food and Drug Administration, Food Irradiation: A Safe Measure.
- ConsumerReports, org- The truth about irradiated meat.
- Food Standard Australia-New Zealand, Food irradiation.
- Public Citizen, Irradiation des aliments: la situation dans l’Union Européenne.
- VnExpress, Thực phẩm chiếu xạ rất an toàn, 10/1/2005.
- CDC. Radiation Emergencies
http://www.bt.cdc.gov/radiation/contamination.asp
- CDC. FAQ about a radiation emergency
http://www.bt.cdc.gov/radiation/emergencyfaq.asp
Montreal, March 17, 2011

Bài Xem Nhiều