We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 10 April 2011

Tiếng Việt Hiện Đại và Chuyện “Tình Yêu Phai Nhạt”

Người miền Bắc vào Nam sau 30-4-1975 mang theo nhiều từ ngữ khác lạ và đôi khi dùng chữ ý nghĩa thay đổi. Vì không sống cùng môi trường, người Việt sống ở hải ngoại đọc nghe thấy lạ. Hai câu chuyện buồn cười có thật xẩy ra vì việc không hiểu từ ngữ mới lạ này:
Chị vợ tôi là người miền Nam, đi du học ngoại quốc từ khi còn bé vào thập niên 1960, chữ nghĩa tiếng Việt giới hạn. Năm 2005, lần đầu tiên trở về SàiGòn sau hơn 40 năm xa nhà, chị đến Khoa Học Dược thăm lại trường cũ thì người bảo vệ không cho, nói phải trình
hộ chiếu (giấy thông hành - passport) thì mới được vào. Chị tôi nghe không hiểu chữ “hộ chiếu” là gì, tưởng là chữ “chiếu”, nói với người bảo vệ là chị ấy đi du lịch từ Mỹ về thì làm gì mà nghĩ đến chuyện mang chiếu nên không thể nào có chiếu mà đưa cho anh ta được!

Trên đường về khách sạn từ phi trường, khi biết chị lần đầu tiên về lại Việt Nam, người tài xế nói chị nên đi Vũng Tàu chơi: “Bây giờ có
tầu cánh ngầm chở khách từ Sàigòn đi rất nhanh, chỉ mất có 50 phút”. Đi theo chị là một người bạn Mỹ nên chị phải thông dịch cho ông ta hiểu. Trong ba chữ “tầu cánh ngầm”, chị chỉ hiểu có hai chữ “tầu ngầm” nên nói với ông ta là: “We can take the submarine from Saigon to Vung Tau”. Dĩ nhiên là người bạn Mỹ quá khâm phục với quốc gia hiện đại Việt Nam dùng tầu ngầm là một phương tiện chuyên chở du lịch! Chính tôi là người Bắc mà lần đầu tiên khi nghe một người bạn ở SàiGòn dùng chữ “tầu cánh ngầm”, tôi cũng không hiểu. Sau khi nghe anh bạn giải thích là tầu chạy bằng hơi, tôi mới biết anh ta nói về hovercraft, tầu lướt nước trên hơi ép không khí. (Tầu này khi chạy lơ lửng không chạm nước nhờ không khí đệm ở đáy tầu nên khi mới phát minh, nhiều người xếp nó vào loại máy bay. Mặc dù hovercraft hiện giờ đóng một vai trò quan trọng trong vũ khí quân đội, khi Sir Christopher Cokerell cải tiến kỹ thuật của hovercraft vào giữa thập niện 1950 và đề nghị quân đội Anh nên dùng, Hải Quân Anh từ chối, cho rằng hovercraft là máy bay, trong khi Không Quân Anh cũng khước từ, viện lẽ nó là tầu thủy, không phải là phi cơ!)
Một hay hai năm sau khi sang Mỹ, tôi có đọc tựa đề của hai cuốn phim trong báo của miền Bắc mà khi vừa đọc xong, tôi chưng hửng không biết nghĩa là gì: “Thép đã tôi thế đấy” (Phim Nga) và “Đến hẹn lại lên”. Phải mất nhiều phút suy nghĩ tôi mới đoán ra chữ “tôi” ở đây như nghĩa của chữ “tôi luyện”: “Thép đã tôi thế đấy” có nghĩa là “thép đã nung đúc đến độ bền cứng như thế”, ám chỉ một người đã trải qua bao gian nan thử thách khó khăn, nay trở thành vững chắc. Còn “Đến hẹn lại lên”, thoạt nghe như tựa đề một chuyện phim X-rated, có nghĩa là phấn khởi khi gặp nhau!
Đã có nhiều người, ngay cả tôi, viết phân tích và phê bình những từ ngữ mới lạ này. Tôi tóm tắt:

-Sai văn phạm: “làm việc tốt” là sai, nói đúng phải là “làm việc giỏi” (“tốt” là tĩnh từ, chỉ bổ nghĩa cho danh từ, nếu muốn dùng chữ “tốt” thì phải nói“sự việc tốt”. “làm việc” là động từ, chỉ có trạng từ mới bổ nghĩa cho động từ. “giỏi”là trạng từ, do đó nói đúng phải là “làm việc giỏi”).

-
Dùng chữ "có khả năng" nghĩa khác trước 75:

“dưa hấu có khả năng giải rượu”. Trước 75 ta nói: “dưa hấu có thể giải rượu”.

“giá nước sinh hoạt có khả năng tăng giá”. Trước 75 ta nói: “giá nước sinh hoạt có thể tăng giá”.

Có khả năng không phải cắt điện tuần tới”. Trước 75 ta nói: “Có thể không bị cúp điện tuần tới”.

Trước 75, chủ từ của “có khả năng” phải là người hay là một sinh vật chuyển động. Nếu chủ từ là vật, ta dùng chữ “có thể”, không dùng “có khả năng”. Ngày nay bất cứ chủ từ nào cũng dùng “có khả năng”.

-
Chữ dùng sai nghĩa: “chất lượng” dùng nghĩa như “phẩm chất” là sai vì phẩm chất không có lượng. Ngay cả tiếng Anh hay tiếng Pháp, “phẩm chất” cũng không có lượng : quality , qualité. Số lượng là quantity, quantité.

-
Chữ Hán/Nôm hỗn tạp: “Siêu sao”: “Siêu” là tiếng Hán, “sao” là tiếng Nôm. Nói đúng phải là “siêu minh tinh”.

-Đảo ngược chữ: “triển khai”, thay vì “khai triển”.

-Ghép chữ: “kích cầu” = kích thích + nhu cầu.

-
Cầu kỳ hóa chữ không cần thiết: “hiển thị” thay vì “xem”, “có sự cố” thay vì “hư hỏng”, “trục trặc”….

Hôm nay tôi tụ tập những chữ mới lạ này (chữ in nghiêng), viết lồng chúng trong một câu chuyện để đọc cho vui. Giống như hầu hết những thơ văn khác tôi viết đều là chuyện có thật vì tôi không giỏi trí tưởng tượng (tôi chỉ bóp mép sự thật một tí), câu chuyện sau đây cũng là không giả tạo: khi còn độc thân tôi có một con chó, có một chiếc xe gắn máy, và phần cuối của bài viết là chuyện thật xẩy ra khắp nơi trên đất Mỹ. Xin mời bạn đọc, “Tình Yêu Phai Nhạt”:

Tình Yêu Phai Nhạt

Tôi nhìn đồng hồ hai cửa sổ không người lái trên tay, bây giờ đã 6 giờ sáng. Bật kênh phát sóng số 3 nghe bản thông tin, TV tiên đoán hôm naycó khả năng mưa. Tình hình Ai-Cập đã bớt căng vì công an, quân đội, kể cả lính gái lính thủy đánh bộ kiểm soát đường phố khắp nơi. Một tướng lãnh đọc bài nói loan báo an ninh đã được bảo quản, tình trạng đất nước tốt, báo cáo tốt, các quan chức nhà nước sẵn sàng làm việcnghiêm túc trở lại để phục hồi đất nước. Vẫn còn quá sớm để thức dậy, nhất là hôm nay Thứ Bảy tôi không phải động não đi quảng trường quy hoạch quy trình cho nhân viên được quán triệt phương án, thế nhưng tôi vẫn ráng động viên cơ thể đứng dậy, bước ra khỏi giường.
Xuống dưới nhà, tôi vào bếp bắc nồi vừa chiên
con sâu mỡ, vừa pha cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc cùng một lúc cho tranh thủ thì giờ. Pha xong, tôi vất xác cà phê ngay vào thùng rác, không dám đổ xuống bồn rửa bát sợ gây ra sự cố, ống nước bị ùn tắc. Mang ly cà phê nóng ra sau vườn nhâm nhi trong khi đọc báo, ngắm cây xanh tốt vì đất được phân bóncải cách, hoặc viết lách vào sáng sớm cuối tuần là cái thú thư giãn của tôi. Căn hộ tôi không được hoành tráng mấy thế nhưng nó xa phi khẩu, đảm bảo yên lặng chochất xám của tôi được tăng trưởng kiệt suất khi tôi muốn viết lách. Nhà tôi ở núi non xa cách thành thị như thế này thì chắc chắn nhà nước chẳng bao giờ giải phóng mặt bằng để xây đường cao tốc.

Nguyễn Tài Ngọc


Ngày xưa mới lấy nhau thì không sáng nào hai vợ chồng không dậy sớm ngồi thủ thỉ với nhau. Bây giờ sau 27 năm lấy nhau thì
căn hộ vắng vẻ, sáng nào tôi cũng ngồi một mình, còn nàng thì vẫn tiếp tục đánh giấc cho đến 8, 9 giờ mới dậy. Sinh hoạt hai vợ chồng vì thế cách ly hẳn.
Tôi còn nhớ rất rõ tình cảm mật thiết nàng dành cho tôi khi lần đầu tiên chúng tôi mới gặp nhau. Ở
cuộc gặp lần thứ hai, nàng đã nhờ chị của nàng ở bên (cùng đi nhà thờ với tôi) làm rõ gia cảnh tôi, biết rằng tôi chưa có đối tượng. Vì thế, dù rằng chỉ mới là bạn sơ hữu, nàng nói là nàng muốn liên hệ tình cảm với tôi. Mừng như bắt được vàng, tôi bảo nàng cởi áo ra (lúc ấy đã làbuổi đêm). Vừa nghe xong nàng tát cho tôi một bạt tai nháng lửa. Tôi ngạc nhiên quá đỗi nhưng chỉ cần vài giây suy nghĩ là tôi đoán ngay lý do tại sao nàng tát tôi: nàng kẹt ở lại Việt Nam tháng 4-1975, chỉ sang Paris năm 1980 nên dùng chữ “liên hệ tình cảm”, có nghĩa là “muốn làm quen với anh”. Tôi thì đi ngày 30-4-1975 nên đâu có bao giờ nghe chữ ấy, chỉ biết chữ “liên hệ tình dục” nên khi nàng nói liên hệ tình cảm, tôi nhanh nhẩu đoảng nghĩ ngay là nàng muốn liên hệ tình dục do đó mới bảo nàng cởi áo ra! Vì vậy mà tôi ăn tát! Đối với các cô khác thì đã un point final tình bạn, không thể nào cho nó
triển khai
thêm, thế nhưng nàng là người dễ dãi, và nhất là dễ gì tìm được một con trai chảnhnhư tôi nên sau khi nghe giải thích sự tình, nàng bỏ tất cả bức xúc, tha thứ cho tôi.

Hai chúng tôi
giao lưu thư từ và trao đổi điện thoại thường xuyên. Nàng là dân trường Tây, lại ở Paris nên viết thư dùng những
từ
tiếng Pháp làm nhiều lúc tôi phải tìm tự điển hay tư liệu để tra cứu. Mắt tôi kém, lúc nào cũng cần phải đeo kính để hiển thị thơ nàng. Tuy rằng ở Paris , nàng nỗ lực bố trí có cơ hội là sang Mỹ thăm tôi. Khi còn bé tôi ước mơ lớn lên sẽ làm nghệ nhân hay
chủ nhiệm
, thế nhưng lúc quen nàng thì đời sống tôi thất bại. Tôi không thuộc loại người có đỉnh cao trí tuệ mà chỉ là một người thợ quèn. Ấy thế mà nàng không sốc khi biết nghề nghiệp thật sự của tôi, còn yêu và xem tôi như tôi là một siêu sao! Xa nhau cả đại dương, tôi năng nổ viết thư cho nàng. Nhận được thư tôi nàng phản hồi ngay lập tức. Vài tháng sau, trong một lá thư, tôi đề xuất chúng tôi nên lấy nhau. Câu đáp án của nàng là bằng lòng. Còn sáu tháng nữa mới học xong đại học ở Paris mà nàng bỏ ngang không học nốt làm cho tôi ngạc nhiên khôn xiết khi một tuần sau tôi nhận điện thoại đột xuất của nàng báo hiện đang ở Sân bay Los Angeles ! Ra đón nàng ở Sân bay, gần Trung Tâm Quản Lý Bay Dân Dụng, tôi không khỏi trào nước mắt khi thấy nàng đứng một mình với một chiếc valise to tổ bố. Nàng ôm chầm lấy tôi và nói:

-Em ra trễ vì phải trình giấy tờ ở
Hải Quan. Em đi máy bay yên lắm vìtổ lái tốt. Em đăng ký mua vé máy bay hôm kia, bảo cô bán vé khẩn trương tìm vé cho em. Gia tài em còn lại chỉ có cái hộ chiếu trong tay và cái valise này. Em bỏ học, bỏ việc làm bán phần với thu nhập chẳng là bao nhiêu, bỏ doanh nghiệp xuất khẩu em làm cho người quen, bỏ cả chứng minh nhân dân Tây bên Pháp, bỏ hết tất cả để sang Mĩ thi công sống với anh. Em có mang học bạ bên Pháp sang để chuyển ngữ, em sẽ đi học tiếp bên nên anh đừng lo em bỏ học.

Ngừng một lúc, nàng tiếp:


-Em muốn anh
quản lý đời em. Thế anh có tiếp thu em không?
Quá cảm động với tình yêu nàng dành cho tôi, dù rằng tôi là người vạm vỡ, ngày xưa là
vận động viên của Viện Ung Bứu, vận động viên bóng đá, từng dùng dây thừng kéo những xe đò quá tải, tôi khóc òa và ôm chầm lấy người bạn gái thân thương, hứa rằng sẽ trọn đời yêu và nuôi nấng nàng. Nếu nghề chính của tôi không đủ nuôi hai đứa, tôi sẽ tìm nghiệp dư, tìm đủ mọi cách kiếm sống, quyết không bao giờ để nàng đói. Khi độc thân tôi có một con chó và một chiếc xe gắn máy, mua với một giá bèo. Từ ngày lấy vợ, tôi bán chiếc xe gắn máy để khỏi phải đội mũ bảo hiểm. Tôi giải phóng luôn con chó để có thì giờ tiêu khiển với nàng.

Những năm tháng đầu và cho cả đến thời gian gần đây, đời sống vợ chồng tôi thật hạnh phúc. Hai chúng tôi lúc nào cũng có ý tưởng
nhất quán, không bao giờ gây gỗ nhau. Nàng mê tôi còn hơn Alain Delon, chiêu đãi tôi ngày này qua ngày khác. Thế nhưng từ ngày nàng bắt đầu xem phim bộ hay Paris By Night, nàng bắt đầu sao lãng, bỏ bê tôi, không thèm đi tham quan với tôi mà chỉ liên hệ với những cô khác cùng sở thích. Đã thế, nàng còn chỉ đạo tôi làm việc nhà nữa chứ!

Một lần tôi mổ răng về nhà nằm liệt giường
có sự cố, cần cứu hộ. Nàng hỏi tôi có muốn ăn cháo thì để nàng nấu. Tính tôi không thích người khác mệt nhọc vì mình, không muốn vợ phải vất vả vì tôi nên tôi mới bảo nàng là không cần nấu, tôi ăn mì gói là món ăn chủ đạo cũng được rồi vì mì gói cũng đủ chất lượng. Tôi ăn mì gói một ngày, hai ngày, ba ngày thì không sao, nhưng đến ngày thứ tư, thứ năm thì ngán đến tận cổ, muốn tranh thủ ăn lắm nhưng nuốt không trôi, thế mà nàng vẫn không nấu gì cho tôi ăn. Qua đến ngày thứ sáu, tôi mới hỏi nàng sao không thấy nấu cháo gà, cháo thịt cho tôi ăn thì nàng lý giải chính tôi là người nói với nàng không cần nấu nên nàng để dành thì giờ rảnh rỗi xem hát đôi, hát tốp của những ca sỹ trên sân khấu đại trà tiên tiến của Paris By Night! Cứ theo chế độ dinh dưỡng nàng dành cho tôi như thế này, thay vì thổi cơm tốc độ cho tôi ăn thì không nấu niếng gì hết cho tôi đói, chẳng mấy chốc tôi sẽ là hành khách trong bài Con đò đưa xác.

Hơn 27 năm sống với nhau, sau khi đã tốn bao nhiêu công sức
nâng cấp một người ở chợ Bàn Cờ như tôi (nhà tôi gần Hội Chữ Thập Đỏ), vợ tôi không còn mê tôi nữa. Tôi đã tư duy định leo lên máy bay lên thẳng rồi khi ở trên không, nhẩy ra ngoài máy bay tự tử để cho vợ tôi thấyhệ quả khi nàng không còn yêu tôi. Thế nhưng một ông bạn già Phó Tiến Sĩ của tôi 70 tuổi, đã về hưu, tuần vừa rồi cảnh báo tôi không nên phí đời giai như vậy. Ông ta muốn dẫn tôi đến nơi này đàn ông có giá trị hơn vàng vì số đàn bà gấp ba lần đàn ông. Tôi đến thì ông ta đảm bảo bao nhiêu bà sẽ hồ hởi tranh giành chém giết nhau để dành lấy tôi. Ông ta làm việc ở ba nơi. Chỗ nào họ cũng trả tiền ông ta đến nhẩy đầm với mấy bà vì nơi nào đàn ông cũng đều khan hiếm trầm trọng, không đủ người để nhẩy. Khi đến nơi làm việc, lúc nào ông ta cũng không có thì giờ nghỉ ngơi vì hết bà này đến bà khác dành giật nhẩy với ông ta. Đã thế, họ còn cho ông thêm tiền bồi dưỡng! Tôi không cần nhẩy giỏi, chỉ biết cơ bản là đủ. Nếu tôi nhận lời đi theo ông ta thì tôi nhất định sẽ không còn buồn vì vợ bỏ bê tôi. Ngược lại tôi sẽ hưng phấn vì các em gái này sẽ thống nhất tranh nhau o bế tôi, không rời tôi nửa bước, không cho tôi về nhà sớm. Ngoài ra, ở đó họ còn dùng máy điện tính, máy quét, thỉnh thoảng hư cần người sửa. Tôi sửa được mọi sự, đến đó vừa nhẩy đầm vừa sửa phần cứng, phần mềm cho họ thì họ lại càng yêu mến, đời sống tôi sẽ được hoàn toàn thoải mái vô tư.

Tôi chưa biết
xử lý ra sao vì hôm qua ông ta mới nói cho tôi biết nơi ông ta đi làm: Viện Dưỡng Lão Cao Cấp Thành phố với tuổi trung bình của hội viên là 73 tuổi.

bài nói diễn văn
bảo quản che chở
bèo rẻ
bố trí sắp đặt
bức xức dồn nén, bực tức
căn hộ căn nhà
chất xám thông minh
chủ đạo chính yếu
con sâu mỡ lạp xưởng
cơ bản căn bản
đại trà quy mô
động viên khuyến khích
đề xuất đề nghị
đột xuất bất ngờ
hiển thị xem
hưng phấn vui sướng
khẩn trương nhanh lên
kiệt suất xuất sắc
làm rõ điều tra
năng nổ siêng năng
nghệ nhân nghệ sĩ
nghiêm túc nghiêm chỉnh
nhất quán đồng nhất
phương án kế hoạch
quá tải quá trọng lượng
quy trình tiến trình
quán triệt hiểu rõ
tổ lái phi hành đoàn
tranh thủ cố gắng
trao đổi nói chuyện
tư duy suy nghĩ


Nguyễn Tài Ngọc

Bài ca nối mạng

Bài ca nối mạng

Hoàng Hưng - Tặng công dân Net




Màn hình computer rực sáng.




Những tiếng phẫn nộ, những tiếng yêu thương,


những tiếng khinh bỉ, những tiếng sẻ chia,

những tiếng đòi SỰ THẬT,

những ánh nến hồng ngàn vạn trái tim,

những bó hoa tươi ngàn vạn tấm lòng,

trong còi rít, còng khua,

trong dùi vung, đạn xé,

trong vòi rồng điên cuồng

trong dối trá phỉnh phờ vây bủa.



Màn hình computer rực sáng.




Những tiếng phẫn nộ, những tiếng yêu thương,


những tiếng khinh bỉ, những tiếng sẻ chia,

những tiếng đòi QUYỀN SỐNG,

những ánh nến hồng ngàn vạn trái tim,

những bó hoa tươi ngàn vạn tấm lòng

đã vượt qua nỗi sợ,

đã vượt qua tường lửa,

đã phá tung màn đêm,

đã tìm nhau kết nối,

đã cho nhau niềm tin.



Màn hình computer rực sáng.




Những tiếng phẫn nộ, những tiếng yêu thương,


những tiếng khinh bỉ, những tiếng sẻ chia,

những tiếng đòi TỰ DO,

những ánh nến hồng ngàn vạn trái tim,

những bó hoa tươi ngàn vạn tấm lòng

đã nhân truyền triệu triệu

thành sóng biển thành thác lũ

từ một clic chuột giản đơn



Từ trong thế giới ảo


ta xây đắp con đường

trở về SỰ THẬT

trở về SỰ SỐNG

trở về TỰ DO



Clic chuột đi thôi


Ta vào xa lộ

Thế giới thênh thang

Từ một nơi này ta ôm hoàn vũ

Không cô đơn cũng không bày đàn

Clic chuột đi thôi

Nào ta nối mạng!



Màn hình rực sáng…




Viết trong ngày tháng tư rực lửa

Giáo Xứ Thanh Minh- Thái Bình thắp nến cầu nguyện cho luật sư Lê Quốc Quân


Tối nay ngày 9-4 tại giáo
xứ Thanh Minh- Thái Bình thánh lễ lúc 18 giờ 30 lễ chúa nhật thứ 5 mùa chay. Tại thánh lễ này theo ý nguyện của gia đình luật sư Lê Quốc Quân , Linh Mục AUG Phạm Quang Tường đã chủ trì thánh lễ thắp nến cầu nguyện cho luật sư Lê Quốc Quân cùng với những nhà bất đồng chính kiến Việt Nam đang bị chính quyền hiện tại cầm tù.

Linh Mục AUG Phạm Quang Tường là linh mục quản hạt có 42 nghìn giáo dân. Trong những lúc khó khăn nhất của giáo hạt này hồi năm ngoái 2010, luật sư Lê Quốc Quân đã từng gắn bó với bà con giáo dân ở đây vào giai đoạn đó. Tin luật sư Lê Quốc Quân bị bắt giữ vì tội đứng bên ngoài xem phiên tòa xét xử Cù Huy Hà Vũ đã khiến Linh Mục quản xứ và giáo dân ở đây rất quan tâm. Những giáo dân xứ này từng có mặt tại Thái Hà, Tòa Khâm Sứ vào những ngày gay gắt nhất của năm 2008 - 2009.

Vợ luật sư Lê Quốc Quân, chị Maria Nguyễn Thị Thu Hiền có lời trần tình về hoàn cảnh anh Quân và cám ơn cộng đoàn đã cùng chia sẻ

http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fathbvohbatvb1972.zhygvcyl.pbz/wbheany/vgrz/282/282

Sau 64 năm Giáo chủ PGHH “thọ nạn”, Tín đồ bắt đầu đòi Công lý?

Năm nay, ngày 25 tháng 2 âm lịch nhằm ngày 29 tháng 3 dương lịch, tức ngày 16 tháng 4 năm 1947, năm nhuần, một số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đông chừng vài chục ngàn người đã tự động tổ chức Lễ Tưởng nhớ Đức Thầy thọ nạn ở nhiều địa điểm trong vùng Đồng Bằng Sông Cữu long . Từ khi cộng sản cai trị Miền nam, người Phật Giáo Hòa Hảo không được phép nhắc tới Đức Thầy thọ nạn vì đó là điều vẫn còn bị nhà cầm quyền cộng sản cấm kỵ nghiêm ngặt .

Nơi đây, tôi chỉ trích thuật vài địa điểm tổ chức lễ mà tôi được biết qua thông tin của một thân hữu có mặt tại chỗ theo dõi tình hình thực tế.

Từ ngày 22 tháng 2 âm lịch, tại xã Long Giang, Huyện Chợ Mới, An Giang, một nông dân lão thành, nhà có vườn rộng, đã điềm nhiên treo trước nhà một tấm biểu ngữ màu nâu, khổ 4mx 0m,90, với hàng chữ “Tưởng nhớ 64 năm Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo thọ nạn tại Đốc Vàng, Kiến Phong “.

Tín đồ PGHH làm lễ sửa soạn phát động tổ chức Lễ “Tưởng nhớ 64 năm Đức Thầy thọ nạn”.

Đồng thời, tại vùng Thất sơn, có 3 địa điểm khác: Láng Linh, Bảy Thưa và Xã Phú Tân, An Giang, như ba nơi động tâm của người PGHH, tín đồ cũng đồng loạt tự động tổ chức Lễ Tưởng nhớ “64 năm Đức Thầy thọ nạn”. Mỗi nơi đón nhận tín đồ lần lượt tới làm lễ hằng mươi ngàn người . Riêng tại Lò Rèn ở Cù Lao Ông Chưởng, công an đông đảo, trang bị võ khí, các loại xe cấp cứu, xe bắt người, túc trực canh phòng nghiêm ngặt vì nơi đây, tín đồ tổ chức lễ rình rang hơn, có cờ quạt, nhiều biểu ngữ ghi chép lại lời Đức Thầy dạy.

Ở những nơi khác, hình thức tổ chức lễ đơn giản hơn . Vài nhà gần nhau, hợp lại, lập bàn thờ trước sân nhà, cùng nhau cầu nguyện Đức Thầy sớm trờ về để cứu dân, cứu nước.

Vẫn áp dụng biện pháp cố hữu, công an ngăn chận các trục giao thông thủy bộ dẩn tới các địa điểm tổ chức Lễ để không cho hoặc giới hạn số người tham dự nhưng vẫn không quản lý được khối lượng tín đồ đi dự lễ .

Nhà cầm quyền cộng sản ngăn cấm tổ chức Lễ tưởng nhớ Giáo chủ PGHH thọ nạn vì lo sợ khối tín đồ đứng lên đòi hỏi món nợ máu của 64 năm trước. Nói rõ “thọ nạn”, tức bị Việt Minh vâng lệnh Hồ Chí Minh ở Hà nội tổ chức ám sát?

Những xung đột đẫm máu giữa lực lượng Quốc gia và cộng sản.

Xin nhắc sơ lược một vài biến cố của thời cuộc Việt nam từ năm 1945 để hiểu tại sao cộng sản căm thù PGHH và ra tay ám hại Giáo chủ .

Sau khi Nhựt bổn lật đổ chánh quyền Pháp tại Đông Dương, ngày 10-03-1945, nhà trí thức ái quốc Hồ văn Ngà thành lập Đảng Việt nam Quốc gia từ sự phối hợp với Đảng Nhân dân Cách mạng gồm có các nhà cách mạng ái quốc Phan Khắc Sửu, Võ Oanh, Trấn Quốc Bửu, Trần văn Ân, Ngô Đình Đẩu, Nguyễn văn Sâm, …

Ngày 12-03-1945, Hoàng Đế Bảo Đại ra tuyên cáo hủy bỏ tất cả Hiệp ước bất bình đẳng đã ký với Pháp ngày 6-6-1862 và ngày 15-08-1884 . Hành động của Hoàng Đế đã mặc nhiên có hiệu lực khôi phục nền độc lập dân tộc và sự thống nhứt đất nước.

Ngày 14-08-1945, hưởng ứng lời kêu gọi kết hợp lực lượng tranh đấu của nhà trí thức ái quốc Hồ văn Ngà, Giáo chủ PGHH, các nhân sĩ Trần văn Ân, Nguyễn văn Sâm, Trần văn Thạch, …liên kết các đảng phái để thành lập một tập hợp lớn “Mặt Trận Quốc Gia Thống nhứt”.

Sau khi Nhựt bổn đầu hàng Đồng Minh, Triều tiên, Nam dương tuyên bố Độc lập. Mặt Trận Quốc gia Thống nhứt vừa ra đời đã triệu tập một cuộc biểu tình tuần hành trên khắp các đường phố Sài gòn qui tụ cả 200 000 người tham dự, biểu dương một lực lượng quần chúng hùng hậu cho một Việt nam độc lập trước dư luận quốc tế và quốc nội .

Tháng 8 năm 1945, Nhựt bổn chọn trao trả Chánh quyền Nam kỳ cho Hội đồng Nam kỳ do nhơn sĩ Trần văn Ân làm Chủ tịch . Nhưng sau đó, ngày 22-08-1945, Việt Minh tổ chức biểu tình trước Nhà Hát lớn Hà nội và cướp Chánh quyền . Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị để làm “Công dân một nước độc lập hơn làm vua một nước bị nô lệ”. Trong Nam, ngày 25-08-1945, Việt Minh cướp Chánh quyền bằng cách thành lập một thứ chánh quyền cách mạng theo kiểu cộng sản, Lâm Ủy Hành chánh Nam bộ, với 9 Ủy viên và Trần văn Giàu tự phong làm Chủ tịch. Ngày 02-09-1945, Hà nội và Sài gòn đều biểu tình, tuyên bố Việt Nam độc lập lần nữa. Hồ Chí Minh bổng nhiên xuất hiện trước đồng bào ở Hà nội và đọc tuyên ngôn độc lập, tự xác nhận Chủ tịch nước.

Ngày 07-09-1945, các đảng phái Quốc gia và Nhóm Đệ Tứ phản đối quyết liệt, đả đảo Lâm Ủy Hành chánh độc đoán và thiếu lương thiện . Trần văn Giàu đã phải nhượng bộ, mở rộng sự tham dự tổ chức . Phạm văn Bạch thay Trần văn Giàu làm Chủ tịch, do 2 ông Dương văn Giáo và Trần văn Ân giới thiệu.

Ngày 08-09-1945, tại Cần thơ, tín đồ PGHH biểu tình hô hào chống “độc tài”, ủng hộ Mặt Trận Quốc gia Thống nhứt . Khẩu hiệu chống “độc tài” lúc bấy giờ của PGHH đưa ra thật hoàn toàn mời mẻ và xa lạ với ngôn ngữ tranh đấu của quần chúng việt nam, nhứt là nông dân Miền Đồng bằng sông Cửu long, làm cho cộng sản bị dị ứng.

Ngày 09-09-1945, Trần văn Giàu cho công an bao vây Trụ sở Việt nam Độc lập Vận động Hội của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ ở đường Miche, Sài Gòn, để bắt Đức Thầy, nhưng không bắt được . Ngày 13-09-1945, công an của Trần văn Giàu do Lý Huê Vinh cầm đầu, bắt đầu khủng bố tiêu diệt những người tranh đấu chống Pháp không theo cộng sản như các Ông Vũ Tam Anh (Nguyễn Ngọc Nhẫn – 3 chữ N), Hồ văn Ngà, Trần Quang Vinh, Lương Trọng Tường và Lãnh tụ Đảng Lập Hiến Bùi Quang Chiêu.

Tù binh Pháp ở Sài gòn được Tướng Douglas Gracey của Anh thả ra và phát võ khí nói là để tự vệ, tấn công các vị trí quân sự và cơ sở Hành chánh của Nam bộ . Ngày 24-09-1945, bốn Sư đoàn Dân quân Cách mạng đồng loạt đứng lên với đồng bào các giới chống lại Pháp với đủ thứ vỏ khí cả võ khí thô sơ . Nam bộ kháng chiến thật sự bắt đầu.

Ngày 25-09-1945, Lâm Ủy Hành chánh bị Tướng Gracey đuổi ra khỏi Dinh Gia Long, sau đó rút êm về Chợ Đệm, vùng quê hương của Nguyễn văn Trấn và Trần văn Giàu (Gò Đen). Ở lại Sài gòn, lực lượng Quốc gia gồm có các Ông Trần văn Ân, Nguyễn văn Sâm, Kha vạng Cân, Hồ văn Ngà tổ chức chống Pháp, phong tỏa Sài gòn, làm cho thành phố không điện, không nước, thiếu lương thực, …Dân chúng lớn tuổi, trẻ nít, được lịnh tảng cư.

Sài Gòn-Chợ lớn gần như một thành phố chết, nhiều nơi chìm trong khói lửa. Pháp kêu gọi hưu chiến để hoản binh, chờ tiếp vận, nhứt là về lương thực. Lực lượng võ trang Bình Xuyên, Thanh niên Đoàn, lui về bố trí các yếu điểm chờ lịnh mới. Lợi dụng tình hình hưu chiến, Việt Minh chui ra lùng bắt các nhà ái quốc, các đảng phái quốc gia, tiêu diệt để kháng chiến chỉ có lãnh đạo là cộng sản . Trong chủ trương này, Trần văn Giàu đã ra tay sát hại lối 2500 trí thức Miền nam không theo cộng sản (Lời tiết lộ của chính Trần văn Giàu với Ông Trịnh Hưng Ngẩu tại Bangkok, ngày 13-03-1946, trên đường về Hà Nội, do Ông Trịnh Hưng Ngẩu thuật lại trong hồi ký của Ông tự xuất bản ở Sài Gòn ngày 19-09-1973 )

Cộng sản xung đột trực tiếp với PGHH

Huỳnh Phú Sổ (PGHH)

Xung đột giữa cộng sản và lực lượng Quốc gia ngày càng rõ, Đức Thầy Huỳng Phú Sổ thật lòng tìm cách giải tỏa để giữ sức mạnh chống Pháp. Trong phiên họp với Lâm Ủy Hành chánh kéo dài, bỗng Lý Huê Vinh tới đưa cho Trần văn Giàu bức điện tín báo tin “Hòa Hảo nổi dậy, đảo chánh chiếm chánh quyền Cần thơ”. Giáo chủ PGHH phủ nhận, giải thích PGHH biểu tình, không võ trang, được phép của Chánh quyền Cần thơ, nhằm bày tỏ nguyện vọng « Võ trang quần chúng chống thực dân Pháp, Tẩy uế các phần tử thối nát trong Ủy Ban Hành chánh Nam bộ » . Cuộc biểu tình đông gần hai mươi ngàn tín đồ PGHH, biểu dương thanh thế cũng nhằm ủng hộ Mặt Trận Quốc gia Thống nhứt . Trần văn Giàu không thể để cho một thế lực nào khác ngoài công sản lớn mạnh nên đã chủ trương đàn áp triệt để cuộc biểu tình và đã dìm tín đồ PGHH trong biển máu. Sau này, ở nhiêu nơi Miền tây, vào ngày 08-09, gần như có cả làng cùng làm đám giỗ thân nhân bị cộng sản sát hại trong cuộc biểu tình.

Vào đầu tháng 4-1947, các tổ chức chống Pháp phe Quốc gia cho di chuyển các đơn vị võ trang của Cao Đài, PGHH, Đại Việt, Bình Xuyên về chiếm đống Đồng Tháp Mười . Bị lực lượng của Nguyễn Bình phục kích ám hại trên đường đi nên chỉ có lực lượng PGHH và Đại Việt tới được vì thông thuộc đường đi . Kế hoặch chiếm đống Đồng Tháp Mười do đó không thực hiện được .

Biến cố ngày 16-04-1947

Ngày 16-04-1947 là thời điểm vô cùng trọng đại đối với toàn bộ khối tín đồ PGHH ngày nay phải lên gần 7 triệu ( phát triển theo dân số vì PGHH bao gồm cả gia đình ) vì ngày đó, Giáo Chủ PGHH “vắng mặt”.

Dư luận bên ngoài khối tín đồ cho rằng cộng sản đã ám hại Ông . Nhưng người PGHH thì tin tưởng Ông chỉ tạm thời vắng mặt thôi. Hằng ngày, họ lo trau dồi “đời đạo song tu” để chờ ngày Thầy trở lại. Sự vắng mặt Giáo chủ đã dẩn đến tình trạng thiếu lãnh đạo của PGHH về cả mặt tôn giáo và tranh đấu cho một Việt nam thật sự độc lập không công sản.

Từ đây người PGHH phải đối phó sanh tử cùng lúc với hai kẻ thù: Pháp và Việt Minh. Trước kia, họ chỉ chiến đấu với thực dân Pháp, và cảnh giác với người cùng chiến tuyến là Việt Minh . Nay thì họ phải chiến đấu với Việt Minh lẩn núp sát cánh, đang rình rập tiêu diệt họ bằng đủ mọi thủ đoạn gian ác, tàn độc học được của Staline và Lê-nin.

Nhắc lại đêm 16-04-47, Giáo chủ PGHH, với tư cách Ủy viên Đặc biệt của Ủy Ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ, cương quyết đi tới sào huyệt của Việt minh tại làng Tân Phú, Tỉnh Long Xuyên, theo thư mời của Trần văn Nguyên (Đặc phái viên, kiêm Thanh tra Chánh trị Miền Tây Nam bộ) và Bửu Vinh, dự phiên họp với Ủy viên Quân sự và Thanh tra Chánh trị Miền tây của Việt Minh để mong hòa giải những xung đột giữa các phe, giữ sức mạnh để cùng đánh thực dân . Buổi họp lúc bấy giờ thường diễn ra ban đêm vì lý do an ninh, tránh bi Tây ruồng bố và oanh tạc. Trong buổi họp hôm đó, Việt Minh đã bố trí sẵn một toán Vệ Quốc đoàn võ trang phục kích bao quanh phòng họp, chờ lúc thuận lợi xả súng bắn thẳng vào Giáo chủ.

Theo tín đồ PGHH thì sau vụ ám hại có chủ mưu đó, Giáo chủ không chết vì còn viết thư trước mặt một tín đồ và sai người này mang thư về trao cho 2 ông chỉ huy Quân sự Nguyễn Giác Ngộ và Trần văn Soái . Bức thư viết tay của Đức Thầy được ông Mai văn Dậu kiểm tra nét chữ viết và chữ ký tên và xác nhận đúng là do Đức Thầy viết *.
Nhưng từ biến cố đó cho tới nay, Giáo chủ vẫn chưa trở lại dìu dắt tín đồ của Ngài .

Có phải Việt Minh tuân lệnh Hồ Chí Minh giết Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ không?

Từ 64 năm qua, người tín đồ PGHH vẫn một lòng tin « Đức Thầy tạm vắng mặt » . Tin trong sự thương kính, mong đợi ngày Đức Thầy trở về . Nhưng thực tế, có những tài liệu cho thấy Việt Minh đã chủ trương sát hại Giáo chủ để PGHH và Dân Chủ Xã Hội Đảng không có lãnh đạo mà không có nguời khả dĩ thay thế . Việt Minh giết Giáo chủ vì lo sợ Dân Xã Đảng sẽ cùng với các Tổ chức khác nắm quyền lãnh đạo kháng chiến ở Nam bộ trong lúc Việt Minh còn yếu . Dân Xã Đảng sẽ là một đảng mạnh vì PGHH lúc bấy giờ có trên 2 triệu tín đồ mà mỗi tín đồ là một đảng viên thực thụ hay tìm lực. Về chủ trương, Dân Xã Đảng đưa ra lý thuyết “Dân chủ Xã hội” là một lý thuyết hoàn toàn mới mẻ lúc bấy giờ, nhưng lại phù hợp với giáo lý Tứ Ân của PGHH mà « Ân Đồng bào và Nhân loại » vốn là nền tảng của tư tưởng dân chủ xã hội mà ngày nay nhiều quốc gia tiên tiến như ở Bắc Âu đang áp dụng .

Trong tập « Ghi chú về PGHH » của Đại tá Phòng Nhì Savani (Notes sur le PGHH , no 300 893, CHEAM, Paris VI ), có phổ biến một văn bản của Ban Chấp Hành Nam bộ (Ban Thường vụ), truy tố Giáo chủ theo tội phản động và ban hành Quyết định gồm 4 điểm:

1 – Ông Huỳnh Phú Sổ bị cách chức Ủy viên Đặc biệt của Nam bộ kể từ ngày ra Quyết định này,
2 - Giám đốc Tư Pháp có nhiệm vụ truy tố Ông Huỳnh Phú Sổ về tội phản động,

3 - Quyết định này sẽ gởi khẩn về Chánh phủ Trung ương,

4 - Ủy viên Nội vụ và Giám đốc Tư pháp, tùy theo nhiệm vụ của mình, nhận lãnh thi hành Quyết định này .

Ngày 28 tháng 4 năm 1947
Thay mặt Ban Chấp Hành Nam Bộ, Phó Chủ tịch PHẠM NGỌC THUẦN ký tên

Gần một tháng sau, ngày 20 tháng 5 năm 1947, Ban Chấp Hành Nam Bộ ra Thông Cáo về Bản án của Huỳnh Phú Sổ:

“ Ban Chấp Hành nam Bộ thông báo với đồng bào những điều sau đây:

Trong buổi hợp bất thường ngày 25 tháng 4 năm 1947,Ban Chấp Hành Nam Bộ đã đề cử Một Tòa Án Đặc biệt cách chức Ủy viên Đặc biệt của Ông Huỳnh Phú Sổ và tuyên án tử hình Ông vì tôi phản động và âm mưu tạo bất ổn tại Miền Tây trong lúc mọi lực lượng nhân dân phải được bảo vệ để theo đuổi Kháng chiến .
“Ông ấy tổ chức cho riêng Ông những Toán võ trang, Cơ quan An ninh và Tòa Án đặc biệt giống như một Quốc gia trong một Quốc gia.

“Ông ra lịnh võ trang Dân Xã Đảng và tín đồ PGHH.

“Ông ra lịnh cho Dân Xã Đảng và tín đồ PGHH nổi dậy, bắt giết cán bộ Chánh phủ và dân chúng.

“Ông bí mật gởi lực lượng võ trang của Ông tới Miền Tây để bảo vệ và khuyến khích những người cướp bốc và gây bất ổn .

“Đảng viên Dân Xã Đảng và tín đồ PGHH đã hợp tác với Quân đội Pháp để đánh lại Quân đội Chánh phủ và khủng bố đồng bào dân sự.

- Ông Huỳnh Phú Sổ đã bị hành quyết.

Ngày 20 tháng 5 năm 1947
Ban Chấp Hành Nam Bộ (Không có người ký tên)

Trước đó, ngày 21 tháng 4, Giám đốc Công An Kiều Tân Lập, Thanh Tra Chánh trị Miền Tây Trần văn Nguyên, thay mặt Ban Chấp Hành và Ban Thường Vụ Nam Bộ, ra lịnh cho các Cơ quan Hành chánh, Quân đội và Công An truy lùng và thanh toán Dân Xã Đảng ở khắp nơi bắt gặp, sử lý tùy theo sáng kiến của cán bộ .

Theo tài liệu trên đây, ai cũng thấy Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đã chủ trương giết Giáo chủ PGHH và thanh toán Dân Xã Đảng, khủng bố tín đồ PGHH để tiêu diệt trọn vẹn một kẻ thù nguy hiểm. Về chủ trương tiếp tục tiêu diệt PGHH của cộng sản Hà nội sau 30/04/75, một ký giả người Nga thuật lại với ông Như Phong Lê văn Tiến, ký giả báo Mỹ (Times, Newsweek, nay đã mất ở Mỹ . Bản tin này được Ông Như Phong đưa cho Ban Trị Sự PGHH ở Nam California cất giữ): “ Chánh quyền Hà nội ban hành chỉ thị phải tiêu diệt triệt để PGHH trong vòng 10 năm, từ 1978-1988 ”. Sau khi lùng bắt, thủ tiêu một số Cán bộ Ban Trị Sự, cộng sản nhận thấy số tín đồ, nhứt là thành phần trẻ, đã không giảm, mà còn gia tăng. Chưa mãn 10 năm, công sản đã phải hủy bỏ kế hoặch này.

Từ sau 30/04/75, cộng sản vẫn kiểm soát, ngấm ngầm khủng bố tín đồ PGHH, ngăn cấm triệt để mọi sanh hoạt tôn giáo, lưu hành kinh sách, tịch thu các cơ sở văn hóa xã hội của PGHH và biến mục tiêu sử dụng có tính cách sỉ nhục.

Năm 2000, tín đồ cương quyết tổ chức kỷ niệm 60 năm lập Đạo, không phụ thuộc vào chánh quyền. Thấy không thể ngăn cản được – theo cách “ giết không được, tha làm phước ” - chánh quyền cho thành lập Ban Trị Sự Lâm thời với ông Mười Tôn, người địa phương, đảng viên cộng sản tập kết về, làm Chủ tịch, để có tư cách chánh thức tham dự lễ . Hà nội đã không ngờ đã có hơn triệu lược người đi về dự lễ ( Reuter, BBC việt ngữ, RFA việt ngữ, cùng loan báo).

Giờ đây, chánh quyền cộng sản Hà Nội vẫn chưa cho PGHH lập lại những Độc Giảng Đường để phổ biến giáo lý, chưa hoàn trả những cơ sở vật chất tịch thâu trái phép. Nên nhớ có hoàn trả những cơ sở này cho PGHH cũng là hoàn trả của nhân dân về cho nhân dân. Không bị mất vào tay ngoại bang, Tây hay Tàu .

Trước đây, khi vận động giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh đi ra ngoại quốc và ôm về những điều của Nga Tàu, dẫn về xứ những tên Nga, tên Tàu . Trong lúc đó, Giáo chủ PGHH đi vào lòng nông dân Miền Tây, vận động sức mạnh của nông dân để đánh đuổi thực dân cho Việt Nam độc lập.

Ngày nay, người tín đồ PGHH có đầy đủ chánh nghĩa để đòi công lý cho Giáo chủ và PGHH. Giáo chủ mất tích là tội phạm hoàn toàn ở đảng cộng sản vì tính cách liên tục pháp lý. Các cơ sở vật chất phải trả lại cho PGHH. Quyền hành đạo của 7 triệu tín đồ phải được phục hồi trọn vẹn.

Trường hợp chủ trương tiêu diệt PGHH là tội chống nhân loại điển hình của cộng sản Hà Nội. Mà tội chống nhơn loại là tội bất khả thời tiêu .

© Nguyễn Văn Trần

© Đàn Chim Việt

——————————————————-

Phụ chú:
* Theo Thành Nam trích dẩn của Vương Kim, PGHH trong dòng lịch sử Dân tộc, Đuốc Từ Bi xuất bản, Cal, Huê kỳ, 1991, trg 433 .
* Theo những tài liệu của Đại tá Phòng Nhì Pháp Savani, thì Đức Thầy bị Việt Minh hành quyết trong thời gian giửa tháng 4 và tháng 5 năm 1947 . Như vậy, Đức Thầy đã không chết khi bị Vệ Quốc Đoàn bắn xả vào Ngài ở buổi hợp.
* Tôi hỏi Ông Phạm Ngọc Thuần ( người ký tên Quyết định ngày 28/04/4, nay đã mất tại Paris ) trong một buổi gặp nhau ăn cơm trưa tại nhà Ông Đinh văn Hoàng, nguyên Giáo sư, Phó Khoa trưởng Đại Học Khoa Học Sài gòn ( vừa mất hôm tháng 03/2011 tại Antony, ngoại ô Tây-Nam Paris),ở Le BlancMesnil, ngoại ô Đông-Bắc Paris, về bản văn trên, Ông Thuần trả lời là ông hoàn toàn không biết bản văn ấy trước khi được phổ biến. Nó được họ làm sẳn và ký tên Ông rồi cho phổ biến. Tôi hỏi theo Ông, Hồ Chí Minh có ra lệnh không?
PNThuần : Hồ Chí Minh không ra lệnh đi nữa thì cũng phải biết chuyện này.
** Tôi có được các tài liệu trên đây từ năm 1985 . Có gởi cho Ông Thành Nam sử dụng khi Ông biên khảo “PGHH trong dòng lịch sử Dân tộc ”.
Nay tôi mới phổ biến vì trưóc giờ tôi giữ lòng kính trọng sự tin tưởng của đồng bào tín đồ PGHH về “Đức Thầy tạm vắng mặt, sẽ trở về ”.

Nguyễn Văn Trần


GIỌT NƯỚC MẮT CHO QUÊ-HƯƠNG


* . .. Ðến bao-giờ lấy lại được Giang-san!

Chế-độ nầy trâu ngựa sống không an,

Sài-lang đã dựng xong nền thống-trị.

Ai đứng dậy diệt trừ lũ quỷ ?

Ai trái tim lân-mẫn vạn dân tàn.

Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan,

Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn.

Nguyễn-Chí-Thiện.

Việt Nam Quốc Dân Ðảng thực sự đi vào đời sống tình cãm, ý chí thuở tôi còn mài miệt sách vở học trò. Khởi đầu bằng bài trần thuyết về Việt Nam Quốc Dân Đảng mà cuộc khởi nghĩa Yên bái và sự trở về lòng đất Việt của mười ba vị tuấn-kiệt là trọng tâm. Ôi đất-nước oai linh từ buổi hồng hoang đã được bảo vệ và thắm đượm bởi vô vàn mồ hôi, trí tuệ và máu lệ của hàng hàng lớp lớp Tiền nhân hiệt kiệt và chiến sĩ anh hùng vô danh trải dài nối tiếp hy sinh, đấu tranh không ngưng nghỉ! Giọt nước mắt thán phục, giọt nước mắt cảm kích thân phận quê hương. Giọt nước mắt kiêu hãnh giống giòng oanh liệt từ thời niên thiếu ấy thấm loang trên giấy trắng học trò. Chính giọt nước mắt nầy đã dẫn dắt tôi đến với bạn bè cùng trang lứa đối mặt với quân thù.

Thế hệ chúng tôi phải đương đầu với lắm kẻ thù. Chúng tôi phải quyết liệt đấu tranh để thắng cái bản ngã thấp hèn tự tại trong mỗi cá-nhân của kiếp người; phải chấp-nhận thua thiệt mới giữ vững ý thức và trận tuyến.

Cùng một lúc, chúng tôi phải đương đầu với hai kẻ thù có cả sức mạnh vũ khí, quyền-lực, lẫn xảo quyệt! Bề mặt, chúng cũng nhân-danh Tổ-Quốc, Công-lý…...để tận diệt nhau, giành lấy phần thắng duy nhất. Ðôi khi vì sinh tồn, cần phát-triển thế-lực nên có khi chúng mặc cả, liên-minh !

Thế-lực hung hãn trước hết là bọn Cộng-sản (CS) ác-độc, oan nghiệt.

Thế-lực thứ 2 là bọn gian-manh nguy-hiễm, bọn núp bóng, trá hình Quốc-Gia. Chúng ở ngay trong hàng ngũ chúmg ta, có khi chúng lãnh-đạo cuộc chiến-đấu. Vì chúng, mà Chính-Nghĩa Quốc-Gia (CNQG) có lúc bị lu mờ, cộng-đồng QG chân-chính bị đánh giá sai lac là: chia-rẻ, không quyết-tâm…Cả hai thế-lực nầy đều vô-liêm-sĩ, đều tội-đồ Dân-tộc. Nhưng với niềm tin sắt đá vào lẻ tất thắng của CNQG nên chúng tôi quyết đi, đi hết đời mình, đi với đồng-đội, kiên tâm bảo-tồn hương-hỏa Tổ-tiên.

Ðảng sử VNQDÐ là những trang sử kiêu-hùng bi-tráng, chất-ngất ý-chí sắc-son dũng-cãm, viết nên bằng huyết lệ VN với ba cương-lĩnh căn-bản:

- Dân-Tộc Ðộc-Lập

- Dân-sinh hạnh-phúc.

- Dân-quyền tự-do.

VNQDÐ huy-động lưc-lượng Dân-tộc trong tiến-trình đánh đuổi ngoại-xâm. xây-dựng Tổ-quốc. Ba cương lĩnh VNQDÐ triệt-tiêu ba độc-quyền CS:

- Ðộc quyền ý-thức-hệ chính-trị, thiết-lập chế-độ chuyên-chính cầm quyền.

- Ðộc quyền các phương-tiện truyền-thông, giáo-dục và luật-pháp.

- Ðộc-quyền kinh-tế và mọi quan-hệ về phương-thức sản-xuất và tiêu dùng.

Ba cương-lĩnh VNQDÐ và ba độc quyền CS mãi mãi là hai đối lực tìm cách tiêu-diệt nhau. Ðó là hai nguồn ý-thức đối chọi nhau quyết-liệt như trắng đen, nước lữa, ngày đêm, no đói, sống chết, như đoàn tụ với chia-ly, như hạnh-phúc với khổ đau …không thể nào và không bao-giờ pha trộn để hòa hợp hòa giãi được.

Cuộc đấu-tranh khốc-liệt của Người QG nhằm đi đến mục-tiêu hướng về Chân, Thiện, Mỹ chôn vùi bao ác độc, nghiệt-ngã, bạo-tàn; tiêu-diệt cái phi Ðạo-lý, phi Tổ-Quốc của CS. Ðiển-hình cho hai lực lượng ấy là VNQDÐ cùng với nhân-dân Việt-Nam hợp cùng nhân-loại vì lương-tâm quyết-liệt tận diệt thế-lực gian-tà, hôn ám CS, và bọn xu nịnh, lưu manh hám danh hám lợi.

Dù bản án tử-hình đệ-tiện, dù ngục-tù man rợ, bọn CS vẫn không ngăn chận được bước tiến của bao Liệt-sĩ, Chiến-sĩ vì Quê-hương dấn-thân.

Dù chiến-trường tấn-công bọn CS ở khắp mọi nơi đều chiến-thắng và mang lại nhiều thành-quả đáng kể.

Dù chúng ta nhận-diện được bộ mặt ghê tỡm của những kẻ tuy đồng chủng nhưng vì lợi danh, vì quyền-lực biến chúng thành những tên ác quỷ sống bám trên máu xương, lầm than của đồng-bào.

Tất cả dường như sẳn sàng trở nên những cơn địa-chấn, những cơn hồng-thủy khũng-khiếp những trận cuồng phong cuốn trôi và chôn vùi CS xuống đáy đại-dương. Nhưng thật-tế, mãi đến hôm nay; Ðất Nước, Quê-hương vẫn tiếp tục thấm loang nước mắt. Máu lệ và oán hận của Dân-tộc vẫn còn chảy. CS vẫn còn là tai ách, là quốc-nạn. CS vẫn tồn tại như một thách-thức, một Quốc nhục!? . Đau đớn thay thế lực chúng vẫn còn vững mạnh!

Ước nguyện :

Dân Tộc Ðộc Lập

Dân Sinh Hạnh Phúc

Dân Quyềøn Tự Do

Còn quá xa, còn là khát-vọng, còn là lý-tưởng ?

Tại sao chúng ta chưa vùi lấp được ba độc quyền ngang-ngược, gian-manh và tội ác ấy ?

Xin hãy một chút lắng lòng tự-kiễm:

1.-Trong tiến trình đấu tranh, chúng ta chưa triệt để với kẻ thù. Nhiều lúc quân-thù sắp bị tiêu diệt thì chúng ta ngừng tay cho chúng kịp phục hồi! Có thể vì đại nghĩa dân tộc, có thể vì chưa hiểu hết sự lưu manh, quỷ quyệt của kẻ thù.

Kinh-nghiệm cho ta nhận-định rằng: Lúc nào CS kêu gọi đoàn kết, hòa hợp, hòa giãi, tha thứ chính là lúc chúng đang đi trên đường hướng về tử lộ. Lúc ấy, chúng ta bị kềm hãm, phải vẫy vùng giữa những tình- cãm nặng tính QG bởi những từ ngữ như :”tình dân tộc, nghĩa đồng bào” Chúng ta đã từng phải quỵ ngã vì những tình tự thiết tha đó.

2.-Chúng ta qúa dễ dàng tha thứ, mau chóng cho phép bọn gian trá hội nhập vào hàng ngũ chúng ta mà không cần thử thách, không đợi thời gian để đo lường, sàng lọc. Chỉ cần bất cứ ai trong bọn chúng phản-đối lẫn nhau là chúng ta vội vàng xếp vào cái gọi là “phản kháng, cảnh tỉnh”. Hậu quả: hàng ngũ chúng ta thêm chia rẻ và kẻ thù có thêm cơ hội thuận lợi xâm nhập làm lực lượng ta tan nát, chiến hữu ta bị chết thãm, tù đày oan uổng, những tổ chưc kháng chiến của ta bị tan vỡ đã thực tế chứng minh.

3.- Chúng ta quá chủ-quan xem nhẹ kẻ nội-thù. Ðây là bọn xu-nịnh, bọn giá áo túi cơm, bọn vô liêm sĩ. Giống như CS, lý tưởng và mục tiêu tối-hậu của chúng vẩn là quyền lực tanh hôi . Vì quyền-lợi vật chất, chúng sẳn sàng ti-tiện, bẩn thỉu, đê hèn thỏa hiệp với CS. Lắm khi, bọn nầy còn nguy hiễm hơn cả CS. Bởi chúng đứng trong hàng ngủ chúng ta, chúng mượn danh chúng ta để trục lợi. Bọn Việt gian nầy không bao giờ có lương tâm hay sĩ diện. Thật ra nhận diện chúng không mấy khó khăn. Chúng xuất-hiện rất nhiều nơi, tìm cách tranh-đoạt chức vụ,. Bằng nhiều hình thái, chúng đánh lừa, gieo vào chúng ta ngộ nhận rằng chúng là thành phần lãnh đạo, thành phần có trách nhiệm trong bất cứ tổ chức, hội họp nào. Chúng cố gắng chứng tỏ là nhân vật có tầm vóc lãnh-đạo. Có khi chúng khôn ngoan giả dạng “mai danh ẩn-tích” hay đứng ngoài, đứng trên “mọi sự tranh chấp”. Nhận định và lập trường “vô thưởng vô phạt” nghĩa là hoàn cảnh nào cũng có thể ngụy biện giải thích. Nếu đựmg tới quyền lợi, chúng không tiếc lời trâng tráo phao vu, dựng chuyện phỉ báng những người tận lực cống hiến cho đại cuộc. Lắm lúc chúng cũng diễn trò hung hăng, cực đoan.

4.-Chúng ta coi nặng tình cãm cá nhân hơn sự an nguy của tổ chức. Do vậy thường khi chúng ta nghi ngờ rồi xa lánh nhau mỗi khi có ý kiến khác biệt. Ðã không cho nhau cơ hội giãi bày; lai dễ bị khích động, dễ chấp nhận những thông tin của ai đó nói về những vấn-đề không thuận lợi cho người kia. Ðây là một trong những lý-do chủ yếu gây nên tình-trạng phân-hóa.

Chúng ta bị ràng buộc quá chặt với quá-khứ, Nên thường định-vị giá trị con người qua vị trí xã hội đã có từ trước. Ðành rằng không phải “cá mè một lứa” nhưng tư cách mới thực sự cần thiết để xác định niềm tin và sự tôn kính.

Ngoài những nhược điễm chủ-quan chúng ta cần nên xem xét sách lược của CS và ý thức của ta về nhân vật lãnh đạo cũng như nhân sự trong tổ chức:

1/ - CS là một tập-đoàn thống trị, tổ chức rất chặc chẻ; với một bộ tham mưu đầy thủ đoạn gian trá , lưu manh tráo trở và sắc máu. Thần thánh hóa lãnh-tụ, thần phục cá nhân lãnh đạo nghĩa là thần phục tập đoàn Bộ chính trị mãi mãi là sách lược. Ðể sống còn, tùy theo cấp chức, thế lực phe nhóm chúng chia chác quyền lợi cho nhau khá sòng phẳng. Ngay cả cán-bộ hạ tầng vẫn được có cái quyền của một tiểu ác bá địa-phương.

* Còn chúng ta, khi cần suy cử một cá nhân làm đại diện, làm trung tâm tập họp lực lượng thì không lâu sau đó sẽ có sự đả phá, chống đối. Sự chống đối ấy phần nhiều không bắt nguồn từ lý tưởng chân chính mà vì tỵ hiềm nhỏ nhen. Thông thường từ bọn hoạt đầu, lái buôn, đầu cơ chính trị hoăc bọn tay sai, bọn a dua, vô liêm sĩ, bọn gía áo túi cơm. Phương-thức thường là rỉ tai, truyền đơn, thư nặc danh hay lạm dụng bừa bãi quyền tự do báo chí, viết vung vít vô trách nhiêm. Nếu pháp luật can-thiệp thì xin cải chính, ra tòa bị xác nhận tội trạng thì muối mặt thả lỳ chứng minh mình “thuộc thành phần xã hội phải trợ cấp”, luồn lách chui lòn pháp lluật. Hằng ngày chúng ra rả trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Ký giả, truyền thông tự thân rất cao quý, nay bị bọn lòng dạ lang sói làm phẩm cách bị tổn thương. Quần chúng nào thiếu thông tin hoặc lười lý luận hay ít tham-gia các sinh-hoạt cộng đồng rất dể bị chúng lường gạt.

* Giữa riêng tư và đại cuộc chúng ta vẫn chưa phân biệt rõ ràng, nên chúng ta chưa có cơ hội tập họp được ý chí, lòng quyết tâm; do vậy mà điều kiện trang trải tấm lòng chung bị hạn chế. Tất cả dẫn đến hậu-quả là cho đến hôm nay, chúng ta chưa đồng lòng được với nhau một khuôn mặt lãnh tụ dù rằng chúng ta không thiếu những bậc nhân tài đức độ .

2/ - Nhân phẩm, đạo đức không bao giờ là nỗi băng khoăng của CS. Muôn đời, mục tiêu của chúng vẫn là tíếm đoạt quyền lực. Chính trị là phương tiện chủ yếu để thủ đắc mọi quyền lợi .Hưởng thụ bất chính mới là muc tiêu tối-hậu. CS thừa hiểu thế lực lưu manh, hung-hản sẽ bị gãy đổ nếu chúng không kịp thời tương nhượng, thỏa hiệp với nhau, kể cả với bọn bất lương, đồng thời chúng cũng ra sức củng cố địa vị bằng những thủbđoạn dã man với nhân dân, tàn nhẫn với đồng bọn, không nương tay với bọn nhập nhằng cơ hội. CS cũng thừa biết lực đối kháng từ nhân dân luôn âm-ỷ, nung nấu, mai phục và sẳn sàng chực chờ thời cơ biến thành cuồng phong dữ-dội

* Còn chúng ta, chỉ cần một vị nào đó có một lỗi lầm nhỏ thường tình; có khi do sơ suất là lập-tức bị thổi phồng, không ít vị còn bị bịa chuyện để bêu xấu. Chúng ta thích dùng lời lẻ lịch sự để đối đãi chiêu-dụ kẻ thù; ngược lại, với anh em ta lại ít khoan-dung. Khuyết điễm nầy có thể do kẻ thù mà cũng có thể do cái đen tối nằm sâu trong cái tâm chúng ta mà vì quyền lợi, vì mặc cãm chúng ta cố bảo vệ, che-dấu và đồng lõa. Hãy nhớ rằng, nếu chúng ta không cấp thời tỉnh ngộ, thì chúng ta cũng đang là kẻ thù của chính chúng ta, một lọai người mà chúng ta kinh tỡm, chúng ta kết án.

Nỗi nhức nhối là trong hàng ngủ chúng ta là bọn hoạt đầu, bọn ham lợi hám danh, phường giá áo túi cơm còn tồn tại, quấy phá. Chúng ta đã phải vướng đủ mọi điều tai tiếng và phải xấu hổ vì bọn nầy. Phải cảnh giác chúng, dù chúng đã bị phỉ nhổ, bị lộ diện, cũng đừng nghĩ rằng chúng đã tự hối hay thua trận, chúng chỉ rút vào bóng tối! Chúng là con vi-trùng chực chờ chúng ta suy yếu để tấn công tiêu-diệt. Tiêu diệt chúng ta là thành tích, là điều kiện để chúng cầu xin miếng đỉnh chung từ cộng sản.

Hào quang Tiền nhân là lực thúc-đẩy chứ không phải duy chỉ để tự hào, tự an ủi rồi tự cho phép bình yên, nghỉ ngơi, chấp-nhận số phận hay cậy nhờ. Mọi sự bào chửa, thoái thác trách nhiệm, trốn lánh nhập cuộc đều đắc tội với Tiền nhân và con cháu.

Muốn tăng cao hiệu năng chúng ta phải tự thành thật và nghiêm khắc kiễm điễm ưu, khuyết điễm những thành bại đã qua. Nhận diện lại ta và địch không những ở chiến trường mà ngay cả trong mọi tình huống của đời sống. Từ đó chúng ta có kế hoạch thực tiển tấn công kẻ thù. Thành quả của sự công phá trên đầu giặc chứng minh được thực lực và sự quyết tâm của chúng ta.

Hình-ảnh Giang Sơn gấm vóc, Hồn Thiêng Sông Núi chuyển mang hịch lệnh Tổ tiên thúc giục. Hình-ảnh mười ba vị Liệt-sĩ Anh Hùng hiên ngang hy sinh trên đài “Bảo-Quốc” quang vinh tại pháp trường Yên Bái. Triết-lý “sinh ký tử quy” và lá cờ Vàng Ðại-nghĩa trở thành vũ khí, trang bị cho tôi vào trận chiến ngay trong lao tù đày đọa. Giọt nước mắt đầu đời cho Quê hương năm xưa vẫn chưa khô. Giọt nước mắt ấy đã cùng tôi đánh bật quân-thù trong tình thế không cân sức nhưng vô cùng khốc liệt. Chiến tích lớn lao nhất của chúng ta là buộc CSVN phải trả lại Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc cho chúng ta. Cộng sản phải trả lời trước lịch sử:

- Tại sao cộng sản là bóng tối, là tội ác, là hiễm họa mà nhân loại cần lập tức loại trừ ?.

Hệ luận đó dẫn đến lý do:

-Tại sao chúng ta chống Cộng ?.

Hôm nay, giọt nước mắt ấy lại cùng tôi lưu lạc nơi xứ người. Một tấm lòng trong vạn tấm lòng đang hướng về Quê Mẹ rách nát thương đau.

Với nén nhang tưởng niệm, xin thành kính dâng lên Ðức Quốc Tổ, Chư vị Anh hùng tuấn kiệt và mười ba vị Liệt sĩ Yên bái biểu trưng cho thời kỳ đấu tranh anh dũng quyết liệt của thời cận đại trong thiên anh hùng ca VN kiêu hùng bất khuất.

Chúng tôi thành khẩn xin những nhà lãnh đạo các lực lượng Dân tộc đang nổ lực, kiên tâm tiêu diệt CS để xây dựng lại quê hương hãy cùng nhau liên kết, bủa vây, liên tiếp tấn công; dồn bọn Mafia đỏ từ thế bị động đến rạn nứt rồi vỡ từng mảnh và tan tành. Sẽ đắc tội vô cùng với lịch sử nếu hôm nay các lực lượng cứ lo chỉ trích lẫn nhau, cứ vì tự ái cá nhân khống-chế Tổ chức mình, làm trở ngại công việc lập thành sức mạnh tổng hợp Dân tộc để bọn CS có cơ hội thoát hiễm thêm một lần nữa.

Chúng tôi đã sẳn sàng, xin được cùng Quý vị tiến lên phá tan kìm kẹp, giải thoát cho đồng bào. Tin chắc rằng chúng ta phải dựng được cờ Vàng đại nghĩa, thực hiện được một VN hùng cường, thái bình tự do và nhân ái ./-


Tống Phước Hiến

36 NĂM QUỐC HẬN NGHĨ VỀ TÂM TRẠNG CỦA TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ.

Kính tặng Quý Chiến Hữu đã một thời cùng chung cảnh ngộ, khổ nhục trong các trại tù cộng sản Việt Nam.

Võ Đại Tôn (Úc Châu)



NHỮNG ĐỢT SÓNG NGẦM CHỐNG CỘNG MÃNH LIỆT ĐANG CHỜ CƠ HỘI BỘC PHÁT HAY LÀ NHỮNG CON NGƯỜI ĐANG ĐI VÀO CHỐN THIỀN ĐỊNH VÔ VI ?


Vị y sĩ chuyên khoa ngoại quốc tại Úc, sau một tuần lễ chữa bệnh cho tôi về nội tạng cũng như tâm thần, ngồi trầm ngâm cố chọn lời nhẹ nhàng nhất để kết luận :

Trong mấy chục năm tôi hành nghề chữa bệnh, Ông là một trong vài bệnh nhân lạ lùng nhất, vượt ra ngoài những chẩn đoán y khoa thông thường. Một trong những điều lạ lùng mà tôi tự hỏi : - Tại sao Ông vẫn còn sống ? Xin lỗi Ông, tôi phải nói lên điều đó !”.




( VĐT : - Hình chụp, bên trái, năm 1981 từ Úc Châu qua Thái Lan, vào chiến khu Lào Tự Do, chuẩn bị lên đường về quê hương để liên lạc với Kháng Chiến Quốc Nội. Hình bên phải, chụp tại Sydney, Úc Châu, năm 1992, sau hơn 10 năm bị biệt giam tại Hà Nội).


Tôi im lặng mỉm cười. Biết nói gì hơn với một người ngoại quốc. Phải trải qua một chặng đường lịch sử dài hơn nửa thế kỷ của một Dân Tộc bị đày đọa bởi chiến tranh, nghèo đói lạc hậu, bị một chế độ độc tài đảng trị là cộng sản dìm sâu dưới đáy vực tiền sử, dùng nhà tù và hận thù, bạo lực, để hủy diệt con người, thì may ra mới thông hiều được phấn nào những điều vị y sĩ kia đang thắc mắc. Sự vùng vẫy vượt bực giữa hai bờ tử-sinh để tồn tại.


Từ bao năm nay, sau khi ra khỏi ngục tù cộng sản, đã bao lần tôi muốn mạo muội thay mặt cho một số bạn tù bị kiên giam, hoặc viết cho chính bản thân mình, trải lòng lên trang giấy tâm trạng của một người Tù Chính Trị sau khi được tự do. Gọi là thêm phần đóng góp vào tài liệu tham khảo về một trong những thực trạng xã hội cay nghiệt nhất của nhân loại nói chung trong thời đại này, để cho các nhà chính trị, khoa học xã hội, y sĩ và chuyên khoa tâm thần, cũng như các thế hệ mai sau của Việt Nam sẽ tìm hiểu được nỗi đọa đày phải gánh chịu của lớp cha ông trên dòng sinh mệnh của Dân Tộc. Bao lần cầm bút rồi lại ngậm ngùi đắn đo đặt xuống. Nhưng hôm nay, qua lời thắc mắc của vị y sĩ ngoại quốc nói trên, tôi cảm thấy cần phải nói lên một vài nỗi niềm đã muốn che đậy dưới lớp bụi thời gian. Không van xin cầu khẩn. Không ta thán nổi đời. Không tự trách và cũng không oán hờn lòng người dửng dưng. Chỉ muốn viết lên một vài Sự Thật gọi là khảo luận tự thân và coi như là món quà tinh thần chia sẻ cùng các bạn Tù Nhân Chính Trị : - những người đã thực sự góp máu một lần nữa vào công cuộc giải trừ cộng sản, quang phục quê hương. Những viên gạch lót đường trong âm thầm và cô đơn nhất.


Tôi không muốn nhắc lại sự kiện lịch sử đen tối vì sao chúng tôi, mấy trăm ngàn quân cán chính miền Nam, và những người còn tiếp tục chống lại chế độ cộng sản Việt Nam, đã bị cầm tù, vì điều đó ai cũng hiểu rõ. Đại đa số những người đành bỏ nước ra đi tìm tự do từ năm 1975 đến nay, và luôn cả hàng triệu triệu người dân còn sống trong nước, mỗi gia đình cũng có ít nhất một-hai thân nhân đã bị cộng sản giam cầm hoặc đã chết âm thầm trong các trại tù gọi là “cải tạo”. Đây là một cái tang chung của Dân Tộc mà những nhà viết sử sau này cần viết lên đậm nét gọi đích danh thủ phạm là đảng Cộng Sản Việt Nam.


Trở lại với bản thân của người tù chính trị nào còn may mắn được trở về với Tự Do. Cho dù đã bị giam cầm nơi nào trên quê hương, tập thể lao động hay bị cách ly kiên giam, đã bóc một vài cuốn lịch hoặc mười mấy năm dư, những ai đã bị cộng sản cầm tù chứ không phải “cải tạo” theo mỹ từ Việt Cộng dùng để lừa bịp mị dân, đều mang trong lòng ít nhiều tâm trạng giống nhau tuy hoàn cảnh có vài khác biệt. Những ai chưa hề ở tù cộng sản, dù là bậc trí thức uyên thâm thuộc lòng sách vở cổ kim, dù là nhà chính trị hay khoa học xã hội lão luyện, cũng không bao giờ thấu hiểu được tâm trạng của chúng tôi cùng những nỗi đày đọa mà chúng tôi đành phải gánh chịu. Nỗi cô đơn từ trong trại tù, trong xà lim, trong chuồng sắt, lại biến dạng thành một nỗi cô đơn khác ngoài đời tự do. Cả hai đều nặng trĩu ngập hồn. Tạm ngược dòng thời gian, tâm trạng của chúng tôi nói chung đều bắt nguồn từ kỹ thuật hủy diệt con người tinh vi và trò ảo thuật tuyên truyền dối trá của kẻ thù gọi là chiến thắng, từ gia đình, xã hội, mặc cảm nội thân, cuộc sống còn lại trước mắt và cuộc chiến còn đang dang dở.


Trong vòng tay sắt của cộng sản Việt Nam:


Ngay từ trước khi cưỡng chiếm được miền Nam bằng xảo thuật tuyên truyền, bằng sự vi phạm trắng trợn các hiệp định quốc tế, bằng bạo lực sắt máu, tập đoàn lãnh đạo cộng sản miền Bắc xuyên qua những luận trình nghiên cứu khoa học và lịch sử, phối hợp với thực tế hiển nhiên, đã từng lo sợ phải đương đầu với sự chống đối của nhân dân miền Nam, đặc biệt là hàng ngũ cả triệu quân cán chính Cộng Hòa. Vì lẽ đó, một mặt họ lo ve vuốt dân chúng tại những vùng vừa bị cưỡng chiếm bằng nhiều chiêu bài lừa bịp mị dân, một mặt lo tìm phương tiện và địa bàn để cách ly những người thuộc chế độ cũ. Họ không phải đợi đến sau ngày 30.4.1975, khi đã tạm thành lập các “ủy ban quân quản” tại các địa phương, mới bắt đầu tung ra những trò xảo quyệt để lấy lòng dân. Tôi còn nhớ rõ, vào những ngày đầu tháng 4-1975, khi tôi nhận lệnh cùng một số đồng đội về bổ sung cố thủ vùng Cần Thơ tại Quân Đoàn 4, ban điệp báo của chúng tôi đã khai thác được một chỉ thị của Cục “R” Việt Cộng gửi cho các toán tuyên vận nội thành của họ. Nội dung cho lệnh tuyên truyền rỉ tai trong dân chúng là khi Việt Cộng chiếm được miền Nam thì sẽ có một cuộc tắm máu tiêu diệt hết “ngụy quân ngụy quyền”, chọn các thiếu nữ xinh đẹp miền Nam để gả cho các thương phế binh Việt Cộng gọi là đền ơn đáp nghĩa “Cách Mạng”, phụ nữ nào có tóc uốn quăn và móng tay sơn đỏ hồng thì sẽ bị cạo đầu và rút móng tay. Chính cấp trung ương Cục của Việt Cộng đã ra lệnh tuyên truyền như vậy. Dân chúng lúc bấy giờ rất hoang mang giao động tinh thần và một số đông phụ nữ đã tự động cắt tóc, cạo móng tay. Bầu không khí lo sợ Việt Cộng trả thù bao trùm khắp nơi. Nhưng đến khi chúng gần chiếm được Saigon, vào cuối tháng 4-1975, lại có một bản chỉ thị khác được tung ra ngay, cũng xuất phát từ trung ương Cục “R”. Nội dung hoàn toàn trái ngược với chỉ thị trước đó. Lần này ra lệnh cho các đơn vị bộ đội miền Bắc phải triệt để giúp đỡ dân chúng, tiếp tế gạo muối, đối đãi ân cần lễ phép với mọi người, nhất là phải cố gắng lịch sự tối đa với phụ nữ. Đấy là một âm mưu dân vận xảo quyệt nhất, đen-trắng-xám cũng đều do cấp lãnh đạo Việt Cộng tạo ra.Một mặt họ vờ đối xử tử tế với dân, mặt khác lại đi tuyên truyền là những điều mà người dân đã từng lo sợ về vụ tắm máu, cắt tóc, rút móng tay, cưỡng ép thiếu nữ lấy thương phế binh... đều do “Mỹ Ngụy” tung ra để chống Cộng. Trong lúc giao thời chưa rõ thực hư, một số đông dân chúng miền Nam đã cả tin vào những lời tuyên truyền của Việt Cộng, thấy bộ đội miền Bắc “dễ thương và hiền quá” (?), lại thấy cấp lãnh đạo VNCH đã bỏ chạy di tản hết, người dân vô tình “hồ hởi phấn khởi” tiếp đón cộng sản vào Nam với vòng tay lớn thân thương !!! Tạm yên về mặt tâm lý quần chúng, cộng sản lại dùng thủ đoạn dần dần cách ly quân cán chính Cộng Hòa ra khỏi miền Nam, lưu đày biệt xứ ra Bắc để triệt tiêu mọi mầm mống chống đối nổi loạn. Từ địa bàn giam cầm, tập trung lao động, dinh dưỡng, khai báo, đặt nội tuyến trong hàng ngũ tù nhân, mọi chi tiết đều được tập đoàn lãnh đạo cộng sản điều nghiên tỉ mỉ theo từng biến động tình hình. Thậm chí họ cũng họp bàn mỗi khi muốn ban phát một điếu thuốc lào, một thìa muối, giấy phép thăm nuôi tiếp tế, cho từng “đối tượng” tù nhân mà họ gọi là “cải tạo viên”. Điều này các bạn tù chính trị đã được tự do, đều có viết lại trong các tập hồi ký, mọi người ở hải ngoại đã đọc rõ. Ngay bản thân tôi cũng đã từng nêu trong cuốn Tắm Máu Đen đã xuất bản ngay sau ngày trở về Úc, 1992 (tái bản tại Hoa Kỳ năm 2000). Vì lẽ lúc nào cũng canh cánh lo sợ chúng tôi uất hận đến mức phải vùng lên đòi quyền sống của con người, cho nên những kẻ gọi là chiến thắng đã dùng mọi thủ đoạn ác độc nhất để hủy diệt tinh thần và thể xác chúng tôi. Dùng thủ đoạn trong bóng tối vì dù sao họ cũng có phần lo ngại quốc tế biết được thì họ sẽ gặp bất lợi về tuyên truyền ngoại giao. Và lúc nào họ cũng muốn chuẩn bị trước những vấn đề liên quan đến từng “đối t
ượng” gọi là nguy hiểm để phòng khi hữu sự thì đem ra khai thác có lợi cho họ. Nào những “tác phẩm” do chính Phòng Phản Gián của Bộ Nội Vụ (Công An) CSVN viết đi sửa lại, tiểu thuyết hóa với bao điều ngụy tạo lạ lùng như các cuốn “Chân dung Tướng Ngụy”, “Bộ mặt thật của CIA Mỹ”, “Mật Kế Z của Võ Đại Tôn”, “Từ bóng tối đến ánh sáng”, “Chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng”, “Ảo vọng Đông Tiến của Hoàng Cơ Minh”..., cùng những bản gọi là “Tự khai, tự thuật”, những cuộc phỏng vấn phát thanh, truyền hình (một số Tướng Lãnh và sĩ quan cấp tá bị bắt). Nào những tấm ảnh được đạo diễn khôn khéo cho tù nhân đi “tham quan” các nơi trước khi được thả về. Tất cả đều được tồn kho lưu hồ sơ chờ lúc cần thiết thì cho tung ra tại quốc nội hoặc hải ngoại để làm lũng đoạn niềm tin cộng đồng và vô hiệu hóa cuộc chiến đấu tiếp tục của tù nhân chính trị. Có những “tác phẩm ngụy tạo” như trên đã được CSVN cho tái bản ba, bốn lần và chuyển ra hải ngoại. Tiếc rằng đã có một vài tờ báo gọi là “quốc gia” vui mừng trích đăng mà không kèm lời phê phán âm mưu thâm độc của CSVN. Cá nhân tôi vì từ hải ngoại trở về, mà người cộng sản gọi là “tên trùm phản động điệp viên CIA” cũng nằm trong thành phần “được họ chiếu cố” đặc biệt, che trước chắn sau, bao vây mọi mặt, áp đảo tinh thần và lưu hồ sơ ngụy tạo từng chi tiết nhỏ để phòng hữu dụng về mặt tuyên truyền sau này. Điều đó đã xảy ra. Nếu anh em tù nhân chính trị nào “yếu bóng vía” sợ dư luận vô tình hay phủ phàng “chụp mũ” , không đủ lời biện bạch, thì đành phải im lặng rút vào bóng tối yên thân. Như vậy, người cộng sản lại “thắng” thêm một lần nữa, như bóng ma theo dõi cuộc đời của tù nhân chính trị. Chính tên thứ trưởng Bộ Nội Vụ CSVN Lê Minh Hương (sau này lên Bộ Trưởng và đã qua đời) đã từng nói với tôi trước giờ tôi được tự do và trục xuất về lại Úc Châu (ngày 11.12.1991), sau khi bị biệt giam 10 năm 1 tháng 17 ngày) :

Anh được Đảng và Nhà Nước khoan hồng cho làm lại cuộc đời thì phải có những lời tuyên bố trung thực về chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng. Nếu anh còn ngoan cố chống đối chúng tôi, tất nhiên chúng tôi cũng sẽ có cách làm cho đám Việt kiều phản động ở các nước ngoài không ai tin anh cả. Chính họ sẽ vô hiệu hóa sự tái hoạt động chống phá Cách Mạng Việt Nam của anh đấy. Chúng tôi sẽ có cách, có người, tùy anh suy nghĩ và tự quyết !”.

Suốt trong cuộc chiến, người cộng sản đã tìm hiểu mọi chương trình huấn luyện, khả năng quân sự, trình độ văn hóa, cuộc sống thường ngày, của tầng lớp quân cán chính Cộng Hòa. Sau ngày chiếm được miền Nam, nhờ số hồ sơ cá nhân còn lưu lại trong các Nha Sở, họ lại được dịp tìm hiểu cặn kẽ thêm lý lịch của từng “đối tượng” tù nhân chính trị, phối hợp với những điều họ bắt buộc tù nhân khai đi báo lại cả mấy chục lần suốt mấy năm đầu gọi là “cải tạo”. Có người trước khi được thả về vì một hoàn cảnh hoặc điều kiện nào đó còn phải khai báo thêm một lần cuối để lưu hồ sơ. Tất nhiên là anh em tù nhân chính trị phải “giả dại qua ải”, vừa viết vừa lách cho khôn khéo. Vó quýt dày móng tay nhọn gặp nhau ở điểm này. Vì đã nắm được cái gọi là “toàn bộ lý lịch” của tù nhân chính trị như vậy, người cộng sản lúc nào cũng nhận thức rằng đây là một lực lượng chống cộng mãnh liệt nhất, không dễ gì tẩy não được. Với thâm tâm hận thù, lo sợ, và bản chất dã man, tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam lúc nào cũng muốn tiêu diệt hết cả khối tù nhân chính trị miền Nam để trừ hậu họa nhưng vì còn e ngại quốc tế lên án vi phạm nhân quyền trắng trợn cho nên họ dùng thời gian làm vũ khí để giết chúng tôi. Giam tù không xét xử, vô hạn định. Cứ vài ba năm lại ký thêm một “án lệnh” bắt tiếp tục tập trung lao động vì “chưa cải tạo tốt”. Ngoài thời gian “cao su” đó, họ còn dùng phương cách lưu đày biệt xứ để cách ly gia đình, lam sơn chướng khí, lao động nhọc nhằn vượt qua sức chịu đựng và phẩm giá của con người, ăn uống thiếu dinh dưỡng, chèn ép tình cảm, gây chia rẻ hận thù nội tuyến, để triệt tiêu chúng tôi trong bóng tối. Ai còn may mắn sống gượng được để trở về với tự do thì cũng thân tàn ma dại, không còn đủ sức đối kháng. Tâm trạng của một số anh em chúng tôi lúc nào cũng chênh vênh bên bờ vực thẳm, sống không nỗi mà chết cũng không xong, u uất, thất vọng, hận thù chồng chất hoặc chán chường buông xuôi quên cả bản thân mình còn là con người. Rồi đến khi tình hình có gì đột biến hoặc tự thấy đã giam cầm chúng tôi quá lâu, không có công pháp quốc tế nào có thể chấp nhận được điều dã man trắng trợn này, thì người cộng sản buộc lòng phải trả tự do cho tù nhân chính trị về đoàn tụ với gia đình hoặc trục xuất ra khỏi nước gọi là “khoan hồng nhân đạo” !. Nhưng trước khi thả, họ vẫn sắp đặt chu đáo nhiều phương án để vô hiệu hóa khả năng tiếp tục chống đối của chúng tôi. Họ ngụy tạo hồ sơ, giả mạo chữ ký, thêm bớt nhiều điều đã bắt tù nhân khai báo trong suốt thời gian giam giữ, đạo diễn quay phim chụp ảnh, phỏng vấn, chiêu đãi vuốt ve, cho đi “tham quan” một vài thắng cảnh, thăm “lăng Hồ Chí Minh”, như đã nói ở trên, để chờ dịp sẽ tung ra sau này qua các tờ báo tay sai hoặc bọn nằm vùng, thư nặc danh, tài liệu ngụy tạo gửi các hội đoàn... hòng phản công lại những sự thật mà tù nhân nào còn muốn tiếp tục chống đối họ trong các sinh hoạt chính trị công khai tại hải ngoại. Đây cũng là một âm mưu thâm độc dùng để tiếp nối việc hủy diệt tù nhân chính trị sau khi được tự do. Nhưng thế vẫn chưa đủ, họ còn tìm cách làm cho người tù phải sống trong hoang mang, hy vọng đủ điều trước ngày giờ được tự do. Họ bày vẽ ra nhiều hoạt cảnh xa thực tế ở ngoại quốc, cho loan truyền tin đồn thất thiệt đầy cả màu hồng, đối với tù nhân nào sắp được xuất ngoại để làm cho người tù sống trong ảo tưởng với tràn trề hy vọng về cuộc sống mới. Đến khi va chạm thực tế, nếu không có điều gì được hài lòng về chính trị xã hội thì chính người tù phải mang tâm trạng chán chường, thất vọng, bi quan yếm thế và không còn muốn “nhập cuộc” tiếp tục đấu tranh chống cộng. Tất nhiên là đa số chúng tôi, với kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống, qua tin tức gia đình và thân nhân bạn bè, cũng biết được trò tuyên truyền bịp bợm của cộng sản hòng lũng đoạn tinh thần chúng tôi, nhưng vì là con người vừa từ bóng đêm rùng rợn của địa ngục bước ra cho nên luôn mang trong lòng ước vọ
ng được thấy ánh sáng mùa Xuân trước mắt, ánh sáng tự do đổi đời. Vì lẽ đó, một số đông chúng tôi đã và đang sống trong tâm trạng căng thẳng giữa nhiều thực trạng phũ phàng của xã hội bên ngoài. Trong những lần qua Mỹ sinh hoạt, tôi có dịp may mắn gặp lại một số chiến hữu vừa được tự do, đi theo diện H.O., tâm sự cho biết :

“Trong thời gian chờ đợi xuất ngoại, có nhiều tên cán bộ CSVN lân la đến thăm hỏi và vờ đưa xem nhiều bức thư ngụy tạo từ nước ngoài gửi về, nội dung viết là chính phủ Hoa Kỳ vì muốn “chuộc lại lỗi đã bỏ rơi đồng minh” sẽ cho anh em tù nhân chính trị hưởng mọi trợ cấp ưu đãi nhất, thậm chí còn cho truy lãnh lương tiền theo tỷ lệ số năm tù, các hội đoàn hải ngoại sẽ tổ chức tiếp đón nồng hậu, gia đình đang chờ đợi trong cảnh giàu sang hạnh phúc...
”.

Đến khi sống trong thực tế tại nước ngoài với vết thương tù chưa thành sẹo thì một số anh em bị ngỡ ngàng trước bao nỗi niềm chua xót. Từ đó, chỉ muốn an phận qua ngày, âm thầm, cô đơn, mỏi mòn với hận thù quá khứ, hờn tủi trong hiện tại, vô vọng trước tương lai. Thay vì nung nấu trong lòng với mối thù hận đối với chế độ cộng sản đã nhẫn tâm hủy diệt một phần đời mình để tiếp tục đấu tranh, một số tù nhân trong cảnh ngộ này, lại mang tâm trạng chán chường. Đấy lại là một thủ đoạn thâm độc của CSVN để tiếp tục vô hiệu hóa mọi khả năng chống đối của lực lượng chống cộng hùng hậu nhất tại hải ngoại.


Trở về với gia đình thân yêu:


Không có một người tù nào không mang trong lòng nỗi nhớ mong và mơ ước được đoàn tụ với gia đình, siết chặt trong vòng tay người vợ thương yêu và những đứa con sau bao tháng năm dài xa cách. Bao nhiêu là mộng đẹp đã nâng niu từng đêm trong cảnh sống đọa đày. Thế nhưng, không phải gia đình nào cũng toàn vẹn hạnh phúc, những đổ vỡ nát tan vì hoàn cảnh chia lìa hơn mười mấy năm không phải là chuyện bất ngờ chỉ có trong tiểu thuyết. Có người tù khi được trở về thì bơ vơ lạc lõng, gia đình đã di tản từ lâu, không nơi nương tựa. Có người lại gặp cảnh phủ phàng, vợ vì hoàn cảnh sống đã phải lấy chồng khác, con cái thất tung. Đau đớn nhất là trong thời gian mình đi tù thì có những tên cán bộ công an đến dùng quyền lực để quyến rũ chiếm đoạt vợ con, nhà cửa của mình, đến khi trở về thì bẽ bàng, nổi trôi, vất vưởng, hận thù chất ngất trong lòng. Thực tế cay đắng với tâm trạng chán chường, biết hận ai đây ? Hận thù cộng sản thì cũng không làm gì được trước hoàn cảnh bơ vơ, nước mất nhà tan. Nhìn vợ con với nỗi đau thầm kín trong hồn rỉ máu ngày đêm. Còn một số anh em được ra nước ngoài đoàn tụ với gia đình đã định cư trước đây thì cũng không phải là toàn vẹn ước mơ. Đã có bao nhiêu gia đình tan nát vì hoàn cảnh, vì thời gian. Không ai thống kê được số lượng này, vì thuộc về tình cảm riêng tư, người trong cuộc thì muốn che giấu vì nhiều mặc cảm với đời. Nếu chưa đến nỗi tan nát thì dù sao đi nữa, hình ảnh “hoàng tử ngày xưa” của người chồng mới ra tù trong lòng người vợ cũng chỉ là một tiếng thở dài, ngượng ngập. Hình hài biến đổi tang thương quá. Ngày nào còn quyền uy sung túc, công danh địa vị, tuổi trẻ hào hoa, bây giờ chỉ là một lão già lẩm cẩm mang đầy bệnh tật, lạc hậu, trắng tay. Đàn con thì đã sống lâu ở xứ người, hình hài là Việt Nam nhưng đầu óc suy nghĩ theo lối Mỹ lối Tây, không biết gì về cội nguồn xứ sở, về quá khứ cha ông, đã gặp lại cha mình trong cái nhìn xa lạ dửng dưng. Tình cảm phụ tử lại xa bờ ngăn cách. Hình ảnh của những đứa con mang trong tâm tưởng suốt những tháng năm tù đày bây giờ đã hiện ra trước mắt, nhưng không phải là điều đã mơ. Chẳng phải lỗi tại mình, chẳng phải tại lỗi vợ con. Tâm trạng này chỉ biết âm thầm nén xuống tận đáy lòng, gửi qua khói thuốc cô đơn vào những đêm khuya vắng. Rồi lại tự thấy mình trở thành gánh nặng trong cuộc sống đã ổn định của vợ con, phải chìu lụy như sống bên lề. Thất cơ lỡ vận. Đã bao lần muốn vùng dậy để làm lại cuộc sống mới, chứng tỏ vẫn còn phong độ, đền đáp nghĩa tình gia đình, nhưng thực tế lại không như ý tưởng. Tuổi già sức yếu, tinh thần chưa ổn định, biết làm sao hơn ? Tự cảm thấy mình đang bị tụt hậu trong cuộc chạy marathon đường dài rồi bỗng nhiên bỏ cuộc lúc nào không hay. Sống tạm qua ngày như loại dây leo.


Mặc cảm nội thân:


Khi được tự do, điều trước tiên người tù chính trị cảm thấy mình trở nên quá lạc hậu trước đời sống văn minh đã đổi thay với tốc độ ánh sáng. Trước 1975, không phải người quân nhân cán bộ nào cũng được đi tu nghiệp hoặc công du xứ người. Đối với một số đông anh em, lần đầu tiên được ra nước ngoài theo diện đoàn tụ với vợ con đã phải ngỡ ngàng trước cảnh sống mới đầy đủ vật chất và khoa học kỹ thuật tân tiến. Ngay cả bản thân tôi, dù trước đây đã sống nhiều năm ở ngoại quốc, nhưng sau hơn mười năm tù trở về cũng tự thấy mình như người rừng rú. Trố mắt nhìn máy vi tính chẳng biết sử dụng ra sao, không dám bấm nút video, nghe nói đến điện thoại truyền hình là như nghe chuyện phong thần huyền thoại. Máy móc tân tiến phục vụ trong đời sống thường nhật trong nhà, xe cộ, đường sá thênh thang, tất cả đã làm choáng ngợp, phải chui vào vỏ ốc tiền sử của thế giới riêng mình. Ngay cả việc ăn uống nhỏ nhặt nhất, khi ra tù về lại với gia đình tại Úc, tôi đã thèm đường hơn thèm cơm. Ngồi ăn một mình cả một lọ đường cát trắng lớn một cách ngon lành, trước cái nhìn lạ lùng của vợ con và bạn bè. Thậm chí những ngày đầu ngồi nhìn bát cơm trắng mà chẳng dám ăn vì không biết có phải là sự thật hay mơ. Chưa nói đến việc cả một năm sau mới dám tự lái xe trên xa lộ. Bên cạnh sự lạc hậu bẽ bàng như vậy, còn có sự so sánh thấy mình quá già nua, thân xác tiều tụy, trí nhớ mông lung, lẩm cà lẩm cẩm, tự ái bất chợt dằn vặt ngày đêm, không theo kịp với nhịp sống mới vốn dĩ rất bình thường chung quanh. Vốn liếng kiến thức chỉ là những năm tháng tù đày, kể ngắn thì không hết chuyện, thuật dài thì người nghe đâm chán, xoay quanh thì cũng chỉ thấy mình còn đang bị bao vây bởi dây kẽm gai, cuốc đất trồng rau, bón phân, tưới nước, cơm hẩm muối nhạt, xà lim hoang lạnh. Không còn là thời sự nữa, tất cả quá khứ đã bị cuốn xoáy vào lớp sóng sinh hoạt nhộn nhịp thực dụng hàng ngày. Từ đó, tâm trạng người tù chính trị bị dằn vặt bởi hai loại mặc cảm :

Tự ti - vì thấy mình bị thua sút quá trong cuộc sống mới này, đối với gia đình, bạn bè, cộng đồng, và ngay cả bản thân, và
Tự tôn - vì cho rằng mình đã góp xương máu thực sự vào nỗi thăng trầm của đất nước quê hương, không ai được quyền phê phán, ta cứ ngẩng cao đầu ngạo nghễ mà sống. Vết tù là một vết chàm lịch sử, khắc sâu lên tâm hồn và thể xác của chúng tôi, một đời không quên. Cũng vì vết tù này mà bao lần đã tạo nên những cơn nóng giận vô thức, từ những chuyện nhỏ nhặt nhất trong sinh hoạt hàng ngày với những người chung quanh. Lại bị bắt lỗi, buộc “tội” và bị gạt qua bên lề cuộc sống, cô đơn.

Cuộc sống còn lại trong xã hội:


Những yếu tố khách quan tiêu cực trong xã hội, đối với người còn kẹt lại trong nước thì đã bị bao vây xâm chiếm đến độ quen rồi, coi như là một cuộc sống bình thường, không còn bận tâm phê phán nữa. Mọi người đều sống trong một Ngục Tù Lớn. Còn ở hải ngoại cũng vậy, cuộc sống “di tản đổi đời” vàng thau lẫn lộn, có cả bọn nằm vùng tay sai của CSVN, cũng đã làm cho những người ra đi từ trước trở thành “vô nhiễm” trước mọi xuyên tạc đánh phá, coi như là chuyện tiếu lâm. Nhưng đối với anh em tù nhân chính trị vừa mới được tự do, ôm mộng tưởng từ trong trại tù bước ra còn ở lại quê hương hay đã được xuất ngoại đều mang tâm trạng hẩng hụt, lạ lùng. Đặc biệt đối với số anh em vừa được định cư đoàn tụ gia đình tại nước ngoài, hoặc như bản thân tôi đã xa hải ngoại hơn mười năm dài, cuộc sống trong xã hội cộng đồng dường như có một bức tường vô hình chấn ngang. Lúc nằm trong tù thì tự vẽ ra trong óc bao nhiêu dự án cho cuộc đời còn lại của mình và cho cuộc đấu tranh chống cộng nói chung, chờ mong ngày thoát khỏi cảnh cá chậu chim lồng thì cố gắng lắp ghép lại với những sinh hoạt bên ngoài cho thành “đại sự”. Nhưng thực tế như một cơn mưa lạnh, lòng tù nhân lại càng run rẩy. Cuộc sống cộng đồng tưởng rằng náo nhiệt trong sinh hoạt đoàn kết đấu tranh, triệu lòng như một, nhưng chỉ thấy phần lớn đang náo nhiệt cho dời sống riêng mình. Mấy năm gần đây lại có số người ồ ạt về quê hương du lịch hoặc đầu tư thương mại, vung tiền vui chơi thỏa dạ, quên mất câu nói đầy sĩ nhục đối với cộng đồng của Phạm Văn Đồng trước đây : - “
Bọn bỏ nước ra đi là đồ phản quốc, tham nhũng, đĩ điếm, trốn chạy nợ máu nhân dân...”. Bây giờ thì lại trở thành “khúc ruột xa nghìn dặm thân thương của Tổ Quốc”. Nhìn cuộc sống mới, từ địa ngục trở về, người tù chính trị bao lần tự hỏi : - “Thân ta bị tù đày suốt bao năm dài vô ích quá phải không ?”.

Dòng đời vẫn bình thản chảy trôi còn số đông anh em tù nhân chính trị chúng tôi thì như những khúc củi từ rừng xa xuôi về, bị cuốn giạt vào bờ hoặc tự trôi tìm ốc đảo nương thân. Tìm thăm một số bạn bè quen biết đã định cư sau ngày quốc nạn đến nay nơi xứ người thì bị choáng ngợp trước cảnh giàu sang sung túc tất nhiên phải có của họ. Hơn ba mươi năm rồi thì cho dù không có cơ may hoạnh phát cũng đủ dư thừa vật chất qua sức lao động cần cù. Bước chân tù đạp lên những tấm thảm lót nền nhà tráng lệ mà cảm thấy lòng mình chùng xuống. Mừng cho bạn, thương cho mình. Tình cảm bạn bè vẫn còn đó nhưng sao tự cảm thấy xa lạ, có phải vì mặc cảm hay không ? Trong cốc rượu mừng người về từ cõi chết, tiếng bạn cười hả hê yêu cầu kể lại toàn những chuyện tiếu lâm trong tù, những chuyện “cán ngố”, để nghe cho vui. Hỏi về việc đấu tranh chống cộng thì bạn dửng dưng trả lời : - “
Thôi ông ơi, ông già rồi, và lại đi tù gần chết mà còn chưa sáng mắt ra hay sao, đấu với đấm làm gì nữa! Nào, kể chuyện tù nghe chơi, dẹp mấy chuyện chính chị chính em sang một bên đi...!”.

Đấy là lời bạn nói, rồi ai về nhà nấy, cuộc đời lại tiếp tục trôi đi. Nếu có một số anh em tù nhân chính trị nào còn muốn bày tỏ thái độ bất khuất, tiếp tục công khai tranh đấu để vạch trần sự thật về chế độ lao tù đầy thù hận và sắt máu của CSVN trước dư luận cộng đồng cũng như quốc tế, đòi lại danh dự con người đã bị tập đoàn lãnh đạo cộng sản dã man chà đạp, góp công cứu những đồng đội còn kẹt lại, thì lập tức cơ quan tuyên vận nằm vùng tại hải ngoại của công sản tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ với nhiều trò ảo thuật ngụy tạo. Một số người đã mang sẵn trong lòng nhiều đố kỵ cá nhân, nhiều ganh ghét vô lý hoặc hiểu lầm nông cạn, nghi ngờ đủ điều, lại vin vào đấy để vùi dập thêm tinh thần của tù nhân chính trị. Niềm tin lại thêm một lần băng hoại, người tù giật mình chới với, đớn đau. Tự hỏi : “Tại sao ?”.

Thay vì giúp nâng đỡ người tù đứng dậy, chung vào hàng ngũ đấu tranh, thì có người lại dùng “ác khẩu”, hoặc phao tin qua những “nick ma” trên mạng lưới vi tính hiện nay, để thêu dệt đủ điều, soi mói đủ chuyện, bàn luận xuyên tạc trong lúc trà dư tửu hậu làm cho một số anh em tù nhân chính trị cảm thấy chán chường, ngao ngán, im lặng hơn là chen vào các khu “chợ trời” này để đôi co với những điều vô ích. Họ được thỏa lòng ganh tỵ, hiềm khích, còn bọn cộng sản thành ngư ông thủ lợi. Tôi chợt nhớ đến mẩu chuyện trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư tiểu học ngày xưa, người đi đường bị chó đuổi, căm tức, vờ la lên “chó dại” là cả làng bủa ra vây đánh con chó chết. Ác khẩu là vậy. Từ những sự kiện đại loại như thế, hoặc khi nghe những chuyện như “kho đạn Long Bình nổ vang”, người tù chính trị mang tâm trạng ngao ngán, lòng ta ta biết, chí ta ta hay, hoặc tự trở về với nỗi cô đơn, yếm thế, như lời thơ của Cụ Nguyễn Du : - Sự đời đã tắt lửa lòng – Còn chen vào đám bụi hồng làm chi ? “. Không cảm thông nỗi đau đớn tủi nhục của người tù chính trị trong quá khứ, không giúp nâng người tù đứng dậy trong sinh hoạt hiện tại, mà lúc nào cũng có người “phán” những câu nghi ngờ, nối dáo thêm cho kẻ thù : - “Bị đày đọa như vậy mà tại sao còn sống được ? “ – “Tại sao không chết trong tù ? “ – “Tại sao lại được thả ra ? “ – “Có cam kết điều gì với cộng sản không ?” – “Coi chừng, tên này được ra tù để nằm vùng đấy !”... Cũng từ đó, và vì thế, có một số anh em tù nhân chính trị đã đi tìm đạo học Thiền, coi đời là cõi Vô Vi, chán ngán nhân tình thế thái, hoặc tìm nơi nào cách xa phồn hoa đô hội để sống yên thân cho qua ngày tháng. Chìm sâu trong âm thầm lặng lẽ, cách biệt bạn bè, xã hội cộng đồng mất đi những chiến hữu đấu tranh dày dạn kinh nghiệm và hàng ngũ quốc gia thêm phần phân tán.

Đối với cuộc chiến đấu còn đang tiếp diễn:


Ai cũng biết, muốn xây dựng lâu đài Tự Do cho quê hương Việt Nam thân yêu, cần phải có nhiều tay thợ đủ ngành, chứ không phải chỉ có kiến trúc sư ngồi vẽ họa đồ mà thành. Lẽ ra hàng ngũ tù nhân chính trị, nếu được nuôi dưỡng tinh thần chính đáng, dep bỏ tiểu dị để chăm lo đại đồng, là một lực lượng chống chế độ công sản hùng hậu nhất. Đặc biệt là tại hải ngoại vì có nhiều hoàn cảnh và môi trường sinh hoạt dễ dàng hơn trong nước đối với anh em còn kẹt lại chưa được xuất ngoại đoàn tụ gia đình hoặc không muốn ra đi. Hùng hậu, vì đã từng trực diện với CSVN, đổi kinh nghiệm sống còn bằng chính máu mình, hiểu rõ mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù, có nhiều thời gian trui rèn ý chí và nghĩ suy sắp sẵn nhiều dự án trong đầu, tuổi đời chin chắn. Trong cục diện đương đầu với CSVN hiện nay cũng như trước đây, lúc nào chúng ta cũng cần quan niệm đây là cuộc chiến đấu của Toàn Dân, của sự Kết Hợp Lòng Người chân chính. Không ai có thể đơn độc hành động. Lực lượng tù nhân chính trị lúc nào cũng là mối lo sợ của tập đoàn lãnh đạo cộng sản nếu xã hội cộng đồng quốc gia nói chung biết chân thành tận dụng tâm lý và kinh nghiệm của đa số anh em chúng ta. Trong thời gian chúng ta còn bị tù đày thì các tổ chức đấu tranh, cộng đồng, đã cố gắng tạo ra nhiều phong trào vạch trần vi phạm nhân quyền của CSVN, đòi công luận quốc tế buộc họ phải trả tự do cho chúng ta. Đấy là điều phải làm đúng với lương tâm và tình chiến hữu. Nhưng khi chúng ta được trở về với tự do rồi thì công cuộc đấu tranh còn phải tiếp nối đường dài. Như đã nói ở trên, tâm trạng của anh em tù nhân chính trị không phải là van xin cầu khẩn lòng thương hại của bất cứ ai, cũng không ta thán oán hờn, nhưng vì xã hội cộng đồng đã vô tình đưa đẩy một số anh em chúng ta vào thế tiêu cực, nản lòng. Điều tác hại nhất làm nản chí anh em là những lời xuyên tạc đố kỵ đầy ác ý của những kẻ thiếu lương tâm trong sáng, rỉ tai truyền miệng những lời vu khống, moi móc đời tư quá khứ mông lung nào đó làm đề tài chuốc rượu hả hê vui cười. Từ đó, có một số anh em chán chê bỏ cuộc, sống âm thầm bên lề cuộc đấu tranh chung. Còn những tù nhân chính trị nào tiếp tục quyết liệt bày tỏ thái độ sống còn trong việc góp sức vào công cuộc giải trừ cộng sản, quang phục quê hương, thì lại cảm thấy mình quá cô đơn vì việc góp công cứu Nước đâu phải chỉ có một tổ chức với vài trăm chiến hữu thâm tình. Hoạt động âm thầm hoặc chừng mực thì bị bao kẻ ngồi lê chụp mũ là đã bị “thấm đòn thù” cho nên không dám làm mạnh, hoặc đã an phận thủ thường, bỏ cuộc. Hoạt động năng nổ hăng say thì bị xuyên tạc là háo danh tham lợi, bị vạch lá tìm sâu qua những khiếm khuyết vô tình. Chưa kể đến âm mưu rình rập ngày đêm của bọn cán bộ cộng sản hải ngoại hoặc tay sai để gây thêm chia rẽ và phân tán niềm tin còn lại trong cộng đồng tỵ nạn nói chung. Người tù chính trị trở thành nạn nhân của hai nguồn dư luận đó, quay quít trong sinh hoạt mới từ địa ngục trở về. Một số anh em chúng ta, khi được trở về với tự do thì lại bị dằn vặt giữa nhiều trạng thái tâm lý ngổn ngang :


· Chán nản thì lại tiếc cho máu xương của mình đã hao phí vô ích trong các trại tù suốt quảng đời trung niên, ngậm ngùi nhớ lại những cái chết đau thương không nhắm mắt của bạn đồng đội.

· Còn tiếp tục đấu tranh thì bị phủ đầu bởi bao nỗi oan khiên vô lý, chưa kể đến sự than vãn ngày đêm của gia đình và nỗi cô đơn của bản thân ít người hiểu được.
· Với sự dồn nén tâm lý u uất sau nhiều tháng năm lao tù, tâm thần chưa ổn định, tự cho mình “lạc hậu” trước thực tế hải ngoại, một số đông tù nhân chính trị mặc nhiên chọn cho mình thế đứng “khán giả” để khen-chê mọi sinh hoạt cộng đồng hoặc đấu tranh trong môi trường mới, chứ không chịu ghép mình thành “diễn viên” trên sân khấu chính trị hoặc trên đấu trường cách mạng bản thân và tập thể.

Tạm kết:

Không phải chỉ riêng anh em tù nhân chính trị mà toàn thể Dân Tộc chúng ta ngày nào chưa thấy được ánh sáng của Tự Do Dân Chủ và Nhân Bản trên quê hương đau khổ thì ngày đó còn tự cảm thấy cuộc đời tạm dung là vô nghĩa, vật chất dư thừa tại hải ngoại nói riêng nếu có được cũng chỉ là phù du. Nhưng vì những suy nghĩ này được viết ra trong sự lắng đọng của tâm hồn trải qua bao cơn sóng gió của nội tâm và ngoại cảnh, tôi xin tạm được phép thay mặt cho một số bạn bè tù nhân của chúng tôi đã thoát củi sổ lồng để nói lên đôi chút nỗi niềm của Tù Nhân Chính Trị đối với Tổ Quốc thân yêu. Được hy sinh ngoài trận tuyến hoặc bị kẻ địch cầm tù vì đấu tranh cho sự sinh tồn của Tổ Quốc là niềm Vinh Dự tối cao của người công dân có lý tưởng. (Xin có một lời nhắn chân thành đến quý chiến hữu Tù Nhân Chính Trị : - mong quý Bạn đừng bao giờ theo thói quen lập lại danh từ “cải tạo” mị dân, lừa bịp vô nhân đạo mà CSVN đã trịch thượng gán ép cho chúng ta, như có người thường nói “
Tôi đi cải tạo 12 năm tại miền Bắc hoặc 5 năm tại miền Nam”. Không ai có quyền “cải tạo” lòng yêu Nước của chúng ta, chính nghĩa đấu tranh của chúng ta !. Vì là nạn nhân của thời cuộc, của bài toán chính trị toàn cầu do các cường quốc áp đặt lên thân phận của một nước nhược tiểu thiếu lãnh đạo biết hy sinh, nạn nhân của một chế độ phi nhân dùng chính sách trả thù dã man để hủy diệt mọi mầm mống chống đối, chúng ta đành chấp nhận hoàn cảnh tù đày nhưng vẫn ngang nhiên ngẩng cao đầu mang danh nghĩa “Tù Nhân Chính Trị”, chứ không phải và không bao giờ là “cải tạo viên” !)

Một số anh em tù nhân chính trị vì hoàn cảnh và môi trường sinh hoạt phải mang tâm trạng nhiều “mặc cảm” : - tuổi già sức yếu, nội thương bị tra tấn chưa lành, lạc hậu với nền văn minh hiện đại. Văn hóa và nhất là ngoại ngữ chưa đủ thời gian thích nghi hoặc trau giồi lại, gia đình một số bị chia lìa tan nát, sự ngăn cách cảm thông giữa hai thế hệ già-trẻ, anh em cảm thấy mình bị thua sút về nhiều phương diện đối với những người đi trước, các hội đoàn đấu tranh bị ít nhiều phân hóa, tinh thần bị nhiều kẻ “thời cơ” lợi dụng, lòng người vẩn đục Niềm Tin... người tù chính trị nói chung vẫn còn mang trong lòng chữ Tâm trong sáng. Nếu có anh em nào “rửa tay gác kiếm” tìm chốn an phận vô vi thì xã hội cộng đồng cũng cần phải cảm thông vì mỗi con người chỉ có một giai đoạn phục vụ. Những năm tháng bị tù đày cũng là một giai đoạn phục vụ cam go nhất đời. Còn nếu có anh em nào, nhờ hoàn cảnh và sức khỏe chưa đến nỗi suy nhược lắm, vẫn còn tự nguyện dấn thân đóng góp công sức vào đại cuộc chung thì chúng ta phải mở rộng lòng nâng đỡ tinh thần và tình Chiến Hữu viết hoa để cùng nhau thăng tiến trên đường trở về trong vinh quang Tự Do của Dân Tộc. Xin dẹp bớt cho chúng tôi những ổ trâu ổ gà và giúp giảm nhẹ gánh hành trang còn đầy những nỗi niềm chua xót, những tâm trạng não nề. Trong lịch sử nhân loại, Việt Nam đã phải chịu nhiều tang thương dâu biển, và trong những thập niên qua, người Tù Chính Trị Việt Nam nói riêng là một tập thể khốn cùng nhất vì đã bị kẻ cầm quyền cộng sản đày đọa thể xác tinh thần quá mức chịu đựng của Con Người. Theo tài liệu tâm lý xã hội của Hoa Kỳ và các nước phương Tây (cơ quan nghiên cứu về tù nhân chính trị và sự tái hội nhập vào xã hội), tù binh hoặc tù nhân chính trị của họ sau khi về với tự do đều được nhiều cơ quan chính phủ đặc biệt chăm sóc thường xuyên, bồi dưỡng sức khỏe, khám nghiệm tâm thần, với nhiều chương trình xã hội ưu đãi. Ngay cả đến ngày hôm nay, những tù binh Mỹ từ Bắc Việt trở về (một số tôi từng quen biết và vẫn còn liên lạc) hơn mấy chục năm qua vẫn còn được hàng năm tái khám sức khỏe và tiếp tục được giúp đỡ ổn định đời sống bản thân, gia đình. Còn tù nhân chính trị Việt Nam, thời lượng tù dài hơn, bị đối xử dã man hơn, nhưng vì chúng ta là những người mất Nước cho nên đâu có chính phủ nào triệt để lo toan giúp đỡ mọi mặt, ngoài một vài ân huệ nhân đạo. Tất cả đều phó thác cho gia đình hoặc tự túc bản thân. Ngay cá nhân tôi, sau hơn mười năm bị biệt giam và tra tấn, có lần tự tìm đến một cơ quan xứ người chuyên trách về hồi phục sức khỏe và tìm việc làm cho tù nhân, cũng chỉ được “mời” trả lời hàng trăm câu hỏi và điền chi tiết lao tù vào mẫu in sẵn và được nhìn nhân viên phụ trách trố mắt ngạc nhiên, rồi thôi. Lời khuyên cuối cùng nhận được là nên đi khai “thất nghiệp”. Chỉ có người Việt Nam nào đã từng khốn khổ vì chế độ cộng sản phi nhân mới cảm thấy rùng rợn khi nghe đến các tên trại tù Suối Máu, Hoàng Liên Sơn, Hà Tây, Thanh Liệt, Thanh Phong, Thanh Cẩm, Cổng Trời, Tiên Lãnh, An Điềm, Lam Sơn, Phan Đăng Lưu... , từ những địa ngục trần gian đó chúng tôi đã trở về. Với những tâm trạng dày vò ngày đêm, người tù chính trị chỉ còn một lời kêu gọi lương tâm xã hội cộng đồng – kêu gọi chứ không phải van xin - :


·
Nếu anh em chúng tôi còn ai tiếp tục đấu tranh được thì hãy nâng đỡ tinh thần để chúng ta cùng nhau nhịp bước đồng hành. Chúng tôi nhất định sẽ hiện diện trong hàng ngũ những người con yêu của Tổ Quốc Việt Nam trên đường về lại quê hương trong vinh quang của Tự Do Dân Chủ, lót đường cho các thế hệ mai sau được sống làm NGƯỜI VIỆT NAM đúng nghĩa trong an lạc hưng thịnh của đất nước.
· Còn nếu có người nào trong cộng đồng còn quá bận với nhiều việc tư lợi nhất thời đã quên đi nỗi thống khổ mà quê hương còn đang cam chịu dưới chế độ cộng sản, hoặc người nào vì đố kỵ ganh ghét cá nhân nào đó, không muốn tiếp sức cho người tù chính trị gượng dậy, thì cũng nên im lặng cho chúng tôi tiến bước, tất nhiên là chúng tôi không đi sai lạc con đường Lý Tưởng Quốc Gia. Im lặng khách quan cũng là một đóng góp cho dù là tiêu cực còn hơn là những hành động, ngôn ngữ mỉa mai, cản đường, ngoại trừ những kẻ manh tâm làm tay sai cho cộng sản trong giờ phút cuối cùng này.
· Đối với những lực lượng đấu tranh vì Tự Do Dân Tộc, tù nhân chính trị - gồm đại đa số là cựu quân nhân và những người còn có lương tâm lo cho tiền đồ đất nước – mong lúc nào cũng chân thành hợp tác và chia sẻ trách nhiệm chung.
· Riêng đối với tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã từng nhẫn tâm coi chúng tôi không phải là đồng loại, chúng tôi nhắn gửi một lời bất khuất :


TẬP THỂ TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM, ĐÃ VÀ ĐANG BỊ CỘNG SẢN CẦM TÙ, VẪN CÒN HIỆN DIỆN TRONG MỌI HOẠT ĐỘNG VÌ CHÍNH NGHĨA TỰ DO DÂN CHỦ VÀ VẪN CÒN SỐNG TRONG LÒNG DÂN TỘC !.


Võ Đại Tôn

Úc Châu – 4/2011.


http://batkhuat.net/bl-36namquochan-nghive-tamtrang-tunhan.htm

Bài Xem Nhiều