We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 21 March 2011

Vai Trò Truyền Thông

Bất cứ cuộc chiến tranh nào, dù dưới hình thức cổ điển hay không quy ước, thì những yếu tố thông tin từ phía địch đều giữ một vị trí thật quan trọng. Trước kia, những nguồn tin thu nhặt từ hệ thống gián điệp được chuyển thành mật mã và ám số để gởi về trung ương nhằm giúp bộ tham mưu đủ yếu tố thảo kế hoạch dàn binh bố trận. Đồng thời dựa vào một vài dữ kiện nào đó để cổ võ có lợi cho mình cũng như tuyên truyền nhằm đánh lừa địch. Ngày nay, dưới thời đại điện tử, việc truyền thông trở nên dễ dàng, nhanh chóng và chính xác, thì ảnh hưởng tuyên truyền càng thuận lợi và có hiệu quả hơn. Vậy, tất cả mọi người có thể đóng vai trò truyền thông, riêng với Việt Nam, một số đồng bào tại quốc nội cũng như khối người Việt Quốc Gia đang định cư tại hải ngoại có thể làm công việc truyền thông một cách dễ dàng. Nhưng vấn đề quan trọng là người xử dụng truyền thông phải ý thức việc làm của mình để kết quả không bị phản ứng ngược, nghĩa là nếu không khôn khéo thì hành động truyền thông sẽ có ảnh hưởng chống lại đường lối của chúng ta và vô tình làm lợi cũng như nối giáo cho giặc.

Trước kia, muốn phổ biến đóng góp một quan niệm chính trị hoặc chuyển đi một bản tin, người làm truyền thông, đa số, phải là nhân viên đài truyền hình, đài phát thanh hay một cơ quan ngôn luận như báo chí nhà nước cũng như hay tư nhân. Đôi lúc người viết báo, viết tin còn bị gò bó bởi chủ trương đường lối của các cơ quan truyền thông, do đó một số tin tức có thể bị bóp méo hay đổi chiều theo chỉ thị của người chủ. Ngày nay dưới chế độ tự do, người muốn tham dự vào hoạt động truyền thông thì chỉ cần một máy vi tính để có thể nối mạng vào theo dõi tin tức hằng ngày, đóng góp ý kiến cũng như phổ biến bài vở. Có thể nói, việc tham gia vào lãnh vực truyển thông trong thời buổi nầy thật quá dễ dàng. Một ví dụ đơn giản, qua điện thoại di động, người ta có liên lạc kêu gọi bạn bè người thân trong những lúc cần thiết, như chúng ta đã thấy, những người biểu tình tại Tunisie, Ai Cập và Libye đã xử dụng điện thoại di động để liên lạc với nhau giữa các thành phần xuống đường cũng như làm phương tiện đối thoại, thương thuyết với thành phần chống biểu tình (quân đội và cảnh sát) trong các cuộc nổi dậy vừa qua.

Từ chỗ xử dụng hình thức truyền thông quá dễ dàng, một số người đã lợi dụng phương tiện hiện đại nầy với nhiều mục đích khác nhau. Họ biến một phương tiện đại chúng là ‘diễn đàn chính trị’ của nguời Việt hải ngoại thành cái chợ tranh chấp, bôi xấu, chụp mũ và đâm chém nhau bằng những danh từ tận cùng của bỉ ổi. Hành động cố ý của một số người nầy đã làm hoen ố mục đích tốt đẹp các diễn đàn. Mặc dù gọi là ảo nhưng diễn đàn chính là những tổ chức văn hóa chính trị để tất cả mọi người vào đó thông tin, trao đổi, học hỏi và chia sẻ lẫn nhau. Nhưng trên thực tế, người ta bắt gặp trong ‘chốn giang hồ’ nầy những người bịt mặt giấu tên, xuất thân là thành phần cộng sản nằm vùng, nhận lệnh Hà Nội để đánh bất cứ ai. Ngoài ra cũng phải nói thêm, diễn đàn còn là nơi tụ tập của một số người bất tài, điên khùng, những ông bà ‘trời đánh’ ít học, xuất thân từ Chú Ía hoặc Cầu Muối… nhưng lại muốn một sớm một chiều nổi danh trong thiên hạ bằng nghề chưởi mướn hoặc lợi dụng diễn đàn để phóng ra những chuyện động trời gây xáo trộn cộng đồng… chẳng hạn như bịa chuyện xấu xa rồi post vào diễn đàn để nhục mạ các Đấng Tối Cao… Là loài quỷ, chúng không sợ phạm thượng khi đem Chúa đem Phật chưởi bới và phịa những giai thoại bôi bác để vu khống những vị lãnh đạo tinh thần. Trước những chuyện chướng tai gai mắt nầy, tức nhiên sẽ có người Quốc Gia chân chính ra tay ‘cho bọn chúng một bài học’. Nhưng hành động nầy đã vô tình dính vào âm mưu của địch. Chúng biết rằng khi đưa những vấn đề nầy ra vừa mục đích nhục mạ tôn giáo, đồng thời sẽ gây ồn ào và tranh cải trong dư luận, là cơ hội tốt để thiên hạ chú ý đến dù là chú ý với thái độ khinh bỉ. Có thể xem đây là một thành quả truyền thông của bọn việt gian cộng sản vì chúng đã biến các diễn đàn chính trị của người Tỵ Nạn thành chiến trường để người Việt hải ngoại tự đánh nhau, gây chia rẽ đúng theo âm mưu các nghị quyết phá hoại của chúng.

Ngoài ra, trên các diễn đàn cũng xuất hiện nhiều trường hợp của bọn cộng sản nằm vùng, những tay đâm thuê chém mướn hoặc những tên phá hoại mà trước năm 1975 chưa có một ngày phục vụ dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa (dù công chức hay quân đội), nay lại bịt mặt giấu tên qua nhiều nick name ‘dao to búa lớn’ rồi phóng lên diễn đàn những bài viết phản chiến của bọn đầu cơ trong nước cũng như ngoại quốc trước năm 1975, hoặc trích đoạn trong các hồi ký láo lếu của những tên tướng đã dốt, vừa ngu lại phản chủ (như Đỗ Mậu…) để bôí nhọ đạo Công Giáo, Quân Đội và luôn cả hai chính thể VNCH.

Hơn nữa, nói đến diễn đàn ảo thì cũng phải nhắc đến những băng đảng, khi bị điểm mặt dù bóng bẩy hay chỉ đích danh, chúng hùng hổ bịt mặt, đội nhiều tên giả hoặc nhờ những người ngu ngơ, bệnh hoạn, nhưng lại ham danh, để nhờ post hộ dưới tên của họ những chuyện bôi xấu không đầu không đuôi, mục đích đánh trả lại những ai dám ‘đụng’ đến họ. Phải thành thật ghi nhận rằng, trên các diễn đàn đã có nhiều người cầm viết can đảm, dám đưa ra công luận những vấn đề có hại cho tập thể cũng như tố cáo đích danh nhóm người phá hoại công cuộc tranh đấu chung. Đó không phải là trò chụp mũ mà chính là một hành động can đảm để làm sạch cộng đồng và phải được hoan nghênh. Vậy đến giờ nầy Người Việt Quốc Gia hải ngoại cần phải có thái độ với những thành phần kể trên để trong sạch lành mạnh hóa cộng đồng, và việc trước nhất, xin lưu ý diễn đàn nào đã vô tình dung dưỡng thành phần nầy trong thời gian qua thì phải có thái độ. Vậy nếu có can đảm loại bỏ những thành phần phá hoại nầy thì lúc đó các diễn đàn mới có thể chính danh đảm trách công việc truyền thông trung trực và đem lại niềm tin cho người Việt hải ngoại khi vào các diễn đàn net.

- Phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay hoạt động dưới nhiều hình thức, xin nêu ra hai loại chính :

Các cơ sở báo chí, truyền thanh, truyền hình với sự có mặt của hàng triệu thính khán giả hằng ngày, thì những bản tin, những bài bình luận ảnh hưởng thật sâu đậm và rộng rãi từ hải ngoại vào tận trong nước. Một điều không thể chối cãi: người Việt hải ngoại trên các lục địa đã có biết bao nhiêu báo, từ lá cải, báo biếu không, đến nhật báo, tuần báo và nguyệt báo cũng như nhiều đài phát hình và phát thanh… đó chưa kể đến những tổ chức truyền thông văn hóa tuyên bố không liên quan đến vấn đề chính trị và một số khác thì mục đích phục vụ cho quyền lợi cá nhân, phe nhóm hay đã bị địch mua chuộc. Một số trong những cơ quan truyền thông nầy đã mai phục sẵn và sẽ ra quân khi đèn xanh bật lên, do đó, chúng ta vẫn thường gặp một vài cơ sở trở cờ, giả vờ nhầm lẫn đổ lỗi cho nhau khi đăng những bài có lợi cho cộng sản. Chúng tôi đồng ý rằng muốn tạo dựng một cơ sở truyền thông thì cần phải có khả năng tài chánh, nhưng một khi ai đó đã ngữa tay nhận tiền của kẻ thù, là một hành động ‘dính chàm’ thì xem như tự buộc dây vào cổ, chắc chắn không bao giờ thoát khỏi âm mưu ma giáo của bọn cộng phỉ mà phải ngậm miệng thi hành những chỉ thị của chúng.

Các diễn đàn net và diễn đàn Paltalk chính trị cũng là nơi thu hút những người thường trăn trở cho quê hương dân tộc. Nhưng đây là những diễn đàn ảo, người tham dự đủ các thành phần và khuynh hướng chính trị khác nhau, họ vào đây có thể để xây dựng cũng như phá hoại. Các diễn đàn nầy là con dao hai lưỡi, nếu các chủ diễn đàn muốn đông khách, không kiểm soát và kềm chế những phần tử phá hoại thì các diễn đàn nầy sẽ mất tính cách trang nghiêm đối với những ai thực tâm muốn đóng góp cho công cuộc tranh đấu chung của dân tộc. Các diễn đàn net là những diễn đàn ảo với một số người mang nick name, có kẻ nhiệt tâm với cộng đồng nhưng cũng là nơi để những tên nằm vùng, phá hoại có môi trường hoạt động.

Mỗi lần vào diễn đàn net, bắt gặp vài ba trăm mail gởi đến, nhưng thật buồn vì một số ít người mục đích vào đây để đấu đá chưởi nhau với những lời lẽ bậc thầy của dân Chú Ía và cầu Muối. Hoặc còn nữa, trên các diễn đàn net thông tin chính trị, nhiều vị ngày nào cũng vào post cả chục lần những chuyện riêng tư thăm hỏi giữa hai người hay mời gọi đi xem các trang web văn thơ của họ… Cũng như lúc vào diễn dàn Paltalk thì gặp không ít người đến để nghe diễn giả nói chuyện mà mục đích để ‘chat’ với nhau hoặc hát một vài bài xong rồi nhảy qua diễn đàn khác ! Cá nhân tôi nghĩ rằng, có rất nhiều diễn đàn văn thơ phi chính trị dành riêng, xin mời họ vào đúng chỗ để tha hồ tâm sự hay quảng cao cá nhân. Xin dành các diễn đàn chính trị cho những ai đang cần theo dõi thông tin cần thiết trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nầy.

Trong vài năm vừa qua xuất hiện thêm nhiều hình thức truyền thông, tuy gọi là cá nhân nhưng đã mang lại nhiều kết quả tốt đẹp qua các hệ thống nối mạng và kết bạn với nhau : Đó là các blog, facebook hoặc youtube. Các hình thức truyền thông nầy có thể trung thực vì người viết cũng là chủ, họ bộc lộ tình cảm, quan niệm riêng và được chuyển đến rất nhiều người. Cũng nhờ những blog, facebook hoặc youtube, trong nước cũng như hải ngoại đã tiếp nhận được những tin tức cũng như hình ảnh trung thực và kịp thời về những biến cố vừa xảy ra tại quốc nội cũng như trên thế giới. Và phải ghi nhận thêm rằng, nhờ các blog và facebook người Việt hải ngoại hiểu được những trăn trở của thành phần bị trị trong nước cũng như những ưu tư thầm kín của đồng bào tại nội địa. Ba hình thức truyền thông blog, facebook và youtube cần được phổ biến và bành trướng, vì đây là một lối tuyên truyền hữu hiệu và kín đáo, công an việt gian cộng sản khó kiểm soát nhất là dưới hình thức facebook và youtube.

Dưới thời đại điện tử nầy ai cũng có thể làm truyền thông, nhất là người Việt hải ngoại. Vậy xin đưa ra vài ý kiến đối với hai thành phần chính : Sáng tác và phổ biến (cơ sở truyền thông và người chuyển tin).

Sáng tác ở đây xin nói một cách rộng rãi, những người cầm viết (văn thơ, nhà báo, nhà bình luận, người làm phóng sự, nhiếp ảnh gia, ca nhạc sĩ cũng như họa sĩ) hãy dùng ngòi bút, đặt nặng chiều hướng sáng tác của mình làm thế nào để có thể góp phần đắc lực và có lợi cho cộng đồng cũng như phong trào tranh đấu chung của dân tộc. Đối với nghệ sĩ trình diễn, nên dùng khả năng của mình để làm một cái gì cho quốc gia dân tộc, đồng thời chứng tỏ chút ân tình nhằm đền đáp công ơn của đồng bào tỵ nạn, là những người đã một thời ủng hộ và đùm bọc để ngày nay đa số nghệ sĩ gốc tỵ nạn công thành danh toại tại hải ngoại.

Ngoài ra phải khẳng định một điều rằng, người chuyển tin là những chiến sĩ quan trọng hơn kẻ sáng tác, vì chính nhờ thành phần nầy, những bài viết được chuyển đến tận tay tất cả bạn bè, người thân, các diễn đàn, các cơ quan truyền thông, các tổ chức quốc tế và ngay cả trong nội địa. Với một vai trò quan trọng như vậy, người chuyển tin phải chịu trách nhiệm việc làm và phải thận trọng khi chuyển đi một bản tin cũng như bài viết, không thể chuyển đi một cách bừa bãi những bài viết có tính cách đánh phá hoặc có nhiều ẩn ý qua lối hành văn chơi chữ, hậu quả sẽ gây nhiều phản ứng ngược có lợi cho kẻ thù.

Vai trò các cơ quan truyền thông cũng như những diễn đàn chính trị đều phải nhận trách nhiệm của mình, không vì mục đích cá nhân để buông xuôi cho các thành phần phá hoại được an toàn múa gậy vườn hoang. Đồng ý rằng, hải ngoại là xứ tự do, ở đây quyền suy nghĩ và phát biểu là tượng trưng cho chế độ tự do. Nhưng phải nhìn nhận rằng người Việt hải ngoại chúng ta chỉ biết kêu gọi tự do suông đồng thời lạm dụng hành xử quyền tự do ngôn luận không đúng chỗ, nhưng một số đông chưa biết đặt mình vào vị trí của một người tỵ nạn, chưa biết đặt cộng đồng vào vai trò của một tập thể đang tranh đấu, và cũng chưa biết đặt quyền lợi đất nước và dân tộc Việt Nam lên trên tất cả… từ đó chưa có ý thức việc làm của mình và cũng chưa hiểu được thế nào là tự do của một dân tộc đang trong hoàn cảnh chiến tranh.

Có thể nói rằng tự do thời bình và tự do tại các xứ văn minh khác xa với tự do dưới thời chiến, nhất là với tình trạng đất nước của chúng ta hiện nay. Xin lấy một ví dụ, nước Pháp thường tự hào là nơi nhân quyền tự do nhất thế giới, nhưng nước Pháp đã kẹt cứng với chính sách tự do quá trớn của họ. Chính vì vậy, nước Pháp đã tạo ra một thứ tự do nửa vời : Chính phủ không ra chính phủ, cảnh sát thì sợ băng đảng, nội các chẳng những mị dân để kiếm phiếu mà còn nhu nhược trước một thiểu số sắc dân già mồm ở lậu… Hành động nầy đã hũy hoại tôn ti trật tự tốt đẹp của một xứ tự do nhân quyền nhất thế giới. Hơn nữa, xét cho cùng, thì quyền tự do đúng nghĩa của nó, nếu áp dụng trong thời bình sẽ tốt đẹp, nhưng dưới thời chiến, nếu không biết giới hạn thì đất nước sẽ sinh loạn, rồi tự do đâu chẳng thấy mà chỉ còn là một xã hội bất ổn, mất trật tự và an ninh tối thiểu cho người dân không còn nữa ! Biện pháp ‘thiết quân luật’ hay ‘giới nghiêm’ trong thời chiến là một biện pháp để kiểm soát và bảo đảm an toàn cho người dân, vậy xin đề nghị với các cơ quan truyền thông cũng như diễn đàn chính trị ‘hãy áp dụng lệnh thiết quân luật’ hoặc ban hành ‘giới nghiêm’ để đóng cửa vĩnh viễn những thành phần mang nhiều nick name, gồm bọn cộng sản nằm vùng, các nhóm côn đồ phá hoại tôn giáo… chúng thường trực vào các diễn đàn mục đích phá hoại và chụp mũ người quốc gia. Nếu được như vậy, vấn đề truyền thông của chúng ta sẽ đạt được thành quả tốt đẹp.

Một kinh nghiệm cho thấy trong cuộc tranh đấu cho tự do no cơm ấm áo đối với đồng bào nội địa, người Việt Quốc Gia hải ngoại cần phải tận dụng các phương tiện truyền thông để đánh gục chế độ thối nát đảng cộng sản việt gian. Nhưng thực tế, việc tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông, cộng sản việt gian đã vượt xa người Việt Quốc Gia chúng ta, bằng chứng trên các hệ thống google, yahoo và ngay cả những diễn đàn của các cộng đồng chúng ta tại các xứ Âu-Mỹ. Thử mở máy đánh một chữ (bằng tiếng Việt) trên các hệ thống Google hoặc Yahoo thì một hai giây sau sẽ xuất hiện cả triệu bài viết hoặc hình ảnh có liên quan của chữ muốn tìm. Nhưng nếu chịu khó theo dõi, chúng ta sẽ thấy trên một nửa là những bài viết hoặc hình ảnh do các cơ quan của chế độ cộng sản hoặc thành phần ‘đỏ’ trong nước post lên. Cộng đồng chúng ta không thiếu người giỏi về vi tính, vậy xin Quý Vị hãy tìm cách đưa vào Google và Yahoo tất cả những bài viết, thông tin, hình ảnh nào liên quan đến đời sống tại quốc nội cũng như ở hải ngoại và những thành quả tranh đấu nhằm giải thể chế độ cộng sản việt gian để cho thế giới hiểu, cảm thông và ủng hộ hành động của chúng ta.

Vậy có thể kết luận rằng, trong cuộc chiến chống bạo quyền cộng sản hiện nay, diễn đàn hải ngoài là trận địa, truyền thông là vũ khí và tất cả người viết cũng như quý vị chuyển tin là những chiến sĩ anh dũng của trận chiến ngày hôm nay.

Đinh Lâm Thanh

PHAN CHÂU TRINH (1872-1926) TRANH ĐẤU BẤT BẠO ĐỘNG(PHẦN I)


(PHẦN I)

Phan Châu Trinh sinh tháng 8 năm 1872 (nhâm thân) tại làng Tây Lộc phủ Tam Kỳ Quảng Nam, tự Tử Cán hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã. Ông xuất thân gia đình danh tiếng tại Tiên Phước, thân phụ ông Phan văn Bình làm quan chức Quản cơ sơn phòng (chức quan võ trong coi biên giới các vùng núi) thân mẫu bà Lê thị Chung(Trung?).

Ông là con trai út, lập gia đình năm 1896 lúc 25 tuổi, vợ là Lê Thị Tỵ (1877-1914) người làng An Sơn, Tiên Phước. Thi đỗ cử nhân năm 1900, phó bảng 1901, năm 1903 làm quan ở Huế.

Bối cảnh lịch sử.

Thực dân Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Việt. Ngày 05.07.1885 Tướng De Courcy đem đại quân đánh úp Kinh thành Huế, Tôn Thất Thuyết (1835-1913) xa giá vua Hàm Nghi (1872-1943) ra khỏi Kinh thành. Các đạo quân De Courcy chỉ huy đuổi theo truy lùng. Tôn Thất Thuyết phải đưa vua chạy đến Tân Sở (QuảngTrị) thảo hịch Cần Vương được sĩ phu khắp nơi hưởng ứng lời kêu gọi, nổi lên chống Pháp, bấy giờ cụ Phan Văn Bình hưu trí, nhưng hưởng ứng Nghiã Hội Cần Vương làm chuyển vận sứ (phụ trách quân lương) ở đồn A-Bá Tiên Phước và lập đồn điền để trồng hoa màu tiếp tế cho Phong Trào Nghiã Hội tại Quảng Nam (từ tháng 7.1885 đến tháng 8.1887) dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) và tiến sĩ Trần Văn Dư (1839-1885).

Tổng trú sứ Bihourd đề nghị với Ðồng Khánh sai Nguyễn Thân đánh dẹp Phong Trào Nghiã Hội Quảng Nam. Nguyễn Thân đánh Tam Kỳ và phá nhiều căn cứ quân Cần Vương, tiếp tục truy lùng bắt gia đình Nguyễn Duy Hiệu tại thượng nguyên Phước Sơn làm con tin, yêu cầu ông ra đầu hàng vì lòng hiếu thương mẹ già và gia đình. Ông phải về với triều đình (Ðồng Khánh) lảnh bản án tử hình. Ðồng Khánh lên ngôi 14.9.1885 làm vua bù nhìn. Triều đình có một số quan lại muốn yên thân cúi đầu tuân theo lệnh của bọn thực dân, xã hội và triều đình bị phân hoá trầm trọng chia làm hai phe. Phe theo kháng chiến cứu quốc, phe còn lại hàng giặc để thưà hưởng, vinh thân phì gia

Cuộc kháng chiến của vua Hàm Nghi thất bại, bị tên thổ phỉ Lê Quang Ngọc, và Nguyễn Ðình Thìn chỉ điểm cho Pháp. Đêm 01.11.1888 bắt vua Hàm Nghi giao cho Ðại úy Boulanger ngày 04.11.1888, đến trung tuần tháng 8.1889 vua bị lưu đày sang Bắc Phi. Các phong trào Văn Thân, Cần Vương bị dẹp, nhưng không dập tắt lòng yêu nước của toàn dân Việt Nam. Năm 1930 khởi nghiã chống Pháp của Việt Nam Quốc Dân Ðảng dù thất bại „không thành công cũng thành nhân“, không làm nao núng lòng yêu nước.

Dân tộc Việt Nam luôn tranh đấu qua nhiều phòng trào đánh Tây, muốn thoát khỏi vòng nô lệ nên máu xương của dân quân tiếp tục đổ ra trên dòng sông lịch sử, cho đến ngày dành lại độc lập năm 1945. Bọn tay sai đắc lực như Nguyễn Thân (1840-1914), Hoàng Trọng Phu, Hoàng Cao Khải (1850-1933), Lê Hoan, Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), Phạm Ngọc Quát v.v. bị lịch sử phê phán, người đời nguyền rủa. hai tên phản quốc Ngọc và Thìn đều bị nghiã quân Phan Ðình Phùng (1844-1895) giết để làm gương cho hậu thế.

Sau cơn Quốc biến và Gia biến, Phan Châu Trinh mồ côi mẹ lúc 6 (8?) tuổi, năm Đinh hợi 1887 thân phụ bị nạn qua đời, phòng trào cũng tan, ông từ giả chiến khu lúc 16 tuổi về quê sống với anh cả Phan Văn Cừ nuôi ông ăn học, ông là người hoạt bát tháo vát và vui tính. Năm 1892 (21 tuổi) kết giao với Huỳnh Thúc Kháng, đến năm 1898 ông được vào trường tỉnh do đốc Trần Đinh Phong (Mã Sơn) tại Thanh Chiêm quận Ðiện Bàn trông coi giảng dạy, có nhiều cơ hội tiếp xúc với nền văn minh phố Hội và có thêm bạn thân là Trần Quý Cáp. Năm 1901 đậu phó bảng, người anh cả mất năm 1902 ông về cư tang, ở nhà dạy học đến năm Qúy mão 1903 lại được bổ dụng làm Thừa biện bộ Lễ. Kinh đô Huế là Trung tâm văn hóa, trong thời gian làm quan ông tiếp xúc nhiều giới trí thức tân học như: Ðào Nguyên Phổ (1861-1907), Thân Trọng Huề (1869-1925) Phan Bội Châu (1867-1940). Tàu bè ngoại quốc đến Ðà Nẵng, bán sách cho sĩ phu Việt Nam, từ đó Phan Châu Trinh tiếp thu ý thức thế hệ mới, về tư tưởng dân quyền và dân chủ. Các cuộc chiến Trung Hoa Nhật Bản (1894-1895) chiến tranh Ðức Pháp (1870-1871), ảnh hưởng rất nhiều đến thành phần trí thức, cũng như sách Tân thư, của Khang Hữu Vi (K’ang Yu Wei 1858-1927) Lương Khải Siêu (Liang Ch’i Ch’ao 1837-1929) và của các tác giả: Montesquieu (1689-1755), Rousseu (1712-1778), Voltaire (1694-1778) được dịch sang Hán văn. Từ đó có một sự chuyển biến trong tư tưởng và cuộc đời của Phan Châu Trinh, nhưng nhà văn Nguyễn Văn Xuân cho rằng: Phan Châu Trinh ảnh hưởng sâu rộng tư tưởng Duy Tân của tác giả Nguyễn Lộ Trạch với „Thiên Hạ Ðại Thế Luận(2)

Phong Trào Duy Tân

Cuối năm 1904, Phan Châu Trinh từ quan, rời Huế không muốn làm việc trong cảnh nô lệ. Triều đình có Vua nhưng chỉ để thi hành mệnh lệnh của chính phủ bảo hộ không có quyền hành.“vận nước gặp cơn dâu biến..còn lòng đâu áo mão xênh xang“. Ông cùng hai người bạn thân là Hùynh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, không làm quan để vinh thân phì gia chọn con đường đấu tranh nhiều chông gai, dấn thân hoạt động trong Phong Trào Duy Tân tại Quảng Nam.

Phong trào Duy Tân chủ trương bất bạo động, công khai hoạt động nhằm khai hoá dân tộc „chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh“Chí Thành Thông Thánh “ và bài phú „ Danh Sơn Lương Ngọc “ gây chấn động trong học giới và văn giới. cải cách trên mọi lãnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ chương, truyền bá canh tân mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu goị cắt tóc ngắn, cắt móng tay, phát động phong trào học Quốc ngữ , nhưng triều đình Huế vẫn duy trì lối học thi phú, qua các loại sách như “Tứ Thư Ðại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử“ và Ngũ kinh. Cho đến năm 1913 Triều đình bắt đầu cải cách, năm 1917 kỳt thi Hương cuối cùng chấm dứt chương trình học cổ điển. Trong lúc Tây Phương họ học toán, phát triển văn-minh, khoa-học, kỷ-thuật tiến bộ, người ta dùng kỷ nghệ nặng như đóng tàu, đúc súng…đem lại đời sống phồn thịnh Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp cùng nhau đi vào miền Nam, tới Bình Ðịnh gặp quan tỉnh kỳ khảo hạch , ông cùng hai bạn làm bài thơ „


Việc đời ngoảnh lại thành không
Còn đâu giọt lụy non sông khóc người
Muôn dân luồn cúi tôi đòi
Văn chương bát cổ say hoài giấc mơ
Mặc ai chửi rủa tha hồ,
Xích xiềng này biết bao giờ tháo xong?
Anh em còn chút máu nồ
Hãy đem văn ấy đọc cùng nhau nghe.

(Á Nam Trần Tuấn Khải dịch)


Thơ và phú đó gây phản ứng mạnh tại trường thi, mục đích cảnh tỉnh học trò sĩ tử còn mê muội với từ chương thi phú, ham công danh quên đất nước đang chìm trong vòng nô lệ. Ðó cũng là cách vận động gây tiếng vang trong giới trí thức và quần chúng.

Chính quyền điạ phương truy lùng tác giả các bài trên, nhưng các cụ đã đi xa vào tới Nha Trang, xem hạm đội Nga do đô đốc Rojestvensky chỉ huy tạm thả neo chờ ngày cấp cưú Lữ Thuận (Lu Shun). Ba người tới Phan Thiết gặp các ông Trương Gia Mô (1866-1930), Hồ Tá Bang (1875-1943), Nguyễn Trọng Lôi ( ?1911) cùng bàn chuyện Duy Tân, thành lập công ty Liên Thành và mở trường Dục Anh. Phan Châu Trinh bị bệnh nên không thể tiếp tục xuôi Nam. phải ở lại dưỡng bệnh Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) , Trần Quý Cáp (1870-1908) trở về hoạt động tại Quảng Nam, có thêm Lê Bá Trinh (1875- ?), Phan Thúc Duyện (1873-1944) là những người khoa bảng không ra làm quan, tham gia vận động mạnh cho Phong Trào Duy Tân với chủ thuyết Dân Quyền, được vận động trong quần chúng, thực hành theo phương thức hoạt động của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu. Khác với Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895), Nguyễn Trường Tộ (1828-1817), Phan Thanh Giản (1796-1867), Phạm Phú Thứ (1820-1883) viết nhiều điều trần gởi cho triều đình Huế đều bị bỏ quên!

Tại Quảng Nam các thương hội, dệt các thứ vải dày có thể may Âu phục. Phan Châu Trinh đích thân làm gương cắt may, mặc bộ đồ tây bằng vải nội, hàng vải tơ lụa nội hóa được cải tiến, làng Bảo An, Ðiện Bàn nổi tiếng dệt đẹp cần phát triển thủ công nghệ, có thể cạnh tranh với tơ lụa nhập cảng. Nông Hội phát triển lớn nhất tại Yến Nê, (Ðiện Bàn) rộng chừng 20 mẫu trồng khoai, sắn, bắp, cho trồng cây dương liễu để cản gió theo hai bên bờ sông, còn lại dấu tích cho đến ngày nay. Mỹ Sơn (Duy Xuyên) rộng khoảng 40 mẫu trồng hoa màu và cấy lúa, Bửu Sơn (Ðại Lộc) khai phá để trồng lúa

Về thương nghiệp cạnh tranh với thương gia Trung Hoa. Các thương hội tổ chức, phương pháp làm việc kết qủa tốt như thương hội Phong Thử (Ðiện Bàn) do Phan Thúc Duyện trông coi, điạ điểm thuận lợi cho việc giao thông bằng đường thủy ghe lớn có thể cập bến được, tấp nập người đến buôn bán. Hội An thương cuộc do ông Bang Kỳ Lam phụ trách bán đủ loại sỉ và lẽ vải, gạo, đường, quế, trên các món hàng bày bán đều có định giá rỏ ràng nhân viên lịch sự tiếp khách… Phú Lâm (Tiên Phước) do Lê Cơ (1870-1918) tổ chức chương trình khuyến kích công thương nghiệp, là bước tiến đầu tiên tại Quảng Nam từ từ ảnh hưởng đến thay đổi sinh hoạt Hà Nội và Sài Gòn. Các nhà nho tiến bộ tại Hà Nội đứng ra khuếch trương thương nghiệp là ông Ðỗ Chân Thiết mở hiệu Ðồng Lợi Tế ở phố Mã Mây, mở tiệm thuốc Bắc Tụy Phương ở phố Hàng Cỏ, Hoàng Tăng Bí mở hiệu Ðông Thành Xương ở Hàng Gai..Tại sài gòn có Minh Tân Khách sạn của cụ Phủ Chiếu(3)

Phong Trào Duy Tân là cuộc cách mạng lớn trên mọi lãnh vực đầu Thế kỷ 20. Các trường dạy thêm chương trình chữ Quốc ngữ lan rộng trên khắp nẻo đường đất nước. Vua Thành Thái thường cải trang vi hành, nghe và ảnh hưởng Phong Trào Duy Tân, cắt bỏ cục tóc trên đầu, các quan ngạc nhiên lúc ngài ngự triều, nhà Vua tự làm gương đề xướng theo Duy Tân cải cách sinh hoạt để thúc đẩy dân tiến.(4)

Thực dân Pháp kết án ai theo Duy Tân cắt tóc gọi là giặc cúp tóc. Ngày 30-7-1907 toàn quyền Beau kết tội vua Thành Thái bị bệnh tâm thần và phế đế, lập Duy Tân (Vĩnh San) lên ngôi (1900-1945).Phong Trào Duy Tân phát triển tốt đẹp tại quê nhà, Phan Châu Trinh ra Nghệ An gặp Ngô Ðức Kế đến Hà Nội tiếp xúc với số sĩ phu vận động mở rộng Phong Trào Duy Tân, ông có tài diễn thuyết, chinh phục được phái cựu học tham gia Phong Trào, khuyến khích mở trường dạy nghành nghề từ công nghiệp cho đến thương nghiệp, mở nông hội và thương hội nâng cao đời sống về kinh tế, truyền bá chữ Quốc ngữ đề xướng chủ thuyết Dân Quyền, được hoan hô đón nhận. Các nhà nho như cụ Phương Nam, Ðổ Chân Thiết, Lương Trúc Ðàm (1879-1908) là những người tiên phong cắt tóc ngắn và ăn mặc Âu phục với hàng nội hóa.(5)

Ông ích Ðường (1884-1908) cháu nội Ông Ích Khiêm hướng dẫn Phan Châu Trinh lên Yên Thế thăm lãnh tụ Hoàng Hoa Thám (1858-1913). Về Hà Nội gặp các ông Lương Văn Can, Nguyễn Quyền là người có công mở trường Ðông Kinh Nghiã Thục.

Xuất ngoại lần thứ nhất

Cuối tháng 3 năm 1906 trốn đi sang Hồng Kông. Nhờ vào đường giây của Phong Trào Ðông Du (1906-1908) Tăng Bạt Hổ người có công đầu dẫn đường cho các nhà cách mạng Việt Nam. Phan Bội Châu và các đồng chí khởi xướng Phong Trào Ðông Du đưa du học sinh sang Nhựt. Trên tàu các Cụ gặp Lý Tuệ làm việc đầu bếp, giúp đỡ từ đó Phan Châu Trinh, được Lý Tuệ dẫn đường xuống tàu cải trang làm bếp đi Hồng Kông gặp Phan Bội Châu (1867-1940), Cường Ðể (1882-1951 là cháu 5 đời vua Gia Long). Cùng nhau sang Quảng Châu thăm Lưu Vĩnh Phúc, Nguyễn Thiện Thuật (?-1841), Lương Ngọc Quyến (1890-1917).

Tháng 5-1906 cả 3 người đến Hoành Tân (Yokohama) và Ðông kinh (Tokyo), trong thời gian lưu lại Nhật, các cụ nhìn thấy nước Nhật hùng mạnh nhờ biết thay đổi chính sách cai trị duy tân của Minh-trị-Thiên-Hoàng (Mutsu Hito 1852-1912). Nhật trở nên hùng mạnh thắng Trung Hoa năm 1895 đưa đến việc hai bên ký kết hoà ước Shimonoseki (Hạ Quan) ngày 17.04.1895. Nhật đánh bại quân Nga tại Tsushima (Ðối Mã) năm (1904-1905).

Phan Châu Trinh gặp giới chính khách Nhật, như Khuyển Dưởng nghị (Inukai ki 1855-1932) Ðại Ôi Trọng Tín (Okuma Shigonebu 1838-1922) người Nhật xướng lên chủ nghĩa Ðại Ðông Á. Phan Châu Trinh thấy chính sách của Nhật không thật tình giúp đỡ Việt Nam..Dân tộc Việt Nam phải tự duy tân, nếu không được khai hóa thì không thể canh tân xứ sở....

Tư tưởng hai nhà cách mạng họ PHAN rất tiếc không tương đồng, Phan Bội Châu với khuynh hướng bạo động, duy trì chế độ Quân chủ trông cậy vào Nhật để chống Thực dân. Ngược lại Phan Châu Trinh chủ trương bất bạo động tân dân, không chấp nhận chế độ quân chủ, muốn khai thông dân trí thì phải cải cách, muốn có nhân quyền thì phải chấm dứt chế độ vua quan bù nhìn Nam Triều. Chủ trương dựa vào nước Pháp để khai hóa dân tộc tiến bộ, làm cuộc cách mạng văn hóa, khi đất nước mạnh có thể đấu tranh dành lại độc lập, tiết kiệm xương máu. Nếu dựa vào nước Nhật để chống Pháp có tránh được việc. ”đuổi con hổ ra cửa trước, rước con gấu vào ngõ sau“?(6)

Ðại Hàn bị Nhật đô hộ, cũng như Hiệp ước Pháp và Nhật ký ngày 10.7.1907 Pháp nhường cho Nhật số quyền lợi. Pháp yêu cầu chính phủ Nhật bắt các nhà Cách mạng Việt Nam chống Tây, giải tán và trục xuất du học sinh. Tháng 8. 1908 Nhật trục xuất hàng trăm thanh niên Việt Nam bổng nhiên rơi vào cảnh bơ vơ không nơi nương tựa, năm 1909 Phan Bội Châu và Cường Ðể cùng chung số phận phải trốn sang Trung hoa. Ðến tháng 10.1910 chính phủ Mãn Thanh khủng bố các nhà Cách mạng Trung Hoa. Cường Ðể và Phan Bội Châu phải sang Thái Lan.

Ðệ nhị thế chiến 9.3.1945, người Nhật lộ hẳn sự phản bội dân tộc Việt Nam, trước khi Phan Châu Trinh trở về Việt Nam tâm sự với Phan Bội Châu „Xem dân trí Nhật rồi đem dân trí ta ra so sánh, thật không khác gì muốn đem con gà con đọ với con chim cắt già. Giờ bác ở đây, nên lo chuyên tâm ra sức vào việc văn, thức tỉnh đồng bào cho khỏi tai điếc mắt dui còn việc mở mang diù dắt ở trong nước nhà thì tôi xin lảnh. Lưỡi tôi đang còn, người pháp chẳng làm gì tôi được mà lo“(7)

Trở về nước hoạt động

Ðường lối đấu tranh hai nhà cách mạng tuy khác nhau, nhưng cùng tình yêu đối với Tổ quốc đồng bào. Phan Châu Trinh về nước công khai đấu tranh bất bạo động, chính sách cai trị của chính phủ bảo hộ chỉ bần cùng hóa ngu dân, không thực lòng khai hóa dân tộc Việt Nam, đào tạo số người tay sai làm giàu trên xương máu của dân tộc. Ngày 15-08-1906 gọi là „ Phan Châu Trinh đầu thư cho Pháp“. Gởi thư cho toàn quyền Paul Beau và khâm sứ Trung kỳ Fernand Lévecque. Thư trình bày hòan cảnh bi đát nhất của nhân dân dưới chính sách cai trị, những tệ trạng của quan lại Nam triều:


1/ Chính phủ bảo hộ dung dưỡng cho bọn quan lại An nam để gây nên tệ lậu
2/ Chính phủ bảo hộ khi thị dân Việt Nam thái quá, khiến cho đôi bên phải xa cách
3/ Quan lại nhân cái sự ly gián ấy mà hành hạ dân(8)


Phan Châu Trinh ghé thăm Lương Văn Can nói về tình hình nước Nhật, tháng 3.1907 tại phố Hàng Ðào Hà Nội các sĩ phu Bắc Kỳ ngồi lại với nhau. Cụ Phan đề nghị mở trường dạy học, ý kiến nầy được chấp thuận lấy tên trường là Ðông Kinh Nghĩa Thục “tương tự như Khánh Ưng Nghiã Thục“ của Phúc Trạch bên Nhật, xin giấy phép mở trường, chủ trương không lấy tiền học phí, mọi người tự nguyện bỏ công, bỏ tiền, tài sản ra thành lập. Ngày khai giảng thu nhận học sinh đông đảo. Bỏ lối học từ chương, chú trọng thường thức và thực nghiệm dạy theo phương pháp giáo dục mới, chương trình dạy chữ Quốc ngữ, chữ Hán và Pháp Văn. Phạm Ðình Ðối dạy môn toán học, thành phần giảng dạy của Ðông Kinh Nghiã Thục là các nhà nho và tân học: Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Phan Huy Thịnh, Ðào Nguyên Phổ, Phan Tuấn Phong, Ðặng Kinh Luân, Nguyễn Hữu Cầu..vv,(9)

Lương Văn Can làm thục trưởng, Nguyễn Quyền làm giám học. Phan Châu Trinh không giữ vai trò nào vì cụ Phan về miền Trung vận động tiếp cho Phong Trào Duy Tân. Ðông Kinh Nghiã Thục truyền bá văn hóa nước nhà, thêm tình thần ái quốc, trường có một số nhà nho như Lương Trúc Ðàm, Dương Bá Trạc. Ðổ Chân Thiết.. hoạt động ngầm cho phái bạo động (Phan Bôi Châu) nhiều cụ qúa hăng hái giảng dạy kêu gọi lòng yêu nước, đưa đến chủ trương chống chính sách thuộc địa. Thực dân Pháp nghi ngờ cho mật thám theo dõi, tịch thu giấy phép giải tán trường học vào tháng 11.1907. Khép tội Ðông Kinh Nghiã Thục là lò phiến loạn ở Bắc Kỳ, đóng cửa luôn tờ (Ðăng Cổ Tùng Báo) cấm lưu hành tàn trữ sách vở. Giáo viên, những người trong tổ chức bị nghi ngờ, bị kết án tù, đày ra côn đảo.

Ðoàn kết Tôn Giáo.

Các tỉnh miền Trung xảy ra chia rẽ với người theo Ðạo Thiên Chúa dưới thời Phong trào Cần vương. Giáo dân vùng Trà Kiệu quận Duy Xuyên bị cô lập, bị phân biệt xảy ra tranh chấp đổ máu... Phan Châu Trinh đi khắp nơi trong tỉnh nhà, kêu gọi toàn dân đoàn kết, chia rẽ gây thêm cảnh khổ đau dân tộc có lợi cho thực dân. Cụ Phan không đặt vấn đề Lương-Giáo mọi người đều có trách nhiệm với quốc gia Việt Nam. Nhìn lại các nhà truyền giáo Tây Phương đã giúp ích cho văn học Việt Nam. Ðạo Thiên Chúa đào tạo những con Chiên ưu tú như Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) Trương Vĩnh Ký (1837-1898) .. Phan Châu Trinh tiếp xúc với các vị các linh mục người Pháp, kêu gọi họ giúp đỡ để khai hóa con Chiên Việt Nam, Phan Châu Trinh hỏi các Linh mục:

Có lẽ dân An Nam không phải là con chung của Chúa Trời, nên dầu có theo giáo, chỉ có sớm chiều đọc mấy câu kinh, đến ngày lễ tới nhà thờ quỳ nghe giảng mà thôi sao?„(10)

Lần đầu tiên trong đấu tranh sử nước nhà, giữa Lương-Giáo được hòa giải san bằng hố sâu ngăn cách, đoàn kết hoạt động với Phong Trào Duy Tân, làng Phước Kiều (Duy Xuyên) có cơ sở giáo dục Quảng Phước do một vị nhà dòng dạy học và tổ chức cơ sở chế biến kỷ nghệ đồ đồng rất tinh xảo như nghề gia truyền cho đến ngày nay. Phong Trào Duy Tân giúp Dân trí được mở mang mạnh mẽ, nhiều người hưởng ứng nổi bật nhất, ông Lê Cơ thi đậu tú tài nhưng chỉ làm lý trưởng, con cô cậu với Phan châu Trinh. Nhân dân được học hỏi tiến bộ, hưởng ứng phong trào như cắt tóc ngắn, là một thành công lớn của Phong Trào Duy Tân, muốn bỏ được phong tục lâu đời rất khó, hớt tóc có bài vè cúp tóc, được truyền tụng trong dân gian, khuyến khích đàn ông hớt tóc ngắn. Phong Trào chủ trương lâu dài, khai trí dân tộc tiến bộ mau chóng, Dân tộc hiểu được các quyền tự do: Dân quyền và Nhân quyền, thì chính sách bảo hộ của người Pháp phải thay đổi.

Cuộc vận động đòi quyền sống, dù bất bạo động của Phong Trào Duy Tân, công khai dần dần lan rộng, bởi vì thực dân Pháp và tay sai đàn áp bóc lột đánh thuế nặng, tất cả tai hoạ của xã hội trong giai đoạn nầy phản ảnh qua những câu ca dao.(11)

Ðời ông cho đến đời cha
Ðời nào cực khổ như ta đời nầy
Ngoài đồng cắm cọc giăng giây
Vườn hà đóng thuế vợ gầy con khô..
Từ ngày Tây chiếm Ðế Ðô
Xâu cao thuế nặng biết chừng mô hỡi trời!

Diễn tiến cuộc biểu tình

Năm 1908 các điạ phương từ tỉnh Quảng Nam đến Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tỉnh, Nghệ An nổi lên phong trào kháng thuế xin xâu. Lúc đầu cuộc vận động biểu tình bất bạo động, có tầm mức quan trọng từ trước chưa xảy ra ở Việt Nam. Tại quận Ðại lộc (11.03.1908) sau đó Ðiện Bàn rồi các nơi đều hưởng ứng tham gia biểu tình kháng thuế, chống bọn tay sai, đòi hỏi dân quyền. Thực dân Pháp không giải quyết nguyện vọng của toàn dân ra lệnh đàn áp. Phong Trào như làng sóng lên cao, phẩn nộ trong người dân từ lâu bị đè nén và bộc phát. Thực dân Pháp lúc đầu để Phong Trào Duy Tân hoạt động vì quan niệm sĩ phu kêu gọi duy tân, theo Âu hóa càng sớm càng mất dần dân tộc tính càng dễ cai trị. Không ngờ Phong Trào gây ảnh hưởng sâu rộng, đưa đến đấu tranh chống thuế xin xâu, đụng vào cái thực chất quyền lợi của thực dân. Nếu không đánh thuế vào dân, lấy tiền đâu nuôi đòan quân viễn chinh, bộ máy cai trị tại Việt nam, đem tiền bạc về cho nước Pháp.

Thực dân và bọn tay sai quyết đập tan phong trào kháng thế xin xâu, dùng bạo lực súng đạn, đàn áp bắn giết đồng bào tham gia trên tay không vũ khí. Kết án ngọn lửa đấu tranh ấy phát xuất từ Phong Trào Duy Tân, đồng thời ngoài Bắc ngày 27.6.1908 xảy ra vụ Hà Thành đầu độc. Thực dân Pháp ra lệnh bắt bỏ tù hàng loạt từ Trung đến Bắc các sĩ phu yêu nước như: Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Ðức Kế, Châu Thượng Văn (1856-1908), Nguyễn Thượng Hiền, Lê Cơ, Phan Khôi Tiểu La Nguyễn Thành (1863-1911) vv.. đến nhà tù Côn đảo cũng như Lao Bảo .

Kết án xử chém những người dẫn đầu đấu tranh tại Quảng Nam: Trần Thuyết (1857-1908 ngày 8-4 tại Tam Kỳ), Ông Ích Ðường (bị chém ngày 24-4 tại Túy Loan), các ông Nguyễn Cang, Nguyễn Dực, Phan Tham, Trần Phước, đều bị chém tháng 5 tại Duy Xuyên. Phong trào đấu tranh máu đổ ra tô thắm thêm trang sử Việt Nam oai hùng. Phong Trào xin thuế bị dẹp vì thiếu tổ chức không có người chỉ huy tổng quát. Phong Trào Duy Tân dù thất bại nhưng nó còn trường tồn mãi trong lịch sử nước nhà.

Phong Trào có các ưu điểm: tin vào việc tự khai hóa dân tộc, phát triển các ngành nghề phù hợp với sinh hoạt địa phương, công-thương-nghiệp phải phát triển toàn diện, không có tinh thần vọng ngoại, truyền bá chữ Quốc ngữ... Áp dụng chủ thuyết Dân quyền hành động có lý tưởng, xây dựng đất nước quan tâm đến dân tộc phải tự cường và đoàn kết

Trong giai đoạn nầy Trần Qúy Cáp (làm giáo học tại Khánh Hoà, vì nhà nghèo làm việc theo ý thân mẫu) bị Bố chánh Phạm Ngọc Quát, bắt (16.04) đổ tội cho cụ Trần xách động và đồng lỏa với phong trào kháng thuế xin xâu. Bản án dành cho Trần Quý Cáp thật ác nghiệt đó là chủ trương của chế độ thực dân, bởi vì Trần Quý Cáp viết gởi cho Phan Thúc Duyện có câu (Ngô dân thử cử khoái khoái khóai = dân ta làm thế sướng ...) vui mừng quê nhà có biểu tình đấu tranh chống thuế xin xâu. Bị kết án „tuy chưa có hành động nhưng đã nuôi cái lòng phản nghịch“ được gọi là bản án „mạc tu hửu“ nghĩa là chẳng cần có tội, muốn giết thì giết, dẹp hết các người yêu nước để bọn thực dân rảnh tay cai trị.

Chính quyền muốn tử hình Phan Châu Trinh không thực hiện được, lần nầy phải giết gấp Trần Quý Cáp, tuyên án xử chém ngang lưng tại Khánh Hoà, đến 1924 Trần Quý Cáp được khai phục phẩm hàm, nhưng ông đã an giấc nghìn thu!


đọc tiếp phần II


1/ Quảng Nam trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng

2/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân

3/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân

4/ Thành Thái người điên thế kỷ tác giả Thái Vũ trang 236

5/ Ðông Kinh Nghĩa Thục tác giả Nguyễn Hiến Lê trang 95

6/ Quân sử trang 333 xuất bản Bộ tổng tham mưu QÐ VNCH

7/ Phan Bội Châu Ngục trung thư trang 50

8/ Phan Châu Trinh Thế Nguyên

9/ Ðông Kinh Nghĩa Thục tác giả Nguyễn Hiến Lê

10/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân

11/ Quân sử trang 338 xuất bản Bộ tổng tham mưu QLVNCH

Tài liệu tham khảo

Quảng Nam trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng Nxb Non Nước Toronto 2000

Phan Châu Trinh (1872 - 1926) Tác giả Thế Nguyên tủ sách Tân Việt

Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân Nxb Lá Bối

Thành Thái người điên thế kỷ tác giả Thái Vũ Nxb Văn Học

Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925 Tác giả Thu Trang Nxb Văn Học

Từ Hi Thái Hậu cuốn 2 tác giả Mộng Bình Sơn Nxb Xuân Thu

Bộ Quân sử do bộ tổng tham QLVNCH mưu xuất bản

Quảng Nam đất nước và nhân vật 1 &2 Nguyễn Quyết Thắng


( PHẦN II)

PHAN CHÂU TRINH (1872-1926) TRANH ĐẤU BẤT BẠO ĐỘNG

(PHẦN II)

Phan Châu Trinh công khai hoạt động làm cho người Pháp rất lo ngại. Louis Bonhoure toàn quyền Ðông Dương nhận xét: “Phan Châu Trinh không tỏ ra bạo động như Phan Bội Châu nhưng nguy hiểm hơn cho sự thống trị của người Pháp tại Việt Nam”.

Vì xảy ra vụ chống thuế bùng nổ tại Quảng Nam, Công sứ Lévecque yêu cầu thống sứ Bắc kỳ Joseph de Mirabel bắt Phan Châu Trinh ngày 10.04.1908 tại Hà nội giải về Huế giam ở toà Khâm sứ, (khu vực trường Ðại học Sư Phạm trước 1975). Người Pháp bề ngoài văn minh nhưng chẳng hơn gì triều đình Huế về những điều hủ bại. Phan Châu Trinh phản đối chính phủ Pháp kiệt thực 7 ngày, Khâm sứ Lévecque là con cáo già thực dân, muốn ném đá dấu tay, trả cụ cho Cơ Mật Viện để toà An Nam xét xử, nếu xét theo luật Gia Long điều 223 tội nhân bị ghép làm loạn xách động bị xử trảm. Các quan lại Nam triều vốn thù ghét Phan Châu Trinh đã phê phán chế độ quân chủ làm tay sai, Nam triều lấy cơ hội nầy lên án tử hình, nhưng ở Hà Nội cụ Phan chơi thân Babut Ernest Chủ nhiệm tờ Ðại Việt Tân Báo và có chân trong Hội Nhân Quyền Ligue des Droits de L’ Homme. Ðược Babut Ernest tận tâm can thiệp lên thẳng phủ Toàn quyền xin tái thẩm vụ án, yêu cầu chính phủ Pháp can thiệp giảm án. Tóa án An Nam không thể thi hành án tử hình đổi lại án chung thân khổ sai đày ra Côn đảo Cụ Phan phẩn nộ trước bản án và nói: “ “ “Một dân tộc nào có người tù về quốc sự như thế thì dân tộc ấy càng thêm vẽ vang .Một dân tộc không có người ở tù về quốc sự thì cái dân tộc ấy là khối dân tộc vô hồn thôi(12).

Ngày 04. 4.1908 cụ Phan bị đày ra Côn đảo ứng khẩu bài thơ

Ra cửa thành nam mang xiềng rột rạt

Còn lưỡi này ta hát ta ca

Dân hèn nước cũng tiêu ma

Chi còn chả sợ nữa là Côn lôn

Những năm tù Côn đảo, cụ Phan cảm xúc cho thân phận, man mát lòng cố quốc làm thơ cho quên nỗi sầu xa xứ. Trong lúc dân tộc sống khổ đau dưới gót giày đinh của thực dân Pháp dẫm nát Quê Hương

Làm trai đứng giữa đất Côn lôn

Lừng lẫy làm cho lỡ núi non

Xách búa đánh tan năm bảy đống

Ra tay đập bể mấy trăm hòn

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi

Mưa nắng chi sờn dạ sắt son

Những kẻ vá trời khi lỡ bước

Gian nan nào sá sự con con.

(Đi đập đá)

Cụ bị đày ra Côn đảo được báo chí Hội Nhân Quyền thân oan và vận động được tự do, chính phủ bảo hộ nhận thấy dư luận trong cũng như ngoài nước, muốn ngăn ngừa bớt phẩn nộ của sĩ phu Việt Nam. Chính phủ cử Thống đốc Nam Việt ra Côn đảo thẩm vấn cụ Phan cho về lại Mỹ Tho. Thủ tướng Pháp ông Poincaré ký lệnh tha, quan Toàn quyền Ðông Pháp ông Klobukowsky (1908-1911) Tổng trưởng bộ thuộc điạ Trouillot cùng các quan khác tại Sàigòn xét án và ân xá. Tuyên báo trả tự do nhưng cụ bị quản thúc, Cụ nhất định không chịu phản đối đến cùng. Chính phủ Pháp nhượng bộ cho tự do hoàn toàn. Ở Mỹ Tho thời gian thấy tinh thần đồng bào ở Nam Việt lụn bại hơn đồng bào ngoài miền Trung và Bắc. Cụ phải ngậm ngùi cho trình trạng dân tộc bị đô hộ, các bạn thân chiến hữu của cụ Phan phần lớn bị, bắt đày ra Côn đảo. Thực dân Pháp theo dõi đàn áp khắp nơi, rất khó có thể hoạt động. Cụ Phan thoát được cảnh tù đày nhờ nhà báo Babut và Hội Nhân quyền can thiệp.

Phan Châu Trinh cùng với người con trai làm đơn xin nhập cảnh Pháp. Toàn quyền Klobukowdky cho phép, nghĩ cụ là ông quan già không biết Pháp ngữ, có đến Paris cũng chẳng làm được gì bất lợi cho chính sách thuộc địa của Pháp. Nhưng Phan Châu Trinh tin tưởng đến Pháp có thể vận động rộng rãi với chính khách Pháp văn minh tiến bộ, đòi hỏi chính phủ Pháp thay đổi chính sách thuộc địa tại Việt Nam và Ðông Dương, kêu gọi Pháp trả tự do cho các tù nhân chính trị Việt Nam.

Xuất ngoại lần thứ 2

Năm 1911 Phan Châu Trinh theo Toàn quyền Klobukowsky sang Pháp, cụ biết trước các sĩ phu Việt Nam yêu nước xúc động mạnh với tin cuộc cách mạng Tân Hợi 19.08.1911, Trung Hoa lật đổ được chính thể chuyên chế, bước sang chế độ Dân chủ, tại Việt Nam các sĩ phu yêu nước sẽ tiếp tục nổi dậy chống Pháp dành độc lập, không tránh được cảnh chiến tranh, gây thêm khổ đau, vốn cụ chủ trương Pháp-Việt đề huề xem như nền tảng tư tưởng dân chủ xây dựng Việt Nam. Sử sách thế giới ca tụng Mohandas Karamchand Gandhi (1867-1948) đấu tranh bất bạo động với người Anh dành độc lập cho Ấn Ðộ, nhưng nước Việt Nam nhỏ bé thời ấy chí sĩ Phan Châu Trinh, đấu tranh dành độc lập với thực dân Pháp bất bạo động trước Gandhi. Chủ trương của Cụ Phan: «không nên trông người ngoài trông người ngoài là ngu, không nên bạo động, bạo động là chết. Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào, không gì bằng học...vv Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc khác có thể làm» (13)

Cựu Hoàng Duy Tân

Tàu đến cảng Marseille, cụ Phan và con trai được đón lên tàu lửa về Paris, ở trọ trên đường Gay Lussac, sau về số 32 Vouillé quận 15. Cụ tiếp xúc với Messimy, Bộ trưởng Bộ Thuộc Ðịa và Albert Sarraut sắp sang làmToàn quyền tại Ðông Dương. Ông Jules Roux đại úy từng làm việc tại Tòa án binh ở Bắc Bộ từ năm 1904-1909, rất ngưởng mộ cụ Phan đến tiếp xúc giúp đỡ và dịch các thư sang Pháp văn, gởi cho Bộ Thuộc Ðịa Pháp và ông Phan Văn Trường (1875-1933), nhỏ hơn cụ Phan 3 tuổi lúc ở Hà Nội làm việc cho tòa Khâm sứ Bắc Kỳ. Cuối năm 1908 được tuyển sang Paris làm phụ giảng tiếng Việt ở trường Ngôn Ngữ Phương Ðông và tiếp tục học đỗ cử nhân luật, có quốc tịch Pháp. Từ năm 1910 ông thuê nhà số 6 Villa des Gobelins. Nơi đây như trụ sở của người Việt yêu nước, cụ Phan cùng đến ở chung thời gian dài, Việt kiều, sinh viên sống tại Paris lúc bấy giờ khoảng hơn 100 người(14)

Cụ Phan và Phan Văn Trường trở thành cột trụ của phong trào Việt Kiều tại Pháp, Phan Châu Trinh viết các bản điều trần gởi cho chính phủ Pháp, nêu lý do Việt Nam được Pháp bảo hộ, nhưng không có tự do, công dân Việt Nam yêu nước chỉ trích chính sách cai trị, đều bị kết án tử hình và bỏ tù, vv.. cụ viết „Trung Kỳ Dân Biến Thỉ Mạt Ký“, Jules Roux dịch sang Pháp văn. Tài liệu nầy binh vực, kêu oan cho Trần Quý Cáp và nỗi oan ức của người Việt bi áp bức gây dư luận tại Paris (gởi kèm đến Albert Sarraut chuẩn bị sang làm toàn quyền tại Ðông Dương) gởi thư phản đối chính sách đô hộ tại Việt Nam. Khâm sứ Mahé muốn đào lăng vua Tự Ðức (1913) tìm vàng, cụ viết báo phản đối việc làm thiếu đạo đức, đi diễn thuyết trong tập thể Kiều bào, kêu gọi lòng yêu nước hướng về Quê hương và thường tiếp xúc với người Pháp có lòng nhân đạo, bác ái bày tỏ nỗi lòng và chỉ trích chính sách cai trị tàn ác của Pháp ở Ðông Dương của Sarraut: «Cách cai trị rộng rãi bên An Nam của ông ấy thế nào?. Nói những sự cải cách giả dối, như viện tư vấn, pháp luật, học hành, sự đầu độc dân ta bằng rượu, bằng thuốc phiện, và sự đoạt quyền tự do của nhân dân ta...“

Vua Khải Định

Tháng 9.1914 chiến tranh Ðức Pháp bùng nổ. Ðức tổng tấn công mặt trận La Somme, vua Duy Tân (Vĩnh San) nổi dậy chống Pháp ngày 6.5.1916 thất bại bị truất phế đày sang đảo Réunion... Pháp tình nghi Việt Kiều có tinh thần chống Pháp liên hệ với Ðức, Phan Văn Tường bị giam ở lao Cherchemidi và Phan Châu Trinh bị giam ngục Santé (Prison de la Santé) Bên quê nhà người vợ hiền bị bệnh qua đời ngày 12.5.1914. Cuộc đời của bà đã hy sinh lo gia đình để chồng hoạt động cách mạng.(chúng ta cần phải vinh danh người đàn bà lý tưởng nầy!). Hai người con gái: Phan Thị Châu Liên (tức cô Đậu 1901- ?) chồng là ông đốc học Lê Ấm (1897-1976) ông bà Lê Ấm ở nhà thờ cụ Phan gần ngã năm Hoàng Diệu Ðà Nẵng Ông bà Lê Ấm có con trai Lê Khâm (1930-1995) tập kết ra Bắc theo học Đại học tổng hợp Hà nội là một nhà văn đã qua đời) và người con gái là Lê Thị Minh. Phan Thị Châu Lan (tức cô Mè 1904 -1944) chồng là ông Nguyễn Ðồng Hợi làm tham tá công chánh (Agent technique) là thân sinh của bà Nguyễn Thị Bình (các cháu không theo thuyết Dân Quyền của ông ngoại, ngược lại theo cộng sản Marxismus).

Các ông Marius Moutet, Jules Roux bênh vực, cãi với viên đại lý Tòa án binh Ðệ nhất tại Paris đến tháng 7-1915 chính phủ Poincaré trả tự do cho cụ Phan. Các quan Bộ Thuộc Ðiạ coi về Ðông Pháp, cắt tiền phụ cấp 450 quan gây đời sống cụ càng khó khăn hơn. Cụ học nghề rưả hình mỗi ngày được 30 quan nuôi con trai là Phan Châu Dật học trung học, dù hoàn cảnh khó khăn không muốn lệ thuộc đồng tiền mua chuộc, cụ sống với lý tưởng cao đẹp : „ phú qúy không tham lam, nghèo khổ không thay đổi lòng dạ, sức mạnh không khuất phục“.(15)

Năm 1917 Phan Châu Trinh bị bệnh nặng điều trị lâu, Phan Châu Dật (1897-1921) không muốn nhận giúp đỡ của gia đình ông Roux, tìm việc đưa hàng ở hãng Au Bon Marché để nuôi cha. Vì vất vả và thiếu thốn bị nhiểm bệnh, anh phải bỏ học về nước ngày 27.09.1919 và qua đời tại Huế 14.02.1921 thi hài được đem về mai táng cạnh mộ Mẹ tại Tây Lộc.

Vào khoảng cuối năm 1916 sang đầu năm 1917 Nguyễn Ái Quốc đến Paris được Phan Châu Trinh giúp đỡ. Nguyễn Ái Quốc viết: ” Cụ Phan đã giúp mình rất nhiều, thực sự là người đỡ đầu cho mình trong một thời gian khi mình ở Paris”(16). Năm 1920 tư tưởng hoạt động Nguyễn Ái Quốc khác Phan Châu Trinh, ông ta theo chủ nghĩa cộng sản quốc tế, tham dự đại hội Tours và sang Liên Xô năm 1923? nếu Nguyễn Ái Quốc tiếp tục theo đường lối hoạt động của Phan Châu Trinh thì lịch sử Việt Nam đã thay đổi

Pháp tổ chức cuộc triển lãm quốc tế tại Marseille năm 1922 vua Khải Ðịnh (1916-1925) sang tham dự, lối phục sức cho đến việc tiếp xúc ngoại giao những điều chướng tai gai mắt. Cụ viết bằng chữ Hán gởi đến vua Khải Ðịnh “Ký Khải Ðịnh Hoàng Ðế Thư “ ngày 15-7-1922 kể bảy tội là “ tôn bậy quân quyền, lạm hành thưởng phạt, thích chuộng sự qùy lạy, xa xỉ qúa độ, ăn bận không phải lối, tội chơi bời, chuyến đi có ám muội “.

dịch ra Việt ngữ và Pháp văn đăng trên báo chí gây dư luận xôn xao tại Pháp, vua Khải Ðịnh nhận thư về nước thời gian ngắn băng hà.

Phan Châu Trinh ở Paris 14 năm, gây ảnh hưởng lòng yêu nước sâu rộng trong giới Việt Kiều và sinh viên, người Pháp kính nể xem cụ Phan là chính trị gia, đại diện cho người Việt tại thủ đô Paris và các nhà cách mạng Việt Nam: “ Ông vừa thể hiện tính kiên quyết, thẳng thắng, vừa biết thận trọng cân nhắc lời lẽ, thông minh nhạy bén trong hiểu và đoán ý người khác, có quan điểm đạo nghĩa sâu sắc, coi thường mặt vật chất kinh tế”.

Phan Châu Trinh về nước bị bệnh mất

Phan Châu Trinh xuống tàu Fontainebleau, ngày 29.5.1925 sau một tháng, cụ Phan và Nguyễn An Ninh về tới Sài Gòn 26-6-1925. Nguyễn An Ninh đưa Phan Châu Trinh về thẳng khách sạn Chiêu Nam Lầu(*). Cho đến 29-6-1925 được Nguyễn An Ninh đưa về nhà cha của ông, là cụ Nguyễn An Khương, ở Mỹ Hoà để tiện việc tiếp đón bạn bè đến thăm hỏi, trao đổi công việc; đồng thời cũng để tiện cho cụ Nguyễn An Cư (Chú ruột của Nguyễn An Ninh, một lương y nổi tiếng ở Nam Kỳ) chăm sóc sức khoẻ cho Phan Châu Trinh đang thời kỳ suy yếu nhất. Thời gian ở Chiêu Nam Lầu và tại nhà cụ Nguyễn An Khương, Phan Châu Trinh tiếp xúc với các nhân vật như: Trần Quang Nghiêm, Nguyễn Kim Ðính, Khánh Ký, Lâm Hiệp Châu, De Jean de la Bâtre, Paul Monin, Malraux... Trong các cuộc tiếp xúc nầy, cụ Phan bày tỏ tâm tình:”Một khi đã trở lại sống trên quê hương xứ sở, tôi nguyện đem hết nghị lực bình sinh mà thức tỉnh dân khí ba miền đồng tâm, hiệp lực đạp đổ cường quyền áp chế”.

Chính vì tâm quyết phụng sự cho dân quyền, nên dù sức khỏe còn yếu, cụ Phan cùng Nguyễn An Ninh (với vợ chồng người con gái là ông bà Lê Ấm) đi xuống các tỉnh Trà Vinh, Mỹ Tho... để vận động tài chánh cho việc tái bản tờ "La Cloche Fêlée". Nhờ vậy, ngày 26-11-1925, báo "La Cloche Fêlée" số 20 được tái bản. Thời gian bị bệnh nhưng cụ cố gắng diễn thuyết thêm hai đề tài

- Ðạo đức và luân lý đông tây

- Quân trị chủ nghiã và dân trị chủ nghiã

Bài diễn văn cuối cùng Phan Châu Trinh nói chuyện tại Hội Thanh Niên Sàigòn “Tôi nghĩ rằng vì cái độc quân chủ nó giết hẳn cái lòng ái quốc của dân tộc Việt Nam ta.. Nói theo đạo Nho đó kỳ thật không có thi hành một chút đạo Nho nào, chỉ còn sót lại một hai điều trong gia đình mà thôi. kỳ dư là những điều mấy ông Vua chuyên chế đựa vào đạo Nho để đè nén dân”.

Về Ðạo Ðức và Luân Lý Ðông Tây

“Xem như thế thì xưa nay nước ta không có quốc gia luân lý, chỉ có một cái luật via tôi bắt buộc dân phải theo vua với dân không có luân lý gì dính nhau, chẳng qua vua và tôi tớ của vua hiệp lại với nhau lấy sức mạnh để đè lên dân mà thôi .. Nay muốn một ngày kia nước Việt nam được tự do độc lập thì trước hết dân Việt nam phải đoàn kết“.

Các bài diễn thuyết của cụ Phan gây ảnh hưởng sâu xa đến thế hệ trẻ văn minh tại Sàigòn, tiêu biểu trong đó có nhà cách mạng Tạ Thu Thâu (1906-1945) Trong thời gian trở về Sài gòn cụ bị bệnh được cả gia đình nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1900-1943) lo giúp đỡ thuốc men, tiếp đón thân nhân và khách đến thăm và cho đến những ngày cuối cùng. Tình thần gia đình Nguyễn An Ninh thật đáng quý lưu danh cho hậu thế, nhưng thương tiếc thay. Phan Châu Trinh đang thoi thóp trên giường bệnh lại hay tin Nguyễn An Ninh đã bị bọn mật thám Pháp bắt tại nhà. Vào lúc 11 giờ 30 trưa 24-3-1926. Phan Châu Trinh trút hơi thở cuối cùng vào lúc 21 giờ 30 tối 24.3.1926) tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại nhà số 54 đường Pellerin, nhà của ông Huỳnh Đình Điển (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai tức đường Pasteur trước 30-4-1975)

Ủy Ban tổ chức lễ quốc táng nhà yêu nước Phan Châu Trinh đã được hình thành ngay trong đêm 24-3-1926. Những thành viên của ủy ban tổ chức tang lễ nhà chí sĩ Phan Châu Trinh gồm nhiều nhân sĩ, trí thức. tang lễ được đại diện thân hào nhân sĩ Sài Gòn tổ chức cử hành theo nghi thức quốc tang. Hai người con gái đã có mặt bên linh cữu của cha, tại Sài Gòn không phân biệt chính trị, đảng phái, tôn giáo đều tham dự, đưa linh cữu cụ Phan đến nơi an nghỉ cuối cùng lúc 6 giờ sáng 4.4.1926 tại nghiã trang của hội Gò Công tương tế. Hàng ngàn câu đối, trướng, la liệt bàn phúng điếu các Sư chùa Nam Sơn tỉnh Sóc trăng gởi mấy câu đối.

Tiên sinh thật là vị cao tăng trong giác thế, gồm đủ từ bi và trí huệ

Người đời sau ngưỡng trông tòa pháp Cộng Hòa, biết bao nhiêu công đức như cát sông Hồng Hà

Hai mươi năm trống sớm chuông chiều, khua tỉnh ái hà con ma chuyên chế, nhìn muôn dặm mưa dòn gió dập, kêu gọi người ngủ mê trong biển trần

Phan Bội Châu đang được an trí ở Huế thay mặt cho đồng bào Huế gởi 2 câu đối

Thương hải vi điền, Tinh vệ hàm thạch

Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền(17)

Huỳnh Thúc Kháng thay mặt cho anh em Trung-Việt đã đọc một bài điếu văn mang ý nghĩa lịch sử rõ nét nhất về quan điểm chính trị

Một đoạn lịch sử của tiên sinh hơn hai mươi năm trời, nào bị tù đày, ở nước này sang nước khác, trải bao nhiêu phen nguy hiểm, trong giây phút này không thể lược thuật lại cho được; chúng tôi xin tóm tắt lại mà nói sơ: Chủ nghĩa tiên sinh đệ nhất là đánh đổ chuyên chế, làm cho dân quyền tự do, còn cái phương pháp tiến hành thì tiên sinh thường nói rằng

-Tình hình trong nước ta bây giờ đang vào nguy ngập, nếu muốn cải cách thì cần liên lạc đoàn thể mới được. Tiếc cho người nước mình còn đang mê mộng, đồng chí với tiên sinh chẳng được mấy người . Vì vậy mà tấm lòng bị phân hóa ra uất ức, uất ức hóa nên đại bệnh huống gì những điều mắt thấy tai nghe dể làm cho tiên sinh cảm xúc mà đau được, chết được, thương ôi!

-Thôi, đất vàng một nắm, giấc mộng ngàn thu, sự nghiệp anh hùng, ngày nay hết cuộc. Chúng tôi chỉ mong mai sau này những người kế chí tiên sinh, làm cho vẻ vang dân tộc Việt Nam ta. Thì linh hồn tiên sinh sẽ được yên ổn mà ngậm cười nơi suối vàng

Phan Châu Trinh tranh đấu bất bạo động với chủ thuyết Dân Quyền, Phong Trào Duy Tân làm thay đổi lịch sử Việt Nam dưới thời thuộc điạ, từ đó người Pháp phải thay đổi chính sách cai trị. Phan Châu Trinh một vì sao sáng trên vòm trời Việt Nam của đầu Thế kỷ 20.

-Chủ trương chính trị của Phan Châu Trinh có thể được xem là nền tảng của hệ tư tưởng dân chủ Việt nam ngày nay. Trước Phan Châu Trinh, tại Việt nam chưa có ai nghĩ đến dân chủ, dân quyền..Chẳng những Phan Châu Trinh là người đầu tiên thổi một luồng gió mới vào chính trường Việt nam, Ông cũng là người Việt nam đầu tiên gây được uy tín lớn lao với chính trường nước Pháp là nước đang đô hộ Việt Nam.(18).

Phan Châu Trinh sống phục vụ đất nước, cống hiến cuộc đời cho tổ quốc Việt Nam. Cụ mất để lại tấm gương sáng cho nhiều thế hệ noi theo. Dân Quyền và Nhân Quyền là giấc mơ của toàn dân Việt nam cuộc đời Phan Châu Trinh gắn bó với công cuộc cách mạng để khai trí dân tộc, để lại những tác phẩn văn chương

Đầu Pháp chính phủ thư (1906)

Hợp quần doanh sinh thuyết quốc am tự (1907)

Tỉnh quốc hồn ca I & II (1907)

Tuồng Trưng nữ Vương soạn chung với Hùynh thúc Kháng,Phan thúc Duyện (1910)

Trong thời gian sống ở Paris và về nước viết các tác phẩm

Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký (1911)

Giai nhân kỳ ngộ (1913-1915)

Tây Hồ và Santé thi tập ! (1914-1915)

Khải Ðịnh Hoàng Ðế thư (1922)

Bức thư trả lời cho người học trò tên Ðông (1925)

Ðông Dương Chính trị luận (1925)

Xin mượn lời sau, để kết thúc bài viết kỷ niệm ngày giỗ thứ 85 của cụ Phan, Phan Châu Trinh là «một nhà yêu nước nồng nhiệt, một nhà dân chủ nồng nhiệt, một con người có con tim và tình cảm vĩ đại… » (Jules Roux nhà trí thức PCT. kỷ yếu Hội Nhân quyền số 9 Paris 1926, Nguyễn Quyết Thắng dịch)

Nguyễn Quý Ðại

12/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân

13/ Lam Giang trang 211

14/ Những hoạt động của Phan Châu Trinh Ts Thu Trang

15/ Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân trang 172

16/ Những hoạt động của Phan Châu Trinh Ts Thu Trang trang 125

17/ Phan Chu Trinh Thế Nguyên

18/ Quảng Nam trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng

Tài liệu tham khảo

Quảng Nam trong lịch sử tác giả Trần Gia Phụng Nxb Non Nước Toronto 2000

Phan Châu Trinh (1872 - 1926) Tác giả Thế Nguyên tủ sách Tân Việt

Phong Trào Duy Tân tác giả Nguyễn Văn Xuân Nxb Lá Bối

Thành Thái người điên thế kỷ tác giả Thái Vũ Nxb Văn Học

Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925 Tác giả Thu Trang Nxb Văn Học

Từ Hi Thái Hậu cuốn 2 tác giả Mộng Bình Sơn Nxb Xuân Thu

Bộ Quân sử do bộ tổng tham QLVNCH mưu xuất bản

Quảng Nam đất nước và nhân vật 1 &2 Nguyễn Quyết Thắng

* Khách sạn Chiêu Nam Lầu do chính bà Nguyễn Thị Xuyên (bí danh Chiêu Nam Lầu) là cô quản, nhằm làm nơi liên lạc, đưa đón, học tập và an dưỡng các sĩ phu đương thời; còn là nơi đưa rước du ruột của Nguyễn An Ninh, cùng bà Nguyễn An Khương (mẹ của Nguyễn An Ninh) tổ chức và cai học sinh sang Nhật trong phong trào Ðông Du. Ðịa điểm khách sạn tại số 49 Nguyễn Huệ ngày naỵ


Nguyễn Quý Đại

VGCS : Đánh Thuế Tiền Gởi Về VN

Đánh Thuế Tiền Gởi Về VN

Đảng Nhà Nước CS Hà nội mới đây ban hành nghị quyết 11 chống đô la hóa, vàng hóa trong kinh tế, cụ thể là cấm tư nhân kinh doanh đô la và vàng miếng. Nghị quyết này thiệt hại rất nhiều cho người Việt hải ngoại gởi tiền về VN: coi như phải đóng thuế thêm cho CS Hà nội ngồi không mà hưởng.
Vạn vật vô thường, cái gì cũng thay đổi. Nhưng đối với người dân sống trong xã hội, dưới mọi thể chế chánh trị, có hai cái không thay đổi, đó là cái chết và thuế má, ai cũng lo sợ. Những nhà thuế vụ và những nhà làm ngân sách biết điều đó. Nên quí vị này hay dùng thuế gián thu là cách nhổ lông mà con vịt ít kêu la nhứt.
Người dân móc tiền túi đóng thuế trực thu ai cũng nhăn mặt nhíu mày, lầm bầm ta thán. Nhưng mỗi lần đi chợ, mỗi lần đổ xăng, ăn một tô phở, trả tiền người dân đều phải trả thuế, nhứng ít ai để ý đến việc trả thuế. Thực sự phần lớn, đều có, đã có trả thuế.
Và bây giờ CS Hà nội bắt đầu gián tiếp nhổ lông vịt “Việt Kiều” khi gởi tiền về nước với cái nghị quyết 11 nghe rất ư bảo vệ danh dự quốc gia là chống đô la hóa, vàng hóa trong kinh tế, cấm tư nhân kinh doanh đô la và vàng miếng.
CS Hà nội không ra sắc thuế gián thu hay trực thu đánh trên số tiền Việt Kiều gởi về. Việt Kiều sẽ kêu la, chống đối, có thể không gởi hoặc giảm gởi một năm bảy tám tỷ Đô la, ngoại tệ mạnh, mà CS rất cần nữa, thì vô cùng bất lợi cho Đảng Nhà Nước CS Hà nội. Hoặc vì kẹt phải giúp gia đình nghèo túng, bịnh hoạn, có thể phải gởi chui, thì ngoại tệ không sớm vào tay nhà nước nữa. Lúc đó Đảng Nhà Nước không đủ ngoại tệ để xài. Đảng viên cán bộ và số người ăn thiếu ngoại tệ để gởi ra ngoại quốc dấu đút như những nhà độc tài Ben Ali, Mubarak và Gadhafi đã gởi dấu ở ngoại quốc hàng chục chục tỷ Đô la cuớp của nước và dân.
Cán bộ đảng viên và những người ăn theo thiều tiền ngoại quốc liền cho con du học thí ít mà và du hí thì nhiều và nhập cảng xa xí phẩm một năm 10 tỷ nữa cho họ chưng diện cho đúng “mô de”.
CS Hà Nội không dùng biện pháp thuế khoá bị kêu ca mà dùng biện pháp hành chánh không cho tư nhân giữ, đổi, dùng ngoại tệ nữa, điều mà từ lâu CS Hà nội thả nổi để thu hút ngoại tệ trong dân chúng VN trong ngoài nước và đễ cho ngoại quốc dầu tư vào VN.
Biện pháp hành chánh này mới nói nghe rất hợp lý, rất quốc gia chủ nghĩa, rất tôn trọng danh dự quốc gia, khó mà phê bình chỉ trích.
Gần đây nhơn danh chống lạm phát, chống vật giá gia tăng, Thủ Tướng VC Nguyền tấn Dũng đã ban hành Nghị quyết 11 để kiểm soát vấn đề lạm phát, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, và góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Theo tinh thần và nội dung nghị quyết này chỉ có các phòng giao dịch của ngân hàng mới được phép giao dịch ngoại tệ. Cấm không cho tư nhân thanh toán bằng đô la, buôn bán vàng miếng là hai loại bản vị bảo đảm đồng tiền VN vừa dùng đô la bản vị hay kim bản vị.
Thế là “Việt Kiều” ở hải ngoại và thân nhân ở quốc nội VN từ nay phải chấm dứt việc đòi hỏi những nơi gởi tiền gởi bằng Đô trả Đô, gởi giấy 100 phải trả bằng Đô giấy 100 nữa. Đảng Nhà Nước buộc cơ sở phải đổi ngoại tệ gởi từ hải ngoại ra tiền Đồng VN để trả cho khách hàng.
Chỗ này là chỗ Đảng Nhà Nước CS Hànội móc túi thêm Việt Kiều.. Ai cũng biết tỷ giá của Đô la ở thị trường tự do đổi ra tiền Đồng VN lúc nào cũng cao hơn tỷ giá chánh thức của ngân hàng đổi ra. Đô la giấy 100 giá cao hơn đô la giấy nhỏ. Nếu Ngân hàng Nhà Nước phát ra thì chỉ có một thứ giá không phân biệt giấy lớn nhỏ gì cả, chỉ theo một hối suất do Nhà Nước qui định mà thôi. Giành quyền đổi Đô la, giao dịch Đô la cho Nhà Nước, là ĐảngNhà Nước trực tiếp và gián tiếp đánh thuế trên người gởi tiền về VN hay có tiền Đô la đem đổi thành tiền VN hay gởi kiếm lời ở ngân hàng.
Còn nếu các cơ sở gởi tiền muốn trả bằng Đô la cho dân như trước khi TT Dũng ra lịnh, thì cơ sở phải làm chuyện bất hợp pháp, hẹn giờ, ngày, chỗ đem lén tới nơi. Làm ănl ớn ít cơ sở nào chịu phiêu lưu như thế. Mà có làm thì phải tăng lệ phí rất cao để bù trừ rủi ro bị bắt phải lo lót.
Còn việc Đảng Nhà Nước CS Hà nội cấm tư nhân buôn bán vàng miếng; tức giá tiếp không cho tư nhân trữ vàng nghe rất “kinh tế”, hợp lý nhưng không hợp tình đối với người dân không tin tưởng nhà nước. E đó chỉ là chuyện “duy ý chí” mò kim đáy biển thôi. Ai cũng biết rất hợp lý kinh tế 1$ xài qua tay ba nơi giá trị kinh tế sản xuất, tiêu thụ như 3$. Nhưng đó là lý thuyết trong nền kinh tế vững mạnh, người dân tin chánh quyền, dùng tiền tiết kiệm để đầu tư. Còn ở VN các công ty sản xuất kinh doanh phần lớn là của Đảng Nhà Nước và ngoại quốc, người dân đâu có chỗ đứng trong việc chung vốn dưới hình thức hợp doanh hay vô danh. Người dân chỉ còn cách gởi tiền tiết kiệm ở ngân hàng để kiếm lời. Nhưng không ai đám để nhiều vì bóng mà dổi tiếng, có người có cả triệu cũng chỉ lấy ra đươc 200 – hãy còn ám ảnh người dân Việt trong thời CS.
Thêm vào đó nạn trữ vàng là thói quen lâu đời của người Việt. Thời CS làm cho thói quen đó trở thành một thứ phòng xa hữu hiệu. Người dân thấy nếu không có vàng dấu đút thì sau khi CS chiếm được Miền Nam, thì làm sao vượt biên được, làm sao thực hiện “thủ tục đầu tiên” uốn mình qua ngỏ hẹp nhà Hồ được, làm sao có thể sống sót với nạn độc tài đảng trị toàn diện của CS và tham nhũng thành quốc nạn thời CS.
Tóm lại tính già hoá non; CS Hà nội qua nghị định 11 muốn “nắm” tiền nước ngoài và vàng lại như thời CS gọi là “bao cấp” trở lại. Việc này chắc chắn thất bại. Thị trường tự do Đô la và vàng sẽ phát triễn ngoài vòng kiềm soát của Đảng Nhà Nước. Nạn tham nhũng sẽ giúp cho thị trường tư do bành trướng. Người Việt hải ngoại sẽ giảm gởi tiền về nước vì lệ phí tăng và ghét bị chế độ “chặt chém”.

Vi Anh

Nhật Bản Đang Có Những Kamikaze Mới?



Trên bảy sáu ngàn sinh mạng chôn vùi trong những đống nhà đổ nát hay trầm mình dưới đại dương và trên mười hai ngàn người được xem là mất tích xem ra vẫn chưa đủ cho cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Hàng chục triệu người dân Nhật hiện đang phải đối mặt với tử thần mới, đó là phóng xạ nguyên tử đang bị rò rỉ từ những lò nguyên tử thuộc công ty điện lực Tokio Tepco tại Fukushima bị hư hại do động đất, sóng thần gây nên.

Từng giờ, từng phút thế giới đang ngóng mắt về Nhật Bản, lo lắng cầu nguyện cho người dân Nhật thoát qua được cuộc khủng hoảng tệ hại nhất trong lịch sử nước này kể từ đệ nhị thế chiến đến nay. Người ta không thể tưởng tượng hết được nước Nhật và thế giới sẽ đi về đâu khi những lò phản ứng hạt nhân Fukoshima không được chế ngự, vượt ra ngoài kiểm soát, những thanh nhiên liệu nguyên tử bị nóng chảy hoàn toàn? Số mạng của ba mươi triệu người dân sống tại thủ đô Tokio, chỉ cách đó chừng 200 cây số sẽ như thế nào? Thế giới chỉ biết cầu nguyện chứ không muốn nghĩ tiếp!

Để tránh luồng phóng xạ nguyên tử giết người không màu không mùi vị, chính quyền Nhật đã cho lệnh di tản người dân ra khỏi đường kính 30 cây số tính từ lò nhiệt điện nguyên tử bị hư hại. Người nước ngoài cũng đang được chính phủ nước họ tìm cách gấp rút đưa ra khỏi nước Nhật, người có tiền sẵn sàng bỏ ra bằng mọi giá hầu có một chỗ ngồi trên máy bay để đi ra khỏi nước. Người ít tiền hơn tìm đường về phương nam, đi cho nhanh, tránh càng xa càng tốt khu vực chuẩn bị trở thành vùng đất không sự sống.

Trong những giờ phút sinh tử đó lại có một nhóm nhỏ từ 50 đến 70 người – hiện chưa có thông tin rõ về những người này, nhưng có lẽ phần lớn là nhân viên của lò nguyên tử lực Tepco – để lại gia đình, vợ con, bạn bè thân thích tình nguyện trở lại nhà máy để tìm cách sửa chữa, cứu vãn tình thế đang ngày càng tuyệt vọng.

Họ là ai? Những người con can trường của nước Nhật này không có nhu cầu và cũng chẳng có thì giờ để giới thiệu về mình. Ngay cả gia đình họ còn không có thì giờ để chia tay chuyến đi làm việc không có ngày trở lại. Do phải hứng lấy phóng xạ nguyên tử trong khi cứu nạn cái chết là điều hiển nhiên dành cho nhóm người này. Một bà vợ của một trong nhóm người can trường này cho biết: „Cả tuần nay tôi chỉ nhận được một E.Mail của anh, anh dặn dò tôi phải tự lo sắp đặt cuộc sống vì có lẽ phải lâu lắm anh mới trở về“.

Họ cũng chẳng thiết tha để biết mình đang được tôn sùng là những người Anh Hùng của thế kỷ. Thì giờ của họ quý báu quá, hàng thế hệ trẻ tương lai của nước Nhật đang nằm trong tay họ, không hy sinh không được.

Họ là ai? Thế giới chưa biết rõ. Người ta chỉ biết họ là những người tình nguyện đi vào cõi chết để tìm cái sống cho đất nước, an toàn cho nhân loại. Nhiệm vụ của họ trong những ngày qua là bơm nước biển vào các lò hạt nhân để tránh cho các thanh nhiên liệu trong lõi lò không bị tan chảy hoặc mở van giảm áp suất để tránh lò bị cháy nổ, dập tắt đám cháy trong lò số 4 v.v… Tình thế đang ngày càng tuyệt vọng nhưng một Super Gau- một Meltdown- vẫn còn chưa xảy ra và biết đâu sẽ không xảy ra, đó phải là kết quả làm việc của nhóm người này. Nước Nhật đang lo lắng và lặng lẽ khóc cho những đứa con dũng cảm. Thế giới đang ngưỡng phục họ, thế giới cúi đầu kính nể đất nước Nhật.

Vào thời gian cuối thế chiến thứ hai, trục Phát Xít Berlin-Tokio điên cuồng chống đỡ những trận phản công của quân đồng minh. Sau trận phản kích tạo chiến thắng bất ngờ Trân Châu Cảng quân Nhật dần dần lép vế trước sức phản công của quân Mỹ. Hải quân Mỹ dần dần làm chủ tình thế trên mặt trận Thái Bình Dương và ngày càng tiến gần về Tokio. Quân nhu đạn dược ngày càng cạn, không quân không còn đủ máy bay chiến đấu để ngăn chận sức tiến của quân Mỹ. Quân phiệt Nhật liền nghĩ ra „diệu kế“ „lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh“, tuyển mộ lính trẻ không kinh nghiệm, chưa lập gia đình, sinh viên v.v… vào đội quân cảm tử lái máy bay có gắn bom đâm đầu vào tàu chiến Mỹ. Hành động này được gọi là „tự sát Kamikaze“.

Theo điều tra từ các nhân chứng còn sống sót trong đội quân Kamikaze, những người lính trước khi lên đường bay tự sát bị bắt buộc dùng cần sa để tăng thêm can đảm. Tính ra đã có đến 6000 Kamikaze hy sinh trong đệ nhị thế chiến. Đây là một trong những tội ác của nhóm quân phiệt Nhật.

Kamikaze điên cuồng bảo vệ cho nhóm quân phiệt gây biết bao tội ác với nhân loại trong đệ nhị thế chiến. Trong tình thế tuyệt vọng, Kamikaze được tạo ra nhằm chống đỡ cho nhóm người gây nên cái chết cho hơn một triệu người Việt vì nạn đói kinh hoàng vào năm Ất Dậu 1945. Qua tài liệu được bạch hóa, trong thời gian xâm lăng Trung Hoa từ 1937 đến 1945 quân phiệt Nhật trong vòng tám năm đã giết gần 16 triệu người dân Trung Hoa vô tội, hãm hiếp ít nhất trên 2 triệu phụ nữ và bắt trên 600 000 phụ nữ Trung hoa làm nô lệ tình dục v.v… Trong những giờ phút cuối cùng trước khi thua trận, đám quân Kamikaze điên cuồng bảo vệ cho nhóm quân phiệt tàn ác này. Nhắc đến Kamikaze là nhắc đến một trang sử đen tối một thời ô nhục của Nhật Bản.

* * *

Trong những ngày qua do muốn cùng chia cái đau cùng dân tộc Nhật, do cảm phục trước sức chịu đựng, trước tính kỷ luật tự giác, trước tinh thần hy sinh của người Nhật, báo chí ngoại quốc cũng như của người Việt bỗng nhiên cường điệu đồng loạt „nâng“ nhóm nhân viên Tepco tình nguyện cứu nạn lên thành những Kamikaze thế kỷ 21 của nước Nhật. Cũng cùng một giống dân, cũng cùng hy sinh mạng sống nhưng sự so sánh thật là khập khễnh nếu không muốn nói là sự nhục mạ cho những người đang hy sinh mạng sống, hy sinh hạnh phúc cá nhân cho đất nước Nhật.

Gán ghép những người sáng suốt, tình nguyện đi vào cõi chết để tìm lối thoát cho hàng thế hệ trẻ kế thừa là những Kamikaze thời đại thì cũng chẳng khác gì tôn sùng Adolf Hitler, tên tội đồ của nhân loại là anh hùng vì cho rằng, hắn ta đã lấy lại niềm tự hào cho nước Đức sau khi thua trận đệ nhất thế chiến!

Do ảnh hưởng tuyên truyền một số người Nhật thuộc thế hệ chiến tranh có thể tự hào và xem Kamikaze là một hãnh diện của người Nhật. Đó là một sai lầm. Sai lầm này không được phép lập lại cho người Nhật và nhất là cho thế giới và cho người Việt chúng ta.

Hòa mình vào thế giới, trân trọng cuộc sống loài người, yêu chuộng hòa bình, người Nhật ngày hôm nay cũng như bao dân tộc khác, dù không cầu mong nhưng khi tai họa xảy ra họ vẫn có những người Hùng của thế kỷ. Nước Nhật ngày hôm nay đã có những người đàn ông đầy bản lãnh sẵn sàng chấp nhận thiệt thòi cho bản thân để cứu lấy đồng bào ruột thịt, dân tộc này không cần một loại „người Hùng“ Kamikaze của năm 1945.

Phương Tôn

Sẽ đến lượt Trung Quốc?

Sẽ đến lượt Trung Quốc?

Tác giả: Francis Fukuyama, người dịch: Nguyễn Quốc Khải

Is China Next?

Wall Street Journal, 12-03-2011

LTG: Theo tác giả, Trung Quốc sẽ không lây “bệnh truyền nhiễm” của Trung Đông một ngày gần đây. Nhưng Trung Quốc rất có thể phải đối phó với những vấn đề trong tương lai. Lý do là cho đến nay, giai cấp trung lưu xem ra bằng lòng hi sinh tự do chính trị để đổi lấy lợi tức cao và sự ổn định. Nhưng ở một thời điểm nào đó, sự đổi trác này sẽ rất có thể thất bại.

Một số tác giả khác cũng đã đóng góp những bài nghiên cứu đáng chú ý về “Cách Mạng Hoa Nhài” như Jean-Pierre Cabestan, Barry Eichengreen, Duncan Green, Huguette Labelle, và Dani Rodrik.

Ông Francis Fukuyama là học giả kỳ cựu tại Freeman Spogli Institute for International Studies thuộc Standford University ở California, Hoa Kỳ. Trước đây ông đã giảng dậy nhiều năm tại George Mason University và Johns Hopkins University. Ông từng theo học tại Cornell và Yale và tốt nghiệp với bằng Tiến Sĩ Chính Trị Học tại Harvard University. Cuốn sách mới nhất của ông với tựa đề “The Origins of Political Order: From Prehuman Times to the French Revolution,” sẽ được phát hành trong tháng 4, 2011.

Tuy nhiên GS Fukuyama được biết đến nhiều nhất qua cuốn sách nổi tiếng “The End of History and the Last Man”, xuất bản vào năm 1992. Trong sách này ông lập luận rằng sự tiến bộ của lịch sử nhân loại qua những cuộc tranh chấp về ý thức hệ hầu như kết thúc và thế giới an vị với một nền dân chủ cởi mở sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt và sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh vào năm 1989. GS Fukuyama tiên đoán sự toàn thắng huy hoàng cuối cùng của chủ nghĩa tự do về cả hai phương diện chính trị và kinh tế.

—————————————————————-

Một số thăm dò dư luận cho thấy rằng đa số dân Trung Quốc cảm thấy cuộc sống của họ tốt hơn về phương diện kinh tế trong những năm gần đây.

Trong thời gian ba tháng ngắn ngủi vừa qua, những cuộc nổi dậy của dân chúng đã lật đổ chế độ tại Tunisia, Ai Cập, đang gây ra cuộc nội chiến tại Libya, và rối loạn tại những nơi khác ở Trung Đông. Những cuộc nổi dậy này cũng tạo ra một thắc mắc trong đầu nhiều người: Liệu làn sóng dân chủ mới này sẽ là mối đe dọa cho tất cả những chế độ độc tài? Đặc biệt là Trung Quốc , một cường quốc đang vươn lên, có thể bị những sức mạnh này tấn công hay không?

Chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh rõ ràng lo ngại. Họ đã giới hạn việc phổ biến tin tức về những cuộc nổi dậy và đã chấn áp những người vận động dân chủ và những phóng viên ngoại quốc để ngăn chặn ngay từ đầu những lời kêu gọi trên Internet về một cuộc “Cách Mạng Hoa Nhài” tại Trung Quốc. Một bài bình luận mới đây trên tờ nhật báo Bắc Kinh, một cơ quan ngôn luận của ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản thành phố, tuyên bố rằng đa số những người dân ở Trung Đông không thích những cuộc biểu tình chống đối tại nước của họ. Đây là những rối loạn tự lừa bịp do một thiểu số điều khiển. Về phần Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào, ông kêu gọi tăng cường cái được gán cho cái tên “Trường Hỏa Thành” (Great Firewall). Đây là một bộ máy kiểm duyệt và theo rõi phức tạp mà chế độ sử dụng để kiếm soát việc tiếp cận Internet.

Không giống trường hợp ở Trung Đông, giai cấp trung lưu của Trung Quốc đã hưởng phúc lợi từ sự phát triển kinh tế mạnh mẽ và chánh sách tạo việc làm cho những người có học.

Không có một nhà xã hội học hay phân tích tình báo nào đã tiên đoán được thời điểm chính xác hoặc sự lan rộng của cuộc nổi dậy của người dân Ả Rập – thực tế là cuộc nổi dậy này đã khởi sự tại Tunisia và được châm ngòi bởi một vụ tự thiêu của một người bán rau và những cuộc biểu tình đã buộc quân đội Ai Cập bỏ rơi ông Hosni Mubarak. Những xã hội Á Rập xem ra ổn định một cách thản nhiên trong hơn một thế hệ vừa qua. Tại sao những xã hội này lại bùng nổ vào năm 2011 là một điều chỉ có thể hiểu được bằng cách nhìn vào quá khứ, hi vọng như thế.

Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không thể nghĩ đến những cuộc cách mạng xã hội theo một phương cách quy mô. Ngay cả những sự việc bất ngờ phải xẩy ra trong một môi trường nào đó. Một điểm nữa là tình trạng của Trung Quốc và Trung Đông khác biệt tận gốc. Hầu hết những bằng chứng cho thấy rằng Trung Quốc khá an toàn đối với làn sóng dân chủ đang lan tràn trên những phần đất khác của thế giới – ít nhất trong giai đoạn hiện tại.

Có lẽ nhà tư tưởng thích hợp nhất có thể giúp chúng ta hiểu tình trạng ở Trung Đông hiện nay và Trung Quốc trong tương lai là ông Samuel Huntington – không phải Huntington của cuốn sách “The Clash of Civilizations,” (Sư Xung Khắc Của Những Nền Văn Minh) theo đó ông lý luận rằng có sự xung khắc căn bản giữa Hồi Giáo và dân chủ, nhưng là Huntington của cuốn sách “Political Order in Changing Societies” (Trật Tự Chính Tri Trong Những Xã Hội Thay Đổi), xuất bản vào năm 1968, theo đó ông đưa ra một lý thuyết về phát triển mất thăng bằng (the theory of the development gap).

Những cuộc biểu tình chống chính quyền đã lật đổ hai ông tổng thống tại Tunisia và Ai Cập và phát động cuộc nội chiến tại Libya.

Quan sát những sự bất ổn chính trị mạnh mẽ tại những nước đang phát triển trong hai thập niên 1950s và 1960s, ông Huntington nhận thấy rằng những sự phát triển kinh tế và xã hội thường đưa đến những cuộc đảo chánh, cách mạng và quân đội nắm chính quyền. Ông giải thích bằng sự khác biệt giữa những người mới được huy động, có học, và được tăng cường khả năng về mặt kinh tế và hệ thống chính trị hiện hữu – nghĩa là giữa hi vọng được tham gia vào chính trị và một cơ chế chỉ cho phép họ có chút ít tiếng nói hoặc không có tiếng nói gì cả. Ông Huntington nhận thấy rằng những cuộc tấn công vào chính quyền hiện hữu rất ít khi được lãnh đạo bởi những người nghèo nhất của giai cấp nghèo trong xã hội, mà do giai cấp trung lưu bất mãn vì thiếu những cơ hội chính trị và kinh tế.

Những nhận định này có thể áp dụng vào trường hợp Tunisia và Ai Cập. Cả hai quốc gia này đã đạt được nhiều tiến bộ về xã hội trong vài thập niên gần đây. Chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc (một cách đo lường hỗn hợp bao gồm sức khỏe, giáo dục, và lợi tức) tăng 28% tại Ai Cập và 30% ở Tunisia từ 1990 đến 2010. Số người đi học gia tăng đáng kể. Đặc biệt, Tunisia đã có nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học. Thật vậy, những cuộc biểu tình ở Tunisia và Ai Cập do những người thuộc giai cấp trung lưu, trẻ, có học và hiểu biết kỹ thuật. Họ muốn bầy tỏ với bất cứ ai có thể lắng nghe nỗi thất vọng của họ đối với những xã hội trong đó họ không được phép bầy tỏ quan điểm của mình, không thể quy trách nhiệm vào những người lãnh đạo về sự tham nhũng và bất tài, hoặc không thể kiếm được việc làm mà không cần có sự quen biết.

Ông Huntington nhấn mạnh đến sức mạnh gây bất ổn của những lớp người mới trong xã hội. Họ đòi hỏi quyền tham dự vào chính trị. Dân chúng trước đây được huy động bởi báo chí và đài phát thanh; Ngày nay họ được kích động bởi điện thoại di động, Facebook, và Twitter. Những phương tiện này cho phép người dân được chia sẻ những nỗi bất bình về chế độ hiện hữu và học hỏi về những triển vọng trong một thế giới rộng lớn hơn. Sự thay đổi này trong vùng Trung Đông nhanh chóng một cách lạ thường và đã đánh đổ những chân lý cổ lỗ về tính chất thụ động của văn hóa Ả Rập và sự đối kháng của Hồi giáo đối với việc hiện đại hóa.

Những sự thay đổi phi thường này có gợi ý cho chúng ta về một khả năng bất ổn tại Trung Quốc trong tương lai không?

Một sự thật chắc chắn là sự bất mãn xã hội, giống như miếng bùi nhùi để nhóm lửa, cũng hiện hữu ở Trung Quốc như ở Trung Đông. Ngòi thuốc nổ của cuộc nổi dậy tại Tunisia là việc tự thiêu của Mohamed Bouazizi xẩy ra sau khi chiếc xe rau của anh bị tịch thu liên tục bởi nhân viên công lực và anh bị cảnh sát bạt tai và sỉ nhục khi anh đến để khiếu nại. Tất cả những chế độ không phải là pháp quyền (rule of law), trị dân bằng luật (rule by law), hoặc không chịu trách nhiệm trước công chúng, đều bị sự thật kể trên săn đuổi. Chánh quyền thường xuyên coi thường người dân bình thường và chà đạp lên quyền của người dân. Không có một văn hóa nào lại không chống đối những hành vi như vậy.

Đây là một vấn đề rất lớn ở khắp mọi nơi tại Trung Quốc. Một báo cáo của Đại Học Jiao Tong cho thấy rằng trong năm 2010 có 72 việc xáo trộn xã hội “lớn” xẩy ra ở Trung Quốc, tăng 30% so với năm trước. Theo phần lớn những quan sát viên ngoại quốc, báo cáo này đã giảm con số thật sự xuống có thể vài mức độ. Những sự xáo trộn như thế khó mà đếm bởi vì chúng xẩy ra ở nông thôn và vấn đề báo cáo bị kiểm soát chặt chẽ bởi những giới chức có thẩm quyền Trung Quốc.

Trường hợp điển hình và trắng trợn vi phạm đến dân quyền nhất ở Trung Quốc đương thời là việc chánh quyền địa phương toa rập với những công ty phát triển địa ốc chiếm đoạt dất của nông dân hoặc công nhân nghèo để thực hiện những dự án hoành tráng mới hoặc là một công ty phế thải những chất nhiễm độc vào hệ thống cung cấp nước của thành phố nhưng không bị trừng phạt vì nối kết với quyền lợi cá nhân của giới chức lãnh đạo phân bộ đảng ở địa phương. Mặc dù nạn tham nhũng tại Trung Quốc chưa tới mức độ ăn cướp như ở một vài nước ở Phi châu hoặc Trung Đông, nhưng nó lan rộng ra khắp nơi. Dân chúng nhìn thấy và bất bình với nếp sống ưu đãi của lớp người quyền cao chức trọng và con cháu của họ. Cuốn phim “Avatar” là một thành công lớn ở Trung Quốc một phần vì nhiều người dân Trung Quốc cảm thấy mình như những người bản xứ trong cuốn phim bị những đại công ty vô hình ăn cướp đất đai của họ.

Ngoài ra, Trung Quốc còn có vấn đề bất bình đẳng lớn lao và ngày càng gia tăng. Phần lớn những lợi ích từ sự phát triển phi thường dành cho những vùng ven biển và làm cho nông thôn tụt hậu khá xa. Chỉ số Gini của Trung Quốc – một tiêu chuẩn để đo lường sự cách biệt về lợi tức trong xã hội – đã tăng lên đến mức của Châu Mỹ Latin trong một thế hệ vừa qua. Để so sánh, Ai Cập và Tunisia có sự phân phối lợi tức tương đối cân bằng hơn nhiều.

Tuy nhiên theo ông Huntington, cách mạng không tạo bởi những người nghèo mà bởi giai cấp trung lưu đang lên nhưng khát vọng của họ bị chặn lại, và ở Trung Quốc có rất nhiều những người này. Tùy theo định nghĩa của quý vị, giai cấp trung lưu của Trung Quốc có nhiều hơn tất cả dân số của Hoa Kỳ. Giống như ở Ai Cập và Tunisia, giai cấp trung lưu ở Trung Quốc không có một cơ hội nào tham dự vào chính trị. Nhưng không giống như ở Ai Cập và Tunisia, giai cấp trung lưu ở Trung Quốc được hưởng lợi ích từ nền kinh tế đang tiến bộ một cách ngoạn mục và chính sách tạo việc làm của nhà nước nhắm hết sức đặc biệt vào giới trung lưu.

Ở một mức độ người ta có thể đo lường dư luận quần chúng Trung Quốc qua những cuộc thăm dò như Asia Barometer (Phong Vũ Biểu Á Châu), đa số rất lớn của dân Trung Quốc cảm thấy rằng đời sống kinh tế của họ khá hơn trong những năm vừa qua. Đa số dân Trung Quốc cũng tin rằng dân chủ là một chính thể tốt đẹp nhất, nhưng như một khúc ngoặt kỳ lạ, họ lại nghĩ rằng Trung Quốc đã là một nước dân chủ và họ bằng lòng với tình trạng này. Điều này có nghĩa là sự chuyển tiếp sang một nền dân chủ thật sự cởi mở trong một thời hạn ngắn chỉ được ít người hỗ trợ.

Thật vậy, có một vài lý do để tin rằng giai cấp trung lưu ở Trung Quốc có thể lo ngại rằng một chế độ dân chủ đa đảng trong ngắn hạn sẽ cho phép những người đã từng bị bỏ rơi đạo đạt những đòi hỏi của họ về việc tái phân phối lợi tức. Những người Trung Quốc giầu có nhận thấy rằng chế độ dân chủ đã gây ra tình trạng chính trị phân cực gần đây ở Thái Lan.

Sự thật là chế độ toàn trị ở Trung Quốc tinh vi hơn ở Trung Đông rất nhiều. Mặc dù không có trách nhiệm gì đối với dân chúng qua những cuộc bầu cử, chính quyền Trung Quốc cẩn thận theo rõi những bất mãn của dân chúng và thông thường phản ứng bằng cách dỗ dành thay vì đàn áp. Thí dụ như Bắc Kinh thẳng thắn công nhận sự chênh lệch lợi tức ngày càng lớn và trong những năm vừa qua đã tìm cách làm giảm bớt vấn đề này bằng cách chuyển những đầu tư mới vào khu vực nội địa nghèo. Khi có những trường hợp tham nhũng hay lạm quyền hiển nhiên, như đồ ăn cho trẻ sơ sinh bị nhiễm chất melamine hay việc xây cất trường học tồi tệ bị phát hiện khi có động đất tại Sichuan, chánh quyền đã quy trách nhiệm một cách tàn bạo cho các viên chức địa phương – đôi khi bằng án tử hình.

Một đặc điểm đáng chú ý nữa của chính quyền Trung Quốc là việc tự buộc phải thay đổi cấp lãnh đạo. Những lãnh tụ Ả Rập như Zine al-Abidine Ben Ali của Tunisia, Hosni Mubarak của Ai Cập, và Đại Tá Moammar Gadhafi không bao giờ biết khi nào phải ra đi, lần lượt nắm giữ quyền trong 23, 30, và 41 năm. Kể từ sau Mao Trạch Đông, cấp lãnh đạo Trung Quốc triệt để tôn trọng nhiệm kỳ khoảng 10 năm. Ông Hồ Cẩm Đào, Chủ Tịch Nhà Nước hiện nay, theo lịch trình sẽ dời khỏi chức vụ vào năm 2012, khi đó ông sẽ được thay thế bởi Phó Chủ Tịch Tập Cận Bình (Xi Jinping). Thay đổi cấp lãnh đạo có nghĩa là có nhiều đổi mới về chính sách hơn, khác hẳn với những nước như Tunisia và Ai Cập, bị mắc kẹt trong chế độ tư bản bè phái trong nhiều thập niên.

Chính quyền Trung Quốc cũng rất khôn ngoan và tàn nhẫn trong cách đàn áp. Khi cảm thấy một mối đe dọa rõ rệt, ngay từ đầu những nhà cầm quyền không bao giờ để cho các cơ quan ngôn luận Tây phương loan tin. Facebook và Twitter bị cấm, và nội dung của những mạng Internet và những hệ thống thông tin xã hội bị gạn lọc bởi cả một đội quân kiểm duyệt. Dĩ nhiên có những chuyện xấu xa của chính quyền lọt ra ngoài rồi mới bị khám phá và loại bỏ bởi viên chức kiểm duyệt, nhưng trò chơi mèo rình chuột này làm cho một hệ thống thông tin xã hội khó có thể thành hình.

Một điểm khác biệt quan trọng sau chót giữa Trung Quốc và Trung Đông liên quan đến bản chất của quân đội. Số phận của những chế độ độc tài phải đối phó với những cuộc chống đối của dân chúng sau cùng lệ thuộc vào sự cấu kết và trung thành của những cơ quan quân sự, cảnh sát và tình báo. Quân đội của Tunisia không ủng hộ ông Ben Ali từ lúc đầu; sau một thời gian tầm phào, quân đội Ai Cập quyết định không bắn vào những người biểu tình và đẩy ông Mubarak ra khỏi chức vụTổng Thống.

Tại Trung Quốc, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân là một tổ chức lớn lao và ngày càng tự trị, với nhiều quyền lợi mạnh mẽ về kinh tế và do đó quân đội có thế đứng trong tình trạng hiện nay. Như trong cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn vào năm 1989, quân đội có nhiều đơn vị trung thành ở khắp nơi trong nước, có thể được đem vào Bắc Kinh hoặc Thượng Hải, và những đơn vị này không ngần ngại bắn vào những người biểu tình. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân cũng tự coi mình như như người bảo vệ chủ nghĩa quốc gia Trung Quốc. Trong tập sách tường thuật lịch sử của thế kỷ 20, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đã tự đặt mình vào trung tâm của những biến cố như đánh bại Nhật trong chiến tranh Thái Bình Dương và sự lớn mạnh của Trung Quốc hiện đại. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân rất khó có thể thay đổi vị trí để ủng hộ một cuộc nổi dậy dân chủ.

Kết quả sau cùng là Trung Quốc sẽ không lây bệnh truyền nhiễm của Trung Đông một ngày gần đây. Nhưng Trung Quốc có thể dễ dàng phải đối phó với những vấn đề trong tương lai. Trung Quốc chưa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn hoặc tình trạng kinh tế suy giảm kể từ khi có cuộc cải tổ vào năm 1978. Nếu quả bong bóng của khu vực tài sản ở Trung Quốc tan vỡ, hàng chục triệu người sẽ mất việc, tính cách chính thống của chính quyền dựa vào việc quản trị quản trị kinh tế sẽ bị suy giảm một cách nghiêm trọng.

Hơn nữa, kịch bản của ông Huntington về sự vươn lên của giai cấp trung lưu nhưng kỳ vọng của họ không được thỏa mãn, vẫn có thể xẩy ra trọn vẹn. Mặc dầu có sự thiếu thốn nhân công với kỹ năng thấp tại Trung Quốc hiện nay, lớp người tốc nghiệp đại học lại dư thừa. Từ nay trở về sau mỗi năm Trung Quốc đào tạo bẩy triệu sinh viên tốt nghiệp đại học, so với chưa tới một triệu vào 1998, và nhiều người khó khăn kiếm được việc làm phù hợp với địa vị của mình. Đối với một chế độ đang hiện đại hóa, vài triệu sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng thất nghiệp nguy hiểm hơn hàng trăm triệu nông dân nghèo khổ.

Những người dân Trung Quốc còn nói đến một vấn đề mà họ gọi là “hoàng đế tồi tệ”. Những thành tích lịch sử của Trung Quốc qua nhiều thế kỷ là việc sáng tạo ra một chánh quyền tập trung. Khi những nhà lãnh đạo độc tài có khả năng và có trách nhiệm, sự việc có thể tiến triển tốt đẹp. Thật vậy, một tiến trình quyết định như vậy thường là có hiệu quả hơn là trong một chế độ dân chủ. Nhưng không có sự bảo đảm rằng chế độ [độc tài] luôn luôn sản xuất ra những nhà lãnh đạo tốt, và trong trường hợp không phải là chế độ pháp quyền (rule of law) và không có cách kiểm tra quyền hành pháp, không có cách nào để loại trừ vị hoàng đế tồi tệ cả. Vị hoàng đế tồi tệ cuối cùng, thường (nói một cách yên lặng) được công nhận là Mao Trạch Đông. Chúng ta không thể biết một tên bạo chúa hoặc kẻ tham nhũng biển thủ công quỹ là ai trong tương lai của Trung Quốc.

Sự thật là chúng ta rất muốn xây dựng một lý thuyết về những nguyên nhân của cuộc cách mạng xã hội, nhưng xã hội loài người rất là phức tạp và thay đổi nhanh chóng để có thể có được một lý thuyết hướng dẫn đơn giản và đáng tin cậy. Một số quan sát viên đã không tin vào sức mạnh của “đường phố Ả Rập” có thể đem lại thay đổi chính trị, căn cứ vào sự hiểu biết sâu sa của họ về Trung Đông, và mỗi năm họ đều đúng cả – cho đến 2011.

Điều khó nhất để tiên đoán đối với bất cứ một quan sát viên chính trị nào là yếu tố đạo đức. Tất cả những cuộc cách mạng xã hội đều được khích động bởi sự tức giận tột độ vì sự súc phạm đến phẩm giá, một sự tức giận đôi khi được kết tinh bởi một biến cố đơn thuần hay một hình ảnh. Nó có thể huy động những cá nhân trước đây rời rạc và nối kết họ thành một cộng đồng. Chúng ta có thể trích dẫn những con số thống kê về giáo dục, việc làm, và tìm tòi về lịch sử và văn hóa của một xã hội, tuy nhiên chúng ta hoàn toàn không thấy ý thức xã hội tiến hóa nhanh chóng qua hàng ngàn tin nhắn, đoạn phim video hoặc những cuộc chuyện trò đơn giản.

Đối với Trung Quốc, đạo đức chủ yếu không thể đo lường được là giai cấp trung lưu. Cho đến nay, giai cấp này xem ra bằng lòng hi sinh tự do chính trị để đổi lấy lợi tức cao và sự ổn định. Nhưng ở một thời điểm nào đó, sự đổi trác này sẽ rất có thể thất bại; chế độ sẽ tự nhận thấy không thể đem lại thành quả mong muốn, hoặc sự súc phạm đến phẩm giá của người dân Trung Quốc quá lớn để có thể tha thứ. Chúng ta không nên có tham vọng rằng chúng ta có thể tiên đoán được thời điểm đảo lộn đó khi nào sẽ xẩy ra, nhưng, như ông Samuel Huntington đề nghị, ngày đó sẽ được qui định bởi lý lẽ của chính việc đổi mới.

© Nguyễn Quốc Khải (Bản tiếng Việt)

Bài Xem Nhiều