We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 11 April 2011

Ngậm ngùi

Chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không. Thấy người mà nghĩ đến ta, tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Đã có hằng trăm cuốn sách khenngợi người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế? Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay. Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 4.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy? Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết: “Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đitrận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.” Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Đất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68, cũng nhận xét rằng: “Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh…”. Đại văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc đã từng ví người Hoa như ba con vật: “Tàn bạo như Sư tử, gian xảo như Hồ ly, nhút nhát như Thỏ đế.”…Không vì những ý kiến thẳng thẳn đó mà dư luận người Hoa cho rằng ông bôi bác hay phản bội dân tộc. Tuy mỗi người nhìn và đặt vấn đề một cách khác nhau, nhưng họ có chung niềm trăn trở và chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tới. Đôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữađể tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc. Tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳngthắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả. Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để tìm sự giàu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức,nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém. Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc. Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại suy nghĩ thiếu khoa học nên dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa. Cứ nói người dân mình thích đọc sách và ham học lắm, nhưng tôi có cảm tưởng không phải như thế. Thực ra, dân mình mê khoa bảng, kiếm chút bằng để kiếm ăn. Sách in ra đa số nhận rất ít phản ứng… Việc đọc sách chưa được xã hội hóa, hàng tháng không có thông tin về sách mới ra, không giới thiệu, không phản hồi, không thống kê, giới viết và đọc không hội họp…. Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Để tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước… Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!! Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí. Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng. Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu tinh thần khoa học, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo… Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được. Xin hiểu cho là cà một dân tộc thì có người nay người kia, nên nói như thế không có nghĩa mọi người như vậy và một người đồng thời có tất cả những tính xấu ấy cùng lúc. Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng đồng của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)? Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua “định mệnh” không hay này. Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém,không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Đại học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa. Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn việc lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đi. Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từmọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Đã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được. Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!? Tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhau. Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiệm chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm. Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Đồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi. Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn “Tự Thán” đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôi. Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được. Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn “Tự Phán”, cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giới. Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm giày xéo… Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau. Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Đà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858,Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Đà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Đặc biệt Việt Nam hầu như chỉdựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện. Thật vậy, khi thấy Pháp mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâu. Sau Thế chiến Thứ II, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm chiến tranh. Điều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được. Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậy? Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theokịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam? Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Đức… mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế chiến Thứ II, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thếchiến Thứ II, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc. Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Đặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân… Vài năm trước, tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế chiến Thứ II vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sáng lạn. Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép. Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn “rất nghèo tài nguyên”, mà nay người Nhật xây dựng thành “giàu có”, còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn “rừng vàng biển bạc” mà lại hóa ra “nghèo nàn”? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời Trung cổ. Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển. Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Đức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế chiến Thứ II, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử. Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nào? Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, năm 2007, người Việt dù có 3 triệu ở hải ngoại hay 85 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao. Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chịu khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng kinh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn. Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nào? Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng? Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như “sắc, huyền”, uốn éo như “hỏi, ngã”, rung động như “r”… thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc lý cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏinhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu châu… Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90. Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh… Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời. Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng “hàng ngoại” đến như vậy? Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. “Sản xuất” nếu có, “hàng nội” nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay người Hoa được. Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bày cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được. Người Mỹ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng: - “Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác”. Người Nhật thì chủ trương: - “Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách”. Sự phồn vinh rất “giả tạo” hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ Mỹ kim (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODAkhoảng 20 tỷ. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ đó chưa kể Tổng sản lượng quốc dân (GDP)khoảng 500 tỷ do người Việt làm ra trong thời gian này, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa. Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể “đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo”. Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước. Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại? Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu? Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.
Psonkhanh, blog Tin Lề Trái

Cảm nghĩ về VN sau 36 năm giải phóng Sàigòn


Chúng tớ, bộ đội miền Bắc vào giải phóng miền Nam phải nói thật, nói thẳng là chúng tớ bị đảng cộng-sản Việt-Nam dối gạt. Họ bảo chúng tớ rằng dân miền Nam đói khổ và bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Thiệu Kỳ, tra tấn, hành hạ, bóc lột đến tận xương tủy! cơm không có đủ ăn, quần áo không đủ mặc...Nhưng sau khi Tên Dương Văn Minh đầu hàng, chúng tớ từ trong rừng chiến khu tiến về và vào Sàigòn, chúng tớ mới thấy Sàigòn sao mà đẹp thế, nhà cao, cửa rộng, thật khang trang, hoa lệ...dân chúng ăn mặc bảnh bao không như dân tụi tớ ngoài miền Bắc chỉ đội nón cối, áo xanh lao động, hầu như ai cũng ăn mạc giống ai vì chỉ tiêu chỉ được: " Một năm hai thước vải thô, làm sao che nổi cụ Hồ đảng ơi!" Đơn vị của tớ tới trú đóng tại cao ốc Đời Tân đường Phan Thanh Giản, Sàigòn. Phòng nào cũng giường nệm trắng tinh, quạt máy, máy lạnh...ôi sướng làm sao tả hết. Nhưng vì không có củi thổi cơm, nên tụi tớ đập hết cửa sổ, lấy gỗ làm củi. Bây giờ nghĩ lại, thấy làm như vậy là bố láo quá sức, phá hoại tài sản quốc gia mà không biết, cứ cho là tàn dư của Mỹ ngụy nên đập phá cho thoả thích. Tụi tớ còn nuôi lợn, nuôi gà trong sân nữa chứ. Sau hai năm đánh tư sản mại bản, dân Sài gòn tan tác như gà mất mẹ. Tụi tớ biết dân Sàigòn căm thù tụi tớ cộng sản miền Bắc lắm, nhưng họ không dám ho hoe, vì sợ bị tóm, đưa đi cải tạo! họ sợ tụi tớ hơn sợ hùm beo cọp báo; có người còn gọi tụi tớ là quỷ đỏ v.v... Tớ thích nhất là được lang thang ra chợ Bến Thành, chợ cũ để mua đài mang về miền Bắc...tớ mua được 1 cái đài Philip màu cà phê sữa, chơi được cả băng nhựa làm quà miền Nam cho bố tớ...ông cụ sướng rên người luôn vì đã lâu ông cụ muốn có 1 cái đài để nghe mà cũng không thể nào mua nổi. Xe gắn máy bình bịch đầy rẫy, đủ kiểu, đủ hiệu, tớ mua luôn 1 xe mô-bi-lét cũ màu xanh lơ, đã tróc sơn! leo lên đạp mãi mới nổ máy. Hôm về Hà-Nội, tớ chạy ra ga xe lửa Hoà Hưng đưa lên tàu Thống Nhất, về tới thủ đô, oai quá sức, bà con lé mắt. Đấy là quà miền Nam , hàng xóm tới chào và xem một cách thích thú. Ai cũng muốn vào Sàigon một chuyến để xem Sài gòn như thế nào! Sau những đợt đánh tư sản, đổi tiền, đuổi dân đi kinh tế mới...dân Sàigòn tìm cách vượt biên để tìm tự do nơi hải ngoại. Nhà cửa bị đập phá và bỏ hoang rất nhiều. Những cán bộ cao cấp thì tịch thu những villa tráng lệ để ở hoặc làm văn phòng phường, xã hay đồn công-an. Càng ngày dân miền Nam càng chửi cộng-sản một cách thâm tệ, tụi tớ biết thế khi tới thăm ông chú bà bác di cư vào Nam năm 1954. Ông chú tớ bảo:" tao đã chạy cộng sản mấy chục năm bây giờ nó lại bắt được! bây giờ sống làm sao đây?" tôi bảo chú tôi rằng họ bắt cháu phải đi bộ đội nếu không họ cúp tem phiếu và tịch thu hộ khẩu, bố mẹ cháu sẽ chết đói...cháu có muốn đi vào Nam đâu...làng ta đi bao nhiêu là chết bấy nhiêu, cháu cũng sợ lắm!... Đã 35 năm trôi qua, Sàigòn hôm nay đường phố tràn ngập xe gắn máy, chạy bừa bãi vô trật tự...dân Hànội chiếm đa số những nhà mặt tiền để làm ăn buôn bán; quán ăn, nhà hàng mọc lên như nấm, tệ nạn xã hội đĩ điếm tràn ngập mọi hang cùng ngõ hẻm, xì ke, ma túy, cướp giựt, móc túi hoành hành như chỗ không người...Dân bây giờ đếch sợ công an nữa, họ oánh bỏ mẹ công an luôn vì họ coi công an là kẻ thù của họ...Lãnh đạo cao cấp thì tham nhũng nên giàu có không ai bằng, người dân lao động khổ vẫn hoàn khổ. Đất nước thì Trung Quốc lăm le xâm lược, chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển và bắn giết ngư dân thoả thích mà đảng ta không dám hé môi; sợ buồn lòng anh Cả Thiên Triều, láng giềng tốt, hữu nghị bền vững muôn năm. Người dân đấu tranh chống giặc Hán xâm lược thì bị bắt bỏ tù, dân khiếu kiện đòi ruộng đất bị nhà nước tịch thu cũng bị quẳng lên xe đưa về nghỉ ở Hoả-Lò...Phải nói thẳng là VN người dân không có tự do và nhân quyền; vì đảng chủ trương tiến nhanh tiến mạnh lên XHCN nên VN hiện nay đứng gần chót trong bảng xếp hạng các nước trên thế giới. Dân TQ vào tràn ngập VN, họ xây nhà, xây làng, cưói gái Việt, đẻ con và cắm bảng cấm người Việt lai vãng tới gần làng của họ ngay trên đất Việt, hỏi có ức không chứ??? VN sớm muôn gì cũng trở thành một tỉnh hay một quận của Trung Quốc mà thôi vì những nhà lãnh đạo VN hiện nay đều là người của TQ??? Nếu muốn có tựdo, dân chủ và nhân quyền và có đủ sức mạnh bảo vệ tổ quốc trước hiểm họa bị nô lệ giặc Hán...Toàn thể nhân dân VN phải hành động ngay trước khi quá muộn...loại bỏ chế độ CS độc tài, thành lập chính phủ qua bầu cử tự do, tìm người có TÀI, có ĐỨC ra lãnh đạo đất nước thì mới hy vọng đưa VN tới bến bờ độc lập, tự-do, hạnh phúc thực sự...Nhân dân VN khẳng định rằng CSVN không thể đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân nên cần phải thay đổi càng sớm càng tốt. Trần-Văn-Hát QĐND/VN.

Cái lưỡi

Ảnh minh họa. Nguồn: counseling.com

Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triến một vố, bèn phán :

- Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.

Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua.

Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :

- Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.

Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :

- Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình xinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !

Hay :

- Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.

Và như chúng ta đã thấy :

- Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông.

Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :

- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thây đổi.

Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.

Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.

Do đó Kinh thánh đã bảo :

- Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.

Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :

- Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.

Trước hết là trong lãnh vực gia đình.

Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.

Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã.

Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.

Đứa bé chạy tới và nói :

- Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.

Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ.

Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều.

Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ.

Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.

Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :

- Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.

Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :

- Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.

Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố.

Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :

- Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…
Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng, đùng đùng nổi trận lô đình như Trương Phi !

Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !

Bởi đó, tục ngữ đã dạy :

- Chồng giận thì vợ làm lành

Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.

- Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.

Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.

- Bên thẳng thì bên phải chùng

Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.

- Bên giận thì bên phải lùi

Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.

Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :

- Một sự nhịn là chín sự lành.

Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :

- Lời nói chẳng mất tiền mua

Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác.
Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :

- Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.

Hay như ca dao đã diễn tả :

- Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười ở hẹp người chê
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.

Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.

Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.

Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.
Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.

Sau cùng là trên bình diện cá nhân.

Như chúng ta đã biết :

- Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.

Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.

Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.

Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.

Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người, như một câu danh ngôn đã bảo :

- Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.

Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.

Như thế, nếu không biết sử dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.

Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng.

Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn dinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.

Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.

Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại dinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị.

Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau :

- Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.

Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.

Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.

Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :

- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói

Gã Siêu

Các LS hải ngoại nói về phiên xử TS Hà Vũ

Mạc Việt Hồng thực hiện

Cù Huy Hà Vũ ra tòa hôm 4/4/2011

Phiên tòa xử tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ đã kết thúc hôm 4/4/2011 với bản án 7 năm tù, 3 năm quản chế. Đã có rất nhiều bài bình luận, phân tích về phiên xử, về bản án cũng như cách hành xử tùy tiện của những người cầm cân nẩy mực ở Việt Nam.

Để giúp bạn đọc tìm hiểu quan điểm của các luật sư hải ngoại với phiên tòa vừa rồi, chúng tôi có gửi câu hỏi tới một số luật sư.

Ba câu hỏi được gửi phỏng vấn là:

1- Phiên tòa xử tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ vừa diễn ra với những tình tiết chưa từng xảy ra trước đó như 1 luật sư bào chữa bị đuổi, 3 người bỏ tòa. Ông nhận xét gì về phiên tòa?

2- Qua phiên xử tiến sỹ Hà Vũ cũng như bản án 7 năm tù 3 năm quản chế, theo ông, hệ thống tư pháp ở Việt Nam có thể hiện sự tiến bộ gì không sau 25 năm đổi mới và đặc biệt sau 5 năm gia nhập WTO?

3- Những luật sư gốc Việt ở nước ngoài có thể làm gì để giúp đỡ cho những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam khi phải đối mặt với những phiên tòa như vậy?


Phần trả lời của các luật sư:

Luật sư Trần Thanh Hiệp: Paris, Pháp quốc

1- Dùng pháp luật và tòa án chân chính dân chủ để thực hiện công lý cho xã hội đó là một trong những

LS Trần Thanh Hiệp

phát minh chót của nhân loại văn minh trên địa hạt nhân quyền, dân quyền. Bởi thế, muốn được coi là một phiên tòa xứng đáng với tên gọi này thì phải là một khung cảnh văn hóa trong đó thật sự có sự “xét xử công bằng”, như đã được dự liệu nơi điều 10 của Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền 1948 và nơi điều 14, Công ước về các quyền Dân sự và Chính trị 1966, theo đó “Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một tòa án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghĩa vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc”.

Do đó, tôi cho rằng không thể gọi là “phiên tòa” việc nhà cầm quyền Hà Nội, ngày 04-04-2011 vừa qua, đưa Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ ra trước công cụ đàn áp của họ mà họ gọi là tòa án, để “đấu tố”, dưới những hình thức mới, và chính thức hóa việc đã bắt giam trái phép Tiến sĩ Vũ từ tháng 11 năm ngoái. Tôi coi đó là một màn tuồng bi-hài-kịch mà người viết kịch bản không có tay nghề, các diễn viên lại rất tồi dở, chánh thẩm đóng luôn cả vai công tố, bất chấp những qui tắc xét xử do chính chế độ đã đặt ra, không ngần ngại xâm phạm thô bạo và trắng trợn nhân quyền của dân chúng ở ngoài tòa án, của bị cáo cũng như của luật sư của bị cáo ở trong phòng xử, thậm chí còn trục xuất luật sư ra khỏi nơi xử khi luật sư công khai đòi người ngồi xử phải áp dụng luật tố tụng hiện hành. Phải nói rằng không hề có “xét xử công bằng” mà chỉ có một màn tuồng “bịt miệng” người bị xử để áp đặt những hình phạt hình sự xâm phạm nặng nề những qui phạm pháp lý về nhân quyền mà chính Hà Nội đã tham gia và cam kết tôn trọng kể từ năm 1977 Hà Nội được chấp nhận làm thành viên của Liên Hiệp Quốc. Cách ứng xử bằng bạo lực trần trụi và lạm quyền thiếu văn hóa, thiếu văn minh như vậy đã, thêm một lần nữa, phơi trần ra trước dư luận quốc tế và quốc nội, mặt thực của một bộ máy cầm quyền cộng sản phi-pháp, phi-nhân-quyền và phi-công-lý.

2- Dĩ nhiên kể từ khi bộ máy cầm quyền cộng sản ở Hà Nội được mở đường để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế thì đã có một số thay đổi trên địa hạt tư pháp, nhưng không thể nói đã có “tiến bộ”. Đành rằng bây giờ không còn thấy những nghịch cảnh khó coi là cả quốc hội lẫn Nhà nước, tòa án, luật sư, công an v.v… xúm lại “bề hội đồng” khủng bố các nhân vật ly khai, đối lập. Bây giờ đàn áp đã diễn ra dưới những hình thức “tinh vi”, “khôn ngoan” hơn. Nhưng tinh vi và khôn ngoan không phải để thực hiện công lý mà là để che giấu dưới những bề ngoài có vẻ “hợp pháp” nhằm đánh lừa dư luận quốc tế, chứ không phải để cải thiện cho thân phận những người bị trị mà tất cả nhân quyền cũng như dân quyền đã bị tập đoàn cai trị trắng trợn tước đoạt. Tôi nghĩ phải nói chẳng những không có tiến bộ mà lại có “thoái bộ”. Tôi xin mượn “cảm tưởng” của Ls. Nguyễn Thị Dương Hà để nhận định về sự thoái bộ ấy: Về diễn tiến phiên toà hay nói đúng hơn là cái việc sắp xếp ra để có cái vụ án của Cù Huy Hà Vũ chống lại nhà nước CHXHCNVN như ông Cù Huy Hà Vũ đã nói ngay khi phiên toà cho phép ông được phát biểu, ông đã nói luôn là: “Tôi biết rằng”… (anh ấy nói nguyên văn) là “…cái vụ án Cù Huy Hà Vũ này được dàn dựng lên để chống lại tôi”. Cho nên sau đó qua phần thủ tục xét hỏi phần tranh tụng, tất cả từ lúc đầu cho đến lúc cuối đều hoàn toàn vi phạm tố tụng, vi phạm pháp luật; và việc thu thập chứng cứ cũng như theo anh Cù Huy Hà Vũ đã nói và luật sư cũng đều nói, cũng như tôi khi được làm luật sư cho anh ấy cũng như tôi là vợ anh ấy đều biết: việc thu thập chứng cứ là sai, có thể nói là hoàn toàn sai trái, thì những tài liệu thu thập trái chứng cứ đó không thể nào là tài liệu hợp pháp để buộc tội anh ấy cả. Cho nên một vụ án, một phiên xử có thể nói là thu thập chứng cứ, dàn dựng tất cả… đều là do lý trí của người làm nên vụ án, nên không thể nào nói bản án này có thể là công bằng và đúng pháp luật được.

3- Những luật sư gốc Việt ở nước ngoài không mong gì hơn là giúp đỡ cho những người bất đồng chính kiến ở trong nước. Rất tiếc những luật sư này không có được những điều kiện thuận tiện để thi hành sự giúp đỡ ấy ở trước những tòa án của chế độ. Bởi lẽ không được phép bênh vực cho họ ngay khi họ bị khởi tố rồi truy tố, và nhất là biện hộ cho họ khi họ bị đưa ra tòa để gọi là xét xử. Vòng vây của chế độ cộng sản đã cách ly những người ly khai, một cách nghiệt ngã, đối với bên ngoài. Như vậy chỉ còn cách là các luật sư gốc Việt sẽ lên tiếng tố cáo trước dư luận quốc tế những đối xử bất công thô bạo và phi pháp mà những người ly khai là nạn nhân. Đồng thời vận động những cơ chế bảo vệ nhân quyền quốc tế tìm cơ hội và khả thể nhờ các cơ cấu ấy trừng trị đích đáng những thủ phạm lạm dụng quyền lực để theo đuổi những hành vi xâm phạm có hệ thống, thường trực và qui mô lớn nhân quyền, dân quyền ở trong nước.

Luật sư Nguyễn Xuân Phước: Texas, Hoa Kỳ.

1- Chúng ta cần để ý điểm nầy: toà án Việt Nam đã quen xử các vụ án chính trị lấy lệ. Chánh án chỉ cần tuyên bố án lệnh theo … “nghị định” của “lãnh đạo”. Họ không quen và coi như không biết thủ tục hình sự tố tụng. Nếu có biết cũng phải làm ngơ coi như không biết.

LS Nguyễn Xuân Phước

Thông thường, trong phiên toà các vụ án chính trị, các luật sư bào chữa tha hồ hùng biện để biện hộ cho bị cáo. Cuối cùng ông chánh án chỉ cần đọc “nghị định” của “lãnh đạo” để tuyên án. Ông chánh án không phải là người cầm cân nẩy mực ở phiên toà, để lo cho công lý đưọc thi hành. Ông không đóng vai quan toà để cân nhắc đúng hay sai, vô tội hay phạm tội. Ông không cần xem xét bằng chứng cáo buộc. Thành ra xử vụ án lớn, nhỏ gì ở Việt Nam cũng rất gọn nhẹ, chóng vách.

Phiên toà của Cù Huy Hà Vũ rất khác những phiên toà trước đây. Trong phiên toà nầy các luật sư bị cáo yêu cầu quan toà phải đưa ra bằng chứng buộc tội theo yêu cầu của điều 214 bộ luật hình sự tố tụng. Điều nầy đòi hỏi chánh án phải có quyết định ngay trong phiên toà. Chuyện nầy trước nay chưa có nên quan toà rất lúng túng. Nếu ông ta cho phép trưng bày bằng chứng những tội danh cáo buộc CHHV phải đưọc đưa lên công luận thì một loạt các vấn đề căn bản của chế độ phải được đưa ra bàn cãi. Nào là giá trị của chủ nghĩa Mác Lê, nhân dân có chấp nhận chủ nghĩa Mác Lê hay không, vấn đề điều 4 có hợp hiến và hợp pháp hay không, ngưòi dân có quyền kiện thủ tướng không v.v.. Đó là chưa kể mổ xẻ điều 88 BLHS. Thế nào là chống, thế nào là chính quyền nhân dân? Từ vấn đề chính quyền nhân dân ngưòi ta có thể đặt lại giá trị của hiến pháp. Những mâu thuẫn trong hiến pháp như quyền tự do của người dân, vấn đề quyền hạn của ĐCSVN đứng lên trên quyền của Quốc Hội, vấn đề ĐCSVN không có giấy phép hoạt động v.v. Một loạt những vấn đề cần mổ xẻ và cân nhắc.

Luật sư Trần Vũ Hải, được trang bị bằng điều 214 BLHSTT, đã dí ông chánh án tới bến. Ông chánh án không biết phải phản ứng thế nào cho vừa lòng lãnh đạo nên nên chơi luôn luật… rừng. Ông phải đuổi luật sư Trần Vũ Hải ra khỏi toà. Tức là chánh án thà làm sai nhưng bảo vệ được “đảng”.

Điều đặc biệt ở đây là các luật sư bào chữa cho tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ rất bản lĩnh và nắm rất vững thủ tục tố tụng hơn ông quan toà. Do đó, đáng lẽ phiên toà phải đưọc hoãn để giải quyết những vấn đề do luật sư bào chữa đưa ra, thì ông chánh án Chỉnh theo thói quen cứ đọc “nghị quyết kết án” để cho xong chuyện.

Hiện tượng nầy đã được báo chí quốc tế đăng tải, và có thể ông chánh án Nguyễn Hữu Chính sẽ được đi vào lịch sử thế giới như là một vị chánh án có khả năng đọc “nghị quyết kết án” can đảm nhất, bất kể thủ tục hình sự và luật pháp nhà nước.

2- Chúng ta biết là hệ thống luật pháp ở Việt Nam là thứ trang trí cho chế độ để làm cho ra vẻ văn minh với người ta khi mình hội nhập vào thế giới văn minh của nhân loại. Nhưng bản chất vẫn là nền luật pháp lấy chủ nghĩa Mác Lê làm tư tưởng chỉ đạo, dựa vào, lấy bạo lực đấu tranh giai cấp và hận thù giai cấp (trong trường hợp nầy là bạo lực pháp qưyền) để trấn áp những ngưòi khác chính kiến.

Cái tiến bộ của hệ thống toà án Việt Nam giống như một mụ bán cá đanh đá (xin lỗi giới kinh doanh thủy sản, vì người Việt quen thói ví von nầy) bỗng dưng trúng số được vào giai cấp thượng lưu xã hội. Bà ta “cải thiện” đời sống bằng cách đi xe Rolls Royce, Lexus, mặc áo quần Versace, R. Lauren, đeo ví Gucci, Louis Vuitton, tô son trét phấn hàng hiệu Channel, Lancome v.v.., nhưng đụng chuyện là chửi theo kiểu hàng tôm hàng cá. Tức là chỉ thay đổi bề ngoài mà bản chất vẫn không thay đổi.

Nói chung là muốn xét một hệ thống toà án có tiến bộ không, chúng ta phải xem những cải cách của nó có dẫn tới một hệ thống toà án độc lập hay không.

Montesquieu nói: “Nơi nào ngành hành pháp, lập pháp và xét xử đứng dưới một người hay một tập đoàn thì nơi ấy không có tự do vì hậu quả của nó là một chế độ độc tài chuyên chính”.

Khoản 1 của Tuyên Ngôn Quyền Làm Người của Pháp nhận định như sau: “Bất cứ xã hội nào không có sự phân quyền thì coi như không có hiến pháp.” (Any society in which … the separation of powers is not observed has no constitution.)

Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhận định rằng một hệ thống toà án độc lập là điều kiện tiên khởi và thiết yếu để bảo vệ nhân quyền và bảo đảm không có sự kỳ thị trong việc thi hành công lý. (an independent judiciary is an “essential prerequisite for the protection of human rights and for ensuring that there is no discrimination in the administration of justice”.) – (Resolution 1994/41 of the United Nations Human Rights Commission. See (1994) 20 Commonwealth Law Bulletin 957. )

Theo những tiêu chuẩn nói trên thì Việt Nam hoàn toàn không có tiến bộ gì hết.

Ngay cả sinh hoạt trí thức của giới luật sư, chánh án cũng không có dấu hiệu nào về thay đổi tư duy. Cho đến giờ vẫn chưa có những quan toà có tư duy rộng mở về công lý, nhân bản và nhân quyền. Chưa có sự tự trọng trong hệ thống toá án. Chẳng hạn một đảng viên CS không thể ngồi ghế chánh án xử một người bất đồng ý kiến với chủ nghĩa cộng sản. Đó là trường hợp mâu thuẫn quyền lợi. Sau 25 năm đổi mới chưa có một tác phẩm hay luận đề pháp luật nào tiến bộ hơn thời kỳ đấu tranh giai cấp của 1950-1990. Cho đến bây giờ vẫn chưa có một vụ án nào được xử có tính cách đột phá theo tiêu chuẩn công lý và nhân quyền quốc tế.

3- Những luật sư gốc Việt ở nưóc ngoài có may mắn tiếp cận với hệ thống công lý tương đối hoàn chỉnh của thế giới. Chúng ta đang sống trong thế giới liên lập và chúng ta không thể cho rằng công lý và nhân quyền thế giới không thể đến với nhân dân Việt Nam. Chúng tôi nghĩ rằng vai trò của chúng tôi là bắc nhịp cầu để những giá trị về công lý và nhân quyền phổ quát của thế giới phải thật sự đưọc tôn trọng ở Việt Nam. Các cuộc vận động quốc tế tại Hội Đồng Nhân Quyền hy vọng sẽ giúp Việt Nam cải thiện được hệ thống toà án trong tương lai.

Cha ông của chúng ta đã hy sinh bao nhiêu thế hệ nhằm mục đích xây dựng một xã hội công bằng văn minh cho con cháu chứ không phải để xây dựng một môt hệ thống toà án ngồi xổm trên công lý, phỉ nhổ giá trị văn minh của loài người. Chúng ta thử hỏi các vị tiền bối cách mạng thì biết. Chúng ta không thể tiếp tục để Việt Nam tiếp tục tụt hậu về hệ thống toà án như thế. Do đó, nhiệm vụ của chúng tôi là luôn luôn tiếp tay với đất nước Việt Nam, cũng như giới luật gia Việt Nam, xây dựng cho được một nền toà án độc lập trong một chế độ tam quyền phân lập.

Những vụ án vi phạm những nguyên tắc công lý, nhân quyền, nền độc lập toà án sẽ được chúng tôi tiếp tay đưa ra Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Hồ sơ nhân quyền Việt Nam càng ngày càng dày thì áp lực của quốc tế càng cao, và cơ hội để đất nước có được hệ thống toà án độc lập công bằng càng nhiều hơn. Bởi vì công lý luôn luôn chiến thắng.

Luật sư Nguyễn Tường Tâm: San Jose, Hoa Kỳ.

1- Việc một vị chánh án chủ tọa phiên tòa ra lệnh cho nhân viên an ninh tòa án (công an) áp giải (đuổi) một luật sư đang biện hộ cho bị can ra khỏi tòa vì không đồng ý với phương

LS Nguyễn Tường Tâm

cách biện hộ của vị luật sư đó (tiếp tục phát biểu trong khi bị chánh án gõ chuông chặn họng không cho nói hết ý) là điều mấy hôm nay tôi truy tìm trên rất nhiều trang mạng luật pháp trên thế giới (google) nhưng không thấy. Tôi chỉ tìm thấy một vụ duy nhất tại Austin, Texas, Hoa Kỳ, Luật sư Adam Reposa, 33 tuổi (lúc xảy ra nội vụ) trong lúc biện hộ cho thân chủ đã có hành vi tục tĩu đối trước mặt chánh án (động tác giả thủ dâm: simulated masturbatory gesture) nên đã bị vị nữ chánh án Jan Breland ra lệnh nhân viên an ninh tòa án còng tay mang ra khỏi phòng xử. Sau đó, trong một phiên xử bởi một chánh án khác, luật sư Adam bị 90 ngày tù. Nhưng lý do của việc đuổi luật sư Adam ra khỏi phòng xử là vì một vi phạm hình sự của cá nhân vị luật sư đó chứ không liên can tới phong cách biện hộ của ông ta. Trong vụ án Cù Huy Hà Vũ, luật sư biện hộ cho ông Hà Vũ bị đuổi khỏi phòng xử vì vị chánh án không đồng ý với phong cách biện hộ của vị luật sư. Sự kiện này trên thế giới, ở những nước văn minh chưa từng có. [Lawyer Held in Contempt of Court for Pretending to Masturbate- ]

- Thêm nữa, việc đuổi một vị luật sư đang biện hộ ra khỏi tòa một cách bất công như vậy cũng chứng tỏ vị chánh án đó không quan tâm tới quyền lợi của bị can. Trong khi, quan tâm tới quyền lợi của bị can cũng nằm trong nhiệm vụ của chánh án, để bảo đảm rằng bị can được hưởng một sự xét xử công bằng.

- Sự kiện tòa tiếp tục phiên xử với một mình bị can không có luật sư đại diện, trong khi ba vị luật sư biện hộ còn lại phản đối bằng cách rời bỏ phòng xử cũng là một sự kiện tôi không tìm thấy trên trang mạng luật pháp nào. Sự kiện luật sư biện hộ phản đối chánh án bằng cách rời phòng xử thì cũng từng thấy trên thế giới, ngay cả trước tòa án quốc tế The Hague. Đáng lẽ, trong trường hợp đó, nếu biết tôn trọng quyền lợi của bị can, tôn trọng luật pháp, thì vị chánh án đó phải ngừng phiên xử và triệu tập một phiên xử khác, trong đó ra lệnh triệu tập các luật sư biện hộ ra trước tòa. (1)

2- Khoan nói tới cái án tù. Theo tôi hiểu, câu hỏi của chị muốn người được hỏi so sánh phương cách xử án trong vụ Cù Huy Hà Vũ với các vụ án trước đây.

Tôi có theo dõi, qua báo chí nhà nước, tường thuật các phiên xử từ thời sau 1975, lần lượt qua nhiều thời gian thì cho tới nay, tôi thấy phong cách tòa án trong vụ xử ông Cù Huy Hà Vũ đã có nhiều tiến bộ. Tôi lấy cái mốc sau 1975 là thời gian đầu tiên tôi tiếp cận với hệ thống tư pháp Xã Hội Chủ Nghĩa. Lúc đó, trước tòa, bị can không chỉ bị đại diện Viện Kiểm Sát, giữ quyền công tố, kết án, mà còn bị cả chánh án lên án (trước khi nghe luật sư biện hộ hay bị can tự biện hộ), đồng còn bị cả luật sư cũng lên án. Vào thời đó, báo chí tường thuật rằng, ‘luật sư có nhiệm vụ chỉ cho bị can thấy rõ thêm tội của mình để mà ăn năn hối cải!” Bây giờ, cho tới trước vụ Cù Huy Hà Vũ, thì phong cách xét xử đã có khá hơn là ‘Luật sư không còn nhiệm vụ chỉ cho bị can thấy rõ thêm tội của mình để ăn năn hối cải nữa!” Nhưng mà luật sư vẫn còn mặt hạn chế là ‘luật sư có phong cách biện hộ nhận tội cho bị can rồi sau đó xin tòa khoan hồng”. Ví dụ mới nhất là vụ luật sư Trần Lâm biện hộ cho bị can Vi đức Hồi, trong vụ án tương tự như ông Hà Vũ. Phong cách biện hộ ‘nhận tội cho bị can rồi xin tòa án khoan hồng” cho thấy luật sư biện hộ kém khả năng, và là phong cách giết chết bị can, nhất là trong các vụ án chính trị. Vì một khi đã cho bị can nhận tội rồi xin tòa án khoan hồng, tức là về mặt tinh thần đã tiêu diện ý chí tranh đấu cho tự do, dân chủ của bị can. Về mặt quốc tế, triệt đường các cơ quan hay chính phủ quốc tế can thiệp trả tự do cho bị can. Vì nếu quốc tế can thiệp thì nhà nước chỉ cần đưa ra bản nhận tội và xin khoan hồng của bị can và luật sư biện hộ là quốc tế hết đường can thiệp. Nhà nước sẽ nói rằng, bị can nhận tội, luật sư của bị can cũng nhận tội, tòa án chúng tôi xử đúng qui trình pháp lý, bản án tòa án tuyên là nhẹ trong khung án qui định trong luật. Như vậy là chúng tôi đã nhân đạo lắm rồi, chúng tôi đâu có vi phạm nhân quyền đâu mà các ông can thiệp!?

Cho tới vụ án Hà Vũ này, thì bị can chỉ còn bị 2 phe kết án thôi. Đó là đại diện Viện Kiểm Sát và chánh án (trước khi nghe bên bị cáo biện hộ). Còn luật sư biện hộ đã biết cách biện hộ “không nhận tội”, đồng thời biết nêu lên các luận chứng pháp lý để ‘tấn công” chánh án. Như vậy, về phía luật sư biện hộ, trong vụ Cù Huy Hà Vũ đã có nhiều tiến bộ. Có thể cho nhóm 4 luật sư biện hộ cho ông Cù Huy Hà Vũ một điểm son. Bốn vị luật sư đó đã hành xử đúng như tiêu chuẩn của các luật sư tại các quốc gia văn minh. Nhưng về phía chánh án thì vẫn còn hạn chế quan trọng như mấy chục năm qua là, Chánh án vẫn đứng lầm vị trí: thay vì chánh án phải đứng trung dung, không nghiêng bên luật sư biện hộ mà cũng không nghiêng bên đại diện Viện Kiểm Sát, thì ở đây, cũng vẫn như từ ngày nhà nước Xã hội chủ nghĩa mới ra đời tới giờ, chánh án không bảo đảm cho bị can một phiên xử công bằng mà lại về cùng phe với đại diện Viện Kiểm Sát, để buộc tội bị can (trước khi cho bị can lên tiếng biện hộ).

3- Để trả lời câu hỏi này, điều đầu tiên tôi phải khẳng định rằng, một khi đã đi vào con đường “tranh đấu cho tự do, dân chủ” cho nhân dân trong một một nhà nước cộng sản độc tài như Việt Nam hiện nay, tức là những người tự chọn con đường bất đồng chính kiến phải biết rằng mình đã tự chọn con đường cam go, con đường hy sinh, con đường “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, con đường tù tội. Hy vọng một can thiệp của quốc tế để chính quyền phải trả tự do cho mình là ít phần trăm lắm. Chính quyền Việt Nam sẽ chỉ chịu lép trước áp lực của quốc tế khi nào họ cần một điều gì đó từ quốc tế, ví dụ muốn đạt được một viện trợ nào đó, hay muốn được gia nhập một tổ chức quốc tế nào đó, ví dụ như khi muốn gia nhập tổ chức quốc tế WTO v.v..

Những người Việt ở hải ngoại, nói chung, chứ không cứ gì các luật sư hay luật gia, thẩm phán, có thể hỗ trợ các nhà bất đồng chính kiến trong nước bằng cách vận động với chính quyền nơi họ cư trú làm áp lực đòi nhà cầm quyền Việt nam trả tự do cho các nhà bất đồng chính kiến trong nước. Nhưng kết quả ra sao thì tôi đã vừa trình bày ở trên.

Riêng đối với những người am tường chuyên môn pháp lý như các luật sư, thẩm phán, luật gia (những người được đào tạo chuyên môn pháp lý nhưng hiện nay không làm luật sư hay thẩm phán) thì có thể đóng góp những bài phân tích pháp lý của vụ án và đề ra những luận chứng biện hộ để góp ý cho luật sư bào chữa cho các nhà bất đồng chính kiến.

Nhưng trong tình hình hệ thống pháp lý hiện nay của Việt Nam, thì những bản án thường đã được đảng bộ tòa án qui định sẵn, cho nên không ai khờ dại mà tin rằng những biện hộ pháp lý hữu lý có thể cãi trắng án cho bị can. Nhưng những vị tự chọn con đường bất đồng chính kiến, một khi đã nắm được đầy đủ các luận chứng pháp lý bênh vực hành động của mình thì họ cũng yên tâm, bởi vị họ thấy sự hy sinh của họ rất hữu ích cho nhân dân, cho đất nước. Như từ trong lịch sử, những con người đã đi vào con đường cách mạng, con đường tranh đấu, như các nhà bất đồng chính kiến, cũng như những chiến sĩ ngoài trận tiền, thường thì không ngại hy sinh, mà chỉ sợ những hy sinh của họ vô ích. Những luận chứng pháp lý hữu lý của giới luật sư, thẩm phán, luật gia hải ngoại sẽ giúp cho những nhà bất đồng chính kiến thấy rõ sự hữu ích, sự cao cả, của con đường họ lựa chọn.

Thêm nữa, nếu nhìn về lâu về dài, thì những bài học chuyên môn pháp lý rút ra từ những bài phân tích pháp lý của các vụ án trong nước sẽ dần dần nâng cao trình độ pháp lý của dân chúng nói chung, trong đó có cả cán bộ đảng và cán bộ tư pháp của nhà nước như đại diện viện kiểm sát, chánh án, giáo sư đại học luật, các sinh viên luật. Những bài phân tích pháp lý của các luật sư, thẩm phán, luật gia ở hải ngoại, về lâu về dài sẽ đóng góp lớn cho công cuộc vận động cải tổ hệ thống pháp lý tại Việt Nam. Một khi Việt Nam đã chấp nhận cải tổ toàn bộ hệ thống pháp lý của mình thì cũng là lúc toàn thể các nhà bất đồng chính kiến, tranh đấu cho tư do, dân chủ cho đất nước, cũng được bước ra khỏi nhà tù, ngửng mặt lên mà thấy rằng sự hy sinh của mình quả thật là quí giá và được nhân dân trân trọng!

Mạc Việt Hồng thực hiện

———————————————————-

Ghi chú: (1)Trong vụ xử nhà cựu lãnh đạo Charles Taylor của Sierra Leone trước tòa án quốc tế The Hague ngày thứ Ba, mùng 8-2-2011, luật sư biện hộ Griffiths đã bỏ phòng xử và cho các vị thẩm phán xét xử hay rằng việc ông ta tiếp tục tham dự phiên tòa sẽ không có lợi gì cho thân chủ ông ta. Và sau đó tòa phải ngừng xử để tái nhóm vào ngày thứ Sáu trong tuần với một lệnh triệu tập vị luật sư biện hộ với sự đe dọa rằng nếu vị luật sư biện hộ không tái tham dự biện hộ cho bị can thì sẽ bị hình phạt.
[Judges Order Taylor’s Defense Lawyer To Appear In Court on Friday]

LẠI MẠNH CƯỜNG says:

Thưa tôi rất thích đọc bài trên, nhất là phần trả lời của luật sư TRẦN THANH HIỆP và NGUYỄN XUÂN PHƯỚC. Xin cám ơn hai ông đã cho tôi nhiều ý tưởng hay vô cùng. Riêng ông Hiệp tuy già yếu mà còn “gân” quá, vẫn sắc bén qua thời gian.

Qua vụ án Cù Huy Hà Vũ ta thấy có sự tương trợ thật rõ nét giữa trong ngoài, nhất là trong giới luật sư, trí thức (vốn xưa nay bị mang tiếng “như hai cô ca sĩ có thương nhau bao giờ” !).

Mong rằng CSVN cứ xử án “hàng tôm hàng cá” như thế mãi, giúp cho đoàn kết trong ngoài thêm sâu rộng và gắn bó.

Xin lỗi không phải tôi chúc ác, nhưng cuộc cách mạng dân chủ dân sinh nào cũng phải đổ mồ hôi và nước mắt, thậm chỉ cả máu với mạng sống của số đông, nhất là trong trường hợp bọn cầm quyền gian ác, lì lợm như CSVN hay Gadhafi, quân phiệt Miến Điện, tổng thống thất cử ở xứ Bờ Biển Ngà … Huống chi sức ì của dân ta qua nhiều thập niên dưới chế độ CS đến mức độ bất trị, chả khác chi quốc nạn tham nhũng. Cần có một lực đẩy thật mạnh, buộc người người phải tỉnh giấc, đứng lên làm một cuộc đổi dời mau chóng thoát khỏi kiếp nô lệ cho CS.
Cứ xem như ở Tàu cộng, tắm máu ở Thiên An Môn vẫn chứa lay nổi con gấu trúc khổng lồ (giant panda) ra khỏi giấc miên đông dài hơn 6 thập niên (1949-2011), hay như ở Miến Điện với hai lần biểu tình có sự trợ lực của sư sải Phật giáo, một quốc giáo, mà vẫn chưa đủ sức đánh trốc gốc bọn quân phiệt Miến, mặc tình cho chúng lột xác chơi trò dân chủ giả mạo.
Với bọn khốn nạn CSVN, ta cứ rút kinh nghiệm như ở Libya và Côte d’Ivore, phải dùng bạo lực cách mạng mới mong triệt hạ được chúng thật sự. Chúng hoàn toàn không có thiện chí đối thoại với phe dân chủ. Chúng ăn không được là đạp đổ tan hoang, ra sao mặc kệ.

Theo tôi con bệnh Việt Nam càng để lâu càng khó chữa, e rằng đánh lùi được con vi trùng CS thì người bệnh kiệt lực mất; và một khi sức đề kháng kém quá, thì lại dễ làm mồi cho đủ loại vi trùng khác xâm nhập. Cần đánh mạnh đánh gấp, nếu cần “dĩ độc trị độc”! Nguyên tắc này chả khác gì chạy chữa ung thư, phải dùng những thứ thuốc hay liệu pháp rất độc hại, mới mong khu trừ các tế bào ung thư không ăn lan thêm hay di căn đi nơi khác trong cơ thể bệnh nhân.
Đó là một chọn lựa chẳng đặng đừng, đi tìm sự sống trong cái (mạo hiểm) chết (người). Nói cụ thể như ngày xưa thuyền nhân, bộ nhân Việt Nam liều chết ra đi tìm đường cứu mạng mình và cứu nước khi thành công.

Amsterdam, chủ nhật 10 tháng tư năm 2011

Lại Mạnh Cường

60 Triệu DÂn Lễ Tại Thánh Đường Chui; TQ: Lần Đầu Tiên, Nhập Siêu 1.02 Tỉ MK, Quý 1 Năm 2011

BẮC KINH - Hôm chủ nhật, công an bắt giữ hàng chục người hành hương của 1 nhóm Thiên chuá giáo bị cấm định tổ chức thánh lễ tại nơi công cộng sau khi họ bị tống xuất từ nơi thờ phụng bình thường.
Theo lời kể của 1 giáo dân, các vị lãnh đạo của nhà thờ Shouwang không ghi danh với nhà cầm quyền đã báo cho các bổn đạo đến dự thánh lễ sáng chủ nhật tại 1 bãi đất trống. Nhưng vì công an biết, họ đến phong toả và bắt những người đi lễ.
1 người tránh đuợc báo cho nhà báo ngoại quốc biết khoảng 200 người bị bắt, và bị tập trung tại 1 trường học, máy điện thoại di động bị tịch thu. P
hóng viên của AP thấy ít nhất 12 người bị đưa lên xe cảnh sát.
Chính quyền của đảng CS chỉ cho phép hành lễ tại các nhà thờ đuợc cấp phép - nên, các nhóm không khai báo thường là đối tuợng của sách nhiễu.
Theo giới học giả và các nhà hoạt động, Hoa Lục có trên 60 triệu người chiêm bái tại các "thánh đường nhà".
Ông Yuan Ling, mục sư phụ trách nhóm Shouwang, trả lời điện thoại xác nhận rằng ông không thể đến điểm hẹn vì bị công an giam lỏng tại nhà từ tối Thứ Bẩy.
Trong khi đó, cũng liên quan đến Trung Quốc, một bản tin khác cho biết rằng TQ loan báo nhập siêu. Bản tin viết như sau.
BẮC KINH - Lần đầu tiên trong 7 năm, chính quyền Trung Quốc công bố khiếm ngạch mậu dịch, khi nhập cảng tăng mạnh chưa từng thấy.
Trong 3 tháng đầu năm, Trung Quốc nhập cảng nhiều hơn xuất cảng ước luợng 1.02 tỉ MK, theo loan báo hôm chủ nhật. Cùng thời gian này năm trước, xuất cảng nhiều hơn nhập cảng 13.01 tỉ MK.
Tin CNN Money cho hay: tổng nha quan thuế của Trung Quốc giải thích bằng sự gia tăng nhu cầu trong nước, giá lương thực, năng luợng và nguyên liệu đều tăng.
Bắc Kinh đang ra sức kềm hãm lạm phát bằng hàng loạt biện pháp, gồm tăng lãi suất căn bản - những ngày nghỉ dài sau Tết Âm Lịch cũng gây ảnh hưởng về nhập cảng.
Nhập cảng 3 tháng qua trị giá 400.66 tỉ MK, là tăng 32.6% soi với cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc là nền kinh tế hùng mạnh hạng 2 sau Hoa Kỳ, nhưng hơn Hoa Kỳ về xuất cảng.

Tấm thẻ bài

Lại thêm một tháng Tư nữa đã đến với những người dân tỵ nạn.36 năm xa Quê Hương, ngày về.... sao cũng xa vời vợi.
Thanh Vân xin gởi đến bạn đọc một bài viết ngắn về Tháng Tư, tháng đau thương của những người đang mang trong lòng nổi nhớ nhung một Quê Hương ngày xưa....nay biết khi nào trở lại.
Và cũng trong dịp này Thanh Vân xin gởi lời tri ân đến tất cả những anh hùng đã hy sinh ,đã ở lại,đã bỏ mình trong các trại cải tạo cho chúng ta có được ngày hôm nay,tuy buồn vì Quê Hương còn đó nhưng Tổ Quốc không còn thuộc về ta nhưng dù sao chúng ta cũng đang được định cư trên những xứ sở Tự Do....và mổi ngày vẫn còn được nhìn lá cờ vàng tung bay trên những thành phố manh tên Little Saigon....Nhờ những người đã hy sinh, giờ đây chúng ta đã có lại thành phố Saigon tuy nhỏ trên xứ người.
---------
Tấm thẻ bài
http://2.bp.blogspot.com/-Dg8XkyYwwPw/TZR39MQ_RMI/AAAAAAAABV4/YqTAoxMyTOk/s1600/vietlyhuong.net.htm

Mười hai năm rồi em không gặp anh và sẽ không bao giờ gặp được anh nữa vì anh đã bỏ mình trong trại cải tạo đã sáu năm qua.

Sáng nay nhận được thơ bạn anh từ Quê Hương gởi sang, nói đã làm xong nhiệm vụ em nhờ, đã đưa được hài cốt của anh từ Vĩnh Phú về Huế, nơi anh đã sinh ra, đã lớn lên, nơi chúng mình đã gặp nhau và thề nguyền sẽ yêu nhau mãi mãi, em buồn vui lẫn lộn.

Anh ơi, em vui vì biết anh đã về lại được Quê Hương nhưng em xót xa khi đọc đến đoạn bạn anh viết về những gian nan phải vượt qua khi đi tìm mộ anh, vì tất cả chỉ là núi rừng hoang dại, mổi người tù chết đi chỉ được vùi sơ với miếng đá nhỏ ghi tên họ và ngày lìa đời cắm trên nấm mộ thấp. Đau đớn nhất cho em là khi đọc đến đoạn bạn anh kể xác thân đã rã mục của anh vẫn còn được bao trong chiếc áo len em tặng anh ngày xưa, chiếc mền dù bao phủ thân anh vẩn còn nguyên nhưng nơi xương cổ anh có mang thêm sợi xích nhỏ với tầm thẻ bài bằng nhôm ghi rõ tên họ và lý do bị quản thúc là "phản quốc"!

Anh ơi, đã chết rồi mà thân thể còn mang nặng nhục nhằn. Có chế độ nào dã man hơn chế độ Việt Nam ngày nay ?

Vậy mà ngày xưa anh đã hãnh diện biết bao về Quê Hương,Tổ Quốc của mình. Thật ra thì Quê hương vẫn còn đó, hai tiếng Việt Nam vẩn sống trong tim cả triệu người Việt xa xứ, nhưng với người ở lại, người đang trả nợ máu, người đã chết vùi thây trong núi rừng thì hai tiếng Việt Nam đè nặng tâm hồn.

Hôm nay đọc thơ bạn anh, nhớ lại đoạn đường đã qua của mình, sao lòng em thật nhiều đau xót. Năm nay mùa Xuân đến chậm vì mùa Đông không muốn đi, đã tháng ba tháng tư mà khí hậu vẩn còn lạnh, nhưng cái lạnh ngoài trời có thấm chi với cái lạnh, cái buồn của người Việt ly hương, mổi năm khi tháng tư về ?

Sáng nay em nhớ anh,em nhớ anh thật nhiều. Tháng tư làm em mất anh, giờ tháng tư lại trở về, trên tay em cầm tấm thẻ bài có ghi tên họ và lý do hai đứa mình xa nhau. Đau đớn quá anh nhỉ, hai tiếng "Phản Quốc" như muôn ngàn lưởi dao đâm vào tim em.

Em nhớ ngày nào, mổi lần đi hành quân về, anh đến thăm em, mắt môi rạng rỡ. Mổi lần được huy chương là một ngày vui của hai đứa mình. Anh đến khoe với em và hai đứa lại ra Đập Đá nhìn trăng, nghe tiếng sáo diều lơ lửng trên không, anh mỉm cười hãnh diện vì sự thanh bình của Quê Hương, cái thanh bình mà anh đã đem mạng sống ra để bảo vệ. Các huy chương đó ngày nay lại là bản án tử hình của các anh.

Tháng tư là mùa Xuân phải không anh ? Mùa Xuân ở đây cũng như mùa Xuân của Huế xưa. Nhà nào cũng có một vài khóm hồng đang e ấp nở, nhà em lại có thêm cây anh đào đang rực đỏ với nằng Xuân. Quê Hương người đẹp quá, nhưng sao lòng em vẩn thấy mất mát ngậm ngùi.

Em đang ngồi yên với tấm thẻ bài nhục nhã đau thương đã ôm ấp thân xác anh trong sáu năm qua dưới lòng huyệt lạnh, và em đang thả hồn về ngày hai đứa mình còn nhau. Tiếng đàn réo rắt ma quái, quyến rủ dị thường của người nhạc sĩ vô danh trong "Ru khúc mộng thường" đưa em về lại những ngày xưa cũ, những êm đềm của một mùa trăng xưa.

Ở đây không có tiếng sáo diều lơ lững trên không, cũng không có những nữ sinh áo trắng mổi sáng từ Vĩ Dạ đi ngang qua Đập Đá để đến trường nhưng tiếng đàn của người nghệ sĩ tài hoa kia đã đưa em về lại Quê Hương, có trăng sáng, có trời xanh, có mộng ước bình thường. Không hiểu sao sáng nay tiếng đàn ma quái đó ám ảnh em, phải chi tất cả mọi người trên trái đất này đều yêu thơ, yêu nhạc thì ngày nay mình đâu có mất nhau, anh chết sáu năm đâu phải mang thêm tấm thẻ bài nhục nhã.

Với tiếng Tây ban cầm độc tấu cô đơn nhưng đầy ắp tâm sự, em chắc người nhạc sĩ có cái tên cũng lạ như tiếng đàn phải có một nội tâm thật đẹp, một tâm sự thật buồn. Tên ông ta là "Vô Thường". Phải rồi anh nhỉ, tất cả chỉ là hư vô, tất cả chỉ là bình thường, chỉ có tình người, tình Quê Hương là vĩnh cửu.

Nếu tiếng đàn của người Tây ban Nha mang âm điệu hoang dại của một dân tộc nồng nàn ham sống, thì tiếng tây ban cầm của Vô Thường mang âm giai của một người lạc lõng, một kẻ du mục, một kẻ đang đi tìm miền đất hứa. Tiếng đàn khi thổn thức, khi vỗ về, khi chia xẻ thương đau, tiếng đàn mang dư âm của tiếc thương nhung nhớ, của tình yêu đã có và đã bay xa, của Quê Hương hiện hữu nhưng quá tầm tay với, của những mộng ước bình thường nhưng đã vời vợi xa bay.

Anh ơi, tiếng đàn ray rứt của người nhạc sĩ vô danh kia đã cho em ý thức được sự mất mát lớn lao của đời em, tấm thẻ bài nhục nhã trong tay em đã nói lên sự uất hận ngàn đời của người dân Việt phải xa lìa tổ quốc thân yêu.

Quê Hương vẫn còn đó nhưng đã nhuộm màu, thành phố Huế của chúng mình còn đó nhưng đã đổ nát quạnh hiu. Nếu biết không có ngày trở lại, thì ngày xưa em đã rủ anh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đã yêu thương tâm sự với anh nhiều hơn. Quê Hương người tuy đẹp tuy giàu nhưng vẩn thiếu cái đậm đà giữa những người cùng huyết thống, thiếu khói lam chiều trên mái tranh xa, thiếu tiếng sáo diều lơ lửng đêm trăng, thiếu tiếng hò mái đẩy, thiếu tiếng rao hàng trên sông vắng mổi đêm khi khuya về sáng. Giờ chỉ còn lại đây tấm thẻ bài nhục nhằn của anh, của những người ngày xưa đã lấy "Tổ Quốc" làm lẽ sống và giờ đã chết vùi thây khắp các núi rừng gần trại tập trung với hai chữ "Phản Quốc" đè nặng linh hồn.

Quê Hương! Quê Hương! Em đang nhớ nhung hay đang thù hận đây ? Xưa em hãnh diện về Quê Hương gấm vóc bao nhiêu thì giờ nhìn tấm thẻ bài khốn khổ với hai chữ "Phản Quốc" em lại thù ghét Quê Hương bấy nhiêu.

Hãy trả lại cho em Quê Hương ngày cũ, ngày nào còn lũ giặc đỏ, còn hai chữ "Phản Quốc" trên cổ các người ngã ngựa thì ngày đó em còn xa lìa Quê Hương.

Lạy trời cho con giấc mộng bình thường, cho còn tìm lại được quê xưa, ngày còn lá me bay, còn sân cỏ mướt chứ không phải như bây giờ, sân cỏ làm nông trường, sức người thay máy móc, nhiên liệu, trâu bò.

Em sẽ thay anh mang tấm thẻ bài vào cổ, em sẽ mang nó với niềm hãnh diện vô biên của một người đã có người yêu suốt đời hy sinh cho lý tưởng, em cũng mang nó để nhắc nhở những người xa xứ hãy hướng về Quê Hương ngục tù khốn khổ mà làm một cái gì để thắp sáng ngày về.

Thật ra thì đã mười hai năm qua, lòng người đã có phần nào thay đổi. Tháng Tư vẫn mang đến ngậm ngùi, thương tiếc nhưng rồi cuộc sống chạy theo đồng hồ, những nhu cầu cấp bách hàng ngày đã làm tâm hồn nhụt dần chí khí. Phải chi những tấm thẻ bài có ghi hai chữ "Phản Quốc" của các anh hùng đã hy sinh cho đất nước được gởi qua cho mổi người xa xứ thì ngày về của kẻ ly hương chắc sẽ gần hơn.

Trong tận cùng linh hồn, em chắc người dân nào khi xa quê cũng hoài vọng một ngày về, và dù có mất gốc đến đâu thì cũng có một giờ phút trong đời mơ ước về lại quê xưa, thăm lại ngôi nhà cũ.

Anh ơi, giờ em mới hiểu nỗi xúc động tận cùng của bà giáo sư người Pháp dạy em năm em học lớp sáu. Bà đã khóc khi hát cho chúng em nghe một bài nói về thành phố nơi bà đã sinh ra, bài hát lời lẽ thật đơn sơ mộc mạc nhưng sao người nghe thấy ngậm ngùi thổn thức. Bài hát chỉ có thế này:

Quand tout renaît à l’espérance
Et que l’hiver fut loin de nous
Quand la nature est reverdie
Quand l’hirondelle est de retour
J’aime à revoir ma Normandie
C’est le pays qui m’a donné le jour

Em tạm dịch là :

Khi nào hy vọng trở về

Và khi mùa Đông đã đi xa
Khi thiên nhiên trở lại xanh thẳm
Khi chim én trở về cùng ta
Tôi mơ ước nhìn lại Normandie
Là nơi tôi đã chào đời.

Anh ơi, tình hoài hương bàng bạc trong lòng mọi dân tộc. Em cũng đã khóc khi hát lại bài này. Em không mơ ước nhìn lại Normandie của bà giáo sư người Pháp nhưng em mơ ước nhìn lại xứ Huế nghèo nàn, thơ mộng của em ngày xưa. Em mơ ước nhìn lại một Việt Nam tự do đầy tình người, một Việt Nam mà em sẽ hãnh diện mang tấm thẻ bài có ghi hai chử "Phản Quốc" của anh để trở về đi trong lá me bay, trong giòng người cùng huyết thống, cùng lý tưởng, vì anh ơi, dù muôn vàn thay đổi, em muôn đởi vẫn là con bé Việt Nam thích lang thang khắp phố phường cho tóc bay, cho hồn mơ mộng và cho lá rơi đầy trên vai trên áo. Còn ở đây, cuộc sống sao quá vội vàng, bon chen, lừa lọc. Người ta yêu nhau cũng vội, ghét nhau còn vội vàng hơn.

Mùa Xuân quê người, nhưng cũng là mùa Đông của người xa xứ đang mất mát như em. Tiếng đàn tức tưởi cô đơn của người nhạc sĩ vô danh cũng là tiếng khóc nghẹn ngào của người đã mất hết niềm tin, chỉ còn lại Tấm Thẻ bài ghi lại một thời Hạnh Phúc Xưa và đánh dấu một sự nhục nhằn khốn khổ của người ở lại ngày nay.

Cầm tấm thẻ bài bằng nhôm bóng loáng trên tay, em liên tưởng đến trăm ngàn cái khác đang bị vùi sâu dưới lòng đất mẹ cùng những người con yêu của Tổ Quốc. Em chợt nhớ đến hai câu hát mở đầu trong bài Rêveries của Shumann:

"Ce soir dans le jardin du ciel
Les étoiles ont fleuri comme un bouquet d’argent"...

Em hình dung ra một ngày gần đây, trăm ngàn tấm thẻ bài bằng nhôm đó sẽ trở thành những bó hoa bằng bạc nở trên bầu trời để soi sáng và chỉ đường cho những người con xa xứ trở về giải phóng Quê Hương.

Tháng 4 năm 1987
Thanh Vân

Một Vụ Án Giết Người, Hai Cách Xử



Bị cáo Lương Hoài Sang (trái) và Nguyễn Trọng Nhân bị tuyên án tử hình trong vụ án giết bà phó bí thư quận ủy Đặng Thu Hồng - hình từ nguồn báo lao động

Theo nguồn tin từ tờ báo chính thống Lao Động số ra ngày 06/04/2011, tòa án nhân dân thành phố đã tuyên án tử hình đối với hai can phạm giết người trong vụ án sát hại bà phó bí thư quận ủy Phú Nhuận Đặng Thu Hồng. Theo nhiều nguồn tin khác nhau, thì tình tiết dẫn đến vụ giết người này là do sự mâu thuẫn giữa vợ của bị cáo và người bị hại, tuy nhiên để che mắt dư luận, tòa án nhân dân đã gắn cho hai bị cáo cái tội cướp của giết người nhằm che dấu động lực dẫn đến vụ việc giết người là do người nhà của bị cáo bị áp bức đến tận cùng bởi bà phó bí thư quận ủy này. Dưới ánh sáng của công lý, công bằng mà nói, cho dù dưới bất cứ lý do gì, đã giết người thì phải đền mạng và đó là cái kết cuộc dành cho những kẻ sát nhân. Nhưng, cái bản án tử hình hai mạng người để đổi lại cái chết của bà phó bí thư, có lẽ là một bản án quá nặng của chế độ nhằm mục đích răn đe đến người dân?

Bây giờ chúng ta hãy quay lại với những vụ giết người gần đây nhất do công an nhân dân gây ra:


  • Trường hợp của nạn nhân: Ông Trịnh Xuân Tùng bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh, thuộc công an phường Thịnh Liệt, Hà Nội, còng tay đánh đập dã man và chết vì bị đánh gãy xương cổ.
  • Trường hợp của nạn nhân: Ông Nguyễn Lập Phương bị đánh và chết vào chiều 6-3-2011 sau khi bị nhốt qua đêm tại đồn công an xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.
  • Trường hợp của nạn nhân: Ông Đặng Ngọc Trung sau một đêm bị tạm giữ đã bị đánh chết tại trụ sở công an xã Tiến Hưng, Thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
  • Trường hợp của nạn nhân: Ông Trần Văn Dữ bị công an đánh chết tại trụ sở công an thị trấn Ngã Năm, Sóc Trăng.
Chuyện gì sẽ xảy ra đối với những tên dựa vào bạo quyền để giết người, hay là vẫn là 7 năm tù "treo" như tên thiếu úy công an ác ôn Nguyễn Thế Nghiệp thuộc đội cảnh sát điều tra huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang? Qua đây, chúng ta càng thấy rõ, cán cân công lý đã hoàn toàn được dùng để bảo vệ cho sự thống trị của đảng và mạng sống của người dân bị tước đoạt đi bởi những người gọi là "công an nhân dân", dưới cái nhìn của luật pháp tòa án nhà xã hội chủ nghĩa, thì không hơn vài năm tù treo!

Điều phản cảm và nhức nhối đang xảy ra trong xã hội là tại sao cùng một vụ án giết người mà luật pháp lại có hai cách xét xử và kết cuộc khác nhau? Một bên là bảo vệ cho công quyền, một bên là thẳng tay trừng trị đối với người dân!
Điều đáng chú ý hơn nữa là hầu như chưa có bất cứ một vị lãnh đạo nào trong chính quyền, cụ thể là ông Nguyễn Tấn Dũng người đứng đầu nhà nước, đứng ra xin lỗi và hứa trước quốc dân sẽ chấm dứt ngay tình trạng bạo hành chết người đang được lạm dụng một cách đáng sợ trong lực lượng công an ngày nay. Nhưng thật đáng tiếc, các cấp lãnh đạo không hề quan tâm đến nỗi đau mất đi người thân yêu của người dân và cho đó là một chuyện bình thường xảy ra trong xã hội Việt Nam.

Thế mới biết, luật pháp Việt Nam được đặt ra không ngoài mục đích để bảo vệ cho sự sống còn của đảng và người dân, suy cho cùng, cũng chỉ là nạn nhân cho cái gọi là luật pháp xã hội chủ nghĩa.


Không cần phải suy nghĩ, đây là một thể chế bạo quyền và vô cảm dựa trên sức mạnh và luật rừng để cai trị người dân. Họ ngang nhiên đặt ra những luật lệ dung túng, bảo vệ cho nhau và coi thường mạng sống của người dân như những món vật được họ tùy tiện lấy đi bất cứ lúc nào họ muốn.


Thật là mĩa mai khi trong hiến pháp của họ đặt ra nói rõ rằng mọi công dân đều quyền bình đẳng trước pháp luật, nhưng họ có thật sự làm đúng theo hiến pháp đó không, thì lại là một chuyện khác.


Bạn nghĩ gì và có đặt niềm tin vào luật pháp Việt Nam không? Hãy tự tìm câu trả lời cho chính mình.


Nông Đức Dân

Bài Xem Nhiều