We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 8 April 2011

Chương trình “Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4”



cothommagazine.com

VIỆT NAM sắp có lệnh BUỘC MỌI NGƯỜI VÀO VIỆT NAM PHẢI ĐỔI LẤY VND TẠI SÂN BAY

VIỆT NAM sắp có lệnh
BUỘC MỌI NGƯỜI VÀO VIỆT NAM PHẢI ĐỔI LẤY VND TẠI SÂN BAY


Tại sân bay, mọi người vừa xuống máy bay phải lật túi đổi ra VND, có bao nhiêu ngoại tệ đều phải đổi ra hết, BẮT BUỘC chứ không phải khuyến khích.

Không biết họ vô hồ sơ làm sao, hay đưa cho tờ biên nhận, khi trở ra ngoại quốc thì được mua lại với số ít hơn hoặc bằng số bán ra cho họ.

Ai làm mất tờ biên nhận này thì mang họa, ôm 1 đống VND vô giá trị ra ngoại quốc nếu còn dư lại lúc xuất cảnh.
Ngoài ra còn giá ngoại tệ, không biết họ tính sao, và bán ra, mua vô, giá chênh lệch ra sao.

Họ có thể vô computer để khỏi có biên nhận, dùng số passport làm "account number". Nhưng cũng khó vì nhiều loại passport khác nhau, và nếu computer bị down thì kẹt to, hoặc bị crash mất data.

Nhiều người như từ Anh quốc vừa có EUR, vừa có Bảng Anh, có khi có cả USD, thì rắc rối to.

Kiều bào đang cancel vé máy bay, hoặc chưa mua thì không mua, cho mùa hè này, và có thể cả Noel, Tết năm sau.

-----------
công an "gặp đô la, vàng là tịch thu", và bắt cả người.

Tôi nghĩ họ không giựt, nhưng sẽ cho thời gian đổi lấy "trái phiếu vàng", "trái phiếu USD", có thể chuyển nhượng, lời bằng VND; còn nếu bán thì CSVN sẽ mua bằng VND.

Như vậy, ai có 100 lượng vàng thì có trái phiếu 100 lượng, năm sau lời giá trị bằng 1, 2 lượng bằng VND. Trái phiểu 100 lượng vẫn còn đó, có thể đổi ra VND khi đáo hạn, hoặc mua lại trái phiếu vàng tiếp theo.

Qua thời hạn nào đó, cho là 30 ngày bán cho CP hoặc đổi ra trái phiếu, thì Vàng Lá là hàng quốc cấm tại VN, ai có 1 lượng cũng bị tịch thu.

Quá thời hạn này, Vàng trang sức và USD thì chỉ có giới hạn rất thấp, ví dụ tổng cộng không quá 3 lượng vàng trang sức/ người, và không quá 1000 USD/ người. Ai có quá thì bị tịch thu.


XIN GÓP NHAU MỘT LỜI KÊU GỌI : “XIN ĐỪNG VỀ VIỆT NAM"



Mời xem bài 5 giải pháp chống đô la hoá của nhà cầm quyền VN.

-------------

5 giải pháp chống đô la hóa

Tác giả: Theo NLĐ

Bài đã được xuất bản.: 22/03/2011 15:00 GMT+7

Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, việc chống đô la hóa phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ; về lâu dài, cần coi giải pháp kinh tế, kỹ thuật là chủ đạo. Bộ đã đề xuất gói giải pháp gồm 5 điểm, được nhiều chuyên gia kinh tế tán đồng.

Chặn nguy cơ chảy máu ngoại tệ

Giải pháp đầu tiên trong 5 nhóm giải pháp được bộ này đề nghị áp dụng là: Cần thực hiện các biện pháp vĩ mô để tăng dự trữ USD; chủ động trong điều hành tỉ giá, tránh tăng tỉ giá quá mạnh gây kích thích tâm lý dự trữ USD; thực hiện đa dạng hóa ngoại tệ, tránh phụ thuộc vào USD; sớm có chủ trương bán ngoại tệ cho người dân có nhu cầu chính đáng như du học, chữa bệnh, đi công tác...

Hai là, điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo hướng tránh lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu, nhất là nguyên liệu đầu vào để hạn chế cầu USD.

Ba là, nâng cao chất lượng dịch vụ của các tổ chức tín dụng, mở rộng thêm các tiện ích gắn với việc giao dịch bằng tiền VNĐ như dịch vụ thẻ, điểm thanh toán, cho vay tiêu dùng.

Bốn là, có giải pháp thu hút triệt để ngoại tệ từ các doanh nghiệp, cá nhân, người Việt Nam ở nước ngoài khi mang ngoại tệ vào Việt Nam; khuyến khích tăng tỉ lệ quy đổi sang VNĐ với số lượng USD lớn.

Nhóm giải pháp thứ năm là sửa đổi các văn bản và quản lý chặt chẽ việc niêm yết hàng hóa trong nước bằng VNĐ, chẳng hạn ban hành một pháp lệnh.

Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho rằng trong bối cảnh thị trường tự do ngừng giao dịch, Nhà nước nên có sự chỉ đạo kịp thời đối với các tổ chức tín dụng để khắc phục tình trạng găm giữ ngoại tệ. Mặt khác, thời điểm này cần rà soát lượng ngoại tệ trong các tổ chức tín dụng để phòng ngừa trường hợp ngoại tệ chảy ra nước ngoài, nhất là hoạt động đánh bạc ở nước ngoài.


Theo các chuyên gia tài chính, các giải pháp trên sẽ góp phần xóa bỏ tình trạng đô la hóa. Tuy nhiên, các giải pháp cần thực hiện ngay là tăng dự trữ USD, bán ngoại tệ cho người dân có nhu cầu chính đáng, ngăn chặn ngoại tệ chảy ra nước ngoài. Theo PGS.TS Trần Huy Hoàng, Trưởng Khoa Ngân hàng (NH) Trường ĐH Kinh tế TP.HCM, việc Bộ Kế hoạch - Đầu tư đề xuất rà soát lại số lượng ngoại tệ của các ngân hàng là để ngăn chặn nguy cơ chảy máu ngoại tệ thông qua thẻ tín dụng.

Hiện nay, các ngân hàng của Việt Nam cấp hạn mức thẻ tín dụng lên tới 300 triệu đồng (tương đương 15.000 USD). Người Việt Nam có thể đánh bạc ở nước ngoài bằng cách chuyển tiền từ thẻ tín dụng đến một địa chỉ nào đó ở nước ngoài. Mặt khác, chủ thẻ có thể rút USD tại nước ngoài và số ngoại tệ là của ngân hàng phát hành thẻ.

"Các ngân hàng thương mại cần tăng phí, giảm hạn mức rút tiền mặt ở nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước cần có biện pháp kiểm soát những thông tin chuyển tiền bất thường từ thẻ tín dụng" - PGS.TS Trần Huy Hoàng đề nghị.

Đề xuất thu mua USD có khuyến mãi

Về giải pháp thu hút ngoại tệ, khuyến khích người nước ngoài tăng tỉ lệ quy đổi USD sang VND, PGS.TS Trần Huy Hoàng cũng cho rằng nếu Nhà nước cho phép các ngân hàng thu mua USD kèm theo một mức thưởng nhất định giống như hình thức khuyến mãi sẽ tăng thêm cung USD.

Trong khi đó, ông Trần Phương Bình, Tổng Giám đốc NH Đông Á, cho biết: Để có ngoại tệ bán cho người có nhu cầu chính đáng, ngân hàng phải dự trữ ngoại tệ dẫn đến phát sinh chi phí. Nếu ngân hàng được phép bán ngoại tệ có thu phí sẽ bảo đảm kinh doanh không thua lỗ, đồng thời tỉ giá ngoại tệ uyển chuyển hơn.

Theo PGS.TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, tại cuộc họp với Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng vào cuối tuần trước, nhiều thành viên của hội đồng cũng đề nghị Chính phủ cho phép ngân hàng bán ngoại tệ bằng tiền mặt cho người dân có nhu cầu chữa bệnh, học tập... ở nước ngoài nhưng ngân hàng được thu phí, bởi để có ngoại tệ dưới dạng "tiền tươi thóc thật", ngân hàng phải nhập khẩu có tốn kém chi phí.

Riêng lãi suất ngoại tệ cần có lộ trình khống chế trần lãi suất huy động vốn bằng USD, tăng dự trữ bắt buộc, hạn chế đối tượng vay vốn bằng ngoại tệ để giảm cầu USD.

Theo bạn, 5 giải pháp trên có hạn chế được tình trạng đô-la hóa nền kinh tế hiện nay? Liệu việc triển khai có khả thi khi người dân Việt Nam có thói quen sử dụng đồng USD, giá cả hàng hóa cũng niêm yết bằng USD? Mời độc giả cùng tranh luận và đóng góp ý kiến về

Vài nét về nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm

Nguyễn Hưng Quốc – VOA

Thi sĩ Hoàng Cầm, Hải Phòng (2002)

Nhân Văn – Giai Phẩm là một trong những hiện tượng nổi bật nhất trong sinh hoạt văn học và cả sinh hoạt chính trị ở miền Bắc vào nửa sau thập niên 1950.
Gọi là nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm thật ra chỉ là một cách nói cho tiện. Thực chất những người bị liệt vào Nhân Văn – Giai Phẩm đã tham gia tranh đấu chống độc tài không phải chỉ trên tạp chí Nhân Văn hoặc trên Giai Phẩm. Mầm mống của sự phản kháng xuất hiện rất sớm, ngay từ đầu năm 1955 và bài viết của họ được đăng tải trên nhiều cơ quan ngôn luận khác nhau, kể cả trên những tờ báo, những tạp chí nằm trong tay các tổ chức đảng.
Năm 1950, trong một cuộc Hội nghị văn công tổ chức tại Việt Bắc, Hoàng Cầm lúc ấy đang là đoàn trưởng Đoàn văn công quân đội khu Việt Bắc đã ngang nhiên tuyên bố: “Đảng không nên nhúng tay vào chuyên môn của nghệ thuật”. Sau năm 1954, về Hà Nội, Hoàng Cầm được cử làm đoàn trưởng đoàn kịch Tổng cục chính trị trong quân đội miền Bắc, vẫn tiếp tục tranh đấu đòi tự do cho văn nghệ sĩ. Thời gian này, bên cạnh ông xuất hiện một người nữa, cũng tài hoa và cũng quyết liệt như ông: Trần Dần. Cả hai người đều tâm đắc với nhau trong mục tiêu tranh đấu đòi đảng Cộng sản phải “trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ. Thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội. Thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội. Thành lập trong quân đội một Chi hội văn nghệ trực thuộc Hội văn nghệ, không qua Cục Tuyên huấn và Tổng cục chính trị. Tóm lại là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và kỷ luật quân đội đối với họ” (1).
Yêu sách trên không được đáp ứng, Hoàng Cầm phản kháng bằng cách làm đơn xin ra khỏi quân đội, lột bỏ tất cả các chức vụ quan trọng và hứa hẹn nhiều vinh quang mà cộng sản dành cho ông.
Những biến động trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới càng làm cho Hoàng Cầm, Trần Dần và bạn bè của ông tin tưởng hơn đối với lý tưởng tranh đấu đầy chính nghĩa của mình. Trong các biến động ấy, đáng kể nhất là: sự kiện ngày 24.2.1956, tại Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, Khrouchtchev đọc một bản báo cáo nẩy lửa vạch trần những tội ác tày trời của Staline, lên án cái bệnh sùng bái cá nhân rất mực nghiêm trọng và phổ biến trong các nước xã hội chủ nghĩa; sự kiện ngày 26.5.1956, Lục Đỉnh Nhất, trưởng ban Tuyên huấn Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc đọc báo cáo hô hào phát động chiến dịch “Trăm hoa đua nở” với khẩu hiệu “Bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh”; sự kiện dân chúng nổi dậy chống chính quyền tại Ba Lan và tại Hung Gia Lợi…
Đầu năm 1956, lực lượng chống đối trong giới văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc phát triển mạnh, cực kỳ đông đảo, trong họ có nhiều người là những tài năng lỗi lạc. Về lý luận: Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang… Về thơ: Hoàng Cầm, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Văn Cao… Về văn xuôi: Trần Duy, Thuỵ An, Như Mai, Hoàng Yến, Trần Dần… Về nhạc và hoạ: Nguyễn Văn Tý, Chu Ngọc, Sĩ Ngọc, Đặng Đình Hưng, Văn Cao, Nguyễn Sáng…
Những người trên tập trung trong hai cơ quan ngôn luận chính: một là Giai Phẩm, một loại tập san không định kỳ, hai là Nhân Văn, một tạp chí ra mỗi nửa tháng.
Số Giai phẩm đầu tiên được gọi là Giai phẩm mùa xuân phát hành đúng dịp Tết 1956 thực sự là một tiếng sét nổ trên vòm trời âm u tối sầm của Hà Nội. Hầu hết các bài viết đều tập trung phê phán gay gắt những sự khốn cùng trong xã hội, những hiện tượng mất dân chủ trầm trọng dưới chế độ cộng sản ở miền Bắc. Trong bài Cái chổi quét rác rưởi, Phùng Quán ví xã hội chủ nghĩa giống như một đống rác khổng lồ, và ông, với tư cách là một nhà văn, sẽ nhận trách nhiệm dùng ngòi bút quét sạch hết đi những rác rưởi đó để đem lại sự sạch sẽ, sự trong lành cho mặt đất.
Trong Giai phẩm mùa xuân, bài viết làm cho cộng sản tức tối nhất là bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần. Dài hơn 300 câu, bài thơ vẽ lại khung cảnh miền Bắc bị cộng sản tiếp quản mới có hơn một năm mà đã u uất, tối tăm, cùng quẫn vô hạn. Dân chúng lũ lượt di cư vào Nam. Những người ở lại chịu đựng biết bao đau thương:
Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
- Anh ạ !
họ vẫn bảo chờ
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư ?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã
Em đi
trong mưa
cúi đầu
nghiêng vai
Người con gái mới mười chín tuổi
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi
Bóng chúng
đè lên
số phận
từng người
Em cúi đầu đi mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót…
Bài thơ cứ lặp đi lặp lại mãi một điệp khúc buồn rầu:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.

Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu. Trần Dần bị bắt giam. Phẫn uất, Trần Dần phản kháng một cách tuyệt vọng nhưng vô cùng quyết liệt: cứa cổ tự tử. May, bạn bè ông phát hiện kịp và cứu sống. Sau đó ông xin ra khỏi đảng.
Trong năm tháng cuối năm 1956, Trần Dần và các bạn hữu của ông tái bản Giai phẩm mùa xuân và ra tiếp ba số Giai Phẩm nữa: Giai phẩm mùa xuân tập 1 và 2, Giai phẩm mùa đông, đồng thời xuất bản tạp chí Nhân Văn do Phan Khôi đứng tên làm chủ nhiệm, Trần Duy làm tổng thư ký. Nhân Văn số 1 ra ngày 15.9.1956, đến số 6 ra ngày 30.11.1956 thì bị thu hồi và đóng cửa hẳn.
Như vậy, toàn bộ hoạt động của tạp chí Nhân Văn cũng như các Giai Phẩm chỉ diễn ra trong năm 1956. Trong lịch sử văn học Việt Nam, cho đến nay, chưa bao giờ có một tạp chí hoặc một đặc san nào chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn ngủi mà lại khuấy động được dư luận, có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài như vậy.
Nhân Văn và Giai Phẩm bị đình bản, những người thuộc nhóm này, được sự đồng tình của Ban chấp hành Hội Nhà văn mới được thành lập đầu năm 1957, tiếp tục đăng bài trên báo Văn do Nguyễn Công Hoan, chủ tịch Hội Nhà văn làm chủ bút.(2)
***
Chú thích:
Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận của nhiều tác giả, nxb Sự Thật, Hà Nội, 1959, tr. 24.
Có thể đọc toàn bộ các số Nhân Văn và Giai Phẩm trên Talawas


Thương Yêu từ California gửi tới Nhật bản

Thương Yêu từ California gửi tới Nhật bản

LS.Đoàn Thanh Liêm

Thương cảm với nỗi đau thương khốn khó của bà con nạn nhân tai họa động đất và sóng thần ở Nhật mới đây, người Việt ở miền Nam cũng như Bắc California đang ra sức góp phần vào việc cứu trợ khẩn cấp đến Nhật bản.
Từ các em nhỏ học sinh 13-14 tuổi rủ nhau đi rửa xe để lấy tiền góp vào quỹ cứu trợ, đến các hội đoàn, các tổ chức từ thiện, nhất là các cộng đoàn tín đồ tôn giáo cũng đứng ra tổ chức những buổi gây quỹ thật quy mô qua các buổi xuống đường lạc quyên, các sinh hoạt trình diễn âm nhạc, hay bữa ăn kèm theo việc bán đấu giá tranh nghệ thuật, đĩa âm nhạc v.v…

Đáng kể nhất tại miền Nam California là buổi đại nhạc hội có tên là “ VietLove for Japan” sẽ diễn ra vào chiều ngày Thứ Sáu 8 tháng Tư từ 2 giờ chiều đến 9 giờ tối, tại khu Fountain Valley Town Center ở góc đường Brookhurst và Edinger, thành phố Fountain Valley. Vừa đây trong buổi họp báo vào ngày 4 tháng Tư tại tòa soạn nhật báo Người Việt, cô Khánh Liên thủ quỹ của ban tổ chức cho biết đã gây quỹ được trên 21,000 dollar, và kêu gọi công chúng tiếp tục đóng góp cho công việc làm có ý nghĩa này. Còn về nội dung của buổi trình diễn, thì ca sĩ Ý Lan cho biết đã có đến 59 nghệ sĩ ghi danh tham dự buổi trình diễn này. Bà con nào muốn đóng góp, thì có thể viết chi phiếu đề tên “American Red Cross”, trong phần Memo xin đề : “VietLove for Japan”.

Còn tại miền Bắc California, thì sẽ có một buổi Văn nghệ Gây quỹ được tổ chức thật quy mô vào chiều Chủ nhật 10 tháng Tư, tại nhà hàng Dynasty, trong khu Grand Century Mall trên đường Story, thành phố San Jose. Chương trình này được đặt tên là : “ Thương về Xứ Phù Tang – Japan! We’re With You! “. Nhà báo Huỳnh Lương Thiện trong ban tổ chức cho biết các ca sĩ Khánh Ly, Như Quỳnh từ miền Nam California đã nhận lời tham gia trình diễn ca nhạc trong dịp này. Đặc biệt ca sĩ Khánh Ly còn hát bài nổi tiếng “Diễm Xưa” bằng tiếng Việt và tiếng Nhật, như đã được hát tại Nhật hồi năm 1970 nhân dịp Hội chợ Quốc tế tại thành phố Osaka. Và bà Nga là phu nhân của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cũng đã hứa sẽ gửi biếu ban tổ chức buổi gây quỹ này một số băng CD ghi âm bài hát “Nắng Chiều” nổi tiếng từ hồi năm 1956 – 57, mà cũng có bản chuyển âm tiếng Nhật nữa. Trong số quan khách được mời, còn có đại diện của Tòa Lãnh sự Nhật bản ở San Francisco. Và ban tổ chức còn dự trù sẽ trực tiếp trao số tiền thu được cho vị Tổng lãnh sự hiện diện trong bữa tiệc này nữa.

Cũng tại miền Bắc California, thì vào ngày Chủ nhật 27 tháng Ba, gia đình Phật tử Chánh Hòa ở thành phố Hayward đã tổ chức một cuộc xuống đường quyên góp từ thiện nhằm cứu giúp nạn nhân ở Nhật bản. Và Hội Ái Hữu Cựu học sinh Trường Bưởi-Chu Văn An Bắc California cũng đã phát động cuộc quyên góp trong nội bộ các hội viên để gửi cho quỹ cứu trợ của tổ chức Hồng Thập Tự Mỹ ở địa phương.


Nói vắn tắt lại, thì riêng tại California đã có rất nhiều sáng kiến của các tổ chức nhân đạo từ thiện của người Việt, cũng như của các nghệ sĩ cùng đứng ra kêu gọi bà con đồng hương người Việt tích cực tham gia vào công cuộc cứu trợ các nạn nhân thiên tai động đất ở Nhật bản hiện nay. Đó là sự tiếp nối cái truyền thống nhân ái và liên đới ruột rà của người Việt nam sống trên đất Mỹ đối với anh chị em đồng lọai giữa cơn họan nạn tai ương. Điều này đã từng được thể hiện năm 2010 vừa qua đối với các nạn nhân của trận động đất ở Haiti, năm 2005 với bão Katrina ở Louisiana, năm 2004 với nạn sóng thần ở Indonesia vậy.
Lần này, do ảnh hưởng kinh tế vẫn còn khó khăn hạn chế, cho nên có thể tổng số tiền quyên góp được sẽ rất khiêm tốn. Nhưng đó vẫn là một biểu lộ chân thật của tấm lòng người dân Việt ở California chia sẻ với những bạn người Nhật giữa cơn họan nạn tai biến ở phía bên kia bờ biển Thái bình dương nữa vậy./


California, đầu tháng Tư 2011
LS.Đòan Thanh Liêm

Hồi ký "Những Người Tù Cuối Cùng"

Khu Rừng Lá Buông (Phần I)

(Lời Tác Giả: Để kỷ niệm 35 năm ngày 30-4-1975 mất miền Nam vào tay Cộng Sản, hồi ký "Những Người Tù Cuối Cùng" sẽ được khởi đăng Phần I ngày hôm nay trên những diễn đàn thân hữu và gửi đến gia đình và bạn bè xa gần.)

Hồi Ký: Phạm G. Đại

Trời đã sẫm lại từ lúc nào, bóng tối đã bao phủ cả khu vực trại giam Z-30D Hàm Tân,Thuận Hải, tất cả đều yên tĩnh và chỉ còn nghe vẳng từ thật xa tiếng gió xào xạc qua những khu rừng lá.




Bên phía các buồng giam tù hình sự im ắng lạ thường bởi vì hầu hết đều kéo lên hội trường để xem phim bộ và những ngọn đèn vàng không đủ chiếu sáng cái sân trại quá rộng.

Tôi ngồi trên chiếc ghế đá trước cửa buồng và nhìn lên bầu trời xanh thẳm không một gợn mây với những ngôi sao lung linh như muốn đem thêm chút ánh sáng xuống cho một vùng trái đất đang đi vào bóng đêm.

Chợt một ngôi sao đang đổi ngôi. Tôi nhớ có ai đó nói với tôi rằng nếu mình ước nguyện điều gì khi có một vì sao đang đổi ngôi thì sẽ được toại nguyện, nên vừa nhìn ngôi sao đó tôi vừa cầu nguyện cho tất cả các tù nhân chính trị chế độ cũ đang bị giam giữ ngay chính trên quê hương họ sẽ sớm được trả tự do.

Sau bữa cơm chiều, tôi đã ngồi đó một mình trên ghế đá.
Trong buồng, các bạn tôi đang đọc sách báo, nằm nghỉ trên giường, hay đang ngồi uống trà hàn huyên để chuẩn bị đi ngủ.


Phía bên phải căn buồng là một căn phòng được xây cao hơn với bực tam cấp và dành cho bốn ông Tướng còn lại là Lê Minh Đảo, Trần Bá Di, Lê Văn Thân và Đỗ Kế Giai.
Mỗi ông tướng đều có một nét riêng mà anh em chúng tôi đều kính mến như những người anh cả trong gia đình.

Anh Đảo thì văn nghệ, và là người hùng của trận Xuân Lộc nơi mà sư đoàn 18 bộ binh của ông dù súng đạn đã cạn nhưng tinh thần vẫn bất khuất và vẫn anh dũng chặn đứng và cầm chân bốn sư đoàn Bắc Việt trong tỉnh Long Khánh hơn hai tuần lễ và chúng đã không thể tiến thêm được một bước nào về Sàigòn như kế hoạch đã chỉ thị. Anh Di thì luôn tươi cười khi nói chuyện với anh em. Anh Thân thì hoà nhã, và anh Giai thì luôn thâm trầm nhưng lại rất cởi mở và rôm rả khi chúng tôi ghé lên mấy bậc tam cấp thăm các anh.

Tôi nghe thấy tiếng sáo du dương của ông Thân hòa với tiếng đàn ghi ta của ông Đảo vẳng xuống trong một bản nhạc mà ông Đảo đã sáng tác riêng để tặng cho Mẹ. Chợt tôi thấy lòng mình như lâng lâng theo tiếng đàn và tiếng sáo và một nỗi buồn man mác từ đâu đưa tới vì mới đó mà đã bốn năm rồi kể từ khi chuyển trại vào miền Nam và chúng tôi vẫn còn ở lại nơi đây.

Quả là thời gian thật vô tình và lạnh lùng như giòng suối ngày đêm róc rách không ngừng chảy qua khu rừng lá Buông này vậy.


Bây giờ là tháng Tư năm một chín chín hai và chúng tôi vỏn vẹn chỉ còn đúng hai mươi người trong đó có bốn tướng và mười sáu anh em từ cấp đại tá, trung tá, thiếu tá, trung úy, một anh hồi chánh viên, một thiếu úy trinh sát tỉnh (PRU), hai anh trong Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo (PĐUTƯTB) và một anh về từ tầu Việt Nam Thương Tín (VNTT).

Mỗi người đúng là một vẻ khác nhau nhưng thẩy đều có một điểm chung là đang đi trên quãng đường gian nan cuối cùng của một cuộc hành trình tưởng rằng sẽ không bao giờ tới đích.
Đây là những người tù cuối cùng đã bị bắt hay "tập trung cải tạo" từ sau khi mất miền Nam, những người đã cùng tôi đi suốt chặng đường dài lịch sử của mười bẩy năm "tập trung cải tạo" ròng rã. Một quãng thời gian mà không một ai dù là có một trí tưởng tượng phong phú đến cách mấy có thể hình dung được chiều dài của nó với bao nhiêu là biến động thăng trầm và sóng gió của một đời người trong trại giam Cộng Sản, nhất là ở một đất nước nghèo đói và lạc hậu nhất thế giới như tại Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Ngoài các vị tướng lãnh và đại tá, trung tá An Ninh Quân Đội (ANQĐ) hay các thiếu tá Cảnh Sát Đặc Biệt (CSĐB) là những người mang "nợ máu với nhân dân" như Cộng Sản vẫn tuyên truyền thì anh Hoà chỉ là thiếu úy trinh sát tỉnh (PRU) và anh Miên một hồi chánh viên hay anh Bửu Uy, một nhân viên PĐUTƯTB mà không hiểu vì sao cũng mang một lý lịch thật "nặng ký" mà Bộ Nội Vụ họ không muốn thả.

Cũng như anh Hiểu, người về từ tầu VNTT, chỉ vì nhớ vợ nhớ con mà đã nhất định bỏ bến bờ Tự Do mà mình vừa đặt chân tới để bước lên con tầu định mệnh mà trở về.
Nhưng than ôi khi tầu vừa vào hải phận Nha Trang thì các người trên tầu đều bị điệu ngay vào bờ và nhốt ngay vào trại giam không cần xét hỏi gì trước. Anh Hiểu thì bị kiên giam ngay trong điều kiện vô cùng ngặt nghèo bởi vì lý lịch anh là làm việc cho toà lãnh sự Mỹ tại Vùng II trước đó, cho nên họ nghi anh và các người trên tầu đều là gián điệp của Mỹ gửi về để đánh phá "Cách Mạng"?

Anh không những không về được căn nhà cũ để thăm vợ con để được nhìn mặt những người thân yêu một lần nữa mà cũng không ra khỏi khu biệt giam để rồi bất ngờ bị ném vào một cuộc hành trình kéo dài tới mười bẩy năm "tập trung cải tạo" tưởng như dài vô tận đầy những gian nan và uất hận.

Tổng kết một cách sơ lược thì thấy số tù nhân còn lại đều thuộc về những ngành dính dáng đến an ninh và tình báo như ANQĐ, CSĐB, và PĐUTƯTB, họ được xem như những nhân vật "nặng ký" nên được "chiếu cố" một cách kỹ lưỡng suốt mười bẩy năm, qua bao nhiêu là trại giam từ Nam ra Bắc và lại từ Bắc xuôi về Nam.

Nhưng nhìn những nét mặt bình thản có vẻ vô tư của họ và những nụ cười mà họ trao đổi với nhau, ít ai hiểu được bao nhiêu là gian truân hiểm nguy, nhọc nhằn, và tủi nhục mà họ đã phải đi qua trong suốt chiều dài của mười bẩy năm tù đầy và lao động khổ sai triền miên trên chính đất nước và quê hương của họ dưới mũi súng của quân thù nay là kẻ chiến thắng. Nhiều lúc nhìn lại chính tôi cũng không hiểu tại sao mà mình còn sống sót đến giờ phút này.

Phải chăng ông Trời phú cho con người một sức chịu đựng phi thường, một tiềm năng vô tận để đáp ứng lại mọi tình huống khó khăn nhất, căng thẳng nhất cả về tinh thần lẫn vật chất?
Phải chăng những lời cầu nguyện của chúng tôi hằng đêm đã động đến lòng thương xót của Trời Phật và Ơn Trên đã cứu giúp?
Có những tai nạn xẩy ra hầu như hàng ngày mà chúng tôi vẫn thoát khỏi trong đường tơ kẽ tóc bao nhiêu năm qua có phải đã có bàn tay mầu nhiệm nào che chở?

Tôi chợt nhớ tới một đoạn trong thông điệp gửi nhân dân Mỹ vào dịp Giáng Sinh vào khoảng năm một chín tám ba, Tổng Thống Ronald Reagan "đã đề cập đến tình hình thế giới, chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Sô, và cuối bản thông điệp Tổng Thống có gửi lời thăm hỏi đến gia đình và những tù nhân chính trị tại Việt Nam; những con người trước kia đã hằng ngày đối mặt với quân thù ngoài chiến trường, và nay trong trại giam vẫn hằng ngày đối diện với kẻ thù, đang phải chịu những sự trả thù một cách tàn bạo và hy sinh trong lặng lẽ âm thầm, và Tổng Thống nhắn nhủ rằng ông và chính phủ Hoa Kỳ không bao giờ quên họ - những vị anh hùng".

Sau đợt thả Tết năm Nhâm Thân đầu năm một chín chín hai thì tổng số những người tù cuối cùng của Ba Sao chuyển vào Hàm Tân bốn năm trước từ một trăm năm mươi tư người bây giờ chỉ còn lại đúng hai mươi người. Hai mươi người này được tập trung hết vào đội 23 để tiếp tục lao động mỗi ngày, nhưng tình hình đã hoàn toàn đổi khác thuận lơị một cách bất ngờ. Chúng tôi chỉ đi ra hiện trường lao động cho có lệ chứ không còn phải lao động theo chỉ tiêu như trước.


Quân số đội 23 là hai mươi người, nhưng đúng ra phải kể cả con chó Pepsi rất là dễ thương của Hoàng Hiểu -người về từ VNTT- nữa là hai mươi mốt.


Con Pepsi này anh Hiểu đã xin khi nó mới sanh ra và nuôi nó lớn lên thành con vật được cưng chiều nhất của đội, được mọi người yêu thích và mỗi khi đội xuất trại lao động là nó chạy theo.


Anh đặt tên cho nó là Pepsi không biết có phải để nhớ lại vùng đất Tự Do mà anh vừa đặt chân đến nhưng đã chối bỏ nó rồi bước lên tầu VNTT để tìm về với vợ con và sa chân vào gông cùm xiềng xích?

Khi anh Hiểu vào rừng đi đốn củi cho đội thì con Pepsi cũng chạy theo, hay lẽo đẽo theo tôi ra chỗ lao động nằm trong bóng mát nhìn các ông chủ của nó cuốc đất hay trồng cây, hoặc theo anh Thắng, đầu bếp của đội nằm trong lán để chờ đến chiều trước khi về trại là được anh Hiểu, tôi hay anh Thắng tắm cho nó bên cạnh giòng suối. Những lúc nó được tôi sát sà bông và tắm rửa sạch sẽ xong thì thường nhìn tôi với cặp mắt biết ơn rồi lon ton theo đội vào trại.


Có lần nó chạy vào rừng sâu rỡn chơi cái gì không biết, khi về thì ôi thôi hôi hám chịu không nổi và tôi đã phải nhấn đầu nó xuống giòng suối một lúc rồi mới dám sát sà bông và cọ rửa cho nó. Bực quá, tôi phát cho nó mấy cái thật mạnh vào mông vậy mà nó biết lỗi và im lặng chịu đòn đuôi cúp xuống va không dám phản ứng gì.

Có những lần tôi được gọi ra khu thăm nuôi và trong khi đang ngồi nói chuyện với gia đình, tôi nghe thấy tiếng cào cào vào cánh cửa và cái đầu của con Pepsi ngó vào trong để cho tôi thấy là nó cũng có mặt như là một thành viên trong gia đình vậy, thật là dễ thương hết sức. Nó chờ cho đến khi tôi bước ra vuốt đầu nó khen ngoan thì mới vẫy đuôi chạy mất về đội.


Nhiều lúc tôi cũng không giải thích được, y như là nó nghe được tiếng người vậy nên khi thấy tôi chuẩn bị vô trại thì sau đó nó chạy theo và ra tận khu thăm nuôi để tìm tôi cho bằng được.

Trong thời gian tại trại Hàm Tân, một điều đặc biệt là buồng giam chúng tôi không có khoá cửa ban đêm, trong khi cứ sáu giờ chiều là khu bên trại hình sự cửa ngõ đều khoá trái. Chỉ có điều là đúng chín giờ tối thì có một cán binh bảo vệ đi tuần ngang qua và nhắc chúng tôi vào trong buồng không ở ngoài sân nữa và khép hờ cửa lại mà thôi. Điều này làm tôi nhớ lại khi mới bị tập trung vào "cải tạo" tại trại cô nhi Long Thành thì chung quanh chỉ có một hàng rào dựng lên với những tấm liếp bằng tôn đơn sơ mà thôi và các căn phòng thì không có cả cửa sổ và cửa ra vào nữa, không khóa cửa y như bây giờ, một chu kỳ đã khép kín lại chăng?

Một đặc biệt nữa của trại Hàm Tân này mà thiếu tá Nhu trưởng trại dành cho chúng tôi là tù nhân chính trị được mời đi xem các phim bộ mỗi đêm trên hội trường miễn phí trong khi hình sự nam và nữ phải mua vé. Đây cũng là một hình thức kinh doanh rất thành công của thiếu tá Nhu vì trong tù có gì mà giải trí đâu cho nên tối đến là hội trường đông nghẹt tù nam và tù nữ trong những bộ quần áo thời trang và cũng là dịp cho họ hò hẹn gập gỡ nhau.

Một nhóm chúng tôi thường hay đi cùng với nhau những buổi tối để xem những phim bộ nổi tiếng lúc bấy giờ như "Võ Tắc Thiên", "Thái Bình Công Chúa",v.v., và mỗi khi đến cổng hội trường thì các anh chị trật tự đều chào hỏi chúng tôi một cách trân trọng, và đứng qua một bên nhường đường cho chúng tôi vào và hai hàng ghế trên cùng là ưu tiên để trống dành cho các bác, các chú, các anh tù chính trị.

Nơi ăn ở của chúng tôi vì số lượng còn lại quá ít nên được dành cho hai buồng nhỏ nhưng sạch sẽ trong một góc trại, và có giường đơn riêng cho mỗi người chứ không còn phải nằm xếp lớp như cá mòi trước kia trên những phản gỗ hay xi măng; còn toàn khu trại rộng mênh mông là dành cho tù hình sự nam và nữ.

Trong thời gian này, chúng tôi có phần may mắn vì dù là ít người nhưng phía bên hình sự từ trật tự viên đến tù nhân nam nữ thẩy đều tỏ ra có thiện cảm với chúng tôi nên những năm tháng cuối cùng ở đây cũng dễ chịu và không có gì nguy hiểm. Một phần cũng do khi họ có cần gì thì anh em chúng tôi đều bảo nhau giúp đỡ cho họ về thuốc men hay thực phẩm khô khi gia đình họ chưa tới thăm kịp thời. Đây cũng là phẩm chất của người Quốc Gia trong con người tù nhân chính trị, cho nên khi đi đến đâu cũng đối xử với lòng hảo tâm và nhờ đó mà chiếm được nhân tâm mọi người, làm dịu đi sự căm thù của tuyên truyền chống lại họ hay chuyển thù thành bạn.


Thật là hoàn toàn trái ngược với thời gian khi mới chuyển trại từ Nam ra Bắc sau khi mất miền Nam, và phải ở chung với bên hình sự với sự đối xử như muốn nhận chúng tôi xuống bùn đen.


Ban ngày thì lao động và khẩu phần ăn thiếu thốn đã làm chúng tôi kiệt quệ về sức khoẻ, ban chiều về trại lại phải nghe những tiếng mắng chửi thậm tệ nào là "bán nước" nào là "Mỹ Ngụy",v.v., từ phiá các đội lao động hình sự mà tôi tin là có bàn tay khích động của các cán bộ của họ đằng sau lưng. Mục đích là làm cho chúng tôi thêm ê chề và là một hình thức trả thù cả về thể xác lẫn tinh thần đối với những người bại trận.

Nhìn lại bốn năm trước, khi chuyển trại từ Ba Sao Nam Hà về Hàm Tân Z-30D, miền Nam, chúng tôi chín mươi người tù cuối cùng tại miền Bắc được tập trung với những anh em còn lại trong Nam thành tổng số khoảng một trăm năm mươi tư người và chia ra thành hai đội để đi lao động.

Đội 23 gồm các tướng và các anh tuổi từ năm mươi lăm trở lên và được lao động nhẹ hơn, và phần còn lại dưới năm mươi lăm tuổi thì được "biên chế" về Đội 20 và lao động chỉ tiêu theo như bên hình sự. Được cái thuận lợi là khí hậu miền Nam dù ban ngày có nóng nực đi chăng nữa nhưng ban đêm thì rất dễ chịu chứ không nóng như nung người về đêm của mùa Hè hay giá lạnh căm căm của mùa Đông mưa phùn gió bấc của xứ Bắc nên sức khoẻ chúng tôi cũng dần dần khá lên. Gia đình cũng ở gần nên sự tiếp tế được thường xuyên hơn.

Nhưng sau mười ba năm lưu đầy từ Nam ra Bắc, không ngờ cuối cùng về Hàm Tân chúng tôi lại bị cưỡng bách lao động khổ sai trong khi tay trưởng trại công khai tuyên bố là các anh về đây để được ở gần gia đình và chờ ngày được thả về mà thôi.

Một hôm, có bão rớt ở miền Trung và vùng khu rừng lá Buông này thì chỉ mưa lất phất nhưng gió mạnh, và tụi tôi được lệnh "vô thung" tức là theo các đội hình sự vào sâu trong thung lũng để trồng cây đào lộn hột bấy giờ là mục tiêu sản xuất chính của trại.

Khi đi qua một khu rừng thưa, dù là vác trên vai cuốc xẻng mà chúng tôi vẫn cố lần từng bước một để bám chặt chân xuống đất vì gió thổi quét ngang rất nguy hiểm. Mãi mới di chuyển ra khỏi được vùng gió xoáy đó.

Không ai bảo ai chúng tôi đều quẳng các đồ nghề xuống bên đường và ngồi nghỉ, người vấn điếu thuốc, người nhấp ngụm nước trước cặp mắt ngạc nhiên của tay quản giáo và bảo vệ trong khi các đội hình sự khác vẫn từ từ qua mặt. Tay quản giáo kêu anh đội trưởng cho đội tiếp tục lên đường để vào khu sản xuất, anh đội trưởng nói là anh em đều đã mệt và phải nghỉ một chút rồi mới đi được. Thường thì bao giờ quản giáo ra lệnh thì đội mới được nghỉ ngơi, bây giờ tự dưng tất cả đội nghỉ ngang xương làm cho tay quản giáo vừa tức giận vừa ngạc nhiên. Y sợ trách nhiệm nên hối thúc mọi người đứng dậy.

Có lẽ tức nước vỡ bờ vì tuổi đời đều đã cao, sức khoẻ không còn mà vẫn bị cưỡng bách lao động theo các đội hình sự trẻ tuổi nên anh em mỗi người một câu để chống đối lại sự cưỡng bức lao động phi lý đó nên như ngọn sóng càng lúc càng lên cao dần và bùng nổ ra thành một cuộc biểu tình ngồi lần đầu tiên xẩy ra của đội 20 trước con mắt tròn xoe của tay quản giáo và đám cán bộ của các đội khác đang xúm lại chỉ chỏ.



-"Các ông phải biết rằng con vật mà dồn nó vào chân tường thì nó cũng phản ứng chứ đừng nói gì con người" .


-"Ông vào trong trại thông báo cho Ban biết rằng chúng tôi không thể lao động như thế này được nữa và tùy Ban quyết định."

Tay quản giáo đành phải bảo chúng tôi vào một căn nhà hoang bên đường để tạm nghỉ trong khi hắn đạp xe đạp vào trại để xin chỉ thị.

Đến nước này rồi thì không thể lui lại được nữa và anh em chúng tôi nhìn nhau và sẽ chấp nhận bất cứ hình phạt nào chứ nhất quyết không lao động ngày hôm đó.

Một giờ đồng hồ trôi qua không thấy gì, rồi một giờ nữa thì có tay thượng úy, phó trại và hai cán bộ đến nói chuyện. Sau khi nghe các anh em trong đội phân tích và phản đối cách lao động không hợp lý dành cho đội 20 thì tay thượng úy có lẽ đã được chỉ thị trước, đồng ý cho đội rút về trại.

Kể từ ngày hôm đó thì đội 20 sẽ chỉ lao động chung quanh trại mà thôi và không phải theo chỉ tiêu như bên hình sự nữa. Anh em chúng tôi thở ra nhẹ nhõm với chiến thắng bất ngờ đó và lục tục kéo về trại trước những cặp mắt ngạc nhiên của các tay cán bộ và cán binh bảo vệ vì nếu như bên hình sự mà chống đối như vậy thì cùm ít nhất hai tuần lễ, biệt giam và cắt thăm nuôi.

Trong bốn năm chúng tôi ở trại Hàm Tân, quy chế về thăm nuôi cũng được nới lỏng nên gia đình đến thăm có thể truyện trò thoải mái chứ không bị khó chịu vì sự hiện diện của tay cán bộ phụ trách như những năm mới được gia đình đến thăm tại các trại ở miền Bắc.

Tay trại trưởng thiếu tá Nhu cũng tỏ ra rất nể trọng các cấp chỉ huy của tù chính trị và thỉnh thoảng buổi tối lại mời mấy ông tướng tù chính trị ra nhà riêng để uống trà và thăm hỏi.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, vậy mà chúng tôi đã trải qua bốn năm rồi ở trại Hàm Tân, ngồi trên chiếc ghế đá hơi sương đêm bắt đầu thấm lạnh. Tôi đứng dậy bước vào buồng để lại một đêm nữa sắp qua đi. Cái lạnh làm cho tôi nhớ lại một đêm về sáng, một đêm mà suốt cuộc đời tôi không sao quên được.

Cánh Cửa Địa Ngục (Phần II)

Hồi tưởng của một người tù ở trại Z 30D

Vui buồn ở Hàm Tân ( 1992-96 )

( Hồi tưởng của một người tù ở trại Z 30D)





Tôi bị công an đón bắt ở phi trường Đà nẵng, ngay khi vừa từ Saigon ra tới đó vào buổi chiều ngày 23 Tháng Tư 1990. Ngay bữa sau họ áp giải tôi về lại Saigon và tống giam vào Trại B34 tức là trong khu vực của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia cũ. Mãi đến ngày 14 Tháng Năm 1992, họ mới đưa tôi ra xử tại Tòa Án Saigon và tuyên án xử phạt tôi 12 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chông chủ nghĩa xã hội”. Tôi đã không kháng cáo bản án này.


Đến Tháng Mười 1992, thì họ đưa tôi đi “thi hành án” tại Trại Z30 D, khu K2 ở Hàm Tân gần với thị xã Phan Thiết. Phân trại K2 nằm trong khu Rừng Lá nơi căn cứ 6 của Pháo binh thuộc Quân Lực Việt nam Công hòa ngày trước.Trại này cách xa quốc lộ 1 chừng 3 cây số. Trong số 7-800 tù nhân tại đây, thì có đến 30 người là tù nhân chính trị mà được phân bố trong nhiều đội khác nhau, chứ không hề có một chế độ riêng biệt cho tù nhân chính trị. Vào cuối năm 1992, thì không còn một “người tù cải tạo” nào nữa. Mà chỉ là các tù nhân đã có án. Vào lúc đó, thì ngòai đa số là thường phạm, thì cũng có một số là “ tù nhân kinh tế” gồm cả nam lẫn nữ do sự đổ bể của các công ty buôn bán kinh doanh gây ra. Phải nói rõ rằng đây là thứ trại lao động cưỡng bức, nhưng được người cộng sản gọi là “lao động cải tạo”. Tù nhân được phân phối thành các đội lao động, bình quân mỗi đội có 30-40 người ở trong lán trại chung với nhau, và được dẫn đi ra làm việc ở ngòai trại. Hồi đó, phần lớn các đội phải lo việc trồng cây thuốc lá. Và vào mùa mưa, thì thường trồng khoai mì, bắp, đậu v.v… để cải thiện bữa ăn. Có một đội chuyên làm gạch. Và các người già yếu thì được xung vào một đội chuyên về đan tre v.v…

Mấy năm bị giam giữ trong các trại tạm giam xung quanh Saigon, kể cả nhà tù Chí Hòa, suốt ngày bị nhốt kín trong căn buồng chật chội đến ngộp thở, mà nay được ra ngòai đồng trống với nắng gió thông thóang, thì quả là thuận lợi cho việc phục hồi sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần. Buổi trưa thì thường được ăn ở ngòai trại, gần với chỗ lao động. Nói chung, thì vào hồi đó cơm dành cho các tù nhân không đến nỗi thiếu thốn lắm so với hồi sau 1975, mà lại cũng ít khi bị ăn độn khoai mì, bo bo hay bắp, khoai lang… Chỉ có thức ăn kèm theo cơm là còn yếu kém thôi. Bù lại chúng tôi lại được gia đình tiếp tế tương đối đày đủ, nên về vật chất thì không đến nỗi nào. Và chiều về thì thường được xuống suối tắm ở gần khu vực đập thủy điện, vì các giếng ở trong trại không đủ nước cho hàng mấy trăm con người phải làm việc vất vả mệt nhọc, nóng bức ở ngòai bìa rừng.

Bình thường thì khi bị mất tự do, bị đối xử thô bạo như kẻ phạm pháp, thì phải buồn tủi nhục nhã nữa. Nhưng mà, nếu có được một thái độ thanh thóat của người tu luyện theo đạo thiền chẳng hạn, thì tù nhân vẫn có được những niềm vui tương đối nhẹ nhàng, phiêu lãng, chứ không phải để cho tâm hồn mình bị dằn vặt bởi sự bất mãn, hậm hực hận thù đối với chế độ độc tài hà khắc của người cộng sản. Phải nói là sau khí chế độ cộng sản bị sụp đổ tại Đông Âu, và nhất là tại Liên Xô, thì thái độ của người cán bộ coi tù đối với lọai tù nhân chính trị như bọn tôi ở Hàm Tân vào năm 1992-93 lúc đó cũng đã bớt gay gắt, ít thô bạo hơn nhiều, so với cái thời cuối thập niên 1970 khi trại này mới được thành lập.

Lại nữa, vì có nhiều tù nhân hình sự được ra ở ngòai trại sinh sống như trông coi hồ cá, hoặc lao động thong thả “theo diện rộng”, thì họ dễ dàng tiếp xúc với dân chúng địa phương, hay nghe được các đài ngọai quốc như VOA, BBC v.v…, nên chúng tôi được thông tin khá đày đủ và thường xuyên về tình hình của thế giới bên ngòai. Và mỗi khi gia đình lên thăm nuôi gặp mặt, thì cũng cho biết thêm nhiều tin tức này nọ. Và anh em lại chuyền các thông tin đó cho nhau, việc này giúp anh em tù chính trị bọn tôi rất là phấn khởi tinh thần. Bởi vậy mà không cần chấp nhất những chuyện bực bội nhỏ nhặt do cán bộ gây ra, bọn tôi coi đó là cái thứ “lẻ tẻ, vặt vãnh”, khỏi cần bận tâm thắc mắc đến làm chi cho mệt cái thân mình. Phần đông cán bộ ngành công an thường xuất thân từ các tỉnh Thái bình, Thanh hóa trong các gia đình được gọi là “thành phần cơ bản”, tức là thuộc hàng ngũ được đảng cộng sản tin cậy, nên trình độ văn hóa cũng không đòi hỏi là phải ở mức độ cao so với các ngành chuyên môn khác. Nói rõ ra, thì họ cũng phải có một cái nghề sao cho bản thân và gia đình được yên ấm, ổn định, chứ không thể có cái tham vọng được cất nhắc lên địa vị của “kẻ ăn trên ngồi trốc” trong cái xã hội cộng sản được. Đến nỗi mà có anh cán bộ có lần lại tâm sự : “Các anh là tù, mà chúng tôi cán bộ quản giáo ở đây cũng lại là một thứ tù nữa, chứ đâu có phải là danh giá cao sang cái nỗi gì!” Biết rõ tình hình như vậy, nên hầu hết anh em tù chính trị bọn tôi thì luôn tìm cách tránh cái cảnh phải đương đầu, căng thẳng với giới cán bộ quản giáo. Mình để họ yên, mặc cho họ làm việc phận sự của họ, thì đối lại họ cũng không tìm cách gây ân óan khó dễ gì với mình.

Đại khái cái lối xử thế của chúng tôi hồi đó là luôn cố gắng giữ được sự bình tĩnh, không bao giờ tỏ ra mình là thế này thế nọ để mà khinh khi, coi rẻ bất kỳ người nào, kể cả cán bộ là giám thị trực tiếp canh giữ tù nhân là bản thân mình. Là tù nhân chính trị, thì mình đối lập với chính sách độc tài của cả cái đảng cộng sản, chứ mình đâu có thù óan riêng tư gì với ngưới cán bộ công an mà chỉ hành động theo lối “ Thiên lôi chỉ đâu thì đánh đó”, hay chỉ làm việc theo chỉ thị cấp trên, và cũng vì “miếng cơm manh áo” cho bản thân gia đình của họ mà thôi. Và để cho được công bằng, tôi sẽ ghi thêm về một vài người cán bộ mà đối xử tương đối phải chăng với các tù nhân chính trị chúng tôi hồi đó (Xin xem ở Phần Phụ Lục 1 kèm theo dưới đây)

Còn đối với các bạn tù khác mà hầu hết là tù hình sự và còn trẻ, thì chúng tôi thường có dịp chia sẻ đồ ăn, thức uống, trà lá, thuốc hút với họ, vì họ ít khi được gia đình thăm nuôi tiếp tế. Đổi lại, thì các em lại giúp đỡ mình bằng cách đi xách nước, kiếm củi thổi nấu hay có khi đem giặt quần áo cho “các chú, các bác” hay “các bố”, vì các em ở lứa tuổi 20 thì cũng chỉ vào độ tuổi con cháu của các tù nhân chính trị bọn tôi mà hầu hết cũng phải từ 45-50 tuổi trở lên cả. Nhờ có bọn trẻ này, mà chúng tôi được sống trong bàu không khí gia đình, mà lại có dịp tìm cách kềm bớt được tính hung hãn hay nổi máu anh chị giống như hồi còn ở ngòai đời của chúng nữa. Và riêng đối với tôi, thì đây cũng là cơ hội để mình quan sát tìm hiểu về cái môn “Xã hội học hình sự” nữa (Criminal Sociology) Tôi nhớ lại hồi theo học với giáo sư Nguyễn Độ về môn Hình luật vào năm 1956-57 tại trường Luật ở Saigon, thì hay được giáo sư nhắc đến những nghiên cứu về tội phạm học (Criminology) của các tác giả Ferrari và Lombroso người Ý ngay từ hồi đầu thế kỷ XX, nên cũng tò mò để ý quan sát cách thức sinh họat, ngôn ngữ, sở thích, tâm lý… của các bạn tù đồng cảnh với mình, để xem có những đặc điểm nào, có những điểm tương đồng hay khác biệt nào so với các nghiên cứu đã được công bố trước đây ra sao. Cái sự chú tâm theo dõi quan sát như vậy rõ ràng là kích thích đầu óc mình phải suy nghĩ, tìm kiếm, phân tích thường xuyên, nhờ vậy mà giảm bớt được sự buồn bực chán nản do cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt của người bị giam giữ cô lập khỏi môi trường sinh họat tự do thỏai mái ngòai xã hội.

Niềm an ủi lớn lao nhất của tôi là được thường xuyên gặp gỡ trao đổi với các bạn tù chính trị là “chiến hữu”, là “đồng chí” với mình. Chúng tôi thường chia sẻ mọi thứ đồ ăn thức uống với nhau, tương thân tương trợ, liên đới bảo bọc lẫn nhau, giống như anh chị em ruột thịt trong cùng một gia đình vậy. Người lớn tuổi nhất là cụ Nguyễn Quốc Sủng, một giáo sư nổi tiếng ở Saigon từ trước 1975. Cụ bị án chung thân trong vụ án có người bị tử hình là Luật sư Phạm Quang Cảnh. Nhà thơ Huy Trâm cũng bị dính líu trong vụ án này. Vì sức khỏe yếu kém, nên cụ không phải đi lao động và sau này được đưa về Saigon chữa bệnh và cũng được trả về với gia đình không lâu trước khi cụ mất.

Người lớn tuổi thứ nhì là bác Lý Trường Trân cựu Dân biểu. Bác Trân đã bị đi tù đợt trước rồi, bây giờ bị tù lần thứ hai. Tôi có thời gian ở chung với bác tại trạm xá dành riêng cho người lớn tuổi như chúng tôi đều đã ngòai 60 kể từ giữa năm 1994 trở đi, cho đến khi bác được trả tự do vào cuối năm 1995. Hiện bác Trân cũng định cư ở vùng Little Saigon, Nam California. Cùng vụ với bác Trân là Bác sĩ Trần Thắng Thức, cũng là cựu Dân biểu và bị tù lần thứ hai y hệt bác Trân. BS Thúc hiện định cư tại Virginia gần miệt thủ đô Washington DC. Tôi có làm mấy câu thơ tặng BS Thức, xin xem ở Phần Phụ Lục 2 gồm một số bài thơ tặng các bạn tù khác nữa kèm theo bài viết này.

Người tù lâu năm nhất là anh Lê Thái Chân (1975-95). Anh Chân trước là sĩ quan Pháo binh Sư đòan Dù, vì tội trốn trại không thành mà bị bắt lại lúc ở trại Xuân PhướcTuy Hòa, mà bị kêu án chung thân. Nhưng đến năm 1995, thì được trả tự do. Anh Chân hiện định cư tại miền Boston, Massachusetts. Lúc Anh được thả về, tôi có làm hai câu thơ để tặng Anh Chân, xin được ghi như sau :

Hai mươi năm ấy, chung không thiếu

Vẫn tình non nước, nghĩa anh em.

Người có nhiều kỷ niệm với tôi nhất là Thầy Đạt, tức Hòa Thượng Thích Huệ Đăng. Thầy người cao lớn, nước da ngăm đen. Ông rất rành về Đông Y và hay giúp đỡ rất nhiều tù nhân khác. Thầy là người luôn lạc quan và gây được tinh thần phấn khởi rất nhiều cho các tù nhân chính trị chúng tôi, ngay từ hồi còn bị biệt giam ở các trại chung quanh Saigon. Ông luôn ca hát, giúp cho không khí trong tù biệt giam đỡ được cảnh buồn chán, bi quan. Hiện nay Thầy về trụ trì tại một chùa ngòai phía Nha Trang Tuy Hòa.

Còn rất nhiều bạn tù chính trị khác đã ở chung với tôi ở Hàm Tân, kể cả một số bạn ở bên trại K1 trong thời gian 1992-96, tôi sẽ viết trong Phần Phụ Lục 3 kèm theo bài viết này. Lý do là để cho bài viết khỏi quá nhiều chi tiết rườm rà dài dòng, khiến làm mệt thêm cho người đọc.

Có hai trường hợp tù chính trị chết ở Hàm Tân vào năm 1994-95. Đó là Anh Trần Phước Huệ bị tai nạn xe công nông do anh lái thì bị lật xuống bìa rừng, khiến anh bị đè ép chết. Còn người khác là Anh Lê Nghiêu bị chết vì bệnh phổi ở bên phân trại K1. Tôi có gặp anh ấy mấy tháng trước, thì không thấy có dấu hiệu là anh bị bệnh nặng đến thế. Đó phải kể là hai trường hợp mất mát thiệt thòi rất lớn của anh em tù nhân chính trị chúng tôi ở Hàm Tân thời đó.

Vắn tắt lại, thì ở tù nói cho rõ ra là buồn nhiều hơn vui đấy. Nhưng mà không phải vì thế mà đâm ra tuyệt vọng, hay giữ mãi lòng căm thù óan giận đối với người cán bộ là giám thị canh giữ mình. Tù nhân chính trị là người dám có can đảm đối lập, chống đối chính sách độc tài chuyên chế` của cả đảng cộng sản, mà vẫn cố gắng bảo nhau giữ được lòng nhân hậu, từ bi khoan dung của bậc hiền nhân quân tử. Bởi vậy mà không cần để tâm đến cách hành xử không mấy tốt đẹp của từng cá nhân người cộng sản đối với bản thân mình. Rốt cuộc, tôi vẫn giữ lại cho mình được nhiều kỷ niệm vui tươi, tích cực như đã được ghi trong bài này./

California, tháng Tư 2009

Đòan Thanh Liêm



Phụ Lục




( để kèm theo bài “Vui buồn ở Hàm Tân”).




1/ Tâm sự của một vài “cán bộ khác với thông lệ”.




Thông thường thì cán bộ họ giữ khỏang cách thủ thế đối với tù nhân chính trị. Nhưng vào thời gian tôi ở trại Hàm Tân năm 1992-96, thì được chứng kiến một số trường hợp cán bộ tỏ ra có sự thông cảm, cởi mở hơn đối với anh em chúng tôi. Cụ thể như Bác sĩ Nguyễn Trọng Cống là người trông coi Bệnh xá, thì ông ta chú ý chăm sóc tương đối chu đáo cho người bị bệnh trong số chúng tôi. Cụ thể như đối với anh Võ Thành Sắc bị tù lâu năm vì vụ “Lê Quốc Túy-Mai Văn Hạnh”, anh bị đau phải nằm lâu ngày tại bệnh xá và được BS Cống chăm sóc tận tình. BS Cống luôn gọi mấy người lớn tuổi như tôi là “Cụ”, vì ông ta lúc đó mới chỉ ngòai 30 tuổi thôi, trong khi bọn tôi thì đã ngòai 60 rồi. Mấy lần ông chở tôi ra chợ Tân Minh mua sắm vật dụng này nọ, và dẫn cả đến tiệm của bà chị vợ của ông là người trong Nam, nên chuyện trò cũng thỏai mái thôi.


Và chính Thượng Tá Trịnh Nhu là Trại trưởng, mà thường được gọi là “Ban Nhu”, tức là Ban Giám Thị, thì Ông Nhu cũng rất khôn khéo, nhỏ nhẹ đối xử với tù nhân chính trị chúng tôi. Có lần vào ngày Rầm Trung Thu năm 1994, ông cho mời mấy tù nhân chính trị lớn tuổi như tôi đến trại K3 để ăn bánh, uống trà ngắm trăng và đàm đạo về văn thơ Truyện Kiều nữa. Ông Nhu cũng gọi chúng tôi là “Các cụ”. Sau đó ông còn gửi tặng mỗi người chúng tôi một số tiền nhỏ nữa. Bác Lý Trường Trân cũng có mặt trong dịp này. Và riêng đối với tôi, thì ông có cho cán bộ chở riêng Linh mục Đòan Phú Xuân tới thăm gặp tôi dịp linh mục được trả tự do vào năm 1993. Cha Xuân là bạn cùng quê và cùng học tại trường Chu Văn An Hanoi trước năm 1954.
Còn đây là tâm sự của một cán bộ tên Quân. Vài ngày trước khi tôi được trả tự do để cùng gia đình qua bên Mỹ năm 1996, thì tôi được đưa ra ở khu “Thăm Gặp” và được tự do đi lại trong khu tiếp khách này. Ông Quân tìm cách gặp tôi ở ngòai đường và nói rằng :” bây giờ nhà nước đã thay đổi cách đối xử với những người tù chính trị như các ông rồi, thì tình hình cũng sẽ sáng sủa thôi…” Ông còn đọc tặng tôi mấy câu thơ và chúc tôi lên đường bằng an. Phải nói rằng ông Quân cũng chỉ gặp tôi có vài ba lần trước đó không lâu, nhưng tôi ghi nhận tâm sự của ông như vậy là chân thật. Âu cũng là một câu chuyện nho nhỏ vui vui vậy thôi.

2/ Mấy vần thơ tặng các bạn tù.



Tôi chẳng phải là một thi sĩ, nhưng ở trong tù có nhiều thời gian thĩ cũng hay ghép vần làm lọai thơ “khẩu khí” để tặng các bạn cho vui. Nhưng vì không tiện viết ra giấy, nên lâu ngày cũng quên đi nhiều. Trước đây, tôi cũng đã cho phổ biến trên báo một số bài. Nay chỉ xin ghi lại vài bài chưa công bố thôi.

A - Tặng Bác sĩ Trần Thắng Thức


Yêu người ta vẫn lạc quan


Yêu mình ta chẳng than van buồn phiền

Yêu đời bởi cái nhân duyên
Ta hằng thanh thản như tiên thóat trần.

B - Tặng Cao Văn Phúc và Lê Thái Chân



Nỗi khổ nhục bao năm trời đằng đẵng


Anh em mình từng ngậm đắng nuốt cay

Sống bên nhau những đêm dài tăm tối

Luôn nhắc mình hy vọng ở tương lai.

Phải xứng đáng với giống nòi bất khuất

Hãy tự hào vì nền nếp gia phong

Ngọn lửa nóng càng trui rèn sắt thép

Trau chuốt vàng thêm cao tuổi tinh ròng

Phải đấu tranh chống bạo quyền áp chế

Phải triệt tiêu mọi bóc lột bất công

Và không màng đến xa hoa phú quý

Với bạc tiền từ thủ đọan mánh mung

. . .

Có như thế mới làm tròn nghĩa vụ

Của bản thân người quân tử trượng phu

Với non sông đất nước thiêng liêng

Với dân tộc muôn vàn quý mến./

3/ Các Bạn Tù Chính Trị Ở Hàm Tân 1992-96.



A/ Án chung thân : Nguyễn Quốc Sủng, Lê thái Chân, Kim Hên (dân tộc Khmer), Phạm Thế Công, Cao Văn Phúc, Nguyễn Văn Bá (Cao Đài), Tô Văn Huồn.


B/ Án 15-20 năm : Phan Văn Phần, Võ Thành Sắc, Đòan Viết Họat, Châu Sơn, Nguyễn Văn Đạt (Hòa Thượng Thích Huệ Đăng), Thái Văn Phiên, Huỳnh Văn Giàu, Trần Mạnh Quỳnh, Võ Văn Sáu.

C/ Án dưới 15 năm : Lý Trường Trân, Trần Thắng Thức, Linh mục Đòan Phú Xuân, Nguyễn Hiển, Võ Bá Anh, Bùi Văn Phước, Phạm Quang Huy, Hòang Đức Long, Phạm Đức Khâm, Vương Đức Lệ, Lê Thiện Quang, Lê Ngọc Quang, Đòan Thanh Liêm, Bùi Gia Liêm, Nguyễn Trì (nhà thơ Trương Hùng Thái)



Cước chú : Danh sách này chỉ được ghi theo trí nhớ của riêng cá nhân người viết, nên cần phải rà sóat lại thì mới có chi tiết đày đủ và chính xác được./


LS. Đòan Thanh Liêm

Tham gia Cuộc Biểu Tình Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 tại London trước Sứ quán Việt cộng.

Ủy Ban Tổ Chức Biểu Tình Ngày Quốc Hận 30-4

Đạp cờ máu VC


Thư Mời


Tham gia Cuộc Biểu Tình Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4

Kính thưa quý vị

Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư năm nay, đánh dấu 36 năm tập đoàn Việt gian cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam thân yêu của chúng ta. Chúng đã phản bội Tổ Tiên, đã và đang bán đất, dâng biển đảo cho bọn Quan thầy Tàu cộng, chấp nhận làm tay sai cho bọn Bá quyền Tàu cộng, chúng nhu nhược yếu hèn với kẻ thù Phương Bắc nhưng bạo tàn và độc ác với Dân ta bằng chánh sách công an trị, bắt bớ, trù dập, tù đày các Nhà bất đồng chính kiến. Tệ nạn tham nhũng trở thành Quốc nạn và đất nước càng ngày càng trở nên nghèo nàn lạc hậu, văn hóa suy đồi nhân phẩm của Người Dân Việt đã bị bọn Việt gian cộng sản chà đạp qua những hình thức buôn bán Nô lệ tình dục, nô lệ lao động trên khắp xứ người.
Chúng ta là những con dân Việt không thể làm ngơ trước những nguy cơ mất nước vào tay bọn Bá quyền phương Bắc, không thể để cho bọn Việt gian cộng sản tiếp tục độc quyền cai trị đất nước mà chúng ta phải góp sức tranh đấu cho một Việt Nam Tự do Dân chủ, Đa nguyên và sự toàn vẹn Lãnh thổ.
Để thể hiện tinh thần đó.Uỷ Ban Tổ Chức Biểu tình ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư trân trọng kính mời quý Đồng hương, quý Hội Đoàn Đấu tranh tại Vương Quốc Anh bỏ chút thì giờ đến tham gia cuộc Biểu tình sẽ được tổ chức tại:

Địa điểm tập trung: Palace Gate, Kensington Road, Kensington Gardens, London W8 (vẫn như chỗ cũ)
Địa điểm Biểu tình: Trước Sứ quán Việt cộng, Victoria Road London W 8
Thời gian: Thứ Bảy, Ngày 30-4-2011, từ 12g30 đến 16g00

Trong cuộc biểu tình này chúng ta sẽ tố cáo và lên án tập đoàn Việt gian cộng sản trước dư luận Quốc tế về việc chúng vi phạm Nhân Quyền, đàn áp Tôn giáo, phản bội Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam.

Trân trọng kính mời.
Ban Tổ Chức:

* Cộng Đồng Người Việt Tỵ nạn Vùng Midlands.
* Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Vương Quốc Anh
* Phong trào Hải Ngoại Yểm trợ Quốc Nội Vùng dậy (Anh Quốc)
* Khối Yểm trợ Dân chủ 101206 tại UK
* Hội Cao Niên CĐ Người Việt Tỵ nạn Vùng Midlands
* Lực Lượng Thanh Niên Hành động Anh Quốc

Để biết thêm chi tiết, xin quý vị liên lạc với những đại diện sau đây:
1- Birmingham: ôô. Lê Thành Lập 0121 554 2734, Lê Phát Định 0121 384 8260, Nguyễn Văn
Thi 07554 159 499.
2- London: ôô. Ngô Hữu Thạt 07710 723 325, Ngô Ngọc Hiếu 07956 289 246, Nguyễn Bá Ðạt
07843 431 772.

Ghi chú: Quý Đồng hương Vùng Midlands và Tây Bắc.
Ban Tổ chức có thuê một xe Coach để chở quý Đồng hương tham dự biểu tình.
Địa điểm tập hợp: Trước V/P Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Vùng Midlands, 8 Charleville Road, Handsworth, Birmingham B19 1DA, lúc 8g30 và khởi hành đúng 9 giờ 00 sáng Ngày Thứ Bảy 30 Tháng 04 Năm 2011.

Bài Xem Nhiều