We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 15 April 2011

BẢY CHUYỆN ‘LẠ’ CỦA VIỆT NAM


‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người’ và ‘Chiếc Nôi Của Nhân Loại’ là hai tiếng nổ phát xuất từ các kho đạn thiên đường cộng sản. Bọn rừng rú đã dốt lại dùng những chữ dao to búa lớn để lòe thiên hạ thì không thiếu gì chuyện lạ. Chắc chắn rồi đây đảng việt gian cộng sản sẽ đoạt giải vô địch thế giới về tất cả các bộ môn ‘nổ’ và ‘nói phét’. Từ những chuyện thường ngày được nhắc đến mới đây như ‘người lạ’, ‘tàu lạ’ đến ‘bệnh lạ’ ‘thuốc lạ’ ‘thức ăn lạ’…. nhưng thực tế chẳng có gì lạ cả ! Chỉ vì sợ phạm húy, từ quan đến dân không ai dám động tới hai chữ ‘thằng chệt’, nếu người nào vô tình nhắc đến có thể bị đi tù hay mất chỗ đội nón (cối) !



Ai cũng biết rằng, sau ngày ‘thằng chệt’ ngang nhiên kéo quân vào đô hộ Việt Nam theo lời mời của tập đoàn việt gian, cộng sản phải nhập cảng hàng ngàn tấn băng keo đặc biệt để dán mõn từ hàng phó thường dân cho đến bọn quan to súng dài. Từ đó, những gì liên quan đến các hành động ăn cướp giết người của bọn Tàu phù thì phải gọi là chuyện ‘lạ’ từ trời rơi xuống. Không ai được quyền thắc mắc và nhắc đến tên cúng cơm của đồng chí vĩ đại là bọn ‘Tàu ô’ hay còn gọi ‘thằng Chệt’ ! Những chuyện vưà nêu trên là một số chuyện lạ có tính cách ‘nội bộ’ Việt Nam, và chắc chắn trong tương lai, các vị học giả sẽ viết thêm nhiều chuyện lạ nữa để dành cho các thế hệ mai sau. Bài viết hôm nay, tôi xin phép đưa ra bảy chuyện ‘lạ’ có tầm ‘quốc tế’ để giúp cho thế giới mua vui cũng như các bạn trẻ hải ngoại tìm đọc, đồng thời để quý vị giải trí vài phút trong cữ café sáng hay sau một ngày làm việc mệt nhọc.



1. Chữa hoang : Xứ ‘thằng chệt’ trọng nam khinh nữ, do đó con gái sinh ra, nếu cần thì bóp cổ vứt sông là xong chuyện. Vì vậy, việc thiếu đàn bà là vấn nạn trầm trọng của một nước với 1 tỷ 400 triệu người mà trên hai phần ba là đàn ông. Nhưng bọn chúng đã giải quyết êm đẹp bằng cách đưa hàng chục sư đoàn quân đội nhân dân, bọn công an cũng như khuyến khích hàng vạn đàn ông điên khùng bệnh hoạn qua Việt Nam, vừa để giải quyết sinh lý vừa gầy giống… nhằm hợp thức hóa vùng đất đã tịếp thu từ tay bọn cộng sản đàn em ! Chỉ tội cho thân phận đàn bà con gái Việt Nam, lấy thằng chệt nhưng không thể làm hôn thú với đám người ‘lạ’ vô danh ! Rồi vài nằm sau, hàng chục ngàn thằng chệt con chào đời phải mang họ mẹ vì cha là người ‘lạ’ !!! Như vậy Việt Nam sẽ trở thành vô địch thế giới vì có đến hàng trăm ngàn con gái nhà lành mang bầu chính thức nhưng lại bị tiếng làm điếm đẻ con….với người lạ !



2. Dân kho đạn : Không biết số lượng kho đạn tại Miền Bắc có bao nhiêu nhưng dân chúng người nào cũng nổ như bắp rang, nhất là lúc chạy vào hôi của tại Miền Nam ngay sau ngày 30.4.1975. Tôi còn nhớ trong thời gian đi tù, bầy vẹt chính trị cũng như các chú ngố quản giáo đôi lúc hăng tiết vịt, chúng trả lời những câu hỏi ‘thật đểu’ do ‘lính ngụy’ nêu ra. Ví dụ như đề cập đến xe hơi ở Miền Bắc thì được các chú ngố vênh váo trả lời rằng : ‘Ô tô thì ngoài Bắc thiếu gì, chúng chạy đầy đường không còn chỗ cho người đi bộ’. Khi được hỏi đến thực phẩm thì được trả lời : ‘Heo, bò, gà, vịt hằng hà sa số ! Tha hồ ăn, hàng dư thừa phải đem biếu không cho Trung Quốc vĩ đại’…



Và còn một chuyện động trời nữa của cán ngố Miền Bắc, nếu trẻ con nghe được thì chắc chắn cười té ra trong quần : Số là trong thời gian ‘nín thở qua sông’ tại trại tù Kàtum, và, trong lúc kiểm điểm học tập chính trị theo từng tổ, một quản giáo đến tra khảo chữ ‘làm tình’ mà tôi đã gạt tên thượng úy chính trị viên tiểu đoàn, để tên nầy cao hứng đứng dậy vừa vỗ tay vừa hát đi hát lại cùng với anh em tù câu ‘Đêm thì giả gạo ngày vẫn làm tình’ (Đêm thì giả gạo ngày vẫn làm mùa – Bài hát Tiếng chày trên sóc Băm Bô). Sau đó bọn ănten báo cáo với tiểu đoàn ý nghĩa đểu cáng của tôi khi thay đổi vài chữ trong bài hát. Tôi bị gọi lên, tên chính trị viên đập bàn la hét : Địt mẹ mầy ! Đéo thì nói là đéo. Mày dùng chữ của đế quốc để bôi bác cách mạng. Mày hãy lói cho tao biết ‘nàm tình’ và đéo khác nhau ở chỗ lào ? Nhưng rồi chuyện cũng qua sau vài tờ tự kiểm cộng với một ngày bị nhốt trong thùng sắt…Nhưng tên quản giáo của khối còn căm chuyện nầy lắm, hôm nay ngày kiểm điểm của tổ là dịp để nó đến tra khảo tôi thêm một lần nữa. May thay, người bạn cùng tổ đã nhanh miệng đở đòn cho tôi khi tên cán ngố vừa xuất hiện: Thưa cán bộ, nghe nói bọn Mỹ đã lên đến cung trăng rồi phải không cán bộ ? Tên quản giáo trả lời thật nhanh rằng : Chưa chắc, để nhà nước hỏi chú Cuội xem thế nào ! Mấy anh em chúng tôi trố mắt nhìn, hắn nổi sùng nói một hơi : Chú Nguyễn Văn Cuội, gốc người Thanh Hóa của chúng ta, đã lên mặt trăng trước thằng Mỹ ! Thấy chúng tôi cười, hắn nóng mặt tiếp : Chú Cuội vì mê chị Hằng nên chú không trở về quả đất nữa. Kỳ lên lớp tới đồng chí chính trị tiểu đoàn sẽ giải thích sau !!! Thật hết ý kiến của dân kho đạn Miền Bắc.



Cũng chuyện nổ, cách đây vài năm, ‘vua’ nước Việt Nam, tên Nguyễn Minh Triết bị gậy ăn mày ở Mỹ, ngay sau ngày về, đã tuyên bố rằng chính y đã hoàn toàn thuyết phục được quốc hội Mỹ ! Mẹ khiếp, nổ ơi là nổ, rặn cả ngày chưa ra được chữ ‘No’ chữ ‘Yes’ mà nổ hơn cả đại pháo 175 ly. Còn nữa, mới đây bọn rừng rú tuyên bố rằng chúng ta ngang hàng với các cường quốc thế giới ! Thật không biết xấu hổ, khổ người thì đứng ngang thắt lưng quần người ta, bộ óc chỉ bằng hạt đậu, đầu không có một chữ làm vốn, tay chưa thắt được cái gút cà vạt và cũng chưa cột được sợi dây giày mà cứ mở miệng ra là đỉnh cao trí tuệ loài người và cái nôi văn hóa của nhân loại…



3. Vừa làm vua vừa kiêm ma cô dắt mối : Các vị nguyên thủ quốc gia đôi lúc đi thăm viếng nước ngoài thường dẫn theo đoàn tùy tùng kinh tế tài chánh để may ra còn ký thêm vài ba hợp đồng, như trường hợp Pháp mỗi khi đi qua Tàu hay Việt Nam… Bọn việt gian cộng sản cũng vậy, mỗi khi có dịp ra ngoại quốc, nhất là đi Mỹ, chúng thường dẫn theo một đoàn ngợm, ngồi chật cả chuyến bay mà chẳng làm được gì ngoài việc du hí và xài tiền. Riêng vai trò của vua Nguyễn Minh Triết, trước đây hai năm, ra ngoại quốc đã công khai rao bán thịt sống. Trường Cầu Muối dạy cho Nguyễn Minh Triết cách làm thương mãi thật đơn giản ; đến nơi nào chỉ cần kêu gọi giới đầu tư hãy vào làm ăn với Việt Nam vì Việt Nam có nhiều gái đẹp, tự nhiên chơi thoải mái mà giá cả lại rẻ như bèo. Như vậy là đủ ăn tiền cho một chuyến công du, cần gì phải tốn công sức để rặn từng chữ cho các chương trình kinh tế tài chánh thêm nhức đầu đau óc ! Đây là chuyện động trời trong giới chính trị, đáng ghi danh tranh giải vô địch thế giới về nghề ma cô dắt mối tại các động đĩ. Các trường đại học kinh tế thương mãi trên thế giới hãy nhanh tay mời cho bằng được Nguyễn Minh Triết về làm giáo sư giảng dạy môn ‘tiếp thị’ hiện đại của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, vì đây là bí quyết có một không hai trên hành tinh nầy.



4. Vay nợ : Vay nợ là chuyện của nhà nghèo, người nào túng thiếu tiền bạc để sống hoặc để giải quyết một việc gì ngoài khả năng dự trữ tài chánh nên buộc lòng phải đi vay. Ngược lại tại Việt Nam dưới thời đại Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người thì nguời đi vay nợ chính là những tên tỷ phú ! Điều nầy do ‘vua’ Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã thanh minh thanh nga và khẳng định với đám Vịt kiều yêu nước trong kỳ đại hội vừa qua tại Hà Nội rằng : Ở Việt Nam không có tham nhũng, nhất là đảng viên cán bộ nhà nước, tất cả hoàn toàn trong sạch. Xin đừng nghi oan mà tội nghiệp cho đảng viên và cán bộ nhà nước chúng tôi ! Số là, trong kho bạc quá nhiều tiền, để lâu ngày sợ mối cũng như mọt phá hoại, nên chúng tôi mượn đở đem về xài và gởi ra ngoại quốc cất giùm cho an toàn. Mượn lâu ngày không thấy ai đòi (!) do đó chúng tôi lại mượn thêm, rồi cứ tiếp tục mượn tiếp, mượn tiếp…Đó, đồng bào thấy không ? Chúng tôi có tham nhũng đâu, chỉ đơn giản là mượn tạm mà thôi !



Cũng chuyện nợ nữa, Việt Nam dưới thời cộng sản là con nợ từ làng trên xuống xóm dưới, từ xứ nầy qua quốc gia kia, từ tổ chức nầy đến tổ chức khác…Tập đoàn tham nhũng nhân danh nghèo đói, xây dựng và hiện đại hóa đất nước để mượn nợ khắp năm châu… Sau khi đánh bạc thua, làm ăn lỗ vốn thì chúng giở trò quỵt…Hãy ghi danh đảng việt gian cộng sản vào danh sách tranh chức vô địch ‘vô liêm sỉ’ và ‘quỵt nợ’ do thế giới sẽ tổ chức nay mai…



5. Bán nước : Không phải bán nước uống, nước đá, nước mía, nước cam, nuớc ngọt mà bán giang sơn tổ quốc Việt Nam. Chưa có một nhà vưa, nhà độc tài hay một chính thể nào mà giới lãnh đạo đất nước lại đi bán giang sơ tổ quốc cho kẻ thù. Độc nhất vô nhị chỉ có đảng cướp cộng sản Việt Nam. Từ tên già Hồ, Phạm văn Đồng nhượng biển cho Tàu phù để đổi lấy súng đạn đem về giết hại đồng bào ruột thịt Miền Nam. Tiếp đến tên Lê Khả Phiêu vì dính chàm vụ chơi gái do bọn Tàu phù dàn cảnh nên phải bàn một phần đất phía cực Bắn Việt Nam. Cuối cùng, tên Nguyễn Tấn Dũng cũng nhận tiền của thằng Chệt đễ trải thảm đỏ đỏ mời bọn Tàu đói vào khai thác Bauxiet tại Tây Nguyên. Từ lịch sử Đông Tây kim cổ, từ chốn đồ đá sơ khai cho đến các vùng văn minh hiện đại, chưa có một tập đoàn cai trị nào đi bán đất nước và tổ quốc của mình cho giặc để nhận tiền và đem vũ khí về giết hại chính đồng bào của mình.



6. Tiến sĩ danh van (viết không dấu): Chuyện nầy thì lạ đối với thế giới, vì tại các xứ tự do hiện nay những người tốt nghiệp tiến sĩ thường thuộc các ngành khoa học, kỹ thuật, xã hội, văn chương, nghiên cứu với các danh hiệu Ts Toán, Ts Vật Lý, Ts Hóa học..Ts Xã Hội Học, Ts Văn Chương, Ts Môi Trường vân vân…chứ chưa bao giờ nghe đến Tiến sĩ Danh Van. Nhưng tại Việt Nam thì bằng cấp nầy không thiếu gì. Đó là Tiến sĩ Đánh Vần (viết có dấu) hay còn gọi là Tiến sĩ Cầu Muối. Trường đại học nầy cấp bằng cho thí sinh qua sự lựa chọn rất chu đáo, nhất là bậc tiến sĩ. Trường không dựa vào tiêu chuẩn phải có tối thiểu hai năm cao học và cũng không cần một luận án công phu, giá trị nào….mà điều kiện cần và đủ là thí sinh phải có thẻ đảng. Do đó, cán bộ đảng viên có bằng cấp Tiến sĩ dưới chế độ không cần phải biết làm tính cộng trừ nhân chia (tiến sĩ toán), không cần phải biết tính toán cân đo (tiến sĩ vật lý), không cần phân biệt được nước sạch nước dơ (tiến sĩ hóa học), không cần biết đời sống và quyền lợi người dân (tiến sĩ xã hội học), không cần viết đúng hay sai văn phạm (tiến sĩ văn chương) và không cần phân biệt được mùi thơm hay mùi thúi (tiến sĩ môi trường)…Chung quy những đảng viên cán bộ tiến sĩ không cần phải biết, không cần phải đọc, không cần phải viết…nên được gọi là Tiến Sĩ Đánh Vần ! Đấy là Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người. Giải vô địch nầy Việt Nam khỏi cần ghi danh tham dự, chỉ cần đưa mấy tên cán ngố ra trình diện, giám khảo quốc tế vừa trông thấy mặt thì tức thời chấm đậu hạng tối ưu.



7. Ảo thuật : Trường đảng nhằm đào tạo lý thuyết cộng cho cán bộ đảng viên tại Hà nội đã phải đóng cửa từ khi già Hồ hộc máu mồm lăn ra chết một năm sau vụ thất bại Mậu Thân 1968. Lý do đơn giản là bài vở nhà trường không còn hợp thời và lôi cuốn học viên. ‘Đảng cộng sản anh minh’ đành phải đổi tên thành ‘trường ảo thuật’ là nơi đào tạo trò múa rối và hát xiệc. Màn ảo thuật của khóa đầu tiên chúng trình diễn tại Miền Nam ngay sau ngày 30.4.1975. Thật ngoạn mục, chỉ một đêm hàng chục triệu người giàu sang phú quý đã biến thành ăn mày bị gậy, trên người chỉ còn chiếc quần xà lỏn, tay bồng tay bế kéo nhau lên vùng kinh tế mới phá núi phá rừng trồng khoai trống sắn hay chạy ra biển làm mồi cho cá mập. Trước đây, bằng những trò ảo thuật, chúng đem ngoại tệ viện trợ và vay mượn quốc tế đặt lên chiếu bạc, mua cỏ nuôi ngựa hoặc tổ chức đóng tàu thủy…rồi vổ tay hô ‘biến’ một cái, hàng trăm triệu dollars biến mất trong vài giây. Mấy ngày vừa qua Hà Nội lại bắt dân chúng nạp vàng và ngoại tệ cho nhà nước rồi cũng vỗ tay một cái. Màn ảo thuật nầy thật hấp dẫn, dân chúng trắng tay, không kêu ca khiếu nại được gì với bọn côn đồ tay cầm AK, túi lận lựu đạn, đứng làm cái chơi bài ba lá…Và trong vài ngày nữa, một màn ảo thuật đại chúng sẽ xảy ra từ hang cùng ngõ hẻm ra đến thành phố, thủ đô… chúng sẽ thu hồi tiền giấy già Hồ đang lưu hành và cho đổi lấy giấy lộn cũng mang hình già Hồ với mệnh giá cao hơn. Trò ảo thuật sắp tới sẽ đạt tới ‘đỉnh cao trí tuệ loài người’ vì đây là một lối ăn cướp có môn bài. Dân cả nước sẽ trắng tay. Chỉ có bọn cầm đầu đảng cướp thì đại thắng, đại đại thắng, vì chúng tự tay in tiền, tự ấn định số lượng đổi cho mỗi đầu ngườì, cho mỗi gia đình…còn bọn chúng thì in bao nhiêu và đổi bao nhiêu chẳng được !!!



Thế giới có bảy kỳ quan, Việt Nam dưới thời cộng sản thì có bảy chuyện lạ và chắc chắn trong tương lai sẽ trở thành bảy vô địch thế giới về các bộ môn ‘nổ’, ‘xạo’ và ‘bịp’. Thế mới thấy bọn việt gian cộng sản thật ‘tuyệt vời’, chính chúng nó đã đưa đất nước Việt Nam lên hàng đầu thế giới với tiếng nổ ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người và Cái Nôi Trung Tâm Của Nhân Loại.



Đinh Lâm Thanh

Paris, 12.4.2011

Coi chừng món tiết canh ngâm formol từ Trung Quốc nhập về Việt Nam !

Coi chừng món tiết canh ngâm formol từ Trung Quốc nhập về Việt Nam !

http://www2.vietbao.vn/images/vn2/khoa_hoc/20707832_images1340905_tiet1.jpg

http://vietnam.com/blog/wp-content/uploads/2010/11/5130861_a1fa2e8e91_m.jpg

http://www.thuocbietduoc.com.vn/images/news/2010/6/tiet-canh_9-18610.jpg

500 kg tiết canh Trung Quốc
ngâm Formol

Người tiêu dùng chưa khỏi hoàn hồn sau sự việc thịt nhiễm Clenbuterol tràn lan trên thị trường thì lại sốc nặng trước thông tin món tiết canh bẩn nhiễm Formol.

4h sáng 17/3/2011, phóng viên Tân Hoa xã theo đoàn kiểm tra Sở công thương Trùng Khánh ập vào một xưởng tự phát đang sản xuất tiết canh tại thôn Hoa Tân, thị trấn Hàm Cốc, khu Cửu Long Pha. Đoàn phát hiện gần 500kg tiết canh tại đây có sử dụng Formol làm tươi thực phẩm.

tiet canh                                                            1

500 kg tiết canh bẩn tại xưởng chế biến Cửu Long Pha, Trùng Khánh bị niêm phong ngày 17/3.


Nhà xưởng này có diện tích hơn 200m2, tường bốn bên đều nhem nhuốc, sàn nhà lênh láng nước bẩn. 36 hộp nhôm đựng tiết không hề có vật dụng che đậy được bày la liệt trên nền.


Trong xưởng hiện có ba bể xi măng "cóc cáy" chuyên dùng chứa tiết canh ở khâu giữ tươi trước khi thành phẩm. Một dãy dài hơn chục thùng phuy nhựa đựng tiết bày lộn xộn ngay trước cửa, đang đợi xuất xưởng.


tiet canh                                                            2

Một công nhân của xưởng đang đổ hỗn hợp tiết lợn vào hộp để làm đông.


Đoàn kiểm tra lập tức lấy mẫu dung dịch tiết canh trong bể xi măng để tiến hành xét nghiệm. Thông thường cần 7 phút để hiện kết quả, nhưng chỉ sau một phút, tờ giấy test đổi màu.


Người phụ trách Phòng quản lý chất lượng thực phẩm, thuộc Cục Công thương Trùng Khánh cho biết: “Kết quả kiểm tra chỉ rõ, mỗi kg tiết canh chứa hàm lượng Formol là 100 mg”. Hiện, toàn bộ số tiết canh vi phạm qui định an toàn vệ sinh thực phẩm bị niêm phong.


tiet canh                                                              3


Mảnh test nhanh phản ứng Formol hiện kết quả cho thấy hàm lượng chất này trong tiết canh vượt quá quy định cho phép.


Sở Công thương Trung Quốc quyết định đình chỉ hoạt động sản xuất của xưởng này, niêm phong mọi công cụ sản xuất, các ngành chức năng đang tiến tục điều tra, xử lý.


Đoàn kiểm tra Sở Công thương Trùng Khánh còn yêu cầu nhân công của xưởng này tái hiện lại quá trình chế biến tiết canh bẩn. Các nhân công tại đây khai nhận, tiết lợn sau khi được chưng mua về từ khu Sa Bình Bá, Trùng Khánh, sẽ làm đông trong các hộp nhôm bằng cách cho thêm muối và nước. Số tiết này sẽ tiếp tục được cho vào các bể chứa xi măng có sẵn Formol để giữ tươi.


tiet canh                                                            4

Số tiết canh được làm đông tiếp tục cho vào bể xi măng chứa Formol để giữ tươi.


Theo Phòng Công thương khu Cửu Long Pha, Trùng Khánh, xưởng tự phát này bắt đầu hoạt động từ năm 2009, song không có giấy phép hoạt động của Sở Công thương và giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn vệ sinh. Vào tháng 9 năm ngoái, xưởng di dời từ Sa Bình Bá về đây, chế biến và xuất xưởng 2,5 tấn tiết canh mỗi ngày.


Ông La Vĩnh Quyền, Phó Phòng quản lý thực phẩm thuộc Sở Công thương Trùng Khánh cho biết, nếu thường xuyên ăn loại tiết canh bẩn này sẽ mắc phải nhiều căn bệnh nguy hiểm về gan và đường ruột.


tiet canh                                                            5

Tiết canh vốn là món ‘khoái khẩu’ của người Trung Quốc.


Cũng theo ông này, Sở Công thương Trùng Khánh sẽ mở cuộc kiểm tra trên qui mô toàn thành phố, lấy mẫu tiết canh đang bày bán trên thị trường và tất cả các xưởng để tiến hành giám định.


Tiết canh hỗn hợp, tức món “Mao huyết vượng”, vốn là đồ ăn rất được người dân Trung Quốc ưa dùng. Nguyên liệu chính để làm món này là tiết lợn, tiết chó, hoặc tiết vịt.


Tiết sau khi được làm đông, có dạng khối lớn sẽ được trộn với các nguyên liệu băm nhỏ đã được xào chín, như: thịt lợn, gan, cật…và ớt bột, rau thơm. Món này nhìn thoáng qua rất sợ, nhưng có hương vị đặc biệt, là một món quý thường đem ra đãi khách tại nhiều địa phương của Trung Quốc.


Dung dịch có chứa 35-40% Fomandehyde được gọi là Fomalin. Khi để lâu sẽ bị đục vì có kết tủa parafomanđehit (HCHO)3. Fomalin là chất khử mạnh dùng làm chất tẩy trùng và khử mùi hôi thối, để bảo quản tiêu bản giải phẫu, thuộc da, ướp xác. Khi tiếp xúc với da, fomalin có thể gây viêm; khi tiêm, có thể gây đau bụng dữ dội.


Theo Cơ quan nghiên cứu Ung thư quốc tế (IARC) thuộc WHO, Fomandehyde là chất hóa học có tác dụng diệt khuẩn cực mạnh, chỉ sử dụng trong qui trình sản xuất nhựa thông. Loại hóa chất khá phổ biến này chuyên gây bệnh ở mũi, miệng và có thể là thủ phạm gây bệnh bạch cầu và có nguy cơ gây ung thư cao.

Dưới đây là vài hậu quả của món tiết canh Việt Nam và Trung Quốc:


http://image.tin247.com/vietnamnet/080922191408-577-586.jpg

http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/2/files/2010/10/Xuat-hien-nhieu-not-hoai-tu-tren-da-sau-an-tiet-ca_Tin180.com_002.jpg
Bệnh nhân nhiễm bệnh liên cầu khuẩn lợn do ăn tiết canh

http://saigonecho.com/main/images/stories/medicine/benhantietcanh_81110.jpg

Bệnh nhân nhiễm liên cầu khuẩn do ăn tiết canh, và thịt lợn chưa chế biến chín.

http://www.24h.com.vn/upload/4-2010/images/2010-10-24/1287883493-hoai-tu.jpg
Hoại tử, nhiễm trùng máu vì... ăn tiết canh nhập từ Trung Quốc

http://ungthu.net.vn/news_images/full/2008-09-19793396ung%20thu%201.jpg
Bệnh nhân ung thư do thường xuyên nhậu tiết canh !

SINH VI TƯỚNG, TỬ VI THẦN TRUNG TƯỚNG DƯƠNG VĂN ĐỨC

Lời giải thích của người viết:


Tôi viết lên đây, những gì đã được Huynh Trưởng Lê Phước Khánh (khoá 13 Thủ Đức) đã kể lại những sự việc tai nghe mắt thấy ở trại tù cải tạo Hoàng Liên Sơn, nhất là về Trung Tướng Dương Văn Đức.
Đã viết thì tôi bắt buộc phải viết lại y hệt những gì tôi đã nghe. Nếu không, tôi sẽ có lỗi với HT Khánh.
Nếu không ghi lại trung thực lời nói và viết của Trung Tướng Dương Văn Đức, tôi sẽ có lỗi với ông Tướng: Vì ông ta đã dám viết và dám kể lại, mà tôi lại không dám viết đúng những gì ông đã viết và đã nói.
Hơn nữa, câu chuyện này chỉ có giá trị ở những chữ mà ông đã ghi trong sổ tay mà thôi. Nếu không ghi đúng, câu chuyện sẽ mất hết cả lý thú đi, sẽ không còn là câu chuyện của Tướng Đức nữa.
Xin quý độc giả thông cảm, đừng cho rằng tôi viết bậy!

Những Huynh Trưởng nào, cũng ở cùng trại Hoàng Liên Sơn, cũng cùng chỗ với Trung Tướng Đức, cũng đã được nghe chính ông kể lại lời phê bình của ông về chiến thắng Điện Biên Phủ này, nhưng lại được biết thêm nhiều chi tiết hơn, xin liên lạc với ông Khánh, với chúng tôi, để chúng ta có một câu chuyện trọn vẹn hơn.
Một bữa kia (vào khoảng tháng 4 2005), khi đang ngồi viết về đề tài: “Các Cựu Quận Nhân Miền Nam Việt Nam, làm cách nào để được Hội Cựu Chiến Binh Úc chấp nhận là đã phục vụ tổ quốc mình, và được cho hưởng tiền trợ cấp cựu chiến binh Úc”, một . . . Phe ta - Huynh Trưởng Lê Phước Khánh, đại diện cho Hội Cao Niên Tỵ Nạn Đông Dương – Indochinese Elderly Refugee Association Victoria Incoprated (ICERA VIC INC) - đã đến gập tôi, đưa tấm ngân phiếu tặng Đài Tưởng Niệm Chiến sĩ Úc Việt Victoria $1,000.
Vào bữa tiệc gây quỹ lần thứ ba (29 04 05) xây đài tưởng niệm, anh Khánh đã đấu giá được bản sao bức hình bản đồ Việt Nam (bản chánh đã được in vào năm 1967, có đầy đủ cả Ải Nam Quan lẫn Mũi Cà Mâu, các quần đảo Hoàng Sa, Tây Sa). Anh Khánh trao tiền nhưng lại có ý muốn tặng lại Đài Tưởng Niệm bức bản đồ để bán đấu giá tiếp.
Nhân dịp này, tôi và anh đã cùng ngồi nói dăm ba câu chuyện về thời “Ba lô nón sắt” của mình, và về cuộc tù cải tạo của anh. Khi biết tôi cũng là một trong những:
“Biệt Động Quân, Vì Dân Chiến Đấu”, tức là cũng đã một thời:
“Mũ Nâu, Mầu Áo Hoa Rừng,
Anh đi Biệt Động Lẫy Lừng Bốn Phương”
Nên đã kể cho tôi nghe câu chuyện chết đi sống lại của một Biệt Động Quân và câu chuyện của Trung Tướng Dương Văn Đức, ở trại tù cải Tạo Hoàng Liên Sơn, như sau:


HUYNH ĐỆ CHI BINH.

Trại tù số 3, Hoàng Liên Sơn - ở vùng Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh, gần biên giới Trung Cộng và Bắc Việt - đã giam giữ một số lớn những quân nhân cấp Tướng và Tá của QLVNCH và những vị Bộ Trưởng trong chính quyền cũ. Điều đặc biệt là những quân nhân đủ mọi cấp bực thuộc Phòng 7 Tổng Tham Mưu cũng được giam giữ ở đây (có lẽ VC cho là cơ quan này rất quan trọng). Trong trại, ngoài những vị Tướng Tá, Bộ Trưởng, còn có Thiếu Tá Hoà, Biệt Động Quân, Thiếu Tá Nghiêm của Nhẩy Dù và có Trung Tướng Dương Văn Đức.

Vào khoảng tháng Tám gì đó của năm 1979, mối giao hảo giữa Trung Cộng và Việt Cộng đã trở thành gây cấn, hai bên anh em nhà nó đã sửa soạn đánh nhau tùm lum lên, nhưng trong trại tù thì không ai biết cả. Chỉ có một lần, khi đi ngang qua trạm kiểm soát, mọi người nhìn thấy bọn VC có treo một tấm bích chương, nội dung ghi: “Trung Quốc là kẻ thù còn nguy hiểm hơn Đế Quốc Mỹ”
Về trại, anh em lén họp bàn với nhau rất là sôi nổi. Mọi người đã đoan quyết rằng, TC và VC đã trở thành kẻ thù với nhau, sẽ và có thể đã đánh nhau lỗ đầu sứt trán rồi. Cuối cùng, anh Hoà và Nghiêm đã đi đến kết luận: Nếu chúng đã trở thành kẻ thù với nhau rồi, ta cứ việc trốn trại, đi thẳng tới biên giới tới Trung Cộng, chắc chắn đám này sẽ tiếp đón mình với tư cách dân tỵ nạn, như vậy là có đường “Mưu sinh thoát hiểm”
Anh em khuyên hai anh hãy thận trọng, suy nghĩ kỹ rồi hãy làm, vì chung quanh đây, dân chúng đã bị tuyên truyền, bị nhồi sọ, chắc chắn sẽ không che chở cho chúng ta.
Khoảng một tuần sau thì hai anh trốn trại!
Đám quản giáo tá hoả, tìm đủ mọi cách để truy tìm hai kẻ đào thoát và dấu diếm câu chuyện vượt tù này không cho lan chuyền trong trại và qua những trại khác.
Đã hơn một tháng rồi, không nghe động tĩnh gì cả, anh em đã hy vọng là hai anh Hoà và Nghiêm đã vượt thoát thành công qua Trung Cộng, có nhiều dấu hiệu cho thấy sẽ có những đám khác sửa soạn vượt trại nữa.
Đùng một cái, vào một ngày không đẹp trời tí nào cả, hai anh Hoà và Nghiêm bị bắt dẫn trở về trại! Anh Hoà còn có vẻ đứng vững, nhưng anh Ngiêm thì xỉu lên xỉu xuống, ra vẻ bệnh rất nặng.
Bọn VC rất tàn ác và nguy hiểm, chúng kết tội hai anh trốn trại rồi sau đó xúi dục dân chúng dùng cây giang (giống như cây tre nhưng đặc ruột) đánh anh Hoà tới tấp. Anh Hoà to con lớn tướng, nhưng đã suốt hơn tháng trời đói khát thì làm sao chịu cho thấu, anh xỉu ngay trong lần đánh hội chợ đầu tiên của đám dân tay sai. Bọn VC làm bộ xoa dịu lòng dân, can ra:
“Thôi, tên gian ác đã bị trừng phạt rồi, đồng bào hãy khoan hồng cho nó”.
Nhưng chúng để anh tỉnh lại được một lúc thì lại xúi dân nhẩy vào đánh tiếp. Cứ như thế, anh Hoà chịu được ba lần đánh đập dã man thì chết dập người ra, chúng cho đem đi chôn ngay.
Bọn chúng không đụng tới anh Nghiêm, vì tin rằng anh bệnh đường ruột, cứ vứt đó, chỉ vài ngày sau là cũng chết, chẳng cần đánh đập làm chi!
Anh em lén đem đồ ăn tiếp tế cho anh Nghiêm, hỏi rõ lý do tại sao mà bị bắt trở lại? Anh Nghiêm thều thào cho biết:
“Đã đi đúng đường, biết chắc chỉ còn cánh biên giới khoảng 5 tới 7 cây số nữa mà thôi. Nhưng tôi bịnh quá, đi không nổi nữa, đành bảo anh Hoà bỏ tôi đó mà đi thoát một mình. Anh Hoà không chịu, nói rằng:
“Anh em đồng sinh đồng tử, đã cùng nhau đi tìm tự do, tôi đâu có thể bỏ anh chết ở đây để thoát thân một mình!”
Anh đã dìu tôi đi thêm một ngày nữa, nhưng tôi không chịu nổi, anh đành mò ra nhà dân để tìm cách chữa chạy cho tôi, vì thế mới bị bắt”
Tình “Huynh Đệ Chi Binh” của người lính VNCH nó là thế đấy, bạn ạ!
Vui cùng hưởng, họa cùng chung. Chết thì chết, chứ không bao giờ bỏ rơi anh em! (Nói thế chứ nhiều tên qua đây được, đã có cuộc sống ấm no nhưng quá ích kỷ, quên cả tình nghĩa đồng đội chi binh đối với đồng đội và thuộc cấp bị thương tật khốn khổ còn ở quê nhà, chúng làm lơ một đồng cũng không giúp, chỉ kiếm cớ nói loanh quanh.)
Trời không phụ lòng người. Anh Hoà chết đi sống lại nhiều lần, cuối cùng, anh vẫn gắng gượng vùng lên để sống. Sống để nhìn thấy ngày tàn của bọn đã hành hạ anh!
Đến khi tôi (Khánh) được trở về sau 9 năm tù đầy, thì anh Hoà và Nghiêm vẫn còn bị ở lại, khoảng 3 năm sau nữa mới hết kiếp lưu đầy.
Anh Khánh và tôi mong nhận được tin tức của Thiếu Tá Hòa, Thiếu Tá Nghiêm. Hai anh, nếu còn trên cõi đời này, nếu đang định cư ở Úc, và nếu có đọc bài báo này, xin liên lạc với chúng tôi qua báo Việt Luận.

SINH VI TƯỚNG, TỬ VI THẦN - TRUNG TƯỚNG DƯƠNG VĂN ĐỨC.

Huynh Trưởng Khánh đã kể tiếp câu chuyện ở Trại Cải Tạo Hoàng Liên Sơn như sau:
Cũng nằm chung trại với chúng tôi, có nhiều Tướng Lãnh VNCH lắm. Có những vị Tướng lúc nào cũng giữ tư cách Tướng, anh em rất nể phục. Nhưng cũng có những Tướng Lãnh rất là nhàm chán. Tướng Đức là một trong ba Tướng . . . mồ côi, tức là không có thân nhân thăm viếng (Hai vị Tướng kia là Tướng Lam Sơn (Phan Đình Thứ) và Tướng Hồ Trung Hậu).
Từ khi còn ở ngoài đời, sau vụ đảo chánh TT Diệm, sau vụ các Tướng Lãnh chỉnh lý lẫn nhau, Tướng Đức đã được coi như là một Tướng . . . Mát giây (điên). Chính tôi đã mục kích một lần, ông đứng ở góc đường Hồng Thập Tự và Thống Nhất, ngay góc Dinh Độc Lập, mà chửi bới Tướng Thiệu. Tuy nhiên, ông chửi bằng tiếng Pháp, nên tôi không rõ ông chửi những gì?
Trong một buổi sinh hoạt đặc biệt của trại tù, để kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, một Đại Tá Việt Cộng, tên là Cao Nham, đã được Bộ Nội Vụ của chúng chỉ định đến trại để nói chuyện với các trại viên về chiến thắng này.
Từ sáng sớm, anh em đã phải thức dậy lo quét dọn, xếp ghế ngồi để chờ tên cán ngố này đến. Cũng như thường lệ, anh em chúng tôi, dù là ở trong trại tù, vẫn giữ quân phong quân kỷ của riêng mình, nên các Tướng Lãnh được xếp ngồi trước, rồi mới tới hàng Tá, Úy . . .
Tên Nham (nhở) nói chuyện vung cán cuốc, văng nước miếng tùm lum, ba hoa về cái mà chúng gọi là chiến thắng ĐBP.
Nham vung tay la hét:
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng thần thánh,
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng to lớn của đảng cộng sản việt nam,
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh nhào Đế Quốc Pháp.
Trong khi hoa chân múa tay, y để ý thấy Tướng Đức có cuốn sổ tay, đã lúi húi ghi chép những lời nói của y.
Y thấy vậy lại càng sung sướng, nghĩ bụng:
“Tên Tướng này . . . học tập tốt, nó phục tài ăn nói của mình nên mới ghi chép kỹ lưỡng như vậy, chứ thường thì mấy thằng tù cải tạo đâu có thèm để ý gì tới những lời nói của mình!”
Vì thế, thay vì nói có hai tiếng, tên này hăng tiết chó mà nói thêm cả tiếng đồng hồ nữa.
Khi nói xong, y theo thông lệ là tự vỗ tay khen thưởng một mình, rồi trịnh trọng hỏi các anh em Cải Tạo:
“Các anh ngồi hàng đầu, chắc là cấp bậc “Tướng”, phải không?
Khi được xác nhận như vậy, hắn vừa nói vừa chỉ tay vào Tướng Đức:
“Tôi thấy có anh gì đây này, học tập tốt lắm, ghi chép cẩn thận! Có vậy mới mong được chóng về với gia đình chứ! Anh tên là gì nhỉ?
Tướng Đức vẫn ngồi, trả lời lên:
“Tôi tên Đức”
Tên Nham hăng hái:
“Anh đã ghi được những gì trong bài nói chuyện của tôi? Anh có thể đọc lại cho tất cả hội trường cùng nghe được hay không?”
“Ấy, không được đâu! Tôi ghi chỉ cho một mình tôi thôi! Để tôi hiểu một mình tôi thôi, không ai được biết đâu!”
Nham nghĩ rằng, Tướng Đức còn khiêm nhường, nên thúc dục:
“Anh cứ việc đọc cho mọi người cùng nghe đi! Nếu có thiếu sót gì thì tôi bổ túc thêm cho anh, có gì đâu mà phải ngại ngùng! Đảng và nhà nước biết các anh chưa thấu triệt được những cái ưu việt của xã hội chủ nghĩa, nên không bắt lỗi gì đâu! Vì thế các anh mới phải học tập, chứ nếu các anh đã quán triệt rồi, đâu cần gì nữa! Cứ đọc cho mọi người nghe đi, tôi bảo đảm, không làm phiền gì anh đâu!
Tướng Đức nhắc lại:
“Tôi đã nói tôi viết thì chỉ có một mình tôi hiểu, một mình tôi đọc mà thôi! Tôi sợ đọc lên, mỗi người lại một ý kiến, phiền lắm! Thôi, cán bộ cho tôi miễn đi!
Tên Nham đang ở lúc cao hứng, đâu dễ gì buông tha:
“Thôi, nếu anh không muốn đọc, cứ đưa đây cho tôi vậy! Tôi sẽ xem qua và đọc lại cho mọi người nghe để cùng hiểu cho rõ!
Tướng Đức nói lần cuối:
“Được, tôi đồng ý đưa cho cán bộ xem. Nhưng tôi nói trước, đây là ý kiến riêng của tôi đó nha! Người khác muốn đọc, ráng mà hiểu, ráng mà chịu, đừng có đổ thừa tui”
Một tên quản giáo vội vàng chạy lại nhận cuốn sổ tay của Tướng Đức, khúm núm đưa lên cho tên Nham. Tên này hớn hở tiếp lấy, sửa soạn đọc những lời vàng ngọc của y mà Tướng Đức đã ghi.
Mọi người hồi hộp chờ đợi! Không biết Tướng Đức đã ghi những gì ở trong đó!
Tên Nham vừa mới há miệng ra định đọc, thì mặt mày y đột nhiên tái xám lại! Miệng y mở ra mà không đóng lại được nữa, cứ há hốc ra, khoe những cái răng đen thui bám đầy khói thuốc lào!
Tay y run lên, nước miếng từ trong miệng chẩy ra nhễu nhão! Mặt y đanh lại, cặp mắt quắc lên căm hờn! Y thở không ra hơi, nói không ra tiếng!
Cả hội trường nín thở theo y!
Một lúc sau, tên Nham mới bật ra được vài tiếng lắp bắp:
“Bắt . . . Bắt . . . lấy tên phản động này!
Bắt ngay lập tức!
Đánh . . . Đờ . . . Đờ . . . Đánh cho nó chết rồi đem chôn!”
Nó . . . Nó . . . dám hỗn láo với cách mạng! Nó dám chửi đảng cộng sản!
Bắt . . . Bắt! Các đồng chí đâu?
Bắt nó ngay lập tức cho tôi!”
Những tên vệ binh đứng gác chung quanh vội vàng chạy lại chỗ Tướng Đức, chĩa súng vào ông, lên đạn rốp rốp, làm như chúng bắn ông ngay lập tức.
Tướng Đức vẫn ngồi yên, bình tĩnh trả lời tên Nham:
“Đánh chết rồi . . . đem ra . . . ăn thịt thì mới đáng nói!
Chứ đánh chết rồi đem chôn thì có gì là lạ đâu!
Tôi đã nói trước cho cán bộ rồi, tôi viết thì chỉ mình tôi đọc thôi, ai muốn đọc thì nấy ráng chịu!
Cán bộ cứ muốn đọc thì tôi đưa! Sao cán bộ còn bắt lỗi tôi làm chi?”
Tên Nham lại một lần nữa phùng mang trợn mắt, lắp bắp nói chẳng nên lời!
Y ta cứ đứng đó, mặt mày tím bầm lại, mắt trợn trắng lên mà nhìn Tướng Đức, như muốn ăn tươi nuốt sống ông ta vậy.
Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, với tư cách là Trưởng Phòng tù cải tạo, đã vội vã đứng lên xin cho Tướng Đức:
“Xin cán bộ bỏ qua cho, không nên chấp nhất những ghi chú của anh Đức làm gì, anh bị . . . MÁT đấy mà, trong trại ai cũng biết cả!”
Tên Nham gằn giọng hỏi lại:
“Mát là cái gì?”
“Mát tức là . . . điên, là khùng đó mà! Hồi xưa, anh Đức đã chứi cả Tổng Thống Thiệu, Phó Tồng Thống Kỳ nữa đó! Ông Thiệu cũng đã giận dữ đòi bỏ tù anh Đức. Nhưng khi biết anh ta bị khùng, nên lại tha!
Xin cản bộ cứ hỏi tất cả anh em ở đây thì biết!”
Thế là cả trại nhao nhao lên, ai cũng nói:
“Anh Đức . . . Mát đấy mà, cán bộ chấp làm chi!”
Tên Nham thấy cả trại đồng lên tiếng, cho rằng Tướng Đức . . . khùng, không lẽ y còn chấp nhất làm chi! Một người khùng, dù có chửi đảng cộng sản, cũng không có gì đáng nói. Nếu cho Tướng Đức là tỉnh, lời ông ta chửi sẽ bay đi khắp các trại tù khác, còn nguy hiểm gấp mấy!
Suy tính một hồi, hắn . . . dịu giọng:
“Thôi, nếu các anh nói anh Đức này khùng điên, thì tôi cũng chẳng chấp nhất anh ấy làm gì! Các anh đem anh ta về trại, trị bệnh cho anh ta chóng khỏi, để mà học tập cho tốt!”
Rồi y chậm rãi xé nhó cuốn sổ tay của Tướng Đức đi.
Thế là buổi lễ kỷ niệm chiến thắng ĐBP của bọn vc bế mạc không kèn không trống!
Mấy ngày hôm sau, nhân một dịp đi làm lao động, vào lúc nghỉ trưa, anh em đã tụ họp chung quanh Tướng Đức để hỏi là, ông đã viết cái gì trong cuốn sổ tay, mà làm cho tên việt cộng tức giận tột cùng như vậy?
Tướng Đức chậm rãi trả lời:
Mấy em có nhớ cái thằng VC đó nó nói gì không?
Nó nói: “Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng thần thánh”, goa (Qua) móc sổ ra ghi:
“CON CẶC!”
Rồi đóng sổ lại.
Tới khi nó nói tiếp: “Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng vĩ đại của đảng Cộng Sản VN” goa lại móc sổ ra ghi:
“CON CẶC!”
Rồi lại xếp sổ lại.
Rổi nó lại nói: “Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh nhào Đế Quốc Pháp”, goa lại móc sổ ra ghi:
“CON CẶC!”
Rồi lại đóng sổ lại.
Nó muốn đọc, goa đã nói trước rồi, không nên đọc, goa chỉ viết cho goa đọc mà thôi. Nhưng nó cứ muốn đọc, thì ráng mà chịu, bắt lỗi goa đâu có được!”
Tất cả anh em có măt lúc đó đều cười nghiêng cười ngửa vì những ghi chú mà Tướng Đức đã ghi trong sổ tay của ông.
Hèn chi khi tên Nham há miệng ra định đọc những giòng chữ này thì bị mắc quai. Hắn ta đã tức tối xám mày xám mặt lại mà không biết làm gì!
Cả bọn đã cười như chưa bao giờ được cười, không cần biết lúc đó đang đứng ở đâu? Và có ai rình mò gì hay không?
Ai cũng muốn nói ra, viết ra câu trả lời giống như Tướng Đực đã trả lởi, nhưng đã không dám nói, không dám làm.
Chỉ cỏ Tướng Đức mới dám nói, dám viết!
Một người trong bọn lại hỏi thêm:
“Trung Tướng không sợ nó trả thù, nó . . . giết Trung Tướng hay sao?”
Tướng Đức đã khẳng khái trả lời, không có vẻ mát chút nào hết:
“SINH VI TƯỚNG, TỬ VI THẦN!”
Khi còn sống thì goa làm Tướng, có chết đi thì goa cũng thành Thần, sợ chi cái tụi gủy (quỷ) này!”
Hồi còn cầm quân đánh VC, goa cứ đem quân đi gọm tụi nó lại một chỗ, rồi kêu pháo binh bắn tụi nó tan nát ra! Trận nào không gom được tụi nó, goa kéo lính về nghĩ khoẻ, chẳng chết người nào hết! Chỉ tiếc rằng hồi đó goa gom tụi nó hổng hết, để nay mới bị như dzầy!
Hào hùng thay lời nói của Tướng Dương Văn Đức!
Trong chốn tù tội, có những ai dám viết ra những giòng chữ ngạo mạn, chửi bọn VC như Tướng Đức đã làm?
Tính mạng đang ở trong tay bọn VC khát máu, đã có bao nhiêu người đã ngang nhiên trả lời bọn VC, như Tướng Đức đã trả lời bọn chúng?
Tôi nghe xong câu chuyện, cho rằng Tướng Đức xứng đáng được duyệt xét và chấp nhận là . . . “Đã phục vụ Tổ Quốc Việt Nam Cộng Hoà”
Tiếc rằng Tướng Đức đã không có dịp qua định cư tại Úc.
Bọn VC không dám giết Tướng Đức ở trại tù cải tạo, chúng đã thả ông ra và tìm cách giết ông một cách lén lút, rất là hèn hạ. Chúng đã đã cho người đi rình mò và đánh chết ông, dìm xác ông ở dưới cầu Hàng Xanh.

Nguyễn Khắp Nơi – Nguyen Everywhere.

Chú thích : Tôn trọng bài viết của anh Nguyễn Khắp nơi, tôi đã chuyển tiếp nguyên văn. Nay xin có ý kiến đóng góp, bổ túc như sau :

Tôi là người cũng bị giam ở trại Ba Sao, Nam Hà thuộc Hà nam Ninh (phía Nam Hà Nội, chứ không phải gần biên giới Việt Trung) sau khi chuyển từ trại Vĩnh Quang, Vĩnh Phú (huyện Tam Đảo) đầu năm 1982 về.
Khi chúng tôi tới trại Ba Sao thì được biết có 34 vị tướng lãnh và bộ trưởng cũng đang bị giam ở đây (có cả đám trẻ Phục Quốc bị bắt cuối năm 75, đại đa số là thành phần binh sĩ, hạ sĩ quan thuộc đủ các binh chủng).
Riêng các vị tướng lãnh và bộ trưởng thì bị giam riêng trong một láng, không được phép ra ngoài láng, không phải đi lao động như anh em chúng tôi từ cấp đại tá trở xuống.
Những người tù duy nhất được tiếp xúc với 34 các tướng lãnh và bộ trưởng trên là một hai người gánh cơm và nước uống hàng ngày, 3 lần, vào trong láng cho các tướng lãnh, trong đó có bản thân tôi.
Mỗi khi gánh cơm nước vào, đều có cán bộ đi theo, mở khóa cổng cho tôi vào và canh chừng không để tôi được tự do tiếp xúc, trò chuyện với bất cứ tướng nào, chỉ nhìn họ lấy cơm, thức ăn, nước uống, sau đó đi ra theo tên cán bộ.
Qua năm 83, tình hình có phần dễ thở hơn, do đó tôi mới thỉnh thoảng, và nhất là tùy theo tên cán bộ quản giáo nào "chịu chơi" một chút, mới dám trao đổi một vài câu thăm hỏi các vị tù đặc biệt đó và cũng để lén lút nhận thư chui của họ để chuyển ra ngoài qua các bạn tù được thân nhân tới thăm và tiếp tế.
Cuối năm 83 tôi được trả tự do và ngày trước khi rời khỏi trại, tôi đã đem ra được một số thư chui, đem về Saigon, tự tay đem đến từng nhà thân nhân các vị tướng.
Riêng tướng Lê Minh Đảo đã kỷ niệm cho tôi chiếc quần tắm mà hiện tôi còn giữ.
Tôi xin được đóng góp phần ý kiến của mình là để nói lên sự việc là anh em chúng tôi từ cấp đại tá trở xuống không thể nào tiếp xúc hàng ngày và thoải mái với 34 vị tướng và bộ trưởng bị giam cùng trại.
Vì tôi không qua trại Hoàng Liên Sơn nên không biết ở trại đó các vị tướng của chúng ta có phải đi lao động chung với các tù nhân khác không.
Tôi để cho các bạn tù cùng trại lên tiếng xác nhận hay phủ nhận.
Riêng về tướng Dương văn Đức thì đúng như bài viết trên nói, ông đã chết rất mờ ám dưới miền Tây VN sau khi được trả tự do. Từ khoảng 15 năm nay, tôi thường xuyên được gặp bà vợ bé của ông đang định cư ở quận 13, khu Chinatown Paris, bà Nguyễn Marie-Hélène, mỗi khi bà vô gặp tôi ở Trung tâm Xã-hội Paris 13, nơi tôi đang làm việc.

BT


Nguyễn Khắp Nơi – Nguyen Everywhere.

Đôi Bờ Chiến Tuyến


Hình minh hoạ

Tác giả là sĩ quan Thuỷ Quân Lục Chiến VNCH, định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO-20. Bài viết của ông được một cựu đồng ngũ chuyển tới, với ghi chú đây là câu chuyện thật. Thật nhưng khó tin : một cựu nữ chiến binh Việt Cộng, nhiều năm sau chiến tranh, đi vào tận trại tù tìm thăm người sĩ quan VNCH cô từng gặp trên chiến trường, và rồi ...

* * * * *

Sau 3 ngày quần thảo ác liệt với địch quân, chúng tôi mới chiếm được mục tiêu, đơn vị chủ lực miền của địch thuộc tỉnh Bến Tre đã bị xoá sổ, nhưng tiểu đoàn của chúng tôi cũng bị thiệt hại khá cao. Trung Đội 4 của tôi được lệnh bung rộng ra kiểm soát từng hầm hố, từng công sự của địch. Cảnh vật hoang tàn đổ nát, những thân cây dừa bị mảnh đạn pháo binh băm nát lỗ chỗ. Hầu như không còn chỗ nào nguyên vẹn, mùi thuốc súng nồng nặc khó chịu vẫn còn vương lại nơi đâỵ Tôi với Kính, người mang máy truyền tin, cẩn thận từng bước trên bờ mương nhỏ. Chợt Kính nói nhỏ :

- Ông thầy ! Coi chừng hình như có người trong lùm cây đàng kia.

- Tản rộng ra, theo dõi kỹ chung quanh và coi chừng đồ chơi của tụi nó.

Tôi ra lệnh cho Kính xong là lom khom phóng qua những thân cây nằm ngổn ngang trên mặt đất, khẩu M16 lên đạn sẳn sàng, Kính theo kế bên hông.Tiếng rên nho nhỏ của phụ nữ văng vẳng ra từ trong lùm cây rậm rạp.

- Một đồng chí nữ nhà ta đấy. Kính reo nho nhỏ.

Kinh nghiệm chiến trận cho tôi biết không bao giờ hấp tấp trước mọi tình huống, có thể địch gài mìn bẫy xung quanh, hoặc giả vờ bị thương để dẫn dụ đối phương tới gần rồi sát hại. Dơ ngón tay ra hiệu lệnh và chỉ vào lùm cây, tôi quan sát lần nữa rồi rón rén bước nhẹ, đằng kia thằng Kính lăm le khẩu súng trên tay trông chừng. Tôi lấy mũi súng vạch đám lá, một cô gái trạc độ 18,19 tuổi nằm gối đầu lên chiếc ba lô mầu « cứt ngựa », vai trái bị trúng đạn máu tuôn ra ướt đẫm, mắt nhắm nghiền nhưng miệng vẫn không ngớt rên rỉ :

- « Nước ... Nước..cho tôi miếng nước ».

Trước tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của « cô » địch quân sau khi ngừng tiếng súng, việc đầu tiên là phải cầm máu, tôi lấy băng cá nhân lau nhẹ trên vết thương, đoạn dùng lưỡi lê cắt khoảng áo trên vai, đỡ cô ngồi dựa vào người tôi đoạn bảo Kính :

- Mày băng dùm cho tao, nhớ nhẹ tay.

- Ông nhân từ quá, gặp em con nhỏ này tiêu đời.

Kính vừa băng vừa cằn nhằn.

Tôi im lặng không nói gì, Kính nói đúng, những người lính của tôi đã ngã xuống, máu của họ đổ ra cho sự tự do, người Cộng Sản có nhân từ với người anh em của tôi không ?

- Nước ... Cho tôi xin miếng ... nước.

- ĐM ... Câm miệng mày lại.

Kính quát tháo giận dữ, tôi lừ mắt nhìn người đệ tử ra vẻ không hài lòng.

- Mày đừng nói như vậy, với một người sắp sửa chết mình đừng nuôi thù hận nữa. Thôi mày ra ngoài trông chừng cho tao đi.

Tôi lấy cái khăn màu tím cột trên vai áo, dấu hiệu nhận diện của đơn vị, thấm chút nước rót từ bình tông lau nhẹ trên mặt cô gái. Tôi ngẩn người trong giây lát vì sắc đẹp của cô, khuôn mặt thanh tú với hàng mi cong vút nhất là sống mũi cao nom cô phảng phất như minh tinh màn bạc dù trắng xanh vì mất máu nhưng cô ta vẫn có nét thu hút đặc biệt. Ghé bình tông nước vào miệng cô gái, tôi nói nhỏ :

- Cô uống đi, nhớ từ từ từng chút một

Cô ngoan ngoãn nghe lời như một em bé. « Cám ơn ông nhìều ». Giọng nói yếu ớt và mệt mỏi.

- Tôi sẽ tiêm cho cô 2 mũi thuốc trụ sinh và cầm máu, cố chịu đau nghe.

- Không cần đâu, làm phiền ông nhiều rồi, vả lại tôi cũng sắp chết đến nơi.

- Bậy bạ, vết thương này đâu có gì nguy hiểm.

- Đừng an ủi như vậy, hồi nãy ông nói tôi sắp chết đừng nuôi hận thù nữa.

- Tại vì ... Tại vì ... Tôi không muốn lính của mình ăn nói kỳ cục như vậy.

Cô gái mở mắt nhìn tôi với vẻ cám ơn, trong đáy mắt chứa nhiều điều muốn nói, lâu lắm cô nói thều thào :

- Bây giờ ông sẽ làm gì với tôi ? Bắn một phát súng có lẽ nhẹ nhàng hơn là giao tôi cho cơ quan điều tra.

Thật tình tôi không biết trả lời sao với cô, chưa kịp phản ứng thì cô tiếp :

- Tôi sinh ra ở miền đất mênh mông sông nước, hãy để thân xác này vùi dập nơi đây. Xin ông đừng giao cho ai hết. Tôi van xin ông.

- Thôi được rồi, tôi sẽ làm theo lời yêu cầu của cô. Nhưng trước nhất hãy để tôi tiêm thuốc cái đã đừng bướng bỉnh như vậy.

Cô gật nhẹ đầu mà không nói lời nào. Kéo ống tay áo lên, lộ làn da trắng nõn nà, tôi chăm chú chích mũi Penicilline mà không thấy má của cô thoáng đỏ vì hổ thẹn mà chỉ thấy cô nhăn nhó suýt soa vì đau, tôi bật cười :

- Đi lính bị thương, bị bắn không đau, chỉ có mũi kim bé tí tẹo mà cô nhăn nhó, rên rỉ như ...

- Sao không đau, ông ăn nói ... như khỉ chứ gì ?

Cô cướp lời, tôi cười trừ, đỡ cô gái nằm xuống ngay ngắn trên mấy tầu lá chuối rồi tôi đứng dậy cầm cây súng lên đạn ... rồi lấy trong ba-lô mấy hộp lương khô, bình nước đầy và cuộn băng cứu thương, tất cả đặt bên cạnh cô rồi nghiêm nghị nói :

- Đơn vị tôi sẽ di chuyển đi nơi khác bất cứ lúc nào để tìm các đồng chí của cô, nhưng những thứ nầy cần thiết cho cô, tôi hy vọng người của cô sẽ trở lại tìm và cứu sống đồng đội của mình.

Tôi lấy khăn nhúng nước lau mặt cho cô đoạn cẩn thận lấy mấy tàu lá dừa che kín lại.

- Này ... Ông tên là gì vậy ?

- Có quan trọng lắm không ?

- Ít ra sống hay chết tôi còn biết tên người đã đối xử tốt với mình chứ.

- Vậy thì cô nói với Diêm Vương gã đó là Lam, Trần Hoài Lam và cô xin với ổng cho tôi tai qua nạn khỏi trong chiến tranh này.

Tôi nghe tiếng cô cười nhỏ cùng tiếng nói thật nhẹ :

- Dạ, Quyên đêm nào cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi.

Quyên, người con gái mà tôi gặp gỡ một lần, và chỉ một lần duy nhất trong cuộc đời kế từ đó.

Bước chân người lính như tôi đã qua mọi đoạn đường đất nước, những trận đánh đẫm máu bằng cái chết của đôi bên lên rất cao. Vài lần bị thương nặng nhẹ nhưng tính mạng vẫn còn giử được, phải chăng Quyên hằng đêm cầu nguyện cho tôi được tai qua nạn khỏi như nàng đã hứa.

Đất nước thanh bình, tiếng súng lặng im, nhưng những người được gọi là sĩ quan QLVNCH như tôi và bạn bè khác không được thở hít không khí hoà bình ấy, sau bao năm trăn trở với chiến tranh, tất cả đi vào trại « cải tạo », một danh từ mỹ miều nhưng thực chất là đầy đoạ, là giết lần mòn chúng tôị Tôi bất lực nhìn bạn bè ngã xuống, đói, bệnh hoạn, đày đoạ, khủng bố, đánh đập !

Thân xác anh em chúng tôi bị vùi dập ở nơi núi rừng hiu quạnh, ở hốc núi đen tối ngàn trùng. Tôi lặng lẽ sống như cái bóng tinh thần vững vàng, nhưng thể xác thì suy sụp nặng nề, bám víu ý nghĩ duy nhất « Trả nợ oan gia binh nghiệp ». Phải, sinh ra người lính thì chấp nhận mọi gian nguy may rủi về mình.

Ngày hôm ấy, trại Bù Gia Mập, nơi tôi đang « lao động là vinh quang » có cơn bão rừng rất lớn, mọi người được phép nghỉ tại lán. Anh Đan, khối trưởng nhận thư từ quản giáo phân phát cho anh em. Là một kẻ không thân nhân, không họ hàng, tôi lảng đi nơi khác cho đỡ tủi thân.

- Trần Hoài Lam có thư.

Cả phòng xôn xao ngạc nhiên vì ai cũng biết tôi là thằng « mồ côi », là « con bà Phước », danh từ ám chỉ những kẻ không có ai thăm viếng lẫn thư từ. Rất ngạc nhiên tôi nghĩ thầm trong bụng có lẽ trùng tên với một người nào đó nên im lặng.

- Trần Hoài Lam có thư.

Người khối trưởng lập lại với vẻ khó chịu.

Tôi dè dặt bước tới trong trạng thái hoang mang.

- Có thật là của tôi không anh Đan ?

- Tên anh rành rành trên phong bì làm sao sai được, thôi nhận đi cho tôi cịn làm việc, nếu có sai thì cho tôi biết.

Cầm lá thư tôi lật qua lật lại, xem kỹ có phải đúng tên mình không. Hoàn toàn đúng nhưng tuồng chữ lạ hoắc và cái tên cũng chưa bao nghe qua, nhưng một điều chắc chắn người viết là phái nữ, nét chữ mềm mại thẳng đứng nhưng rõ ràng. Trần Hoài Quyên, thật là lạ, trùng họ, trùng chữ lót, chỉ khác tên. Tôi tứ cố vô thân làm gì có họ hàng. Tôi đọc :

- Anh Lam !

Có lẽ anh ngạc nhiên lúc nhận thư của Quyên, người con gái xa lạ gởi đến cho mình, nhưng khi em nói câu này chắc chắn anh hình dung Quyên là ai : « Đi lính bị thương, bị bắn không đau, chỉ mủi kim bé tí teo này mà nhăn nhó rên rỉ như ... ».

Đọc mấy dòng chữ trên, tôi lặng người rất lâu, bàng hoàng và xúc động hơn bao giờ hết khi nhớ' lại trong trận đánh ấy, một nữ VC khuôn mặt bê bết sình đất, tóc tai rũ rượi gối đầu trên ba lô nhỏ, ánh mắt thất thần khi tôi đến gần rồi nhẹ nhàng lấy khăn lau cho cô, khuôn mặt thiên thần trong sáng hiện ra.

Cô viết tiếp :

- Đúng như anh nói, đêm hôm ấy đồng đội đã mang em ra khỏi nơi mù mịt khói lửa và chữa trị ở bệnh viện Trung Ương, sau khi rời khỏi bệnh viện, em xin về đơn vị ngành để hoạt động, không còn muốn tham gia vào nơi lửa đạn nữa. Từng là chiến sĩ xuất sắc trong khu, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, vậy mà thoái lui về hậu phương, kỳ lạ quá phải không anh Lam ? Chính anh đã làm thay đổi lập trường của em. Những người đối đầu không hẳn đều tàn ác, bằng chứng là anh. Anh đối xử thật tốt, thật nhân đạo với kẻ thù, dù rằng thuộc hạ của anh không biết bao người đã ngã xuống vì những viên đạn của kẻ địch, mà có thể trong đó có cả em bắn ra.

Hoà Bình tái lập em không vui vì còn hận thù, vay nợ máu phải trả, phương châm của bạn bè, cấp lãnh đạo đề ra. Em rất buồn vì biết anh đang đi vào ngõ cụt, không lối thoát, con đường đi đến cái chết. Như đã nói, từ sau ngày bị thương, em ra khỏi cuộc chơi, không muốn dính líu đến thù hận nữa, bàng quan trước mọi việc nhưng không thể nào quên anh, em đã cậy cục, tìm kiếm tin tức của anh qua các trại học tập. Trời không phụ lòng người, rốt cục em cũng tìm ra anh. Anh Lam ! Còn nhớ những gì em đã nói trước khi anh từ giã ra đi không ?

« Quyên đêm nào cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi ».

Em đã cầu nguyện như vậy mỗi đêm để ơn trên ban mọi điều lành đến cho anh tai qua nạn khỏi đúng như lời đã hứa. Em đang thu xếp công việc để đến thăm anh kỳ tới. Mong được găp lại anh. Hy vọng đừng làm mặt lạ với Quyên.

...

Từ đó tôi không còn là người cô độc nữa, Quyên thăm đều đặn, lần nào cũng khóc, giọt nước mắt long lanh trên má làm tôi xúc động muốn khóc theo. Ân tình của em làm sao tôi báo đáp cho nổi ! Thôi thì chỉ còn cách là ...

*

Trên đất tỵ nạn, Quyên bây giờ là mẹ của bầy con 3 đứa kháu khỉnh, xinh đẹp. Em chu toàn nhiệm vụ của người vợ hiền, người mẹ nhân ái. Sống ở xứ người văn minh tân tiến nhưng Quyên vẫn là của tôi dạo nào, áo bà ba và sợi thung buộc trên tóc. Những đêm con cái ngon giấc, em qua nằm kế bên tôi thủ thỉ trò chuyện tâm sự :

- Quyên à, em thương anh từ lúc nào.

- « Kỳ cục, ai mà nhớ, hỏi bậy bạ không à ». Em mắc cở phụng phịu.

- Vậy thì thôi anh không hỏi nữa. Tôi làm bộ giận dỗi quay mặt đi nơi khác. Cô lật đật nắm lấy tay tôi năn nỉ :

- Thôi đừng giận nữa, em nói, nhưng cấm không được cười à nha.

Quyên bắt tôi thề thốt đủ mọi điều rồi mới nói :

- Em yêu từ lúc anh kéo tay áo lên để tiêm thuốc. Mắc cở muốn chết, đã vậy còn ghẹo người ta này nọ. Anh biết không, cái khăn màu tím ngày đó anh lau mặt cho em, em giữ mãi trong người, đi đâu cũng xếp lại bỏ vào túi áo, lâu lâu mở ra xem sợ rớt mất.

Cảm động tôi hôn lên trán vợ, không ngờ cô yêu thương tôi đến như vậỵ

- Anh biết không, có một hôm em giặt xong phơi ở hàng rào gió thổi mất tiêu. Trời đất, em khóc mấy ngày trời, bỏ ăn, bỏ ngủ, đi tìm nó. Không hiểu sao nó lại về với em, đứa bạn nhặt được mang trả lại. Nó nói cái khăn này bay tới tận khu uỷ, cách đó gần 5 cây số. Em tin rằng anh luôn luôn bên cạnh để giúp em vượt qua nguy hiểm. Hôm bị thương nếu gặp người khác có lẽ cuộc đời của em không biết ra sao ? Có lẽ bị chết không chừng.

Quyên ngủ say bên vai tôi, tiếng thở nhẹ nhàng êm ái. Một điều huyền diệu khó tin nhưng thật sự là vậỵ Phải chăng duyên số đưa đẩy để tôi gặp em trong hoàn cảnh đó. Đúng như Quyên nói, nếu gặp người khác em có thể bị bắn chết hoặc chết vì vết thương. Hôn lên trán vợ, tôi thì thầm :

- « Duyên nợ trời định em ạ ».

Bên vai tôi, Quyên ngủ ngon lành khuôn mặt thiên thần không gợn chút bụi trần./.

Mũ Xanh Hắc Long Lê Văn Nguyên

NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI CÙNG TRƯỚC KHI CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ PHÁP TRỊ VIỆT NAM CÔNG HOÀ BỊ CƯỠNG TỬ.

Nhân Quốc hận 30-4-1975, nhìn lại:

NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI CÙNG TRƯỚC KHI CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ PHÁP TRỊ VIỆT NAM CÔNG HOÀ BỊ CƯỠNG TỬ.





Thật vậy, vì không nắm được ý đồ chiến lược của Mỹ, CS Hà Nội đã hăm hở nhào vào giai đọan cuối cùng của cuộc chiến. Trong giai đọan này, nếu chỉ nhìn qua hiện tượng, người ta thấy như có sự ăn ý giữa Mỹ và CSBV, kẻ tung, người hứng để cùng cưỡng tử chế độ VNCH một cách ngọan mục.



1.- KHỞI ÐI TỪ SỰ KIỆN PHƯỚC LONG:


Ngày 7-1-1975, bộ đội CSBV đã mở cuộc tiến công và đã chiếm đóng được tỉnh lỵ Phước Long như một thử nghiệm đầu tiên ý chí của Hoa Kỳ, thăm dò xem phản ứng đến mức độ nào. Hoa Kỳ đã lập tức lên tiếng tố cáo mạnh mẽ hành động vi phạm trắng trợn Hiệp Ðịnh Paris của CSBV, kèm theo lời đe dọa sẽ trừng phạt nghiêm khắc nếu CS không ngưng ngay những hành động lấn chiếm tương tự.

Sau sự lên án tố cáo có tính chiếu lệ với kẻ thù, Mỹ đã không có hành động nào khác hơn thể hiện ý chí và quyết tâm giúp “bạn” bảo vệ chế độ VNCH. Không những thế, dường như ai đó đã vô tình hay cố ý giúp thực hiện đúng ý định của Hoa Kỳ, khi khuyên TT Thiệu không nên đánh chiếm lại Phước Long làm gì cho hao binh tổn tướng, mà hãy dùng sự kiện Phước Long như là bằng chứng tố cáo trước công luận thế giới về hành động phá họai Hiệp Ðịnh Paris của CSBV. Bởi vì giải pháp cho Việt Nam bây giờ là giải pháp chính trị chứ không phải quân sự.

Có lẽ vì nghe theo lời “cố vấn” này, nên TT.Thiệu đã không tìm cách lấy lại Phước Long mà chi ra lệnh đẩy mạnh tuyên truyền , tố cáo CSBV vi phạm Hiệp Ðịnh, đẩy mạnh chiến dịch vẽ cờ, lấn đất giành dân, chuẩn bị chiếm ưu thế về lãnh thổ trong một giải pháp chính trị tương lai?

Mặc dầu “đầu tháng Giêng 1975, TT. Thiệu đã ra lệnh tập trung lực lượng không quân gồm 116 oanh tạc cơ, 160 phi cơ trực thăng, dội bom và đánh phá trọn một tuần lễ xuống Phước Long, nhưng vẫn không đẩy lùi nổi 3 sư đòan chính quy Bắc Việt đang chiếm lấy thị trấn này…. . .” (17)

Trong khi đó, từ sự kiện Phước Long, dư luận lúc đó ở Sàigòn lan truyền khắp Miền Nam, nói nhiều đến một chính phủ liên hiệp ba thành phần, nói nhiều đến giải pháp trung lập. Dường như trong tâm lý quần chúng cũng như quân đội VNCH lúc ấy đều bị hoang mang giao động, tinh thần chủ hòa đang có chiều hướng lấn ép chủ chiến. Tình cảnh này đã có ảnh hưởng rất lớn vào tinh thần chiến đấu của binh sĩ quân lực VNCH. Quân dân Miền Nam như cùng hướng lòng về một giải pháp chính trị, với tâm trạng chờ đợi,mất cảnh giác chiến đấu và suy giảm nghiêm trọng ý chí chống cộng.

Trong khi đó, Mỹ đã không có hành động trừng phạt cương quyết nào với đối phương, mà lại gia tăng áp lực đối với chế đô VNCH, thúc đẩy và nuôi dưỡng tình hình bất ổn, xáo trộn nội bộ, đẩy chế độ vào thế tam, tứ đầu thọ địch.

Áp lực mạnh nhất đánh vào cân não quân đội và nhân dân VNCH là quyết định cắt giảm quan trọng viện trợ kinh tế, quân sự cho VNCH giữa lúc chế độ đang trong điều kiện thử thách sống còn. Như vậy là Mỹ đã không giữ lời cam kết khi “Việt Nam hóa chiến tranh” (Tăng cường viện trợ quân sự để trang bị đầy đủ cho QLVNCH đủ sức làm công việc tự bảo vệ. . .), không giữ những lời hứa công khai cũng như riêng tư của TT. Hoa Kỳ Nixon (viện trợ kinh tế, quân sự dồi dào cho VNCH để thành tựu Hiệp Ðịnh Paris theo ý muốn của Mỹ. ). Hậu quả tất nhiên của đòn cân não này là tinh thần chiến đấu của tướng sĩ QLVNCH và tiềm năng chống cộng của cả chế độ VNCH phải sút giảm nghiêm trọng. Chúng ta hãy nghe sau này ông Thiệu kể lại:

“. . .vào năm 1975, tiềm lực chiến đấu của chúng tôi giảm 60%, trong khi đó tiềm lực chiến tranh của Hà Nội gia tăng ghê gớm. Tôi có thể nói trong hai năm sau khi ký kết Hiệp Ðịnh Paris, chiến tranh đã dữ dội hơn trước. Tuần nào tôi cũng cử phái viên tới Washington để giải thích. Tôi đã gửi thư cho Tổng Thống Mỹ, tôi phân bầy nỗi nguy hiểm với Ðại sứ Mỹ ở Sàigòn, song không có chuyển biến gì cả. . .”. (18)

Chuyển biến gì được nữa, khi ý định của Mỹ lúc này là đang muốn trói chặt VNCH về chính trị, kinh tế, quân sự, để chờ cho CSBV đến ban cho một phát súng ân huệ.

Mỹ đã trói chặt VNCH về chính trị trong một giải pháp liên hiệp với CS, với chiêu bài hòa giải, hòa hợp dân tộc để ru ngủ và làm tê liệt ý chí chống cộng của quân dân MNVN. Mỹ đã trói chặt về kinh tế khi cắt giảm tối đa về mọi mặt, là cắt nguồn máu nuôi sống chế độ. Mỹ đã chặt tay chặt chân về quân sự, khi không thực hiện trang bị, cung cấp vũ khí đạn dược đủ để cho trụ cột chủ yếu chống cộng đủ sức làm công việc tự bảo vệ. Việc Quốc hội Hoa kỳ chỉ thông qua một ngân khỏan viện trợ hàng trăm triệu (700 triệu) so với nhu cầu thực tế hàng tỉ, trong lúc tình hình chiến sự nguy ngập, thử hỏi QLVNCH còn đâu tinh thần chiến đấu để mà làm công việc tự bảo vê.

Mặt khác, đúng lúc này, không biết ai xui ai khiến cho TT. Thiệu ra lệnh giải giới các lực lượng bán quân sự như Nhân Dân Tự Vệ và các giáo phái có trang bị vũ khí, gọi là để tập trung lực lượng và sức mạnh chiến đấu của QLVNCH. Ðiển hình là vụ giải giới lực lượng bán quân sự của Phật Giáo Hòa Hảo khỏang 10.000 người, bắt giam ông Hai Tập, Tổng Chỉ Huy Lực lượng bảo an Hòa Hảo.

“. . . Cuối tháng Giêng 1975, ông Hai Tập, ông Lương TrọngTường thành lập một sư đòan Bảo An Hòa Hảo với mục đích tiếp tục chiến đấu kháng cộng, nếu VNCH sụp đổ. Ông Thiệu lập tức giải tán và bắt giam ông Hai Tập vì sợ lực lượng Hòa Hảo lật đổ ông. . .” (19).

Việc làm này của ông Thiệu như là hành động tự chặt tay mình về mặt quân sự. Ai đã cố vấn cho ông Thiệu làm việc này, hay do sáng kiến cá nhân, điều này chỉ có ông biết. Người bàng quan chỉ có thể suy đóan, có thể là sáng kiến cá nhân vì mối lo sợ riêng, song cũng có thể là sự gợi ý của các “Cố vấn” là người Mỹ, hoặc là người của Việt cộng. Vì rằng vào thời điểm này, tuy khác ý đồ, nhưng Mỹ và Việt cộng đã gặp nhau ở mục tiêu chung: Triệt tiêu chế độ VNCH.

Thế nhưng cho đến lúc này dường như người lãnh đạo cao nhất của chế độ VNCH vẫn chưa nắm bắt được ý định thực sự của “ người bạn đồng minh Hoa Kỳ”. Vẫn như còn cố tin vào những lời cam kết, hứa hẹn bí mật hay công khai trên giấy trắng mực đen của chính phủ cũng như cá nhân Tổng Thống Hoa Kỳ R. Nixon.

Như vậy là quả thực tập đòan lãnh đạo chế độ công cụ ngọai bang ở Hà Nội đã tài giỏi hơn nhiều so với chế độ ở Sài gòn. Tổng Thống Thiệu vẫn ngây thơ tin rằng những hành động đích thân của ngài Ðại Sứ Martin bay từ Sàigòn về Washington như là để bênh vực cho lập trường của mình. Sau khi cộng quân lấn chiếm Phước Long, ông Thiệu vẫn tin tưởng và chờ đợi Hoa Kỳ thực hiện những lời hứa và cam kết trong những bức thư trao đổi riêng tư với TT. Nixon. Trong khi đó, các lãnh tụ cáo già CSBV thì tỏ ra hết sức chú tâm và nương theo ý độ của Mỹ để đạt ý đồ của mình.

Sau khi đánh chiếm được Phước Long, cộng quân như tạm ngưng các cuộc tiến công lớn để thăm dò phản ứng của Mỹ. Nhớ lại phản ứng của Mỹ lúc ấy là ngòai những lời lên án, tố cáo, đe dọa “Sẽ trả đũa”, Mỹ chỉ tăng cường các chuyến bay do thám, mà theo nhận xét của ông Thiệu “Việc ấy chẳng khác gì dùng bồ câu thay thế B-52. . .”. Ðồng thời, TT. Gerald Ford, người kế vị TT. Nixon bị mất chức giữa nhiệm kỳ vì vụ Watergate, cũng cố làm ra vẻ hết lòng xin Quốc Hội Mỹ viện trợ bổ xung 300 triệu Mỹ kim cho VNCH.

Thế nhưng theo lời Ðại sứ Martin “. . . Nam Việt Nam không nhận được viện trợ bổ xung mà còn không nhận được chút viện trợ nào trong năm tài chánh sắp tới, bắt đầu từ Tháng 6- 75.. . .. Nói khác đi, nội trong 3 tháng nữa ông Thiệu sẽ đứng trước sự kiện bị cúp viện trợ. . .” (20). Ông Martin kết luận: “Cố gắng bơm thêm sức mạnh cho ai đó bằng những bảo đảm mà chính mình không tin thì sẽ chẳng đi đến đâu hết. . .” (21)



Ðến đây, trước phản ứng yếu ớt của Mỹ với thù (CSBV), sự gia tăng áp lực chính trị, kinh tế của Mỹ với bạn (VNCH), các lãnh tụ CS ở Hà Nội càng tin tưởng chắc chắn Mỹ sẽ không can thiệp trực tiếp trở lại, dù họ có gia tăng áp lực quân sự đến đâu. Họ bắt đầu lên kế họach thôn tính MNVN với dự liệu ít nhất 2 năm nữa mới “giải phóng” được MN. Hà nội vẫn thực sự chưa biết ý đồ này của Mỹ: Không phải chỉ không can thiệp trở lại mà còn muốn khai tử chế độ VNCH càng sớm càng tốt. Nghĩa là Mỹ đã có ý định xóa bàn cờ cũ chơi bàn cờ mới.


Trong khi đó ông Thiệu và tập đòan lãnh đạo VNCH thì vẫn nghĩ Mỹ sẽ không bao giờ “dám” bỏ rơi MN, mọi áp lực chẳng qua chỉ để buộc cá nhân ông Thiệu và phe cánh của ông phải từ bỏ quyền hành, trao lại cho ê-kíp khác, nên nội bộ đã rơi vào sự xâu xé tranh giành quyền lợi cá nhân, phe đảng, quên cả mục tiêu sống còn là ngăn chặn CSBV xâm lăng. Một cách vô tình “phe quốc gia” đã như tự đào hố chôn mình. Mặc dầu ai cũng đồng ý với nhận định của ông Thiệu lúc ấy “Chế độ VNCH còn là còn tất cả, nếu mất vào tay CS là mất tất cả”.

Thế nhưng tất cả trên thực tế đã có những hành động góp phần làm tiêu vong chế độ. Sau này chính ông Thiệu kể : “. . . Mỹ để lại 300.000 quân tại Châu Âu sau khi Thế Chiến II đã chấm dứt 30 năm; để lại 50.000 quân ở Nam Hàn sau khi chấm dứt 20 năm. Lúc chúng tôi để Mỹ rút quân, chúng tôi chỉ yêu cầu được giúp đỡ để tiếp tục chiến đấu, không còn phải duy trì nửa triệu quân ở Việt Nam, Mỹ chỉ phải chi tiêu 1 phần 20 so với trước kia. Vậy họ còn đòi hỏi gì hơn ở chúng tôi?. . .” (22).

Nhận định này của ông Thiệu chứng tỏ quản điểm lãnh đạo lỗi thời do không nhìn thấy đã có sự đổi thay chiến lược của Mỹ. Theo đó, Mỹ không phải chỉ muốn cá nhân ông Thiệu mà muốn cả cái chế độ mà ông cầm quyền bấy lâu nay phải biến đi càng nhanh càng tốt. Bởi vì đã qua rồi những cơ hội tốt để tồn tại vững vàng như Nam Hàn, để không bị hủy diệt vào những lúc có nhu cầu phải thay đổi chiến lược như thế này.



II/- ÐẾN SỰ KIỆN BANMÊTHỘT THẤT THỦ – THỬ THÁCH CUỐI CÙNG CHO TRỤ CỘT CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ÐỘ.




Ðến đây các bước người ta chuẩn bị cho một chế độ sụp đổ như đã hòan bị. Tình hình nội bộ chế độ VNCH hòan tòan rối ren, tê liệt. Quân lục VNCH, cây trụ cột cuối cùng chống đỡ cho sự tồn tại thêm thời gian của chế độ thì ra sao?


Theo tài liệu đọc được thì sau Hiệp Ðịnh Paris năm 1973 về VN, Quân lực VNCH thực sự chỉ còn sáu đến bẩy trăm ngàn quân chiến đấu. Về trang bị đạn dược và các phương tiện chiến tranh hiện còn có thể giúp QLVNCH tiếp tục chiến đấu ít nhất 2 năm. Tương quan lực lượng giữa quân lực VNCH và bộ đội CSBV theo tỉ lệ 4-1. Ðến tháng 1 – 1975 tỉ lệ này chỉ còn 2-1. Bởi vì sau 2 năm ngưng ném bóm, một phần đường mòn HCM đã được CSBV sửa chữa và đặt ống dẫn dầu dọc theo đường mòn này. Trong một thời gian ngắn, 150.000 quân CSBV đã xâm nhập thêm vào chiến trường MNVN. Sau khi chiếm được Phước Long, Hà Nội đã có thể chuẩn bị cho một lực lượng 300.000 quân bám sát đường mòn HCM tiến vào MN. Tất cả những họat động này, người Mỹ biết rất rõ, song đã không có hành động gì. Vì sao?

Chúng ta hãy nghe một chuyên viên phân tích tình báo Mỹ kể lại: “Khởi đầu cuộc tấn công cuối cùng của CS. . .lúc đó chúng tôi đã biết rằng CSBV đưa vào MNVN một lực lượng to lớn hơn nhiều so với lực lượng chúng tôi biết đang có ở đây. Họ đã tập chung số quân này Phía Tây Cao Nguyên. Bấy giờ Banmêthuột xét về mặt lịch sử, luôn luôn là điểm tựa phòng thủ của chính quyền trên cao nguyên. Banmêthuột mất thì sự phòng thủ có thể bị đánh ngang sườn. CSBV rất khôn ngoan, họ chuyển quân mà không xử dụng liên lạc vô tuyến điện. Họ đưa vào vùng Banmêthuột ba sư đòan mà chúng tôi không hề hay biết. . .” (23).

Có thực là người Mỹ không hay biết hay là họ biết mà đã cố tình không cho chính quyền VNCH biết, lại còn tìm cách đánh lạc hướng dùm cho đối phương?

Vì chẳng lẽ tình báo Hoa Kỳ chỉ dựa trên sự theo dõi liên lạc vô tuyến của VC để nắm bắt tình hình? Vậy thì chỉ có thể do bị che mắt của “Bạn” và thế nghi binh của “Thù”, mà các nhà quân sự VNCH đã đóan sai ý đồ của VC. Đoán sai nên đã cho rằng Cộng quân có thể lập lại cuộc tấn công Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, vượt qua khu phi quân sự. Vì vậy họ đã tập trung quân ở phía Bắc Ðà Nẵng để đối phó?

Trong khi đó, Banmêthuột vốn là một vị trí chiến lược trọng yếu thì quân đội Sàigòn đã không chuẩn bị phòng thủ tương xứng, chỉ triển khai 40.000 quân ở đó. Họ đâu ngờ rằng lúc ấy, 300.000 quân CSBV đã ẩn nấp bao vây, chờ giờ hành động. Ðể đánh lạc hướng, bộ đội CSBV đã cho truyền đi các bức điện giả làm như mục tiêu tiến công của họ là Pleiku, nơi đặt bản doanh của Quân Ðòan II quân lực VNCH. Quân cộng sản đã thành công trong ý đồ này, vì các nhà quân sự VNCH bao lâu nay quen dựa vào chiến lược, chiến thuật đánh CS do người Mỹ họach định sẵn, nên đã có thói quen ỷ lại, lười “động não” để sáng tạo nên đã dễ dàng bị đánh lừa của cả bạn lẫn thù.

Sự thể là đúng 2 giờ sáng ngày 10-3-1975, bộ đội CSBV đã mở cuộc tấn công Banmêthuột. Vì quá bất ngờ, không kịp tăng viện và không có quân yểm trợ nên sau 30 giờ bị vây hãm, phản công yếu ớt, Banmêthuột đã thất thủ. Rồi cũng như Phước Long, Banmêthuột thất thủ, Mỹ vẫn không có hành động gì để trừng phạt, ngăn chặn bước xâm lăng của CSBV. Dư luận thắc mắc, phải chăng ai đó lại “Cố vấn” cho TT. Thiệu với cùng luận điệu rằng không nên đánh chiếm lại Banmêthuột làm gì cho hao binh tổn tướng, lại vẫn nên dùng sự kiện BMT để đẩy mạnh tuyên truyền tố cáo CSBV trắng trợn vi phạm Hiệp Ðịnh Paris trước thế giới. Rằng lý do không cần đánh chiếm lại đất đai còn là vì giải pháp cho vấn đề Việt Nam bây giờ là giải pháp chính trị chứ không phải quân sự. Vậy thì chỉ nên “co cụm lại” để tập trung lực lượng bảo vệ các thành phố chiến lược quan trọng, để chờ giải pháp chính trị. . .

Sau này tài liệu cho biết, một trong những cố vấn đã ảnh hưởng đến quyết định “rút lui chiến thuật” của TT. Thiệu là Vũ Ngọc Nhạ, tình báo chiến lược của CSBV, như đã trích dẫn ỡ phần trên. Nhưng tựu chung, có lẽ vì nghe theo mọi lời khuyên xem ra có vẻ hợp lý, mà ngày 15-3-1975, tức bốn ngày sau Banmêthuột thất thủ,TT. Thiệu đã vội triệu tập các Tướng lãnh cao cấp trong một phiên họp ở căn cứ Cam Ranh, để đi đến quyết định vô tiền khóang hậu trong quân sử QLVNCH cũng như quân sử thế giới: Rằng cao nguyên và miền Trung phải bị bỏ rơi! Nghĩa là ông Thiệu đã quyết định bỏ luôn Quân Ðòan I và Quân Ðòan II. Quyết định này đã gây bàng hòang, chóang váng cho nhiều người, vì như thế là chỉ qua một đêm, ông Thiệu đã nhượng cho đối phương một nửa lãnh thổ VNCH!.

“Ông Thiệu đã bay ra Cam Ranh họp các Tướng Tư Lệnh chiến trường. Không cần kế họach, không cần chiến thuật đối phó với tình thế, với tư cách Tổng Tư Lệnh tối cao Quân lực VNCH, ông Thiệu nói: Tôi ra lệnh Tướng Phú di tản, bỏ Quân Ðòan II. Ông xoay qua hỏi ý kiến ông Khiêm, ông Viên. Hai ông này là những vị chỉ huy lên Tướng nhờ biết “gật đầu” đúng lúc, đã trả lời: Tổng Thống giải quyết như vậy thật phù hợp tình hình, chúng tôi tán thành ý kiến và thi hành lệnh Tổng Thống. Tứơng Phú giao Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Tất (mới vừa được vinh thăng Chuẩn Tướng) lãnh nhiệm vụ điều khiển cuộc di tản. Thế là mạnh Tướng tướng chậy,mạnh quân quân ngã gục trên đường tháo lui, mạnh dân dân kinh hòang năm chết dứơi lằn mưa pháo chận đường của CS. Pleiku bỏ, Kontum bỏ. Binh đòan hỗn quân hỗn quan, rối lọan trật tự. Bộ đội CS cắt đòan quân di tản ra làm ba mảnh, quan quân bỏ chậy tán lọan và sau cùng là tan hàng rã ngũ. . .”(24)

Sau này ông Thiệu đã biện minh rằng:



“ Chúng tôi phải rút quân về bảo vệ các vùng quan trọng, vì chúng tôi đánh giá là Mỹ sẽ không giúp nữa. Nếu họ giúp thì đã giúp rồi. Chúng tôi không thể chờ đợi đến khi quá chậm. Phải chấp nhận nỗi hiểm nghèo có tính tóan. Biết rằng rút lui mà không có khả năng cơ động và hỏa lực mạnh thì sẽ nguy hiểm. Nhưng chúng tôi vẫn phải làm” (25)


Tại sao ông Thiệu dám chọn giải pháp này dù biết rằng nguy hiểm như vậy? Vì ông ta muốn tạo áp lực để phút chót thấy tình hình nguy ngập Mỹ có thể can thiệp chăng? Vì một lời khuyên trực tiếp hay chỉ là sự gợi ý gián tiếp song có hiệu quả của Mỹ?Có thể cả hai. Vì ngài Ðại sứ Martin quả đã có sự gợi ý này: “Chỉ còn một con đường khôn ngoan duy nhất là cắt bớt các tuyến quân sự và chỉ giữ lại một phần đất mạnh về kinh tế là vùng châu thổ phía Nam”(26).

Như vậy là sự gợi ý của ngài Ðại sứ Mỹ cuối cùng ở Sàigòn cộng với lời khuyên của các “cố vấn” đã được ông Thiệu cảm nhận và thực hiện như một sáng kiến táo bạo. Có điều kết quả thu lượm được thuộc về phía Hoa Kỳ và Việt Cộng, còn hậu quả được dành cho nhân dân Miền Nam yêu chuộng tự do, những người đã nằm xuống trong cuộc chiến và những kẻ sống sót sau cuộc chiến!

Thực vậy, giải pháp trên đã được thực hiện bằng một cuộc “di tản chiến thuật” mà thực tế đã biến thành một cuộc “tháo chậy tán lọan” vô tiền khóang hậu trong lịch sử các cuộc chiến tranh cục bộ. Các chiến lược gia đã phải gọi đó là “Một cuộc rút lui được vạch ra tối nhất và thi hành tệ hại nhất trong lịch sử quân sự”. Một cuộc di tản chiến thuật gọi là co cụm lại để bảo tòan lực lượng và để đủ sức bảo vệ các vùng chiến thuật trọng yếu, rốt cuộc đã chẳng bảo vệ được gì khác hơn là góp phần làm cho quá trình sụp đổ của một chế độ nhanh chóng hơn.

Vì cuộc rút quân tàn tệ này nó đã phá hủy mau chóng quân phong quân kỷ và tinh thần chiến đấu của quân sĩ Quân Lực VNCH. Một quân đội mà trước đó đã bị hoang mang giao động bởi những đòn cân não của cả bạn lẫn thù. Hậu quả tất nhiên là quân sĩ sẽ không còn muốn chiến đấu mà chỉ muốn tháo chậy sao cho an tòan bản thân và gia đình, để có cơ may tồn tại trong một giải pháp chính trị tương lai đã được định đọat. Hầu như binh lính VNCH đều có tâm trạng không muốn là người phải hy sinh vào giờ thứ hai mươi lăm của cuộc chiến.

Xin coi tiếp số tới: “THẢM CẢNH CUỐI CÙNG KẾT THÚC MỘT QUÁ TRÌNH, MỘT CUỘC CHIẾN!”

(Còn Tiếp)

Thiện ý

Nhân dân còn bị lừa bịp cho đến bao giờ?


Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!
150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay vẫn còn là một nước chậm tiến.
Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.
Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :
Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?
Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?
Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?
Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
Tại sao đàn ông ?của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
Tại sao Liên Xô và các nước Ðông âu bị sụp đổ?
Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?
Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?
Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghỉa.
Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường. Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.
Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .
Hiện tượng "Mửa ra rồi nuốt lại" này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.
Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất. Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của Cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.
Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và "nhai lại" suy nghĩ của kẻ khác.
Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…
Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội. Giống như thời Trung cổ khi người ta luôn luôn phải chứng tỏ rằng mình là người trung thành với nhà thờ.
Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành "phương hướng hành động" chung cho tất cả mọi người.
Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…
Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.
Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia , bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang do nhà nước CS làm trung gian .
Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp "vô sản" âm thầm lột xác trở thành các nhà Tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.
Do vậy, lý thuyết CS dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ÐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành nhưng đạo đức xả hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vủ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muổi mòng giửa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.
Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo. Chẳng hạn đảng nói "xây dựng xã hội không có bóc lột" thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp bóc lột người ; đảng nói " một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản" thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói "đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất" nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.
Sở dĩ ÐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là... còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !
Nhân dân đang hy vọng rằng Ðảng sớm tự ý thức về tội lổi tầy trời của mình . Ðảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẻn.
Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”
Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu !
Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :
"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"
Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao ? Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy ?
Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu? Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai ! Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.


Châu Hiển Lý
(Bộ đội tập kết 1954)

Bài Xem Nhiều