We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 6 April 2011

Tân Chủ Tịch đảng FDP gốc Việt Nam trong nội các chính quyền Đức

Bá Linh, 05/4/2011 - Cuối cùng sự tiên đoán và kỳ vọng vào một nhà chính trị trẻ gốc Việt Nam trong bộ máy chính quyền Đức đã trở thành sự thật.

Chức vụ chủ tịch đảng cho một đảng đang cầm quyền tại Đức là bậc thang cao nhất trong sự nghiệp của một người làm chính trị. Điều lý thú hơn nữa lại là một người ngoại quốc đầu tiên trong lịch sử nước Đức nắm giữ vị trí quan trọng này.

Ông Dr. Philipp Rösler, 38 tuổi, đương kim Bộ trưởng Y Tế, là người đầu tiên không phải gốc Đức tham gia trực tiếp vào bộ máy chính quyền Đức tại thủ đô Bá Linh từ năm 2009. Nếu nhìn trên thế giới thì ông Dr. Philipp Rösler cũng là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tham gia trực tiếp cầm quyền cho một quốc gia sở tại. Tại các quốc gia khác như Mỹ, Canada, Úc, v.v… đều có các nghị viên hoặc dân biểu gốc VN đang có sự nghiệp chính trị trong quốc hội liên bang hoặc tiểu bang, nhưng trong giới này chưa có một ai tham dự trực tiếp điều khiển guồng máy quốc gia bằng một chức vụ bộ trưởng.


Trưa ngày 05/4/2011 ông Dr. Philipp Rösler đã được ban chấp hành trung ương đảng Dân Chủ Tự Do (FDP) đồng thuận chấp nhận việc ứng cử vào chức vụ Chủ tịch liên bang FDP. Với chức vụ này theo thông lệ cho một đảng liên minh cầm quyền tại Đức thì sẽ kiêm nhiệm thêm chức vụ Phó Thủ Tướng, là người đứng thứ nhì trong nội các của nước Đức.


Ông Dr. Philipp Rösler sẽ là vị chủ tịch đảng trẻ nhất của nước Đức, cũng là vị Phó Thủ Tướng Đức trẻ nhất từ trước tới nay. Và điều ngạc nhiên và tưởng rằng không bao giờ xảy ra được tại Đức, một quốc gia khó chấp nhận bỏ phiếu ủng hộ các ứng cử viên không là gốc Đức, thì ông Rösler đang viết lên trang sử đầu tiên trong lịch sử nước Đức về việc nắm giữ chức vụ trọng yếu này trong nội các của nữ Thủ Tướng Dr. Angela Merkel.


Với tư cách Phó Thủ Tướng Đức ông Dr. Philipp Rösler sẽ trực tiếp điều khiển nội các Đức 2 lần trong năm khi nữ thủ tướng vắng mặt.


Đảng FDP tại Đức là đảng Tự Do Dân Chủ tranh đấu cho quyền tự do của mỗi người dân, nghiêng về thành phần trung lưu, tầng lớp trí thức và luôn thúc đẩy canh tân thị trường kinh tế tự do.

Cuộc bầu cử Liên Bang Đức đã được tổ chức vào tháng 9/2009 đảng Dân Chủ Tự Do FDP thắng lớn với tổng số phiếu 14,6% đạt được 93 ghể trong quốc hội. Sau 11 năm vắng mặt cầm quyền từ 1989 đảng FDP trở lại nghị trường tham gia nội các Đức với Liên Minh CDU/CSU.


Trong cuộc đàm phán liên minh nội các của 2 đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo CDU và Tự Do Dân Chủ FDP sau cuộc bầu cử Liên Bang năm 2009, tên tuổi Dr. Philipp Rösler tỏa sáng và làm cho nữ thủ tướng Angela Merkel chú ý và đề nghị ông tham gia trực tiếp nội các với chức vụ Bộ trưởng Y Tế.


Bộ Y Tế Đức là một bộ rất khó điều động để đạt hiệu qủa tốt vì chẳng lúc nào mà đủ tiền cho việc chi tiêu với mức lượng 263 tỷ Euro, đổ đồng lên đầu người là 3.210 Euro cho nhu cầu y tế trong năm. Đến nay tiền đóng bảo hiểm y tế tại Đức cho mỗi người làm việc là 15,5% của mức lương tháng chưa đóng thuế. Thuế y tế được tính như sau: người nhân viên trả 8,2% thuế hàng tháng và người chủ trả bù vào đó thêm 7,3% cho một người làm việc.


Thêm vào đó y tế Đức được bao bọc với bao nhiêu mạng lưới Lobby chằng chịt: nhà thương, nhà dưỡng lão, nghiệp đoàn bác sĩ và nhà thuốc, các đại công ty dược phẩm, công ty chế tạo dụng cụ y khoa, v.v… Nhóm nào cũng có những nhà chính trị làm Lobby cho nhóm riêng của mình.


Ai cũng nói khi dính vào bộ Y Tế thì người bộ trưởng lúc nào cũng phải tứ đầu thọ địch. Tân bộ trưởng Rösler muốn cải cách nền y tế tại Đức sau khi nhậm chức bằng phương cách giầu nghèo đều trả tiền đều như nhau thì bị chính người trong đảng liên minh chống đối kịch liệt, nhất là từ Bang Bayern với đảng CSU. Tiến trình cải cách bị ngừng trệ, từ đó mức đánh giá bản năng chính trị của ông Dr. Philipp Rösler không được lên cao trong nội các Đức khi so sánh lúc làm việc tại tiểu bang Niedesachsen.


Một sự nghiệp chính trị mới của tân Chủ Tịch đảng FDP gốc Việt Nam


Đảng Dân Chủ Tự Do FDP khi còn là phe đối lập trong quốc hội Đức trong 10 năm thì đã tạo ra được rất nhiều ấn tượng với chủ tịch đảng Dr. Guido Westerwelle, một người trẻ tài năng về hùng biện, rất cao ngạo và thủ đoạn. Phe đối lập FDP lúc nào cũng làm cho đảng cầm quyền, có lúc liên minh SPD với Grün và SPD với CDU gặp khó khăn tại quốc hội. Đại thắng của ông Dr. Westerwelle là cuộc bầu cử liên bang vào năm 2009 với số phiếu cử tri đạt cao nhất 14,6% trong lịch sử đảng FDP.

Quá tự tin chủ tịch Dr. Guido Westerwelle, 49 tuổi gây ra nhiều lỗi lầm và không giữ được chữ tín trong mùa bầu cử: Ai làm việc thì hưởng thành qủa (tiền làm ra), nghĩa là giảm thuế cho giới lao động. Nhưng sự việc không diễn ra tốt đẹp như ý muốn, nhất là đảng FDP đã thất bại nặng nề trong các cuộc bầu cử Tiểu Bang vào cuối tháng 3 vừa qua tại Baden-Württemberg (Stuttgart), Rheinland-Pfalz (Mainz) và Sachsen-Anhalt (Magdeburg).


Một điều không may mắn cho ông Dr. Guido Westerwelle vào giữa mùa bầu cử tiểu bang 2011 lại xảy ra tai nạn nhà máy nguyên tử Fukushima sau cơn sóng thần tại Nhật. Làn sóng chống đối nhà máy nguyên tử tại Đức dâng cao và đảng Xanh Grün như được chắp thêm đôi cánh cho ngày bầu cử đạt được những thành quả kỷ lục cho họ. Đảng Dân Chủ Tự Do FDP mất phiếu cử tri vào cuối tháng 3/2011 và mất cả cầm quyền tại Bang Baden-Württemberg, xấu hơn nữa FDP không vượt qua được ngưởng cửa 5% để bước vào 2 quốc hội tiểu bang Rheinland-Pfalz và Sachsen-Anhalt. Cuộc sống còn của đảng FDP đang đứng bên bờ vực thẳm nếu các cử tri cứ ngoảnh mặt quay đi trong chính quyền tiểu bang.


Điều mỉa mai chính trị cho ông chủ tịch Dr. Guido Westerwelle vì người dân không nhìn đến thành quả kinh tế to lớn của Đức sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, quốc gia này vẫn đạt đến năng xuất xuất khẩu nhất nhì thế giới, nạn thất nghiệp giảm tối đa xuống con số 7,6%, ít hơn cả con số thất nghiệp cách đây 20 năm sau thống nhất. Trong tất cả quốc gia của khối Liên Minh Âu Châu, duy nhất chỉ có nước Đức đứng vững về kinh tế hiện nay. Dân Đức không cho ông Dr. Westerwelle hưởng thành quả kinh tế hiện tại mà ngược lại còn trừng phạt ông bằng cánh không bỏ phiếu cho đảng FDP tại các tiểu bang.


Sau 2 năm cầm quyền trong nội các của nữ thủ tướng Dr. Angela Merkel đảng FDP đang tụt dốc. Chủ tịch Dr. Guido Westerwelle không tìm ra lối thoát để kiếm được phiếu của cử tri và đồng thời bị nhiều chỉ trích từ nội bộ đảng cho đến việc đòi ông không ứng cử vào chức vụ chủ tịch cho nhiệm kỳ kế tiếp vào tháng 5/2011. Đảng FDP đang gặp khủng hoảng nặng nề và họ muốn canh tân đảng với các đảng viên trẻ. Đúng ra các nhà chính trị trẻ của FDP đang cưa chân ghế nhằm lật đổ chủ tịch Dr. Guido Westerwelle.


Truyền thông và báo chí Đức trong vài ngày qua đã nhắc nhở nhiều đến ông Dr. Philipp Rösler. Tối ngày 04/4 trên truyền hình quốc gia ARD bí thư đảng FDP, ông Christian Lindner đã nhận định về ông Philipp Rösler là một „nhà chính trị xuất sắc và, hơn thế nữa đặc biệt có thiện cảm chính trị" và từ đó ông Rösler sẽ mang đến mối quan hệ lòng tin cho người dân.


Nhật báo Süddeutsche Zeitung cũng bình luận thêm: „Dr. Philipp Rösler luôn bày tỏ rõ ràng lòng ao ước của một đảng từ quần chúng để tạo ra một khuôn mặt mới trong giới lãnh tụ nhằm kết nối những người trẻ với phẩm chất“.


Cựu Bộ Trưởng Giao Thông và Kinh Tế của bang Niedersachsen, ông Walter Hirche nhận định về người kế vị Philipp Rösler vào năm 2009: „Ý tưởng bén nhọn và những lời nói chau chuốt chính là nhãn hiệu của Tân Bộ Trưởng Rösler. Sự Phân tích chớp nhoáng và cho ứng dụng nhanh chóng cũng như nhìn ra con đường mà ai cũng có thể đi được: Đó là tài năng lớn của Dr. Philipp Roesler.“




Cựu chủ tịch đảng FDP, ông Otto Graf Lambsdorff đã khen không ngớt trong bài phỏng vấn với tờ báo Handelsblatt khi được hỏi về Dr. Philipp Rösler: „Đó là một nhà chính trị trẻ sẽ mang nhiều hy vọng (Hoffnungsträger) cho đảng FDP.“


Hôm nay Đảng Dân Chủ Tự Do FDP tại Đức chọn lại lãnh tụ của đảng và đứa bé mồ côi cha mẹ từ Việt Nam khi còn bọc trong tã được nước Đức nuôi nấng tạo nên một nhà chính trị xuất sắc để đảm nhận chức vụ chủ tịch đảng FDP là ông Dr. Philipp Rösler. Ngày họp đảng FDP toàn quốc, 13/5/2011 tại tỉnh Rostock ông Rösler sẽ được chính thức bầu vào chức vụ chủ tịch và sẽ là người đứng thứ nhì trong nội các của nữ thủ tướng Dr. Angela Merkel. Đồng thời Dr. Philipp Rösler sẽ là vị chủ tịch thứ 13 từ ngày thành lập đảng FDP.


Với tài năng thiên bẩm về chính trị ông Dr. Philipp Rösler đang đạt đến đỉnh cao sự nghiệp, tuy rằng hoàn cảnh mồ côi không cho ông cơ hội tiếp cận được với nền văn hoá Việt Nam trong thời thơ ấu và trưởng thành, nhưng ông Philipp Rösler đang là một biểu tượng thành công và rất đáng quý cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại nói chung và cho riêng cộng đồng Việt Nam đang sinh sống tại Đức.


Đảng liên minh CDU trước đây vài năm cười miả mai ông Dr. Philipp Rösler thì giờ đây dưới sự dẫn dắt của tân chủ tịch đảng FDP sẽ làm cho họ phải kính trọng người gốc Việt Nam này.


Người Việt Nam sống tại Đức và trên thế giới sẽ nhìn thấy thường xuyên người đồng hương Dr. Philipp Rösler trong chính trường Đức và thế giới. Và trong tất cả các quyết định vận mạng của nước Đức cho đối nội cũng như đối ngoại tại quốc hội đều có sự hiện diện quyết định của vị Phó thủ tướng Dr. Philipp Rösler bên cạnh nữ thủ tướng Dr. Angela Merkel.

Vài hàng tiểu sử về ông Dr. Philipp Rösler


Philipp Rösler là một đứa bé sơ sinh Việt Nam sống trong một trại mồ côi công giáo. Bố mẹ nuôi người Đức đón nhận về làm con nuôi vào năm 1973 lúc còn là baby bú sữa đúng 9 tháng tuổi và đặt tên là Philipp Rösler. Trong giấy tờ em bé Philipp sinh ngày 24/2/1973 tại Khánh Hưng. Từ lúc này em bé Philipp hoàn toàn không còn quan hệ với Việt Nam và cũng không có tên Việt Nam. Philipp Rösler lớn lên trong gia đình Đức và môi trường Đức như một đứa trẻ Đức thực thụ và chưa bao giờ có cơ hội gặp người Việt Nam trong lứa tuổi thơ cho nên Philipp Rösler không hề biết tiếng Việt.

Vào năm 2006 với sự thúc đẩy của vợ, ông Rösler về thăm quê hương Việt Nam lần đầu tiên để tìm lại cội nguồn của mình nhưng không khám phá được các chi tiết liên quan vì các hồ sơ cá nhân thuộc diện con nuôi cho người nước ngoài đã bị nhà cầm quyền cộng sản VN sau ngày 30/4/1975 thiêu hủy toàn bộ.


Báo chí luôn tò mò hỏi về nguồn gốc của ông Rösler, một lần ông Rösler trả lời với phóng viên: "Nếu bạn thích, đúng! tôi là một đứa trẻ mồ côi. Rõ ràng cha mẹ tôi đã chết trong trong sự hỗn loạn của cuộc chiến tranh tại thời điểm đó, và ai đó đã đưa tôi vào một trại mồ côi Công giáo."


Khi được hỏi tên gọi Việt Nam thì ông Rösler phải thú nhận về số phận hẩm hiu của mình: „Tôi phải làm bạn thất vọng vì tôi không có tên Việt Nam.“


Theo công việc của bố mẹ nuôi người Đức Philipp Rösler phải di chuyển nhiều nơi vào thời niên thiếu trong vùng Bắc Đức như ở Hamburg, Bückeburg und Hannover. Sau bậc trung học chàng thanh niên Philipp Rösler gia nhập quân đội Đức với tương lai sẽ trở thành bác sĩ quân y. Sau chương trình học y khoa tại Hannover Philipp Rösler học chuyên khoa về mắt và trở thành bác sĩ trong quân đội Đức.

Sự nghiệp chính trị của Dr. Philipp Rösler




- Năm 1992 (19 tuổi) Philipp Rösler gia nhập vào đảng FDP của giới trung lưu tại tiểu bang Niedersachsen. FDP tuy là đảng nhỏ nhưng trong nhiều năm đã kết hợp với một trong hai đảng lớn CDU (Thiên Chúa Giáo) và SPD (Xã Hội) để điều khiển chính quyền Liên Bang Đức. Riêng tại tiểu bang Niedersachsen đã bầu lại chính phủ vào ngày 27/01/2008 và đảng FDP dưới sự dẫn dắt của chủ tịch Philipp Rösler đạt được số phiếu 8,2%. Hai đảng liên minh FDP và CDU tiếp tục đủ trên 50% số phiếu để cầm quyền cho 5 năm tới.

- 1996 (23 tuổi) Philipp Rösler trở thành một thành viên trong ban chấp hành đảng FDP của tiểu bang Niedersachsen.


- Năm 2000 (27 tuổi) Philipp Rösler đã tiến lên thật mau với chức vụ tổng thư ký của đảng FDP tại tiểu bang Niedersachsen.

- Năm 2003 (30 tuổi) tiến thêm bước nữa trong sự nghiệp chính trị Dr. Philipp Rösler được tín nhiệm vào chức vụ trưởng khối FDP trong quốc hội tiểu bang Niedersachsen. Lúc ấy đảng liên minh CDU nhìn Dr. Philipp Rösler có vẻ mỉa mai cho vóc dáng Á Châu của anh.


- Từ năm 2005 (32 tuổi) Dr. Philipp Rösler được bầu làm chủ tịch đảng FDP tại tiểu bang Niedersachsen trong một cuộc đại hội đảng tại Göttingen với đa số số phiếu tín nhiệm tuyệt đối 96%, người chủ tịch đảng trẻ nhất tại Đức từ trước đến nay khi mới 32 tuổi đời.


- Năm 2007 (34 tuổi), sau một bài phát biểu hùng hồn tại thủ đô Berlin Dr. Philipp Rösler được bầu vào ban chấp hành đảng FDP của toàn Liên Bang Đức với số phiếu thật ấn tượng 95%. Đó là sự tin tưởng không những tuyệt đối so với các ứng cử viên khác mà còn vô tình tạo ra cuộc tranh luận ai sẽ là chủ tịch đảng FDP tại Đức sau này.


- Năm 2008 (còn trong tuổi 34), dưới sự dẫn dắt của chủ tịch Philipp Rösler, đảng FDP đạt được số phiếu 8,2% trong cuộc bầu cử tại tiểu bang Niedersachsen và tiếp tục cầm quyền với đảng CDU cho đến năm 2013.


- Ngày 18/2/2009 (còn trong tuổi 35) Dr. Philipp Rösler tuyên thệ trở thành Bộ Trưởng Kinh Tế và Giao Thông, đồng thời kiêm nhiệm chức vụ Phó Thống Đốc của tiểu bang Niedersachsen, người quan trọng thứ nhì trong bộ máy cầm quyền tại đây.

- Ngày 28/10/2009 (36 tuổi), sau 8 tháng từ nội các tiểu bang Dr. Philipp Rösler tuyên thệ trở thành Bộ Trưởng Ý Tế Liên Bang trong nội các nữ thủ tướng Dr. Angela Merkel. Ông Dr. Philipp Rösler, một nhà chính trị đầu tiên mang chức vị bộ trưởng tại Đức không sinh ra trong phần đất Âu Châu, một trong những Bộ Trưởng trẻ nhất tại Đức được ghi vào lịch sử nước Đức.


Dr. Philipp Rösler đặt hạnh phúc gia đình lên hàng đầu


Với vóc dáng của một người cao 1,79 mét mảnh khảnh mặc dù luôn tập luyện thể thao nhưng Dr. Philipp Rösler là một nhân vật chính trị có tính cách quyết định mau lẹ, thực tiễn, ứng khẩu tài tình và khôn ngoan, không ngại một câu trả lời và không bao giờ chạy trốn trước một thách đố.

Cho vóc dáng Á Châu của một người gốc Việt Nam mà đạt được đến đỉnh cao trong sự nghiệp chính trị tại nước Đức thì đúng là khó khăn hơn tại các quốc gia khác, tuy nhiên đó không phải là điều trở ngại cho ông Dr. Philipp Rösler: „Tôi biết, tôi nhìn khác người Đức. Tôi có một cái mũi tẹt, mái tóc đen và đôi mắt nhỏ như tất cả các người Á Châu,“ câu trả lời rất rõ ràng cho báo chí Đức của ông về cội nguồn. Nhiều hơn nữa Dr. Philipp Rösler không có thể đón nhận được nét văn hóa Á Đông vì là một đứa con mồ côi và lớn lên với bố mẹ Đức thời còn bú sữa.


Hạnh phúc gia đình là một điều thiêng liêng đối với Dr. Philipp Rösler, khi còn ở Bang Niedersachsen năm 2009 từ sở làm về điều đầu tiên là vui sướng được thay tã cho 2 cô con gái sinh đôi lúc ấy được 4 tháng, hai cháu được đặt tên là Grietje Marie und Gesche. Người vợ Đức yêu thương tên Wiebke và cũng là một là nữ bác sĩ. Chính người vợ này đã hướng dẫn ông Dr. Philipp Rösler học giáo lý để trở thành một người Công Giáo và vị phu nhân cũng là người đỡ đầu cho ông lúc được rửa tội tại nhà thờ St. Clement, Hannover.


Điều quý báu và đặc biệt báo chí Đức có nhắc đến Dr. Philipp Rösler là người giữ đạo và xác tín với đạo mình theo (bekennender Katholik). Hôm tuyên thệ nhận chức tại quốc hội ở thủ đô Bá Linh, ông Dr. Philipp Rösler đã rõ ràng tuyên xưng với câu trả lời truyền thống Kitô về đạo: „Tôi nhận chức với sự giúp đỡ của Thiên Chúa!“ - „So wahr mir Gott helfe!“ (Chúng ta nên biết câu nói về đức tin này rất hiếm được nghe từ cửa miệng của một nhà chính trị Đức theo đảng FDP).


Ngoài ra ông Dr. Philipp Rösler còn là một thành viên cao cấp của tổ chức Trung Ương Phong Trào Giáo Dân Công Giáo Đức (Das Zentralkomitee der deutschen Katholiken).


Chủ nhật vừa qua, 03/4/2011 ai đi nhà thờ St. Joseph tại Hannover-Liste sẽ nhìn thấy đôi vợ chồng Dr. Philipp Rösler dẫn hai con gái đi nhà thờ tham dự thánh lễ, cho dù hai đứa con độ hơn 2 tuổi luôn ngồi đứng không yên nhưng ông bà Rösler vẫn thi hành nhiệm vụ trung tín của người Kitô hữu giữ lễ ngày Chúa nhật. Tấm gương này đáng cho người công giáo chúng ta noi theo. Ông Dr. Philipp Rösler chỉ về thăm gia đình tại Hannover mỗi 2 tuần một lần từ thủ đô Bá Linh vì công vụ không có nhiều thời gian. Báo chí cho biết ông sống tạm trong chiếc phòng bên cạnh văn phòng làm việc tại Bộ Y Tế ở Bá Linh.

Hà Long 4/5/2011

Phiên tòa súc vật xử con người

Ngày mùng hai Kỷ Sửu, tháng Nhâm Thìn, năm Tân Mão (1), tại đất Hà thành đã xảy ra một chuyện lạ lùng khiến cho dân chúng vô cũng hoang mang lo sợ.

Đó là chuyện Súc vật lại lập tòa án đem con người ra xét xử. Một chuyện quái đản, cổ kim đông tây chưa từng có. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại: Súc vật xử án người!

Hà thành là phủ thủ của một xứ nọ ở phương Nam. Ở đó, xưa nay người và vật vẫn sống hòa thuận vui vẻ với nhau. Vật được người nuôi nấng, yêu thương, chăm sóc. Đền đáp công ơn cho người, loài vật ra sức giúp người. Trâu bò cố cầy bừa đỡ đần tay chân cho người trong công việc đồng án. Kéo xe chở thóc lúa trên đồng ruộng. Chó trung thành canh giữ trộm đạo cho chủ nhà. Heo dê gà vịt ngỗng ngan sinh con đàn, cháu đống đông đảo để hiến thịt cho người đời chi dụng.

Bao nhiêu thế hệ đã trải qua, cuộc sống thanh bình, yên ổn giữa người và vật cứ thế mà trôi êm đềm như nước chảy qua cầu.

Bỗng dưng năm Ất Dậu, nhằm ngày Giáp Tuất, tháng 7 Giáp Thân (2) có một con Hồ ly tu luyện lâu năm ở quỉ cốc Pắc Pó thâm u, giáp vùng biên giới với Trung thổ Tàu phù, biến thành yêu tinh, đã động lòng trần tục, ham muốn sắc dục và quyền lực nên dùng bùa phép bàng môn tả đạo của mình học được ở Nga La Tư và Trung thổ, quyến rũ chiêu dụ đủ loại cầy cáo, chó sói trong rừng sâu kéo về Hà thành làm loạn.

Dân Hà thành lần đầu tiên thấy cầy cáo cheo chồn trong rừng từng bầy kéo ra phố lấy làm lạ và hiếu kỳ, bu ra đường rất đông để xem. Ai nấy cùng bàn tán, chỉ chỏ cười nói rất hài hước, vui vẻ.

Bầy dã thú cầy cáo thấy thế lại tưởng loài người hoan nghênh chào đón mình nên càng lúc càng nghênh ngang lộng hành làm điều càn rỡ theo thú tính của mình.

Việc đầu tiên là chúng xông vào các hàng bán thực phẩm ngoạm lấy thức ăn tự nhiên như “quân giải phóng SàiGòn”. Dân chúng ban đầu bất ngờ, cứ đứng đực mặt ra mà ngó,há hốc mồm ngạc nhiên. Sau thấy chúng hùa nhau tràn vào khắp nơi để cướp lấy đồ ăn của mình, xót của nên ai nấy tay gậy, tay hèo hò hét xua đuổi.

Nhưng đã quá trễ. Chúng quá đông và quá hung hăng dữ tợn và quan trọng hơn hết là chúng đã được con Hồ ly tinh huấn luyện thuần thục cách hợp đoàn từ bầy đàn thành từng tổ, từng toán để chống trả con người. Cách thức huấn luyện đó gọi là binh pháp “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” để đạt được “thắng lợi, thắng lợi, đại thắng lợi”.

Vì vậy, con người đã bị đoàn quân cầy cáo tấn công ác liệt. Chúng vừa hú, vừa hí lên những âm thanh rừng núi ghê rợn vừa nhào vào cắn xé, cào cấu dã man làm cho số người chết, bị thương vô số. Người dân quá hoảng sợ nên chạy trốn hết bỏ lại thành phố mặc cho chúng tác oai tác quái.

Đúng lúc đó, con Hồ ly tinh xuất hiện ở quảng trường Ba Đình, tự xưng mình là Giáo chủ của đảng Hộ Sản, lớn tiếng tuyên bố:

-Ngày hôm nay, ngày mùng 2 Kỷ Sửu, Tháng bảy Giáp Thân Âm lịch, năm Tân Mão là ngày độc lập, ngày súc quyền của chúng ta. Chúng ta có quyền bình đẳng với loài người. Chúng ta có quyền sũa, quyền hú, quyền hí như tiếng nói của người. Chúng ta cũng có quyền đi lại bất cứ đâu như loài người. Tóm lại chúng ta sẽ bằng con người.

Con Hồ ly tinh nói xong, bèn cong mấy móng vuốt nhọn hoắc, cáu bẩn ghét đen, giơ lên, gõ gõ vào ông nói khuyếch âm, miệng cười nham hiểm hỏi:

-Ta nói các ngươi nghe có rõ không?

Hàng vạn con cầy cáo, chồn cheo, chó sói, chó rừng, mèo hoang phía dưới đồng rập tru lên chói lói bằng đủ loại âm thanh ồm oàm, the thé, khẹc khẹc… vang trời, dậy đất.

-Rõ! Rõ!

Thế rồi chúng công kênh con Hồ ly tinh đi khắp Hà thành. Chúng vừa đi vừa hô vang những câu khẩu hiệu nghe rất chướng tai:

-Hồ giáo chủ thần thông quảng đại muôn năm!

-Hồ giáo chủ oai trấn bốn phương! Muôn năm!

-Hồ giáo chủ chí thành thông thánh! Sống mãi trong sự nghiệp chúng a!

Có một con sói già đầu đàn được tiếng là thơ hay, chuyên môn theo bợ đít Hồ ly tinh, được đám cầy cáo trong “Hội súc văn” cung kính kêu là “Tứ Thiện đại thi hào”, bắt chước cách nịnh hạ cấp nhưng rất vừa ý chủ nhân của tên Phong Bá Ác trong truyện Thiên Long bát bộ của tác giả Kim Dung bên Đài Loan, nịnh bợ Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu, lớn tiếng hô:

-Hồ giáo chủ võ công cao cường, đánh rắm một phát, thúi bay khắp nơi!

Thấy câu lạ và hay, đậm đà bản sắc điếu đóm nên mọi người bỏ hết những câu hô cũ, sáo mòn, rỗng tuếch trước kia, chỉ hô vang câu “Hồ giáo chủ đánh rắm” không mà thôi. Khẩu hiệu này được một số đông “giới khoa bảng người” Hà thành quì gối xưng tụng ngày đêm để kiếm cơm “bao cấp”.

(Mãi về sau, tới đời hậu duệ thứ năm, thứ sáu của Hồ ly tinh là Nông Mạnh, Lú Trọng…câu khẩu hiệu này được nâng lên hàng tột đỉnh, trang trọng gọi là “đỉnh cao trí tuệ loài súc vật” . Và được tôn kính thành giáo điều trong chương trình giáo dục, gọi là “Tư tưởng Hồ giáo chủ”. Sách“tư tưởng” được in ra hàng triệu cuốn, buộc toàn dân học tập để thấm nhuần “cái rắm” của Hồ giáo chủ.)

Kể từ đó, người xứ Nam, phía Bắc vốn hiền lành lại thân cô thế yếu đành phải bấm bụng nuốt hờn, ngậm nhục sống dưới nanh vuốt của loài dã thú. Có lúc dân xứ này uất ức, tủi nhục quá cũng vùng dậy vài nơi để phản kháng, đánh trả nhưng tay không làm sao địch lại với răng nanh và móng sắc của chúng. Vả lại chúng luôn luôn đi thành bầy, thành đàn để trấn áp con người vốn dĩ là ô hợp và rời rạc, ít chịu đoàn kết một long với nhau và nhất là nỗi sợ hãi luôn đè nặng trong đầu nên dễ dàng bị bọn súc vật đàn áp.

Cũng đã có mấy người trí thức có lòng tự trọng và liêm sĩ không chịu quì gối để được ăn cơm thừa cá cặn do bọn dã thú bố thí cho, hợp nhau viết văn, làm thơ nói xa gần, bóng gió chỉ trích cách hành xử phi nhân của Hồ Giáo chủ. Chẳng được bao lâu, nhóm người này đều bị “Đại thi hào Tứ Thiện” mật tâu lên Hồ Giáo chủ, gán tội cho bọn họ là “Nhân văn giai phẩm phản động” để được xin làm chức “cai thầu văn nghệ” ra tay trừng trị. Hồ ly tinh nghe thế lấy làm kinh sợ và ra lệnh cho Tứ Thiện toàn quyền “tiền trảm hậu tấu”. Nhóm “Nhân văn” này, ai theo xu phụ với “Đại thi hào Tứ Thiện” ca tụng thơ văn của ông ta kiểu thơ nâng bi như: “Thương cha thương mẹ thương chồng. Thương mình thương một, thương ông Xít Ta Lin thương mười” thì được ưu ái cho ăn “bao cấp”. Ai trái ý, không hùa y ta theo đều bị hắn cắn chết hoặc đọa đầy nơi trại tập trung cho đến chết.

Mặc dù đảng Hộ Sản của Hồ Giáo chủ qui tụ chỉ có một thiểu số chừng ba triệu con cáo cầy hôi hám sống giữa 80 triệu dân nhưng chúng luôn luôn kết thành một khối có sức mạnh hung hãn để trấn áp loài người. Đôi khi chúng cũng cắn nhau kịch liệt, có khi sứt tai, u trán, để dành ăn nhưng cần đối phó với người thì chúng luôn quây quần, đoàn kết làm một. Đó là ưu điểm của chúng hơn hẵn loài người. Hơn nữa, chúng còn có sự yểm trợ chống lưng tích cực của Đại Kim mao Sư vương ở xứ Nga La Tư và Đại Mãnh sư ở Trung thổ. Mỗi khi có biến ở nước Nam, hai con Sư tử và Cọp vằn này đều xua bầy đàn của mình sang giúp sức nên loài người phương Nam đành bó tay chấm cơm.

Sau một thời gian trị vì, bọn súc vật này chỉ biết ăn chứ không biết làm. Ba triệu con vật cứ nằm ỳ ra, ăn không thôi, lại ăn tạp như hạm, núi cũng phải lở. Thực phẩm cạn dần. Chúng bắt đầu lo lắng. Ban đầu chúng sợ người dân mang thức ăn đi cất giấu nơi khác nên chúng ra lệnh cấm di chuyển lương thực từ nơi này đến nơi khác gọi là chính sách “ngăn sông cấm chợ” để địa phương “tự túc tự cường”. Thực ra đó là cách chúng kiểm soát kinh tế. Chúng bèn kêu mấy tên thi nô làm thơ văn để hô hào người dân đi làm ra của cải, lương thực cho chúng hưởng thụ.

Đại thi nô Tứ Thiện nghĩ ra khẩu hiệu “Lao động là vinh quang”, “Thi đua lao động là yêu nước”. Thằng bồi bút Hoàng Trung Thông còn sắc sảo, ác liệt hơn, làm thơ: “Bàn tay ta làm nên tất cả! Với sức người sỏi đá cũng thành cơm!”. Thế là sau đó, hàng triệu người dân thành thị bị bọn dã thú lùa lên núi rừng để làm “sỏi đá thành cơm” cho chúng.

Tiếng kêu than ai oán của lê dân bay lên tận trời xanh biến thành mây máu làm mưa tanh trong suốt nhiều năm dài.

Với phản ứng tiêu cực của nhân dân, không tích cực “lao động là vinh quang” như chúng mong muốn, các “hợp tác xã”, các “công trường” dần dà trở thành hoang phế. Lương thực sản xuất không đủ cho chúng đớp hít. Đói quá, sắp kiệt quệ tài nguyên, sắp kiệt sức, tàn hơi, đang đứng bên bờ vực thẵm của hố sâu Hộ Sản, chúng vội vã mở cửa kêu gọi bọn “tư bản bóc lột” vào cứu đói, giảm nghèo”.

Ban đầu, bọn tư bản bóc lột thấy bọn chúng là dã thú nguyên thủy trên rừng rú nên không dám làm bạn. Biết thế, bọn Hồ Cáo bèn ăn mặc như người. Cũng áo sống, giầy da, cà la oách. Đeo cả mặt nạ da người để cải trang làm người và tập nói tiếng người. Nhưng cái đuôi cáo thì không làm sao giấu được. Nó cứ thập thò ló ra sau đít mỗi khi chúng thu được lợi lộc.

Chỉ chừng ấy ngụy trang giả dạng mà chúng cũng lừa được bọn tư bản ngu ngơ, ngờ nghệch, đổ tiền vào nuôi chúng ngày càng phởn ra, mập thây. Đứa nào cũng bụng phệ, nhà lầu, xe hơi xịn, gái gú rượu chè ngập mặt.

Có kẻ thức giả, biết việc trắng đen, mặt sấp mặt ngữa của cuộc trao đổi ma quỉ giữa bọn súc vật và tư bản than rằng:

-Chớ thơ ngây mà bảo rằng bọn tư bản là ngờ nghệch mà lầm. Bọn này duy ý chí là lợi nhuận. Chổ nào mang lại lợi nhuận là chúng nhào vô mặc dù là nơi bẩn thỉu hay phi nghĩa. Chúng biết tỏng bọn súc vật là loài dã thú chẳng hay ho gì nhưng bọn thú này đem lợi nhuận cho chúng thì chúng cứ bắt tay, dù là bàn tay lông lá của loài cáo chồn, chó sói. Bàn tay này đã dâng cho chúng tài nguyên, đất đai, nhân công rẻ mạt trong nước…

Còn bọn dã thú thì chủ trương “sống chết mặc loài người chúng bay, tiền tao bỏ túi” cái đã, nên đàn bà con gái là món hàng chúng xuất khẩu ra nước ngaòi làm đĩ vô tội vạ. Đàn ông thanh niên đẩy đi khắp thế giới bán thân làm nô lệ để chúng thu đô la. Chỉ riêng hai món hàng không vốn đầu tư này chúng cũng vét hàng năm nhiều tỉ đô la để chia nhau xây hang ổ biệt thự, sắm xe hơi và gửi giấu khắp ngân hàng thế giới để phòng hờ thân ngày chạy trốn.

Nói tóm lại cả hai “thằng lăn dưa gặp thằng đá cá” đều cùng có lợi. Chỉ khổ tội cho dân lành ngày càng đói nghèo xơ xác.

Trở lại chuyện bọn súc vật lập toà án xử người ở đất Hà thành tháng Nhâm Thìn, năm Tân Mão.

Nguyên, có thanh niên họ Cù thuộc con nhà dòng dõi, tài cao, học rộng, đậu bằng tiến sĩ luật tận xứ Phá Lang San, có người cha vốn xưa cũng là thi sĩ, thơ hay có tiếng, đã lầm đường, một thời đi theo Hồ Giáo chủ, cúc cung phục vụ cho hắn, nay họ Cù này muốn làm một việc ích nước lợi dân, trước để chuộc lỗi cho cha, sau để gióng lên tiếng nói phản kháng mạnh mẽ chế độ súc vật.

Họ Cù đã hai lần gửi đơn kiện tên Tể tướng Tưởng Thú về tội bán đất Tây nguyên cho ngoại bang và tội cấu kết với bè đảng để tham nhũng tiền bạc của nhân dân lên đến 80 ngàn tỉ đồng chỉ trong một vụ có tên là “Con tàu chìm”. Và công bố ra bên ngoài thế giới nhiều tội ác khác của đám súc vật là đã hà khắc, tước đoạt quyền làm người của loài người, bắt người phải thành súc vật với khẩu hiệu áp đặt là “Xuống hàng chó ngựa”, viết tắt 4 chữ là XHCN.

Bọn súc vật đã bắt thanh niên họ Cù này đem giam mấy tháng để hành hạ cho đã nư và cuối cùng lập toà án giả cầy (chó giả người) để kết án thanh niên này che mắt thế giới rằng súc vật cũng có công lý.

Trước ngày xử án, chúng cho đám bồi bếp loa truyền rằng sẽ xử công khai, công bằng để lừa bịp thế giới. Đến ngày xử, chúng bảo phòng xử quá chật nên chỉ cho vài người vào phòng xử. Số ghế còn lại chúng cho cáo, cầy, chó sói, mèo hoang vào ngồi cho kín.

Ngoài đường, cách toà án nửa cây số, chúng rãi ba ngàn con chó sói, chó rừng, chó hoang và vô số cầy, cáo, mèo hoang đeo băng đỏ ở chân, ngăn chận “người” không được đến gần để xem bọn chúng xử án.

Buổi xử án, một vụ án mà thế giới đánh giá là có tầm quan trọng lịch sử, chỉ diễn ra có nửa ngày. Trong buổi xử, Chánh án là hiện thân con rùa đen rụt cổ, không hiểu và nói được tiếng người. Năm vị luật sư bào chữa cho bị can họ Cù yêu cầu Tòa cho xem bản cáo trạng kết tội phạm nhân. Con rùa đen không hiểu ý luật sư yêu cầu nên cứ ngúc nga, ngúc ngắc cái đầu rùa trọc lóc suốt cả buổi. Năm luật sư chán quá nên bỏ ra ngoài phòng xử để khỏi mất thì giờ. Trước vành móng ngựa, còn trơ lại một thanh niên họ Cù đang hiên ngang dùng tiếng nói dõng dạc, oai hùng của mình để phản bác những lời kết tội vô cớ, vô lý của đám súc vật. Họ Cù nói:

-Tôi không nhận tội khi Tòa bảo rằng hai cái bao cao su chơi gái có thể làm hại cho chế độ, hại cho đất nước.

Quan toà rùa đen ú ớ nói ngọng, cãi chầy, cãi cối:

-Bao cao su đã dùng rồi, chất nhờn trong bao để quá hai ngày có thể làm ung thư miệng của Tổng bí thư đảng Nguyễn Lú Trọng kính mến và Tưởng thú Ba Dũng kính mến, mỗi khi hai Ngài này thổi nó. Hai Ngài đứng đầu một nước mà bị bệnh thì lấy ai trị vì đất nước? Không phải là đất nước lâm nguy không? Không phải bị can đã có mưu đồ lật đổ chế độ à ?

-Chuyện hai ông đó thích thổi bao bao su đã dùng rồi thì có can dự gì đến tôi nếu như họ không tịch thu và thích thú chuyện thổi bao cao su?

-Hỗn! Dừng ngay! Dừng ngay! Hãy nghe Toà tuyên án đây!

Đoạn, quan toà rùa đen rút trong túi áo ra một tờ giấy đã đánh máy sẵn, đeo mục kính vào mắt rồi hắng giọng đọc. Tiếng đọc nghe rin rít như rùa gầm trong miệng lẫn lộn tiếng người ngô ngọng:

Hội đồng xét xử xác định hai bao cao su đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cù Huy Hà Vũ cấu thành tội "Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo quy định tại Điều 88, Khoản 1, điểm c - Bộ luật hình sự: Hội đồng xét xử nhận định vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Cù Huy Hà Vũ là nguy hiểm cho hai lãnh đạo tối cao, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân. Song, xét gia đình bị cáo là gia đình có công với đất nước, nên Hội đồng xét xử coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại Điều 46, khoản 2 - Bộ luật hình sự. Sau khi cân nhắc các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Cù Huy Hà Vũ mức án 7 năm tù giam thay vì 12 năm (thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam 5/11/2010); phạt quản chế tại địa phương nơi bị cáo cư trú 3 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù”.

Tiến sĩ Luật sư Cù Huy Hà Vũ khi nghe xong lời kết án đã hiên ngang ngẫn mặt lên cười ha hả:

-“Tổ Quốc và Nhân dân Việt Nam sẽ phá án cho tôi, công dân Cù Huy Hà Vũ”.
Liền khi ấy một con sói rừng hộ pháp đứng sau lưng họ Cù đã giơ bàn tay lên bịt miệng thanh niên này không cho nói. Hai con sói khác nhảy xổ vào còng tay anh lại, hối hả dẫn ra khỏi phòng xử.

Hai đại diện truyền thông Châu Âu, phóng viên Hoa Kỳ AP được phép dự phiên toà ở phòng bên cạnh nhưng không được phép mang theo thông dịch viên nên không hiểu phiên toà nói năng những gì, chỉ nhìn màn mình và chuyển ra thế giới bên ngoài bản tin như sau:

“Phiên toà kỳ khôi, hoang dã, đạt mức kỷ lục về phi pháp; đó là những kỷ lục trên các mặt: xử nhanh nhất, bị cáo tuy không bị bịt mồm nhưng không bào chữa cho mình được câu nào, luật sư có 4 người đều bị câm như hến, tuyên án rất nặng mà không có dẫn giải vì sao lại nặng đến như thế trong khi bị cáo không hề có hành động gì, chỉ toàn quan điểm, ý nghĩ trong đầu óc”.

Trang Bauxite Việt Nam bình luận: "Quàng một cái án thất nhân tâm lên cổ người khác, trong khi có hàng trăm bó hoa tươi của nhân dân đón đợi ông Vũ ở ngoài đường gần Tòa án bị lực lượng cảnh sát chăng dây cấm cản, xô đuổi giải tán, thế mà gọi là “nhận án” ư?"

Theo báo An Ninh Thế giới thủ đô hà thành tiết lộ, sau kỳ xử án này, chánh án rùa đen Nguyễn Hữu Chính, Chánh tòa Hình sự, TAND TP Hà Nội, sẽ được thăng lên chức Chánh án Tối cao TAND TP Hà Nội.

Chúc mừng rùa đen Nguyễn Vô Chính và Hữu Tà phen này tha hồ cơm no bò cỡi nhé!

Dân tộc xứ phương Nam đã bị lũ súc vật này cai trị và hành hạ suốt hơn 65 năm bằng luật rừng hoang dã. Tuy nhiên, dẫu hung ác và tàn bạo đến đâu chăng nữa, chúng vẫn lo sợ loài người vùng dậy xử giảo bất cứ lúc nào. Không đêm nào chúng được an giấc, luôn phập phồng, hồi hộp lo sợ. Càng lo sợ, chúng càng ra sức sua chó dữ ngày đêm lùng sục, bắt bớ cắn xé những ai có hành động cử chỉ chúng cho là phản lại chúng để được có cảm giác an toàn.

Lũ chó săn, chó sói được Triều đình súc vật nuông chiều, ưu đãi đã kiêu căng hống hách, trở thành kiêu binh, tha hồ tác oai, tác quái, muốn đánh hoặc giết ai tùy thích mà không ai có thể can ngăn hay trừng trị được nữa. Chỉ còn trông chờ một sức mạnh đối kháng duy nhất trị bọn chúng là Quân đội. Nhưng than ôi! Cái gọi là “Quân đội Nhân dân anh hùng” ngày xưa, nay chỉ là một đám quân chết nhát, run sợ trước bọn Tàu phù và run sợ cả những con chó săn mặc áo vàng trong nước nữa.Người dân đã vô cùng tuyệt vọng với đám “Quân đội hèn nhát”này lắm rồi.

Một đất nước khi không còn pháp luật, kỷ cương, luân thường đạo lý để làm giềng mối an dân trị nước mà chỉ trông cậy vào sức mạnh súng đạn và sự đàn áp hung hăng của lũ chó săn thì nước ấy đã đến ngày tiêu vong.

Xưa, vua Ý Công nước Vệ đời Xuân Thu nuôi chim hạc để vui chơi, đãi ngộ chúng, cho ăn lộc còn hơn cả chức quan Đại phu, rất hao tốn công quĩ. Sau quân Bắc Địch đem quân xâm lấn, người trong nước không ai chịu ra lính để ngăn giặc. Và bảo vua cứ xua chim hạc ra trận. Vua Vệ Ý Công thất trận, bị chết trong đám loạn quân, nước Vệ bị quân Bắc Địch tàn phá.

Chuyện Vệ Ý Công nuôi chim hạc là cái gương cho Triều đình súc vật Ba Đình soi lại cốt thú của mình để thấy cái đại họa mất nước trước mắt.

Nguyễn Thanh Ty

Boston, ngày 4 tháng 5 năm 2011

Người Hùng Chống Độc Tài

Đảng Nhà Nước CSVN nói chung quá coi thường công luận, Thủ Tướng CSVN Nguyễn tấn Dũng nói riêng giận quá mất khôn đã vô tình và gián tiếp phong “dũng sĩ chống độc tài” cho Luật sư [Ls] Cù Huy Hà Vũ.

Đảng Nhà Nước dùng luật rừng bắt giam, truy tố và kêu án Ls 7 năm tù ở và 3 năm quản thúc. Ls nói một câu để đời, Tổ Quốc, Nhân Dân sẽ phá bản án này. Một bản án của Đảng Nhà Nước CS độc tài toàn trị đàn áp người dân yêu nước, thương dân, muốn có tự do, dân chủ cho mình và cho đồng bào mình.

Thực vậy, CS Hà nội tưởng dễ ăn dự định dùng luật pháp để diệt một luật sư trong phong trào trí thức VN với nhiều luật sư dùng hiến pháp và luật pháp hữu danh vô thực của CS như gậy của CS để đập CS.

Còn Thủ Tướng Chánh phủ của CSVN Nguyễn tấn Dũng quá tức muốn “ăn tươi nuốt sống” Ls Cù Huy Hà Vũ dám lần đầu tiên đưa đơn kiện thủ tướng mà cá nhân Ông là người phải chịu trách nhiệm về hợp đồng cho Trung Cộng khai thác bauxite và ra lịnh cấm không cho Dân Oan dân khiếu kiện tập thể vì bị cuớp đất đai do nhà nước qui hoạch, trả rẻ mạt như giựt khiến dân tranh đấu thành phong trào người trong nước gọi là Dân Oan.

Nên Đảng Nhà Nước và TT Dũng phạm sai lầm trầm trọng. Đảng muốn chứng tỏ cho những người trí thức trẻ chống Đảng, Đảng sẽ trừng trị tối đa, không nương tay.

Bất cứ ai động tới quyển uy tam độc, độc tài, độc đoán, độc tôn của Đảng thì Đảng Nhà Nước sẽ diệt. Kể cả Luật sư Cù Huy Hà Vũ là con trai của một đại quốc công thần CS là Cù Huy Cận và con nuôi của một người Cộng sản Miền Nam (gốc Cần thơ) theo đảng hồi còn đi học và là nhà thơ nổi danh thời tiền chiến.

Nhưng Đảng Nhà Nước và Thủ Tướng Dũng sai lầm không thể sửa chữa được trước công luận quốc nội và thế giới. Vụ dàn dựng để bắt bớ, truy tố, kêu án Ls Cù Huy Hà Vũ 7 năm tù ở và 3 năm quản thúc về cái tội gán ghép gọi là tuyên truyến chống phá nhà nước đã phơi bày rõ CS Hà nội xài luật rừng.

Theo tường thuật của nhiều nguồn tin,thủ tụïc tố tụng không đúng. Một luật sư bị chánh án mời ra ngoài và ba vị khác phản đối bỏ ra vì chánh án vi phạm thủ tục trưng bằng cớ. Thân nhân Ls bên nội, ngoại bị cấm vào, trừ người vợ dù theo tuyên bố đây là phiên toà xử công khai. Chánh án luôn cắt lời Ls theo tường thuật của bà vợ. Nhưng Ls Cù Huy Hà Vũ cũng nói kịp một câu để đời, “Tổ Quốc, Nhân Dân sẽ phá bản án này”.

Giữa lúc phong trào cách mạng Hoa Lài người dân Bắc Phi, Trung Đông đứng lên biểu tình, tranh đấu, chiến đấu cho tự do, dân chủ, vụ Ls Cù Huy Hà Vũ trở thành một thời sự quốc nội và quốc tế tai hại cho cho CS Hà nội.

Không biết bao nhiêu thông tin nghị luận trên Internet tạo thành một làn sóng tranh luận sôi nổi về quyền tự do ngôn luận, về Hiến pháp, về pháp luật... ở Việt Nam.

Hơn ba trăm người ký thỉnh nguyện thư trong đó có nhiều người từng có vai vế trong Đảng Nhà Nước, yêu cầu Đảng Nhà Nước trả tự do cho ông, khẳng định Ls là «một người yêu nước, thương nòi. Những phát biểu, việc làm của ông thực tế là một tấm gương điển hình cho mỗi công dân Việt Nam. Đó là một việc làm vô cùng hữu ích trong tiến trình xây dựng một chế độ pháp trị trong xã hội ta ngày nay mà không phải ai cũng làm được.»

Nhiều nhân vật trong Đảng CS bằng mặt mà không bằng lòng mà không nói ra vì cách đối xử với một người con của một đại gia đình cách mạng.

Chính báo của Đảng Nhà Nước, tờ An Ninh Thủ Đô ngày 27/3 vừa qua, khi đưa tin về việc phiên xử, cho biết sẽ có năm luật sư tham gia bào chữa cho ông Cù Huy Hà Vũ. Tờø báo nhấn mạnh: «rất ít khi có một phiên tòa mà nhiều luật sư tham gia bào chữa cho một bị cáo như vậy».

Trên Internet người dân gọi nhau tập hợp đông đảo đúng ngày xử ông Cù Huy Hà Vũ. Có lẽ vì lời kêu gọi đó mà CS bối rối phải dời ngày xử lại.

Trên phương diện quốc tế, ở VN chưa có vụ án nào thu hút dư luận quốc tế và quốc nội như vậy. Tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch có trụ sở tại New York yêu cầu nhà cầm quyền trả tự do cho «nhà đấu tranh bảo vệ văn hóa, môi trường và nhân quyền nổi tiếng nhất của Việt Nam» này.

Luật sư Nguyễn Xuân Phước ở Hoa Kỳ đại diện đệ đơn khiếu nại lên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.

Báo chí quốc tế chê CS Hà Nội thậm tệ. Trước phiên xử, Báo New York Times, lớn hàng dầu và uy tín hàng đầu ở Mỹ số ngày 03/04/2011, đi tựa: Lời kêu gọi của một nhà tranh đấu cho dân chủ thu hút một sự ủng hộ rộng lớn chưa từng thấy của công luận.

Báo này nhắc lại lời của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, trong chuyến qua Hà Nội dự Hội nghị Thượng đỉnh Bắc Á, hồi tháng 10 năm ngoái là «Hoa Kỳ vẫn quan ngại về các vụ bắt bớ và xử án những nhà ly khai tranh đấu một cách ôn hòa, gây khó khăn cho các cộng đồng tôn giáo, kiểm soát tự do internet và đối với những người dùng blog».

Nhựt báo tài chính Mỹ Financial Times đi tựa, bản án nặng nề cho nhà đấu tranh trong bối cảnh trấn áp tại Việt Nam cho thấy CS Hà nội không chấp nhận bất kỳ một tiếng nói phê phán nào vào lúc mô hình kinh tế của Việt Nam đang phải đối phó với những khó khăn nghiêm trọng.

Nhựt báo The Guardian của Anh nhận định VNCS không chấp nhận bất kỳ một thách thức nào đối với hệ thống độc đảng, nên truy tố Ls về tội «tuyên truyền chống nhà nước » vì Ls chủ trương một chế độ đa đảng.

Đảng Nhà Nước quá coi thường công luận quốc nội và quốc tế, Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng quá giận dữ một người dám chống cá nhân Ông nên mất khôn. Cả hai dàn dựng quá dở, thái độ và hành động hung hăng, càn bướng, bất chấp công luận như chế độ côn đồ (rogue). Nên vô tình biến Ls Cù Huy Hà Vũ trở thành người hùng chống độc tài. Ls Cù Huy Hà Vũ càng nổi hơn trong khi làn gió cách mạng của người dân ở Bắc Phi và Trung Đông đứng lên lật đố độc tài đang lan sang Việt Nam./.

( Vi Anh)

----------------

Cáo

Phiên tòa súc vật xử con người
Condom vừa mới "bu cao" (đã xử dụng qua)
Công An (VC) dùng nó làm rào bảo an
Bảo vệ cái đảng sói lang (đảng VC)
Trùm đầu đảng trưởng (Bác Hồ) lúc đang "chồn lùi".

Nhớ tới công đức dựng nước của Tiền-Nhân Và Lá Quốc Kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ VN, Thắm Đầy Huyết Lệ

Quốc Hận 30-4-2011:

Nhớ tới công đức dựng nước của Tiền-Nhân Và Lá Quốc Kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ VN, Thắm Đầy Huyết Lệ


Nếu tính từ thời các vị vua Hùng dựng nước cho tới ngày nay, sinh mệnh của dân tộc Việt đã có hơn mấy ngàn năm lịch sử. Để có được một giang sơn cẩm tú đẹp đẻ như hiện tại, tổ tiên ta bao đời đã không ngừng dùng máu nước mắt và thân xác, tranh đấu dũng liệt để ngăn chận, chống lại ngoại xâm, nhất là giặc Tàu phương Bắc. Nhờ vậy dân tộc Hồng Lạc mới được trường tồn

Ngày 30-4-1975, cọng sản quốc tế Hà Nội vào Sài Gòn, gây nên một cuộc đổi đời mạt kiếp, tồi tệ và kinh hoàng nhất qua các thời đại lịch sử, không thua gì 10 thế kỷ Bắc thuộc hay 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ. Ba mươi sáu năm qua, cuộc sống của người nghèo cả nước vẫn không có gì thay đổi dưới sự cai trị của một chế độ toàn trị bạo tàn, vẫn cướp bốc giết người, đàn áp tôn giáo, trả thù người sống không thuộc băng đảng phe nhóm.

Cũng vẫn cầy mồ dầy mã người chết, mà điển hình là Nghĩa Trang Quân Đội VNCH Biên Hòa. Nhưng tệ mạt hơn hết là Việt Cơng, to gan lớn mật dám đem đất đai biên giới, đảo biển của đất nước, bán nhượng cho Tàu cộng cũng như khoáng nhượng thế chấp lãnh thổ khắp nước cho tư bản trắng đỏ, mục đích cũng chỉ để củng cố đảng cọng sản và thu thập tiền vàng chia nhau hưởng thụ.

Tóm lại trong dòng sinh mệnh của dân tộc, người VN chưa bao giờ bị một chính quyền nào, kể cả thời phong kiến quân chủ, chà đạp nhân cách, bốc lột tài sản và khốn khổ thân xác, cho bằng đã sống dưới chế độ cọng sản, qua danh từ hoa mỹ là ‘ xã hội chủ nghĩa’. Thời nước Việt bị giặc Tàu, giặc Tây đô hộ, cũng đâu có cảnh dân chúng đã phải bỏ quê làng, mồ mả tổ tiên một cách tập thể, để di cư từ đất Bắc vào miền Nam hay vượt biển ra nước ngoài để trốn giặc. Thảm thê hơn hết, là thân phận của người phụ nữ thời nay, thà chịu bán trôn cho bọn Tàu Trắng, Tàu Đỏ, Mã Lai, Hàn quốc.thậm chí cả Phi Châu, để vượt thoát ra khỏi nước, rồi trong âm thầm nhục hận như báo chí ngày nào cũng loan tin. Thật là :

‘đôi dép râu giẫm nát đời son trẻ

mũ tai bèo khép kín nẻo tương lai

Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý

Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do..’ ’

Bỗng dưng thấy thấm thía tận cùng, khi vô tình đọc được một bài ca dao cổ, mà các bà mẹ VN bao đời thường hát để ru con :

‘ gió Động Đình mẹ ru con ngủ

Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh

Tiết trời thu lạnh lành lanh

Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông

Bống bồng bông, bống bồng bông

Võng đào mẹ bế, con Rồng cháu Tiên.. ’ ’

Cách đây mấy chục thế kỷ, các tổ Hùng Vương đã mở nước Văn Lang và bao đời, tiền nhân ta tiếp nối xây dựng, bảo tồn và gìn giữ đất nước. Từ năm 1945 tới nay, trong cuộc chiến ngăn chống sự xâm lăng đồng hóa của chủ nghĩa duy vật cọng sản, đã có không biết bao nhiêu thế hệ thanh niên VN đã gục ngã trước súng đạn và bạo lực. Tuy vậy, trưa ngày 30-4-1975 vì tuân theo lệnh của Dương Văn Minh, QLVNCH đã buông súng rã ngũ nhưng hầu hết các chiến binh không đầu hàng và chẳng có ai bị cảm hoá hay tẩy não, dù đã bị giặc cầm giam tại các trại tù khắp nước, trong nhiều năm.

Tại hải ngoại, suốt ba mươi sáu năm qua (1975-2011), người Việt dù đang sống kiếp lưu vong trên khắp các nẻo đường thế giới, nhưng ai cũng khắc ghi trong tâm khảm lời thề phải quang phục TỔ QUỐC, để lấp kín cái vũng bùn ô uế tanh hôi của thiên đàng cọng sản. Có vậy, ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc và người Việt mới có thể, ngẩn mặt sánh vai với thế kỷ văn minh của nhân loại.

Ba mươi sáu năm trước, những giờ phút cuối cùng của VNCH, người lính trận Miền Nam hầu hết đều ở lại để chiến đấu cho tới khi bị Dương Văn Minh bắt buông súng. Tuy nhiên Chính Phủ Quốc Gia không vì thế mà bắt bớ trả thù ai vào lúc trong tay vẫn còn nắm quyền hành. Ngày nay VC được Mỹ-Trung Cộng-Nhựt và các nước tư bản bợ lưng, nên vào những giờ phút hấp hối của chế độ vì phong trào đòi dân chủ, tự do của cả thế giới đã bùng nổ dữ dội khắp nơi, nhất là Bắc Phi, Trung Đơng và tại VN. Bởi vậy , chúng đã điên cuồng bắt bớ, thủ tiêu và bịt miệng tất cả những ai dám chống lại chế độ. Phiên tòa man rơ xử Linh Mục Nguyễn Văn Lý cuối tháng 3-2007 và Cù Huy Hà Vũ sáng thứ hai 4-4-2011 , nói lên tính chất phi nhân của Dảng Cộng Sản VN và Bọn Chóp Bu tại Bắc Bộ Phủ, chỉ biết tham tàn, tham nhũng, hai dân bán nước, làm nhục tũi VONG LINH của Tiền Nhân Hồng Lạc bao đời.

1- GHI NHỚ CÔNG ĐỨC DỰNG NƯỚC CỦA TỔ HÙNG VƯƠNG :

Theo Việt sử, Họ Hồng Bàng là triều đại đầu tiên của nước ta, có quốc hiệu là Văn Lang. Qua truyền thuyết được ghi trong tất ca các bộ sử ký nước Nam, từ trước tới nay thì nước Văn Lang truyền được 18 đời vua, mới bị mất nước về tay Thục Phán, cũng là một người Việt trong nhóm Bách Việt.

Đó là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Au Cơ, Hùng Quốc Vương, Hùng Việt Vương, Hùng Hi Vương, Huỳng Huy Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Vị Vương, Hùng Định Vương, Hùng Uy Vương, Hùng Trinh Vương, Hùng Vũ Vương, Hùng Anh Vương, Hùng Hiền Vương, Hùng Tạo Vương, Hùng Nghị Vương và Hùng Tuấn Vương.

Thục Phán đánh bại vua Hùng thứ 18, vào khoảng thế kỷ thứ III trước tây lịch. Do nhà vua là người thuộc nhóm Âu Việt, nên đổi tên nước là Âu-Lạc ( tức là Lạc Việt và Âu Việt), xưng hiệu là An Dương Vương, dời kinh đô từ Phong Châu về Cổ Loa, thuộc Huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (Bắc Phần).

Riêng về danh xưng quốc tổ Hùng Vương của VN, đã có sự bàn cãi sôi nổi của nhiều học giả trong cũng như ngoài nước, cũng chỉ vì các danh từ Lạc Hầu, Lạc Tướng nên phải có Lạc Vương, chứ không phải Hùng Vương. Đầu tiên là một học giả Pháp tên Henry Maspéro, tiếp theo có Sở Cuồng Lê Dư, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Dào Duy Anh (miền Bắc), Phạm Hoàng Mỹ, Trần Viên Chung (miền Nam).. trước tháng 5-1975. Chung qui cũng vẫn quanh vấn đề, phải gọi vua nước Văn Lang là ‘Hùng vương hay Lạc Vương?’.

Vì nước ta bị Bắc Thuộc cả ngàn năm, nên hầu như các nguồn sử liệu trước đó, đã bị mất mát hay tiêu hủy, nên chẳng có một chứng tích nào sót lại, ngoài sử do người Tàu thời đó viết, để minh chứng xác thực. Mãi cho tới thời vua Trần Thái Tôn vào năm 1217, sử gia đầu tiên của nước ta là Lê Văn Hưu, mới soạn bộ ‘ Đại Việt Sử Ký ‘, gồm 30 quyển nhưng cũng chỉ bắt đầu, từ thời vua Triệu Vũ Đế (207 trước TL ) của Nhà Nam Việt, cho tới cuối nhà Hậu Lý (vua Lý Chiêu Hoàng ) mà thôi. Thời Vua Lê Thánh Tôn, quan Lễ Bộ Thượng Thư là Ngô Sĩ Liên, mới tom góp, sưu tầm và ghi chép lại những huyền thoại, truyền thuyết trong dân gian, qua hai tác phẩm ‘Việt Điện U Linh‘ của Lý Tế Xuyên và ‘Lĩnh Nam Chích Quái‘ của Trần Thế Pháp, để viết bộ ‘Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ‘, gồm 15 quyển, chia thành hai phần, trong đó 5 quyển đầu gọi là ‘ Ngoại Kỷ ‘ chép từ đời Hồng Bàng cho tới năm 938 sau TL, Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán, mở nền tự chủ cho dân tộc VN tới ngày nay.

Cũng từ đó, nước ta qua các triều đại, đều làm lễ giỗ Tổ Hùng Vương, vào ngày mồng mười tháng ba (10-3) âm lịch hằng năm. Truyền thống trên bao đời đã khắc sâu vào tâm trí của người Việt cả nước, và phát sinh ra câu phong dao mà ai cũng đều thuộc lòng :

‘ Dù ai đi ngược về xuôi

nhớ ngày giỗ Tổ, mồng mười tháng ba .’

Trước năm 1945, giỗ Tổ Hùng Vương được quan Lễ Bộ Thượng Thư, thay mặt nhà vua làm chủ tế, tại đền 18 Tổ Hùng được xây dựng từ thời Hậu Lê (hậu bán thế kỷ XV) và liên tiếp được tu bổ nhiều lần vào thời nhà Nguyễn. Đền Hùng được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc đế đô Phong Châu của nước Văn Lang. Miền này nay là xã Hy Cương, Huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ (Bắc Phần).

Phong Châu là đia linh nhân kiệt, phong cảnh hùng liệt diễm tình, phía trước có nhiều sông lớn tụ hội, hai bên có nhiều núi cao chầu hầu.Tại đây đất đai từ trên gò xuống tới bãi, đều màu mỡ xanh tốt. Đúng là nơi định đô lập nghiệp muôn đời của một dân tộc tuyệt luân phi thường, anh hùng bất khuất nhưng tâm hồn phong thái vẫn hòa nhã yêu chuộng hòa bình.

Phong Châu cũng là Bạch Hạc ngày nay, nằm bên tả ngạn sông Lô (Thao), cũng là nơi đã chứng kiến nhiều chiến công của dân tộc trong dòng sử Việt, mà gần nhất là chiến thắng sông Lô trong cuộc chiến tranh Việt-Pháp. Do các yếu tố phong thổ đặc biệt trên, nên khi còn tại vị, các Tổ Hùng đã dựng đền trên núi Nghĩa Lĩnh hay núi Hùng. Nghĩa Cương, Hùng Lĩnh hay Hy Cương đều chung một danh xưng chỉ núi Hùng, cao 175m, nằm trong thôn Cổ Tích. Núi Hùng chung quanh được bao bọc bởi 99 ngọn đồi Voi Phục, với cây cối quanh năm xanh tươi mát mẻ. Đền Hùng là nơi tế tự trời đất, thổ thần và tiên tổ của dân tộc Hồng-Lạc. Đền này, từ đó về sau, trải qua các triều đại trong lịch sử, đều được chọn làm Đền Tổ Hùng Vương.

Phong cảnh đền Hùng muôn đời hùng vĩ, trời xanh nắng ấm vào tiết Thanh Minh nhằm vào tháng ba âm lịch hằng năm. Trong dịp này, Đền đã có dịp soi bóng trên dòng nước xanh của dòng Bạch Hạc, là vị trí giao lưu

Trên đường lên Đền Hùng, dưới chân nuí có Đền Giếng, trong đó tới nay vẫn còn chiếc Giếng Ngoc, mà theo truyền thuyết là nơi các vị công chúa con vua Hùng, thường tới tắm gôi, chải tóc và tô môi. Rời Đền Giếng phía ngoài, qua một một cổng xây bằng đá, để vào Đền Hạ. Theo sử liệu được ghi chép trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, thì chính nơi đây, quốc mẫu Âu Cơ của Đại Việt, một lúc sinh trăm trứng rồi nở thành trăm người con trai. Sau đó mẹ chia phân nửa cho cha là Lạc Long Quân, rồi dẫn những con còn lại lên núi. Phần Lạc Long Quân cũng nhường ngôi vua cho con trưởng là Hùng Quốc Vương làm vua nước Van Lang.

Trong Đền Hạ có chùa Thiên Quang với gác chuông, bia đá cổ, trên đó ghi khắc công đức dựng nước của Tổ Hùng. Chung quanh chùa còn nhiều đại thụ như thông, tùng rất lâu đời nhưng vẫn xanh tốt, thân cây vài người nối tay ôm không hết, đã nói lên sự thách thức với thời gian của cây, đồng hành là sự tồn tại của dân tộc Hồng Lạc, trong dòng sử Việt, từ ấy đến nay.

Rời Đền Hạ, leo 168 bậc đá là tới Đền Trung. Theo truyền thuyết, Đền Trung là chỗ mà các vị Tổ Hùng luận bàn việc nước với triều thần, mà thời đó được gọi qua danh xưng Lạc Hầu, Lạc Tướng. Đây cũng là nơi vua Hùng thứ sáu, truyền ngôi cho Hoàng Tử Lang Liêu, là người đã trúng giải nhất trong cuộc thi, với hai thứ bánh Chưng và bánh Dầy, món ăn quốc hồn quốc tuý của dân tộc Việt.

Đền Trung hiện tại là địa điểm đặt TỔ ĐÌNH NAM BANG, thờ kính Mười Tám Vua Hùng. Trên cùng nơi đỉnh núi là Đền Thượng với tấm bảng vàng khắc bốn đại tự : ‘NAM QUỐC SƠN HÀ‘. Đây chính là nới Các Tổ Hùng hằng năm tới làm lễ Tế Trời Đất và Thần Nông, Cũng tại Đền Thượng vào đời vua Hùng thứ sáu, Phù Đổng Thiên Vương tức là Thánh Gióng đã đánh thắng giặc Ân. Phía bên trái đền, có một ngôi mộ đá rất cổ kính và được mọi người tin là chốn an nghĩ nghìn thu của Hùng Vương thứ 6. Tại đây nhìn chung quanh, có nhiều núi lớn nhỏ, với hình tượng rất giống bầy voi đang hường đầu quỳ chầu Tổ.

Trải qua bao đời, hằng năm dân tộc Việt đều củ hành giỗ Tổ Hùng rất trang trong vào ngày mồng mười tháng ba âm lịch. Đây được coi là ngày hội lớn nhất của đất nước ta, theo đó dân tộc Việt vốn là Con Rồng Cháu Tiên, qua truyền thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ.

Trong suốt thời gian tồn tại của VNCH, tại thủ đo Sài Gòn cũng có Đền Hùng, để con cháu hằng năm tới làm lễ cúng giỗ. Chánh phủ Miền Nam đã có một dự án lớn, xây dựng Đền Hùng trên đỉnh nuí Chứa Chan, gần ngã ba ông Đồn, thuôc quận Xuân Lộc tỉnh Long Khánh. Tiếc thay chương trình xây dựng bị hủy bỏ theo vận nước vào ngày 30-4-1975. Hiện nay Đền Hùng đã theo chân người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại tạm dung, vì người Việt còn thì ngày giỗ Tổ Hùng vẫn miên viễn không ai có thể xoá hay thay thế bằng một danh xưng nào khác, mà ông cha ta đã dựng lên từ mấy ngàn năm trong dòng sử Việt :

‘Bia đá chẳng mòn tòa miếu cũ

Văn Lang muôn thuở tỏ Hùng Vương ‘

2- QUỐC HIỆU VÀ QUỐC KỲ VIỆT NAM :

Theo sử liệu, thì quốc hiệu VIỆT NAM chính thức xuất hiện vào niên lịch 1802 là năm mà vua Gia Long đã có công thống nhất được toàn cõi sơn hà từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu, sau hơn 300 năm nội chiến triền miên giữa các dòng họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn và Nguyễn Tây Sơn.

Thật ra từ thế kỷ thứ XIV, hai tiếng Việt Nam đã thấy xuất hiện trong nhiều tác phẩm lúc đó như Nam Thế Chí của Hồ Tông Thốc , Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, Du Địa Chí của Nguyễn Trải, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ Văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.. Ngoài ra, các nhà khảo cồ sau này, còn tìm thấy nhiều bia đá có niên lịch ghi trước thế kỷ XVIII ở Bắc Việt. Trong tất cả các bia ký này, đều thấy có khắc hai chữ Việt Nam. Theo nhận xét của các học giả, sử gia hiện tại, thì hai chữ Việt-Nam lúc đó, mang chung ý nghĩa rất thiêng liêng, nhằm chỉ về một nước Việt ở Nam Phương. Để đối chọi với sự mai mỉa khinh nhờn của người Tàu phương Bắc, mà suốt dòng lịch sừ, luôn coi VN như một quận huyện bản xứ, qua danh từ miệt thị ‘An Nam hay Giao Chỉ ‘.

Theo Dự Am Thi Tập của Phan Huy Chú viết năm 1792, cho biết vào năm Quang Trung thứ 5 nhà Tây Sơn, đã ban chiếu đổi quốc hiệu An Nam thành Việt Nam. Tiéc thay nhà Tây Sơn đã tồn tại trong dòng sử Việt quá ngắn ngũi, nên việc sử dung quốc hiệu VN cũng theo vận nước trôi vào quá khứ.

Riêng hai tiếng VN cũng đâu có khác gì thân phận của dân tộc Hồng-Lạc nhược tiểu, luôn trôi nổi trong dòng sinh mệnh lịch sử. Năm 1802 ngay khi thống nhất được đất nước, vua Gia Long đã cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đi sứ sang nhà Thanh, trả lai ấn phong của vua Quang Trung và xin nhận quốc hiệu cũ là Nam Việt.

Ta biết Nam Việt là quốc hiệu của VN thời nhà Triệu (207-111 trước tây lịch), có lãnh thổ rộng lớn, bao gồm Vân Nam, Lưỡng Quảng, Hải Nam, Bắc Việt và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh phía bắc Trung Phần. Do đó, chừng nào vua Càn Long mới chịu chấp nhận. Bởi vậy cho tới năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà Thanh mới sai Tế Bá Sâm, mang quốc ấn và chiếu phong vua Gia Long, đồng thời cũng chấp nhận quốc hiệu của nước ta vào thời nhà Nguyễn là Việt Nam thay vì Nam Việt. Tuy nhiên phải đợi tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng VN mới được cả trong và ngoài nước, sử dụng với tất cả ý nghĩa thiêng liêng và toàn bích.

Riêng về lá quốc kỳ VN hiện tại, lại càng thêm phức tạp vì VN ngày nay đang sử dụng hai lá cờ : Đảng cọng sản quốc tế đệ tam đang đô hộ VN, được Bắc Bộ Phủ tại Hà Nội, xài lá cờ máu đỏ sao vàng, nhái theo lá cờ của đảng cong sản Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến, ngoài ra còn xài thêm lá cờ đảng giống cờ nước VN xã nghĩa có vẻ thêm búa liềm, theo nguyên mẫu lá cờ của Liên Bang Xô Viết cũ.

Còn quốc dân VN thì chính thức sử dụng lá cờ màu vàng ba sọc đỏ, xuất hiện từ ngày 2-6-1948 cho tới tháng 7-1954, đất nước bị chia đôi nhưng chính phủ VNCH ở phía nam vĩ tuyến 17, từ Đồng Hà-Quảng Trị, vào tới Mũi Cà Mâu, vẫn tiếp tục sử dụng quốc kỳ cũ của quốc dân VN. Từ sau ngày 30-4-1975, tuy đất nước VN bị cọng sản quốc tế đô hộ nhưng cũng từ đó, trên khắp mọi nẻo đường hải ngoại, hơn ba triệu ngươì Việt tị nan cọng sản, vẫn theo truyền thống của ông cha, trân quý và chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, như một biểu tượng cao quý nhất của dân tộc.

Căn cứ theo tác phẩm ‘Quốc Kỳ Việt Nam‘ của Quốc Duy Nguyễn Văn An, thì lịch sử hình thành lá quốc kỳ của dân tộc, được khởi đầu từ sáng kiến của Phan Thanh Giản. Năm 1863 khi làm Chánh sứ hướng dẫn phái đoàn đi sứ sang Pháp, để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Phần là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường, đã bị thực dân Pháp cưỡng chiếm vào năm 1862. Khi tàu vào tới hải cảng, Pháp yêu cầu phái bộ VN treo quốc kỳ, để họ tổ chức bắn súng đại bác chào đón theo nghi cách ngoại giao quốc tế. Vì không chuẩn bị trước, nên Phan Thanh Giản phải lấy tạm chiếc khăn lụa màu vàng và dùng son đỏ viết trên đỏ bốn đại tự ‘Đại Nam Khâm Sứ ‘. Cũng từ đó, lá cờ trên đã trở thành Cờ Long Tỉnh, tượng trưng cho Triều Đình Nhà Nguyễn, với lãnh thổ còn lại gồm Bắc và Trung Phần.

Ngày 16-4-1945, học giả Trần Trọng Kim được Quốc Trưởng Bảo Đại, ủy nhiệm lập Chính Phủ với nội các gồm 10 Bộ Trưởng. Ngày 2-6-1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim quyết định chọn quốc kỳ mới cho VN. Đó là lá cờ nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ Ly (—-) trong kinh Dịch. Ngày 30-6-1945, Ông lại chọn bài Đăng Đàn Cung làm Quốc Thiều.

Tháng 2-1946, D’Argenlieu được cử làm Cao Ủy Đông Dương, mục đích tái lập lại sự đô hộ trên ba nước Việt-Miên-Lào, mà Pháp đã bĩ quân phiệt Nhật đánh đuổi khỏi vùng vào ngày 3-9-1945. Để tiến tới ý đồ bất lương tên, thực dân mưu toan nhiều lần tách hẳn Nam Kỳ của VN, để nhập vào lãnh thổ Pháp , đồng thời cai trị Bắc và Trung Phần như trước tháng 3-1945. Tuy nhiên âm mưu xảo trá và nguy hiểm của giặc, lần lượt bị quốc dân VN phát hiện và chống trả, khến cho các chính phủ Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch, cũng lần lượt sụp đổ theo ý đồ thâu tóm đất đai của người Việt.

Ngày 8-10-1947, Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng và lập nội các mới, trong đó Trần Văn Ân được cử làm Thứ Trưởng Thông Tin. Trong giai đoạn này, hầu như tất cả các vị trí thức yêu nước cũng như những đảng phái quốc gia, đều cực lực chống lại chiêu bài chia cắt Nam Phần thành một miền tự trị thuộc Pháp.

Nương theo lòng dân lúc đó, cụ Trần Văn Ân qua tư cách của một chính khách kiêm Thứ Trưởng Chính Phủ, thẳng thắn đề nghị Thủ Tướng Xuân, sủ dụng danh xưng ‘ Nam Phần VN ‘, để thay thế cái gọi là ‘ Nam Kỳ Cộng Hòa Tự Trị ‘, mà thực dân Pháp và bọn Việt Gian lúc đó đã ngụy xưng một cách trơ trẽn. Ngoài ra ông cũng đã chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho cả nước.

Vào thời điểm 1948, lúc đó trên lãnh thổ VN đang sử dụng năm lá cờ khác nhau : Ba lá của ba kỳ Bắc-Nam-Trung, một của đạo Cao Đài và lá thứ năm của Phật Giao Hòa Hảo.

Cũng qua tài liệu dẫn chứng trên, trong Ủy Ban chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho nước VN độc lập, có Nguyễn Hữu Thiều làm chủ tịch, cùng các đại diện Đổ Quang Giai (Miền Bắc), Trần Văn Lý (Miền Trung), Nguyễn Văn Xuân (Miền Nam) cùng hai đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Cuộc triển lãm năm mẫu cờ tại Phòng Khánh Tiết Sài Gòn, cuối cùng Uỷ Ban đã quyết định chọn Lá Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, làm Quốc Kỷ của Quốc Dân và Quốc Gia VN.

Sự kiện lịch sử trên, về sau được Cựu Hoàng cũng là cựu Quốc Trưởng Bảo Đại, đề cập tới trong tác phẩm ‘ Con Rồng Việt Nam (Le Dragon D’Annam)’, xuất bản năm 1990. Ngày 5-6-1949, trên chiến hạm Duguay Trovin, bỏ neo trong vịnh Hạ Long. Lúc đó trên tàu có sự hiện của Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Cao Uỷ Pháp tại Đông Dương là Emile Bollaert đại diện nước Pháp, thừa nhận nền độc lập của VN, mà quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ như chúng ta hiện tại đang trân quý trên khắp mọi nẻo đường lưu vong hải ngoại và cả trong hồn tim của triệu triệu người VN trong nước đang sống nơi xã nghĩa thiên đàng.

Cho nên Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ có một ý nghĩ khác biệt với Lá Cờ Máu của Cọng Sản VN, vì nó không phải là của riêng bất cứ ai, từ Bảo Dại tới Nguyễn Văn Xuân, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương hay Dương Văn Minh. Trong khi đó là cờ máu sao vàng, từ hình thức tới nội dung là tài sản riêng của đệ tam quốc tế, của Liên Xô, Trung Cộng và Việt Cộng. Đó cũng là lý do thiêng liêng mà người Việt qua mọi giai đoạn, từ trong nước cho tới cuộc sống lưu vong, vẫn quyết tâm gìn giữ và đấu tranh để quốc tế công nhân, dù hiện nay ngươi Việt quốc gia không có lãnh thổ, từ sau ngày 30-4-1975, quốc hận, gia vong, đổi đời người xuống thành chó, súc vật lên làm chánh quyền, cai trị cả nước.

Lá quốc kỳ VN là biểu tượng cao quý nhất trong linh hồn người Việt. Tháng 7-1954 hơn hai triệu người đất Bắc và các tỉnh miền trung bên kia vỷ tuyến 17 vì công nhận lá cờ vàng ba sọc đó của quốc dân, nên cắt ruột gạt nước mắt, bỏ xứ vào Nam tìm tự do dưới bóng lá quốc kỳ màu vàng. Ngày 30-4-1975 người Việt lại bỏ nước ra đi vì không sống nổi đưới lá cờ máu của đảng cọng sản, cho tới ngày nay, lập trường chính trị vẫn không hề thay đổi.

Lá Cờ của quốc dân VN hiện tại, nền màu vàng, hình chữ nhật bề ngang bằng nửa chiều dài. Trên nền vàng, ở phần giữa là ba sọc đỏ có kích thước bằng nhau. Màu vàng của lá cờ tượng trưng cho dân tộc VN, trong cộng đồng các dân tộc Châu Á da vàng. Màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh gian khổ, đẫm đầy huyết hận, nước mắt đoanh tròng, trong suốt chiều dài của lịch sử chống ngăn ngoại xâm. Riêng Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba phần của đất nước VN. Lúc đó, chính ký giả Nguyễn Kiên Giang (tên thật Lý Thanh Cần ), giữ chức Giám Đốc Phòng Báo Chí thời Thủ Tướng Xuân. Ông là người được chính phủ giao phó thực hiện lá quốc kỳ. Song song Thủ Tướng Xuân còn chấp nhận bài hát ‘Thanh Niên Hành khúc‘ của Lưu Hữu Phước sáng tác, lúc đó đương sự cũng như hằng triệu triệu thanh niên nam nữ VN yêu nước, đang dấn thân đấu tranh chống thực dân Pháp, trong hàng ngũ Việt Minh..

Ngoài ra trong tác phẩm ‘ Việt Nam Nhân Chứng ‘, cựu tướng Trần Văn Đôn cũng có viết là chính ông ta và tướng Lê Văn Kim, là tác giả đã đề nghị thực hiện quốc kỳ và quốc ca VN hiện tại. Nhưng sự xác nhận trên, chẳng những bị cụ Trần Văn Ân là nhân chứng, tác giả cờ và quốc ca, cực lực phản đối, mà còn bị nhiều người gạt bỏ không tin là sự thật. Bởi vào năm 1948, Trần văn Đôn cũng như Lê Văn Kim.. chỉ là sĩ quan cấp nhỏ trong quân đội, thì chừng nào mới tới phiên được mời vào phòng hội, để nghị sự một vấn đề trong đại của quốc gia lúc đó, chỉ có Nguyên Thủ, các cấp Bộ Trưởng, Thủ Hiến ba kỳ và lãnh đạo cao cấp của của các giáo phái .. mời được mời họp với ý kiến và quyết định.

Trong suốt cuộc chiến VN kéo dài gần 20 năm (1955-1975), những ai đã từng là người dân trong vùng chiến nạn, xôi đậu, bị giặc chiếm hay là lính trận chiến đấu nơi sa trường, đồn nghĩa quân cheo leo miền biên tái, những biệt chính, biệt kích cảm tử hoạt động riêng rẽ và các quân nhân bị thất lạc trong lúc đụng trận, mới cảm nhận được sự thiêng của lá cờ và bản quốc ca hùng tráng, được thổi lên khi xung trận. Quốc kỳ VN như mợt ngọn đuốc , soi đường mở lối đấu tranh cho thanh niên nam nữ miền Nam trong suốt 20 năm đoạn trường máu lệ, vì đất nước bị cọng sản đệ tam xâm lăng cướp đoạt.

Có còn nhớ hay không những ngày tang tóc hỗn loạn của Tết Mậu Thân (1968), mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc (Bình Long), Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định.. Rồi những ngày thi hành cái gọi là hiệp định ngưng bắn vào tháng 1-1973 và sau rốt là 55 ngày cuối cùng của VNCH vào năm 1975.

Tại chiến trường, để treo được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của quốc gia, lên Kỳ Đài Huế trong Tết Mậu Thân, trền ngọn Đồi Đồng Long (An Lộc), Tòa Hành Chánh Kon Tum và nhất là tại Cổ thành Đinh Công Tráng-Quảng Trị.. đã có không biết bao nhiêu sinh mạng của lính, trong mọi binh chủng từ NQ+DPQ, Bộ Binh, Biệt Động Quân, Biệt kích Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù, đã gục ngã làm thang cho đồng đội, tiếp nối hết lớp này tới đợt khác, mới đạt được thắng lợi cuối cùng. Năm 1973, cọng sản Hà Nội qua đồng thuận của Mỹ, đóng quân trên lãnh thổ VNCH theo tinh thàn hiệp ước ngưng bắn. Chúng đã cố gắng treo dán khắp nơi từ cờ lớn tới cờ nhỏ, những lá cờ máu, khiên cho người lính VNCH, lại phải chịu nhiều thương vong, dễ bảo vệ xóm làng, dân chúng, không để mất vào tay cọng sản.

Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975, trong khi hầu hết bọn khoa bảng trí thức, chuyên lợi dụng sự tự do dân chủ của chế độ, để phá thối đất nước miền Nam, ùn ùn tìm đủ mọi cách bỏ chạy trước ra ngoại quốc và nay lại tiếp tục pha thối cộng đồng người Việt hải ngoại, làm lợi cho VC hầu kiếm chút danh cặn tiền bèo. Trong lúc đó, thì người lính lại chết hay bị thương, ở lại để bảo vệ thủ đô, bến tàu, phi trường, xa lộ và những bãi đáp trực thăng, giúp Mỹ và hậu phương có cơ hội chạy.

Thử hỏi trong giờ thứ 25, tính sổ lại xem có bao nhiêu tướng lãnh đã bỏ chạy ? Hay nói đúng hơn gần hết đã ở lại chiến đấu với đồng đội thuộc cấp, cho tới lúc tàn cuộc.

Những danh tướng Lý Tòng Bá, Lê Minh Đảo, Trần Quang Khôi, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khai Nam, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn.. há không có phương tiện như Nguyễn Cao Kỳ, để trốn chạy ra tàu Mỹ hay sao ? Nhưng họ là quân tử thời đại, là kẻ sĩ nên coi trọng khí tiết làm tướng hôn sinh mạng một đời. Vì vậy biết ở lại sẽ chết nhưng vẫn chấp nhận hoàn cảnh, cuối cùng kẻ thì tự tử, còn người bị giam cầm nhiều chục năm nơi tận cùng biên tái, làm gương muôn đời cho hậu thế soi chung, vì hai chữ hy sinh cao quý ‘ lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh ‘

Trong khi nguyên thủ bỏ chạy, còn TT Dương Văn Minh thì chuẩn bị đầu hàng giặc nhưng quanh Sài Gòn và khắp bốn phương tám hướng, tất cả những đơn vị còn lại của VNCH, vẫn hiên ngang chiến đấu trong dơn độc. Nên không ngạc nhiên khi được đọc qua lời phê bình của Sử gia người Anh, Sir Edward S Creasy, qua danh phẩm ‘ Fifteen Decisive Battles of The World ‘, cho biết tầm quan trọng của một cuộc chiến, không phải chỉ căn cứ vào số người chết, tù binh và chiến lợi phẩm. Nó được tính bằng thành quả ngày hôm nay, do cuộc chiến thắng đem lại.

Vậy ta thử hỏi sau ba mươi sáu năm chiến tranh chấm dứt (30/4/1975 ố 30/4/2011), kẻ chiến thắng là đệ tam cọng sản Hà Nội, đã làm được những gì, để mang tới phúc lợi, no ấm cho dân tộc VN ?. Trong thời gian đó, đất nước chúng ta có được độc lập tự do hay không ?Cứ nhìn kết quả mà không cần phải đơi câu trả lời.

Thật sự cho tới bây giờ, đất nước VN vẫn là một quê hương bị đọa đày tang tóc khổ đau. Dân chúng đại đa số nghèo đói lạc hậu. Xã hội băng hoại, kỷ cương tan nát, đạo đức suy đồi và oán thù chất ngất vì hố phân chia mọi thành phần trong nước, càng lúc càng sâu thẳm không biết đâu mà mò. Trong lúc bọn cán bộ viên chức đảng nhà nước, bọn Việt gian-Việt kiều cò mồi, bọn tư bản đỏ trắng tại VN càng lúc càng giàu có vinh hiển tột cùng với tiền tỷ vàng ký, thì người dân cả nước từ nông dân, người đánh cá, cho tới kẻ lạo động, gần như kiếm ăn từng bửa. Như vậy tám mươi mốt năm qua (1930-2011), nói là đi làm cách mạng để giải phóng nước bị ngoại xâm. Dân bị kềm kẹp. Thế nhưng ba mươi sáu năm hòa bình, giờ tính lại sổ đời, nước vẫn bị ngoại xâm kềm kẹp, không phải chỉ có Nga-Trung Cộng mà cả khối tư bản Mỹ, Nhật, Nam Hàn, ĐàiLoan-Singapore.. Còn người dân thì cuộc sống còn thua cả thời Pháp Thuộc, nói chi tới Hai mươi năm VNCH.

Hơn ba mươi sáu năm đổi đời rồi, cho dù Bắc Bộ Phủ có gian ngoan xảo trá tới đâu, bọn Việt gian biển lận thế nào, thì cả nước trong cũng như ở hải ngoại cũng đã hiểu gần như tất cả tấn thảm kịch VN, từ đó cho tới nay, chỉ do bàn tay đẫm máu của băng đảng Hồ Chí Minh và đệ tam cọng sản gây ra mà thôi.

Ba mươi sáu năm nói là thống nhất nhưng Bắc-Nam cũng vẫn là Nam-Bắc. Lúc nào cũng to mồm lớn miệng nói là tự do-độc lập thế nhưng mọi việc lớn nhỏ của nước, đều do bàn tay tối cao của Liên Xô-Trung Cộng, nay lại thêm bàn tay lông lá của lái súng Mỹ quyết định giùm.

Gần hai trăm năm trước (1858), vua Tự Đức nhà Nguyễn vì thiển cận, không chịu nghe theo lời canh tân đất nước của các sĩ phu trí thức thời đó như Nguyễn Trường Tộ, Đinh văn Điền, Bùi Viện.. mà cứ chạy theo ôm chân người Tàu lúc đó cũng lạc hậu yếu hèn, nên rốt cục dân tộc phải bị thực dân Pháp đô hộ đày đọa gần 100 năm tủi nhục thương đau. Ngày nay Việt Cộng cũng đã bước vào lối mòn năm cũ, đã và đang ôm chân Tàu đỏ lẩn Tàu trắng một cách tận tuyệt, để có một chỗ dựa an toàn cho đảng sinh tồn. Rồi tháng lại ngày qua làm ngơ nhắm mắt, mặc kệ cho đồng bào cả nước càng lúc càng lầm than đói rách, qua cái vỏ phát triển tiến bộ, được sơn phết và tuyên truyền, khiến cho bất cứ ai còn một chút hơi hám của con người, thấy ngó cũng phải đau lòng cho non sông gấm vóc bỗng dưng bị bàn tay của đám giặc cỏ tàn phá không biết đến bao giờ mới dứt.

Ba mươi sáu năm rồi, Việt Cộng vẫn là Việt Cộng dù ngày nay hình người có thay đổi từ quần áo vải thô sang lụa tơ gấm nhiễu. Tất cả vẫn nguyên vết như cái thuở hồng hoang mới rời hang Pắc Pó, rừng Bắc Sơn hay chui ra trong các hang Củ Chi, Vĩnh Mốc. Vẩn đảng cọng sản là trên hết, còn nước thì nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy tất cả quốc gia đều là tài sản của đảng, của cán bộ nên cứ ngang nhiên xén bán, cầm thế, mà không cần biết tới hậu quả di hại cho con cháu và dân tộc mai sau.

Không ai muốn thấy cảnh máu đổ xương tan, xảy ra trên quê hương mình. Nhưng người Việt quốc gia dù ở đâu và thuộc về thế hệ nào chăng nữa, đều đau lòng trước cái tên thân thương của thành phố Sài Gòn nay bỗng dưng phải mang cái tên của kẻ phản quốc, dâm hung đứng đầu lịch sử. Cũng không thể đứng nhìn đồng bào cả nước mà phu nữ đã phải bán trôn khắp thế giới để nuôi miệng, bán mạng để sống. Cũng không thể bắt người Việt hải ngoại cứ đổ võ cho kẻ ăn ốc là bọn cọng sản và đám việt gian, việt kiều tay sai năm vùng, bằng cách gửi tiền bạc về nước, để bọn lãnh đạo Bắc Bộ Phủ vểnh râu làm giàu trên xương máu mồ hôi nước mắt của đồng bào tị nạn. Cũng không thể để cho lá cờ máu và những tên quốc tặc, hiện diện tuyên truyền, trong nhưng nơi chốn, có người Việt tị nạn sinh sống, mà điển hình là vụ tên Trần Trường treo cờ máu và ảnh Hồ Tặc tại Tiểu Sài Gòn, vào dịp Tết Kỷ Dậu 1999. Sau rốt cũng không cho VC tiếp tục lộng hành, toa rập với đám tư bản bất lương Tây phương, Nam Hàn, Nhật Bản , Tàu Trắng và tàn độc nhất là Trung Cộng, lũng đoạn kinh tế, phá nát kỷ cương và chia xén lãnh thổ VN.

Tám mươi mốt năm qua, người Việt đã trăm lần hòa hợp, hòa giải, hòa bình với cọng sản nhưng trăm lần như một, lần nào cũng bị chúng xảo quyệt, lường gạt, đâm sau lưng, mà lần cuối cùng đau đớn nhất là ngày 30-4-1975. Cho nên ba mươi sáu năm nay, kể cả trẻ con cũng không còn ai tin vào sự hứa hẹn của cọng sản, trừ bọn cò mồi không tim óc dù đã có cả núi bằng cấp và chữ nghĩa. Bởi vậy chỉ còn một cach duy nhất, là cả nước đứng dậy phá tan xiềng xích nô lệ của đảng cọng sản, để đòi lại những gì mà chúng ta đã mất, trong đó quan trọng nhất là quyền sống của kiếp người.

Vấn đề còn lại hiện nay, không phải là chờ Mỹ hay bất cứ một thế lực nào bật đèn xanh đèn đỏ, mà là thời gian và lòng người. Đã có không biết bao nhiêu ngọn đuốc soi bước dẫn đường, suốt ba mươi sáu năm qua như Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn, Lý Tống.. và nhiều nam nữ anh hùng khác. Tuy Họ đã thất bại trước bạo quyền nhưng ngọn đuốc tự do vẫn được chuyền tay thắp sáng, cho thế hệ hậu duệ và các đồng chí đồng bào, đã và đang đấu tranh cho sự quang phục của đất nước

Có ai trong đời không một lần phải chết nhưng trước khi nhắm mắt lìa đời, phải làm một điều thiện cho quê hương, để khi xuôi tay nhắm mắt, không phải ngậm cười nơi chín suối hay cứ than thân trách phận vì :

‘Nợ nước chưa xong đầu đã bạc

trăm năm thân thế bóng tà dương.. ’ ’

Hỡi ơi đời nay, không có gì buồn hơn nỗi buồn nhớ nhà khi tuổi già, dù nhà và nước đang ở trước mắt mình:

‘Chiều xuống quê nhà đâu đó tá ?

Trên sông, khói sóng não lòng ai .. ’ ’

(Thôi Hiệu)

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 4 – 2011

MƯỜNG GIANG

Bài Xem Nhiều