We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 23 March 2011

Hãy sống tinh thần dân chủ đa nguyên trước đã!


Trước biến cố “Cách mạng Hoa Lài” tại Bắc Phi và Trung Đông, biết bao người đặt câu hỏi: “Thế còn Việt Nam thì sao? Việt Nam đã hội đủ điều kiện để nổi dậy chưa?” Trước câu hỏi này, có rất nhiều câu trả lời, nhưng đại khái có 3 cách chính: 1) Một số người cho rằng “Đã hội đủ điều kiện để nổi dậy rồi”, 2) Một số khác cho rằng “Chưa”, 3) Và một số khác nữa cho rằng “Rồi, nhưng còn rất nhiều trở ngại phải vượt qua”.

Đọc ba lập trường trên trình bầy lý lẽ của mình, những ai tỉnh táo, khách quan đều nhận thấy lập trường nào cũng có lý của mình. Trước một vấn đề, người ta có ý kiến hay lập trường khác nhau là chuyện hết sức bình thường, nếu họ tự nhiên chỉ có chung một ý kiến, một lập trường thì đó mới là chuyện lạ.

Nhưng điều đáng buồn là trước sự khác biệt nhau vốn mang tính tất yếu ấy, nhiều người lại nặng lời với nhau, kết án nhau. Người nói “Rồi” thì kết án người nói “Chưa” là hèn, là “bàn lui”, là cản trở làn sóng đi tới của người dân. Người nói “Chưa” thì cho người nói “Rồi” là chẳng hiểu gì về tình trạng trong nước, là an toàn đứng ngoài cuộc rồi “xúi trẻ ăn cứt gà”, hoặc lên tiếng thách thức: “có giỏi thì cứ về nước mà tổ chức biểu tình đi!” Người muốn tránh cả hai lằn đạn trên thì nói nước đôi: “Rồi, nhưng còn nhiều trở ngại”, và người này cũng bị phê bình là “lừng chừng”, “ba phải”, “tự mâu thuẫn”… Nói chung, lập trường nào cũng bị một số những người có lập trường khác chê trách, kết án. May ra, im lặng thì mới hy vọng khỏi bị “ăn đạn”. Ôi! “Ở sao cho vừa lòng người? Ở hẹp người cười, ở rộng người chê!”

Người đưa ý kiến ra với mục đích xây dựng mà bị người khác nặng lời chê bai, chụp cho một cái “mũ” hoàn toàn không đúng với con người thực của mình, không nhiều thì ít, cũng bị chạm tự ái, buồn phiền, có khi tức tối phản ứng lại gây nên một cuộc “sát phạt” lẫn nhau, và nhất là có thể chán nản rồi bỏ cuộc. Thế là những kẻ phê bình nặng lời kia đã vô tình tiếp tay cho cộng sản vốn luôn luôn tìm cách chia rẽ những đang hăng say tranh đấu, khiến họ bực bội đánh phá nhau, rồi cuối cùng nản lòng và bỏ cuộc. Biết bao người từng hăng say đấu tranh đã bỏ cuộc vì lời những chê bai, trách cứ ấy.

Nếu chúng ta, những người đang đấu tranh cho dân chủ đa nguyên, sẵn sàng nặng lời, kết án những người khác lập trường với mình thì hóa ra chúng ta chẳng có tinh thần dân chủ đa nguyên gì cả. Trước chỉ một vấn đề nêu trên mà chúng ta đã tự chia thành hai ba phe chống lại nhau rồi, thì trước hai vấn đề ắt chúng ta sẽ tự chia thành bốn hay sáu phe chống nhau… Càng nhiều vấn đề phải đối diện, chúng ta càng bị phân hóa thành nhiều nhóm chống lại nhau. Cuộc tranh đấu hiện nay phát sinh biết bao vấn đề phải đối diện khiến lực lượng của chúng ta bị xé ra thành rất nhiều mảnh nhỏ, không hợp lại với nhau được. Cứ như thế chúng ta sẽ yếu, chẳng làm được gì lớn lao.

Vấn đề cần đặt ra là: Liệu chúng ta, những người đang tranh đấu cho dân chủ đa nguyên hiện nay, có thật sự sống tinh thần dân chủ và đa nguyên ngay trong cuộc tranh đấu này không? Hay chúng ta chỉ dùng chiêu bài dân chủ đa nguyên để đấu tranh, để rồi khi thành công thì lại áp dụng tinh thần độc tài nhất nguyên, không chấp nhận một lập trường đối lập nào cả?

Dân chủ và đa nguyên luôn luôn phải đi đôi với nhau. Đã chấp nhận dân chủ thì phải chấp nhận đa nguyên. Vì “bá nhân bá tánh”, chẳng ai giống ai. Đó là luật tự nhiên trong vũ trụ. Thật vậy, trong giới thực vật, có hàng triệu loại thực vật khác nhau, thậm chí đều là hoa cả mà có đến hàng trăm ngàn loại hoa khác nhau. Người dân, muốn làm chủ đất nước thì phải chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt cố hữu ấy mới đoàn kết được, và mới có đủ sức mạnh để làm chủ. Nếu cứ chia rẽ và rời rạc nhau, thì sẽ đến lúc có một nhóm hay một phe phái nào đó, do mạnh hơn cả, thắng thế và nắm được chính quyền, ắt nhiên họ sẽ tự nhiên thành hình một chế độ độc tài vì bản chất cố hữu của họ là không chấp nhận hay cho phép ai khác biệt với họ.

Do đó, nếu chúng ta không cho phép người khác được nghĩ hay có lập trường khác với ta và sẵn sàng nặng lời chê trách hoặc kết án họ, thì chế độ tất yếu mà chúng ta phải chấp nhận là chế độ độc tài. Một người có nick “conan69” viết [1]: «The government we have right now, is basically a manifestation of what we are as a people. Every people have the government they deserve, “such people, such government”» (tạm dịch: «Nhà nước mà chúng ta đang có hiện nay là một hình thức biểu lộ dân tộc tính của chúng ta. Mọi dân tộc đều có loại chính phủ xứng hợp với họ, “dân tộc nào, chính phủ nấy”»). Câu này dù đúng hay sai, cũng rất đáng cho mọi người suy nghĩ.

Vậy, để thoát khỏi ách của một chế độ độc tài, trong hiện tại cũng như trong tương lai, chúng ta cần có tinh thần dân chủ đa nguyên, nghĩa là chẳng những chấp nhận mà còn tôn trọng sự khác biệt của nhau, nhìn nhận sự hữu lý của nhau, để rồi tìm cách thống nhất một đường lối chung. Trong hiện tại, có thống nhất một đường lối chung mới có sức mạnh tổng hợp để thắng sức mạnh của cộng sản. Và trong tương lai, có tôn trọng sự khác biệt của nhau mới có thể thành lập được một chế độ thật sự dân chủ.

Cách thống nhất đường lối theo tinh thần dân chủ là bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết công khai, và lấy ý kiến của đa số làm quyết định chung; tuyệt đối không ai bị kết án, bị nặng lời vì nội dung phát biểu của mình [2]. Còn cách thống nhất theo tinh thần độc tài là buộc mọi người phải nghe theo ý kiến của mình, ai không đồng ý, không theo, thì bị kết án, bị phê bình nặng lời, bị chụp mũ, hoặc bị vào tù, bị trừ khử…

Trở lại với câu hỏi: “Thế còn Việt Nam thì sao? Việt Nam đã hội đủ điều kiện để nổi dậy chưa?”, tôi nghĩ cả ba lập trường trên đều có lý và có cái đúng của mỗi cái. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở phần lý thuyết thì dù theo lập trường nào chúng ta cũng chẳng tạo được một thay đổi nào. Vấn đề là chúng ta có hành động nào cụ thể hay không?

− Những người cho rằng “Chưa” thì có hành động cụ thể nào để biến các điều kiện cần có thành “Rồi” không?

− Những người cho rằng “Rồi” thì có hành động hay kế hoạch cụ thể nào để thực hiện những điều kiện đã có rồi hay chưa?

− Những người cho rằng “Rồi, nhưng còn rất nhiều trở ngại phải vượt qua”, thì đã làm gì để tạo giúp người dân trong nước vượt qua được trở ngại đó chưa?

Hãy bắt tay hành động, đừng ngồi im một chỗ phê phán nhau mà chẳng có hành động nào cụ thể và hữu hiệu cả. Nếu tất cả mọi lập trường khác nhau đều có những hành động cụ thể nhằm lợi cho đại cuộc, thì chẳng cần kêu gọi đoàn kết, đoàn kết tất nhiên sẽ tới. Còn cứ ngồi một chỗ mà xét đoán, phê bình lẫn nhau, thì việc chia rẽ nội bộ là điều tất yếu phải xảy ra, và còn lâu mới có đủ sức mạnh để chiến thắng cộng sản. Hãy sống tinh thần dân chủ, đa nguyên trước đã, hiện thực dân chủ, đa nguyên sẽ đến sau!

Houston, ngày 22-3-2011

Nguyễn Chính Kết

Biểu tình tại Canberra đòi bạo quyền CSVN lập tức giải thể vô điều kiện nhân Ngày Quốc Hận 30-4.

Thông Báo Thay Thư Mời Của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu.

V/v: Biểu tình tại Canberra đòi bạo quyền CSVN lập tức giải thể vô điều kiện nhân

Ngày Quốc Hận 30-4.

Kính thưa: - Quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo

- Quý Ban Chấp Hành và Cộng Đồng Người Việt Tự Do Tiểu bang và Lãnh thổ

- Quý vị đại diện và thành viên các hội đoàn, đoàn thể và tổ chức

- Quý vị đai diện các cơ quan truyền thông Việt ngữ

- Quý đồng hương,

Các cuộc nổi dậy của dân chúng tại Tunisia, Ai Cập, Lybia và các nước Trung Đông đòi hỏi sự từ chức hay giải thể lập tức và vô điều kiện của các nhà cầm quyền và chính phủ độc tài xãy ra trong những ngày vừa qua đã đem lại một nguồn sinh khí mới cho dân chúng và các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền tại các quốc gia đang bị cộng sản độc tài cai trị trong vùng Đông Nam Á như Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Những cuộc cách mạng lan rộng do quần chúng và giới trẻ khởi xướng tại Băc Phi và Trung Đông đã khiến cho tà quyền CSVN cực kỳ lo sợ và đang thẳng tay đàn áp, bắt bớ và giam cầm các nhà tranh đấu dân chủ, cũng như theo dõi canh chừng giới sinh viên học sinh, công nhân, trí thức và quân đội trong nước trong những ngày tháng qua. Tà quyền phản quốc CSVN đã tìm đủ mọi cách để bưng bít thông tin hầu tránh đại hoạ “Cách Mạng Hoa Lài” xãy ra cho chúng tại Việt Nam.

Nhận thức được tầm quan trọng và thời cơ quý hiếm này trong công cuộc tranh đấu giải trừ Quốc Nạn, phục hồi dân chủ, tự do và nhân quyền cho toàn dân Việt Nam, Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự DoÚc Châu, sau khi hội ý với Ban Chấp Hành các Tiểu bang và Lãnh thổ đã đi đến quyết định:

  1. Từ nay trở đi, mọi cuộc biểu tình của Cộng Đồng Người Việt tại Úc Châu sẽ đồng thanh và liên tục đòi hỏi Tà quyền độc tài, phản quốc CSVN phải lập tức giải thể vô điều kiện để dân tôc và người dân Việt Nam sớm có được tự do, dân chủ và nhân quyền thật sự.
  2. Tổ chức biểu tình đúng vào ngày thứ Bảy, 30/4/2011, lúc 11 giờ 30 sáng, trước Toà Đại Sứ CSVN tại Canberra và làm Lễ Tưởng Niệm các chiến sĩ VNCH và Đồng Minh Úc tại Đài Tử Sĩ Chiến Tranh VN tiếp theo cuộc biểu tình.
  3. Chọn chủ đề cho cuộc biểu tình 30/4 năm 2011 là: “Giải thể tà quyền CSVN lập tức và vô điều kiện là con đường ngắn nhất để bảo vệ Đất Nước và trả lại Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền thật sự cho người dân Việt Nam”
  4. Đề nghị và kêu gọi Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn trên toàn thế giới đồng loạt tổ chức các cuộc biểu tình hoặc lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 tháng 4 vào đúng ngày này năm nay, đồng thời đòi hỏi nhà cầm quyền và đảng CSVN phải giải thể lập tức và vô điểu kiện tương tự như đòi hỏi mà Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu đã đưa ra.
  5. Khuyến khích Cộng Đồng của các Tiểu bang và Lãnh thổ Úc Châu tiếp tục tổ chức các cuộc biểu tình trước Quốc Hội của Tiểu bang và Lãnh thổ của mình trước hoặc sau ngày 30/4 để đòi hỏi nhà cầm quyền độc tài CSVN phải giải thể lập tức và vô điều kiện.

Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu xin trân trọng kính mời toàn thể đồng hương trên khắp Úc Châu, đặc biệt là các bạn trẻ, sinh viên, học sinh tham dự thật đông đảo cuộc biểu tình hổ trợ đồng bào quốc nội quan trọng này của cộng đồng chúng ta.

Muốn biết thêm chi tiết, xin quý vị vui lòng liên lạc với Ban Chấp Hành Tiểu Bang hoặc Lãnh Thổ nơi mình cư ngụ.

TM. BCH-CĐNVTD-UC

Nguyễn Thế Phong

Chủ tịch.

NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN TẠI THÁI LAN HIỆN RA SAO?



Tải xuống âm thanh

Trong khi tất cả các trại tỵ nạn trong vùng Đông Nam Á đều đã đóng cửa thì tại Thái Lan vẫn còn một số người từ Việt Nam trốn sang đây với hy vọng được Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cấp cho quy chế tỵ nạn.

Nhóm Người Việt Tỵ Nạn Tại Bangkok, Thái Lan

Số phận những người này ra sao khi Thái Lan tiếp tục lùng bắt những người di dân bất hợp pháp ngày càng căng thẳng hơn? Mặc Lâm có bài tường trình sau đây:

Cảnh sát Thái truy lùng

Ngay khi trại tỵ nạn tại Campuchia đóng cửa thì chút hy vọng le lói cho những người tìm tự do tại Thái Lan trở nên mong manh hơn lúc nào hết. Bên cạnh hơn 40 con người ra đi từ giáo xứ Cồn Dầu trong những tháng qua, mặc dù đã được Cao Ủy Tỵ nạn phỏng vấn nhưng họ vẫn bị chính phủ Thái xem là di dân bất hợp pháp cho nên sự đi lại cũng như sinh hoạt của những giáo dân này rất hạn chế, nếu không muốn nói là hoàn toàn lén lút tại đất mước này.

Những ngày gần Đại hội đảng, họ bắt bớ rất nhiều nhà tranh đấu dân chủ trong nước và tôi là một trong những người bị đàn áp.

Chị Thu Trâm

Một đợt người chạy khỏi Việt Nam nữa vừa xảy ra trong dịp Đại hội đảng vừa qua. Hơn ba mươi người sang Thái để tìm tự do vì họ đã hoạt động trong các phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ. Hoàn cảnh của những người này đang bị đe dọa nặng nề không những từ chính quyền sở tại mà còn từ an ninh phía Việt Nam đang quyết tâm theo dõi và bắt họ nếu có dịp ngay trên đất Thái.

Mối đe dọa này đang làm cho họ khủng hoảng và những nhóm người đào thoát này phải phân tán mỏng để tránh sự truy lùng của hai chính phủ. Một trong những người này là chị Thu Trâm, chị cho chúng tôi biết hoàn cảnh của chị qua điện thoại như sau:

“Tên tôi là Thu Trâm, tôi sang Thái Lan từ ngày 16 tháng Giêng năm 2011. Tôi đã gặp Cao Ủy Tỵ nạn và đã được phỏng vấn. Hiện tại tôi đang chờ kết quả.Tôi khai những gì mà tình hình trong nước đang xảy ra, nhất là những ngày gần Đại hội đảng, họ bắt bớ rất nhiều nhà tranh đấu dân chủ trong nước và tôi là một trong những người bị đàn áp. Họ truy tìm tôi, tôi biết trước sau gì cũng bị bắt cho nên tôi cùng với vợ con của anh Nguyễn Ngọc Quang rời Việt Nam ra đi.”

Khi được hỏi trong nước chị có bị phân biệt đối xử hay bị bắt vì tranh đấu chống chính quyền hay không chị Trâm nói:

“Tôi chưa từng bị bắt ở tù nhưng tôi bị họ sách nhiễu rất nhiều lần và họ bắt tôi lên làm việc, thẩm vấn tôi liên tục và gia đình của tôi cũng không tránh khỏi. Con gái tôi bị họ đuổi học cho nên tôi cảm thấy quá sức chịu đựng nên mới ra đi. Tôi đem những chứng cớ đó để trình bày lên với Cao Ủy Tị nạn.”

Ông Nguyễn Đức Vinh cũng cho biết sự ra đi của ông và các người cùng hoàn cảnh như sau:

“Hiện thời nhóm của tôi có 8 người nhưng đã phân tán ra làm 4. Nhóm của tôi thì còn ở Bangkok đây. Nhóm 8 người trong đó có ba gia đình có hơn hai mươi người nhưng những gia đình đó họ đã qua các tỉnh để tránh sự theo dõi rồi. Mình đang mướn nhà của dân mình ở rồi phải ráng thôi chứ không biết thế nào cả.”

Trong kỳ đại hội Đảng diễn ra sau khi anh Nguyễn Ngọc Quang trốn khỏi Việt Nam thì tại Việt Nam em bị mời lên mời xuống liên tục, từ đó em quyết định đào thoát khỏi Việt Nam.

Anh Nguyễn Ngọc Huy

Trường hợp của anh Nguyễn Ngọc Huy thì khó khăn hơn nhiều, anh bị Cao Ủy Tị nạn tại Thái Lan trì hoãn phỏng vấn nhiều lần mặc dù anh chứng minh rằng anh có chân hoạt động trong phong trào đấu tranh dân chủ mang tên Bạch Đằng Giang của Nguyễn Ngọc Quang, anh Huy nói với chúng tôi:

“Em qua Thái Lan trong kỳ đại hội Đảng diễn ra sau khi anh Nguyễn Ngọc Quang trốn khỏi Việt Nam thì tại Việt Nam em bị mời lên mời xuống liên tục, từ đó em quyết định đào thoát khỏi Việt Nam. Em thuộc tổ chức Bạch Đằng Giang phong trào của anh Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Bá Hải. Tổ chức này tranh đấu cho tự do dân chủ từ năm 2006. Em gặp Cao Ủy rồi nhưng em gặp khó khăn là em bị Cao Ủy trì hoãn phỏng vấn đã hai tháng nay. Lần thứ nhất họ trì hoãn là ngày 8 tháng 3 và lần thứ hai vào ngày 16 tháng 3. Lần này họ trì hoãn em 45 ngày tức là ngày 27 tháng 4. Hiện tại em đang sống tại Thái Lan và rất lo sợ vì có tin từ Việt Nam cho biết là mật vụ và công an đang lùng bắt tụi em, kể cả bên Cồn Dầu cũng bị lùng bắt.”

Mật vụ Việt Nam theo dõi

Không những gặp khó khăn từ Cao Ủy Tị nạn những người này đang bị an ninh và mật vụ Việt Nam theo dõi chặt chẽ và khi được dịp họ sẽ bị bắt mang trở về nước với sự hỗ trợ của cơ quan di dân

Thái Lan. Chị Thu Trâm cho biết:

Nhóm Người Việt Tỵ Nạn Tại Bangkok, Thái Lan
“Khi tôi vừa đặt chân tới Thái Lan tôi nhận được nhiều tin tức bên nhà như Thượng tọa Thiện Minh, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Mục sư Nguyễn Hồng Quang, luật sư Nguyễn Bắc Truyển thông tin với tôi là hiện tại công an Việt Nam đang truy tìm tôi rất nhiều. Họ cũng ra cái giá rất cao để ai biết được tôi ở đâu.”
Ông Nguyễn Đức Vinh thì xác nhận: “Tòa đại sứ Mỹ ở đây họ cũng xác nhận chuyện đó thành ra anh em sợ quá chia thành bốn nhóm phân tán ra. Những anh em ở bên kia cho biết như vậy.”

Với những khó khăn trước mặt hầu như cả ba người đều cho là khó có hy vọng gì khi mà không một trại tỵ nạn nào dung chứa họ. Cao Ủy chỉ làm bổn phận sơ vấn rồi phỏng vấn rồi chờ đợi nước thứ ba cấp cho họ quy chế tỵ nạn.

Tình trạng kinh tế là điều đáng sợ nhất khi túi không còn tiền, thực phẩm không được cung cấp và chỗ nương thân thì phải thuê mướn. Anh Nguyễn Ngọc Huy cho biết:

“Thật ra khi qua đây cũng có cầm được một ít tiền từ Việt Nam qua rất cố gắng dành dụm để xài trong những ngày tới nhưng mà sắp hết rồi cuối tháng này không còn nữa. Mấy anh em chỉ biết san sẻ và đùm bọc lấy nhau. Hiện tại ở Thái Lan có khoảng 10 gia đình, nếu tính số nhân khẩu thì khoảng 25 tới 30 người.”

Riêng ông Nguyễn Đức Vinh thì xác nhận: “Nói chung thì kỳ này qua bên đây đâu còn trại tỵ nạn đâu. Cao Ủy nhận đơn của mình và đồng thời trong thời gian chờ đợi họ sơ vấn và phỏng vấn thì mình tự lo mọi việc, tất cả đều phải tự túc.”

Họ bắt tôi lên làm việc, thẩm vấn tôi liên tục và gia đình của tôi cũng không tránh khỏi. Con gái tôi bị họ đuổi học cho nên tôi cảm thấy quá sức chịu đựng nên mới ra đi.

Chị Thu Trâm

Mặc dù may mắn được phỏng vấn nhưng kết quả vẫn còn trong tay của văn phòng Cao Ủy, chị Thu Trâm chia sẻ suy nghĩ của mình khi nằm trong tình trạng khá căng thẳng này, chị nói:

“May mắn là khi qua đây tôi được một mục sư ông đã trình bày và viết thư cho Cao Ủy Tị Nạn vì tôi không biết tiếng Thái lẫn tiếng Anh. Riêng tôi thì đã được phỏng vấn nhưng những anh em khác thì chưa được.Tôi đi chui nên cảnh sát di trú Thái muốn bắt tôi bất cứ lúc nào mặc dù tôi đã được phỏng vấn. Thậm chí kể cả những người đã được cấp quy chế tị nạn rồi thì đối với họ vẫn có thể bị bắt bất cứ lúc nào. Những ngày sống ở đây cũng nhờ sự bảo bọc của anh em đi chung với tôi đùm bọc lẫn nhau. Với chúng tôi thì Thái lan này rất xa lạ chúng tôi cũng không quen biết ai hơn nữa tôi là con cái của Chúa cho nên khi qua đây thì được mục sư giúp đỡ bữa cháo bữa rau nên sống qua ngày còn hơn là sống tại Việt Nam.”

Ba mươi tháng Tư năm nay là đã 36 năm nhưng vẫn còn có người muốn thoát ra khỏi đất nước của mình thì cũng là điều mà chính phủ cần nghiêm túc xem xét lại. Tự do phát biểu ý kiến trong nước nếu bị cấm đoán thì họ phải tìm tới nơi khác để mà thực hiện cái quyền căn bản này.
Dư luận thế giới không làm ngơ trước những áp bức và khi tiếng nói của những người dân bé mọn thay nhau nổi lên đó là lúc bất cứ một chính phủ nào cũng phải dè chừng mà xem lại chính sách của mình đối với dân chúng của họ.

Phim “Đường kiến” đoạt giải Cánh Diều Bạc là một món hàng ăn cắp


Mấy hôm nay, hàng loạt báo chí Việt Nam ầm ĩ loan tin cuốn phim “Đường kiến” của đạo diễn Thiều Hà Quang Nghĩa đoạt giải Cánh Diều Bạc năm 2011.


(photo của VnExpress)

Trong bài “‘Đường kiến’ - phim ngắn phản chiến đoạt Cánh Diều Bạc” báo VnExpress đã mô tả nội dung cuốn phim như sau:

Đường kiến lấy bối cảnh chiến trường miền Nam Việt Nam mùa khô năm 1967. Sau một trận đánh ác liệt, chỉ còn một lính Mỹ sống sót. Bị thương và đói, anh bò đi xa dần khỏi bãi chiến trường. Trên đường, người lính Mỹ nhìn thấy một đàn kiến bò thành hàng và mang trên lưng chúng những mẩu cơm. Anh nhặt những mẩu cơm đó và lần theo đường kiến để tìm nguồn thức ăn thì trông thấy một người lính Việt Nam đã hy sinh, bên cạnh là một nắm cơm...

Tên phim Đường kiến được đặt theo ý tưởng then chốt trong câu chuyện: đường đi của đàn kiến mang theo thức ăn và hy vọng sống của người lính Mỹ đang cận kề cái chết. Việc dõi theo đường đi của đàn kiến là một hành động rất trẻ thơ, được lồng vào bối cảnh chiến tranh và câu chuyện đi tìm sự sống của người lớn, tạo nên sức gợi mới....


Hình ảnh trong phim Đường kiến. Ảnh: Tạ Hà Hải.

Thế nhưng, những ai sống tại miền Nam Việt Nam trước 1975 và thường xuyên đọc tạp chí VĂN đều có thể phác giác ra rằng, với nội dung như thế, phim “Đường kiến” đã ăn cắp ý tưởng và, trắng trợn hơn nữa, ăn cắp ngay cả nhan đề của truyện ngắn “Đường kiến” của nhà văn Kinh Dương Vương (một bút danh của hoạ sĩ Rừng, tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh). Từ truyện đến phim, chỉ có một chi tiết được thay đổi: nhân vật chính trong truyện “Đường kiến” của Kinh Dương Vương là một người lính Việt Nam Cộng Hoà, khi nhân vật này bị ăn cắp đem vào kịch bản phim thì biến thành một người lính Mỹ. Thật là một trò cải trang quá sức khéo léo!

Trên tất cả báo chí Việt Nam trong những ngày qua, không hề có một thông tin nào ghi nhận rằng cuốn phim "Đường kiến" đã mượn ý tưởng của truyện ngắn "Đường kiến" của nhà văn Kinh Dương Vương. Phát biểu trước báo chí, đạo diễn Thiều Hà Quang Nghĩa cũng không hề nhắc đến truyện ngắn ấy. Theo VnExpress:

Thiều Hà Quang Nghĩa cho biết: “Khi làm bộ phim tôi không định kể câu chuyện về ‘ta’ hay ‘địch’, tôi muốn kể về người lính, về con người trong chiến tranh. Bộ phim có ý nghĩa phản chiến, nói lên tội ác của chiến tranh”.

“Bố tôi cũng là một người lính trong chiến tranh, bản thân tôi hiểu sự mất mát đó”, Quang Nghĩa nói. “Chiến tranh đã qua đi rất lâu rồi, nhờ có một độ lùi về thời gian, những người trẻ thời hiện đại sẽ nhìn cuộc chiến từ những góc độ mới. Họ sẽ thấy chiến tranh gây nên mất mát cho cả hai phía”. Đó là lý do đạo diễn đưa vào phim hình ảnh người lính Mỹ nhớ về gia đình ở bên kia bờ đại dương qua những bức ảnh anh mang theo, tạo nên một trường đoạn xúc động. Hình ảnh cuối cùng của phim là anh lính này nằm theo hình dấu chấm hỏi, như đặt câu hỏi “Tại sao cuộc chiến phi nghĩa này lại xảy ra?”

Nghe như câu chuyện này đến từ kinh nghiệm cá nhân của Thiều Hà Quang Nghĩa, do chính anh ta hư cấu và kể ra, chứ chẳng hề có liên quan gì đến truyện ngắn "Đường kiến" của nhà văn Kinh Dương Vương. Thú vị thật!

Sự thật là truyện ngắn “Đường kiến” của nhà văn Kinh Dương Vương đã đăng trên tạp chí VĂN, số 125, ra ngày 1 tháng 3 năm 1969, ở trang 25-37.



Hôm nay chúng tôi có nhận được từ nhà văn Trần Hoài Thư một bản chụp chính xác từng trang tạp chí VĂN số 125. Đây là trang 25 của số báo ấy, tức là trang đầu tiên của truyện “Đường kiến” của nhà văn Kinh Dương Vương.




Trong truyện ngắn “Đường kiến” dài 12 trang này, những đoạn văn từ cuối trang 32 đến hết trang 34 kể câu chuyện giống hệt như những gì mà báo VnExpress đã thuật lại về nội dung của phim “Đường kiến”. Dưới đây là bản chụp những đoạn văn bị Thiều Hà Quang Nghĩa ăn cắp để làm ý tưởng chính cho bộ phim “Đường kiến”:







Theo VnExpress, “đạo diễn Thiều Hà Quang Nghĩa sinh năm 1984, hiện là sinh viên khoa Đạo diễn Điện ảnh khóa 27 của Đại học Sân khấu điện ảnh Hà Nội.

Một sinh viên chưa tốt nghiệp mà đã đoạt giải như thế thì hay quá, nhưng đoạt giải bằng một món hàng ăn cắp thì... hết thuốc chữa! Hết thuốc chữa cho bản thân anh ta cũng như cho cả cái gọi là “uy tín” của giải thưởng này.



Sau hàng loạt sản phẩm đạo văn, đạo nhạc bị phát hiện và tố giác liên tục trong suốt cả chục năm qua, tình hình trộm cắp trong sinh hoạt văn hoá nghệ thuật ở Việt Nam vẫn càng lúc càng tệ hại hơn.

Người ta thường nói: “Bần cùng sinh đạo tặc”. Đó là nói đến sự bần cùng về miếng cơm manh áo. Đằng này lại không phải là chuyện đói ăn, thiếu mặc, mà là sự bần cùng về văn hoá. Bần cùng văn hoá thì sinh ra đạo tặc văn hoá.

Cái gì đã làm cho văn hoá Việt Nam trở nên bần cùng đến mức sinh ra đạo tặc triền miên như thế này? Đây là một câu hỏi chung mà mỗi người Việt Nam đều cần phải suy gẫm.


Nguyễn Tôn Hiệt

http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=12393

Di sản Mác Xít đang tiêu tan tại VN


Chủ thuyết cộng sản đã tàn tạ và thế giới cộng sản đã vỡ tan. Đông Âu đã từ bỏ cộng sản, hân hoan hội nhập vào thế giới tự do. Chính Liên Sô là cái nôi cộng sản cũng đã quay lưng với chủ thuyết lỗi thời này để cùng sóng bước với thế giới dân chủ. Hôm nay chỉ còn vỏn vẹn mấy nuớc như Cuba, Triều Tiên, Trung Quốc và Việt Nam là còn níu kéo chế độ cộng sản, nhưng không hẳn là vì chủ thuyết mà có thể chỉ vì quyền lực và quyền lợi của cá nhân và phe nhóm. Câu hỏi đặt ra là hôm nay, di sản Mác Xít còn có thể bám trụ thêm tại Việt Nam, hay đang rữa nát và sắp tiêu vong?

Đa số các nước đã một thời theo chủ nghĩa cộng sản, nay đã dứt khoát vất bỏ chủ thuyết sai lầm và phản tiến hóa đó vào thùng rác lịch sử. Nhận định về những rác rưỡi cộng sản đã một thời có màu mè thu hút trên một nửa thế giới, nhiều nhà lãnh đạo uy tín, xuất thân từ cộng sản, cũng như không cộng sản, đã thẳng thắn coi cộng sản là trùng độc của xã hội cần phải tẩy uế và vất bỏ. Còn ai đủ tư cách hơn Gorbachev, nguyên là Tổng Bí Thư Đảng cộng sản Liên Sô, có thể đưa ra những nhận định xác đáng về cộng sản. Ông đã không ngại nói ra như một lời thú tội: “Tôi đã bỏ nửa cuộc đời để theo lý tưởng cỗng sản. Hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng, Đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá!”. Kinh nghiệm cay đắng về bản chất dối trá và bạo lực của cộng sản cũng được Milovan Djilas, nguyên là Bí Thư Đảng Cộng Sản Nam Tư đã trần tình: “20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim. 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”.

Hơn ai hết, Vladimir Putin, nguyên là một tên trùm KGB, nguyên Tổng Thống Cộng Hòa Nga, nay là Thủ Tướng, cũng đã đưa ra một nhận định đáng cho mọi người suy nghĩ: “Kẻ nào tin những gì cộng sản nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời cộng sản là không có trái tim!”. Thật vậy, cộng sản trước sau cũng chỉ là những bộ máy chém giết, những con người khổng lồ không tim không óc, đúng như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đã mô tả cách đây cả nửa thế kỷ. Chính bộ mắt thật của cộng sản đã bị phanh phui như thế, nên Boris Yeltsin, vị Tổng Thống dân chủ đầu tiên của cộng hòa Nga đã khẳng định như một tuyên ngôn: “Cộng sản không thể thay đổi, mà chỉ có thể thay thế.”

Những nhận định trên về cộng sản rất có tính cách thuyết phục. Nhưng đối với những nuớc còn bám víu vào cộng sản như Trung Hoa, Triều Tiên Cuba và đặc biệt là Việt Nam thì vấn đề chưa dứt khoát dừng lại ở đó, và còn mở ra một cửa ngõ để tranh luận góp ý. Hà Sĩ Phu quan niệm rằng, di sản Mác Xít còn lâu mới tiêu tan tại Việt Nam, vì theo ông, rồi đâu lại vào đó, tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam hôm nay đã chuẩn bị chu đáo chỗ ngồi cho con cháu của họ, tạo cơ hội cho con cha cháu ông tiếp tục theo đuổi chế độ độc tài toàn trị của cha ông, và cứ thế mà cộng sản tiếp tục ngự trị trên đất nước này. Đỗ Mạnh Tri đã biểu đồng tình với Hà Sĩ Phu, nhận định rằng, qủa là ngây thơ nếu có người nghĩ rằng, giới trẻ Việt Nam lớn lên, lại được du học ngoại quốc, thấm nhuần ý thức dân chủ của Tây Phương, sẽ đóng góp tích cực vào việc thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Theo ông, biết đâu, những người trẻ này sẽ không sắt máu hơn cha ông của họ hôm nay?

Nhận định của Hà Sĩ Phu và Đỗ mạnh Tri không hẳn thiếu căn bản, và hình như đang được chứng nghiệm với chủ trương gia đình trị của Hà Nội, thể hiện trong Đại Hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa qua. Theo Nguyễn Hưng Quốc “Ở Vệt Nam, gần đây, nhất là qua Đại Hội Đảng lần thứ XI vửa rồi, người ta cũng thấy âm mưu đưa con cháu lãnh tụ hoặc công thần của chế độ vào ban Chấp Hành Tung Ương để chuẩn bị cho việc kế nhiệm về sau.”. Ông đã nêu lên những trường hợp cụ thể để dẫn chứng, như con trai Nông Đức Mạnh là Nông Đức Tuấn, con trai Nguyễn Tấn Dũng là Nguyễn Thanh Nghị, con trai cố Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh là Nguyễn Chí Vịnh, con trai Nguyễn Cơ Thạch là Phạm Bình Minh, con trai Nguyễn Văn Chi là Nguyễn Xuân Anh, con trai Nguyễn Sinh Hùng là Trần Sỹ Thanh và cháu ngoại Hà Huy Tập là Nguyyễn Thị Kim Tiến, đều được sắp sếp vào làm Ủy Viên Trung Ương Đảng..

Sự thể là thế, nhưng có thể Hà Sĩ Phu và Đỗ Mạnh Tri chỉ dựa vào lý luận thuần lý mà chưa để ý đến chữ “ngờ” với những biến cố bất chợt của lịch sử. Thật vậy, nào ai có ngờ Ben Ali, Tổng Thống Tunisia phải trốn sang ẢRập Saudi chỉ sau 4 tuần lễ bị dân chúng xuống đường chống đối, chấm dứt 23 năm cai trị độc tài nghiệt ngã. Cũng thế, nào có ai ngờ Mubarak, Tổng Thống Ai Cập phải ra đi tức tưởi chỉ vỏn vẹn 1 tuần lễ bị dân chúng tràn xuống đường đòi truất phế, chấm dứt 30 năm cai trị độc tài chuyên chế.

Từ Bắc Phi và Trung Đông nhìn qua Việt Nam, người ta không khỏi nghĩ tới trường hợp chế độ cộng sản bị giải thể và di sản Mác Xít sẽ vĩnh viễn tiêu tan tại Việt Nam. Đây không phải chỉ là một suy luận hay một hy vọng, mà là một thực tế đang diễn ra, với những triệu chứng cụ thể sờ mó được.

Trước hết, sự tàn bạo của cộng sản Việt Nam đã đi tới mức tối đa và sức chịu đựng của dân Việt cũng đã đến chỗ tận cùng. Tư do bị cướp đoạt, dân chủ bị hạn chế, nhân quyền bị chà đạp, xã hội Việt Nam đã đi đến chỗ rữa nát với bóc lột, tham nhũng bất công và bất nhân. Giờ đây, dân Việt chỉ còn thoi thóp chờ đợi ngày quật khởi, như thể cơn bão lửa sắp bừng lên, như thể cơn sóng thần sắp dâng trào, cuốn trôi độc tài đảng trị.

Tiếp đến, sự phân hóa trong nội bộ Đảng cũng đang nhen nhúm. Đã có những dấu hiệu rạn nứt giữa những đảng viên còn chút tình tự dân tộc và con tim Việt Nam với nhóm thiểu số lãnh đạo buôn dân bán nước. Tiếng nói của những cựu đảng viên thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Nguyễn Minh Cần, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, và mới đây của Nguyễn Văn An, hẳn phải có tác dụng đánh thức tất cả những ai còn ngây thơ tin vào cộng sản, hay còn ngủ mê trên quyền lực và quyền lợi, sống phè phỡn trên nỗi thống khổ chất ngất của dân Việt.

Thêm vào đó, sức sống đang bừng lên từ giới trẻ trong nước cũng như ngoài nước với ý thúc dân chủ trong sáng, với bầu nhiệt huyết Lạc Hồng, và nhất là với khả năng tin học tiến bộ, có thể làm trào lên sức mạnh Diên Hồng, dương cao ngọn cờ Phù Đổng, dứt khoát xé bỏ màn sắt, xô ngã bức tường cộng sản ô nhục.
Đó là chưa nói tới sức mạnh dân chủ đang nhen nhúm từ các chiến sĩ can trường trong nước như Phạm Hồng Sơn LS Lê Thị Công Nhân, LM Nguyễn Văn Lý, BS Nguyễn Đan Quế, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy..Họ là những đóa than hồng sẵn sàng bùng lên thành bão lửa bất cứ lúc nào. Họ là những đóm lửa sẽ bừng cháy thành ngọn hải đăng soi đường dân chủ, chẳng khác nào như Bouazizi của Tunisia, Khaled Said của Ai Cập..
Nhất là hôm nay, mọi người đều nhận thức được tình trạng lo sợ của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam, không dại gì mà muốn chung số phận với Ben Ali và Mubarak. Hiện nay, họ đang tẩu tán tài sản ra ngoại quốc, bỏ tiền đầu tư trong nhiều dự án tại hải ngoại, cho con cháu dọn chỗ trước tại các nước Tây Phương.

Hình như họ đang chuẩn bị những bãi đáp an toàn. Nhưng vấn đế, họ có đáp xuống an toàn không, còn tùy thuộc vào sự lựa chọn khôn ngoan của họ. Nếu họ thực tâm lìa bỏ cộng sản, sớm trở về với đại khối dân tộc, thì dân Việt và thế giới sẽ mở rộng vòng tay bao dung, đón họ về với dân tộc. Đó là bãi đáp an toàn. Ngược lại, nếu họ ngoan cố bám lấy di sản Mác Xít tới phút chót, thì ai dám bảo đảm rằng, dân Việt và lịch sử sẽ tha thứ cho họ?

Tóm lại, cuộc cách mạng Hoa Lài tại Bắc Phi và Trung Đông đã viết lên một trang sử thế giới mới. Hy vọng người cộng sản, nếu còn chút chất người, và nhất là còn chút chất người Việt Nam, thì hãy dứt khoát từ bỏ chế độ cộng sản bạo tàn dối trá, chấm dứt chính sách đày đoạ dân tộc, bán nước buôn dân để hội nhập vào thế giới văn minh với trào lưu nhân bản đang được cổ võ và tôn vinh hôn nay. Nói khác, hãy dút khoát xóa bỏ mọi tàn tích cộng sản, hãy tiêu hủy mọi di sản Mác Xít ngoại lai, để trở về với tổ quốc và dân tộc. Con đường đã mở. Hãy bước xuống để cùng đồng hành với dân tộc Việt Nam.

Ngô Quốc Sĩ

Chút liên tưởng từ "Tiếng kêu trên biển vắng" của Phùng Nhân

Thảm trạng thuyền nhân không những là biến cố bi thảm nhất của riêng dân tộc Việt Nam mà còn cả của nhân loại nữa. Trong suốt hơn hai thập niên, cả triệu người liều mình đi tìm tự do bất chấp hiểm nguy chờ đón. Và phân nửa tổng số những người đi tìm tự do ấy đã nằm xuống đại dương, nghĩa là gần một triệu người vùi thân trong biển thẳm. Trong văn học, đã có rất nhiều tác phẩm viết về chủ đề thuyền nhân. Mỗi tác phẩm, từ cái nhìn chủ quan của tác giả, có khi đóng vai trò nhân chứng, có khi là người kể chuyện, viết những trang sách phóng chiếu được sự thực. Một trong những tác phẩm ấy là “Tiếng kêu trên biển vắng” của nhà văn Phùng Nhân, một tác giả rất quen thuộc với độc gia không nhữngũ ở Úc Châu mà còn của cả văn học Việt Nam hải ngoại nữa. Được biết đây là tác phẩm thứ 11 của ông.



Phùng Nhân có văn phong rất đặc biệt của người miền Nam Bộ. Ông là người kể chuyện rất chân phương mộc mạc. Không một chút son phấn điểm tô, sự thực đã có sức hấp dẫn để người đọc bị lôi vào những cảnh huống sinh động sống thực. Những nhân vật của ông bình dị. Sống và suy nghĩ của những người dân bình thường. Trong 24 chương sách, tác giả đã kể về cuộc vượt biển của một chiếc tàu mang số hiệu MT 065 rời bến tại Mỹ Tho. Từ nguồn tư liệu của những nhân chứng còn sống sót, tác gỉa đã dựng lại một biến cố mà sự đau thương bi thảm là yếu tố chính. Dĩ nhiên, vượt biển với một chiếc tàu nhỏ nhoi trên đại dương bao la là thách đố với thiên nhiên với nguy hiểm từ những nhân họa đến thiên họa. Những chi tiết xác thực gần cận đời sống đã làm cho tác phẩm ”Tiếng kêu trên biển vắng” thành một chứng liệu xác thực của một biến cố thương tâm không những cho dân tộc Việt Nam mà cả nhân loại nữa. Qua những trang sách tôi đã hiểu được mục đích của tác giả khi nhận định rằng đây là một tư liệu tiểu thuyết. Hai danh từ xem ra hơi ngược nhau nhưng ở trong trường hợp này lại làm rõ hơn ý nghĩa của tác phẩm.




Thời gian mà chiếc tàu vượt biển là một thời điểm tệ hại nhất của dân tộc Việt Nam. Hà chính ư mãnh hổ, dân chúng sống trong một xã hội đang trên bờ vực tan rã, kinh tế đói kém, chính trị áp bức, chế độ bạo ngược, rồi với những chính sách như ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản, đổi tiền, đuổi dân thành phố ra các vùng kinh tế mới hoang vu rồi bỏ mặc khiến thành phố Sài Gòn đầy những người không nhà sống lê lết bên hè đường vỉa phố. Trong khi đó, hàng trăm ngàn sĩ quan, viên chức của chế độ VNCH cũ bị giam tập trung trong trại cải tạo. Thời kỳ này phong trào vượt biển lên cao đến nỗi có sự ví von là nếu cột đèn đường mà biết đi thì cũng sẽ vượt biên.




Kể chuyện về vượt biển, có lẽ có rất nhiều điểm tương tự từ những chuyến vượt Đông Hải ra khơi. Về đại thể thì như thế, nhưng mỗi chuyến đi lại có những tình tiết riêng. Ở tác phẩm này, tác giả Phùng Nhân đã trong phong thái riêng biệt để tạo thành một câu chuyện vừa xác thực vừa có những nét nhân bản. Trong truyện, những thuyền nhân vì hoàn cảnh khốn cùng mới phải ra đi. Họ cũng yêu quê hương đất nước, cũng yêu gia đình thân tộc nhưng phải đành đánh cuộc với nguy hiểm để tìm tự do cho bản thân và gia đình mình. Tài công Phạm văn Hoàng một nhân vật chính trong truyện không chỉ là một nhân chứng với câu chuyện của anh mà còn cho độc giả thấy được một thời thế mà con người bị đẩy đi tìm đất sống với những định mệnh khắt khe đã ngầm chứa nhiều bi thảm. Sau ngày 30 tháng tư năm 1975, cả đất nước đã bị dìm vào một địa ngục và những người dân lương thiện đã phải chọn một cách thế để sống còn.




Đọc truyện Phùng Nhân, tôi thấy được những chồi yêu thương mọc lên từ bi thảm. Chính trong những hoàn cảnh ngặt nghèo con người mới biết đùm bọc nhau. Chính trong những hoàn cảnh thập tử nhất sinh mới thấy quyền năng của Thượng đế. Và định mệnh cũng đã dành sẵn cho mỗi người giữa hai bên bờ sống chết.




Từ tiểu thuyết của Phùng Nhân, tôi lại có chút liên tưởng chạnh lòng từ nỗi riêng mình. Tôi cũng là thuyền nhân, và cũng đã trải qua những ngày trên biển. Đọc “Tiếng kêu trên biển vắng” tôi không làm sao mà có thể quên được những hồi ức đã ăn sâu trong tiềm thức mình, mỗi lần nhắc đến hoặc đụng chạm đến lại vô vàn cảm khái.




Có những nơi chốn, thành một phần đời sống của mình. Một bữa, lục chồng ảnh cũ, thấy bộ hình nhiều tấm chụp cả toàn cảnh đảo Galang, tự nhiên, tôi thấy mình như nao nao một nỗi niềm nào khó tả… Thời gian qua quá nhanh. Mới đây, tôi còn là một chàng tuổi trẻ, mà bây giờ đã ở tuổi quá sáu mươi, với tất cả những chuỗi ngày lúc trầm lóc bổng của cuộc sống. Có người cho rằng việc ngoái lại quá khứ là phản ứng của những người không vừa lòng với hiện tại và ít có tin tưởng ở tương lai. Nhai lại những kỷ niệm cũ, để trở về với cái hào quang của đời mình.




Nhưng với tôi, tôi không có hào quang để nhớ vì đời sống của tôi cũng bình thường như những người cùng tuổi khác và có lẽ trong cái vui cũng ngầm chứa cái buồn và ngược lại. Nhắc lại kỷ niệm, nhìn ngoái lại thời gian qua, có lẽ chỉ là sự trân trọng một phần đời sống mình. Ở thời hiện tại, sống trong cuộc sống hàng ngày, những mơ mộng cũ, những hồi ức xưa có lúc đã làm cho nhịp sống bây giờ bớt phần gay go ác liệt của những cuộc tranh sống tối mặt. Nhìn về xưa cũ, có khi là một cuộc du ngoạn để trong lịch trình cuộc sống có những giây phút coi như là những cuộc nghỉ hè rong chơi để con người bớt căng thẳng …




Nếu có thể, trong đời tôi sẽ ghé về chốn ấy. Có thể, là Sài Gòn, thành phố của tuổi hoa niên mơ mộng của biết bao nhiêu kỷ niệm không quên. Có thể, là Pleiku, thành phố của bụi đỏ, nắng mù mưa quánh, của những ngày bắt đầu vào lính, của lúc mà hào khí tuổi trẻ bừng bừng, khi mà ngây thơ của một chú gà trống nhỏ nhoi mà tưởng mình vô địch… Chuyện ấy dễ dàng quá, vì bây giờ chính quyền trong nước đã mở rộng tầm tay để chiêu dụ người Việt di tản và vượt biển ngày xưa trở về để làm giàu cho kỹ nghệ du lịch. Nhưng sao, với tôi vẫn có một cái gì nghi ngại và thú thực tôi đã mơ trở về thăm lại chốn xưa mà có người đã cho rằng cái giấc mơ ấy quá thường và không đáng gọi là giấc mơ nữa. Người ta chỉ mơ mộng những cái gì khó đạt được. Chứ còn trở về Việt Nam thăm quê, chuyện qúa nhỏ và dễ dàng. Thế mà, tôi vẫn cứ dị ứng mãi với những bộ mặt dưới nón cối sùm sụp và những người mà chúng tôi gọi là bò vàng trong trại tù …




Nhưng, cũng có lúc tôi mơ sẽ ghé về thăm nơi tạm trú đầu tiên bắt đầu những ngày lưu lạc xứ người. Ở nơi đảo xa ấy, chắc bây giờ đã hoang phế, làm nhớ lại bao nhiêu cuộc đời đúng nghĩa với ngôn từ trôi dạt. Ở đó, có những hăm hở của ngày tháng bắt đầu. Nhưng cũng có đau xót của những mất mát. Ở đó, tôi đã thấy những con mắt rượi buồn nhìn ra biển khơi, để tưởng nhớ lại hình bóng những người thân đã biệt thẳm, của những người khốn khổ. Ở đó, tôi đã thấy những người nửa sống nửa chết trong sự ly biệt, quanh quẩn mãi với nỗi mất mát tràn ứa tiếc thương. Ở nơi chốn ấy, dường có một bài thơ, như lời vọng của người vợ hiền nào vọng lên từ lòng biển thẳm, của khói sóng dạt về.




“Anh, rẽ thẳng ngôi em làn tóc xõa


không quanh co khuất khúc mối tình em

dù biển gió sẽ rối tung trăm ngả

anh vuốt ve cho giấc ngủ em mềm

Anh, hãy ru em ca dao mật ngọt

Cho em quên cơn khát biển nhọc nhằn

Có phải em vẫn tràn đầy hy vọng

ghé bãi bờ nào lưu lạc dừng chân

Anh, vuốt khẽ cho em tà áo mộng

Khép sau lưng tia nắng đẹp phố phường

Ô kìa anh tung tăng đôi bướm đẹp

Đôi ta đùa trên cỏ biếc thân thương

Anh, đọc nhỏ thơ anh lời dưới mộ

Có phải em đang dần rã xác thân

Hồn trôi dạt bập bềnh trên khói sóng

Đi về đâu trăm ngã chốn phân vân

Anh, hãy hôn em bờ môi vời vợi

Giữ cho nhau manh áo ấm em đan

Còn hơi ủ của mặt trời mong đợi

Sao mắt anh đau xót mãi vô vàn

Anh, em đã vùi sâu lòng biển thẳm

Vèo cánh chim qua nhịp sóng đoạn trường

Rêu xanh có đủ lấp thành nấm mộ?

Bao giờ đây, em về được quê hương?”



Bài thơ ấy, có phải là vé lên tàu để tôi đi lên con tàu của sân ga đời sống. Không phải là nỗi niềm của một người ở Tần nhớ Tấn mà, chính là kỷ niệm đã sống lại trong vô thức khôn nguôi.




Mấy tháng ở đảo, gặp gỡ biết bao nhiêu người, nghe kể bao nhiêu là cảnh ngộ, thấy đoạn đường đi tị nạn gai góc biết bao. Biển, có lúc hiền hòa thơ mộng, nhưng cũng có lúc hung hãn bạo cuồng. Người, có khi là ngư dân lương thiện, giúp đỡ những lúc đói khát khốn cùng nhưng cũng có lúc là những hải tặc Thái Lan man rợ dữ dằn, là nguyên nhân của những cái chết tức tưởi, những trò dâm ô thú vật hành hạ trên thân xác con người. Đâu có ai muốn phiêu lưu, mang tính mạng của mình, gia đình mình đánh cuộc cùng rủi may. Nếu không có một chế độ hà khắc phi nhân, nếu không có những trại giam mở ra cả nước, không có những chính sách phân biệt đầy ải những người bị thua trận. Ở một đất nước mà thậm chí đến cả cái cột đèn cũng muốn vượt biển ra đi, thì, xá gì hậu quả, những chuyến tàu vẫn liên tiếp ra khơi, mang theo những hy vọng, và, đôi khi cả những thất vọng. Đã có nhiều người vùi sâu đáy biển, đã có những con tàu tan nát dưới giông bão …




Như thói quen mỗi buổi sáng ở freeway trên con đường đến sở, tôi lơ đãng bật đài phát thanh để nghe cho đỡ đường dài. Có một lần bỗng nhiên, nghe đoạn phóng sự những người tị nạn về Galang thăm lại cảnh cũ xưa, tôi tưởng như mình lạc vào một thế giới khác. Trước mặt, không thấy cảnh kẹt xe nữa. Suy nghĩ miên man, đi quá mấy exit mà không biết. Trong tâm, bùi ngùi cảm xúc. Hai mươi năm, qua thật mau. Một thời đã qua. Một đời tiếp nối. Tự nhiên, những người trăm năm cũ hiện về. Từ ký ức chẳng thể nào quên. Những ngày tháng ấy…




Tôi vượt biển vào tháng tám năm 1980. Cũng đã đi nhiều lần, cũng lên “cá lớn, cá nhỏ“ nhiều bận, bị lừa gạt, chạy xất bất xang bang nhiều phen, rốt cuộc đến được xứ sở tạm dung vào một ngày trăng tròn. Đến đảo Kuku, khi nơi đây dân tị nạn vừa chuyển tiếp từng đợt qua đảo lớn Galang nên chỗ này hoang vu lắm. Những dãy nhà dài bỏ không, cây cỏ xanh um. Ngôi chùa ở lưng đồi, trơ những hàng cột và những tấm bạt ni-lông rách bươm phần phật trong gió. Và nghĩa địa, nơi những người tị nạn sớm bỏ dương trần, những bia gỗ sắp hàng trong cái lạnh lùng hoang dã không sinh khí.




Nhưng, phong cảnh đảo thì tuyệt đẹp. Đi sâu vào trong, có dòng suối, có những mỏm đá hữu tình. Bờ biển cát trắng, nước trong. Những ngày đầu, trăng sáng lồng lộng. Qua một hành trình mệt nhọc trên biển, bây giờ mới biết chắc mình còn sống. Lúc đầu, chân lơ lửng bềnh bồng như trên sóng. Mấy ngày sau, mới bình thường đi lại vững vàng trên mặt đất.




Thời khắc mà nhìn biển với màu xanh mù mịt thăm thẳm đã qua. Nhớ lại cảm giác, trên hành trình, nhìn đại dương xanh biền biệt một màu, nhất là vào những buổi chiều tắt nắng sao cô đơn và phập phồng chi lạ. Biển với những tay sóng thịnh nộ như lúc nào cũng muốn ra oai vùi dập với con người và con thuyền gỗ nhỏ bé. Biết bao nhiêu người vùi mình dưới đáy đại dương. Biết bao nhiêu con thuyền vỡ tan trong dông bão. Đến lúc nhìn thấy những cánh chim sao ấm áp quá. Đất đã hiện ra, và cái sống đã như trở lại.




Bây giờ, biển lại hiền hòa vỗ về bờ cát. Bây giờ, biển lại âm vang những khúc tình ca. Ngay cả khi trong những cơn mưa nhiệt đới, dù mù mịt ngoài khơi nhưng trong bờ nước ấm áp dễ chịu. Ngọn núi ở phía trong, với những dường mòn khuất khúc, với những khoảng rừng thưa, như hứa hẹn những không gian nào, nơi chốn nào cho tìm tòi khám phá…Hết rồi những ngày bị dòm ngó, bị đe dọa ở quê hương. Saigòn, có những lúc rưng rưng nhớ. Thành phố của những ngày mới lớn, của những mơ ước, của những nỗi niềm….




Ở Kuku nửa tháng rồi có tàu lớn chở qua Galang, một cuộc sống khác bắt đầu, như ở một phố nhỏ nào lạ lẫm. Một con đường trải nhựa từ bến tàu đi vào trung tâm đảo. Những dãy nhà tôn hai bên, khu Galang I. Con đường đi qua tới cuối đảo là khu Galng II đang xây cất. Lúc ấy cả đảo có chừng gần hai chục ngàn thuyền nhân, có người di chuyển từ Mã Lai, Thái Lan hoặc Hồng Kông tới. Thuyền nhân Hồng Kông thì có bề ngoài bảnh bao hơn những nơi khác đến. Nhiều lần tôi ở trong những người đại diện trại đón tiếp những người nhập đảo và cũng nhiều lần được nghe những mẫu chuyện về đời thuyền nhân. Có những nghẹn ngào cố nén xúc động khi nhắc về những người đã khuất và những chuyện thương tâm. Biển đưa người đi nhưng biển cũng vô tình giết người….


Ở đó, một cuộc sống tạm bợ lạ lùng bắt đầu. Cũng có các nơi phải đến : nơi cấp lương thực hai tuần một lần, nơi phát thư để mong có những liên hệ vói thế giới bên ngoài, có văn phòng cao ủy để làm thủ tục định cư, có ban đại diện trại để lo những công tác công cộng.



Nhìn bề ngoài thì như vậy, nhưng trong thâm tâm mỗi người tị nạn chất chứa đầy ắp những nỗi niềm. Cá nhân tôi, may mắn mọi chuyện chót lọt, không phải lo lắng đến chuyện đi Mỹ nên tâm tư thoải mái hơn. Dù rằng, vẫn nghĩ về quê hương với nỗi ngậm ngùi. Còn phần đông, với mọi người là cảnh huống nóng lòng chờ đợi ngày đi định cư. Những ngày ở đảo, dài theo chuỗi đợi chờ. Có nhiều người bị ở đây cả năm nên tinh thần khá sa sút. Những cái loa, báo tin mừng, tin buồn. Người đi, vui vẻ. Người ở lại, lo lắng đợi chờ…




Nhưng, có những nỗi đau đớn lớn hơn. Có những người mất mát thân nhân ngoài biển cả. ”Nghĩ đắt vô cùng giá tự do”, câu thơ Thanh Nam thật là đúng. Ở barrack tôi ở có ông già người Hoa cả đại gia đình cả mấy chục người chỉ còn sót lại có hai ông cháu. Buổi tối ông cõng đứa cháu nội trên vai lủi thủi đi xem truyền hình rồi nặng nề trở về trong đêm tối trông đau đớn làm sao. Có lần ông kể trong nước mắt, cái đêm mà cả đại gia đình của ông bị lính Mã Lai áp tải lên thuyền tống ra khơi rồi tất cả bị sóng cuốn đi. Tiếng khóc nén trong lồng ngực nghe tội nghiệp. Xoa đầu đứa bé ba bốn tuổi, ông nói nếu không có nó chắc ông cũng chẳng sống làm gì. Những người như vậy, chắc đến lúc họ xuôi tay về với đất mới có thể quên lãng được nỗi đau đớn ấy.




Nếu có dịp trở lại, tôi sẽ ghé về để nhìn lại barrack mà mình đã sống gần sáu tháng. Cũng như, sẽ bồi hồi biết bao khi đứng ở cầu tầu để đón những người đến và tiễn những người đi. Con đường xuyên qua đảo, biết bao nhiêu kỷ niệm. Những hình bóng thoáng qua. Những cuộc tình vời vợi…Cũng có những nuối tiếc bâng khuâng, ngày ấy tuy đã hơn ba mươi tuổi mà sao nghe già cỗi cuộc đời. Mới đây hai mươi lăm năm. Và, những người muôn năm cũ. …




Có bài thơ, viết trong thời kỳ ấy, như một dấu tích của tiễn đưa ly biệt. Có những cuộc tình, gặp gỡ nhau rồi lìa xa nhau, như một tình cờ của cuộc sống. Tình khúc, có nỗi niềm riêng và những người năm xưa ấy, không biết bây giờ còn chút tưởng vọng nào không :




“Bởi đảo nhỏ thành sân ga thoảng chợt


người vẫy nhau chào mưa nắng bàng hoàng

em chăn đơn ấm không đêm bão rớt

giọt chờ mong rơi rụng giữa mênh mang

Em trưa chiều vẫn đi về lộ nhỏ

Dù tay che một chút mộng vừa nghiêng

Mây trầm xuống từ nao nao ngực thở

cơn mê dài lặng lẽ mấy nỗi niềm.

Loài sẻ nhỏ vẫn reo vui tường nắng

Phải hồn anh khẽ động bước em qua

Cứ tiếc hoài sao tóc em còn ngắn

Chưa đủ dài tay đo buổi chia xa

Em sốt ruột làm sao lòng đủ rộng

Để cho nhau kỷ niệm đến vô bờ

Mây bay qua, tháng năm như bọt sóng

Đôi đũa nào gắng gượng một tay so

Em có biết đời không toàn mơ mộng.

Gặp rồi tan, ôi lưu lạc kiếp đời

Gọi tên nhau giữa bão dông khan giọng

Âm rưng hoài trong tiềm thức nào nguôi

Bài thơ viết sao mãi loang mầu mực

Câu thơ tình sao ngại đọc cho nhau

Đêm nhiệt đới những tinh cầu đang thức

Soi sáng cho ngã rẽ đến phương nào

Bao nhiêu năm vẫn hoài hoài cơn mộng

Da thịt kề đêm cuối để giã từ

Trong thủ thỉ của chập chờn con sóng

Bỗng nghe em lệ rớt thật tình cờ…”



Tôi chợt nhớ đến một bài hát làm tôi xúc động. Bài “Trên đảo Galang nghe người hát“ của anh Trần Đình Quân, bây giờ đã khuất núi. Bài hát mà tôi đã nghe chính tác giả hát trong một cuộc họp mặt có rất đông những người viết văn làm thơ viết nhạc ở nhà tôi với tiếng đàn đệm dương cầm của chị Quỳnh Giao. Bài nhạc đã làm cho tôi rưng rưng và mắt đỏ đến nỗi phải ra sau vườn để trấn tĩnh lại. Nốt nhạc buồn, ngôn ngữ bình dị nhưng truyền cảm, diễn tả một tâm trạng mà bất cứ ai đã ở trại đảo đều cảm thấy. Hình như tôi đã thấy đôi mắt buồn vời vợi của người hát:




“Chiều qua trên đảo Galang, nghe người hát bài Kembali Ké Jakarta (trở về Jakarta). Người có Jakarta, người có quê hương để trở về thăm nhà.


Chiều nay trên đảo Galang quê người xa lạ một mình nghe lòng đau. Trở về đâu. Về đâu?

Quê ta! Về đâu! Về đâu! Trở về đâu! Về đâu!?

Quê ta đó ta không được ở. Nhà ta đó ta phải bỏ đi. Cha mẹ ta tủi buồn thương nhớ. Người yêu ta đau đớn lìa xa. Anh em ta âm thầm từ biệt . Bạn bè ta câm nín ngậm ngùi … “



Điệp khúc về đâu, về đâu cứ xoáy mạnh trong tim người nghe. Về đâu bây giờ, những người đã bỏ mình trong biển cả? Về đâu bây giờ những người lưu lạc bỏ lại quê hương? Không phải một mình anh Trần Đình Quân có câu hỏi ấy, lúc đó. Mà, bây giờ, cũng có nhiều người ngậm ngùi hát điệp khúc ấy trong hồi ức như tôi, lúc này. Sao tôi muốn gửi theo những người thuyền nhân trở về thăm lại Galang, Bidong một chút tâm tình chia sẻ. Hãy thắp giùm tôi một nén nhang nơi nghĩa trang của những người nằm lại. Hãy đi giùm tôi lên nhà thờ trên dốc cao hay bước những bậc thang gỗ lên chùa để cầu nguyện và đa tạ đất trời. Tôi muốn cám ơn đất nước Indonesia đã dung chứa và bảo bọc chúng tôi. Tôi vẫn luôn luôn nghĩ mình là một người may mắn dù trong bất cứ hoàn cảnh ngặt nghèo nào. Làm lại cuộc đời ở tuổi trên ba mươi dù chậm nhưng vẫn còn chưa trễ. Định cư xứ người, đi học, đi làm, tôi đã hiểu được cái giá mà khi mình vượt biển đã định. Cố gắng sao sống cho đúng con người, chu toàn bổn phận với chính bản thân mình, gia đình mình, đất nước mình. Có phải, đó là điều tôi thực hiện ? Xin ơn trên dìu dắt tôi đi trên con đường ấy !


Nguyễn Mạnh Trinh

Thông báo cáo lỗi - đoạt chùa Linh Sơn Tư (LST) tại Anh Quốc.

Kính gửi: Quý đồng hương Phật tử tỵ nạn Việt gian Cộng sản tại Vương quốc Anh và trên toàn thế giới.

V/v. Thích trí Như tục danh Lê văn Thành (Thành râu) xuất thân từ Canada , hiện tiếm đoạt chùa Linh Sơn Tư (LST) tại Anh Quốc.


Thưa quý vị,

Cuối tuần qua chúng tôi nhận được e-mail của Thích trí Như/Lê văn Thành ( TTN /LVT) gửi đến thông báo việc thay đổi e-mail với lời lẽ hết sức trân tráo, giảo quyệt nhằm bào chữa cho những hành vi sai lầm vừa qua của đương sự.

Như mọi người đều biết, chính Trí Như/Lê văn Thành, chứ không ai khác, đã dùng e-mail: vanle76@hotmail.co.uk nhờ Hoàng Lộc, Chủ Tịch Hội Ðồng Hương Hải Phòng (VGCS) phổ biến trên mạng mời chúng tôi đến bàn giao chùa Linh Sơn. Thư mời này được chúng tôi nhiệt tình hồi đáp ngay nhưng đã hơn một tháng trôi qua, vẫn không thấy trả lời những yêu cầu của chúng tôi, mà chỉ thấy đương sự gửi e-mail “thông báo việc thành lập Ban Trị Sự nhiệm kỳ 2011-2014 (đính kèm phía dưới) do chính đương sự làm Hội trưởng. Vì vậy, buộc lòng chúng tôi phải cho đăng tải vi thư (e-mail) ngày 16/03/2011, đưa ra nghi vấn về thành phần nhân sự của Ban Trị Sự mới và sự việc này đã khiến Trí Như hốt hoảng, đưa đến việc y ra ‘Thông Báo rằng e-mail đã bị tiếm dụng” (đính kèm phía dưới) để chạy tội. Thiết tưởng một người tu hành chân chánh không bao giờ lại có những hành vi xảo trá và lật lọng như thế.

Ngoài ra, cũng nên kể ra ở đây để qúy vị được biết là có hai e-mails mang tên và vi chỉ Binhminh Tran binhminh99.tran@yahoo.com, và Ly Cong cong.ly51@yahoo.com cũng được đưa lên mạng với lời lẽ dung tục của bọn du thủ, du thực, hàng tôm, hàng cá phỉ báng chúng tôi nhưng chúng tôi gạt qua một bên để hạ hồi phân giải.

Mục đích duy nhất của chúng tôi hiện nay là muốn biết TTN /LVT còn có ý định tiến hành hay việc bàn giao chùa cho chúng tôi như đã công bố trên mạng cho mọi ngươi đều biết hay không? Nếu y quả thật còn là người tu hành chân chính, thì hãy trả lời “CO”- “YES”, để chúng tôi chuẩn bị tiến hành việc thành lập Ban tiếp nhận, ngày giờ và địa điểm sẽ được thông báo sau. Nếu trả lời “K HON G”, tức là không còn ý định bàn giao chùa nữa, thì TTN /LVT nên đưa ra lý do sự từ chối này để mọi người được biết, hầu đánh giá đúng mức con người ngụy tu hành này. Nếu trường hợp thứ hai xảy ra thì những yêu cầu được chúng tôi nêu lên hai (2) emails phổ biến trên diễn đàn của chúng tôi trước đây, sẽ được chuyển sang Anh ngữ, gửi tới các thẩm quyền liên hệ để tùy nghi tiến hành việc điều tra hoạt động của chùa do TTN chủ trì từ trước đến nay.

Thật tình, những hành động sai trái giữa Trí Như với phật tử và phẩm hạnh tu hành kém cỏi của đương sự đã được truyền miệng đồn đãi và được nhiều người nghiêm khắc phê phán từ lâu rồi nhưng tất cả những lời phê phán này đều được chúng tôi gác bỏ ngoài tai. Chúng tôi nghĩ rằng thời gian sẽ là động lực tốt để giúp y hối cải, thay đổi tâm tính, trở thành người tu hành chân chính vì theo lời Phật dạy, dù một người hung dữ đến đâu, nếu chịu “buông dao đồ tể” cũng có thể thành phật được. Vì thế, trong nhiêu năm qua hàng ngũ phật tử chúng tôi vẫn nhẫn nhịn, chịu đựng hy vọng Trí Như ‘cải tà quy chính’ nên tìm mọi cách dành thơi gian cho đương sự chuyên chú vào việc tu hành, cầu chúc cho y sớm giác ngộ giáo lý căn bản của đạo Phật, từ bỏ bến mê trở về bến giác’. Nhưng than ôi! Người muốn không bằng trời muốn, nghiệp căn của y còn nặng, càng ngày y càng chìm sâu vào vòng tội lỗi, ngày càng sa đọa, tự tung, tự tác uổng công mong đợi của mọi người. Thử hỏi, một người tu hành mà tự đứng ra thành lập Ban quản trị, giành quyền Hội Trưởng Ban Trị Sự (BTS) chùa? tự phong là Ðại Ðức, Thượng Tọa, tiếm chùa Linh Sơn chớ không được ai bổ nhiệm cả, như vậy thì thử hỏi lòng tham, sân, si của TTN /LVT có còn nguyên vẹn hay không, làm sao y có căn tu để trở thành chính quả được !!!

Theo tin tức thời sự cho thấy cuộc Cách Mạng Hoa Lài đang nở rộ trên khắp thế giới, đã lật đổ các chế độ độc tài, thối nát, tham nhũng như: Tunisia, Ai Cập, Libya, Yemen, Bahrain, Algeria, Jordan, Iran, Albania, và mùi hương hoa Lài của những cuộc cách mạng đó đang lan tỏa đến Tây Tạng, Bắc Hàn cộng, Tàu cộng và cũng đang tiến đến Việt Nam trong thời gian tới đây. Ngày tàn của chế độ Việt gian cộng sản bán nước buôn dân đã điếm.

Rất mong, Trí Như/ Lê văn Thành và những tên Việt gian cộng sản bán nước, buôn dân hãy sờ lại gáy mình mà quay về với chính nghĩa quốc gia, trước khi quá muộn.


Trân trọng,


Ngô ngọc Hiếu



-------------

thông báo cáo lổi

Friday, 18 March, 2011 15:35

From: "Linh Son" linhsontu61@yahoo.com

To: ngochieu43@yahoo.co.uk

Thông báo:
Vì lý do email vanle76@hotmail.co.uk không được bảo mật. Nhiều phần tử biết mật mã tiếm dụng email và truyền tin thất thiệt làm ảnh hưởng danh dự chung cho cá nhân và Hội PGLS AQ Vì vậy chúng tôi tuyên bố thay thế email mới như trên tựa gởi đi. Kể từ nây quý Phật tử liên lạc với hội Linh Sơn và nhà Chùa xin vui lòng viết theo email mới. Có nhiều thời gian vì bệnh duyên chúng tôi không xử dụng computer nhưng vẫn nhận được mail với nội dung trả lời không đúng ý chúng tôi.
Thành thật cáo lỗi về những email đã làm phiền một số người ngoài ý muốn của chúng tôi.
Thích Trí Như
Thông báo cáo lỗi

Những tấm hình dưới đây, tự nó đã xác định quan điểm, lập trường, chủ trương và đường lối của mỗi cá nhân không thể chối cãi.


Tăng nhân Thích Trí Như/Lê văn Thành kêu gọi xây dựng đất nước CS (?)

Trần Quang Hoan, đại sứ Việt gian CS tại Vương quốc Anh và Ai Nhĩ Lan

Lê Văn Qúy, phó giám đốc sở ngoại vụ thành phố Hải Phòng, Việt Nam


Tăng nhân Thích Trí Như/Lê văn Thành chúc mừng đại hội


Đọc tiếp:

Việt Cộng đã chiếm được chùa Linh Sơn tại Londres

DẬY MÀ ĐI – ĐI ĐÂU ?

DẬY MÀ ĐI – ĐI ĐÂU ?



- “DẬY MÀ ĐI ĐÁNH PHÁ ……VNCH




- DẬY MÀ ĐI QUẬY NÁT….CỘNG ĐỒNG ”




( Xin đừng quên “ thưởng thức Vũ khúc Dậy Mà Đi trong “ Hội Thi Ca Khúc Cách Mạng ” ở cuối bài viết )



------------------



Quả thật không ngờ, vấn nạn tư tưởng đấu tranh do tôi khơi mào từ hai chương trình phát thanh tại San Jose , lại trở thành đề tài tranh luận của một số Cư Dân mạng trên khắp Thế giới.



Vì quá bất ngờ, tôi đã tạm thời viết nhanh một số ý kiến chuyển lên các DĐ, chỉ mong như một lời cảnh giác gióng lên, để mọi người kịp thời quên đi ngòi nổ chiến tranh đã một thời banh da xẻ thịt VNCH, nhưng không ngờ, vấn đề trở nên phức tạp cho một số tranh luận rộng khắp trên các DĐ, với những chống đỡ ngụy biện ngang bướng ấu trĩ, buộc lòng tôi lại phải tiếp tục làm sáng tỏ và bổ túc thêm, để THẬT SỰ CHẤM DỨT và loại bỏ hẳn ngòi nổ chiến tranh nầy, chứ không phải “ tắt đài” để không gây thêm chia rẽ, một lập trường chí phèo chống cộng, không thể giải quyết dứt điểm của mê lộ hùng ca, như có người đề nghị vớ vẩn ( ông Phùng Mai trong email cuả ông )




Để đơn giản hóa vấn đề, trong số nhiều ý kiến đóng góp, tôi xin chọn 3 ý kiến nổi bật, với một số chi tiết do ba nhân vật nầy dẫn chứng để biện minh cho cho lập trường “ tái chiếm” bài Dậy Mà Đi để phân tích thảo luận:




1-) Bs Nguyễn thị Thanh viết:


- “ Ai viết câu gì để hại chúng ta, làm khí giới gì hại chúng ta…chúng ta dùng lại những thứ đó để đánh trả lại thì tốt chứ, : GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG.” ( hết trích ). ( Lập trường nầy được Vũ huynh Trưởng - Tổng thư ký Ủy Ban Chống Cộng Bắc Cali đưa ra, và nick Viễn xứ san jose hồ hởi tung hứng hoan hô.)



- Người đặt ra bài dậy mà đi họ bị lầm CSBV. Nay họ còn sống thì họ cũng dùng để chuộc lại lỗi lầm của họ chứ. Họ chết rồi cũng cầu chúng ta dùng để họ khỏi hối hận nhiều.




- Nếu đi đánh giặc bắt được khí giới của địch thì bỏ đi sao. Dại thế. Dùng tài năng, khí giới của địch đánh địch mới ngon.


- Nếu là của địch tại sao chúng ta không coi đó là CHIẾN LỢI PHẨM dùng chống lại địch mới oai chứ.” ( hết trích ). / GS.TS.Bs Nguyễn thị Thanh MD.PhD.



2-) Ông Phùng Mai – Khối 8406 / Quỹ Tù Nhân Lương Tâm viết :




- “ Tiến Quân Ca hoặc Quốc ca VNCH, nhạc cuả Văn Cao ( Văn Cao tên thật là Nguyễn văn Cao, Cuối năm1944, Văn Cao gặp lại Vũ Quý, một Việt Minh mà ông đã quen biết trước đó……..)




- “ Riêng anh Lý Tống đề nghị sửa lại lời bài hát, tôi đóan biết dụng ý cuả anh, nhưng với tôi sửa lại là một hình thức đạo văn, có thể bài Tiến Quân Ca ( Phùng Mai có ghi source theo đường link để kiểm chứng – chú thích cuả người viết ) đã được phía VNCH sửa lời để dùng cho bài hát chào quốc kỳ VNCH vì trong thời điểm đó không ai đặt ra việc phải tôn trọng tác quyền……”




-…bài ca nầy họ thuộc lòng, nó đã đi vào ký ức, họ chẳng quan tâm ai là tác giả, như chính cá nhân tôi cũng đã muốn làm kẽ “ phản động” vì bài ca nầy phần nào đã thôi thúc.




- “ Bài hát” Dậy mà đi” hát trong thời điểm nầy thì chỉ những người chẻ sợi tóc làm tư mới nghĩ đến tác giả, đa số các thanh niên VN trong nước họ nghe thấy, tôi cho rằng họ sẽ sục sôi…còn người Việt tỵ nạn Cs như tôi, những thanh niên phải đi bán lao động thì rõ ràng sống xa nhà và chết xa nhà, nhớ nhà vô cùng…Chỉ ngoại trừ những hạng người mũ ni che tai” không biết, không nghe gì về thời sự quốc gia và thế giới, những người bàng quang như thế cho dù nhạc CS hay nhạc quốc gia thì cũng là đàn gẫy tai trâu. (đoạn nầy tôi tự tô đậm để nhấn mạnh cái cốt lõi ,hay nói đúng hơn chìa khóa tư tưởng của tác giả Phùng Mai giấu ở đây )




- Điều tôi muốn trình bầy Có nên “ tắt đài” bài ca Dậy Mà Đi ? là để ta ( người VNCH) không bị đuối lý đến trơ trẽ vô duyên khi hát/ nghe 2 bài “ Tiếng Gọi Công Dân và Hồn Tử Sĩ, vì hai tác giả của 2 bài nầy là một cộng sản nòi, đã sáng tác bài “ như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” tên gọi là Lãnh Tụ Ca. Việc yêu cầu “ tắt đài ” Ca khúc Dậy Mà Đi trong lúc nầy với lý do là nhạc VC là điều không ổn, thậm chí ngụy biện.”




3-) Phạm văn Thành ( bánh xe Thiên an Môn – Pháp quốc ) viết :




- Việc yêu cầu “tắt đài” Ca khúc Dậy mà đi trong lúc nầy, cá nhân tôi cảm thấy có nhiều điều bất an.


- Năm 1979, tôi bị bắt và giam nhốt kiểu lao động khổ sai….bỗng trong chòi quán có tiếng đàn guitar cất lên, và tiếng hát bài Dậy mà đi lan ra…trong quán cũng là tù nhưng là tù cải tạo, các anh có phần dễ thở hơn chúng tôi….

- Với tôi, quý vị có giận, có ghét, tôi vẫn thấy bài ca Dậy Mà Đi có một sức bật vô cùng lớn. Nó có khả năng nhổ bật lên được những chiếc ghế đã ù lỳ chán ngán thời cuộc…….Hãy giúp bài ca ấy thể hiện nốt phần thứ hai của khát vọng giải phóng 1946, khi nó mới được viết thành lời : Độc lập và Tự do.”



* * *


Vì phạm vi của bài tiểu luận ngắn, không cho phép tôi trích ra hết mọi ý kiến hoặc toàn bài của ô.Phùng Mai ( cho dẫu ông PM với lối viết ngạo mạn của ngựa non háu đá, bào chữa loanh quanh, biện minh ngớ ngẩn cho lỗi lầm nghiêm trọng của ông, bài Tiến Quân Ca là quốc ca VNCH ), và cũng xin không lạm bàn về hai chi tiết đầu tiên của ô. Phùng Mai vì xét ra, ông vòng vo chạy tội Mù kiến thức, Mù lý luận, lại Mù về Tư tưởng đấu tranh của ông, vì thế tranh luận chỉ …mất lời mà thôi.



Trong bài viết nầy, mặc dầu tôi có đề cập đến tên tác giả, “ công trình quậy phá VNCH - quậy nát cộng đồng ”, tuy nhiên, mục đích chính vẫn là nội dung chuyên chở bên trong màn khói chữ nghĩa, và lộ trình tư tưởng ấy dẫn tới hậu quả nghiêm trọng trước mắt .




LỬA THỦ ĐOẠN VÀO SÀI GÒN THIÊU ĐỐT ÓC ẤU TRĨ :




Đây là lần thứ hai ( lần nhất vào năm 2008, Trại Hè Thanh niên Việt do Mạng Lưới Tuổi Tuổi trẻ Lên đường – ngoại vi của Việt Tân tổ chức, họ cũng hát bài ca nầy một cách phấn chấn hân hoan ) tôi lên tiếng về bài ca DẬY MÀ Đi do văn công CS và đội Tuyên Truyền của Thành Đoàn TP/HCM trực tiếp Chỉ thị. Chúng khoanh vùng từ Cầu Kho Q.8, qua Khu vực Hàng Xanh Thị Nghè, bến xe miền Đông / Thủ Đức Biên Hòa, Phường Bình Thạnh/ Gia Định……vòng qua Khu Vườn Chuối, Bàn Cờ ( vùng hoạt động của giao liên CS) để vừa tập hợp quần chúng vào quỹ đạo đấu tranh, cũng vừa qua tay quần chúng, che chắn cho các mạng lưới giao liên, hoạt động nội thành và tình báo CS ẩn trốn như an toàn khu giữa lòng “ địch”.




Tôn thất Lập - tác giả bài Dậy Mà Đi và Trần long Ẩn viết ca khúc Người mẹ Bàn Cờ là hai nhạc sĩ nổi cộm trong số những Ca Nhạc Sĩ tham gia trong Phong Trào Hát cho đồng bào Tôi nghe và nghe đồng bào tôi cùng hát – viết gọn lại là Hát cho đồng bào tôi nghe, một phong trào quần chúng theo Chỉ Thị của MT/GPMN đấu tranh bằng ca nhạc, nhằm thổi bùng ngọn lửa đấu tranh “ chống Mỹ cứu nước” và Thống nhất VN vào tay CS. Thoát thai từ Đoàn Văn Nghệ Sinh viên- Học Sinh Sài gòn được thành lập từ ngày 15-5-1965 mang màu sắc thuần túy văn nghệ ( dĩ nhiên chúng che chắn rất kỹ để chưa lộ diện phản chiến ) nhưng sau đó, đôi mắt cú vọ của MT/GPMN nhắm tới khuyến khích và cổ động, bài hát Hát cho Dân tôi nghe của Trần long Ẩn được Thành đoàn CS/HCM nghiên cứu và đánh giá chiến lược và móc nối thành lập Phong trào quần chúng, đổi thành Phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe.


Ngày 27-12-1969, tại Trường Đại học Nông Lâm Súc Sài Gòn – xế bên kia đường là Trường Trung học Quốc Gia Nghĩa Tử - Lăng Cha Cả. Phong Trào nầy tổ chức đêm “ văn nghệ hòa bình ” trong dịp Giáng Sinh để che mắt Chính Quyền, thực chất là công khai ra mắt Phong Trào Hát Cho Đồng Bào Tôi Nghe.



Một đêm văn nghệ che mắt Chính quyền, nhưng lại là đêm kinh hoàng cho đám văn công Cs, toàn bộ Ban Chấp Hành và đoàn viên bị theo dõi bởi cuộc hành quân bất ngờ của Nha Cảnh Sát Đô Thành bao vây, bắt trọn với gần 180 tên, kể cả Tôn thất lập và Trần long Ẩn. Phong trào như một cục bướu độc bị dao kéo đụng tới, lan tràn theo vết dầu loang, ra Huế, Đà nẵng, Qui Nhơn, xuống Cần Thơ, An Giang, lên tới Đà lạt, là những nơi có trường Đại học, môi trường của Sinh viên phản chiến dễ dàng hoạt độngg. Số quần chúng cưu mang bảo bọc chúng lúc đó để đánh phá VNCH, thì sau năm 1975, họ đã rõ mặt và lên tiếng óan trách nặng nề, nhưng…..




Thực chất của bài Dậy Mà Đi như một số người dẫn chứng từ thơ Tố Hữu, để cho rằng, nó xuất xứ từ bài thơ của Cộng sản gộc, nên chi cần phải tẩy chay….thật ra không đúng lắm, vì bài thơ Dậy Mà Đi của Tố Hữu được sáng tác từ năm 1941 mang một âm hưởng của lời khích lệ từ câu đầu đến câu cuối thứ 17, nói lên một động lực ý chí, một quyết tâm của vươn lên tới trước, cuả khẳng định chiến thắng gian nguy, của bài học dại-khôn trên trường đời gập ghềnh bão tố, tuyệt nhiên không mang âm hưởng chính tri hay trong mặt trận đấu tranh cường lực nào cả.




Lấy cảm hứng từ bài thơ nầy, Tôn thất Lập viết thành điệp khúc cho bài ca, đáp ứng với chiến thuật nổi dậy của CS trong lòng Quần chúng, như Hội Liên hiệp Thanh Niên giải Phóng, Thành Đoàn CS/HCM…. nhưng phần phiên khúc thì TTL đã tách rời bài thơ trên, để cưu mang một ngòi nổ chậm đã được nhiều người biết đến : Phong Trào Đồng Khởi do Nguyễn thị Định - đảng viên Cs từ 1945- phát động tại Huyện Mỏ cày tỉnh Bến Tre ngày 17-1-1960 để đánh cướp các cơ sở Chính Quyền của VNCH tạo thành vòng đai phá hoại, áp đảo Chính Quyền của TT Diệm ( xác Cs miền Nam chết phơi trên ruộng, xác Chính Ủy Cs miền Bắc thì…Sinh Bắc tử Nam…), và từ ấn tượng đường mòn Hồ chí Minh mà “ bác cùng chúng cháu hành quân” từ “ Trường sơn đông đến Trường sơn tây”, bộ đội dép râu cũng đã “dậy mà đi” như thế, và cũng đã chết như thế .




Nhưng khi Dậy Mà Đi trong lòng Sài gòn, thì DMĐ lại trở thành một gọng kềm “ lấy thành thị bao vây nông thôn”, đẩy Chính quyền Trung ương vào thế trận bỏ rơi Nông thôn, từ đó Trung ương tắt thở, và thống nhất là đoạn cuối của con đường cướp nước ( đây là sách lược của Trần bạch Đằng huy động SV-HS cướp chính quyền, nhưng trái với chủ trương của Trung ương đảng Cs, đúng ra là của Lê Duẫn, và TBĐ bị triệu về Bắc giam lỏng sau khi đấu đá kịch liệt với phe nhóm của Lê Duẫn, và đây là lý do TBĐ bị hạ tầng công tác, bị bỏ rơi cho đến chết ) .




Xuống đường, Bãi khóa, Đêm không ngủ, Đốt lửa căm thù….là những hoạt động của Biệt động Thành CS dưới lớp vỏ Sinh viên- Học Sinh trong Sinh hoạt Văn nghệ phản chiến, nhưng nhập nhằng cho là Du ca ( đừng lầm lẫn Du Ca Quốc Gia của Nguyễn đức Quang với bài Việt Nam Quê hương ngạo nghễ), bài Dậy Mà Đi trở thành mồi lửa nung đốt lòng thù hận, là tiếng trống dục giã đi cướp Chính quyền, phá rối hậu phương tạo tiền đề cho Tổng nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, và phá rối Bầu Cử năm 1970…..




Lướt qua đôi nét về bài Dậy Mà Đi, tôi không chú tâm nặng về tác giả sinh ra nó, mặc dầu quan hệ “ mẹ - con” là quan hệ máu – thịt giữa xúc động nhạc tính và ước mơ ca khúc, nhưng nội dung lời ca, tư tưởng diễn đạt và đối tượng hướng tới là ba phạm trù triết học và đấu tranh chính trị cần khám phá, để lôi ra ánh sáng mầm độc ẩn số mà với nỗi đam mê ca hát, phấn khích rung động trước nhịp điệu hào hùng, không thế đủ bình tĩnh phân tích và lượng giá.




Phạm văn Thành mới chỉ nghe qua bài hát DMĐ từ trong chòi quán vọng ra, đã…lặng người rơi vào khoảng không im lặng…Nhưng với tôi, cũng vào năm 1979, tại nhà 7 –K1/ Z30D –Hàm Tân, Thuận Hải, đã phải ký không biết bao giấy kỷ luật chỉ vì hát những bài “ cách mạng ” để thăm dò nội tuyến, ăng ten trong Nhà và trong Đội, bài Dậy Mà Đi tôi hát rất….tự nhiên, bài Bão nổi lên rồi , Xuống Đường, Tự nguyện Ca…đặc biệt tôi đã hát bằng lời ca khác với bài Bão nổi lên rồi, cũng vẫn bị kết tội như thường, tiện đây xin chép lại để chúng ta cùng suy gẫm về Lý luận Chính Trị của CS và bẫy sập tư tưởng của chúng mà…cảnh giác tránh xa ( các bài hát nầy do Chính ủy Cs dạy cho tù binh Chiến tranh chúng tôi tại mặt trận Ban Mê Thuật giũa tháng 3/1975 ):




“ Nắng đã lên rồi, người tình ơi ta bay muôn phương, trời bao la ta vui hoan ca, ca khúc yêu đời tràn đầy tình người, vì sinh linh trong ta luôn mong được trở về nguồn một ngày thật gần, và đến khi đạt tới thanh tịnh rồi…….”




Trong khi đó, bài ca Bão nổi lên rồi của Cs thì sắt máu kinh hoàng :


“ Bão nổi lên rồi từ miền Nam quê hương thân yêu, từ Trị Thiên băng qua Tây nguyên lan tới bưng điền triệu người bừng bừng, cùng Đà nẵng với Huế chiến thắng khí thế sôi sục tràn về Sài gòn, giờ tiến công sục sôi tim muôn người…../ toàn bộ phần còn lại của bài ca chứa đựng mồi lửa căm thù và quyết tâm vùng lên cướp chính quyền/



Và đây là lý luận của tên cán bộ giáo dục Trại : “ Hát bài nầy, nhưng tâm trí liên tưởng tới bài kia, dùng bài kia làm phương tiện chuyên chở óc nổi loạn trong nhà tù…Dậy mà Đi, đi đâu ? Xuống đường làm gì ?.....” và năm 1981, cả ba K của trại Z30D nổi loạn thật, cùng đứng nghiêm trang chào Cờ vàng trong tim óc, hát lại Quốc ca VNCH đang sục sôi trong huyết quản và các bài ca Chính Huấn thân quen. Biến cố vùng lên đó đã làm tê liệt sinh hoạt Trại một tuần lễ. Tóm lại, khi bài ca mất tính chính trị thuyết phục cho mục đích của CS, nó trở thành đối nghịch với bước chân đi tới của chúng, thì cần triệt tiêu nó không thương tiếc.




Trong một email khác, ông Phùng Mai viết : “ tại sao ta không chấp nhận nó là bài ca tranh đấu cho tự do ? dù là lời ca của CS nhưng nó có khả năng kích động khí thế tranh đấu cho tự do thì nó vẫn là bài hát đáng trân trọng, hát để tranh đấu cho tự do, không có hai thứ tự do khác nhau….” . Xem ra ông Phùng Mai chỉ quan tâm tới nhịp điệu hào hùng, và lời ca mời gọi thúc bách của điệp khúc mà thôi, trong khi trong Chương Trình phát thanh của Lương Tâm công Giáo và của Khối 8406 tại San Jose thì phát trọn bài do “ tốp ca của CS hát với giọng ca opera cao vút của ca nhi nữ CS ”.




Nếu thực sự là người kiểm thính viên “ đếm nốt nhạc” thì ông Phùng Mai và người phụ trách hai chương trình phát thanh kia tha hồ thưởng thức điệu nhạc hùng tráng ( nhưng chắc chắn thua xa bài Bão nổi lên rồi viết theo điệu nhạc diễn hành/ nhạc hành khúc ( March ), rất có “ khí thế ”.)




Nhưng nếu là nhà Đấu Tranh Chính Trị, đối đầu với sách lược Cộng Đồng Vận của CS, thì quý vị phải “ đếm chuyển động của tư tưởng trôi theo dòng nhạc ” theo khái niệm “ biến điệu biên độ AM hay biến điệu tần số FM trong sóng Radio ”, và vì thế lời ca “ Bao nhiêu năm qua dân ta sống không nhà – Bao nhiêu năm qua dân ta chết xa nhà ” không thể có khả năng kích động khí thế tranh đấu cho tự do như Phùng Mai nằm mơ trong ảo giác, trái lại, đó là lời tố cáo VNCH, một chính quyền sắt máu kềm kẹp người dân, đến nỗi “ sinh vô gia cư – tử vô địa táng ” trở thành ác mộng của miền Nam, của Chính quyền VNCH dành cho Dân của miền Nam . Lời ca nầy cũng đã được một số nhỏ nhoi Sinh Viên ngoại quốc phản chiến nhập cuộc đem về nước của họ, và phong trào phản chiến chống phá VNCH và đồng minh gia tăng, khi Chính nghĩa NHÂN BẢN của VNCH đã bị bọn Sinh viên Học sinh CS bôi nhọ, bẻ cong và mang về cho CS.




Hãy thử đặt một số các bài hát phản chiến vào trong một tổng thể văn hóa đấu tranh để phân tích, lượng giá khả năng đốt cháy nhiệt huyết đấu tranh của người lính VNCH chúng tôi ra sao :




“ Người con gái Việt nam da vàng, mang giấc mơ quê hương lìa kiếp sống,


Người con gái Việt nam da vàng, yêu quê hương nay đã không còn…

Em chưa hát ca dao một lần, Em chỉ có con tim căm hờn” ( Ca khúc Da vàng TCS )



Hoặc “ Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh, chị vỗ tay hoan hô hòa bình


Người vỗ tay cho thêm thù hận, người vỗ tay xa dần ăn năn ( Hát trên những xác người /TCS )

Và còn hằng trăm Ca khúc “ đứt ruột bầm gan” khác, khi có dịp tôi sẽ cống hiến cho Quý vị cơ hội suy gẫm.



Chỉ với cây Giutar thùng trong tay, đám phản chiến nầy rong ruỗi khắp nơi, nhưng cũng đã đủ tạo nên bão lửa, một chấn động tâm lý quần chúng khổ cực nghèo hèn từ đám Sinh viên trí thức, từ Dân biểu quan quyền, đến Tu sĩ Báo chí xuống đường bị gậy ăn mày…..quậy phá hậu phương, thì nơi tiền tuyến trực diện với hiểm nguy từng giây phút, lòng dạ có cứng như sắt đá cũng phải bủn rủn dần…vì hậu phương đã rút hết nhựa sống, đã đánh thốc vào ân nhân mình, đã xả thân cho bọn chúng tự do….phản chiến.




Một hậu phương ao ước quê hương lìa đời, một hậu phương chưa một lần biết đến Ca dao dân tộc đầy ắp tình người, chị ngã em nâng, bầu bí quấn quít chung giàn, cau trầu trọn nghĩa nhân duyên…nhưng em gái lại có trái tim căm hờn. Quả thật Trịnh công Sơn đã gởi một tín hiệu thôn tính miền Nam của CS, nhưng Lưu kim Cương , Nguyễn cao Kỳ vẫn rung đùi nghe nhạc Trịnh, nuôi TCS trong căn cứ TSN, tránh bị Cảnh sát truy lùng…




Nay ở Hải ngoại, với phương tiện truyền thông tối tân và có quá nhiều cơ hội, đám giặc cỏ mon men rải độc chất tư tưởng lên những đầu óc ngây ngô, thơ dại, hoặc đám buôn thần bán thánh, mài gươm đúc giáo chống cộng cuội, rủa sả cộng sản, gào rú chưởi bới CS, nhục mạ bội ơn người lính chiến Cộng Hòa, sẽ tự nhận luôn vai trò phản diện để ngợi ca lưỡi hái tử thần như một diệu kế, nào là“ GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG ”, “ CHIẾN LỢI PHẨM ”….” ta thu được của địch thì bỏ đi sao. Dại thế…..”


Đấu tranh chống lại CS, một kẻ thù có sức mạnh về nhiều phương diện, nhưng lại tỏ ra ngây thơ chính trị, nông cạn về lý luận chính trị và cạm bẫy của toàn đảng CS, thì chính Họ trở thành phương tiện chuyên chở vũ khí cho CS ra hải ngoại quậy phá Cộng đồng Việt tại đây, mà Họ không ngờ tới.



“ GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG ” mà Vũ huynh Trưởng, Tổng Thư Ký của Ủy Ban Chống Cộng Bắc Cali đưa ra và được nick Viễn xứ San jose lên tiếng ủng hộ, là một nhát dao đâm thẳng vào tim óc người Chiến sĩ VNCH, sau khi hai Chương Trình phát thanh truyền đi trên làn sóng điện mũi dao oan nghiệt nầy, dẫu sao thì sau đó, cô L.Hương thuộc Khối 8406 đã lên tiếng xin lỗi trên DĐ, nhưng tuyệt nhiên Lương Tâm Công Giáo vẫn giũ vững lập trường đâm sau lưng Chiến sĩ của họ, im lặng và im lặng.




Đây không phải lần đầu xảy ra vấn nạn nầy ở San Jose, mà trong một lần trước, vào tháng Tư 2010, nick Viễn xứ San Jose sau khi phân bua về bài hát DMĐ, y thị khen hay nhưng lại ném bùn vào mặt ông Phạm bằng Tường là người đã chép ra toàn bộ bài ca đó trên DĐ rằng : “ hơn 40 năm mà ông còn thuộc và nhớ rõ từng chi tiết…thì đích thị ông Tường là người cùng nhóm với Tôn thất Lập rồi đúng không ? Lạy ông tôi ở bụi nầy” ( nói một cách đơn giản, chúng cũng sẽ vu khống tôi là cùng nhóm với Tôn thất Lập, là CS….vì lý do tôi còn hát các bài ấy nữa ).


Tiếp máu vào cơ thể, tiêm thuốc vào da thịt, đưa thức ăn vào người, lâu dần cũng mất sạch vì phải tiêu hóa, chuyển hóa để nuôi cơ thể; độc chất tư tưởng đã nhiễm sâu vào trong óc não, đã thành chất liệu đấu tranh, thì sức tàn phá của nó sẽ gia tăng theo cấp số và thời gian, không tẩy rửa được. Thứ lập luận một chiều và khẳng định theo cảm tính thù hận đó của hai nhân vật biểu tượng nầy, cho thấy một nguy cơ đánh phá Cộng đồng Việt thật dai dẳng và tàn bạo khôn lường, đặc biệt là nick Viễn xứ San jose .



Lấy lưỡi lê CS để đâm người quốc gia, đâm người chống cộng mà gọi là gậy ông đập lưng ông, thì còn gì ác độc hơn, còn gì ngụy biện hơn, tráo trở phản trắc hơn ( khai thác quan hệ gia đình như một công cụ đễ triệt hạ đối phương theo phương thức CỦI ĐẬU NẤU ĐẬU– đối với tôi không quan trọng lắm – nhưng đâm sau lưng chiến sĩ bảo quốc an dân là một trọng tội ) . Tư tưởng phản chiến, lời ca phản chiến, và biến cố phản chiến trong con người phản chiến, xảy ra trong thời gian và không gian phản chiến, lịch sử của nó đã mô tả đúng chức phận bẻ gãy VNCH của chúng. Tán trợ chiến dịch phản chiến, tiếp tay chuyên chở và phổ biến tư tưởng phản chiến hiện nay tại hải ngoại, tại San Jose, nhóm “ thường dân trốn lính” nầy nhận nhiệm vụ từ chỉ thị của ai để khơi lại ký ức đau thương của VNCH, của Quân Dân Cán Chính VNCH ?




* * *


Hy vọng đây là lần cuối cùng, xin những ai còn tâm huyết với VNCH, còn một chút tri ơn Các Chiến sĩ đã vùi thây nơi chiến địa để mình được tự do lên đường tìm đất sống mới….



Xin hãy chia xẻ những nỗi điêu linh của đất nước với chúng tôi, những chiến sĩ gối đầu trên ba-lô, ghì chặt tay súng như ôm chặt người tình muôn thưở, hành quân không mệt mỏi trên vùng Cao nguyên nước độc, hay sình lầy Đồng Tháp… để bảo vệ an toàn lãnh thổ, ổn định hậu phương, để rồi…hậu phương xuống đường cùng bọn Thanh Niên Sinh viên Cs phá hoại VNCH đến …tắt thở.


Xin hãy dành một phút ngậm ngùi, và đừng tìm cách khơi lại nỗi đau của người lính chiến VNCH chúng tôi nữa: LÍNH với DÂN như cá với nước . Tại sao Quý vị đấu tranh chống Cộng sản lại ung dung phổ biến tư tưởng nhục mạ VNCH qua phiên khúc :



Bao nhiêu năm qua DÂN ta sống không nhà


Bao nhiêu năm qua DÂN ta chết xa nhà.



Đội tuyên truyền Cs qua Tôn thất Lập lấy cảm hứng từ cuộc chiến đi B của VC ( đi B tức vào miền Nam ) viết thành phiên khúc đánh tráo cuộc chiến tai ương lên đầu VNCH :


- Vượt trường sơn thì nhà ở đâu ? Chân đi dép lốp xe hơi, ngủ bụi bờ, đầm mình trên khe suối tránh đụng độ với Hành Quân Truy lùng của QĐ/VNCH.

- Sinh Bắc tử Nam , thì chết gần nhà ở đâu ?



Còn điệp khúc chỉ là lời kêu gọi động viên, khuyến khích, lấy từ Thơ của Tố Hữu làm từ năm 1941…


Trong nhận thức non kém về Ý THỨC CHÍNH TRỊ và kinh nghiệm về ĐẤU TRƯỜNG CHÍNH TRỊ, hậu quả sẽ vô cùng tại hại như mọi người đã rõ : Nhiệt Tình + Ngu Dốt = Phá Hoại.



Xét về nguyên nhân, Cô L.Hương phụ trách CT/PH của Khối 8406-San Jose đã tỏ ra có sự hối hận, chỉ vì chưa một lần biết đến bài ca nầy, mà vì cảm thấy thích thú về điệu nhạc hùng hồn phấn khích…Cô L. Hương đã email lại cho tôi tỏ rõ sự hối tiếc, và quyết định loại bỏ bài nầy ra khỏi danh sách nhạc của Khối. Nhưng theo tôi, có lẽ Cô ấy nghe LTCG phát bài nầy trong một tuần trước đó ( 27/2/2011 ), nên Cô nầy bị cuốn hút theo trào lưu chăng .




Trong khi LTCG cho phát bài nầy công khai trên làn sóng phát thanh, thì trên các DĐ, tên net vận Giang Qua của LĐCT lại chế diễu và bôi nhọ tấn công tôi bằng thứ ngôn ngữ hạ cấp vô giáo dục rằng “ NĐTchuyên rình mò để bêu xấu LTCG ….” Đừng quên rằng Chương trình PT/LTCG được phụ trách bởi những người có học, ngoại trừ Lê văn Ý, nhưng trong những lần tranh cãi trước đây qua các email của đám phá hoại óc bã đậu, tên trốn lính to họng, tên đào binh nhục mạ phản bội ân nhân ( CTT,LVY,PHS, VHT,ĐTS…), với ông Phạm bằng Tường, chúng vẫn một mực tỏ ra thích thú bài ca nầy, cũng đồng nghĩa với việc chúng sẽ cho phát bài nầy khi có cơ hội, chúng lại cũng lập luận rằng : “ thuộc nhiều bài hát CS thì đủ biết họ là ai ”.




Vậy nếu biết nhiều về lai lịch tên bán nước Hồ c Minh, tức thì là Cộng sản sao ?




Tên học sinh Cao Thắng Lê văn Nuôi phụ trách công tác Đoàn, đi tịch thu các tờ Báo nằm trong danh sách đen của chúng tại một số Quận trong Thành Phố Sài gòn-Gia Định, tưởng chỉ là nỗi ám ảnh bất mãn của người DÂN trong quá khứ mà thôi, ai ngờ tại San Jose, lão già Nguyễn Quân khi ủng hộ lập trường chống phá BĐDCĐ Bắc California của LĐCT, lại cũng đề ra phương thức vừa bất nhân với lương tâm con người, vừa lưu manh với ý thức Dân Chủ tại Hoa Kỳ mà ông hấp thụ trong hơn 30 năm tại San Jose. Phát động lần thứ hai tịch thu báo Tiếng Dân trên Vietland, cổ xúy mọi người tham gia chiến dịch bất lương nầy, Nguyễn Quân hiểu gì về NHÂN QUYỀN, về đạo đức con người trong xã hội vừa trọng pháp vừa trọng nhân nghĩa Hoa kỳ ? ……..




Tóm lại , vây quanh bọn GƯƠM GIAÓ và LỪA ĐẢO CỬ TRI là những thành phần “ túng làm liều, óc bá đạo, lương tâm rắn độc”, chực chờ người DÂN lơ là thiếu chú tâm là quậy phá, ném đá vào nhà rồi tri hô cùng hàng xóm chúng bị …khủng bố, đây cũng là chiêu thức CS đã ném truyền đơn chống phá nhà nước vào Tu viện Đồng Công – Thủ Đức, Trung Tâm Đắc Lộ - Yên Đỗ, Dòng Chúa Cứu Thế - Kỳ Đồng…rồi đến khám xét truy tố nạn nhân ( như VC phóng lửa đốt nhà năm 1960 tại các Quận trong thành phố Sài gòn – Gia Định rồi loan tin TT Diệm cho người đốt nhà Dân để giải tỏa đô thị…) rêu rao xuyên tạc để đánh phá, tung tin thất thiệt để ăn chia cả hai bên ( đòn xóc hai đầu ), đi đêm với Việt gian để…sống còn ( Đỗ vẫn Trọn đã công khai loan báo trên làn sóng phát thanh 1500AM – San Jose ngày 1-11- 2010 rằng Thiếu Tá Võ Đại của Tập Thể Chiến Sĩ vùng Tây Bắc Hoa Kỳ đã cậy nhờ Đỗ vẫn Trọn giúp lật đổ ông Chủ Tịch Cộng đồng Nguyễn ngọc Tiên ), y như CS len lỏi vào đoàn biểu tình, ném lựu đạn vào Cảnh Sát chống biểu tình, vậy là trận chiến đá xanh và dùi cui bắt đầu.




Và khi tôi viết những dòng cuối cùng nầy, thì tại San Jose, trận chiến mới đã ló dạng, mang tính hung bạo hơn, quyết liệt hơn, và tín hiệu ấy sau khi tung lên mạng LƯỚI, phát trên làn sóng, đã được chính bọn chúng vươn óc ra thách đố công khai trong buổi họp vừa qua tại Khu Hội CTNCT, DẬY MÀ ĐI để quậy nát và dứt điểm Cộng Đồng như CS đã đánh phá VNCH trước đây.




Lời báo động nầy, tôi xin trao gởi đến tất cả đồng hương Việt tỵ nạn CS tại San Jose , như một trách nhiệm tinh thần tôi phải hoàn tất. Quý vị hãy sáng suốt để không phải bị lôi cuốn vào mê lộ thánh thần gươm giáo, chống cộng kiếm cơm, hay tuyệt thực kiếm…vàng lá.




Nguyễn đăng Trình




Xin mời xem Vũ khúc Dậy Mà Đi để chấm dứt mũi tên độc “DẬY MÀ ĐI” đang từ từ lụi vào óc não người chống Cộng.




http://www.youtube.com/watch?v=dWv8GXSuqRo

Bài Xem Nhiều