We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 1 April 2011

Nước tương

Phải mất nhiều ngày trong vai anh xe ôm khiêm bốc vác dễ thương, phóng viên báo Giao dịch mới thâm nhập được vào điểm tập kết nóng nguyên liệu chế biến nước tương. Đó là bãi xương trâu bò thối mà phải khó khăn lắm mới không ói tại chỗ.


Điểm tập kết xương thối phát ói

Trong vai một người chạy xe ôm, tôi chở một chị phụ nữ tuổi trạc 40 đi mua xương về nấu phở. Thấy tôi dễ mến, chị thường trò chuyện trên đường và những lúc ngừng nghỉ. Qua một bãi rác trống trải, chị chỉ tay bảo: "Ngày trước, đây là điểm thu mua và chế biến xương súc vật. Đông vui lắm. Nay không còn nữa, vì xương trâu bò rất hiếm, phải tập kết từ nhiều nơi như Bình Thuận, Long An, Đồng Nai mới có đủ xương cho các lò chế biến nước tương. Ít hàng, các đầu nậu tập trung hết về một vài điểm thôi. Xương thối thì để cho các lò nấu nước tương, xương tươi thì đầu nậu a lô cho các tiệm phở đến điểm tập kết nhận hàng".

Điểm tập kết nằm trên một con đường vắng được che chắn bởi một góc tường rào cao. Tôi suýt nôn ọe vì mùi hôi thối khủng khiếp. Xương chất thành từng đống, ruồi nhặng bâu đầy như rắc đậu đen. Có năm ba lao động đều còn trẻ đang lom khom phân loại xương. Một phụ nữ dáng vẻ đầu nậu đứng chỉ tay cho các xe hàng loại 1,5 tấn đổ xương vào nơi quy định. Đây là chuyến "hàng tươi" nên chị ta liên tục gọi di động cho các bạn hàng nấu phở đến nhận xương mới.

Trong khu tập kết, xương súc vật chất thành đống dưới đất, sát bờ tường. Có đủ loại xương đầu trâu, đầu bò cũ. Có mới có cũ được phân loại đâu ra đấy. Lại có đống xương hình thù kỳ dị, đoán mãi không ra xương động vật gì. Ruồi nhặng bay trên các đống xương này một đám mây đen. Tôi vừa há miệng toan ngáp đã bị mấy chú chui tọt vào miệng. Ghê hết chỗ nói.



Công nghệ chế biến "gia truyền"

Ngay bên khu tập kết là một lò nấu nước tương. Đó là một hệ thống lò nấu bằng củi gồm các lồng đựng và các khung khổng lồ rỉ sét đựng xương. Qui trình chế biến xương xem ra khá đơn giản. Xương được đưa vào rọ lưới rồi cho vào lò hấp. Công đoạn tiếp theo là đem xương ngâm vào axít pha loãng cho rã ra. Sau đó cho nước vôi tôi vào “trung hòa”. Công đoạn thứ 3 là xương được mang ra phơi cho ráo nước rồi đưa vào cối gắn moteur để nghiền nhuyễn. Công đoạn thứ tư là thêm đậu nành hoặc bánh dầu kèm các loại hóa chất tẩy rửa để khử mùi, khử mỡ. Công đoạn cuối cùng là bổ xung hoá chất tạo màu, tạo hương để cho ra loại nước chấm màu đen đậm đặc được gọi là “tinh chất đạm”.

"Nói là công nghệ chế biến "gia truyền", nhưng thực ra công nghệ sản xuất nước tương ngày xưa khác bay giờ nhiều lắm. - Anh M., một kỹ thuật viên ở lò cho biểt. - Sản xuất nước tương ngày xưa thường có 2 công đoạn. Công đoạn một là ủ đậu nành lên men tự nhiên (thuỷ phân). Nhưng làm thế thì rất mất thời gian. Chạy theo lợi nhuận, sản xuất đại trà, các cơ sở sản xuất đã làm nhanh quá trình lên men tự nhiên bằng cách "lên men nhân tạo", tức là sử dụng axít thuỷ phân nguyên liệu trực tiếp. Nguyên liệu chính là các loại bánh dầu và đậu nành loại 2, loại 3. Thế nhưng, trong sản xuất theo phương cách này, dư lượng 3-MCPD (tiền chất gây ung thư) còn lại trong sản phẩm rất cao, nên từ rất lâu đã không cho phép sử dụng.



Sản phẩm có thể gây ung thư

Trao đổi với GS-TS Chu Phạm Ngọc Sơn, được biết, cholesterol có nhiều trong xương heo, xương bò, nếu không xử lý tốt sẽ tạo thành các phức chất có hại cho sức khỏe người tiêu dùng.

Trong tinh chất đạm (nước cốt của nước tương) có các chất độc thuộc họ cloropropanol, chủ yếu là 3-cloro - 1,2 - propandiol (3-MCPD) và 1,3-dicloro-2-propanol (1,3- DCP). Đây là những hóa chất có thể gây ung thư cho người tiêu dùng. Chất béo trong xương hoặc khô dầu đậu tác dụng với HCl sẽ sinh ra chất 3-MCPD. Chính vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã quy định rất chặt chẽ hàm lượng của chất 3-MCPD trong nước tương. Chẳng hạn, ở Châu Âu, Úc, New Zealand, hàm lượng 3-MCPD cho phép không được vuợt quá 20 mg/kg.

Cách đây 3 năm bộ và sở Y tế TP.HCM đã triển khai các quy định về hàm lượng 3-MCPD, theo đó yêu cầu các cơ sở sản xuất phải công bố hàm lượng 3-MCPD trong sản phẩm như nước tương, xì dầu, dầu hào trên nhãn mác sản phẩm.

Một vấn đề khác là loại hóa chất bảo quản dùng trong nước tương là natri benzoat (chất bảo quản dùng trong một số loại cháo dinh dưỡng đã từng bị dư luận công phẫn lên án cách đây không lâu). Nhiều nước trên thế giới cấm sử dụng hoá chất này do ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng (hại gan, thận và hệ thần kinh). Theo quy định, hàm lượng chất bảo quản natri benzoat trong thực phẩm không được vượt quá 1mg/kg. Thực tế, khi kiểm tra sản phẩm của các cơ sở sử dụng chất natri benzoat hầu hết đều vượt quá nhiều lần mức cho phép.

Muối tôm cũng được làm từ… xương thối

Trên đường về, chị phụ nữ đi lấy xương tươi về nấu phở cho biết: “Bây giờ tìm nguồn xương tươi để nấu phở cho ngọt nước để giữ khách hàng là rất khó, phải canh mới lấy được hàng tươi, vì hàng ở các tỉnh chở về phần lớn là hàng thối, chỉ để nấu nước tương được thôi".

Chị cho biết, xương súc vật không chỉ để nấu nước tương. Xương vụn được nghiền nát thành bột, trộn thêm bột ngọt cho ra một sản phẩm mới là “muối ngọt”, thêm chất tạo màu vào thì thành "muối tôm". Loại thứ 2 là các loại bột nêm gia vị, tuỳ theo việc nấu canh hay kho cá mà gia giảm bột ngọt vào xương bột.

Vì lợi nhuận, người ta đã bất chấp vệ sinh an toàn thực phẩm để sản xuất ra nước tương thông dụng trong bữa ăn hàng ngày của người dân từ nguồn nguyên liệu đáng sợ như vậy. Vấn đề ATVSTP từ rất lâu đã là nỗi bức xúc lớn cho người tiêu dùng. Không lẽ các cơ quan quản lý nhà nước về ATVSTP đành bất lực?

Hoàng Dũng Huệ - Phóng sự được đăng trên báo giao dịch
BaBlog

ĐONG ĐANH CHIẾC BÓNG

Cô phải có giấy tờ chứng minh cô là người được ủy quyền nhận gói hàng này.

Tiếng nhân viên bưu điện không gay gắt nhưng khá lớn trong phòng đợi thưa người, làm chị đang đứng bên kệ cao ngang ngực dành cho khách hàng viết khi cần và lơ đễnh ngó quanh không định hướng vì đoán là phải chờ sáu số nữa mới tới phiên mình, phải quay lai. Ánh mắt chị ngừng lâu hơn vì mái tóc đen thả ngang bờ vai. Tò mò, chờ.

Im lặng.

- Cô có giấy tờ gì không? Như passport hay thẻ nhà băng nhưng thẻ nhà băng phải là loại có hình.

Im lặng.

Chị đứng phía sau lưng, cách chừng hai mét, kín đáo quan sát hoạt cảnh. Những ngón tay vén nhẹ mái tóc qua men tai, cử chỉ thật Việt Nam khiến tầm mắt chị ngừng lâu hơn và không còn làm bộ kín đáo nữa, tai chị lắng đón nghe lời đối thoại để đi đến quyết định là có nên bước tới không. Trong chiếc áo đầm bầu màu nhạt, dáng người vẫn còn nét thanh thản mặc dù cái bụng nhú khá cao, em đứng dựa người bên chân phải. Chị chia sẻ trong đầu, chắc vừa được bảo lãnh qua là có bầu ngay nên không theo kịp khóa học tiếng Na Uy. Cảm giác có hơn mười người đang đứng rải rác đâu đó hay ngồi trên những chiếc ghế nệm xanh dọc hai bức tường có khung cửa kính cao từ nửa thân người lên trần căn phòng đang kín đáo theo dõi và chờ nghe, có người giả bộ ngó lơ, có người im lặng nhưng vễnh tai nhìn, làm chị ái ngại dùm em. Hiểu sự đánh giá của mọi người qua đôi lời giải thích của nhân viên bưu điện về một điều thật đơn giản và đương nhiên, một điều không cần phải biết tiếng Na Uy mới ứng xử hợp lý, làm chị có ý tưởng phải can thiệp cho người đồng hương của mình. Bước chân chị dợm tới nhưng dính chặt lại nền gạch đá bóng. Người ta muốn có sự can thiệp của mình không? Nếu cô này không phải là người Việt Nam thì quê chết.

Im lặng.

- Giấy này không đủ, phải là căn cước hay passport hay thẻ nhà băng có hình.

Im lặng.

Bàn tay hất nhẹ mái tóc đã nằm gọn sau vai. Cử chỉ dư thừa nhưng như để lấy vẻ tự tin làm bước chân nhón đi tới của chị lại ngập ngừng, dừng. Cô nhân viên bưu điện tuổi vừa qua hai mươi nên chắc chưa trải nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp, đưa mắt cầu cứu đồng nghiệp ở quầy kế bên và nhận cái lắc đầu chịu thua và im lặng.

- Cô không có giấy tờ gì khác sao? Sự kiên nhẫn vẫn còn đọng đầy trong giọng hỏi của nhân viên bưu điện. Cô có thể chấm dứt hoạt cảnh vô vọng này bằng cách trả lại giấy ủy quyền và giấy báo nhận hàng, nói hai chữ ”xin lỗi” và nhấn đèn cho số chờ kế tiếp vì phòng đợi khá đầy, nhưng cô không làm, cô muốn giúp nhưng không thể vượt qua những luật lệ căn bản mà nghề nghiệp buộc cô phải tuân theo.

Im lặng.

Chị bước tới, ngần ngừ, ánh mắt lướt nhanh khuôn mặt cô nhân viên bưu điện như để dò chừng phản ứng nhưng lại hướng về phía em, hỏi nhỏ nhẹ, hỏi như sợ mình đang làm một điều xổ xàng:

- Em là người Việt? Em có cần chị giúp không?

- Chị giúp em với.

Giọng em vui mừng nhưng không vồn vã lắm. Xoay qua cô nhân viên bưu điện, chỉ hỏi:

- Tôi có thể giúp cô được điều gì không?

Ánh mắt cô nhân viên bưu điện sáng lên, gương mặt trông có vẻ linh động hơn, cô hỏi:

- Hai chị nói cùng ngôn ngữ? May quá! Cô này được ủy quyền để nhận hàng, nhờ chị giải thích là tôi cần giấy chứng minh có hình, đây là luật của bưu điện, mong cô ấy hiểu cho.

- Em không đem theo giấy tờ gì sao?

- Đây chị.

Em đưa cho chị xem một tờ giấy cùng khổ như thẻ nhà băng nhưng mỏng như một tờ giấy thường. Đây là mẫu giấy của postbanken (ngân hàng bưu chính) ghi vài dịch vụ của họ, có vài hàng trống để ghi những dữ kiện cá nhân khi người này muốn là khách hàng của postbanken. Mẫu này để trên các quầy ở giữa phòng đợi, cùng với những mẫu giấy khác để mọi người tự tiện dùng khi cần.

- Em mới qua hả?

Gật đầu.

- Em không đem theo passport sao? Có thẻ nhà băng chưa?

Lắc đầu, chỉ cái thẻ vừa đưa. Nhìn hàng chữ nắn nót đầy nữ tính ghi tên họ và ngày tháng sanh, chị thấy thương cho sư ngây thơ của em nhưng lại thắc mắc về sự kém hiểu biết của người bảo lãnh em qua đây.

- Giấy này không dùng để làm giấy chứng minh được đâu em. Em qua đây theo diện đoàn tụ gia đình? Chồng em bảo lãnh?

- Dạ.

- Sao chồng em không tự đi nhận hàng?

- Anh đi làm chị ạ.

- Vậy ngày mai em đem theo passport của em, passport Việt Nam cũng được.

Ngập ngừng, em nói nhỏ, như sợ người khác nghe dầu em biết là không ai hiểu tiếng Việt.

- Em không có pass, chị.

- Ô? Vậy làm sao em qua đây?

Lắc đầu.

Lạ quá! Vào phi trường ở Việt nam để xuất ngoại là phải có passport. Có vấn đề chi đây? Chị đề nghị:

- Vậy thì chồng em phải tự đi nhận hàng.

- Dạ… anh đi làm về trễ lắm.

- Bưu điện mở cửa đến 8 giờ, thứ bảy cũng mở cửa đến 6 giờ, chồng em phải tự đi nhận thôi.

- Chị nói dùm với cô này cho em nhận… đó… đó… chị nói với bà kia kìa chị… kỳ trước bà đó cho em nhận… bà đó tử tế lắm chị.

Em chỉ một nhân viên tuổi khoảng sáu mươi vừa đi thoáng qua ở phía trong. Em nhìn theo bà ấy như nhìn một người thân quen, nhón chân như muốn bà ấy nhận ra mình rõ hơn, cho bà bước ra can thiệp dùm mình.

- Không được đâu em. Hoặc là em phải có giấy tờ chứng minh hoặc là chồng em phải tự đi nhận.

- Kỳ trước bà đó cho em nhận.

- Vậy là kỳ trước em hên đó, chứ khi dùng giấy ủy quyền là phải có passport hay thẻ nhà băng có hình.

Cô nhân viên bưu điện nhìn chị, chờ một lời giải thích. Chị lắc đầu, nói:

- Mai mốt, cô này sẽ đem theo giấy tờ cần thiết để nhận hay chồng cô ra nhận.



Em đi ra khỏi bưu điện trong khi chị làm thủ tục gởi thư bảo đảm cho cô gái út đang học ở Perth. Nhưng em không về, em ngồi ở băng ghế trước tiệm rượu ngay lối đi ra của bưu điện. Thấy chị vừa ra khỏi khung cửa kính tự động, em quắt tay kêu, giọng mừng rỡ:


- Chị… chị…

- Ủa còn ở đây hả? Nhà gần đây không?

- Dạ, em ở gần đây. Chị giúp em nhận dùm nha chị.

- Không được đâu em, nếu giúp được là chị đã làm rồi.

- Chị có giấy tờ, chị vô nhận hàng dùm em.

- Không được đâu em, người được ủy quyền không phải là chị.

- Kệ, chị giúp em được mà, chị cầm cái giấy nhận hàng này là chắc được mà.

- Không được, chị xin lỗi là không giúp được em. Mai mốt chồng em đi lãnh cũng được mà. Em qua đây diện gì mà không có passport?

Nét mặt thất vọng, ánh mắt nhìn quanh như muốn lẫn tránh câu hỏi của chị. Chiều bốn giờ nên khu thương xá trở nên tấp nập hơn. Coi đồng hồ thấy còn hai mươi phút nữa mới đến giờ hẹn đón anh nên chị hỏi:

- Em có cần chị giúp chuyện gì không? Nếu trong khả năng của chị thì chị sẵn sàng, em mới qua chắc còn nhiều bỡ ngỡ.

- Dạ… chị ở gần đây?

- Ờ, em cũng ở gần đây.

- Đi bằng gì ra đây?

- Em đi bộ cho khỏe người, ngày nào em cũng đi.

- Em không có giấy tờ gì hộ thân sao?

- Dạ không.

- Không giấy tờ gì hết?

- Dạ không.

- Vậy em qua Na Uy bằng cách nào?

- Dạ… Dạ… Hai người đàn ông da đen hỏi sao em muốn qua Na Uy, em nói vì em nghe Na Uy hiền và tử tế, thế là họ cho em đi theo. Họ tử tế lắm chị, họ cho em đi xe chung, họ cho em ở trong một cái nhà, ở một nơi nào đó xa lắm. Được sáu ngày thì họ chở em đến Oslo, bỏ em ở đó, họ biểu là em không được đi gặp cảnh sát rồi họ đi mất.

Em nói gì? Sao có hai người đàn ông da đen? Em gặp họ ở đâu? Trước đó em ở đâu? Sao họ lại bỏ em ở Oslo? Lạ quá! Như phim! Không thể tưởng nổi! Dấu hỏi, dấu chấm than đánh qua đánh lại trong đầu chị nhưng chị không dám hỏi nhiều, không biết tại sao. Nghĩ đến cảnh em đứng bơ vơ giữa rừng người, lòng chị chùng xuống, hỏi:

- Rồi em ngủ đâu, lấy gì ăn? Em có người thân ở Oslo không?

- Em làm mướn cho nhà này vài tháng, giữ con cho người kia vài tháng, người ta cho ăn, cho chỗ ngủ, được hai năm thì gặp anh này. Anh thương em, đem em về ở tới bây giờ. Em có con thì Na Uy cho em ở, phải không chị?

Nhìn cái bụng cũng được năm-sáu tháng không chừng và cảm nhận được niềm hy vọng trong giọng hỏi, tim mềm biểu chị gật đầu cho em vui, nhưng cái đầu nhìn chị với ánh mắt nghiêm khắt, chị nhìn em, nói:

- Không dễ như em nghĩ đâu em ạ. Chồng em có quốc tịch Na Uy?

- Dạ… đây chị coi.

Cái passport vẫn còn giữ được màu đỏ, nhưng có vẻ được dùng rất nhiều nên trông lếch thếch như một lữ hành với bộ áo quần duy nhất, nay ngủ góc phố này, mai ngủ thềm nhà kia. Lật ra, sanh 1972 vậy lớn hơn em ít ra cũng một con giáp, Lê Văn Tân mình không quen ai tên này, passport cấp năm 2005 vậy sống ở Na Uy ít nhất là mười hai năm sao không hiểu những luật lệ cơ bản là người được ủy quyền phải có giấy tờ chứng minh, nếu qua Na Uy khoảng năm 1998 thì trong diện nào? Không phải là tị nạn từ Hongkong, càng không phải theo diện đoàn tụ gia đình. Từ Đông Âu chăng?

Nhìn em, gương mặt dễ nhìn, trắng trẻo và không chút son phấn, chị hỏi:

- Em không thể sống lâu dài ở Na Uy mà không có giấy tờ gì cả, tụi em tính sao?

- Dạ… cùng quá thì họ đưổi em về… nhưng con của ảnh, vậy con được ở lại Na Uy thì em cũng được ở lại Na Uy, phải không chị? Ảnh nói vậy. Tới đâu hay tới đó chị ạ. Nếu họ đuổi em về Việt Nam, ảnh sẽ bảo lãnh cho mẹ con em sau. Em lo chị ơi, thời gian bảo lãnh nghe nói mất bốn-năm năm, lòng người đổi thay, biết ảnh có còn muốn bảo lãnh mẹ con em qua không?

Giọng em bỗng nhiên gằn mạnh, như tự gằn:

- Tốn kém biết bao nhiêu mà phải về lại Việt Nam thì tức chết được.

Giọng mềm lại:

- Có con thì hy vọng được ở lại Na Uy, phải không chị? Người ta nói vậy.

- Ai nói với em như vậy?

- Ở nhà thờ. Gia đình em theo đạo thờ ông bà nhưng em đổi theo đạo Tin Lành để được giúp đỡ ở Na Uy. Các cô ở nhà thờ giúp em nhiều thứ.

- Quê em ở đâu?

- Dạ… dạ… Nghệ An, nhưng em đổi giọng.

- Ô!? Sao lại phải đổi giọng?

- Cho dễ giao thiệp với người Việt Nam ở đây, chị.

Có chuyện này ở Na Uy này nữa sao? Nhớ mấy người bạn than thở trong lần về Sài Gòn cách đây vài năm: ”Dần dần, dân Sài Gòn cạnh mặt kiểu mà ăn điểu cáng của mấy người ngoài bắc, dính vô họ thì không vỡ đầu cũng chảy máu tay. Chỉ cần nghe giọng ngoài ấy là lánh xa. Bây giờ họ đổi giọng nam khi giao thiệp làm ăn nên mình cũng không biết đâu là phòng ngừa. Mệt lắm!”

- Em có bà con ở đây không?

- Không ai cả, chị.

- Chị phải đi, em ghi số điện thoại của chị, cho chị số điện thoại của em, chị sẽ liên lạc với em sau, nha. Nếu muốn, cứ gọi cho chị. Đây là số nhà, số di động.

Bao nhiêu câu hỏi làm chị bần thần. Bao nhiêu cảnh tượng diễn ra trong đầu, những bài tường thuật về số phận ”nhóm người rơm” trong rừng ở Pháp canh chờ cơ hội đeo theo xe hàng qua Anh làm công cho tổ chức trồng á phiện lậu, những đường dây buôn người ở tầm mức buôn thú từ Việt Nam qua Tàu Cộng hay Đông Âu, những phương cách bóc lột tận xương tủy của môi giới qua tên gọi mỹ miều ”xuất khẩu lao động”… làm chị thở dài. Suốt chiều hôm đó. Anh thở dài đồng cảm nhưng căn dặn là không được nhận dùm hàng ở bưu điện, coi chừng mang họa vô thân khi thấy chị gọi điện thoại cho em.

Gọi tới gọi lui, lời giải thích lập đi lập lại: ”Số này không còn dùng nữa.”



***




Cũng băng ghế bên ngoài bưu điện, em ngồi đó, gương mặt tươi lên khi nhận ra chị đang đi vô. Niềm vui tương đồng. Sau hai tuần đi nghỉ mát về, mỗi lần có dịp vô khu thương mại, chị chọn hướng vô này với hy vọng gặp lại em. Chỉ sau một tháng mà cái bụng tròn lẳng chiếm đầy bề rộng cái áo đầm bầu màu xanh lá cây lợt và làm cái áo khoát không cài được.


- Mấy tháng rồi?

- Dạ chắc bảy hay tám tháng chi đó.

- Em khỏe không? Con đạp mạnh không? Soi vi âm thấy trai hay gái không?

- Em… em không đi soi vi âm nhưng thấy nó đạp mạnh là nó khỏe hả chị.

- Ủa… từ bốn tháng là được kêu đi soi vi âm mà, sao lạ vậy?

Hiểu rồi… nhớ rồi… tội chưa… không giấy tờ thì làm sao được hưởng những chăm sóc hoàn toàn miễn phí khi mang thai của một xã hội có hệ an sinh cao nhất thế giới, ở một xã hội tự do nhưng được kiểm soát rất chặt chẽ. Tim chị nhói đau, nắm tay em, hỏi:

- Nhưng… nhưng… như vậy là em không được đi bác sĩ, không được khám thai rồi… rồi đến chừng sanh… em làm sao?

- Em liều chị ạ. Tụi em tính rồi, chừng em chuyển bụng thì ảnh gọi taxi chở em lại bệnh viện. Ảnh có quốc tịch Na Uy thì con ảnh cũng là người Na Uy, phải không chị?

- Người đàn ông không thể nào tự họ có con. Như vậy khi em sanh là bệnh viện khám phá ra hoàn cảnh của em. Chị biết chắc là lương tâm nhân viên bệnh viện không cho phép họ từ chối em, họ sẽ chăm sóc em và con chu đáo như bất kỳ người nào. Ở đây, khi vào bệnh viện, con bộ trưởng hay con thường dân đều sẽ được chăm sóc đầy đủ như nhau và hoàn toàn miễn phí, em đừng lo chuyện này.

- Dạ… Nó là con của ảnh, ảnh có pass Na Uy thì người ta cho Nó ở Na Uy, vậy em cũng được ở lại Na Uy chớ hả chị?

- Phần con của em thì chị nghĩ đúng nhưng phần em thì chị phải thú thiệt là vấn đề không như các em nghĩ. Em có nghĩ là có thể em bị đuổi về Việt Nam không?

- Dạ, em liều chị ơi.

- Tụi em tính vậy thì chị cũng không biết giúp gì hơn. Như vầy, coi bộ cũng gần sanh, chừng nào chuyển bụng gọi điện thoại cho chị nha. Mà sao số em cho, chị không gọi được? Đúng số này không?

- Chắc bữa đó em không mở máy. Em ngại gọi chị, lỡ chồng chị bắt điện thoại thì em biết nói sao đây.

- Gọi di động, em có số di động của chị mà, cứ gọi, đừng ngại gì cả.

- Dạ.



***




Một tháng, hai tháng, không một tin nhắn, câu trả lời tự động ”Số này không còn dùng nữa.” được nhắc đi nhắc lại.


Em!

Không lường trước được những gì sẽ xẩy ra khi em được đưa vào bệnh viện, chị định bụng sẽ thu xếp để theo em đến bệnh viện khi em chuyển bụng, thử xem chị có giúp được gì không, tệ lắm thì thông dịch dùm. Biết là mình chỉ là người xa lạ nên chị dự định sẽ cẩn thận, chỉ ”ra tay” khi thấy cần và sẽ lặng lẽ rút lui khi cảm thấy thừa thãi. Biết rằng hành động này có thể bị xem là xổ xàng nhưng chị lại không muốn để lòng mình cắn rắn. Và nếu là thừa thãi thì lòng mình sẽ nhẹ đi. Cho mình! Vậy thôi!

Nhưng…

Em!

Không có số căn cước, cuộc sống hàng ngày của em sẽ như thế nào đây. Xã hội này, mọi dịch vụ đều đòi hỏi số căn cước, số căn cước là một chứng minh cho sự hiện diện trong xã hội. Không được học khóa tiếng Nauy, không được đi khám ở bất cứ một phòng bác sĩ hay nha sĩ nào, không được xin việc làm, không được có trương mục… không được hưởng một qui chế an sinh nào cả.

Em như chiếc bóng, hiện hữu mà vô hình. Bước chân em không để lại một dấu tích nên bước chân em có mất đi thì cũng không ai bận tâm đến. Dầu cho em có làm chuyện gì để bị gọi là phạm pháp hay không thì hoàn cảnh sống ngoài vòng pháp luật của em là hoàn cảnh một đứa trẻ mồ côi không ông bà cũng không cha mẹ từ thủa chào đời và bị đem bỏ nơi xa lạ.

Em như chiếc bóng được tạo bởi ánh sáng phát xuất từ lòng tử tế của người đàn ông em gọi là chồng. Mức mờ đậm, độ dài ngắn của cái bóng đong đanh theo buồn vui nguồn sáng.

Em như dây tầm gởi sống nhờ ơn mưa mốc của một người đàn ông. Em không có một vũ khí tự vệ và không có quyền tự vệ. Trong bốn bức tường, sáng trưa chiều tối, đâu là chỗ đứng của em, kích thước em chiếm bao nhiêu phần, âm thanh lời em nói vọng tới đâu… Thân đàn bà!

Bây giờ em có con. Mọi ưu đãi dành cho con trẻ ở một xã hội đặt nhu cầu trẻ em lên hàng đầu đều dựa vào sư hiện diện của người mẹ. Người mẹ là sợi dây nối giữa đứa bé với mọi dịch vụ về tài chánh cũng như sức khỏe mà xã hội dành cho đứa bé ấy. Sợi dây này vô hình, sợi dây này không có số căn cước nên sợi dân này hoàn toàn dựa vào lòng nhân đạo và lòng thương hại. Ở một đầu, sợi dây mong manh này quấn chặt vào đứa bé nhưng lại lỏng thỏng bên mép của xã hội ở đầu dây kia. Có đêm nào em được ngủ bình an? Có sáng nào em hân hoan đón ngày mới mở?

Con em, như tấm ván mà em đã ngoi lên ngớp xuống, vươn tới, và cuối cùng bám được trên dòng nước lũ đêm mưa bão. Con em. Với em như một chìa khóa bằng sắt cứng trước ngưỡng cửa Na Uy. Nhưng với luật pháp thì con em là một chìa khóa làm bằng nhôm nên khi đưa vào ống khóa dễ bị gẫy cong. Con em, là tất cả em có trên đời này, không chỉ là tình mẫu tử mà là một cứu cánh.

Chị cầu xin lòng thương yêu của người đàn ông em đang sống chung mang đến cho em một cuộc sống có giá trị của một con người, ít ra thì cũng trong bốn bức tường nhà em. Chị cầu xin mảnh gỗ em bám được sẽ giúp em vượt qua con sông trong mùa bão lụt này. Chị cầu xin chiếc chìa khóa bằng nhôm mong manh ấy tìm được đúng ống khóa, mở cánh cửa cho em tìm được một cuộc sống là một công dân của nước Na Uy.

Lạy Trời!



Võ Thị Điềm Đạm


Thu 2010

Lỗi hệ thống nặng nề nhất

Thời Việt Nam Cộng Hòa, thập niên 1950-60, nhà văn Doãn Quốc Sỹ viết một truyện ngắn nhan đề “Cái chết của một người.” Truyện kể một ông đang đi ngoài đường thì bị một cành cây rớt trúng; trong lúc những người thợ đốn cây, tỉa cây đang nghỉ trưa. Sau đó, ông ta qua đời. Các báo loan tin tai nạn này trong hang trăm tin vặt mỗi ngày. Nhưng có người đọc bản tin xong rồi đặt câu hỏi tại sao thành phố lại để cho người dân chết vì tai nạn một cách vô lý như vậy? Rồi mọi người bàn tán trên báo chí; cuối cùng dân chúng cả thành phố nổi giận, họ hỏi tại sao sở công chánh đốn cây mà không ngăn đường, không báo cho người qua lại biết, khiến người dân chết oan. Cả nước chú ý, theo dõi câu chuyện; dư luận đều phản đối và kết tội chính quyền. Câu chuyện ngày càng lớn hơn; được đưa lên cả những cơ quan quốc tế về nhân quyền.

Doãn Quốc Sỹ mô tả nạn nhân trong câu chuyện trên chỉ là một công dân tầm thường, một người với cuộc sống rất bình thường. Nhưng cái chết của ông được cả nước và thế giới quan tâm. Tác giả muốn nói rằng: Sinh mạng một người, bất cứ người nào, cũng đáng quý. Và xã hội có bổn phận bảo vệ mạng sống của từng người dân. Chính quyền phải chịu trách nhiệm đó, vì trên nguyên tắc họ được ủy quyền lo việc giữ cuộc sống bình an cho cả xã hội.

Các báo, mạng ở Việt Nam bây giờ nên đăng lại truyện ngắn trên để độc giả cùng suy nghĩ. Vì có nhiều cái chết không minh bạch, đã quá nhiều. Khi nhiều người dân “tự sát” trong đồn công an, hoặc bị công an đánh tới chết, chúng ta phải tự hỏi: Tại sao con người ta phải chết như vậy? Tại sao một ông công an như một Trung Úy Nguyễn Thế Nghiệp ở Bắc Giang, hay Trung Tá Nguyễn Văn Ninh ở Hà Nội có thể đánh một người đưa tới cái chết của họ, chỉ vì những vụ vi phạm luật lưu thông? Bây giờ anh Nguyễn Văn Khương và ông Trịnh Xuân Tùng đã trở thành người thiên cổ, chúng ta không cần tranh cãi chuyện họ thực tình có vi phạm luật hay không nữa. Ông Nguyễn Thế Nghiệp đã bị 7 năm tù và ông Nguyễn Văn Ninh chắc cũng được tuyên án như vậy. Rồi qua năm tháng, dư luận cũng nguôi dần rồi quên đi. Nhưng đối với những người còn sống, hơn 80 triệu người Việt Nam còn sống chứ không phải chỉ có gia đình các nạn nhân, vẫn còn một câu hỏi đáng nêu lên. Là tại sao các ông công an lại đánh người dân đến nỗi chết trong lúc theo định nghĩa họ có bổn phận bảo vệ sự an toàn của mọi người trong xã hội?

Ðây là một vấn đề chính trị, theo nghĩa rộng nhất của hai chữ này. Chính trị là cách xếp đặt xã hội sao cho mọi người sống chung với nhau một cách bình yên để theo đuổi những mục đích chung.

Câu hỏi giản dị nhất để định nghĩa một hệ thống chính trị là: “Ai có quyền ra lệnh mà những người khác phải nghe theo? Các định chế chính trị xưa nay chỉ là phương cách xác định câu trả lời cho câu hỏi chính yếu này. Những người ra lệnh gọi là chính quyền, là nhà nước, họ nhân danh cả xã hội, hoặc được xã hội ủy nhiệm, làm công việc bảo đảm cho mọi người dân được sống bình yên và đạt được những mục đích chung.

Một cách cụ thể, người ta có thể đặt câu hỏi là: “Ai có quyền bắt người khác góp tiền?” Câu trả lời nằm trong luật thuế khóa và luật ngân sách chính phủ; mà ở các nước tự do dân chủ thì các luật này phải được quốc hội, thay mặt dân chúng, chấp thuận. Cuộc cách mạng Mỹ vào thế kỷ 18 đã đưa ra một điều kiện là: Không có ý kiến của người đại diện dân thì chúng tôi không đóng thuế!

Thuế khóa chỉ là một trong nhiều điều mà xã hội ủy quyền cho nhà nước thi hành. Trong một trường hợp cực đoan, có thể đặt một câu hỏi cụ thể khác: “Ai có quyền giết người?” Trong mọi bộ lạc, mọi quốc gia tự cổ chí kim, người cầm quyền được nắm độc quyền sử dụng bạo lực. Ðó là công việc của quân đội, của cảnh sát; và vai trò của các lực lượng này được luật pháp quy định. Những đạo luật hình sự cho biết cảnh sát công an có quyền gì trên thân mạng người dân.

Khi đứng trước guồng máy nhà nước, người dân đều ngầm hiểu có những câu hỏi như trên. Ðó là những câu hỏi căn bản mà người dân trong mỗi xã hội phải đặt ra. Nhà nước tốt hay xấu là do những câu trả lời có phù hợp với lợi ích của người dân và của chung xã hội hay không. Tất cả các chủ thuyết, các khẩu hiệu; dù gọi tên là chế độ dân chủ hay quân chủ, chủ nghĩa cộng sản hay phát xít, khuynh hướng cấp tiến hoặc bảo thủ; tất cả những bài diễn văn hay lời tuyên bố hoa mỹ của các nhà chính trị, đều chỉ là những cách trả lời cho các câu hỏi căn bản này thôi.

Dưới những chế độ quân chủ chuyên chế, hoặc một đảng hay bè nhóm độc tài, ông vua hay nhóm người cai trị nắm độc quyền trả lời cho những câu hỏi trên đây. Họ quyết định có những loại thuế nào, sẽ sẽ thu thuế bao nhiêu. Họ nắm quyền sử dụng quân đội và cảnh sát theo phương cách mà họ ấn định. Dân không được góp ý kiến. Trong các nước tự do dân chủ thì chính quyền được người dân thỏa thuận giao cho những quyền này.

Khi thiết lập các chế độ dân chủ, làm cách nào để người dân bảo đảm được là chính quyền sẽ không lạm dụng quyền thu thuế và quyền bắt người, giam người, hoặc đánh giập và giết người? Người ta phải thành lập những định chế để cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, ghi trong hiến pháp và diễn tả trong luật lệ. Ðiều khác biệt giữa dân chủ và độc tài nằm ở chỗ các quyền hành mà nhà nước sử dụng có được những người đại diện của dân chúng kiểm soát hay không. Kiểm soát nghĩa là những quyền hành trao cho nhà nước đều có giới hạn. Và trong guồng máy cai trị có những định chế để bắt buộc nhà nước phải tuân thủ những giới hạn này.

Nhưng ngay cả khi dân phải sống dưới chế độ quân chủ chuyên quyền, vẫn có những định chế có nhiệm vụ giám sát quyền hạn của quan lại. Tức là vẫn có cố gắng duy trì một hệ thống cân bằng và kiểm soát trên những người đang nắm quyền. Chính dưới thời Tần Thủy Hoàng, nổi tiếng là tàn ác, chức Ngự Sử đã được giao cho nhiệm vụ kiểm soát quan lại xem có làm đúng nhiệm vụ hay không. Chức Gián nghị Ðại phu đặt ra từ đời Hán, và có thể cũng bắt đầu có từ đời Tần. Bởi vi chính quyền nhà Tần được tổ chức theo quan niệm Pháp gia. Họ chủ trương việc cai trị phải dựa trên các hình luật rõ ràng minh bạch (tức là theo những tiêu chuẩn khách quan, chứ không dựa trên cá nhân người nắm quyền như tư tưởng nhân trị). Vì vậy, một công việc của các người làm ngự sử là lo bảo đảm đám quan lại không vượt quá quyền hạn mà vua đã quy định. Khác với chế độ tự do dân chủ , Pháp Gia chấp nhận ông vua đứng trên pháp luật, ông là người đặt ra luật! Nhưng chúng ta có thể tin rằng đám công an trong chế độ Tần Thủy Hoàng thế nào cũng được giám sát để không làm quá những quyền hạn mà ông vua trao cho. Thí dụ, chắc họ không được tùy tiện đánh người đến chết. Bởi vì giết người nhiều quá thì ông vua lấy đâu người để đánh thuế, bắt lính, làm sưu dịch, và sinh con đẻ cái? Tại sao công an ở nước ta bây giờ lại đánh người đến chết như đã thấy gần đây?

Chúng ta có thể tin rằng các người làm công an ở Việt Nam bây giờ cũng không ai có ý định đánh người dân đến chết. Cũng có thể tin rằng trong việc huấn luyện công an, người ta có dạy họ không được đánh người đến chết. Bởi vì trong đạo luật hình sự có ghi rõ những án tù dành cho cảnh sát công an “trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” mà có những hành động gây “hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.” Mỗi loại đều có ghi rõ số năm tù cả. Không một người bình thường nào, dù đi làm công an, lại tự ý làm bừa để bị bỏ tù, dù chỉ tù năm bẩy năm. Có thể tin rằng các ông Nguyễn Thế Nghiệp và Nguyễn Văn Ninh đều gây ra án mạng chỉ vì lỡ tay chứ không ai cố ý phạm tội.

Tin tưởng như vậy rồi, chúng ta càng phải một đặt câu hỏi quan trọng hơn: Tại sao hai người công an này lại trở thành những kẻ sát nhân? Tại sao lại có nhiều vụ đánh người và làm chết người trong đồn công an như thế? Như bài trước trong mục này đề nghị, chúng ta phải tìm ra những “Lỗi Hệ thống” mới hiểu được những vụ đánh người và làm chết người trong sở công an.

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay thiết lập một sự ủy nhiệm quyền hành rất mơ hồ và tổng quát. Một Ðiều 4 trong bản Hiến Pháp cho phép đảng Cộng Sản “lãnh đạo nhà nước và xã hội,” trở thành căn bản của việc ủy quyền. cả guồng máy nhà nước lẫn xã hội gồm các công dân đều bị đảng này “lãnh đạo!” “Lãnh đạo” là một từ rất mơ hồ, có thể hiểu là anh chỉ đường cho tôi, cũng có thể hiểu là anh bảo tôi đi thì tôi được đi, bắt tôi đứng tôi phải đứng! Có khi anh bắt tôi quỳ tôi cũng đành phải quỳ! Bất cứ ai được ủy quyền một cách mơ hồ cũng có khuynh hướng lạm dụng quyền hành. Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối; câu nói của Lord Acton ai cũng nhớ. Tất nhiên, người ta khéo léo nói rằng đảng Cộng Sản phải “lãnh đạo” theo luật pháp chứ không được làm bừa. Nhưng tất cả ba thứ quyền, hành pháp, lập pháp và tư pháp đều nằm trong tay đảng thì việc “lãnh đạo” trở thành quyền tuyệt đối. Nghĩa là cũng giống như ông vua, họ có thể đứng lên trên pháp luật vì chính họ làm ra luật.

Vì vậy hệ thống chính trị ở nước ta trao quá nhiều quyền cho người cai trị mà không tính trước đến việc thiết lập những định chế để giới hạn quyền hành như các ông vua đời Tần, đời Hán bên Tầu. Tiêu biểu là các ông công an. Các vị công an có quyền sinh sát trên đời sống của người dân; đây là một sự thật hiển nhiên không cần bàn cãi nữa. Bắt đầu từ những việc nhỏ, việc xẩy ra hàng ngày. Bạn thử đến bàn giấy công an khai mình bị mất trộm coi. Nếu không có gói thuốc lá làm quà, thì ông công an làm việc rất từ từ. Có quà cáp, việc chạy nhanh ngay. Lâu ngày trở thành những thói quen, cả người công an và người dân đều ngầm hiểu bên cạnh các quy tắc, luật lệ, còn một thứ quyền hành không ghi trên giấy. Gói thuốc lá chỉ là một thí dụ nhỏ, các vị công an còn nghĩ ra nhiều cách hành động “bên cạnh” luật pháp lớn gấp trăm ngàn lần!

Khi những người công an tập thói quen lạm quyền nho nhỏ, ngày này qua ngày khác, lạm quyền mạnh bạo hơn; dần dân họ sẽ cảm thấy rằng việc sử dụng quyền hành của họ là tuyệt đối, không bị ai xoi mói, không ai kiểm soát hết. Từ việc nhỏ đến việc lớn, những ông công an quen làm những việc bên ngoài luật lệ sẽ tập được thói quen nghĩ rằng quyền hành của họ không bị một thứ pháp luật nào hạn chế cả. Họ chỉ chịu trách nhiệm trước đảng Cộng Sản. Mà đảng này thì không chịu trách nhiệm với ai cả; bởi vì từ việc tuyển chọn đảng viên đến việc bầu bán các chức vụ trong đảng, hoàn toàn là việc nội bộ của họ với nhau mà thôi. Chính các ông công an như các ông Nguyễn Thế Nghiệp và Nguyễn Văn Ninh có thể nghĩ rằng việc họ đang làm đều do Ðiều 4 trong Hiến Pháp ủy nhiệm cho họ! Ðảng có quyền tuyệt đối thì những người đại diện cho đảng và nhà nước cũng vậy. Cho nên mới có ông công an đứng đầu ngành bảo vệ luật lệ giao thông ở tỉnh Hậu Giang ra lệnh cho tài xế tắc xi chở ông về nhà cứ vượt đèn đỏ! Không nghe lệnh thì ông đánh! Tại sao ông ta bất chấp luật lệ, những điều luật mà ông và nhân viên của ông có trách nhiệm bảo vệ? Vì ông tự coi mình là đứng bên trên luật lệ. Bởi vì cái đảng lãnh đạo của ông nó đứng trên pháp luật như vậy!

Và chính những người công an được đảng bảo vệ rất kỹ trong khi làm việc. Ðiều 298 trong Bộ Luật Hình Sự, Khoản 2 viết về trách nhiệm của công an trong khi làm việc: “Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.” Vì thế, ông Nguyễn Thế Nghiệp làm chết người rồi cũng chỉ bị 7 năm tù. Ðiều 3 viết: “Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.” Chúng ta đoán trước được là ông Nguyễn Văn Ninh sẽ bị án trong giới hạn đó. Một công dân làm chết người tội đã nặng, một người thi hành luật pháp mà giết chết người mà chỉ bị những án tù nhẹ như vậy thôi, vô tình khuyến khích người ta làm bậy.

Bởi vì hệ thống chính trị ở Việt Nam không nhấn mạnh đến quyền của người dân mà chỉ nhắc nhở về quyền hành của nhà nước. Tất cả bắt đầu từ nguyên tắc ủy nhiệm rất mơ hồ việt trong Ðiều 4 Hiến Pháp.

Còn rất nhiều thứ “lội hệ thống” khác gây ra những cái chết đau thương của người dân trong tay công an. Nhưng nguồn gốc chính vẫn là điều số 4 trong Hiến Pháp hiện nay, đó là lỗi hệ thống nặng nề nhất!


Ngô Nhân Dụng
__._,_.___

Câu chuyện cô gái Việt lái máy bay

Bỏ nghề tài chánh, sang làm phi công

CALIFORNIA - Một thập niên trước, ở trường Ðại Học Long Beach, Ming Trần, 33 tuổi, là một sinh viên mất định hướng, không dám tin mình thu thập được gì từ sách vở, cô ganh tỵ với những người có cảm hứng chuyên môn từ lúc mới lọt lòng.

Ming nói: “Ở trường, tôi chẳng biết mình muốn về sau sẽ làm gì. Tôi chọn môn tài chánh vì thấy cần phải chọn một ngành học nào đó.”

Nhưng rồi một lời réo gọi khác đã chọn lấy cô. Ngày nay, cô bắt đầu một ngày làm việc không phải với những bản chiết tính tài chánh cùng các trích dẫn về cổ phần, mà bước cạnh bên chiếc CRJ-200, một loại máy bay phản lực dài 20 ft, 50 chỗ ngồi, để đoan chắc mọi sự đều an toàn trước khi đưa nó bay vút lên không.

Cuộc sống hiện tại của Ming, trong vai trò một phi công, là bay vọt lên cao độ 37,000 ft, bỏ qua những ngày làm chuyên viên kế hoạch cho một công ty quản lý tài sản ở Newport Beach, California. Trong khi chưa có thể kiểm chứng chính xác, Ming có thể là nữ phi công người Mỹ gốc Việt đầu tiên bay trên bầu trời, một nghề cô tự ý chuyển sang, khiến cha mẹ cô bối rối khi cô ngỏ ý với họ về ý định của mình.

Thân phụ cô Ming, ông Bình Trần, nói: “Từ chỗ xuất thân thuộc thế hệ cổ xưa, chúng tôi tin là ai lớn lên cũng cắp sách đến trường, chăm chỉ học hành, ra trường trở thành một người nào đó trong xã hội. Chúng tôi giữ lấy nguyên tắc ấy và cứ theo đuổi đến cuối cuộc đời. Ðến khi con cái tôi không hài lòng và muốn đổi sang nghề khác, là một người thuộc thế hệ trước ở Á Châu, tôi không thể hiểu được điều đó.”

Bà con thân thuộc của Ming giễu cợt cô trước ý tưởng cô muốn trở thành một phi công. Họ cho điều cô nghĩ là chuyện viển vông. Mặc mọi người, cô vẫn giữ lập trường của mình.

Ming tâm sự: “Bấy giờ tôi đang làm về tài chánh, công việc mà tôi cảm thấy thật sự khổ sở, nhàm chán.”

Vậy thì đối với cô, cái gì mới thật sự là sở thích?

Cảm hứng đến với cô trong một chuyến cùng mẹ bay từ Sài Gòn ra Hà Nội vào năm 2003. Cô chợt nghĩ, rằng cô muốn trở thành một... phi công.

Ming nói: “Nhiều ý tưởng tích tụ trong đầu tôi mà tôi thấy khó thể nào diễn đạt được với người khác. Chẳng có chi nhiều để tranh cãi, vì nếu tôi đem đề tài này ra thảo luận, thì mọi người, đặc biệt là gia đình tôi, sẽ không tưởng tượng nỗi tôi đang muốn gì.”

Trong suốt 5 năm sau đó, cô vừa đi làm vừa lấy lớp học lái máy bay. Ðến khi thấy không thể ôm đồm cả hai, cô quyết định chấm dứt nghề tài chánh. Năm 2007 cô lấy xong bằng hành nghề lái máy bay thương mại và xin được việc đầu tiên với hãng Piedmont Airlines. Ngày nay cô bay cho hãng Air Wisconsin dưới tên US Airways Express, địa điểm hoạt động nằm bên ngoài hai thành phố New York và Philadelphia.

Trước mỗi chuyến bay, Ming thu thập ATIS, tức dữ kiện về thời tiết trong ngày. Cô lấy thông tin về tuyến đường từ nơi khởi hành đến điểm đến. Sau đó cô chờ nhận được phép rời trạm rồi mới bắt đầu cho khởi động động cơ. Kế đến, cô đợi phép cho phi cơ tiến vào đường băng, từ đó cô trải qua nhiều giờ để bay đến một nơi nào đó trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Ông Bình cho biết, con gái ông thử nhiều việc, cái gì cũng đạt được thành công. Ông ngẫm nghĩ, bên trong cái nhân dáng cao 5 ft 5 đó, tiềm tàng một sức mạnh.

Ming có đai đen tam đẳng về môn võ Thái Cực Ðạo, đai đen đệ nhị đẳng môn ninjitsu, và đai đen tam đẳng môn karate.

Ba lần đoạt chức vô địch võ thuật toàn quốc, mà tước hiệu đầu tiên về Thái Cực Ðạo cô lấy được năm mới lên... 15.

Năm 1996, cô được chọn tham gia chuyến lưu diễn võ thuật kéo dài nhiều tháng, kết hợp với việc ra mắt cuốn phim “Mortal Kombat.” Ming cũng từng là chủ nhân khi lần đầu mở kinh doanh cung cấp kẹo dẻo chay.

Mặc cho những thành tựu như thế, ông Bình vẫn vừa bán tín bán nghi vừa hãnh diện về cái nghề mà con ông chọn lấy sau này, khi ông nói chuyện bằng điện thoại từ nhà riêng ở Colorado. Tuy không lên tiếng chống đối về mục tiêu trong đời của con gái, ông cũng không mấy thiện cảm trước việc cô bỏ ngang một nghề đã ổn định, đó là làm về tài chánh.

Ông Bình, từng là một quân nhân lực lượng đặc biệt vừa là lính dù, ông nói: “Làm phi công máy bay hàng không tức là nắm sinh mạng của nhiều người trong tay, chưa kể phải chịu trách nhiệm với một chiếc máy bay mắc tiền. Người ta đâu có khơi khơi mà giao cho bạn công việc đó chỉ vì bạn là một phụ nữ có nhan sắc, mà bạn phải chứng tỏ là mình có khả năng chu toàn mọi sự mà người ta giao phó.”

Chuyến bay hàng không đầu tiên Ming lái là một chuyến đi đường ngắn giữa hai thành phố nằm gần Philadelphia, theo Ming kể, lúc ấy có người ngồi kè kè để quan sát cô từ phía sau. Chuyến bay tuy ngắn nhưng cô nhớ lại là quá mệt, vì thật căng thẳng.

Ming nói: “Mọi giác quan đều trở nên quá tải, thông tin quá tải. Ðó là cả một sự dồn dập khác với cảm giác khi nhảy bungee hay bay tự do từ máy bay xuống gần đến đất mới bung dù. Một sự dồn dập như thể bạn không tin rằng mình đang ở vị thế hiện tại.”

Eric Nielsen, một cộng sự viên của Ming ở Air Wisconsin mà cũng là cựu huấn luyện viên của cô nói, người ta đổi nghề nửa chừng sang ngành kỹ nghệ hàng không, không phải là chuyện bất thường, nhưng phụ nữ đổi sang làm phi công thì tương đối hiếm hoi.

Nielsen tiếp: “Ðiều đáng cảm phục về cô Ming là cô thấy được điều cô muốn và cứ thế mà đi đến đích. Ðó là phẩm chất đáng khâm phục nơi cô mà nhiều người cần phải học hỏi.”

Từ khi trở thành phi công, Ming nhận thấy có vài điều yếu kém. Một khó khăn cô gặp phải là việc cố duy trì một lối sống xã hội và giao tiếp với người khác.

Ming nói: “Tôi có khá nhiều thử thách. Theo tôi, một phụ nữ khi phải đối phó với nghề nghiệp của phái nam, đặc biệt nếu người ấy là một phi công hoặc ông ấy phải đi đây đi đó nhiều, thì điều ấy dễ chấp nhận hơn. Nhưng nếu là một người đàn ông nghĩ sao khi một người phụ nữ cứ xa nhà mãi thì đó mới thực gay go. Sau này khi tôi nghĩ đến chuyện lập gia đình thì khi đó mới thật sự là cả một thách thức.”

Tuy nhiên cô chưa từng là một người chịu chùn bước trước thử thách hay trước những chất vấn của gia đình.

Ngày Ming bay chuyến đầu tiên, ông Bình chở cô đến phi trường. Ông nhớ bấy giờ ông lo cho cô còn hơn chính cô vì lúc ấy cô chỉ thấy “sôi sục lòng hăng say” và “sung sướng.” Vào một dịp khá lâu sau đó, một người bạn của ông Bình ở New York cho ông biết nay con gái ông trở thành phi công của ông ta.

Bạn ông Bình nói: “Ðoán thử xem? Tôi ngồi trong máy bay và con gái ông là phi công.” Ông Bình đáp: “Thật tuyệt vời. Tôi thấy hãnh diện lắm.”

Thỉnh thoảng, sự quan tâm của người cha khiến ông lại hỏi con gái xem cô có cảm thấy sung sướng với nghề mà cô đã chọn không.

Ông Bình, một cựu chủ nhân công ty, từng sở hữu mọi thứ, từ bất động sản thương mại đến tiệm tạp hóa, nói: “Có khi con gái tôi bực mình vì tôi cứ hỏi mãi cùng một câu hỏi. Khi nào tôi cũng hỏi, ‘Con có thấy sung sướng với nghề này không hả con?’ Nó nhìn tôi đáp: ‘Cha à, buổi sáng con thức dậy con cảm thấy sung sướng sắp sửa đi làm vì con biết con sắp được lái máy bay.”


Nguyên tác: John Sakata
Chuyển ngữ: Triệu Phong

Xin Chọn Nước Việt Làm Quê Hương Dẫu Cho Khó Thương

(Để tưởng nhớ Nguyễn Đức Quang và Nguyễn Ngọc Thạch.)


Chẳng một ai mà có thể chọn được nơi mình sinh trưởng trong một gia đình nào, dòng họ nào cả. Cũng như chẳng ai lại có thể chọn lựa được dân tộc hay đất nước theo như sở thích cuả riêng mình. Vì đó là cái định mệnh Tạo hoá đã an bài xếp đặt riêng cho mỗi người. Cho nên con người sinh ra tại thế gian này, thì phải biết thích nghi với hoàn cảnh cuả thân phận mỗi cá nhân mà thôi.
Vì thế dân gian ta mới có câu nói: “Con không chê cha khó, chó không chê chủ nghèo”. Tức là không ai lại đi chê bai cái hoàn cảnh nghèo khó cuả gia đình cha mẹ mình cả. Và phải chấp nhận cái phần số Ông Trời đã đặt để cho mính, để mà an tâm vui sống theo câu nói “May nhờ, rủi chịu”, chứ không cứ than thân trách phận, rồi đâm ra bất mãn, bực dọc buồn phiền, để mà chẳng thay đổi được điều chi hết trong cuộc sống cuả riêng bản thân mình.
Vào những năm 1965-66 trở đi đến 1975, giới thanh thiếu niên ở miền Nam Việt nam, mỗi khi tụ họp sinh hoạt chung với nhau, thì hay hát những bài ca tập thể rất là vui tươi, phấn khởi với khí thế bừng bừng tình yêu thương đất nước, yêu mến con người. Mặc dù lúc đó thì cuộc chiến tranh mỗi ngày một leo thang tàn khốc. Những bài hát cuả các bạn trẻ trong phong trào Du ca sáng tác, thì được phổ biến khá rộng rãi và được giới học sinh sinh viên rất ưa chuộng. Điển hình như bài hát sau đây cuả nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn cuả Du ca biên sọan từ năm 1966:
Xin chọn nơi này làm Quê Hương.
Điệp khúc: Xin chọn nơi này làm quê hương/ dẫu cho khó thương.
Ta cùng lo chạy từng lưng cơm/ áo che thân tàn.
Khi mùa mưa về cùng lem nhem/ bước trên ngõ trơn
Khi dịch lan tràn cùng lo âu/ trắng đôi mắt đen …
(Toàn bộ bài ca sẽ được ghi nơi Phần Phụ lục kèm theo bài viết này.)
Bài hát này Nguyễn Đức Quang phổ nhạc từ một bài thơ của Nguyễn Ngọc Thạch, hồi đó là giáo sư dậy môn Pháp văn ở Quận 8 Saigon. Lúc đó cả hai người cũng chỉ vào tuổi ngòai đôi mươi, mới xuất thân từ trường Đại học Đàlat. Quang vừa sọan nhạc, vừa đệm guitare và hát rất say sưa, lôi cuốn các bạn cùng hát theo, tạo ra được một hào khí của cả một tập thể đông đảo thanh niên vừa vỗ tay rôm rả, vừa nhiệt tình hưởng ứng ca hát theo. Nhiều khi các bạn trẻ này còn tổ chức những buổi sinh hoạt “Đêm không ngủ” để hội thảo, giàn trải tấm lòng, trao đổi tâm sự với nhau v.v…; thì rất cần đến những bài ca để làm “thức tỉnh”, “lên giây thiều” giúp anh chị em vào lúc đêm khuya miệt mài đến độ mệt mỏi, rã rời gân cốt như thế.
Vào năm 1969, Quang được mời sang Âu châu để trình diễn các ca khúc của mình. Tại xứ người, Quang phải sửa đổi ca từ lại cho phù hợp, nên câu hát đã thành ra như sau :
Xin chọn nước Việt làm Quê Hương/ dẫu cho khó thương…
Và đó cũng là đề tựa cho bài viết này vì được dành cho bà con hiện đang sinh sống ở hải ngọai, chứ không còn ở trong nước nữa. Nói thẳng ra, thì quả thật là tại đất nước Việt nam chúng ta từ mấy chục năm qua, hết chiến tranh với hận thù chém giết lẫn nhau, rồi lại đến nạn độc tài chuyên chế, đàn áp, bóc lột người dân thấp cổ bé miệng, đến nỗi quốc gia dân tộc mỗi ngày thêm tiều tuỵ, điêu đứng, bần cùng mãi đi mà thôi. Vì người cộng sản đã du nhập cái chủ thuyết ngoại lai từ mãi bên Liên Xô, Trung quốc vào trong nước, khơi động sự căm thù giai cấp, xử dụng bạo lực để trấn áp không khoan nhượng, không thương tiếc đối với mọi thành phần không chịu riu ríu tuân theo mệnh lệnh khắt khe cuả họ, cho nên họ đã làm tê liệt mọi ý chí, mọi sáng kiến muốn cầu tiến cuả giới sĩ phu quân tử, mà từ xưa vẫn là rường cột, là nguyên khí cuả quốc gia.
Điều tệ hại nhất mà người cộng sản đã gây ra cho dân tộc là họ đã phá đổ, triệt hạ cái nền nếp nhân nghiã, thuận hoà vốn đã ăn rễ sâu trong truyền thống văn hoá ngàn đời cuả cha ông ta đã dày công vun đắp, thì quả là “khó thương” lắm vậy đó! Đến ngay những người đã sống lâu năm tại Hanoi dưới chế độ cộng sản, mà đã phải tuyệt vọng, bó tay, không còn tha thiết gì nữa đối với chuyện cuả tập thể đất nước, và đã phải thốt ra câu nói hoàn toàn bi quan yếm thế : “Mặc kệ nó”!! Họ còn bông đùa : “Đó là chủ nghiã Mackeno”, cứ để mặc cho cộng sản chúng nó muốn làm gì thì làm. Còn chúng ông thì phủi tay, mặc kệ nó, muốn ra sao thì sao! Phải giận dỗi lắm, chán chường lắm đối với thời thế nhiễu nhương tàn tệ như vậy, mà bản thân mình lại bất lực, không làm sao lại có thể góp phần vào việc “xoay chuyển lại cơ đồ non nước mình”, thì mới có cái thái độ “buông xuôi, hờn dỗi” đến như thế được.
Nhưng mà, dẫu quê hương có tệ hại đến thế, có “khó thương” đến mấy đi nữa, thì chúng ta, những người đã phải bỏ nước ra đi để làm người tỵ nạn chính trị, cũng không bao giờ lại chối bỏ cái đất nước vốn là cuả cha ông mình để lại. Và nhất là không bao giờ bỏ được bà con ruột thịt thân thương máu mủ với mình nữa. Trong số trên 3 triệu người Việt hiện sinh sống ở hải ngoại, thì phần đông đều đã có quốc tịch cuả quốc gia mình định cư, và coi đó là “Quê hương thứ hai” cuả mình. Như vậy, thì họ vẫn nhận nước Việt nam làm quê hương nguyên thủy cuả mình, chứ không hề bao giờ lại từ bỏ nguồn gốc, cơ sở văn hóa tinh thần linh thiêng đó.
Trước đây, người viết bài này đã có dịp trình bày lập trường cuả mình với bài : “Phải giữ vững căn cước Tỵ nạn chính trị”, thì nay lại xin được ghi rõ thêm là: “Dù chúng ta đã có một quốc tịch mới cuả quốc gia đang cưu mang người tỵ nạn chính trị, thì chúng ta vẫn tự coi mình còn gắn bó, còn liên hệ thân thiết với quê hương Việt nam là nơi “chôn nhau cắt rốn cuả mình”, mà cũng là nơi “ cất giữ mồ mả ông bà tổ tiên cuả mình”. Và không một áp lực nào, một thứ cường quyền nào mà lại có thể “xoá bỏ cái hình ảnh linh thiêng cuả quê hương đất nước Việt nam trong trái tim chúng ta được”. Đất nước, quê hương là tài sản chung cuả tất cả con dân Việt nam, chứ không phải cuả riêng một ai, hay cuả một phe nhóm nào, dù họ có thần thế, có quyền lực, có thủ đoạn mưu mô đến mấy đi nữa, thì họ cũng không thể chiếm đoạt đất nước để làm cuả riêng cho phe nhóm, băng đảng cuả họ được.
Vì nước Việt nam cũng là quê hương cuả mình, nên chúng ta đều có quyền, và có cả bổn phận là phải góp phần chăm sóc, xây đắp cho đất nước cuả mình, dân tộc cuả mình mỗi ngày thêm tốt đẹp, phồn vinh hơn, nhân ái thuận hoà hơn mãi lên. Chúng ta không hề tranh giành quyền cai trị đất nước, để mà nắm giữ chức vụ này, điạ vị nọ. Chúng ta cũng không chủ trương dùng bạo lực để lật đổ chính quyền hiện đang ở trong tay người cộng sản. Nhưng mà chúng ta kiên quyết, kiên trì hỗ trợ cho công cuộc tranh đấu nhằm đòi hỏi công bằng xã hội cuả đông đảo bà con, mà hiện đang là nạn nhân khốn khổ cuả chính quyền độc đoán, tàn bạo cuả đảng cộng sản đã cướp đất, cướp nhà cửa, ruộng vườn cuả hàng triệu nông dân vô tội. Chúng ta cũng tích cực yểm trợ những chiến sĩ đang tranh đấu cho Dân chủ, Tự do và Nhân quyền cuả nhân dân Việt nam. Và chúng ta cực lực tố cáo trước công luận quốc tế những sự đàn áp, bắt giam và quấy nhiễu những công dân tranh đấu ôn hoà, bất bạo động cho nhân phẩm và nhân quyền cuả đồng bào ruột thịt thân yêu chúng ta.
Vì được sinh sống trong các quốc gia có nền dân chủ vững mạnh với nhân phẩm và nhân quyền được bảo đảm tôn trọng, nên chúng ta đều mong muốn cho bà con trên quê hương mình cũng được vui sống, được an tâm thoải mái với một chế độ thông thoáng, cởi mở và tận lực phục vụ đối với cộng đồng xã hội. Trong việc xây dựng đất nước cụ thể và thiết thực như thế, bà con ở trong nước phải đóng vai trò chủ động, chính yếu. Đó là vì ích lợi cuả chính bản thân bà con ở quốc nội mà thôi.
Chứ người ở bên ngoài nước như chúng ta, thì chỉ có thể đóng vai phụ giúp hỗ trợ mà thôi. Điều này phải khẳng định dứt khoát, chứ không có gì mà phải úp úp mở mở, vòng vo Tam quốc gì nữa.
Tóm tắt lại, người Việt nam hiện sinh sống ở hải ngoại vẫn xác định rằng: “Nước Việt nam là quê hương bản quán cuả mình”. Và mặc dầu quê hương đất nước đó thật là tiêu điều, hiu hắt do sự chuyên chế, áp bức tàn bạo cuả đảng cộng sản gây ra từ bao lâu nay, thì chúng ta vẫn một mực gắn bó sắt son với bà con ruột thịt, máu mủ thân thương cuả mình. Và từ đó mà hết lòng, hết sức góp phần hỗ trợ cho” công cuộc đòi lại quyền làm chủ vận mệnh cuả quần chúng nhân dân trong việc mưu cầu hạnh phúc cho từng thành viên và cho tập thể cộng đồng xã hội“.
Nhân dịp này, người viết cũng xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ biết ơn và tưởng nhớ đối với nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang vừa mới ra đi tại California, và nhà thơ Nguyễn Ngọc Thạch đã ra đi tại Saigon vào giữa năm 2010 , vì những đóng góp rất quý báu cho sự hun đúc tinh thần yêu nước, yêu thương dân tộc nơi tâm hồn cuả các bạn trẻ Việt nam từ mấy chục năm qua, bằng những bài thơ, bài ca nồng cháy ngọn lửa yêu thương như bài ca bất hủ này:
“Xin chọn nơi này làm Quê hương/dẫu cho khó thương”/ .
Đoàn Thanh Liêm
Phụ Lục:
Xin Chọn Nơi Này Làm Quê Hương.
Thơ : Nguyễn Ngọc Thạch (1940-2010)
Nhạc : Nguyễn Đức Quang (1944-2011)
Saigon 1966.
1/ Ta còn những người ngồi quanh đây/trán in vết nhăn
Đêm nằm nghe lòng quặn sôi lên/giữa cơn mộng lành
Ôi vì thâm tình cùng con dân/giữa khi chiến tranh
Ôi cùng đau lòng cùng hoang mang/giữa khi khó khăn.
Điệp khúc : Xin chọn nơi này làm quê hương/dẫu cho khó thương
Ta cùng lo chạy từng lưng cơm/áo che thân tàn
Khi muà mưa về cùng lem nhem/bước trên ngõ trơn
Khi dịch lan tràn cùng lo âu/trắng đôi mắt đen.
2/ Ta còn kiêu hùng vì đi xa/vẫn chưa thấy xa
Trên đường muôn vàn gặp nhau luôn/lúc vui lúc buồn
Nhưng lòng tuôn trào đày đam mê/muốn thêm bước nhanh
Như vừa lên đường còn hơi sương/vướng theo gót chân.
(Vào Điệp khúc)
3/ Ta còn những người thật yêu nhau/biết bao thiết tha
Chưa gặp bao giờ mà đã quá/uống máu ăn thề
Giam mình trong lòng thành đô kia/sống nơi ấp quê
Nhưng tình cao vời đòi yêu thương/khắp luôn thế gian.
(Vào Điệp khúc)
Đoạn kết : Xin chọn nơi này làm quê hương/dẫu đang chiến tranh
Xin chọn nơi này làm quê hương/dẫu chưa thanh bình
Xin chọn nơi này làm quê hương/dẫu đang khó khăn.
Xin chọn nơi này làm quê hương/dẫu chưa ấm êm./

Đoàn Thanh Liêm


-------------------

Tình lá nhỏ

Trúc xanh



Tin về bệnh tình, và cuối cùng, sự ra đi của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang làm tôi thấy nao nao. Tôi không biết ông, cũng không nghe nhạc của ông, ngoại trừ Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, có cả hát, lớp Nhất được cô giáo dạy cho, nên tôi chẳng có lý do gì để buồn nhưng vẫn biết có rất nhiều người buồn, những người bạn của nhạc sĩ. Điều này khiến tôi nhớ đến cha tôi.
Cha tôi là một người rất quý bạn.

Tôi không sao quên hình ảnh cha tôi và bạn ông. Đó là những ngày miền Nam còn thanh bình và tôi còn là một đứa bé gái. Chiều chiều, sau bữa cơm, cha cho tôi đi theo đến nhà bạn. Đến nơi, tôi được quyền chạy đâu đó ngoài vườn hay ngồi một góc chơi đùa, còn cha ngồi bên bàn trò chuyện với bạn. Hai người to nhỏ chuyện này đến chuyện nọ cả giờ đồng hồ, trong lời nói đôi khi có xen những tiếng không phải tiếng Việt mà tôi biết mang máng đó là tiếng Anh hay tiếng Pháp. Tôi không để ý nhiều, chỉ lo vui với trò chơi của mình thôi.

Đối với một đứa bé lên mười, được ngồi trên xe máy, phía trước, cạnh bình xăng, được nhìn cảnh vật rộng rãi lướt qua mắt, gió thổi mát rượi trên mặt, được đi ra ngoài căn nhà đông đúc anh chị em là một điều vui thú không gì bằng. Cảnh vật thoáng đãng trước mặt nhưng sau lưng là lồng ngực rộng tạo cho đứa bé một cảm giác vừa tự do vừa ấm cúng thật kỳ thú.

Thế rồi tôi lớn và hết ngồi trên xe với cha. Tôi bắt đầu đi xe đạp, bắt đầu nếm cái vị khoái trá thả dốc vù vù và tung tăng khắp các ngả đường. Tôi tìm ra những góc phố của riêng mình, tự do hơn, kỳ thú hơn cái góc phòng bé nhỏ ấm áp nhà bạn cha. Thế nhưng, trong lòng tôi vẫn dìu dịu một cảm xúc êm đềm về cái cách cha và bạn ngồi bên bàn trò chuyện với nhau. Trước mặt họ có lẽ chỉ là bình trà vì cha không uống rượu. Hình như họ có hút thuốc.
Lên trung học, tôi mê những vần thơ về tình bạn.

Hôm nay bác đến chơi nhà.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu, nước cả, khôn chài cá.
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà chửa nụ.
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.(1)


Cha quý bạn đến mức nhiều khi làm mẹ bực mình. Lâu lâu mẹ tố khổ cha với mấy đứa con, bảo rằng bạn cha có người đến nhờ đi coi cái tivi - cha vốn là thợ sửa radio, tivi - rồi bảo không có tiền sẵn, thế là cha móc túi cho mượn, và bạn không nhớ gì nữa; hay cha bỏ cả mấy tiếng đồng hồ sửa giùm bạn một cái radio trục trặc, cuối cùng không lấy đồng nào vì tìm ra nguyên nhân chỉ là mỗi cái bóng đèn nhỏ xíu, rẻ èo bị hỏng. Dĩ nhiên bạn cũng quý cha lắm , và khen anh thật giỏi, thật tốt bụng, chị thật may mắn vân vân và vân vân. Mẹ vui, ngấm ngầm hãnh diện nhưng vẫn cho rằng mình có bổn phận làm cái thắng, hãm cha khỏi đi quá đà, bị người ta lợi dụng.

Duy chỉ có một chuyện mẹ không vui chút nào. Đó là một đêm Noel nọ, cha mời vợ bạn đi ăn. Bạn cha, chồng cô ấy, là lính trận hành quân xa nhà. Mẹ bảo kỳ cục! Tôi nghe, quay đi cố dấu nụ cười và thầm ngưỡng mộ cha. Lúc đó tôi cũng hơi lớn, đủ lớn để hiểu tâm lý đàn bà. Người đàn bà cảm thấy ngập lòng lẻ loi nhưng không muốn đến nhà ai vì biết mình sẽ càng tủi thân hơn. Cha tôi giúp bạn ông an ủi vợ. Có gì không tốt?

Nhưng tôi vẫn muốn biết cha thực sự nghĩ gì khi mời người phụ nữ cô quạnh kia đi ăn tối. Có phải vì tình bạn, hay thật ra vì cái gì khác? Buồn thay, tôi không bao giờ có dịp hỏi ông về chuyện ấy. Ông đã ra đi mãi mãi trước khi tôi đủ trí khôn để thấy hết ý vị của cái hành động bị cho là kỳ cục đó.
Và người bạn lính kia của ông có trở về không? hay nằm xuống? Và rồi cha tôi thay vì đến nhà, ngồi bên bàn, thì lại đến nghĩa trang, ngồi bên mộ.
Em hãy ngồi lại đây
Phương xa tràn khói lửa
Giông bão cuốn mai ngày
Về đâu không biết nữa

Em hãy ngồi lại đây
Chiều Xuân cơn gió lạnh
Bên nấm mồ bạn ta
Hoa sầu dăm bảy cánh

Lòng anh em chẳng biết
Trăm năm còn tịch liêu
Tình anh như lá nhỏ
Rơi rụng cuối chân chiều.(2)


Nơi tôi ở có những con đường xanh ngát hai hàng cây lá nhỏ, lá me. Ôi những con đường Sài Gòn rợp lá me. Những cánh lá li ti chen nhau đan thành vòm cao lung linh nắng rọi. Gió thổi, gió rào rào bay cơn mưa xanh.


Con đường xanh ngát hai hàng cây lá nhỏ, lá me
Những ai may mắn mới có bạn, những ai sống đẹp mới có bạn, tôi nghĩ thế. Và những ai giàu sự chịu đựng lắm mới có bạn, vì khi một người bạn ra đi là dứt mất một mảnh trái tim mình.

Mỗi khi nghe tin một người ra đi được nhiều người thương tiếc lòng tôi lại dấy lên một nỗi vui ích kỷ, cha tôi không là một trong số những người ở lại và không phải chịu nỗi chia cắt đớn đau. Cha cũng sẽ không phải buồn mỗi ngày đi ra đi vào nhìn chiếc ghế trống.

Có tiếc có thương dù ngắn ngủi
Cũng đành cho gió cuốn mây trôi
Đưa tay vớt tuổi non xanh biếc
Thấy lá vàng khô sắp rụng rồi

Chỉ thương chiếc ghế còn bỏ trống
Bạn không về nữa biết ai ngồi
Biết đến khi nao mà hò hẹn
Hay là tay trắng sẽ buông xuôi?(3)


Khi nhớ đến cha, tôi vẫn ru mình trong khung cảnh êm đềm thuở nào, một đứa bé con mải chơi trong góc nhà, hai người đàn ông ngồi bên nhau say sưa trò chuyện. Và tôi cũng thấy một cảnh tượng khác, cha tôi, cũng như Nguyễn Đức Quang, gặp lại những người bạn thân thiết từng có lúc chia xa. Họ sẽ hàn huyên tâm sự biết bao điều, hay, họ sẽ ở bên nhau, chẳng nói gì, nhưng thật thanh thản.
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự
Cộng ỷ lan can khán thúy vi

Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế
Cùng tựa lan can ngắm núi mây (4)


Những người bạn, tình như lá nhỏ, mất nhau để lại gặp nhau.



(1) Bạn đến chơi nhà - Nguyễn Khuyến
(2) Chiều Xuân 1970 - Đào Trường Phúc
(3) Những chiếc ghế bỏ trống - Trần Kiêu Bạc
(4) Xuân cảnh - Trần Nhân Tông - Huệ Chi dịch


THÔNG CẢM VỚI VIỆT THƯỜNG

Không biết có phải cái bọn VC và bọn “bồi thần” (chữ dùng của sử gia Tư Mã Thiên để chỉ “bọn tay sai của lũ tay sai, bọn đầy tờ của lũ đầy tớ)” đã hết thời hay không mà sắp sửa tới “ngày oan trái 30 tháng 4” lần thứ 36 thì ông chủ Ăng-lê của đài này đã ra lệnh cắt cổ chương trình Việt ngữ trên đài này. Ai buồn vui ra sao không biết chứ tôi thì rất hoan hỉ. Lý do rất dễ hiểu là sẽ khỏi phải nghe những chuyện rất ư là chướng tai, như chuyện năm ngoái cái chương trình Việt ngữ của Bọn Bọ Chét trong đài BBC đã chọc nhột người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản bằng những bài phỏng vấn mấy tên cựu Tướng QLVNCH nằm vùng chó chết như Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Hữu Có. Đài BBC tiếng Việt đúng là “bọn bọ chét”! Năm ngoái, sau khi chọc nhột người Việt bằng bài viết mất dạy của chuẩn-tiến-sĩ “mén” Đỗ Ngọc Bích, đài này bèn chơi luôn một bài phỏng vấn anh cựu Chuẩn Tướng “già” nhưng lại “bạc đầu, đen óc” là Nguyễn Hữu Hạnh để anh tướng phản bội miền Nam này nổ bậy về chuyện Hoàng Sa. Để biết anh cựu Tướng theo Cộng vào giờ thứ 25 này “nổ bậy” ra sao, xin mời độc giả đoc bài phỏng vấn của đài BBC tiếng Việt ngày 10-5-2010, có nội dung như sau: “Khó Mà Trông Chờ Vào Người Mỹ Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh 87 tuổi, nguyên Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là 1 trong 16 nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất của miền Nam còn ở lại khi Sàigòn thất thủ tháng 4 năm 1975. Từ khi sau khi kết thúc chiến tranh, ông sống ở trong nước và sinh hoạt Mặt Trận Tổ Quốc. Đài BBC đã nói chuyện với Chuẩn Tướng Hạnh về vai trò của người Mỹ ở miền Nam Việt Nam : -Nguyễn Hữu Hạnh (NHH): Pháp đã ở Việt Nam 100 năm. Pháp đi sau Hiệp định Genève thì Mỹ lại nhảy vô. Tôi nói thật, trong tất cả các đời Tổng thống Việt Nam, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị lật đổ ngay. Ở miền Nam này, đã xảy ra không biết bao nhiêu cuộc đảo chánh - mười mấy lần chứ có ít đâu. Tụi tôi trong quân đội, học ở Mỹ, học tiếng Mỹ, đi thăm Mỹ đủ hết. Rồi tụi tôi cũng có nhiều bạn Mỹ tốt bụng, nhưng với Mỹ thì tôi vốn không bằng lòng. Thậm chí lần thăm đại bản doanh Cục Tình báo Trung ương (CIA) bên đó, thấy sơ hơn là thấy thích. Người Mỹ họ có đường lối của họ: đó là phải nắm chỉ huy ở miền Nam này. Họ chỉ huy trong mọi lãnh vực, từ chính trị, kinh tế tới ngoại giao. Mỹ nắm hết. Rồi chính Mỹ đã bỏ miền Nam . -BBC: Thưa ông, một thế hệ người VN cảm thấy rằng họ bị Mỹ phản bội và bỏ rơi. Họ sẽ nghĩ như thế nào khi chứng kiến nỗ lực của Chính phủ VN hiện tại trong quá trình thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ? -NHH: Hiện tại VN đang cố gắng thúc đẩy quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn như Trung Quốc, Nga, Mỹ… Đảng CSVN cũng đang cố gắng làm thế nào để hòa hợp với tất cả các nước. Tôi nghĩ, tôi chẳng có ước muốn gì cao hơn là làm sao để VN hoà nhập thế giới một cách tốt đẹp. -BBC: Có ý kiến cho rằng hiện nay, trong các vấn đề nóng thí dụ như bảo vệ biển đảo VN trước đe dọa của ngoại bang, thì VN phải dựa vào Hoa Kỳ, vào trợ giúp của Hoa Kỳ. Liệu ông nghĩ đó có khả thi không, thưa ông? -NHH: Mỹ cũng chỉ là một nước, một quốc gia có thể liên quan trong vấn đề này thôi. Cần phải xem lại lịch sử cái thời mà chính quyền Nguyễn Văn Thiệu làm mất Hoàng Sa (1974). Mỹ cũng ở đó, mà có giúp gì không? Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đánh nhau với Trung Quốc rồi để mất đảo như thế nào, vai trò các nước ra sao, phải xem lại. Tranh chấp biển là vấn đề phức tạp, liên quan tới nhiều quốc gia. Biển Đông chẳng phải riêng của nước nào, nhiều nước đều liên quan (chủ quyền). Trông chờ một nước giúp mình thì chắc không phải dễ. Đây cả là một quá trình tranh đấu của nhiều nước. * Nghe một ông cựu Tướng nằm vùng như Nguyễn Hữu Hạnh được chương trình Việt ngữ của BBC phỏng vấn coi vậy mà ít bực mình hơn nghe “những kẻ chàng hảng” ở Mỹ trả lời phỏng vấn của đài này. Xin mời độc giả nghe những lời “Ngư, Tiều vấn đáp” giữa phóng viên Việt ngữ của đài BBC phỏng vấn bà Ngô Thị Hiền, Chủ tịch của cái gọi là Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam . Cách đây khoảng 10 năm, khi phóng viên Việt ngữ của đài BBC đặt câu hỏi: -BBC: Bà có nghĩ rằng những người quan tâm đến dự luật hay tham gia vào vận động dự luật này tại Mỹ thì đa số những người đó đều là những người có quá khứ không thể chiụ được giữa hai cái lực… tức là vẫn có cái sự gì đó mắc víu với quá khứ. Còn những người trẻ họ có quan tâm hay không?” -Ngô Thị Hiền (NTH): Thưa anh, nếu mà nói điều đó thì hoàn toàn không đúng. Trong buổi đi vận động đông nhất trong ngày 15 tháng 7 thì rất nhiều người trẻ đã vào cuộc họp đặt vấn đề, tiêu biểu nhất là con người của chúng tôi, chúng tôi hoàn toàn chưa bị một áp chế nào, một khổ đau nào gây ra bởi chính quyền cộng sản. Chúng tôi không có con đi lính, không có chồng đi lính, không có chồng đi học tập thành ra, nếu nói vấn đề dị biệt thì có lẽ chúng tôi không có. Chúng tôi vẫn nói rằng nếu chính quyền Cộng Sản mà tốt, giúp đỡ dân, làm tốt cho đất nước thì chúng tôi sẽ là người yểm trợ hết sức mình để đóng góp một bàn tay. Thực sự những người đi ra làm công việc này phải nói rằng phần đông là những người đứng giữa, những người chỉ muốn đất nước tốt đẹp hơn. Chúng tôi cũng phải công nhận rằng cũng có một số người gọi là ghét Cộng sản vì CS đã làm thế này, thế này, nhưng thưa anh phần đông những người đó họ lại là những người không làm công việc này, họ là những người đứng ra biểu tình la… lên rằng: “Đả đảo Cộng Sản”. Chúng tôi lại là những người - phải nói rằng sáng suốt. Ngồi đó để thấy rằng chúng ta phải làm một cái gì, đi đúng đường để cho đất nước thay đổi để cho dân chúng chúng ta không còn bị quá đau khổ và bị đàn áp cho đến thế kỷ 21 này mà không có được những quyền lợi căn bản. Chúng tôi chỉ chống một chính phủ đàn áp dân chúng chứ không chống vì họ là Cộng Sản hay Quốc Gia”. Trước đó phóng viên BBC đã hỏi: trước đây khoảng 10 năm cá nhân tôi, Kiêm Ái, sau khi đọc một số bài của Nhà Báo Việt Thường, tôi đã có nhận xét về Việt Thường là một kẻ cò mồi. Sau đó, Việt Thường, qua cô/bà Hà Tiên có trả lời tôi nhưng tôi thấy không cần thiết phải đọc về Việt Thường nữa.

Gần đây, khi biết được quá nhiều người trên NET đã lên án Việt Thường là phản tỉnh cuội vì Việt Thường hô hào người Việt Hải Ngoại về ứng cử vào Quốc Hội Việt Cộng để đấu tranh tư tưởng hay gì gì đó. Tôi thấy cần phải góp vài ý mọn để quý vị trên các diễn đàn trong và ngoài nước, trước là hy vọng làm sáng tỏ sự việc hơn, hai là tỏ lòng thông cảm với Việt Thường, vì dù sao nhà báo Việt Thường cũng góp mặt trên diễn đàn. Nếu Việt Thường phản tỉnh thật qua đề nghị này hay phản tỉnh cuội cũng nên tìm hiểu “ý chí” của Việt Thường ra sao, con đường Việt Thưòng dẫn dắt người khác đi nó ra thế nào, trong hay đục, khôn hay dại, đấu tranh cho tự do dân chủ hay làm tay sai cho Việt Cộng.

Ðể vấn đề được rõ ràng hơn, tôi xin nhắc lại 2 việc cũ một xảy ra ở Nam và một ở Bắc California . Việc thứ nhất: khi ông Hoàng Minh Chính được bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi “bảo lãnh” qua Hoa Kỳ chữa bệnh ung thư tiền liệt tuyến đến thời kỳ chót. Vừa đến phi trường San Francisco, Bắc California, ông Hoàng Minh Chính đã kêu gọi Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam thả tù lương tâm, thực thi dân chủ… Rồi cũng Ông Hoàng Minh Chính, ở Nam Cali., mở một hội nghị Tiểu Diên Hồng, Bàn Tròn 3 Bên mà ông Hoàng Minh Chính là tác giả và đạo diễn. Trong đó có một bên là Việt Cộng. Mục đích kế hoạch này là soạn thảo những đề nghị lên Ðảng và Nhà Nước chính sách và các kế hoạch giúp dân giúp nước, nhưng có điều đặt biệt là đề nghị nào không được Ðảng và Nhà Nước chấp thuận thì phải làm lại hoặc hủy bỏ. Tôi có viết bài với tựa đề “Bài Toán Trừ Cần Thiết” nêu lên cái giã tâm của ông Hoàng Minh Chính khi phổ biến và cổ động cái Tiểu Diên Hồng, Bàn Tròn 3 bên này, là giúp cho Việt Cộng tự do qua Hoa Kỳ hay những nơi có người Việt cư ngụ để “tham dự Hội Nghị Tiểu Diên Hồng, và chúng ta không có quyền phản đối mà phải hoan hô họ. Hơn nữa, những đề nghị của các phần tử “Bàn Tròn Ba Bên” chỉ là làm tôi mọi không công cho Việt Cộng vì chẳng có quyền hành gì trong khi VC được quyền “phê chuẩn” hay không những đề nghị của Bàn Tròn 3 bên. Chúng ta phải trừ phe Việt Cộng ra mà chỉ còn 2 phe những nhà đối kháng trong nước và hải ngoại chống Cộng hội họp với nhau mà thôi. Còn vẫn giữ khư khư “3 bên” thì không thể thi hành được, vì như vậy là làm tay sai cho Việt Cộng. Bài viết được đăng trong tuần báo Tiếng Dân. Và sau khi báo được bỏ tại văn phòng của bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi độ 1 giờ, bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi gọi điện thoại cho tuần báo Tiếng Dân cho biết đại ý: cụ Hoàng Minh Chính và tôi đã đọc bài viết của anh Kiêm Ái, bài viết rất hay và cụ Hoàng Minh Chính muốn gặp Ban Biên Tập tuần báo Tiếng Dân, cụ hứa sẽ trả lời tất cả câu hỏi được đặt ra (sic). Khi vừa gặp chúng tôi ông Hoàng Minh Chính nói ngay: tôi công nhận Bàn Tròn Ba Bên không thể thực hiện được. Cuộc phỏng vấn của chúng tôi đã được phổ biến và báo VC trong nước có xỉ vả chúng tôi là “mấy thằng trẻ bao vây một ông già làm sao mà ông ta không nói bậy được”. Nói bậy đây là khi Kiêm Ái hỏi “cụ nghĩ thế nào về vấn đề Hồ Chí Minh sai Phạm Văn Ðồng gởi văn thư ngày 14.8.1958 cho Chu Ân Lai, chấp nhận lãnh hải do Trung Cộng áp đặt làm Việt Nam mất Hoàng Sa và Trường Sa”. Ông Hoàng Minh Chính trả lời ngay: Hồ Chí Minh có tội phản quốc, vì lúc đó Hồ Chí Minh là Chủ tịch Nước và cũng là Tổng Bí Thư Ðảng. Ông Hoàng Minh Chính tuy ra đi với sứ mạng của Ðảng giao phó, nhưng còn có chút “người”, biết chấp nhận thua khi hết đường chối cãi, nhưng vẫn bám lấy sứ mạng Ðảng giao phó. Sứ mạng của ông Hoàng Minh Chính là gồm thâu tất cả Ðoàn thể chống Cộng hải ngoại vào với các đoàn thể chống Cộng trong nước làm một và giao cho… Ðảng.

Ông Hoàng Minh Chính đã không hoàn thành được nhiệm vụ Ðảng và Nhà Nước giao phó, vì đã bị vạch mặt ngay khi vừa đặt chân đến đất Mỹ. Nhưng bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi cũng “vớt được khúc đuôi”, tổ chức truy điệu ông Hoàng Minh Chính tại City Hall của San Jose, có một đám cò ke lột chốt vừa than (khóc?) vừa xì xụp lạy như tế sao, với áo mũ có lọng vàng che bài vị, có hoa quả dâng người đã góp công lớn chém giết thường dân vô tội. Ðúng là có phước, có phần!.

Chuyện mà Việt Thường “phát minh” ra ngày nay thực sự không mới mẻ gì với dân San Jose nói riêng và Bắc California nói chung. Số là cũng trong thời gian ông Hoàng Minh Chính có mặt tại San Jose, một “thẩm quyền” Việt Cộng ở Hà Nội he hé một chút rằng có thể cho Việt Kiều về nước “tranh cử” hoặc không tranh cử cũng sẽ được dành cho vài ghế trong “quốc hội”. Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi xác nhận ông ta muốn về “ngồi mấy chỗ đó”, nhưng Việt Cộng làm lơ không còn đề cập đến nữa. Cái Việt Cộng thắng lợi ở đây là ít nhất mẻ lưới của chúng vung ra cũng bắt được một con cá, nhưng chúng không thèm và trả cá về sông!

Trước khi chúng ta kết luận “Nhà Báo Việt Thường”có thực sự có thiện chí chống Cộng hay là tay sai được Việt Cộng “nuôi 3 năm, dụng một giờ”, chúng ta lần lượt đi theo con đường NB Việt Thường vẽ ra xem sao. Ðây chỉ là ý kiến riêng của NB Việt Thường chứ không phải là tuyên bố của chính thức của VC. Nếu có người nào “ham có chức với bất cứ giá nào” mà nhảy ra hưởng ứng, sự việc sẽ như thế nào? Việt Cộng có chấp nhận hay không? Hay là làm ung thối những phần tử nghe theo Việt Thường? Chỉ việc chúng không thèm đoái hoài đến đơn từ của họ cũng đủ “giết họ không gươm rồi”, cho dù VC cứ “dần dà nọ nọ kia kia nó những vuốt râu làm bộ”, để câu giờ câu thêm mấy con cá ham mồi khác, khi đủ số rồi chắc chúng sẽ trả lời với báo chí lề phải của chúng rằng “bao nhiêu chiến sỉ lão thành cách mạng, bao nhiêu đảng viên ngày đêm phấn đấu cho Ðảng còn chưa được “Ban Tôn Giáo Tổ Quốc” giới thiệu, những người đó làm sao được giới thiệu”? Tẽn tò.

Giả dụ như VC chấp thuận cho ứng cử, quý vị bạn thân hay con mồi của Việt Thường nói những gì để vận động bầu cử đây? Không lẽ nói rằng tôi đã lìa bỏ Quê Hương lánh nạn Cộng Sản nay tôi về là để đấu tranh với Cộng Sản cho có tự do dân chủ cho đồng bào? Ðồng bào muốn có tự do dân chủ hãy bầu cho tôi? Cù Huy Hà Vũ, Phạm Hồng Sơn, Ðỗ Nam Hải và nhiều người nữa đã nói như vậy và đã bị bắt giam tính năm chứ không tính tháng, quý vị bạn thân của Việt Thường là cái ông cố hay ông nội VC nên chúng để quý vị chửi chúng mà vào Quốc Hội của chúng? Việt Cộng có ngu cũng không đến nỗi ngu tới cỡ đó! Hay quý vị bắt chước mấy tên Việt Kiều chó chết về ăn Tết mà nói rằng chúng tôi lỡ chạy theo bơ thừa sữa cặn của đế quốc Mỹ, phản bội tổ quốc nay về để đoái tội lập công với Ðảng, xin đồng bào ủng hộ cho tôi để tôi vào Quốc Hội? Nếu nói như vậy thì đích thị quý vị đó cho Nhà Báo Việt Thường là tay sai Việt Cộng 72 phần dầu rồi. Khỏi cần bàn nữa vì xem trái biết cây.

Nói đi rồi phải nói lại, cũng có khi Việt Cộng nó thấy quý vị là con mồi của Việt Thường chúng cả nể Việt Thường mà chấp nhận cho quý vị ứng cử “không có giới thiệu”, nhưng làm sao “phát biểu để vận động cử tri”? Trường hợp này, VC sẽ đưa cho quý vị bài phát biểu do chúng viết, quý vị chỉ đọc, hay chúng cho đề tài, quý vị viết và nộp cho chúng kiểm duyệt trước khi lên đọc. Gặp cảnh này có nhục không quý vị con môi của Việt Thường? Cứ cho rằng quý vị không cần vinh hay nhục, miễn là vào được Quốc Hội là sướng rên mé đìu hiu rồi, nhưng với chế độ bầu cử “gạch 9 lấy 1” quý vị có hy vọng gì? Việt Cộng hay Việt Thường có lợi gì? Có nhiều lắm, chúng sẽ khoe khoang rằng Ðảng và Nhà Nước đã ưu đãi Việt kiều, đã dành cho họ cơ hội đóng góp xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhưng qua bầu cử nhân dân ta không chấp nhận những kẻ chạy theo đế quốc Mỹ, v.v… thì đảng đành chịu thôi. Thôi thì cứ cho rằng chúng nâng đỡ quý vị để làm cò mồi cho những con cá khác, chúng cho quý vị con mồi của Việt Thường đắc cử với 99,99% đi. Khi vào Quốc Hội rồi, VC có để cho quý vị muốn nói gì thì nói, muốn chỉ trích Thủ Tướng, chỉ trích Bộ này bộ nọ, muốn sửa hiến pháp, muốn đủ thứ, phản đối kế hoạch bù xít, kế hoạch nhà máy nguyên tử v.v…hay không? Hay quý vị bước ra là có công an bảo vệ đi theo, quý vị phát biểu xong về đến nhà là có giấy triệu tập, hoặc chúng bỏ vào nhà quý vị vài cái “bao cao su đã qua xử dụng” rồi bắt quý vị, lúc đó quý vị kêu ai? Kêu tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ được không? Kêu Thủ Tướng? Ðến đây thì chỉ có “kêu trời nhưng xa”.

Không biết nhà báo Việt Thường có con đường nào khác hơn những con đường tôi đã vạch ra như trên hay chỉ có bấy nhiêu thôi thì Nhà Báo Việt Thường là tay sai Việt Cộng đúng 72 phần dầu dài đến 2 gang bàn tay.

Có nhiều độc giả đọc bài của Việt Thường gọi điện thoại đến tuần báo Tiếng Dân tỏ bày sự ngạc nhiên, tại sao Nhà Báo Việt Thường lại làm như vậy, ông ta cũng có mấy bài chống Cộng ra phết, tại sao lại “làm chuyện ngược đời” như vậy? Tôi cũng đưa ra những sự việc theo tiến trình như trên để đồng hương nhận định, tiếc thay, đa số sau khi nghe qua họ đi đến kết luận Việt Thường chưa phản tỉnh. Qua Nhà Báo Việt Thường, qua Nguyễn Minh Cần, qua Tô Hải, qua Tú Gàn, chúng ta thấy tất cả đều giống nhau một điểm cốt làm sao cho dân chúng trong cũng như ngoài nước đừng làm cách mạng. Nguyễn Minh Cần thì cho rằng đừng đùa với cách mạng, nổi dậy, Tô Hải thì cho là nhức đầu khi nghe nói chuyện hoa Lài, vì Việt Nam đã là một phần lãnh thổ của Trung Cộng, Tú Gàn thì cho rằng ai mà cầm đầu nổi dậy Việt Cộng sẽ giết, coi cái gương của ông Năm ở giáo xứ Cồn Dầu thì biết, chúng điều tra cho đến khi biết ai là thủ phạm là giết liền! Ghê quá ai mà dám đứng ra tổ chức làm cách mạng! Trong khi Nguyễn Minh Cần thì kêu gọi phải tổ chức cho chu đáo v.v… Ðảng và Nhà Nước lâm nguy! Phận làm tay sai phải hy sinh cái tôi, cái thanh danh, cái công lao tạo cho mọi người tin rằng mình phản tỉnh rồi, mình chống Cộng với quý vị, mình v.v… Nhưng khi hữu sự thì phải bỏ mình cứu Ðảng.

Ðến đây, thiết tưởng chúng ta đã đủ dữ kiện để thông cảm với Nhà Báo Việt Thường. Thân bất do kỷ, Thi hành trước khiếu nại sau là khẩu hiệu của Quân Lực VNCH, còn với Cộng Sản thì “thi hành không được khiếu nại”. Có thể Việt Thường cũng biết nói ra là bị người ta phản đối, bị người ta cho mình thiếu suy nghĩ, không tưởng, xúi con nít ăn cứt gà, nhưng lệnh là lệnh, cãi cha cãi mẹ được chứ cãi đảng là mất… chỗ đội nón. Thông cảm cho Việt Thường chứ đừng nghe Việt Thường xúi dại.

Kiêm Ái

TÌNH HÌNH NGƯỜI THƯỢNG BỊ CỘNG SẢN ĐÀN ÁP TẠI VIỆT NAM

Khánh An, phóng viên RFA, Bangkok

Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) vừa công bố bản báo cáo chi tiết về tình hình người Thượng tại Việt Nam bị đàn áp tôn giáo nghiêm trọng.

AFP photo

Một gia đình người Thượng Việt Nam vừa LHQ chấp thuận cho định cư ở Canada vào năm 2004

Bản báo cáo cho thấy tình trạng đàn áp diễn ra theo chu kỳ và ngày càng có dấu hiệu xấu hơn. Vì vậy, Tổ chức HRW đã đề nghị chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách các Quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC) về vi phạm tự do tín ngưỡng.

Báo cáo mới nhất về tình hình đàn áp tôn giáo đối với người Thượng tại Việt Nam của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) nêu lên một cái nhìn khá bao quát về tình trạng đàn áp tôn giáo tại Việt Nam trong bối cảnh một thập niên qua.

Bị đàn áp nghiêm trọng

Theo tổ chức HRW, tình hình đàn áp tôn giáo tại Tây Nguyên vẫn đang tiếp diễn và ngày càng có dấu hiệu gia tăng nghiêm trọng, đặc biệt đối với những người thuộc các giáo hội tại gia.

Ông Phil Robertson, Phó giám đốc phụ trách khu vực châu Á của HRW cho biết một phần nguyên nhân của tình trạng trên:

"Tôi nghĩ một phần nguyên nhân là do khu vực tây nguyên rất khó tiếp cận. Không chỉ đối với phóng viên mà cả với những người muốn đi tham quan ở khu vực này cũng rất bị hạn chế.

Cũng chính vì lý do báo chí Việt Nam bị kiểm soát, phóng viên nước ngoài và các tổ chức nhân quyền quốc tế bị ngăn cản đến các khu vực Tây nguyên nên những vụ việc chính quyền đàn áp, bắt giữ, tra tấn người Thượng ít được biết đến theo đúng bản chất của nó mà ngược lại, các vụ việc trên thường được biết đến dưới dạng phá bỏ âm mưu chia rẽ, kích động của “các lực lượng thù địch” hoặc âm mưu ly khai chính trị của “các nhóm tôn giáo trá hình”.

Báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết các đơn vị “An ninh chuyên trách” (PA43) và lực lượng cảnh sát cơ động của trung ương đã được điều động đến Tây Nguyên để hỗ trợ các địa phương truy bắt những nhà hoạt động người Thượng. Đối tượng bị nhắm đến nhiều nhất là các lãnh đạo hay những người Thượng tham gia vào các giáo hội tại gia. Theo quy định của luật pháp Việt Nam thì mọi tôn giáo đều phải đăng ký với chính quyền và hoạt động dưới các tổ chức tôn giáo do chính quyền chấp thuận. Tuy nhiên, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho rằng điều này vi phạm quyền tự do tín ngưỡng.

Ông Robertson cho biết thêm:

Trước đây, những vụ đàn áp thường diễn ra âm thầm nhưng bây giờ thì người ta tự tin đến độ đưa những tin tức này lên báo chí.

Ông Robertson

"Trước đây, những vụ đàn áp thường diễn ra âm thầm nhưng bây giờ thì người ta tự tin đến độ đưa những tin tức này lên báo chí. Chính vì vậy đây là lúc mà cộng đồng quốc tế cần phải lên tiếng để nhắc nhở Việt Nam rằng Việt Nam đã ký kết Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nên cần phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân. Quyền tự do tín ngưỡng này không chỉ áp dụng đối với các nhóm tôn giáo đã đăng ký với chính quyền mà còn đối với tất cả các nhóm tôn giáo khác."

Ngoài việc thống kê khá chi tiết về những vụ việc đàn áp tôn giáo ở khu vực Tây Nguyên, báo cáo của HRW còn cho biết bối cảnh lịch sử cùng với những nguyên nhân gốc rễ của tình trạng đàn áp trên. Theo đó, nguồn gốc của những vụ biểu tình của người Thượng và các đợt đàn áp của chính quyền Việt Nam trong suốt các thập kỷ qua thường có liên quan đến vấn đề đất đai và tôn giáo.

Ông Robertson cho biết:

"Một điều thú vị là rất nhiều cuộc đàn áp của chính quyền đối với người Thượng được thông báo là vì người Thượng đã gây ra mối đe dọa đối với các nông trường cao su. Rõ ràng không phải mối nghi kỵ giữa chính quyền và người Thượng chỉ có trong quá khứ mà còn đang diễn ra trong rất nhiều vụ việc liên quan đến đất đai, đến quyền tự do tín ngưỡng và việc chính quyền kiểm soát và đàn áp cộng đồng người Thượng."

Nỗi ám ảnh quá khứ

Theo Tổ chức HRW, chính mối nghi kỵ giữa chính quyền Việt Nam và cộng đồng người Thượng đã khiến cho tình hình Tây Nguyên thêm phức tạp. Chính quyền Việt Nam luôn cho rằng người Thượng theo giáo hội tại gia là những phần tử lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị. Trong khi đó, nhiều người Thượng lại không tin tưởng giáo hội Tin Lành được nhà nước cho phép hoạt động.

HKG2004082497577-250.jpg
Người Thượng chạy trốn khỏi Việt Nam đến Campuchia tị nạn. AFP photo
Trong rất nhiều vụ, chính quyền còn cho rằng những người Thượng thuộc giáo hội tại gia bị chi phối và cấu kết với các nhóm vũ trang như FULRO để chống chính quyền. Tuy nhiên, theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, không có bất cứ một bằng chứng nào cho thấy có sự tồn tại của nhóm vũ trang nào ở Tây Nguyên. Ông nói tiếp:

"Tôi nghĩ là chính quyền Việt Nam vẫn còn đang sống với quá khứ. Có thể họ vẫn còn bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi từ những thập niên 70, 80. Chúng tôi không hề thấy có dấu vết của nhóm vũ trang nào đang hoạt động trong cộng đồng người Thượng, nhưng chính quyền vẫn liên tục tuyên truyền và kết án người Thượng cấu kết với FULRO - một tổ chức vũ trang đã tồn tại vào những thập niên trước và bây giờ đã không còn nữa.

Có lẽ vì nghi kỵ mà chính quyền không tin tưởng bất cứ điều gì liên quan đến người Thượng. Còn chúng tôi thì không thấy có bất cứ dấu vết nào của nhóm vũ trang mà chính quyền nói rằng đang tồn tại ở khu vực này."

Một điểm quan trọng khác nữa trong báo cáo của HRW là tình trạng đàn áp tôn giáo đối với người Thượng đã diễn ra theo chu kỳ trong suốt một thập niên qua. Trong đó chính quyền một mặt gia tăng lực lượng đàn áp, bắt giữ, bỏ tù và tra tấn người Thượng, ép họ từ bỏ tín ngưỡng, mặt khác, đưa ra một số chương trình cải cách về đất đai, kinh tế, giáo dục nhằm xoa dịu bức xúc của họ.

Tôi nghĩ là chính quyền Việt Nam vẫn còn đang sống với quá khứ. Có thể họ vẫn còn bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi từ những thập niên 70, 80.

Ông Robertson

Thống kê của HRW cho thấy trong năm 2010 và đầu năm 2011, đã có hàng trăm người Thượng bị ép buộc phải từ bỏ đạo Tin Lành Dega. Từ năm 2001 đến nay đã có ít nhất 25 người Thượng chết trong tù và có ít nhất 250 người Thượng hiện vẫn đang bị giam giữ.

Chính vì những dấu hiệu gia tăng đàn áp tôn giáo nghiêm trọng trên, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã khuyến nghị chính quyền Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về tự do tôn giáo. Mặt khác, HRW cũng đề nghị Bộ ngoại giao Hoa Kỳ nên đưa Việt Nam trở lại danh sách các Quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC) về vi phạm tự do tôn giáo nhằm gây sức ép để Việt Nam đạt được những tiêu chuẩn trên.

VIỆT NAM: NGƯỜI THƯỢNG BỊ ĐÀN ÁP NGHIÊM TRỌNG

Ép buc t b tôn giáo, sách nhiu, bo hành và bt gi

(New York, ngày 30 tháng Ba năm 2011) – Chính quyền Việt Nam đã gia tăng đàn áp giáo dân người dân tộc thiểu số bản địa vùng Tây Nguyên, những người lên tiếng đòi quyền tự do tôn giáo và quyền sở hữu đất đai, theo một báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền mới công bố ngày hôm nay.

Bản báo cáo dài 45 trang, “Người Thượng Cơ đốc giáo ở Việt Nam: Hồ sơ nghiên cứu một trường hợp đàn áp tôn giáo,” nêu chi tiết những vụ việc đàn áp mới nhất của chính quyền đối với những người dân tộc bản địa Tây Nguyên, được gọi chung là người Thượng. Báo cáo ghi nhận những vụ công an truy bắt giữ những người Thượng đang còn trốn tránh. Hồ sơ này cũng liệt kê chi tiết cách thức chính quyền giải tán những buổi người dân tụ họp làm lễ ở nhà thờ tại gia, dàn dựng và ép buộc người dân tham gia lễ từ bỏ tín ngưỡng, và phong tỏa biên giới để ngăn chặn những người dân tị nạn chạy trốn sang Campuchia.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ghi nhận lực lượng an ninh chuyên trách (PA43) triển khai các chuyên án, phối hợp với công an tỉnh để bắt giữ và thẩm vấn những người họ nhận diện là các nhà hoạt động chính trị hay có vai trò lãnh đạo các nhà thờ tại gia không đăng ký. Hơn 70 người Thượng đã bị bắt và tạm giữ, tính riêng trong năm 2010, và hơn 250 người được ghi nhận đã bị giam giữ với các tội danh an ninh quốc gia.

“Ở Việt Nam, người Thượng phải đối mặt với sự đàn áp nghiêm trọng, nhất là những người đi lễ tại các nhà thờ tại gia độc lập, vì chính quyền không dung thứ cho những hoạt động tôn giáo ngoài tầm kiểm soát của mình,” ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu. “Chính quyền Việt Nam đã và đang gia tăng sức ép lên các nhóm tôn giáo của người Thượng với cáo buộc rằng họ dùng tôn giáo để kích động gây rối.”

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ghi nhận những trường hợp lạm quyền ở Tây Nguyên, nơi các tổ chức nhân quyền độc lập quốc tế không tiếp cận được, qua những cuộc phỏng vấn người Thượng đã trốn khỏi Việt Nam và tin bài trên báo chí do nhà nước kiểm soát ở Việt Nam.

Trong một cuộc phỏng vấn với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, một người Thượng tả lại mình bị đối xử như thế nào trong T-20, trại giam tỉnh Gia Lai, sau khi bị bắt vì tham gia biểu tình kêu gọi quyền tự do tôn giáo và sở hữu đất đai:

Họ thẩm vấn tôi bất kể giờ giấc, ngay cả giữa đêm khuya. Công an uống rượu say, đánh thức tôi dậy, hỏi cung và đánh tôi. Khi đưa ra ngoài thẩm vấn, họ còng tay tôi. Còng tay như trói, xiết rất chặt. Mỗi lần thẩm vấn họ đều tra điện. Họ dí điện vào đầu gối, nói là mày dùng chân để đi biểu tình.

Bị kết án tù năm năm vì “phá hoại đoàn kết dân tộc,” hiện ông bị mất một phần thính lực vì bị đập vào hai tai liên tiếp nhiều lần:

Họ đứng đối diên với tôi và hô “Một, hai, ba!” rồi dùng cả hai tay đánh vỗ vào hai tai tôi cùng một lúc. Họ làm như thế ba lần liên tiếp, lần cuối cùng ép rất mạnh vào cả hai tai. Máu tai máu mũi tôi trào ra. Tôi gần như bị phát điên, rất đau đớn và hoảng loạn, căng thẳng vì kiểu đánh tăng dần cường độ như vậy.

Chính quyền gọi những người Thượng tham gia các nhà thờ tại gia không đăng ký, nằm ngoài sự kiểm soát của Hội thánh Tin lành Việt Nam – miền Nam chính thức, là “Tin lành Dega,” vốn bị chính quyền coi là vỏ bọc của một phong trào người Thượng đòi độc lập chứ không phải một nhóm tôn giáo hợp thức. Luật pháp Việt Nam đòi hỏi tất cả các nhóm tôn giáo phải đăng ký với chính quyền và hoạt động dưới các tổ chức tôn giáo được chính quyền chấp thuận.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền kêu gọi chính quyền Việt Nam ngay lập tức chấm dứt việc đàn áp người Thượng một cách có hệ thống, cho phép các hội nhóm tôn giáo độc lập được tự do tiến hành các hoạt động tôn giáo, và thả hết những người Thượng bị giam giữ vì các hoạt động tôn giáo hoặc chính trị ôn hòa. Vì Việt Nam đã vi phạm tự do tôn giáo, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ đưa quốc gia này trở lại danh sách Các Quốc gia Cần Quan tâm đặc biệt (CPC) cho đến khi Việt Nam cải thiện thành tích của mình về tự do tôn giáo.

Qua nguồn tin trên báo chí chính thức của Việt Nam, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ghi nhận thủ tục ép buộc từ bỏ tín ngưỡng gây tranh cãi. Cán bộ chính quyền ép hàng trăm người Thượng Công giáo và Tin Lành tuyên bố bỏ đạo tại các buổi kiểm điểm trước dân, vi phạm các quyền tôn giáo và lương tri được quốc tế bảo vệ. Những người không nghe theo và đòi quyền tín ngưỡng độc lập phải đối mặt với nguy cơ bị đánh đập, bắt giữ và xử tù. Tòa án các tỉnh thường tổ chức các “phiên tòa lưu động” xét xử những người bị truy tố với các tội danh an ninh quốc gia trước hàng trăm người, nhấn mạnh thông điệp răn đe đừng theo các hội nhóm tôn giáo không được công nhận.

“Tự do tôn giáo không có nghĩa là tự do theo các tôn giáo được nhà nước phê duyệt mà thôi,” ông Robertson nói. “Việt Nam cần ngay lập tức công nhận các hội nhóm tôn giáo độc lập và để cho họ thực hành tín ngưỡng của mình.”

Trong khi người Thượng Tin Lành đã bị đàn áp từ nhiều năm nay, người Thượng theo Thiên Chúa giáo gần đây mới trở thành một mục tiêu, nhất là dòng Công giáo “Hà Mòn”, khởi phát từ Kon Tum vào năm 1999. Trong năm 2010, quan chức chính quyền cáo buộc những người Thượng lưu vong ở Hoa Kỳ đang lợi dụng dòng đạo nhiều tín đồ này để phá hoại khối đoàn kết dân tộc. Trong vài tháng gần đây, các buổi lễ cưỡng ép tín đồ Hà Mòn bỏ đạo và kiểm điểm trước dân được tổ chức ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk. Tại những buổi lễ này, tín đồ bị buộc thú nhận lỗi lầm và ký cam kết từ bỏ cái gọi là “tà đạo.”

“Những người dân Tây Nguyên có nhu cầu thờ phượng tại các nhà thờ tại gia độc lập đối mặt với nguy cơ bị hạ nhục trước đông người, bị bạo hành, bắt giữ, thậm chí bị xử tù,” ông Robertson nói.

Hơn 250 người Thượng hiện đang thụ án trong tù hay tạm giam chờ xét xử bị truy tố với các tội danh về an ninh quốc gia, như “phá hoại đoàn kết dân tộc.” Rất nhiều cựu tù nhân chính trị người Thượng và những người từng bị tạm giam cho biết họ bị đánh đập hoặc tra tấn tàn nhẫn tại đồn công an hay trại tạm giam trước khi xét xử. Kể từ năm 2001, ít nhất 25 người Thượng đã chết ở trong tù, trại giam hay trụ sở công an sau khi bị đánh hoặc mắc bệnh khi đang giam giữ, hoặc ngay sau khi nhà tù trả về gia đình trước thời hạn hoặc đưa đến bệnh viện.

Ví dụ về việc ép buộc từ bỏ tín ngưỡng và sách nhiễu các nhà hoạt động ôn hòa tại các buổi kiểm điểm trước dân ở Tây Nguyên trong vài tháng gần đây, do báo chí nhà nước Việt Nam đăng tải gồm có:

  • Trong tháng Mười một, năm 2010, Gia Lai, báo của Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Gia Lai, đưa tin về những hoạt động đang tiếp diễn để “Đấu tranh loại trừ Tin lành Dega” ở các huyện Ia Grai và Đức Cơ trong tỉnh Gia Lai, nơi bộ đội biên phòng tham gia triệt phá những “nhóm phản động” Tin Lành Dega ở vùng biên giới và đưa họ ra kiểm điểm trước dân.

  • Tháng Mười năm 2010, báo Gia Lai đưa tin 567 hộ dân ở huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai có dính líu tới Tin Lành Dega đã “từ bỏ” đạo, với việc ông trưởng bản hàng ngày tới vận động để 15 hộ dân trong làng cuối cùng cam kết bỏ đạo.

  • Trong tháng Chín năm 2010, báo Công An Nhân Dân đưa tin công an phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức nhiều lễ kiểm điểm trước dân ở huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Trong một buổi lễ vào ngày 29 tháng Chín, 50 người từ bốn buôn làng trong huyện Đức Cơ, Gia Lai bị gọi lên đứng trước tập thể dân trong xã để công khai tự kiểm điểm vì đã “gây rối an ninh trật tự” trong một vụ náo loạn tại nông trường cao su vào ngày 25 tháng Tám năm 2010. Sau khi thú nhận lỗi lầm, bài báo cho biết, họ cam kết từ bỏ Tin Lành Dega và các nhóm “phản động” khác.

  • Ngày 12 tháng Bảy năm 2010, báo Gia Lai đưa tin 97 hộ dân, gồm 297 người, trong hai làng Tok và làng Roh ở huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, “tự nguyện” từ bỏ đạo Tin Lành Dega.

  • Ngày 6 tháng Sáu năm 2010, trong chương trình của buổi lễ chính thức phát động “phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc” ở huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, hai người đàn ông bị đưa ra trước cử tọa để thú nhận đã ủng hộ Tin Lành Dega và các nhóm “phản động” khác, theo Đắk Nông, báo của Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đắk Nông.

Kể từ năm 2001, hàng ngàn người Thượng ở Việt Nam đã chạy sang Campuchia để tránh sự đàn áp khốc liệt của chính quyền. Tại đó, hầu hết đã được công nhận là người tị nạn và đi định cư ở Hoa Kỳ, Thụy Điển, Phần Lan và Canada.

Vào tháng Mười Hai năm 2010, chính quyền Campuchia yêu cầu Cao ủy Tị nạn Liên hiệp Quốc (UNHCR) đóng cửa trung tâm tị nạn dành cho người Thượng ở Phnom Penh. Sau khi trung tâm này bị đóng cửa vào ngày 15 tháng Hai năm 2011, những người Thượng muốn trốn tránh đàn áp ở Việt Nam càng có ít lựa chọn hơn.

“Những người Thượng sẽ còn tiếp tục trốn chạy khỏi Việt Nam chừng nào chính quyền còn vi phạm các quyền cơ bản của họ một cách có hệ thống,” ông Robertson phát biểu. “Chính quyền Việt Nam cần chấm dứt việc đàn áp này ngay lập tức.”

Xem báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, “Người Thượng Cơ đốc giáo ở Việt Nam - Hồ sơ Nghiên cứu một Trường hợp Đàn áp Tôn giáo,” tại:

http://www.hrw.org/node/97652

Để biết thêm báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về người Thượng, xem:

· Thông cáo báo chí tháng Hai 2011, Cam-pu-chia, Cần bảo đảm Quyền tị nạn của người Thượng: http://www.hrw.org/en/news/2011/02/14/cam-pu-chia-c-n-b-o-m-quy-n-t-n-n-c-ng-i-th-ng

· Báo cáo tháng Sáu 2006, “Không nơi ẩn lánh: Những đe dọa tiếp diễn với người Thượng bản địa ở Tây Nguyên, Việt Nam”: http://www.hrw.org/en/reports/2006/06/13/no-sanctuary-0; và http://www.hrw.org/en/news/2006/06/13/vi-t-nam-ng-i-t-y-nguy-n-b-ng-c-i-v-t-n-gi-o-v-ch-nh-tr

· Báo cáo tháng Tư 2002, “Người Thượng bị đàn áp: Mâu thuẫn về đất đai và tôn giáo ở Tây Nguyên”: http://www.hrw.org/en/reports/2002/04/23/repression-montagnards

Để biết thêm báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về Việt Nam, xem:

http://www.hrw.org/en/asia/vietnam; và http://www.hrw.org/en/languages?filter0=vi

Để biết thêm thông tin, xin vui lòng liên lạc với:

Ở Bangkok, Phil Robertson (tiếng Anh, tiếng Thái): +66-85-060-8406 (di động)

Ở Washington D.C., Sophie Richardson (tiếng Anh, tiếng Hoa phổ thông): +1-202-612-4341; hoặc +1-917-721-7473 (di động)

Ở London, Brad Adams (tiếng Anh): +44-20-7713-2767; hoặc +44-7908-728-333 (di động)

Bài Xem Nhiều