We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 13 April 2011

Biết tìm công lý ở đâu?

Một phụ nữ Libya liều chết tìm tự do

Tripoli, thành phố có lịch sử lâu đời với nhiều công trình khảo cổ đã thu hút sự quan tâm của thế giới.

AFP photo

Những phụ nữ Tripoli đi ngang một khu chợ ở Benghazi đang được chiếm giữ bởi lực lượng nổi dây hôm 06/4/2011

Tuy nhiên, người ta dường như không chú ý nhiều đến Tripoli nếu không có cuộc nổi dậy của nhân dân từ tháng 2 chống nhà độc tài Gahdafi.

Và sự chú ý của quốc tế lên đến đỉnh điểm khi những ngày vừa qua, một phụ nữ đã liều chết chạy vào một khách sạn ở đây để được nói với phóng viên quốc tế một câu chuyện kinh hoàng.

Nạn nhân của chế độ độc tài

Cuộc nội chiến ở Libya vẫn đang tiếp diễn. Đường phố Tripoli những ngày cuối tháng 3 vẫn thưa người qua lại trừ binh sĩ của Gahdafi.

Vẫn khói súng, vẫn bụi xe tăng, vẫn xác người và vẫn những ánh mắt sợ sệt của thường dân bao trùm bởi một bầu không khí nặng nề.

Khách sạn Rixos mặc dù là nơi ở của các nhà báo quốc tế, vẫn yên ắng đến đáng sợ. Nhưng cái im lặng ấy như vỡ tan và không gian như xé toạc bởi tiếng thét của một người cô gái.

Cô gái này liều chết vượt qua các trạm kiểm soát và hàng rào bảo vệ dày đặc để chạy vào khách sạn Rixos nói với các phóng viên quốc tế rằng mấy ngày qua cô bị các binh sĩ Gahdafi bặt cóc và hãm hiếp tập thể.

Hình ảnh truyền đi từ đài CNN cho thấy, tiếng nói của cô uất nghẹn, đứt quãng và không trọn vẹn vì chỉ vài giây sau đó một số người mặc thường phục và bồi bàn tại khách sạn đã ập đến bịt miệng, khống chế, đe dọa và chửi rủa cho rằng cô đang nói dối.

Liền sau đó, một nữ bồi bàn dùng khăn đen trùm kín đầu cô và một nhóm người khống chế mang cô đi ra xe hơi chạy mất. Tất cả chỉ xảy ra trong vài chục giây ngắn ngủi, để rồi sau đó để lại một không khí ảm đạm và vô vàn câu hỏi cho các phóng viên quốc tế có mặt tại Tripoli và cả thế giới.

Chuyện gì đã xảy ra? Những gì cô nói có thật? Những người mặc thường phục vừa mang cô đi đâu? Và điều đặc biệt là người phụ nữ này là ai?

Cô gái ấy tên là Eman al-Obeidy (Iman al-Obeidi), chưa đầy 30 tuổi và là một sinh viên cao học ngành luật tại Tripoli. Và người ta không biết tên cô cho đến khi chỉ vài giờ sau sự kiện ấy, truyền hình nhà nước lên tiếng thóa mạ cô gái.

Trong chương trình kéo dài 15 phút, nữ xướng ngôn viên đài truyền hình quốc gia Libya mạnh mẽ lên án Eman là kẻ dối trá, kẻ ăn cắp và khẳng định Eman là một gái điếm.

Và cũng chỉ vài ngày sau đó, chính phủ Gahdafi chính thức lên tiếng khẳng định Eman có vấn đề về thần kinh và cô đã say xỉn nên không kiểm soát được mình.

Tôi biết kiện ai bây giờ khi mà chính quyền vừa là quan tòa, vừa là người bắt bớ, vừa là người phóng thích?

Eman al-Obeidy

Thế nhưng, tất cả sự giải thích của chính quyền Gahdafi về sự kiện này không thể xua tan những nghi vấn của dư luận quốc tế vì trong một xứ sở mà sự độc tài nắm quyền và truyền thông không là tiếng nói độc lập thì sự thật đôi khi chỉ là sản phẩm của chính phủ.

Và khoảng 1 tuần sau đó, những bí ẩn về Eman mới thực sự được phơi bày.

Ngày 3 tháng 4, giới truyền thông tiếp xúc được Eman và rồi Eman kể rằng, ngày 24 tháng 3, cô và vài người khác đã bị một nhóm binh sĩ Gahdafi bắt cóc và ép buộc phục vụ tình dục cho nhiều binh sĩ.

Những kháng cự của Eman trở nên vô ích và chưa bao giờ cô cảm thấy bất lực như lúc bị hãm hiếp và bị trói và bị đánh đập. Trong những ngày đen tối ấy, cô bị trói tay chân, bị bỏ đói, bị đổ rượu vào mắt để cô không thể nhìn thấy gì cả và dĩ nhiên là cô bị người ta thay phiên hãm hiếp.

Sau 2 ngày ở tại 1 nơi mà từ đó cuộc đời cô đã mang một vết nhơ khó gột rửa, Eman đã trốn thoát được và chạy thẳng đến khách sạn Rixos, nơi các phóng viên quốc tế đang làm việc.

Eman hiểu rằng, chỉ có nơi này tiếng nói của cô mới được nghe thấy bởi cô biết kêu cứu nơi đâu khi tất cả quân đội, cảnh sát, truyền thông và tòa án tại Libya đều đứng cùng 1 phía?

Theo Eman, nếu không lựa chọn như thế, có lẽ cô bị bỏ tù hay bị giết trước khi có thể nói lên được nỗi phẫn uất của mình. Cô nói với đài TV Webcite thuộc phe đối kháng Libya:

Tôi biết kiện ai bây giờ khi mà chính quyền vừa là quan tòa, vừa là người bắt bớ, vừa là người phóng thích? Tôi là nạn nhân của chế độ Gahdafi đến 2 lần. Lần đầu là do lực lượng binh sĩ Gahdafi, lần thứ hai là do đài truyền hình nhà nước.”

Biết tìm công lý ở đâu?

000_Nic563575-200.jpg
Một phụ nữ Libya quấn là cờ quốc gia Libya trước đây, nay được sử dụng bởi lực lượng nổi dậy. AFP photo
Cô cho biết khi xuất hiện tại khách sạn Rixos, những người mặc thường phục kể cả bồi bàn tại đó là cảnh sát chìm và họ đã bắt cô từ hôm ấy.

Họ đã cô lập, giam giữ, điều tra và quan trọng nhất là làm áp lực để cô lên truyền hình nhà nước rút lại lời nói của mình, rằng cô là một kẻ bệnh hoạn và là một gái điếm, và rằng 15 kẻ đã bắt cóc, đánh đập và hãm hiếp cô không phải thuộc phe Gahdafi mà là phe nổi dậy:

“Tôi bị cô lập trong 1 phòng giam. Trong khoảng thời gian bị bắt giam, họ luôn yêu cầu tôi lên truyền hình nhà nước nhận rằng những kẻ bắt cóc và hãm hiếp tôi không phải từ lực lượng binh sĩ Gahdafi mà từ lực lượng nổi dậy và là du đãng. Đó là điều duy nhất mà tôi từ chối.”

Và cũng từ đây, người ta biết rằng trong những ngày bị bắt sau khi xông vào khách sạn Rixos, cô bị chuyển đến rất nhiều ban ngành của chính phủ từ cơ quan tình báo, sở an ninh ngoại vụ, sở an ninh nội vụ, đến bộ điều tra tội phạm và rất nhiều nơi khác chỉ với một mục đích: họ muốn cô phải nói láo và lăng nhục chính cô để được an toàn.

Nhưng cô đã không làm như vậy và chính vì thế, phát ngôn nhân của chính quyền Gahdafi đã khẳng định Eman bị tâm thần để trấn an dư luận.

Và những lời nói này cũng chính là những nhát dao như đâm thêm vào vết thương đang rỉ máu của Eman.

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, Eman nói rằng tất cả những gì chính quyền Gahdafi nói về cô đều là bịa đặt và khi người dân xuống đường biểu tình, Gahdafi cho rằng họ dùng ma túy và bị al-Quaeda sai khiến. Còn khi cô nói rằng cô bị hãm hiếp họ sẵn sàng lăng nhục cô và cho rằng cô bị điên:

“Tôi muốn nói rằng phát ngôn nhân Gahdafi không đại diện cho dân tộc Libya. Mọi người có thể thấy rằng khi người dân xuống đường biểu tình thì Gahdafi cho rằng họ dùng ma túy gây ảo giác.

Khi người dân đòi hỏi tự do và phẩm giá thì chính quyền cho rằng người ta bị say xỉn. Và khi tôi đòi quyền lợi cho tôi thì họ nói tôi bị tâm thần. Tôi không biết phải đối xử với chế độ này như thế nào nữa”.

Khi người dân đòi hỏi tự do và phẩm giá thì chính quyền cho rằng người ta bị say xỉn. Và khi tôi đòi quyền lợi cho tôi thì họ nói tôi bị tâm thần. Tôi không biết phải đối xử với chế độ này như thế nào nữa.

Cô Eman al-Obeidy

Tuần trước, trong vài phút hiếm hoi nói chuyện với mẹ mình ở Toburk, Eman đã khóc rất nhiều và nói rằng cô chỉ muốn thoát khỏi Tripoli, bởi tại đây hằng đêm cô gặp quá nhiều ác mộng.

Thế nhưng cho đến giờ phút này, đó vẫn chỉ là mong muốn của Eman. Hiện tại Eman không bị giam giữ nhưng bị giam lỏng tại một nơi ở Tripoli và nhất cử nhất động của cô đều bị theo dõi và mọi di chuyển của cô đều bị ngăn cấm và đe dọa.

Và cơ hội tìm được công lý cho cô như thế nào vẫn đang là một câu hỏi lớn. Thậm chí người ta cũng không thể biết được liệu tương lai Eman có an toàn tại Libya.

Ảnh hưởng của Nhân Văn - Giai Phẩm

Phiên tòa tại Hà Nội (19/01/1960) xét xử vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Từ trái sang phải: Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Thuỵ An, Phan Tại và Lê Nguyên Chí

Phiên tòa tại Hà Nội (19/01/1960) xét xử vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Từ trái sang phải: Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Thuỵ An, Phan Tại và Lê Nguyên Chí

Ảnh hưởng của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm thể hiện rõ rệt trong tờ báo Văn của Hội Nhà Văn, một tổ chức chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương đảng thông qua Ban Tuyên huấn do Tố Hữu đứng đầu.

Không những cho đăng tải nhiều bài viết của những người thuộc nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, ban biên tập báo Văn còn trực tiếp viết hoặc tường thuật lại những lời phát biểu cùng một khuynh hướng với nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm. Họ phản đối quan điểm mà Tố Hữu, đại diện cho Trung ương đảng Cộng sản, nêu ra trong Đại hội Văn công vào cuối năm 1954: văn học có chức năng phải khắc hoạ hình tượng con người mới. Và con người mới ấy mang những phẩm chất mới của cách mạng: sự tuyệt mỹ. Họ viết: “Nhà văn phải thấy hướng đi lên của người và việc trong xã hội, nhưng không thể nặn ra những nhân vật anh hùng lý tưởng, toàn thiện toàn mỹ không có hoặc chưa có trong thực tế. Vả chăng, tô vẽ theo kiểu ấy thì không phải là đề cao anh hùng, mà trái lại, làm giảm giá trị của anh hùng và biến anh hùng thành những người quái dị”. Khi dẫn lại đoạn văn trên, Phong Lê, trong quyển Mấy vấn đề về văn xuôi Việt Nam 1945-1970, trang 76 không ghi rõ là trích trong Văn số mấy. Đoạn văn dưới đây thì có xuất xứ: Văn số 15, 1957: “Con người thời đại không phải là một hình ảnh khổng lồ vẽ ra. Phản ánh con người thời đại, xây dựng con người thành một trái tim khuôn sáo, dập xương thịt, tâm hồn và trí tuệ mọi người trong cái trống rỗng không thực, một chiều và máy móc. Con người thời đại mà văn học nhằm xây dựng phải là con người trải qua thật một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ về tư tưởng, về tình cảm, về thói lề, giữa cái hay và cái dở, cái đẹp, cái xấu; con người được nhìn thấy thật đúng là nó với bước tiến của nó”.

Trong chiều hướng ấy, trên báo Văn số 31, 1957, Bùi Hiển đưa ra quan niệm bản chất con người có tính chất nhị nguyên: “E-ren-bua thuật lại trường hợp một người ở mặt trận thì chiến đấu dũng cảm, nhưng khi vào làm việc ở một cơ quan thì có thái độ quỳ luỵ đối với thủ trưởng. Đó là trường hợp khá tiêu biểu về cái tính “nhị nguyên” trong mỗi con người. Dựng một nhân vật, theo ý tôi, cần phải tả cả hai mặt tốt xấu và tất cả sự đấu tranh giữa hai mặt ấy vì đó là một hiện tượng rất thực và thông thường trong tâm lý con người”.

Trong các buổi sinh hoạt tại Câu lạc bộ Hội Nhà Văn năm 1957, Hoàng Yến đòi hỏi văn học phải mạnh dạn hơn nữa trong việc phản ánh những mặt trái xấu xa, dơ dáy của cuộc đời; Chu Ngọc quan niệm văn học phải góp phần chống lại các tệ lậu bằng cách can đảm vạch trần mọi tệ lậu ấy trong sáng tác; Ngô Thông cho là trong cuộc sống, ngay trong cuộc sống xã hội chủ nghĩa, cái xấu vẫn nhiều hơn cái đẹp; Nguyễn Tuân tuyên bố nhà văn chỉ có thể phê phán, nêu vấn đề mà không cần giải quyết vấn đề; Kim Lân bộc lộ những dằn vặt, đau khổ của mình khi, để cho đúng chính sách, phải viết ngược lại những ý nghĩ thực của mình; Tế Hanh chống lại quan niệm của con người mới chỉ thuộc thành phần công nhân, ông gọi đó là thứ “công nhân chủ nghĩa” què quặt. Can đảm nhất là Phùng Quán. Ông công khai phát biểu: “Làm tất cả đề tài mà không nghĩ lập trường. Vì yêu con người không đặt lập trường vội. Có nhiều khi bị cách giáo dục giáo điều làm bớt tình cảm chân thật. Thí dụ: khi tôi được giáo dục căm thù địa chủ nên nhìn con địa chủ tôi cũng căm thù…” (Anh Thơ tường thuật trên Văn số 33, 1957).

Tất cả những ý kiến trên đều nhắm tới mục đích trực tiếp đả kích quan điểm của Hoài Thanh cho rằng nhiệm vụ của nhà văn là phải nói cái tốt, nói mấy cũng không thừa. “Thành quả của cách mạng là một chuyện luôn luôn phải được khẳng định để chúng ta có một chỗ dựa mà vượt khó”. Đồng thời, qua việc đả kích Hoài Thanh, người ta cũng phản đối các chủ trương văn nghệ của đảng khi giải thích cảm hứng chủ đạo của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là cảm hứng ca tụng; đối tượng được ca tụng là người anh hùng trong lao động và sản xuất; mục đích của việc ca tụng là nhằm giáo dục tư tưởng cách mạng cho mọi người.

Chống lại quan niệm hẹp hòi của đảng, chống lại thái độ thiển cận và thô bạo của các cán bộ lãnh đạo văn nghệ của đảng, báo Văn cổ vũ sự đa dạng trong sáng tác: “Nhà văn này thiên về ca ngợi ư? Anh cứ làm việc của anh. Nhà văn sở trường mổ xẻ khuyết điểm ư? Đả kích ư? Anh cứ việc đi sâu. Rồi thì có bạn chuyên về những nhân vật trẻ tuổi, những vấn đề tình yêu, vấn đề đồng áng, nhà máy, quân đội, cả những chuyện đánh cá, vấn đề người sơn tràng và người làm công sở tư nữa. Mặc sức. Chỉ xin đừng cái gì cũng ngớp rồi không chuyên, không làm được cái gì ra hồn mà thôi” (Văn số 22, 1957).

Mục Tin Văn trên Văn số 7, 1957 ghi nhận một dấu hiệu đáng mừng trong những truyện ngắn độc giả và bạn hữu gửi tới toà soạn: “Đề tài phong phú và nhiều mặt: anh cán bộ cơ quan bị quy oan trong chỉnh đốn tổ chức, vợ chưa cưới lại tuyên bố dứt khoát, anh cán bộ chuyên ngành thắc mắc, chị cán bộ có chồng chết gia đình giục tái giá còn phân vân… chỉ kể lướt thế đã đủ chứng tỏ số đông các bạn đã có ý thức tránh những đề tài công thức chung chung”.

Mục Tin Thơ trên Văn số 7, 1957 cũng ghi nhận một tình trạng tương tự: “Còn nhớ khi nào phần lớn thơ ta chỉ lấy chủ đề trong đánh giặc và sản xuất, tới lui mãi trong hai nhiệm vụ phản đế và phản phong mà chúng ta quan niệm một cách rất máy móc… Chỉ nhìn những đầu đề bài cũng thấy các bạn trẻ đã tìm hướng thơ trong muôn mặt cuộc sống. Những bài thơ muốn đi sâu vào tâm tình, nói đến một vấn đề rất cũ và rất mới là tình yêu. Những bài thơ muốn bày tỏ những suy nghĩ về cuộc đời, cái sống, cái chết, những vui sướng và đau khổ của con người… thấy rất nhiều những đầu đề tình cảm: Duyên ta tươi đẹp. Đợi gì chẳng nói, Nhớ, Gặp gỡ, Tình yêu ấp ủ trong lòng, Đợi anh em nhé, Hãy lắng nghe em”…

Nhìn lại tình hình văn học trong giai đoạn này, trong quyển Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam, Phong Lê phê phán:

Tình hình các ý kiến và quan điểm trên đây phản ánh sự xa rời đời sống và sự mơ hồ về lập trường ở không ít các nhà văn…

Bọn Nhân Văn đã dựa vào đó để đưa vào tác phẩm của chúng nội dung phản cách mạng và chủ nghĩa cá nhân sa đoạ. Không ít nhà văn cũng đã dựa vào đó để miêu tả những đề tài vụn vặt, vô vị, hoặc thể hiện những tâm trạng buồn yếu bi quan trước nhiều vấn đề lớn và phức tạp của đời sống” (tr. 72).

Những cái mà Phong Lê gọi là “những đề tài vụn vặt, vô vị” và “những tâm trạng buồn yếu bi quan” ở trên, thật ra, là những nỗ lực vượt thoát giáo điều để tiến đến văn chương đích thực của giới cầm bút miền Bắc. Đó là những đề tài về tình yêu. Không phải tình yêu của những bậc anh hùng, những con người mới hoàn toàn vì giai cấp, vì cách mạng, mà là tình yêu trong đời sống bình thường, của những con người bình thường, thứ tình yêu hay vấp phải những trắc trở, những gập ghềnh do chiến tranh làm xa cách (Mùa hoa dẻ của Văn Linh, 1957), hoặc do cải cách ruộng đất đem lại (Sắp cưới, truyện ngắn của Vũ Bão, 1957). Đó cũng là những đề tài về cải cách ruộng đất, một tai hoạ khủng khiếp giáng xuống đầu nông dân gieo rắc bao nhiêu đau khổ: Ông lão hàng xóm của Kim Lân, Những ngày bão táp của Hữu Mai, Thôn Bầu thắc mắc của Sao Mai…

Nguyễn Thành Long trong hai truyện ngắn Về nhà Một trò chơi nguy hiểm mô tả những người miền Nam, năm 1954, theo Hiệp định Genève, tập kết ra miền Bắc như một cuộc phiêu lưu, đi tìm cảm giác lạ, có tính cách hoàn toàn cá nhân chứ chẳng phải vì một lý tưởng gì cao cả mà báo chí thường tuyên truyền.

Đoàn Giỏi trong Thao thức nêu lên những băn khoăn của một người tập kết muốn trở về Nam nhưng con đường về càng lúc càng mịt mùng bế tắc.

Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, trong năm 1957 cũng đăng nhiều truyện ngắn khai thác các khía cạnh mất mát thương tâm trong cuộc sống mới hoặc trong kháng chiến chống Pháp vừa qua. Họ lên án chiến tranh, cho chiến tranh thật là tàn ác (Sau hai chiến dịch trên Văn Nghệ Quân Đội số 2-1957); chiến tranh cứ để lại hoài trong lòng mọi người một “vết thương” rớm máu không bao giờ lành hẳn (Vết thương trên Văn Nghệ Quân Đội 3-1957).

Ảnh hưởng của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm như vậy, hết sức sâu rộng. Sâu. Và rộng. Họ lôi kéo được hầu hết những người trong Ban chấp hành Hội Nhà Văn. Nhiều người nói báo Văn của Hội Nhà Văn thực chất là tạp chí Nhân Văn hoá thân ra, giấu bớt chữ “Nhân” phía trước. Họ lôi kéo được cả giới sinh viên Hà Nội: tờ Đất Mới của sinh viên chỉ ra được một số thì bị đóng cửa nhưng tinh thần phản kháng đã thể hiện rất rõ, vô cùng mãnh liệt, nổi bật nhất là cây bút trẻ tuổi nhưng hừng hực lửa: Bùi Quang Đoài. Nhiều văn nghệ sĩ muốn ẩn nhẫn qua ngày, cuối cùng, do ảnh hưởng của Nhân Văn - Giai Phẩm cũng nhảy vào trường văn trận bút để đả kích lại đảng, đó là trường hợp của Nguyễn Bính lúc ấy làm chủ nhiệm báo Trăm hoa.

Ngoài ra, hiện tượng phần lớn bản thảo gửi đến báo Văn đều cố đi tìm sự đa dạng, sự độc đáo, thoát ly công thức mà báo Văn ghi nhận trong hai số 7 và 8 đã dẫn ở trên cũng có thể coi là kết quả của cuộc vận động “đổi mới” văn học do nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm tiến hành.

Nói cách khác, trừ một ít cán bộ lãnh đạo hoặc một số ít những người cầm bút xu thời, hầu hết giới văn nghệ sĩ ở miền Bắc, với những mức độ khác nhau, đều đồng tình với lý tưởng đấu tranh của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm. Giới lãnh đạo Hà Nội thừa thông minh để hiểu đó mới chính là một hiểm hoạ lớn nhất đối với họ, với tư cách là một lực lượng cầm quyền muốn mãi mãi độc tôn.

Nguyễn Hưng Quốc
Thứ Ba, 12 tháng 4 2011

VN: Phải Thay Đổi Chế Độ

Ba mươi sáu năm quốc hận. Năm quốc hận thứ 36, nhiều triệu chứng trong ngoài nước báo hiệu nhà cầm quyền CSVN đang lâm vào tình trạng thậm chí nguy, suy tàn và có thể sụp đổ. Do bên trong guồng máy cầm quyền gần như phá sản kinh tế chánh trị. Và nhân dân hết chịu nổi CS, có thể đứng lên làm cách mạng lật đổ nhà cầm quyền trong cao trào biểu tình lật đổ độc tài từ Bắc Phi, Trung Đông lan sang VN. Còn bên ngoài chưa bao giờ CS Hà nội yếu thế ngoại giao, giao thương như lúc này. Bên trong nước, thế chánh thống cầm quyền của CS Hà nội lại đổ vỡ. Trong chiến tranh, CS Hà nội lấy lý tưởng chống Mỹ cứu nước, thống nhứt quốc gia che đậy cho chế độ cai trị độc tài đảng trị toàn diện của CS. Khi Đế quốc CS tan rã ở Đông Âu và Liên bang xô viết, CS Hà nội tự cứu bằng cái gọi là chuyện hệ tư duy, đổi mới sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tây Phương tưởng bở, tưởng có thể chuyển hoá chánh trị của CS Hà nội bằng kinh tế, viện trợ hào phóng, đầu tư dồn dập vào VN, hy vọng kinh tế phát triễn xã hội, nhà cầm quyền sẽ cải tiến, tự do và dân chủ hoá, tầng lớp trung lưu sẽ phát triễn chánh trị theo tiến trình dân chủ.

Nhưng Tây Phương đã lầm vì nhìn CS và hiểu CS qua não trạng tự do, dân chủ của Tây Phương.

CS Hà nội có biến thể, biến thái, xanh vỏ nhưng vẫn đỏ lòng, mở kinh tế mà khoá chặt chánh trị. CS trở thành một tập đoàn cai trị vì quyền lợi của họ, chớ không phải vì đất nước nhân dân. Họ thống trị quốc gia dân tộc VN theo kiểu tự thực dân (auto-colonialism). Tự thực dân ở đây có hai nghĩa, nghĩa thứ nhứt người Việt cai trị người Việt; nghĩa thứ hai giai cấp thống trị thực dân, bóc lột đồng bào mình vì quyền lợi riêng tư của cá nhân, gia đình, phe nhóm, đảng phái CS của họ.

Vì quyền lợi riêng tư đó, cái gì CS cũng dám làm, buôn dân, bán đất, cắt đất nhượng biển, mãi quốc cầu an, cầu vinh, miễn sao còn nắm được quyển cai trị. Họ trở thành tư bản đỏ phi sản xuất mà hưởng thụ tối đa ở thành thị cấu kết với tài phiệt ngoại bang để bóc lột dân nghèo. Có người vì thế gọi họ là Đảng Mafia, ý muốn nói làm giàu bằng thực hiện tội ác có tổ chức.

Vì thế trong chỉ gần 2 thập niên CS gọi là đổi mới, xã hội VN rơi vào hoàn cảnh bi thảm. Tham nhũng trở thành quốc nạn. Công an cảnh sát lộng quyền thành một thứ khủng bố của nhà nước. Hố sâu ngăn cách nghèo giàu sâu rộng vô phương san lấp. Khối dân oan bị cướp đất cướp nhà qua việc CS lợi dụng chính sách qui hoạch lấy đất của dân trả rẻ mạt như cướp. Nạn buôn dân ngày càng nhiều, ngụy trang dưới hình thức xuất khẩu lao động thành lao nô, cô dâu cho các nước thành nô lệ tình dục. Xã hội VN vì thế thành một thùng thuốc súng bất mãn Đảng Nhà Nước; lúc nào cũng có thê nổ chụp hay nổ bùng nếu có một tia lửa đủ cường độ nào đó xẹt vào.

Còn bên ngoài, chưa bao giờ Đảng Nhà Nước CSVN rơi vào hoàn cảnh yếu thế và nan giải như hiện tại.

Về tài chánh, gần như CS Hà nội đang trên đà khủng hoảng phá sản. Bộ Trưởng Tài Vũ Văn Ninh phải lén lút qua Mỹ xin chi viện. Theo tin của hãng tin tài chính Bloomberg của Mỹ, Ông Ninh lén báo chí Mỹ đến trưởng Tài Chính Mỹ ngày 7 tháng 4, 2011, đến trụ sở Ngân Hàng Thế Giới sau đó. Ô. Bộ Trưởng Tài Chánh đi không trống, không kèn cầu viện vì tình hình tài chánh VN đã thập cấp chí nguy. Lạm phát đà 13.89%. Ngoại tệ dự trữ chỉ còn $12 tỉ đô la, không đủ để nhập cảng những thứ thiết yếu cho sản xuất và xăng trong vòng một tháng. Xăng và điện 1 tháng tăng giá hai ba lần.

TT Nguyễn tấn Dũng đã cạn tàu ráu máng ban hành nghi quyết cấm tư nhân mua bán,lưu giữ Đo la và vàng miếng để thu gom ngoại tệ vào nhà nước. Không kết quả mà bị tác dụng ngược, làm cho đô la chợ đen tăng, nhà nước không ai gởi càng thêm thiếu Đô la.

Số phận nền tài chánh của CSVN như chỉ mành treo chuông. Mỹ đang nợ nần như Chúa Chỏm, Trong khi đó ở Mỹ, Đảng Cộng Hoà đối lập đang xăng tay áo cắt giảm bội chi ngân sách liên bang của Đảng Dân Chủ đưa ra, có lúc ngân sách bị bế tắc, hai đảng phải thỏa hiệp tạm thòi đưa ra ngân sách giai đoạn để TT Obama điều hành việc nước thiết yếu thôi. CS Hà nội Hy vọng Mỹ chi viện tài chánh lúc này là CS mò kim đáy biển.

Thêm vào đó một số dầu chỉ nhiểu nước chào CS Hà nội bằng chân, e ngại biến động lớn xảy ra ở VN. Theo một bài nói chuyện của Ts Hà văn Hải trên paltalk, có triệu chứng đảng viên, cán bộ gốc của CS Hà nội đã dọn đường tháo chạy. Họ đã lập đầu cầu tạm qua việc đưa con cháu du học tăng gấp 4 lần theo lời phô trương của Cựu Đại sứ Mỹ Michalak. Trong cơn suy thoái địa ốc mà những vùng gần cộng đồng người Mỹ gốc Việt, người ta thấy việc mua nhà bằng tiền mặt ì xèo.

CS tăng cường dịch vụ cấp Visa xuất cảnh. Theo báo Tổ Quốc, Bộ đã ủy quyến và thúc đẩy các đô tỉnh thị tăng giờ làm việc để giải quyết các đơn xin xuất cảnh .

Bản phúc trình về tình hình nhân quyền thế giới trong năm qua 2010 của Bộ ngoại Giao Mỹ công bố vào ngày 8/4, trong đó tình hình nhân quyền VN như một bản cáo trạng của Mỹ.

Ra điều trần trước Tiểu ban Châu Á - Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ hôm thứ Tư 6-4, để được chuẩn thuận làm Đại sứ tại Việt Năm nhiệm kỳ tới, ông David Shear nhấn mạnh Nhân quyền và tự do tôn giáo sẽ là trọng tâm các cuộc bàn thảo giữa tôi với các nhà lãnh đạo cũng như người dân Việt Nam. Cuối cùng, trong chế độ VNCS, thành thị đã bất mãn. Nông thôn đã căm hờn vì dân oan. Kinh tế tài chánh của CS Hà nội đã làm người dân hết chịu nổi.

Quốc tế coi nhà cầm quyền CS Hà nội là sát thủ nhân quyền, sát thủ Internet, đối tác thương mại thường bị kiện thưa, than phiền liên tục, mang công mắc nợ thế giới tới đời cháu trả chưa chắc xong. Trung Cộng đang ép Hà nội như ép chuối khô để CS Há nội không dám phản ứng bằng hành động trong việc TC xâm chiếm biển và đảo của VN.

Ảnh hưởng các cuộc cách mạng Hoa Lài tử Bắc Phi, Trung Đông đang thẩm thấu trong tâm tư người dân Việt.

Trong lịch sử dài hàng 4000 năm, VN đất nước có lúc thịnh suy nhưng anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. CS Hà nội không thể lấy mối bang giao vói TC và Mỹ để hù doạ người dân. TC không thể lùa quân qua tiếp CS, phủ quyết nghị quyết của Hội Đồng Bảo an cứu dân và và trừng trị CS Hà nội nếu họ dùng vũ khí, vũ lực đàn áp người dân nổi dậy như nhà độc tài Gadhafi.

Trong cuộc biểu quyết lập vùng cấm bay, TC bỏ phiếu trắng dù có nhiều tương quan kinh tế chánh trị với chế độ độc tài Gadhafi.

Mỹ dù muốn trở lại Đông Nam Á cũng không thể yểm trợ cho chế độ độc tài CS Hà nội khi người dân đứng lên đòi tự do, dân chủ. Trường họp TT Ai cập Mubarak cho thấy rõ, dù Mỹ rất thân với Ông Mubarak nhiều nhưng đâu có dám cứu viện Mubarak khi người dân đứng lên.

Vấn dề còn lại là việc của người dân Việt trong nước. Trong việc tranh đấu, chiền đấu cho tự do, dân chủ, không có nước nào, dân tộc nào khác có thể làm thay nghỉ thế cho mình được. Mình có tranh đấu, chiến đấu thì người khác mới tiếp viện được. Kễ cả người Việt hải ngoại cũng chỉ có thể quốc tế vận, tiếp vận nhân tài vật lực cho đồng bào đấu tranh trong nước thôi, chớ không lãnh đạo chỉ huy cuộc tranh đấu, chiến đấu được./.


( Vi Anh) .

Ngọn đuốc Dân chủ Nhân quyền vẫn cháy sáng trên Quê hương ta




Từ sau năm 1954, khi người cộng sản thiết lập chế độ độc tài chuyên chế trên lãnh thổ miền Bắc, thì đã gặp sự phê bình chống đối của giới sĩ phu trí thức và văn nghệ sĩ, cụ thể là nhóm Nhân văn Giai phẩm, và các sĩ phu trí thức như Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, nhà báo Phan Khôi v.v… Mặc dầu bị đàn áp nặng nề, nhưng phong trào tranh đấu cho Dân chủ, Tự do và Nhân quyền vẫn âm ỉ kéo dài liên tục từ trên nửa thế kỷ qua, đặc biệt với thế hệ người trẻ hiện nay mà nổi bật nhất là những luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung…
Bài viết này nhằm ghi lại những nét chính yếu trong quá trình tranh đấu trường kỳ và rất là anh dũng đó.
1 – Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm 1955 – 56.
Vào giữa thập niên 1950, khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo còn khá hùng hậu và đòan kết gắn bó chặt chẽ với nhau, nhất là sau khi cộng sản Trung quốc đã làm chủ được cả nước Trung hoa là quốc gia có đông dân số nhất thế giới. Vì thế nên đảng cộng sản Việt nam đã rất hung hãn với chủ trương áp đặt lên xã hội miền Bắc một chế độ sắt máu tàn bạo bắt đầu bằng chiến dịch “cải cách ruộng đất” mô phỏng y hệt như của Trung quốc. Việc này đã gây ra bao nhiêu đau khổ điêu đứng và tang thương chết chóc cho hàng vạn gia đình ở nông thôn, cũng như gây ra sự bất mãn tột độ của giới trí thức văn nghệ sĩ ở thành thị. Vì thế mà ngay từ cuối năm 1955, đã có một phong trào tranh đấu đòi tự do dân chủ mà cao điểm là những ấn phẩm của hai lọai đặc san có danh xưng là “Nhân Văn” và “Giai Phẩm”.
Rất đông văn nghệ sĩ đã tham gia lên tiếng đòi hỏi phải có tự do tư tưởng, tự do sáng tác, tự do phát biểu trong sinh họat văn học nghệ thuật nhằm phục vụ quần chúng. Họ không ngần ngại phê phán đường lối lãnh đạo của đảng cộng sản trong lãnh vực văn nghệ. Điển hình như nhà nghiên cứu Trương Tửu đã viết hết sức đanh thép : “ Văn nghệ sĩ chân chính xưa nay đều chống lại chính trị của giai cấp cầm quyền “. Và : “ Vận mạng của văn nghệ dài hơn vận mệnh của Đảng, dài hơn vận mạng của chế độ.”
Các nhà trí thức tên tuổi như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, học giả Đào Duy Anh, nhà báo Phan Khôi, nhà văn Nguyễn Hữu Đang, nhạc sĩ Văn Cao, các nhà thơ Trần Dần, Hòang Cầm, Phùng Quán v.v…đã hiên ngang tố cáo những sai trái quá khích của giới lãnh đạo cộng sản. Trong bài diễn văn bất hủ vào cuối tháng 10 năm 1956 tại Mặt trận Tổ quốc, luật sư Tường đã mạnh dạn nêu ra những sai trái quá khích trong chính sách cải cách ruộng đất. Ông nhấn mạnh đến nguyên tắc pháp lý : “ Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn : Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan “.
Họ được đông đảo quần chúng thanh niên, nhất là giới sinh viên trẻ hoan nghênh nhiệt tình. Vì thế mà đảng cộng sản đã ra tay phát động một chiến dịch đàn áp rất quy mô và tàn bạo, với việc bắt giữ giam cầm, kết án nhiều nhân vật chủ xướng của phong trào. Đồng thời cũng cô lập bao vây, đày đọa nhiều trí thức tiêu biểu hàng đầu như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, học giả Đào Duy Anh v.v… Mặc dầu bị đàn áp tàn tệ như vậy, giới trí thức văn nghệ sĩ ở miền Bắc hồi ấy vẫn tỏ ra kiên cường bất khuất, điển hình như nhà thơ Hữu Loan tác giả của bài thơ nổi tiếng “Màu Tím Hoa Sim”, đã bỏ hết mọi chức vụ, quyền lợi của một đảng viên để trở về miền quê, cam chịu sống cuộc đời lam lũ khó nhọc nghèo túng, chứ nhất quyết không thèm tiếp tay với chế độ độc tài áp bức. Đã có nhiều sách báo viết về giai đọan đen tối này rồi, ta khỏi cần phải dài dòng ở đây nữa.
2 – Vụ án “Xét lại chống Đảng” năm 1967 – 68.
Đây là một chuyện thanh tóan nhau trong nội bộ của đảng cộng sản, do người chủ chốt là Lê Đức Thọ phát động nhằm lọai trừ những phần tử có lập trường tương đối cởi mở thông thóang theo chính sách hòa hõan của Liên Xô, khác biệt với chủ trương cứng rắn quá khích của Trung quốc vào hồi đầu thập niên 1960. Như ta đã biết, từ năm 1956 sau khi lãnh tụ Kruschev vạch trần những tội ác của Stalin và chủ trương bài trừ nạn sùng cá nhân lãnh tụ trong sinh họat của đảng cộng sản Liên Xô, thì phía Trung quốc có lập trường chống lại “ chủ trương xét lại chủ nghĩa cộng sản” (revisionism) này của Liên Xô, và rồi lần lần đi tới sự chia rẽ mâu thuẫn trầm trọng giữa hai bậc đàn anh này của phong trào cộng sản thế giới.
Một số đảng viên vốn được tiếp cận sự cởi mở của Liên Xô như Hòang Minh Chính, Nguyễn Minh Cần…, thì có tư tưởng phóng khóang, không chấp nhận lề lối bảo thủ giáo điều của Trung quốc. Do đó mà một số khá đông những đảng viên kỳ cựu đã bị bắt giữ giam cầm trong các trại tù rất là khắc nghiệt trong nhiều năm, kể từ năm 1967 cho đến sau năm 1975. Vụ việc động trời này đã được nhà văn Vũ Thư Hiên tường thuật lại với rất nhiều chi tiết trong cuốn Hồi ký nhan đề là “Đêm giữa Ban Ngày” được xuất bản lần đầu tiên năm 1997 tại hải ngọai. Nói chung, thì đây là những người cộng sản tiến bộ, cởi mở, họ chỉ bày tỏ quan điểm thông thóang của mình, khác biệt với chủ trương giáo điều quá khích sắt máu của giới lãnh đạo, chứ không hề có tham vọng gì lớn lao với âm mưu “làm đảo chính trong nội bộ của đảng cộng sản”. Ấy thế mà họ bị bắt giam và đối xử rất là tàn tệ, không khác gì với kẻ thù của đảng. Những nạn nhân trong vụ đàn áp này gồm nhiều nhân vật cao cấp tên tuổi của đảng, điển hình như ông Vũ Đình Huỳnh đã từng là một vị Phụ tá thân cận lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như Tướng Đặng Kim Giang Chỉ huy trưởng cục Hậu cần của Quân đội Nhân dân, ông Hòang Minh Chính Viện trưởng Viện Triết học Marx Lénin v.v…
3 - Ủy Ban Nhân Quyền Việt nam với Tuyên ngôn năm 1977.
Đây là một vụ tranh đấu bất bạo động sớm nhất, với quy mô lớn nhất của giới luật gia tại miền Nam sau năm 1975. Vào ngày 23 tháng Tư năm 1977, trước Nhà thờ Đức Bà Saigon, Luật sư Trần Danh San nhân danh Ủy Ban Nhân Quyền Việt nam đã đọc bản “ Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”. Liền sau ngay đó, tất cả 17 người ký tên trên Bản Tuyên Ngôn này đã bị bắt giam vào các trại tù. Những người chủ xướng phần đông đều là các luật sư như Thủ lãnh Vũ Đăng Dung, Triệu Bá Thiệp, Nguyễn Hữu Giao, Trần Danh San…
Xin trích dẫn một số đọan tiêu biểu rất là thê thiết cảm động của Bản Tuyên Ngôn như sau :
Chúng tôi những người Việt nam khốn cùng, với tàn lực còn lại, với tinh thần tàn phế, quyết đấu tranh bằng con đường bất bạo động để kêu gọi lương tâm nhân lọai, các lực lượng của thế giới văn minh, hãy lắng nghe những lời cầu cứu thảm thiết của những kẻ hấp hối.

  • Tàn lực vì chúng tôi ăn đói và sẽ chết đói.
  • Tinh thần tàn phế vì chúng tôi không được sống và suy tưởng như con người.

Chúng tôi buộc phải cúi đầu khom lưng tung hô vạn tuế chủ nghĩa –một chủ nghĩa đã lỗi thời và chống lại con người. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn dùng ngôn ngữ con người để thức tỉnh bọn đao phủ mù quáng và tham tàn. Vì chỉ có con đường bất bạo động mới tránh khỏi các cuộc thảm sát huynh đệ tương tàn và khỏi làm nhơ bẩn tấm lòng trong trắng của những người Việt nam khốn cùng.

Các lực lượng văn minh trên thế giới hãy đứng dậy!
Không còn chờ đợi nữa!
Liên Hiệp Quốc phải can thiệp cấp thời để áp dụng và áp dụng triệt để Bản Quốc Tế Tuyên Ngôn Nhân Quyền đối với những người Việt nam khốn cùng chiếu theo sự quy định của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc “.
Trong số người bị bắt tù liền sau ngày công bố Bản Tuyên Ngôn này, đã có hai người bị chết trong trại giam, đó là kiến trúc sư Nguyễn Văn Điệp và giáo sư Hà Quốc Trung. Các Luật sư Trần Danh San, Nguyễn Hữu Giao, Trần Nhật Tân thì bị tù lâu nhất, đến trên 10 năm. Còn lại, thì bị tù từ 2 năm đến 6 năm.
Chi tiết về vụ này đã được Luật sư Nguyễn Hữu Thống ở San Jose trình bày khá đày đủ trên tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong số 390 phát hành vào tháng 5 năm 1992.
4 – Nhóm Câu Lạc Bộ Kháng Chiến Nam Bộ năm 1987-90.
Vào đầu thập niên 1980, những người tham gia cuộc kháng chiến Nam Bộ từ năm 1945 đến lúc đó phần đông đã lớn tuổi rồi. Nhưng khi từ miền Bắc trở lại với gia đình ở miền Nam sau năm 1975, thì họ thấy những sai trái quá chớn do giới lãnh đạo ngoan cố áp đặt chính sách tập thể hóa về kinh tế đã từng làm bần cùng hóa đối với người dân tại miền Bắc lên trên lãnh thổ miền Nam, thì họ đâm ra bất mãn và tìm cách làm thay đổi tình trạng sai lầm tệ hại này. Và kể từ sau năm 1986, với chủ trương “Đổi Mới” phát khởi từ Liên Xô, những người cựu kháng chiến này mới tập hợp lại với nhau thành một tổ chức gọi là Nhóm Truyền Thống Kháng Chiến Nam Bộ, và lên tiếng kêu gọi quần chúng miền Nam khôi phục lại nền nếp sinh họat dân chủ vốn từng ăn sâu nơi xã hội địa phương từ nhiều năm xưa. Lời kêu gọi này được rất đông người dân Saigon và các tỉnh miền đồng bằng Mekong tham gia hưởng ứng, bằng cách chuyền tay nhau các số báo “Truyền Thống Kháng Chiến” do tổ chức phổ biến. Và nhất là họ còn tổ chức nhiều cuộc biểu tình tại Saigon cho các dân oan có thể đòi lại ruộng đất đã bị chiếm đọat một cách vô lý, bất công do chính sách cải cách ruộng đất của đảng cộng sản gây ra.
Và sau khi chế độ cộng sản bị sụp đổ tại Đông Âu vào cuối năm 1989, thì giới lãnh đạo ở Hanoi mới đâm ra hốt hỏang, bối rối để rồi vào đầu năm 1990, họ đã phát động một chiến dịch đàn áp rất quy mô, tàn bạo nhằm bắt giữ nhiều cán bộ đảng viên trung cấp và cao cấp, điển hình như các ông Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu, Hồ Hiếu v.v…
Cũng vào năm 1990, công an cũng thi hành lệnh cưỡng chế bắt linh mục Chân Tín phải ra cư trú tại thị xã Cần Giờ, và lệnh quản chế tại gia (house arrest) đối với giáo sư Nguyễn Ngọc Lan. Đồng thời cũng trong năm 1990, họ lại còn bắt giữ và đem ra tòa xét xử với mức án rất nặng đối với nhiều nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, giáo sư Đòan Viết Họat, Hòa thượng Thích Huệ Đăng v.v…
5 – Phong trào tranh đấu liên tục của khối tín đồ các tôn giáo.
Ngay từ ngày nắm giữ được chính quyền trong tay từ năm 1945, thì người cộng sản Việt nam vẫn luôn áp dụng một chính sách cố hữu là : “triệt tiêu tôn giáo “, bất kể là tôn giáo nào. Nhưng vì gặp sự đề kháng kiên cường của tập thể các tín đồ, nên họ đã không thể nào mà làm xóa bỏ, lọai trừ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội được, mặc dầu họ đã sử dụng mọi thủ đọan tàn ác thâm độc đối với các tu sĩ và tín đồ của các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Hòa Hảo.
Ngày nay với trình độ dân trí mỗi ngày một tăng cao, nên quần chúng tín đồ càng tham gia nhiều vào công cuộc tranh đấu không những cho tự do tôn giáo, mà còn cả cho công bằng xã hội, cho nền đạo lý truyền thống của dân tộc, cho dân chủ, tự do và cho nhân phẩm và nhân quyền của tòan thể nhân dân. Với phương thức bất bạo động, tôn giáo càng dễ lôi cuốn số đông quần chúng tham gia vào cao trào tranh đấu này. Đặc biệt là khối tín đồ thuộc các sắc tộc thiểu số theo đạo Tin lành ở miền cao nguyên Trung phần, thì họ rất gắn bó liên kết chặt chẽ với nhau để đòi hỏi công bằng về ruộng đất và về tự do hành đạo.
Vì thế mà chánh quyền cộng sản sẽ ngày càng bất lực, không thể dùng mãi bạo lực, dối trá để mà trấn áp cả một khối quần chúng lớn lao hàng nhiều triệu con người trong các tổ chức tôn giao được nữa rồi. Đó là một dấu hiệu rất phấn khởi, lạc quan và tích cực cho công cuộc tranh đấu trường kỳ của dân tộc Việt nam chúng ta vào đầu thế kỷ XXI ngày nay vậy.
6 – Phong trào tranh đấu của giới trẻ trong những năm gần đây.
Với sự giao lưu trao đổi tin tức dễ dàng trong thời đại Internet ngày nay, thì giới trẻ ở Việt nam mỗi ngày một thêm hăng say tích cực dấn thân nhập cuộc vào cao trào tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền của dân tộc mình và cho sự tòan vẹn lãnh thổ trước sự lấn chiếm ngang ngược của Trung quốc. Và mặc dầu bị đàn áp thô bạo, bị bắt giữ, bị bao vây kinh tế, bị bọn côn đồ đầu gấu do công an xúi giục hành hạ đánh đập, các nhà tranh đấu này vẫn kiên cường giữ vững lập trường tranh đấu cho chính nghĩa của mình. Điển hình là các khuôn mặt rất trẻ như Đòan Huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hòang Quốc Hùng đều dưới 30 tuổi thuộc tổ chức Hiệp Hội Đòan Kết Công Nông, hiện vừa bị xử án tù rất nặng vào tháng 10 năm 2010 vừa qua.
Mới đây nhất là vụ xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ với 7 năm tù giam vào ngày 4 tháng Tư, thì chính quyền cộng sản Hanoi đang bị dư luận khắp thế giới chê trách nặng nề, và càng tạo cơ hội cho quần chúng hưởng ứng tham gia với công cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền thêm mạnh mẽ hơn. Cụ thể như tín đồ các tôn giáo đang đồng lọat tụ họp lại với nhau rất đông đảo, để cùng cầu nguyện cho bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Quốc Quân là những người mới bị công an bắt giữ trong phiên tòa xét xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ ở Hanoi vừa đây.

Tóm tắt lại, cao trào tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền mỗi ngày một dâng lên cao, đặc biệt với sự tham gia của khối tín đồ rất lớn lao thuộc các tôn giáo, và nhất là của giới nông dân bị chiếm đọat ruộng đất ở khắp các miền quê. Càng ngày lại càng có thêm nhiều cán bộ đảng viên lớn tuổi, các sĩ phu trí thức và nhất là giới sinh viên học sinh còn rất trẻ lại cũng nhiệt thành phấn khởi nhập cuộc thật đông đảo và dũng mãnh hơn.

Đây rõ rệt là một quá trình tranh đấu của tòan thể dân tộc mà không có bàn tay sắt của chế độ độc tài tàn bạo nào lại có thể làm đảo ngược được nữa. Và đó cũng là niềm hy vọng sáng ngời cho dân tộc Việt nam chúng ta vào đầu thế kỷ XXI lúc này vậy./

California, 12 tháng Tư 2011
LS.Đòan Thanh Liêm

Gánh hàng rong và xe đẩy hàng: Số phận người dân lao động

Thuở nhỏ, tôi và chị em trong nhà thường được cho ăn vào buổi sáng, giữa trưa, giữa chiều, sau buổi tối, từ những gánh hàng rong từ những người nghèo trong xóm. Gánh hàng rong rất phổ biến đối với người dân Việt Nam. Hầu như ai cũng biết nhờ gánh hàng rong này, mà đã cho ra đời những danh nhân xứ Việt, những người có ích cho xã hội.

Những ngày còn cắp sách đến trường, cuối tuần hay ngày nghĩ chúng tôi lại được ăn sáng từ gánh hàng rong của Dì Sáu với bún nước lèo, và Dì Năm bánh canh mặn. Vào giữa trưa lại được ăn bánh củ cải, hay bánh tầm bì nước cốt dừa, bánh canh ngọt, bánh chuối, bánh khoai mì nước cốt dừa, lại cũng của hai dì này. Buổi tối, sau ăn tối lại được ăn bánh mì thịt quây từ xe đẩy gần nhà. Lớn hơn một chút thì được ăn hủ tiếu mì gõ từ xe đẩy của những trẻ em phải lao động sớm, gửi tiền về quê nuôi cha mẹ già. Không hiểu tại mình còn nhỏ nên khẩu vị đơn giản, vì chưa được thưởng thức món ăn vật lạ trên đời, nên ăn cái gì cũng ngon, mẹ nấu cái gì cũng tuyệt.

Khi lớn lên thì không còn thưởng thức những món ăn này từ hai dì ấy và mẹ, nên không biết thật sự họ nấu ăn ngon hay do mình không biết thưởng thức chăng? nhưng cái ký ức thức ăn do ai đó nấu cho mình khi nhỏ thì mình cứ mang nó đến suốt đời và không thể nào quên được, dù có đi đâu, có ăn gì, thì những món ăn ấy cứ hiện hữu mãi trong ký ức chúng ta, nên chúng ta cứ nhắc mẹ tôi làm món canh chua ngon tuyệt hay món gà xé phay không ai có thể so sánh bằng v.v.v. Thế hệ chúng ta cũng thế, những món ăn mình làm con mình nói, mẹ nấu món này ngon quá, mẹ học ở đâu vậy? nhưng thực sự không phải là mình nấu ngon hơn ai, nhưng vì con mình thấy sự vất vả của mẹ, và chăm sóc của mẹ chu đáo thì con nghĩ mẹ là trên hết.

Gánh hàng rong của hai dì, nuôi sống cho cả gia đình họ, nhờ những ngày thức khuya dậy sớm ngày hai buổi sáng chiều, mà họ đã nuôi con khôn lớn, thành đạt, có ích cho xã hội. Nhưng ngày nay, gánh hàng rong vẫn còn rất ít trong các xóm nhỏ, ngoài đường phố các thành phố lớn lại cấm bán hàng rong, mà có bán cũng phải có giấy chứng nhận hợp vệ sinh của ngành Y tế! Nhà hàng, cửa hàng lớn có khi còn chưa có giấy chứng nhận hợp vệ sinh thì làm khó người nghèo mà chi? Chắc gì những nhà hàng, cửa hiệu, tiệm ăn lớn giữ vệ sinh bằng những người buôn bán hàng rong? Họ cũng cần giữ khách và vệ sinh như là một thứ không thể thiếu để bảo vệ “thương hiệu hàng rong“ của họ chứ!

Nói như vậy không phải không có người bán hàng rong bầy hầy, dơ bẩn nhưng không nên vơ đũa cả nắm. Và khi mà giá một tô hủ tíu, một tô phở hay bún bò trong các cửa tiệm cao ngất ngưởng thì gánh hàng rong với giá chỉ vài ngàn đồng cũng đủ no lòng những người dân lao động, người viên chức nghèo mỗi sáng trên đường đi đến sở làm.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam ra lệnh cấm thì nhiều, nhưng giải quyết vấn nạn sau khi lệnh cấm ban hành thì không thấy, như những quán nhỏ và người bán hàng khu vực cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, hay gánh hàng rong, xe xích lô, xe đẩy lưu hành trong thành phố v.v.v. Những cá nhân có tấm lòng nhân hậu có suy nghĩ mở ra công ty du lịch xích lô, hay các xe đẩy bán thức ăn các khu vực đông đúc thì giúp số một ít người vấn nạn lao động của xã hội, còn những người ban lệnh cấm này thì suy nghĩ gì? Khi những em gái gánh hàng rong mỗi ngày họ phải tìm cách sinh nhai rồi thì họ sẽ phải đi bán gì nếu không có hàng rong? Hay là đi ‘ bán thịt’ mà từ gọi dân gian hay nói!, rồi nhiễm những căn bệnh thế kỷ, do bị lạm dụng tình dục, các cụ gánh hàng rong thì phải bán vé số dạo,v.v.v...

Các quán nhậu và sân vườn càng ngày càng mọc lên đông đúc, nhà hàng cao cấp thì được khai trương liên tục không những một mà thành một hệ thống nhà hàng cao cấp, các quán ăn trưa, ăn tối, kem cao cấp v.v.v.. mọc lên như nấm. Thế mà thiết lập một khu tập trung cho những gánh hàng rong hay những lao động nghèo lại quá khó, những nơi này giúp họ được làm những nghề chân chính, hay cơ sở sản xuất với công nghệ tiên tiến hơn, để họ được tiếp thu cái mới mẻ và đóng góp sức lực cho xã hội, điều này có phải là nổi bâng khuâng và tìm phương cách giải quyết của nhà lãnh đạo? hay chỉ là những chấm hỏi để đấy?

Chúng ta thật mai mắn, được đến trường cũng như con cái chúng ta được sống trong hơi ấm vòng tay cha mẹ và gia đình đầy đủ, còn những trẻ em cơ nhỡ kia hay những cụ già trên lưng còng lúc nào cũng nặng gánh hàng rong. Những nhà lãnh đạo kia hay những kẻ giàu sang trong nước, thì con em họ ra nước ngoài được học trường nổi tiếng, nhà mua không những trong nước hay ở nước ngoài lại quá dể dàng, đi ra nước ngoài như đi chợ, mua sắm thì chỉ mua những hiệu nổi tiếng ở nước ngoài vì trong nước không phải là hàng chính hiệu, tiêu xài hoang phí, liệu họ nghĩ gì về những đứa trẻ cơ nhỡ và những cụ già kia ?

Viện trợ từ thân nhân ở nước ngoài vào Việt Nam, hàng năm hàng chục tỷ mỹ kim từ chính thức và không chính thức là quá lớn, thế nhưng lãnh đạo cũng như những kẻ giàu sang không trái tim vàng thì nghĩ gì khi sự chênh lệch giàu và nghèo trước mắt mình là quá lớn !.

Sự khác biệt rất lớn này chỉ thấy rải rác ở một số nước Châu Á như Trung Quốc và Việt Nam v.v.v.. kẻ thì xe hơi bóng loáng đắc tiền, nhà cao cửa rộng không những một mà là rải rác khắp nơi, người phục vụ lúc nào cũng có, kẻ thì với chiếc xe đạp lọc cọc, không nhà ở phải nằm dưới chân cầu, hay những phiến ghế đá vỉa hè là nơi trú ngụ qua đêm !.

Và những người bán hàng rong kia sẽ làm gì để sống khi gánh hàng rong bị cấm? Câu trả lời tuy dễ mà khó này xin chờ đợi một lời giải thích từ phía những người ra lệnh cấm…hàng rong! hay những chiếc xe đẩy bán hàng như bánh ngọt, cháo lòng, bị công an rượt chạy liên tục trên hè phố, xã hội buộc trẻ em phải làm việc sớm hơn tuổi lao động và không được đến trường như chúng phải có.

Ngày về Việt Nam, ai cũng muốn mình được ăn ở những gánh hàng rong kia, nếu những gánh hàng rong được tập trung ở một khu vực giành cho người lao động với tiền nguyệt liễm tượng trưng thì họ có thể làm việc bình thường mà không vất vả gánh nặng trên vai hàng ngày, nhưng vẫn nuôi biết bao nhiêu gia đình, và ta cũng được thưởng thức những món ăn ngon miệng. Những đứa trẻ bán dạo không nhà được giúp đỡ học hành đến nơi đến chốn, có thể làm việc theo tuổi qui định, thì chúng đóng góp rất lớn vào sự phát triển của xã hội, người ở hải ngoại cũng thấy vui lòng khi xã hội ngày càng tiến bộ hơn, và giảm bớt đi sự chênh lệch giàu nghèo như hiện nay.

Nguyễn Thị Tuyết

Bruxelles -2011

Việt Nam ngon lành nhất!


Việt Nam Ok nhất...

Obama rất hâm mộ Khổng tử, do đó quyết định đến thăm 4 nước trong hệ thống Đạo Khổng. Ngay khi về nước, Obama phải gặp ngay ông anh để kể lể về chuyến thăm này.

Bush: Chú công tác thế nào? Có gì hay không kể anh nghe?

Obama: Dạ em đến Nhật Bản trước tiên ạ.

Bush: Ừ, nước này phát triển lắm đấy, chú thấy sao?

Obama: Dạ, nó bắt em đi bộ gần chết vì nó bảo con Cadillac One của em tốn xăng và có lượng khí thải vượt mức cho phép ạ.

Bush: Ờ, chuyện thường, anh bị rồi. Sau đó đi đâu?

Obama: Dạ em qua Hàn Quốc, định vừa thăm vừa mua ít sâm về biếu anh.

Bush: Ừ, hàng họ ở đó cũng hay phết, anh có mấy con bồ bên đó. Chú thấy sao?

Obama: Dạ, em cũng đi bộ gần chết ạ.

Bush: Ơ, bọn này nó đâu có sợ chết như mấy thằng Nhật???

Obama: Vâng, nhưng dân nó thấy xe em đẹp, nó chặn mẹ nó lại, gắn hoa vào và thi nhau chụp ảnh cưới các kiểu.

Bush: Ừ, anh quên bảo chú bọn Hàn nó sến lắm. Mà sao không tranh thủ bị nó chặn xe, chú không đi nhuộm tóc và làm lại mầu da cho nó giống sao Hàn?

Obama: Dạ tại em bận qua Trung Quốc ạ.

Bush: Sang đó có gì hay không, nó đang tranh chấp hằm hè quyền kiểm soát biển Đông với mình đấy, bọn này nó đông dân nên tinh vi lắm.

Obama: Dạ em không biết, em nghe bọn đàn em tấu là xe Cadillac One của em vừa đến đầu phố, cuối phố mấy thằng Tầu đã làm ra ra bốn cái Cadillac One giống hệt, sửa tên thành Dielac One và còn khuyến mại thêm còi 30 bản nhạc và đèn nháy ạ.

Bush: Ôi, thế chú là may đấy, anh đến chỗ này có tí mà 9 tháng sau chúng nó còn làm ra mấy thằng Bush giống hệt anh thì sao. Thế còn nước cuối cùng?

Obama: Rời Trung Quốc em sang Việt Nam luôn, xưa em có mấy ông chú đi lính nên cũng có vài chỗ quen biết ở đây, sang thăm tiện thể hỏi thăm họ hàng luôn.

Bush: Thế vui vẻ chứ? Nước này thân thiện lắm, không thù hằn mình nữa.

Obama: Vâng, em lái con Cadillac One đi một đoạn nhưng…

Bush: Nhưng sao, nó cấm vì khí thải cao à?

Obama: Dạ không, xe em còn ngon gấp vạn lần xe bus của bọn nó, đi sau xe bus của bọn nó còn đếch nhìn thấy đường, em phải dùng định vị toàn cầu mà lái đó.

Bush: Thế nó lại chặn lại chụp ảnh cưới à?

Obama: Không ạ, dân ở đây vội lắm, em dừng lại đèn đỏ họ còn chửi em là thằng ngu. Nói gì dừng lại chụp ảnh.

Bush: Thế nó lại làm Cadillac One giả à?

Obama: Không ạ, lúc em sang đến nơi thì bọn Trung Quốc đã mang Dielac One sang bán tràn ngập giá rẻ như xe công nông. Dân tình chạy tưng bừng đầy phố làm mấy thằng mật vụ của em đếch biết em đi xe nào, lạc mẹ nó mất.

Bush: Thế túm lại là chú bị làm sao?

Obama: Dạ em vừa dừng xe vào mua bao thuốc, quay ra đã mất mẹ nó đôi gương ạ.

Bush: Ôi giời, ra chợ Giời mà kiếm lại, đúng đôi của mình luôn, giá rẻ, có số chưa anh cho số mấy thằng em???

Obama: Vâng, và em quyết định sẽ chọn Việt Nam để chơi lâu dài ạ.

Bush: Tại sao? Chú vẫn chưa tìm được đôi gương của con Cadillac One à?

Obama: Dạ không, so sánh cả 4 nước em thấy người Việt rất tuyệt. Khả năng lần mò tốt, đi đường bụi thế mà vẫn đi được. Thứ hai là rất năng động, dừng đèn đỏ còn không dám vì sợ muộn. Thứ nữa là hành động rất thẳng thắn và anh hùng. Bẻ gương giữa thanh thiên bạch nhật, không sợ chết như bọn Nhật, không sến như bọn Hàn Quốc và cũng không gian dối như bọn Tầu

Bush: Công nhận. Việt Nam là ngon nhất.

(Nhận được qua e- mail, không rõ tác giả)

Ai Gây Ra Chiến Tranh Để HK Rải Chất Độc Màu Da Cam Tại VN ?

Ngược dòng Việt sử, ta biết CSVN núp dưới chiều bài Việt Minh, đã lợi dụng thời cơ mà cướp được chính quyền vào ngày 19-8-1945. Từ đó, đất nước đắm chìm trong khói lửa đạn bom, do chính Hồ Chí Minh và bè đảng mang về, gây nên cuộc chiếnĐông Dương long trời lỡ đất, kéo dài từ 1945 cho tới dầu thập niên 1990 mới tạm chấm dứt vì sự sụp đổ của đế quốc Liên Bang Xô Viết (LBXV)..

Rồi cũng vì quyền lợi của đảng và cá nhân, Hồ ký hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, mở cảng Hải Phòng và nhiều cửa khẩu khác ở phía bắc vĩ tuyến 16 rước quân Pháp nhập quan, để được thực dân công nhận cái gọi là VN Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) vừa mới thành hình. Hành động bán nước trên, khiến cho quốc gia VN đánh mất cơ hội vàng ròng, dành lại độc lập tự chủ trong tay ngoại bang, như các nước Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương, ẤnĐộ, Niến Điện.. khi thế chiến 2 chấm dứt.

Sau thảm bạiĐiện Biên Phủ thực dân Pháp không còn con đường nào lực chọn, nên phải ký HiệpĐịnh ngưng chiến tại Genève ngày 20-7-1954, trả lại nước Việt cho người Việt nhưng vẫn không quên thù hận khi giao nửa mãnh cơ đồ Hồng Lạc , từ bắc vĩ tuyến 17 trở ra cho Hồ Chí Minh và CS, dù rằng chiến thắng đánh đuổi ngoại xâm, là máu xương và công lao của toàn dân cả nước.

Tháng 2-1955 quân Pháp rút về nước. Miền Nam VN từ vĩ tuyến 17 vào tới mũi Cà Mâu, tạm thời là một quốc gia độc lập VNCH có Hiến Pháp . Năm 1956, Thủ tướng NgôĐình Diệm, qua cuộc trưng cầu dân ý trở thành Tổng Thống của nềnĐệ Nhất Cộng Hòa.

Do không thể lừa bịp toàn dân bằng trò hề hiệp thương và bầu cử thống nhất đất nước, để chiếm Miền Nam. Bởi vậy đầu năm 1956, Hồ Chí Minh và cộng đảng mở màn cuộc chiến xâm lăng VNCH. Từ đó, cán binh được gài cùng bọn thân nhân nằm vùng hoạt động trở lại.Đồng thời qua con đường rừng Trường Sơn và đường biển, Bắc Việt ồ ạt chuyển người, quân trạng dụng của Nga-Tàu-Ðông Âu.. tấn công cưỡng chiếm Miền Nam,

Sáng ngày 30-4-1975, khi chiếc trực thăng cuối cùng của người Mỹ rời nóc nhà TòaĐại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, thì vài giờ sau đó TT Dương Văn Minh ra lệnh cho QLVNCH, buông súng đầu hàng CS Bắc Việt. Từ đó cho tới đầu thập niên 1990, các nướcĐông Dương, gần như đám chìm trong bóng tối của ngục tù và sự quên lãng của thế giới tự do, mặc cho một cuộc chiến long trời lở đất vào năm 1979, giữa Trung Cộng-Việt Công và Miên Cộng.

Nói chung, cuộc chiếnĐông Dương lần 2 trên danh nghĩa đã chấm dứt vào tháng 5-1975 tại VN nhưng Hội Chứng của nó vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Ngoài sự tan nát của một đất nước bị bom đạn ngoại nhân tàn phá trong chiến tranh. VN đã bị chính bàn tay hủy hoại của những đỉnh cao trí tuệ trong Băc Bộ Phủ, vì say men chiến thắng nên đã bắt Miền Nam ba bước nhảy vọt, để theo kịp thiên đàng xã nghĩa của Miền Bắc, qua 20 năm nô lệ chủ nghĩa Le-Mac, khiến người biến thành vượn khỉ, nghèo đói, lạc hậu và gian ngoa, hung ác vì miếng ăn, cuộc sống.

Rốt cục mang tiếng độc lập, thống nhất nhưng cả nước cùng chịu chung số phận súc vật, cùng ngụp lặn trong vũng bùn hôi tanh ô uế của cái gọi là chủ thuyết kinh tế Mác-Lê, quốc doanh Mao-Hồ. Trừ bọn cán bộ đỏ của đảng VC cầm quyền trong nước, no say nghiêng ngả nơi chốn cung đình. Cả nước còn lại, từ kẻ thắng trận tới người mất nước, ai cũng đói nheo vì tài sản đã bị đảng cướp giật. Nên cả nước lúc đó nếu không ăn bậy,kể cả xác súc vật sình thối, cây cỏ nhiễm độc, gạo ngô hư mọt, thì lấy gì no bụng để mà sống ? để mà tiếp tục làm trâu ngựa kéo cầy,kéo xe trả nợ làm người cho Việt gian, Việt cộng lẫn Việt kiều yêu nước XHCN ?

Hơn tám mươi mốt năm qua (1930-2011), ai cũng biết Cọng Sản VN, mang một thứ bệnh mộng du rất vĩ đại. Nên sẽ không lạ gì sự kiện Tổng thống Jimmy Carter, năm 1977 đã cử thứ trưởng ngoại giao Richard Holbrooke làm trưởng phái đoàn Hoa Kỳ, đến Hà Nội để nối lại bang giao giữa hai nước. Và mặc dù Mỹ chịu làm lành, khi hứa bỏ lệnh cấm vận, lại cho trước 5 triệu đô la viện trợ nhân đạo. Nhưng chứng nào tật đó cũng như lòng tham không đáy, nên trong phiên họp tháng 5-1977 tại Ba Lê, VC trưng lá thơ của Nixon gửi Phạm VănĐồng, đòi nợ Mỹ 3,25 tỷ tiền tái thiết + 1,5 tỷ tiền viện trợ. Dĩ nhiên, vở tuồng bị chấm dứt ngay lúc đó, khi Mỹ trả lời thẳng Hiệp định 1973 đã bị quăng vào thùng rác khi VC bội ước, thì còn giá trị gì để mà đòi ? .

Câu chuyện khôi hài cũ rích năm nào, bỗng dưng mới đây được vực dậy từ sự việc, có một nhóm cựu chiến binh Mỹ tham dự cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990, bị hội chứng do ảnh hưởng chất độc, từ những kho vũ khí hóa học của Saddam Husein. Nhân đó, một nhóm luật sư Hoa Kỳ, đã xúi VC kiện Chính phủ mình ra Tòa Án Quốc Tế, về tội sử dụng chất độc màu da cam bị cấm tại chiến trường VN, khiến cho nhiều người cả nước, bị dị tật,dị dạng và mang nhiều chứng bệnh trầm kha đau khổ.

Có điều lạ, là các nạn nhân đều là phe ta (bộ đội-cán bộ) và gần như thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn . Tuyệt nhiên trong danh sách từ đầu tới cuối, không thấy ai nhắc tới một chữ về số phận của người miền Nam trong thời chiến, cũng như hằng triệu quân nhân, công chức, cán bộ, cảnh sát VNCH, từng trực diện với chất độc màu da cam, trên mọi chiến trường, khắp bốn vùng chiến thuật.

Cho nên ví dù hôi chứng chất độc hóa học là có thực, vậy trong biển khổ này ai mới đủ tư cách để được nhận ân huệ cũng như mọi bồi thường ? ' Lá lành đùm lá rách, nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng ' nhưng VC xưa nay vốn tham nhũng, gian ác, điêu ngoa, lật lộng, kinh nghiệm những lần Việt Kiều đóng góp cứu trợ các nạn nhân bị bão lụt trong nước, chắc sẽ khiến cho cộng đồng người Việt hải ngoại thức tỉnh. Phải giúp các nạn nhân khốn khổ trong nước ngày nay, là điều ai cũng phải làm. Nhưng nhớ là đừng bao giờ, để tiền bồi thường (nếu có), lọt vào đảng và bọn Việt gian cò mồi. Có như vậy chúng ta mới không hoài công và xấu hổ với đồng bào cật ruột, thấp cổ, bé họng, đang đêm ngày hoài đợi bóng voi của Quang TrungĐạiĐế trở về để giải phóng đất nước đang chìm đắm trong xích xiềng nô lệ của CSVN tư mấy chục năm qua, nhất là từ đầu năm 2011, nhân dân Bắc Phi, Trung Đông ồ ạt đứng dậy lật đổ những chế độ độc tài đảng trị tham nhũng như chế độ khủng bố hiện nay tại Trung Cộng, Bắc Hàn và Xã nghĩa thiên đàng VN.

1-HỘI CHỨNG CHẤT ĐỘC MÀU DA CAM:

Từ năm 1960-1975, Bắc Việt ồ ạt chuyển người và vũ khí các loại vào cưỡng chiếm Miền Nam VN, bằng con đường mòn Trường Sơn, băng ngang qua vĩ tuyến 17 trong tỉnh Quảng Trị. Hoa Kỳ vàĐồng Minh lúc đó đang tham chiến giúp QLVNCH chống cuộc xâm lăng củaĐệ Tam Cọng Sản Quốc Tế.Để ngăn chận , quân đội Mỹ đã sử dụng một loại thuốc diệt cỏ, phá rừng với mục đích phát quang , để các lực lượng bộ binh dễ tìm ra dấu vết của giặc. Một chiến dịch mang tên Ranch Hand, bắt đầu từ năm 1961 thời Tổng Thống J.F.Kenedy, thi hành công cuộc khai quang trên tại các vùng rừng núi, hầu như không có người ở, thuộc Vùng 1 và 2 chiến thuật, cùng một vài tỉnh tại Vùng 3 như Phước Long, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Phước Thành..

Theo tài liệu của Bộ quốc phòng Mỹ thì thời gian từ năm 1961-1971, đã rải xuống các khu rừng và những mật khu VC, chừng 44.338 triệu lít thuốc khai quang diệt cỏ có màu da cam, gần 20 triệu lít chất trắng và 8 triệu lít loại màu xanh.

Do tính cách tuyên truyền để đòi bồi thường, nên VC la lối và gọi Mỹ sử dụng chiến tranh hóa học. Thật sự trong cuộc chiến vừa qua, không phải chỉ có bộ đội, cán bộ Bắc Việt và người dân bị VC cưởng áp theo chúng tại các mật khu, rừng núi Trường Sơn là nạn nhân của thuốc diệt cỏ. Chính QLVNCH vàĐồng Minh, cũng đã có mặt thường xuyên trong vùng bị khai quang. Nhưng lạ thay, tại sao Họ không hề hấn gì, mà chỉ có VC và thế hệ sinh sau, đẻ muộn, phần lớn thuộc tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, BìnhĐịnh.. lại mang hội chứng chất độc màu da cam ?

Theo sử liệu tính đến đầu năm 1973 khi có hiệp định Ba Lê ngưng bắn, thì gần như VNCH kiểm soát được hầu hết lãnh thổ và dân số. VC chỉ chiếm được rừng núi hoang vu và một số người Thượng. Tại Quảng Trị, sau trân 1972, VC chiếm được quậnĐông Hà, Gio Linh, Cam Lộ và Hương Hoá cùng với 58.646 dân bị kẹt không chạy được. Tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, VC chỉ điếm được phần rừng núi phía tây rặng Trường Sơn, còn tất cả 918.360 dân và 10 quận cùng Huế đều do chính phủ kiểm soát. Tỉnh Quảng Nam cho tới đầu năm 1975, mới bị mất quận ThườngĐức và mỏ than Nông Sơn. Tại Vùng 2 chiến thuật, tỉnh BìnhĐịnh có nhiều VC nhất, nhưng chúng cũng chỉ chiếm được rừng núi và người Thượng. Nói chung, người Mỹ có rải thuốc diệt cỏ khai quang , thì cũng nơi rừng núi không có người ở. Cho nên trong suốt cuộc chiến 1955-1975 ở miền Nam , nạn nhân chiến cuộc phần lớn do bom đạn của 2 phía, không thấy ai bị sinh non, quái thai, dị tật.. dù ở nông thôn, hay trong tỉnh Quảng Trị đầy đạn bom chết chóc.

2- AI GÂY RA CHIẾN TRANH,ĐỂ MỸ RẢI CHẤTĐỘC MÀU DA CAM ?

Sau khi được Lào và Kampuchia đồng thuận, ngày 19-5-1959 Hồ Chí Minh nhân danh Trung ƯơngĐảng VC, ra lệnh mở đường rừng Trường Sơn và đường biển, để chuyển quân và vũ khí của Nga-Tàu và khối Cộng Sản, vào miền nam xâm lăng VNCH. Con đường mang bí danh 559 do Võ Bẩm khai phá đầu tiên.Đường gồm ba giai đoạn, đầu tiên là đường bô, gùi thồ. Từ năm 1964-1971 giai đoạn cơ giới hóa. Từ 1971-1975, thành xa lộ đất với đủ cầu cống và ống dẫn dầu. Song song còn có đường biển 759 nhưng chỉ hoạt động thời gian ngắn thì dẹp, vì bị Hải Quân Hoa Kỳ và VNCH ngăn chận.Để hoàn thành giấc mộng xâm lăng, từ năm 1964Đồng Sĩ Nguyên thay thếĐinhĐức Thiện và Phan Trọng Tuệ, chỉ huy đường 559. Tại đây, VC luôn duy trì 120.000 bộ đội chiến đấu, gồm 8 Sư đoàn bộ binh, 10.000 nam nữ Thanh Niên Xung Phong và 1 Sư đoàn phòng không của Bộ TTM biệt phái.

Năm 1973 sau hiệp ước ngưng bắn, VC công khai di chuyển quân và vũ khí đêm ngày trên đường. Bỏ cung trạm, hằng sư đoàn lính và xe cộ, di chuyển thẳng từ Bắc vào Nam. Trước kia muốn hoàn thành một chuyến đi, phải mất 4 tháng. Từ năm 1973-1975, chỉ cần 12 ngày. Phụ trách chuyên chở, VC thành lập 2 Sư đoàn vận tải , dành choĐoàn 559 với hơn 10.000 xe cộ đủ loại. Nói chung tới đầu năm 1975, VC đã xây dựng được con đường rừng dã chiến Trường Sơn, xuyên qua Lào, Nam VN và Kapuchia dài 16.700 cây số, cộng thêm 1500 km rải đá, 200 km tráng nhựa.

Song song có 1500 km ống dẫn dầu, 1350 km đường dây truyền tin , 3800 km đường giao liên và 500 km đường sông. TheoĐồng Sĩ Nguyên, đã có hơn 19.000 người chết và hơn 30.000 khác bị thương tại đây nhưng bi thảm nhất là thân phận những người con gái trong lực lượng Thanh Niên Xung Phong, cũng nhưĐạiĐội Pháo Nữ Ngư Thủy của tỉnh Quảng Bình. Họ vì sợ chế độ hộ khẩu, công an và tem phiếu thực phẩm, nên hy sinh cho đảng, tiêu phí cả một đời con gái tuổi trăng tròn, dưới mưa bom trời đạn. Rốt cục ngày VC đại công cáo thành, chiếm trọn được của cải vật chất miền Nam. Theo Huỳnh văn Mỹ, văn công đảng viết trên báo, thì những kẻ may mắn còn sống sót, sau khi nhận được bằng khen là chiến sĩ gái xuất sắc, những cô gái quê miền Bắc, đa số vào chùa làm sư nữ, riêng những người làng quê xóm biển Quảng Bình, thì sống goá bụa trọn đời, vì sau cuộc chiến , ai cũng già nua đen đũi, thì có ma nào dám ngó ?

Chưa hết đâu, chẳng những thanh niên nam nữ phải ra tuyền tuyến hy sinh cho đảng, mà các bà mẹ cũng phải hy sinh. ' Mẹ đào hầm , mẹ đào hầm từ lúc tuổi còn xanh, nay mẹ đã phơi phới tóc bạc mà vẫn cũng phải đào hầm dưới bom đạn'.Đó là một đoạn trong bài vè tuyên truyền của đảng . Từ năm 1956 ngay khi mở lại cuộc chiến xâm lăng tại miền nam, Hồ Chí Minh thay vì di tản dân chúng tại làng Vĩnh Mốc, thuộc quận Vĩnh Linh, bên kia cầu Hiền Lương, tỉnh Quảng Trị, thuộc khu phi quân sự, để đồng bào có thể tránh được bom đạn vô tình của cả hai phía.

Nhưng không Hồ đã bắt dân chúng phải bám trụ tại đây, biến cả làng Vĩnh Mộc thành địa đạo, ăn, ngủ, sinh sống và chết ngay trong lòng đất. Có vậy mới dòm ngó được biểnĐông, Cửa Tùng và tiếp tế cho du kích bộ đội hoạt động tại Cồn Cỏ sát nách. Theo một số du khách xuống thăm địa đạo Vĩnh Mốc, thì chỉ mới sống ở địa ngục trần gian có 15 phút, mà ai cũng đã ôm ngực khó thở. Vậy mà Hồ và đảng, bắt ép dân làng phải sống dưới nhiều năm, đến độ sinh được 17 trẻ trai gái. Cuộc sống hiện thực như vậy, không sinh quái thai, dị tật hay mang hận bẩm sinh, thì đó mới là chuyện lạ trên đời.

Theo tài liệu, thì làng Vĩnh Mốc có diện tích hơn 3km2 mà 1/3 là địa đạo. Nơi này truớc 1975, là chỗ sinh sống của 237 gia đình với hơn 1196 nạn nhân.Đã hứng chịu 9680 tấn bom đạn vì đảng không cho di tản, phải sống chui trong lòng đất suốt 600 ngày đêm. Cũng tại đây qua những tấm bia thịt, VC đã chuyển đươc vào nam 3350 tấn hàng hóa và 11.500 tấn hàng cho bộ đội , trên đảo Cồn Cỏ.

Khác với Vĩnh Mốc nằm ngay bờ biển, địa đạo Củ Chi nằm dưới lòng đất thuộc các khu rừng già Hó Bò, Bời Lời, Bến Súc, ThanhĐiền.. nhưng không liên tục mà riêng rẽ đứt đoạn và gần như có đủ trong 15 xã của quận Củ Chi như Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, NhuậnĐức, Trung Lập, Phú HòaĐông, Tân ThạnhĐông, Trung An, Phước Vĩnh Ninh, Phước Thạnh, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Tân Thông Hội, Tân Phú Trung và Tân An Hội. Nói chung điạ đạo Củ Chi đã có thời kỳ chống Pháp.

Bắt đầu năm 1960, cục R quanh quẩn đóng tại Tây Ninh sát biên giới Việt Miên, nên các hầm hố trong địa đạo tại Củ Chi được bới mốc sửa sang trở lại, để tiện cho cán bộ đảng trốn và tẩu thoát, khi có pháo kích, giội bom hay hành quân càn quét. Vì hầu hết dân chúng vùng này đều về an cư lập nghiệp trong vùng quốc gia, nên không được đảng nhắc tới trong danh sách nạn nhân chất độc màu da cam. Ngoài ra tại An Thới, Trảng Bàng Tây Ninh cũng có một địa đạo nhưng không quan trọng. Trên đảo Phú Quốc, VC cũng đào một con đường hầm dài từ trại Tù Quân Cây Dừa ra biển, để vượt ngục. Tất cả đều thấm máu người, lót đường cho đảng được giàu có, tỷ phú như ngày nay.

Nhưng éo le và bi thảm nhất vẫn là đồng bào Quảng Trị, khi bị lịch sử chọn làm nơi đối đầu bom đạn, khiến cho người dân của cả hai phe, phải gánh chịu biển lệ, núi xương, sông máu và trời sầu hận khổ. Những địa danh một thời long trời đất lở như Hiên Lương, Bến Hải, Vĩnh Mốc, Cồn Cỏ, Cổ Thành, Quốc Lộ 9, Khe Sanh, Caroll, Tà Cơn, Dốc Miếu, Cồn Tiên và nhất là con đường sông máu mang tênĐại Lộ Kinh Hoàng, ngàn năm muôn thuở sống mãi trong Việt Sử, nói lên một tai kiếp của dân tộc, do Hồ và đảng VC cõng rắn về cắn gà nhà.

Cả con sông Thach Hãn hiền hòa khả ái cũng đầy vết bom dạn, ngay từ đầu nguồn qua các nhánh khe Tà Lụ, Ba Lòng, Ái Tử, Vĩnh Phước, VĩnhĐịnh, Bích La, Bến Hải và Triệu Hải, trước khi chảy vào biểnĐông. Cổ thành Dinh Công Tráng một di tích lịch sử, có từ năm 1823 thời vua Minh Mạng, cũng là nơi chứng kiến bom đạn và mạng người lá rụng của hai phía, trong 82 ngày đêm giựt dành trong năm 1972. Rốt cục những người lính Dù,TQLC, BDQ, Thiết Giáp, SD1,2,3 và ngay cả DPQ, NQ Quảng Trị đã chiến đấu liên tục, để cắm lại ngọn cờ quốc dân, màu vàng 3 sọc đỏ trên nóc cổ thành thân yêu, cho tới tháng 4-1975 mới lọt vào tay giặc Cộng. Dân chúng sống lầm than khổ ải như thế, thì đâu cần phải bị hội chứng chất độc màu da cam, da vàng.. mới bị quái thai, bạo bệnh như VC tuyên truyền , để đòi tiền bồi thường.

3- CHẤTĐỘC MÀU DA CAM :

Hay ' Agent Orange ' thực chất chỉ là một loại thuốc diệt cỏ thông thường , được sử dụng tự do trên thị trường, trong lãnh vực nông nghiệp. Trong thời gian tham chiến tại VN, chính thức từ năm 1961-1971, quân đội Mỹ đã đem rải xuống rừng rậm, núi cao và những mật khu, tình nghi có VC trú ẩn, để giết cỏ, diệt cây, khai quang địa thế cho trống trải, an ninh.

Đây là một hỗn hợp hai thành phần có trọng lương ngang nhau (50%), gồm chất 2,4 D là dạng viết tắt của Dichloro Phenoxy Acetic Acid. Và chất 2,4,5 T cũng là dạng viết tắt của Tetracloro Phenoxy Acetic Acid. Qua quá trình chế tạo , trong thuốc diệt cỏ màu da cam từ phản ứng tự nhiên khi sinh chất 2,4,5 T, đã có một chất hóa học khác đi kèm.Đó là chất 2,3,7,8 dạng viết tắt của Tetrachloro Dibenroốp-Dioxin. Chất này thường được gọi tắt là Dioxin.

Còn chất trắng là một hỗn hợp gồm chất 2,4D và Picloram. Theo các nhà nghiên cứu, thì chất màu da cam cũng như màu trắng, có tác dụng làm cây rụng lá, để phát quang rừng cây kể cả rừng đước, bần bị ngập mặn tại Năm Căn, U Minh tỉnh An Xuyên. Cây cỏ sẽ bắt đầu khô héo, chết mòn sau vài ba ngày. Riêng chất xanh Cacodylic Acid rải trong các mật khu, mục đích cũng chỉ khai quang và diệt trừ VC, lúc đó đang làm giặc tại chiến trường miền Nam mà thôi.

Ngoài ta theo các nhà khoa học hiện nay, thì các chất hóa học được dùng làm thuốc diệt cỏ và khai quang, chỉ tồn tại một thời gian không lâu và mất tác dụng vì bị phân hủy, từ 1 tháng tới 1 năm, sau khi được rải. Riêng sự tồn tại của Dioxin thì đến nay vẫn còn bàn cải, không có ý kiến thống nhất giữa các nhà khoa học, cho nên cũng không biết đâu mà mò, khi kèn thổi ngược, trống đánh xuôi.

Có điều VC không bao giờ xác nhận là ở VN từ sau năm 1975, tình trạng vệ sinh ăn ở rất là xuống cấp. Thêm vào đó, đảng và cán bộ tham nhũng, ham tiền, nhắm mắt mở khẩu, khai quan cho thực phẩm, hàng hóa của Trung Cộng tràn ngập thị trường, từ thành tới miền quê hẻo lánh.Điển hình nhất, là trong khi cả nước VN bị điêu đứng vì nạn cúm gà, chết người, chết gia súc.. thì đảng tha hồ cho Gà cúm Trung Cộng, ào ào vào VN vô tội va. Vì vậy, lời phán quyết của giới hữu trách cũng như dư luận trong và ngoài nước, xác quyết rằng : Người VN bị ung thư, bạo bệnh, sinh non, quái thai, dị tật bẩm sinh, không phải là do ảnh hường của chất Da Cam., mà là bị Hội Chứng NhiễmĐộc Thưrc Phẩm, Trái Cây, Hải Sản và ngay tới Bánh Trung Thu, được nhập cảng công khai như buôn lậu của Trung Cộng.

Để rõ ràng nhất về cái gọi là hội chứng màu da cam không ai hơn Việt Kiều, qua những hậu quả bệnh hoạn không tránh được, từ những thức ăn đường phố Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ Phan Thiết, cho tới trong bệnh viện, phòng sửa sắc đẹp và kinh khiếp nhất là tại các nghĩa trang cũng như phòng chụp quang tuyến X khắp các đô thị. Mấy điều này, không thấy VC nhắc tới bao giờ, cũng như không nghe rằng là Lính ' Ngụy' ở hải ngoại, cũng bị chất độc màu da cam, mà chỉ nói tới lính Mỹ, dù rằng họ không dính tới vụ này.

4 -VC KIỆN MỸ,ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI QUA HỘI CHỨNG AGENT ORANGE

Mấy năm nay qua lời xúi dại của bọn Luật Sư Mỹ chỉ biết có tiền, cùng với đám Việt Gian Việt Kiều bất lương nên CSVN đã dựng đứng lên một vở tuồng ' Kiện Mỹ vì tội rải chất độc hóa học xuống lãnh thổ VC ' gây hội chứng bệnh tật và sinh sản bất bình thường, cho hằng triệu gia đình. Tuy phong trào rất to lớn, có hằng trăm ngàn cán bộ đảng ký tên, cộng thêm nhiều tai to mặt lớn phe ta ở hải ngoại. Và dù đảng đã phát đơn kiện Mỹ tại Tòa Án Liên Bang ở Nữu Ước nhưng tới nay, 30 công Ty của Mỹ, trong số này có những tên tuổi như Monsanto, Dow Chemical và Occidental Petroleum.. vẫn cười khì, im hơi lặng tiếng.

Thực tế là Mỹ có sử dụng chất Agent Orange tại VN trong chiến tranh từ 1961-1971. Chất này được trộn với dầu lửa hay xăng cũng như dầu cặn, rồi dùng máy bay xịt xuống vùng cần khai quang. Và dù Dioxin đã là tác nhân gây những bệnh tật liên hệ tới sự miễn nhiễm, sinh sản, hormone và các loại bệnh ung thư. Nhưng có một điều mà VC và đám luật sư Mỹ, không để ý, là DIOXIN tự nó luôn có thể xâm nhập vào cơ thể người một cách dễ dàng, qua khói bếp, khói thuốc, khói xe.. kể cả ăn thịt cá, uống sửa không vệ sinh, cũng bị nhiễm chất độc Dioxin. Tóm lại chất hóa học này, không cần phải tạo ra trong thuốc khai quang, diệt cỏ, mà tự nó cũng cấu thành qua các cuộc đốt rừng, hưởng khói xe, khói thuốc và thực phẩm bị nhiễm độc.

Mới đây Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, một nhà khoa học làm việc trong Bộ Công Nghệ VN cho biết : ' Cam sản xuất tại Hà Giang VN có chứa chất 2,4-D kể cả Cam nhập của Trung Cộng, cũng chứa 2,4-D và 2,4,4-T'. Lập tức nhà khoa học trên bị mất việc và vào tù, vì đã dám công bố sự thật, cho thấy Thực Phẩm của Trung Công, mới là ổ dịch bệnh, tác nhân gây thảm kịch tại VN trong bấy lâu nay.

Tóm lại như nhận xét của Thẩm Phán Weinstein, người đã thụ lý vụ cựu lính Mỹ từng tham chiến tại VN, kiện các công ty Mỹ sản xuất thuốc trừ diệt cỏ, Nhưng dù biết trước các nguyên đơn sẽ không bao giờ thắng kiện, ông vẫn yêu cầu bị cáo vì nhân đạo, đã chịu xuất hơn 180 triệu mỹ kim để bồi thường cho những người kia. Vụ kiện kỳ này, do nhóm luật sư Mỹ mà đầu đảng là Constantine Kokoris hợp với Dương Quỳnh Hoa (trươqc khi chết xác nhận mình không hề bị nhiểm chất độc màu da cam, mà chỉ bị đảng bắt buộc) đứng đơn kiện Mỹ. Có điều tới nay, qua dư luận trong cũng như ngoài nước, tấn tuồng đã biến chuyển từ nguyên tắc khoa học và công pháp quốc tế, thành trận giặc tuyên truyền rẽ tiền, như lời tuyên bố của nữ GiámĐốc XưởngĐẻ Từ Dũ Sài Gòn :' không cần xét gì cả, thấy bệnh là phải bồi thường'. Cho nên cũng như lần trước, người xử án là Jack Weinstein, chắc cũng phải theo cách trước, là yêu cầu các bị cáo bỏ ra một số tiền, để giúp các nạn nhân đau khổ trong địa ngục VC, dù biết nguyên nhân bị bệnh của họ, tới nay cũng chỉ có trời mới biết.

Chừng nào VC mới bỏ cái tật, giựt chụp khi có cơ hội, làm như Hoa Kỳ ngu như chúng. Chi tội cho nạn nhân không biết khi Mỹ bồi thường tiền (nếu có), họ và gia đình có hưởng gì không hay tất cả lại như nước xuôi dòng' từ VN được đảng gửi vào ngân hàng, rồi dần, dần rửa sạch, để mua nhà đất, mở tiệm vàng, công ty hãng xưởng.. Buồn ơi thân phận người VN.

Và đúng như lời tuyên bố của Thẩm Phán Mỹ từng xử các vụ án có liên can tới ' Hội Chứng Chiến Tranh ', rằng mọi việc rồi sẽ không đi tới đâu cả nhưng nguyên đơn vẫn có một số tiền bồi thường dưới dạng du di bên ngoài cánh cửa của tòa án. Số tiền này cũng không phải nhỏ, sẽ được VC chia cho bọn luật sư bày mưu thiết kế, còn lại ẵm trọn.

Lần cuối tòa án Mỹ đã bác đơn kiện của CSVN trong dịp Nguyễn Minh Triết sang Mỹ vào tháng 6-2007. Theo tiết lộ mới đây của báo chí Mỹ, thì vấn đề ' Hội chứng chất độc màu da cam ' mà VC đang làm lớn chuyện với Mỹ, thực chất chỉ là một món hàng chính trị mà đảng dùng để trả đủa chính phủ Hoa Kỳ qua hai vấn đề nhức nhối ' nhân quyền tại VN ' và biểu tượng ' Cờ Vàng Ba SọcĐỏ ' của CộngĐồng Người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại.

Nay thì ai cũng rõ căn nguyên những chứng bệnh lạ tại VN sau tháng 5-1975 tất cả đều là sản phẩm của Trung Cộng qua hậu chứng ngộ độc từ thực phẩm Tàu & Việt Cộng.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 4-2011

Mường Giang

Luận điệu dối trá

Vừa qua trong cuộc họp báo của Bộ ngoại giao Việt Nam, để trả lời cho những chỉ trích việc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đã và đang xảy ra tại Việt Nam từ Bộ ngoại giao Hoa Kỳ – Anh Quốc và Châu Âu, Nguyễn Phương Nga phát ngôn viên Bộ ngoại giao Việt Nam đã nói rằng: Tại Việt Nam nhân quyền được thể hiện trong Hiến Pháp – Luật pháp và được áp dụng, thực thi trong cuộc sống. Ở VN không có tù nhân lương tâm, tôn giáo hay chính trị.

Nhân quyền. Babui

Tôi nhận thấy rằng mình đủ tư cách và trách nhiệm để phản bác luận điểm đó bằng chính những gì xảy ra với tôi, với gia đình tôi. Tôi không trích dẫn một nguồn thông tin nào để cho bà Nguyễn phương Nga và CSVN khỏi phải nói rằng “thông tin đó là sai lệch” là “thiếu khách quan”

Năm 1992 tôi viết một tập truyện có tên là “Di Tản” và viết thư nhờ Đài VOA chuyển tập truyện này ra Hải ngoại để cộng đồng VN phổ biến cho công luận… thư của tôi bị kiểm duyệt và ngày 27/10/1992 Công an thuộc Bộ nội vụ phối hợp với công an tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và công an thị xã Tam Kỳ, đến tại nhà riêng của tôi ở xã Tam Phú và thị xã Tam Kỳ để khám xét. Công an còn khám xét nhà của anh trai tôi là Huỳnh Minh (Xã Tam Thanh – Tam Kỳ – Quãng Nam) mặc dù không hề có lệnh khám xét nhà anh trai tôi.

Khi khám xét nhà, công an đã thu giữ toàn bộ những tác phẩm của tôi viết, còn ở dạng bản thảo. Tôi bị tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng tuyên phạt 10 năm tù giam và 4 năm quản chế tại địa phương với tội danh: “Tuyên truyền chống chế độ Xã hội Chủ nghĩa”.

Việc làm này của chế độ CSVN không những vi phạm luật pháp VN mà còn vi phạm luật pháp quốc tế vì tháng 10/1992 Hiến pháp mới của chế độ CSVN đã có hiệu lực và trong bản Hiến pháp năm 1992 có điều 69 minh định như sau: “Công dân VN có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật”.

Và năm 1992 là đúng 10 năm CSVN tham gia công ước quốc tế về quyền Dân sự và chính trị (năm 1982) – và trước đó nữa họ đã tham gia Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền.

Việc kiểm duyệt thư từ cá nhân tôi để tiến hành việc bắt bớ là vi phạm quyền tự do bí mật thư tín và dùng nó để chống lại tôi, kết án tôi cũng là vi phạm của luật pháp VN cho nên bản án này bất hợp pháp.

Ngoài việc CSVN vi phạm luật pháp VN và quốc tế, họ còn vi phạm cả đạo đức làm người.

Tôi bị bắt năm 1992 khi các con tôi còn rất nhỏ: Thục Vy 7 tuổi – Khánh Vy 5 tuổi – Trọng Hiếu 3 tuổi. Trong thời gian 10 năm trong nhà tù tôi bị ngược đãi, khủng bố, đánh đập. Sau khi mãn hạn tù tôi trở về với một xác thân đầy bệnh hoạn và những biến chứng của nó.

Khi tôi trở về, tôi được người nhà kể cho nghe là: Những ngày đầu khi tôi bị bắt, các con tôi bàng hoàng sợ hãi vì các cháu mất mẹ hai năm trước chỉ còn có ba. Thục Vy không muốn đến trường nữa, cháu bần thần vì sự khủng hoảng, may mắn lúc đó cô giáo lớp hai của Thục Vy là người bà con của má cháu nên cô đến nhà chở Thục Vy đi học, cô vỗ về an ủi, nếu không có cô giáo đó, Thục Vy đã nghỉ học từ năm lớp 2…

Và tôi cũng nghe kể lại rằng: Mỗi chiều các con tôi ngồi trên mảnh sân nhỏ đợi ba về, thỉnh thoảng chúng dắt nhau ra nhìn con đường đất đỏ chạy dài hun hút để tìm bóng dáng của ba!

Những vết thương trên thân thể hay bệnh tật có thể được chữa lành, còn những vết thương trong tâm hồn tôi và các con tôi vẫn còn nhức nhối vì không phải do cố chấp hay thù hận mà do chính thái độ của nhà cầm quyền.

Họ không hề nhìn nhận sự sai trái của họ và họ vẫn tiếp tục cười nhạo trên nỗi đau của người khác. Cũng giống như bà Nguyễn Phương Nga đã nói dối trá một cách trắng trợn về sự vi phạm nhân quyền của chế độ CSVN. Nhưng điều đáng xấu hổ và ghê tởm là bà Nguyễn Phương Nga đã nói dối bằng một thái độ rất tự nhiên thậm chí là tự hào nữa! Chế độ CSVN bảo vệ quyền lực bằng sự dối trá và tàn ác. Bao lâu sự dối trá và tàn ác còn “lên ngôi” ở quê hương VN thì ngày đó dân tộc này vẫn còn lầm than với kiếp nô lệ.

Tự do ngôn luận là phương tiện đánh đổ sự bưng bít thông tin, lật đổ sự dối trá và đem cái ác ra trước ánh sáng. Tự do ngôn luận là bước đi đầu tiên để tiến đến một xã hội minh bạch và một xã hội minh bạch sẽ tự tìm con đường chuyển hóa đến dân chủ.Khi quyền tự do ngôn luận chưa được thực hiện thì người dân VN (kể cả các nhà Dân chủ) vẫn cứ bị bịt mồm, cái ác vẫn ẩn nấp và được sự bảo vệ của bóng tối, vì vậy nó tha hồ tác yêu tác quái mà không bị trừng phạt.

Chúng ta kêu gọi những ai là nạn nhân của sự đàn áp, đe dọa, khủng bố bởi nhà cầm quyền CSVN hãy mạnh mẽ trình bày trường hợp của mình cho công luận, để thế giới văn minh được biết về thực trạng nhân quyền tại VN, nếu chúng ta vì sự sợ hải mà lặng thinh vô tình chúng ta đã tiếp tay nuôi dưỡng sự sai trái và tội ác của chế độ. Chế độ CSVN vẫn dọa mọi người rằng “Nhật nguyệt chi minh,nan chiếu phúc bồn chi địa”. Điều này không còn đúng trong thời đại Internet nữa, mọi bưng bít thông tin đã bị phá vỡ, tội ác của CSVN vẫn hằng ngày,hằng giờ bị lôi ra ánh sáng

Mấy hôm nay không chỉ có tôi mà tất cả những ai đang đấu tranh để giải thể chế độ CSVN (ở trong và ngoài nước) đều vui mừng vì chính phủ Hoa Kỳ sắp bổ nhiệm vị Đại sứ mới đến VN. Ông David Sead. Trong buổi điều trần của ông trước Thượng viện, ông đã cho biết mục đích của ông trong nhiệm kỳ Đại sứ tại VN là nỗ lực thăng tiến nhân quyền. Có thể nói chính phủ của TT Obama coi nhân quyền là ưu tiên trong quan hệ với CSVN trong những năm sắp tới.

Đây là cái nhìn mang tính thực dụng của người Mỹ, vì sau khi các chế độ độc tài ở Bắc Phi bị sụp đổ hoặc đang lung lay và làn sóng dân chủ đang lan tràn ngày càng mạnh mẽ tại các quốc gia độc tài ở Trung Đông, Hoa Kỳ và Phương Tây đã nhận thức được rằng quan hệ với các chế độ độc tài dù là toàn trị như CSVN hay Quân phiệt như Miến Điện hoặc quân chủ tập quyền như Ả rập Xê út là mối quan hệ không bền vững, đi ngược lại nguyện vọng của người dân các nước đó, ngược xu thế thời đại và cũng không phù hợp với quyền lợi của nước Mỹ xét trong trường kỳ.

CSVN dùng chính sách đối ngoại “đu dây”, họ hi vọng rằng hợp tác(hoặc giả vờ hợp tác) với Hoa Kỳ trên Hồ sơ kinh tế và an ninh, đổi lại Hoa Kỳ sẽ “mắt nhắm,mắt mở” trên hồ sơ Nhân quyền, để CSVN lộng hành tha hồ vi phạm. Chính sách mới của nước Mỹ đối với VN thông qua việc bổ nghiệm ông Đại sự mới, là một thông điệp cho CSVN biết là nhân quyền sẽ được ưu tiên hàng đầu trong quan hệ Việt – Mỹ.

Trong cục diện hiện nay trên Thế giới, khi mà làn sóng dân chủ bùng nổ ở Bắc Phi và Trung đông (những nơi không ai ngờ tới) cộng với chính sách ưu tiên cho nhân quyền của chính phủ Mỹ trên toàn Thế giới, chắc chắn sẽ làm cho Ban lãnh đạo Đảng CSVN mất ăn mất ngủ.

Xin được gởi đến Ban lãnh đạo đảng CSVN bài báo trên tờ The Star (Indonesia) mang tựa đề “ĐỪNG BAO GIỜ NÓI LÀ KHÔNG BAO GIỜ “ Tác giả bài báo cho rằng,với những “CHÍNH QUYỀN BÔ LÃO” hiện nay tại Đông nam Á, thì không phải là không có khả năng xuất hiện những phong trào phản kháng. Chính quyền các nước Đông nam Á cần phải biết lắng nghe tuổi trẻ, nếu không muốn bị làn sóng phẫn nộ tương tự như những gì đang diễn ra trên các đường phố Ả rập quét sạch” (RFI)

© Huỳnh Ngọc Tuấn

Bài Xem Nhiều