We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 17 April 2011


1/Bố vợ

Bố vợ mình là bộ đội, lúc về hưu là Đại tá, mẹ vợ mình cũng là bộ đội làm cấp dưỡng, lúc về hưu là Đại uý.

Hồi chiến tranh bố vợ mình đi B, bom B52 nổ thùm thùm trên đầu, chẳng sợ, nhưng về nhà thì bố hơi bị sợ. mà không, nói là “nể” vậy…mẹ vợ mình.

Mình về làm rể thứ hai trong nhà. Bố vợ mình gọi con rể bẳng “ông” , xưng “mình”, có lúc gọi ông xưng tao.

Thịt chó

Thịt chó là món bố vợ mình mê mẩn. Nhưng mẹ vợ mình ghét món này. Ba cô con gái cũng ghét món này cay đắng. Bố thành cô đơn.

Hôm vừa rồi mình đi mua thịt chó về nhà mời bố đánh chén. Mẹ vợ mình vì nể con rể nên chỉ chau mày chứ không ra mặt phản đối. Mình hồn nhiên lấy mâm bầy đủ bộ thịt chó, mắm tôm, lá mơ, riềng, sả…giữa nhà.

Đầu tiên bố ậm ừ, hơi tần ngần.

Rồi bỗng hào khí nổi lên, bố xách ra chai rượu sâm.

Các thế lực thù địch thịt chó lượn lờ quanh bố con mình như sẵn sàng úp bom.

Rượu vài tuần, đĩa thịt chó ngót ngót ba phần, bố vợ mình nói: bao nhiêu năm ở nhà này toàn phải ăn giấu ăn giếm, giờ có thêm ông, mới có ngày thịt chó phát dương quang đại!

Mình ngà ngà nói: bố ạ, sau sự kiện hôm nay, con đúc kết được quả chân lý…

Là gì?

Là một khi đàn ông chúng ta đoàn kết lại, thì không một lực lượng tàn bạo nào đàn áp nổi.

Bố vỗ đùi cái đét, rồi bố nói to, giọng sang sảng như đang chỉ huy chiến trường: kể cả thế lực đó hung hiểm như đàn bà.

Hai bố con nhìn nhau rưng rưng…

Sau bữa thịt chó, bố vợ mình bắc ghế lấy trên bếp lấy một cái roi đưa cho mình, nói: cái này ngày xưa tao dùng để dạy dỗ vợ ông, giờ tao tặng lại cho ông, coi như chuyển giao thế hệ.

Nhận món quà, mình vô cùng xúc động, mình thầm hứa sẽ không phụ tấm lòng của bố.

2/Khảo sát

Năm mình 16 tuổi học ở Chu Văn An. Trường đấy là trường điểm của Hà Nội.

Có lần, một đoàn thuộc trung tâm nghiên cứu tâm lý của sở giáo dục về trường khảo sát gì đó về tâm lý học sinh cấp 3. Họ cho mấy câu hỏi, học sinh trả lời ra giấy rồi nộp. Thời điểm ấy hình thức này nó lạ, lớp mình có những đứa viết rất dài, như bài văn.

Mình vốn là học sinh hư, lười, nhiều thầy cô không ưa. (Kể thêm là cuối học kỳ một năm ấy mình biến khỏi cái trường này, lang bạt mấy cái trường nữa mới kiếm được mảnh bằng cấp 3).

Lúc nhận câu hỏi xong, mình nghĩ: viết thứ này chẳng có điểm, đoàn nghiên cứu ấy đến thu xong là đi, cũng chằng biết ai với ai, thế là mình viết.

Câu hói 1: nếu một bạn yêu em mà em không yêu bạn ấy, thì em sẽ làm gì?

Trả lời: em sẽ lợi dụng bạn ấy.

Câu hỏi 2: nếu em yêu một bạn mà bạn ấy không yêu em, thì em sẽ làm gì?

Trả lời:em sẽ dùng vũ lực.

Câu hỏi 3: nếu có 2 bạn cùng yêu em, em sẽ làm gì?

Trả lời: thế thì tốt quá đi! Em chỉ sợ mình không đủ sức.

Câu hỏi 4: nếu em và một bạn cùng yêu một bạn thứ 3, em sẽ làm gì?

Trả lời: thì em và bạn cùng cảnh sẽ bốc thăm. Còn nếu bạn ấy khoẻ hơn, thì em sẽ nhường bạn ấy trước.

Rồi nộp.

Vài hôm sau cô giáo nói về cuộc trắc nghiệm, mình mới ngã ngửa ra là trước khi nộp cho đoàn nghiên cứu, cô giáo có đọc. Cô khen các bạn trong lớp tham gia nhiệt tình, nhiều câu trả lời hay., công phu, súc tích, nội dung bài viết thể hiện nhân cách lành mạnh trong sáng. Tóm lại, cô rất tự hào.

Quay về phía mình, cô nhìn xoáy và sắc, cô nói: nhưng cũng có một số kẻ ngay từ bây giờ đã thể hiện bản chất lưu manh, vô đạo đức, đểu cáng. Là vết nhơ của bộ mặt nhà trường – cô nói tiếp: tôi khẳng định những kẻ đó khi ra đời sẽ trở thành người xấu, những con sâu làm rầu xã hội.

Thế chó nào mà vài năm sau mình lại được kết nạp đảng.

© Trần Ngọc Tuấn

Tháng Tư Buồn


Không biết tự lúc nào sau ngày 30 tháng tư năm 1975, mỗi năm vào dịp nầy lòng tôi dường như chùng xuống. Mặc dù công việc hàng ngày vẫn chu toàn 8 giờ để trả nợ áo cơm, một vài giờ cho cái business consultant của tôi, và thì giơ cho các buổi phỏng vấn hay ngồi suy tư và viết bài hay đi đó đi đây…tôi vẫn cảm nhận được một nỗi niềm u uẩn nào đó trong tôi.

Bỏ qua những ngày tháng nghiệt ngã còn lại ở Việt Nam trước khi vượt biên, phải thành thật mà nói lúc đó tôi không có thì giờ để buồn như hôm nay, vì miếng cơm manh áo và mãi lo tìm đường ra đi (cứu nước?) cho một gánh nặng với 4 đứa con dại…

Bỏ qua những năm đầu tiên sống đời tị nạn, tôi cũng chưa thực sự quan tâm gì mấy cũng như không co thì giờ để buồn…như tôi buồn hôm nay vì cuộc 'vật lộn với cuộc sống mới

Chỉ trong vòng 20 năm trở lại đây, khi gia đình tương đối ổn định và sau khi bắt đầu bước vào con đường tranh đấu cho Việt Nam qua ngã môi trường, tôi mới thực sự cảm thấy buồn. Và mỗi năm nỗi buồn đo càng se sắc hơn, ngậm ngùi hơn.

Buồn để mà buồn một mình!

Không thể nào nói tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn được. Mà tôi hiểu và hiểu rất rõ nỗi buồn thực sự của tôi vì hai lý do: - Đất Nước còn điêu linh, - và Bà con mình vẫn còn chìm đắm trong nỗi nhục nhằn làm công dân hạng hai cho một chế độ phản dân tộc chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam.

Nhìn lại những ngày bắt đầu từ giữa tháng tư năm 75, có thể nói cả thành phố Sài Gòn đang lên cơn sốt. Nào là chạy đôn chạy đáo thăm dò tình hình…mặc dù biết rằng miền Nam đang trong cơn hấp hối, nhưng cũng mong tìm và hy vọng một phép lạ. Nào là, đối với những người có chút tiền, lo chạy đi đổi tiền, làm…áp phe, hay do là tin tức tìm đươờng ra đi.

Tin tức đồn đãi nhiều khi trái ngược nhau, tin vui lẫn với tin buồn.

Nhưng nỗi buồn của tôi thực sự buồn khi rời trụ sở USAID ở đường Lê Văn Duyệt sau khi làm thủ tục…ra đi. Cầm tấm thẻ vô tri có hình của một ông giáo trẻ đầy nhiệt huyết, mà khi về lại Việt Nam năm 1973, nguyện sẽ làm một cái gì cho thanh niên Việt Nam. Tôi không thiết ăn cơm chiều hôm đó. Nếu tôi nhớ không lầm, đó là ngày thứ tư 09/4/1975.

Tới thứ hai tuần sau đó, lên Đại học Cao Đài Tây Ninh, tôi lại được mấy anh chàng CIA trẻ đóng trên đài phát tuyến ở đỉnh Núi Bà cho tôi biết rằng ngày mai, họ sẽ rút về Mỹ và khuyên tôi nên rời bỏ quê hương qua một giọng Bắc rất rành rọt. Suốt các buổi lên lớp sau đó, tôi nói như người mất hồn, một tâm trạng mà chính giờ phút viết lên dòng chữ nầy, tôi lại thêm một lần phiêu diêu nữa.

Đi? Ở? Hai chữ nầy ám ảnh mãi nơi tôi trong suốt thời gian còn lại cho đến ngày 30/4 năm đó.

Hình ảnh Ba tôi lẩn quẩn trong đầu. Hình ảnh một ông giáo già đã về hưu từ lâu, căm cuội viết thư cho con mình đi du học mỗi buổi sáng thứ năm trong tuần, để rồi, sang sáng thứ bảy đem thư ra Bưu điện gửi đi cho kịp chuyến máy bay Air France bay về Pháp, để cho con mình nhận được thư đúng ngày thứ hai. Việc nầy xảy ra đúng như in, không hề sai sót suốt hơn hai năm trời cho đến khi Ba tôi mất. Ba tôi mất ngày chủ nhựt và thứ hai sau đó tôi vẫn nhận được thư ba tôi viết trước khi nhận được điện tín của anh tôi.

Còn Má tôi. Một người mẹ già gặp lại và sống với con chưa đầy hai năm…Mà cũng chính trong thời gian nầy, tôi luôn bận bịu với những đam mê cho cuộc sống, chuẩn bị cho con đường công danh của mình… thì làm sao tôi có thì giờ chăm sóc hay hỏi han đến mẹ già. Và mỗi khi nhìn lại mình, chính tôi cũng phải tự thú rằng mình cũng không có thì giờ để nghĩ đến mẹ mình nữa trong thời gian nầy. Tôi thật có tội với má tôi.

Trở lại thời gian giữa tháng 4 năm xưa. Tâm trí tôi luôn bị ray rứt với tâm trang nửa Ở nửa Đi.

Đi không đành cũng vì mẹ già đơn côi.

Đi không đành cũng vì bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ kíu kéo lại để làm một cái gì cho quê hương.

Và đi cũng không đành vì một suy nghĩ non dại (mà chắc cũng có nhiểu người suy nghĩ như tôi), đó là Mình có thể đối thoại với người cộng sản, vì trước khi họ là cộng sản, họ là người Việt Nam với đầy đủ dân tộc tính; vì vậy mình có thể hợp tác được.

Khi đã biết sai lầm thì đã muộn, tôi phải trả cái giá gần 8 năm trong nhà tù lớn Việt Nam dưới chế độ nầy.

Chiều thứ hai 28/4, khi một tên phi công (tôi không muốn nhắc tới tên nầy lên đây, vì làm sao tôi quên được tên những kẻ phản bội quê hương) dội bom dinh Độc Lập, và từ đó lịnh giới nghiêm 24/24 được ban hành. Tôi liền chạy lên nhà một người bạn vong niên trên cư xá giáo chức ở đường Tự Đức.

Tôi đã chứng kiến được gì và đã học được gì?

Xin ghi lại vài dòng để chiêm nghiệm nỗi đau thương, nhục nhằn của những đứa con Việt trước cảnh quốc phá gia vong. Đó là:

Hình ảnh một Trung tá TQLC chạy từ Đà Nẵng về nhà người anh cũng ở cùng cư xá, hình ảnh giọt nước mắt lưng tròng khi anh cổi chiếc áo trận và cắt từng nút áo cũng như hai bông mai bạc trên cầu vai. Anh nói với người anh qua giọt nước mắt và trong từng tiếng nấc Anh xem như em đã chết rồi ngày hôm nay.

Hình ảnh từng đoàn trực thăng Mỹ chiếu đèn sáng rọi vào mặt chúng tôi trên sân thượng của cư xá trong lúc tháo chạy và chở người đi ra hạm đội.

Hình ảnh những người lính tôi không còn nhớ Dù hay Thủy Quân Lục Chiến tiếp tục chiến đấu ở cầu Phan Thanh Giản trên con đường đi ra Ngã tư Hàng Sanh. Tiếng súng bắt đầu ngay sau khi tướng Minh tuyên bố đầu hàng lúc 10 giờ 37 phút sáng 30/4. Tiếng súng chỉ im lặng lúc xế trưa, có nghĩa là tất cả anh em binh sĩ đã chiến đấu cho đến quả lựu đạn cuối cùng.

Chuyện ĐI và Ở đã được tôi quyết định ở khúc quành định mệnh nầy.

Qua ngày thứ năm 1/5, lệnh trên radio yêu cầu (bắt thì đúng hơn) mọi công chức phải đến trình diện tại trụ sở làm việc của mình. Sáng đó, tại cư xá có mặt Ông Khoa trưởng, Ông Phó Khoa trưởng và một số giáo sư, tôi và một giảng nghiệm viên tình nguyện vào Trường Sư phạm xem tình hình.

Mọi sự có vẻ êm xuôi vì họ chưa có người vào tiếp quản, ngoài một số cơ sở địa phương thôi. Nhưng một hình ảnh khác làm bẽ bàng và làm đảo lộn những suy nghĩ tốt đẹp trong tôi khi nhìn thấy một số đồng nghiệp của mình mới chỉ vừa cách đây một ngày, nay đã mang băng đỏ cách mạng từ cung cách hướng dẫn chỗ để xe, cho tới thái độ trong lúc nói chuyện. Đáng phỉ nhổ nhựt là những người ngày nào thưa anh, xưng em với tôi, mà nay trở mặt dương dương tự đắc tự xưng tôi, tôi, anh, anh một cách trơ trẻn.

Có những chị giáo sư thước tha, dịu hiền trong khi lên lớp mà nay ngoài băng đỏ, thậm chí còn để lá cờ vàng ba sọc đỏ dưới chỗ chân bàn đạp xe hơi nữa. Và hơn nữa, có giáo sư trong suốt thời gian chưa đầy hai năm ngắn ngũi của tôi, đã xem tôi như thần tượng mặc dù biết tôi đã lập gia đình rồi, thường xuyên đi ăn uống chung; thậm chí đã dám cùng tôi nhậu thịt chó nữa… Người đó bây giờ là một công thần của chế độ.

Trên đây, tôi xin diễn lại bức tranh vân cẩu chập chùng những ý nghĩ lộn xộn trong những ngày quốc phá gia vong. Xin chia xẻ cùng bà con. Đây không phải là lời tự thú hay than thở, hay nói về mình.

Nơi đây tôi chỉ muốn nói lên vài điều suy nghĩ chủ quan. Đó là:

Truyết, mầy đừng bao giờ mơ tưởng người Việt cộng sản là người Việt Nam.

Tình đời như chiếc lá, đổi trắng thay đen và lòng người thật khó lường (hơi cải lương một chút).

Và để thoát khỏi ý nghĩ tiêu cực trong những ngày đau thương của Đất và Nước, tôi tự điều hướng cho chính mình cần phải hành xử trong tương lai như:

Đứng trước quá khứ, hãy ngả mũ. Đứng trước tương lai, hãy XẮN TAY ÁO (H.L.Mencken).

Người khôn ngoan đi tìm nguyên do lỗi lầm ở bản thân. Kẻ khờ dại đi tìm nguyên do ở người khác. (Câu nói của Khổng Tử giản dị như vậy mà còn có kẻ không học được!).

Xin góp phần vào những Ngày Buồn Tháng Tư

Mai Thanh Truyết

West Covina 15/4/2011

Bắt cá hai tay


Hình “Nhớ Người Thương Binh”

Ngày xưa - xưa lắm rồi - lúc đó, tôi còn đang học tiểu học ở Thị Nghè.

Vào một buổi sáng Chủ Nhật, người anh họ của tôi tới chơi, rù anh em chúng tôi đi thăm sở thú. Cũng ngay lúc đó, thằng bạn thân nhất của tôi là thằng Tự (sau này là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tỉểu Đoàn 38 Biệt Động Quân, đã đánh Việt Cộng cho tới viên đạn cuối cùng, rồi tử trận ngay vào ngày 30 04 1975) đến rủ tôi đi . . . xem xi nê . . . cọp.

Tôi không biết tính làm sao? Đi sở thú tôi cũng thích, vì mặc dù nhà tôi ở Thị Nghè, sát ngay bên cạnh Sở Thú, ngày nào đi học tôi cũng được nghe tiếng voi rống, tiếng cọp gầm, tiếng khỉ kêu khèng khẹch, nhưng tôi chưa bao giờ được đi thăm sở thú cả. Rồi Hiệp Sĩ Zoro bịt mặt tôi cũng mê. Cuối cùng, tôi nói với anh tôi:

“Anh ở đây chờ em, em . . . đi xem xi nê với thằng Tự xong rồi về nhà anh dẫn em đi Sở Thú.”

Cả nhà nhìn tôi cười, mẹ tôi nói:

“Thằng này, đúng là . . . bắt cá hai tay. Con chỉ có thể chọn một thứ thôi, chứ đâu có thề được cái này, lại đòi cả cái kia nữa.”

Tôi nghe mẹ giải thích, thì cũng hiểu là tôi chỉ được chọn một là đi Sở Thú, hai là đi xem xi nê, chứ không thể chọn cả hai thứ được. Vì khi xem xi nê về thì trời đã tối rồi, đâu còn sở thú nào mở cửa cho tôi vào xem. Nếu tôi chọn đi Sở Thú thì khi xem xong những con thú rồi, rạp xi nê cũng đóng cửa rồi, không thể đi xem được.

Nhưng tôi thắc mắc vì lời ví von của mẹ tôi:

“Bắt Cá Hai Tay”

Tôi hỏi mẹ:

“Mẹ ơi, bắt cá thì chắc chắn phải bắt bằng hai tay rồi, chứ dùng một tay, con cá nó trơn tuột, làm sao mà bắt cá cho được! Ai cũng biết chuyện đó rồi, hơn nữa, con đang ở nhà, chứ đâu có đi bắt cá đâu mà mẹ lại nói là con . . . Bắt cá hai tay?”

Mẹ tôi cười một lần nữa vì cái ngu đần của tôi. Cười đã rồi, mẹ mới giải thích:

“Câu nói đó chì là rút gọn lại mà thôi, chứ nguyên câu, phải nói là: Muốn bắt cá thì phải dùng hai tay mà bắt một con cá, chứ không thể đưa hai tay bắt cả hai con cá một lượt. Đó là nghĩa đen, còn nghĩa bóng, mẹ nói con chỉ có thể chọn một thứ, hoặc là đi Sở Thú, hoặc là đi xi nê, chứ không thể vừa đi Sở Thú, vừa đi xi nê được.”

Hình “Ngày Xưa Còn Đó”

À thì ra thế! Tiếng Việt của chúng ta dễ nghe, dễ nói, dễ hiểu mà cũng dễ để không nghe được, không nói được và cũng . . . không hiểu được. Phải có sự giải thích, sự thông cảm mới có thể hiểu nhau được.

Đó là chuyện trong nhà của tôi, thời thơ ấu.

Giờ đây, trong thế trận của Cộng Đồng Người Việt Nam trên toàn thế giới, vẫn có những Người Việt của chúng ta muốn chơi trò

BẮT CÁ HAI TAY.

Mới đây, khi nghe tin hội Cựu Quân Nhân Liên Bang Úc (RSL Federation) đề nghị với chính quyền Úc và Việt Cộng để Cựu Quân Nhân Úc đi diễn hành chung với Cựu Bộ Đội Việt Cộng, rất đông anh em chúng ta đã lên tiếng phản đối tức thì.

Nào là gởi thư phản đối đi khắp năm Châu bốn Biển cánh cáo mọi người trước âm mưu bắt tay với kẻ thù của hội RSL, nào là viết thơ phản đối gởi cho bà Thủ Tướng Julia Gillard, nào là gới thơ thẳng cho cựu Thiếu Tướng chủ tịch hội RSL Liên bang . . . phản đối việt họ bắt tay cho kẻ thù Việt Cộng:

“Chúng tôi, những người Lính Việt Nam Cộng Hòa, đang là bạn với you, chúng ta đã cùng chung vai sát cánh đánh bọn Việt Cộng để giữ giang san Việt Nam, bảo vệ Tự Do, Hạnh Phúc cho toàn dân Việt. Bỗng dưng you quay lưng lại bắt tay với bọn kẻ thù Việt Cộng. Chung tôi trở thành . . . cái gì của you bây giờ? Không lẽ you muốn chúng tôi đổi lại, trở thành . . . kẻ thù của you? Không lẽ you muốn chúng tôi cũng . . . bắt tay với bọn Việt Cộng, giống như you làm? Tụi Việt cộng lúc nào cũng tàn ác, vô nhân đạo, chúng tìm đủ mọi cách để giềt hại và làm nhục anh em Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, làm sao chúng tôi có thể làm bạn với chúng được?”

Những lời phản đối này, nghe thật có lý, thật chí tình, chứng tỏ Cộng Đồng Người Việt chúng ta lúc nào cũng căm thù bọn Việt Cộng tàn ác, đã chiếm đoạt quốc gia của chúng ta, đã phá tan gia đình và xã hội của chúng ta, đã giết hại bao nhiêu sinh linh vô tội, những chiến sĩ can trường của chúng ta.

Nếu nói đến đây rồi hết chuyện, thì đẹp biết bao! Hào Hùng biết bao!

NHƯNG

Sự đời luôn luôn có những cái NHƯNG tai hại.

Mới năm 2009 đây, Khi ca sĩ Chế Linh, người đã mạnh miệng ngay tại thủ đô Việt Nam của Tiểu bang Victoria, ca ngợi đám bộ đội Việt cộng:
“Những người Bộ đội cũng đáng được ca tụng”

Thì qua năm 2011, anh ta lại được Hội Bạn Thương Phế Binh Adelaide mời tới Úc hát gây quỹ cho Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa. Việc để Chế Linh hát, không những được Hội Bạn Thương Phế Binh đồng ý, lại còn có sự đồng ý của một số anh em cựu quân nhân chúng ta. Nói cho rõ hơn, một số hội Cựu quân nhân của chúng ta cũng ủng hộ cho Chế Linh nữa.

Một số đồng hương của chúng ta,

Một số cựu quân nhân của chúng ta . . .

Có phải họ đang chơi trò . . . Bắt cá hai tay đó hay không?

Hội RSL Liên bang muốn diễn hành chung với Việt Cộng, họ phản đối là Cựu Quân Nhân Úc đã bắt tay với kẻ thù chung.

Chế Linh ca tụng bọn bộ đội thì họ lại mời qua hát gây quỹ, giúp . . . Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa.

Hình Mẹ Già Khóc Con

THẾ NÀY LÀ THẾ NÀO?

ĐẰNG NÀO CŨNG MUỐN CÓ, ĐẰNG NÀO CŨNG MUỐN HƯỞNG

ĐÚNG LÀ BẮT CÁ HAI TAY RỒI CÒN GÌ NỮA!`

CHÚNG TA HẢY THỦ TÌM HIỂU XEM, NHỮNG NGƯỜI ĐÓ MUỐN LÀM GÌ? VÀ ĐANG LÀM GÌ?

HỌ MUỐN LÀM GÌ?

Họ là những ai? Bác sĩ Hoàng Anh Tuấn, chủ tịch hội Bạn của Thưong Phế Binh Viêt Nam Cộng Hòa Adelaide (FOVIVA) và ông John Nguyễn, của công ty Ozstarproduction.

Họ muốn tổ chức một buổi đại nhạc hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa, lấy tên là “Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh”.

Đại nhạc hội với cái tên “Cám Ơn Anh” đã được Trung tâm ca nhạc Asia và MC Nam Lộc tổ chức nhiều lần ở bên Mỹ rất là thành công. Vì thế, khi những người tổ chức ở bên Úc mới đưa thiệp mời Nam Lộc qua giới thiệu đại nhạc hội kiểu này ở bên Úc.

HỌ ĐANG LÀM GÌ?

Ban tổ chức này sẽ tổ chức ba buổi đại nhạc hội gây quỹ ở Adelaide, Sydney và Melbourne. Trong bích chương, họ ghi: Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa (Gây quỹ trợ giúp Thương Phế Binh QLVNCH). Vé bán có giá từ $50.00 cho tới $90.00 trong chương trình sẽ có bán đấu giá và xin tiền các mạnh thường quân.

Mục đích của ban tổ chức rất là có chính nghĩa và chương trình của họ rất là phong phú, hấp dẫn, gồm đa số là những ca nhạc sĩ từ bên Mỹ qua. MC lại là một người nổi tiếng chống cộng và đã từng làm MC cho những chương trình đại nhạc hội “Cám Ơn Anh” ở bên Mỹ.

Cũng vì những lý do trên, mà đại nhạc hội này đã được nhiều người trong cộng đồng người Việt hưởng ứng.

ĐẠI NHẠC HỘI CÁM ƠN ANH NGƯỜI THƯƠNG PHẾ BINH VIỆT NAM CỘNG HÒA LÀ ĐỂ GÂY QUỸ HOÀN TOÀN CHO THƯƠNG PHẾ BINH?

HAY ĐÓ CHỈ LÀ MỘT CHƯƠNG TRÌNH CA NHẠC THƯƠNG MẠI?

Trong bích chương quảng cáo, chỉ ghi là “Gây quỹ giúp Thương Phế Binh QLVNCH thôi, chứ không nói rõ: Tất cả những số tiền thâu được sẽ cho vào quỹ để giúp các thương phế binh.

Bích chương cũng không nói rõ là có ca sĩ nào, nhạc sĩ nào hát và trình diễn thiện nguyện hay không?.

Do đó, có thể đây chỉ là một chương trình ca nhạc thương mại dành một phần nào đó cho các thương phế binh mà thôi, và cũng có thể là dành hết số thâu cho anh em Thương Phế Binh.

Tôi không biết, bạn cũng không biết, vậy chúng ta hãy đọc email sau đây của chủ tịch hội Cựu Quân Nhân Victoria gởi cho các chiến hữu và thư hồi đáp của một chiến hữu:

“Từ: Viet Long Nguyen

Chủ đề: Re: Cam on anh
Ngày: Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011, 11:23

Các anh em thân mến
BTC Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh có nói với tôi là 3 hàng ghế đầu là
sponsor vé mời,Anh em quân phục sẽ ngồi hàng thứ nhì.
Tức là vé mời ,Khi ca sỉ xuống và xin tiền,thì mình cho tiền,tùy hỉ.
BTC hiễu anh em CQN nghèo ,nếu mua vé rồi thì không ủng hộ
nữa lúc đó thì coi không được phải không? BTC sẽ đưa vé mời free cho
anh em,rồi anh em sẽ ủng hộ lúc đó ,anh em thấy sao?
Xin cho biết ý kiến. Các hàng ghế thứ tư trở đi cũng 90 ,nhưng phải mua.
Vấn đề Chế Linh,anh em mình thông cảm phải không?
Long

Kính gởi C/h Nguyển Việt Long CT. Hội CQN QLVNCH/VIC.
V/v đêm VN Cám ơn Anh...theo tôi được biết là BTC tại Adelair...VN không phải gây quỷ giúp TPB thuần nhất mà là lợi nhuận..BTC sẻ trích một phần nào đó yểm trợ vào

Hình “Đạp Xe Kiếm Sống”.

GÂY QUỸ GIÚP THƯƠNG PHẾ BINH CỦA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA, LÀ NHƯ THẾ ĐẤY.

NGUYỄN KHẮP NƠI

Bài học gì từ biến cố 30/4/1975?

Đây là câu hỏi mà có lẽ nhiều người Việt Nam mong đợi câu trả lời trong suốt 33 năm qua. Nhưng thiết tưởng muốn có thì cần đi tìm, tại sao không tìm hiểu để tự trả lời mà phải mong đợi? Vì đây là vấn đề quốc gia đại sự có liên hệ đến nhiều cường quốc, chỉ có giới lãnh đạo -những người có trách nhiệm tột đỉnh, giữ địa vị lâu dài, mới có đủ tư thế trả lời. Và bài học họ rút tỉa được (may ra) mới có giá trị. Đó là ba ông tướng lãnh cao cấp: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Cao Văn Viên. Câu trả lời của họ sẽ giúp đồng bào cảm thông, thấy được hoàn cảnh vô cùng khó khăn của đất nước mà những người lãnh đạo đã cố hết sức mình để hoàn thành trách nhiệm do nhân dân giao phó. Hoặc ít ra, nó cũng giúp mọi người có cơ sở để phán xét việc làm của giới lãnh đạo, từ đó có thể tìm thấy được bài học gì hữu ích cho mai sau. Thật ra, không có bài học lịch sử nào giống bài học lịch sử nào, song đồng bào vẫn luôn kỳ vọng…chỉ vì tương lai đen tối của tổ quốc: kinh tế ngày càng tụt hậu, đồng bào không có dân chủ tự do, một phần đất nước lọt vào tay ngoại bang.

Có một số người, dù không nắm hết mọi khía cạnh lớn của đất nước, nhưng đã cố công theo dỏi các diễn biến lịch sử để đưa ra bài học nầy, kinh nghiệm nọ, rồi đi đến khen chê, đề cao hoặc mạt sát những người lãnh đạo. Điều này vừa thiếu công bằng vừa đào sâu thêm sự hiềm khích sẳn có, mà vẫn chưa đưa ra lời giải đáp nào thỏa đáng. Rất tiếc, ba lãnh tụ VNCH nêu trên không ai viết lại hồi ký, ghi lại đoạn đường đau thương của đất nước, và tự phán xét việc làm của mình để rút ra bài học. Lúc cầm quyền, họ có rất đông tùy viên, nào là bí thư, nào là chánh văn phòng, chánh võ phòng…Những thuộc cấp đó có bổn phận ghi chép công việc thường nhật của xếp mình, cũng chính là công việc của quốc gia. Khi về hưu, họ chỉ nhìn lại từng sự kiện, nhớ lại cách hành xử của mình mà viết hồi ký. Một việc thường tình, mà không làm được. Chả lẽ họ đã quên quê hương đất nước rồi sao?

Tuy nhiên cũng có hai nhân vật cao cấp có tầm cỡ, ghi lại hồi ký, đó là cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn và cựu Tổng trưởng Kế hoạch -Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Ông Cẩn luôn tự hào về con đường tiến thân và sự nghiệp chính trị của mình. Theo ông “ở Pháp có những người tốt nghiệp từ trường Quốc gia Hành chánh, nhưng tích cực tham gia sinh hoạt chính đảng hoặc hữu khuynh hoặc tả khuynh. Đa số các vị này tranh cử vào Hạ Nghị viện và từ cương vị của đại diện dân cử được mời qua Hành pháp giữ các chức vụ hoặc Thủ tướng hoặc Tổng Bộ trưởng. Họ có thế lực vì họ là đại diện cử tri tại một địa phương, là dân biểu Quốc hội và việc tham gia Nội các của họ không phải là do lời mời cá nhân mà nằm trong một thủ tục chuyển quyền hiến định của toàn thể hoặc từng phần Nội các. Điển hình là trường hợp của hai cựu và đương kiêm tổng thống Pháp Giscard d’Estaing và Jacques Chirac (ghi chú: thời điểm 2003) cả hai đều tốt nghiệp trường Hành chánh và cả hai đều từ dân biểu qua lập Nội các, giữ chức Thủ tướng nhiều năm, trước khi tranh cử tổng thống. Cựu thủ tướng Pháp Lionel Jospin cũng tốt nghiệp trường Hành chánh và từ Dân biểu Quốc hội được mời thành lập Nội các và ra tranh cử chống Tổng thống Jacques Chirac”. Ông Cẩn tự hào cũng tiến thân như vậy. Ông tốt nghiệp trường QGHC, đắc cử Dân biểu, tham gia đảng chính trị, ông là Tổng Bí thư Đảng Công Nông Việt Nam. Một bộ phận của đảng Công Nông là Tổng Liên đoàn Lao Công Việt Nam lúc bấy giờ, theo ông cho biết có độ nửa triệu đoàn viên. Và sau cùng ông là Thủ tướng. (1)

Còn Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, từ 1957 ông du học, tốt nghiệp, dạy Đại học và sống lâu năm ở Mỹ -là quốc gia đã yểm trợ VNCH. Sau 16 năm ở Hoa Kỳ, ông về nước tham chính, làm Phụ tá Tổng thống Thiệu về tái thiết, sau đó giữ chức vụ Tổng trưởng Kế hoạch qua hai đời thủ tướng: Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Bá Cẩn. Ông tự nhận “hoàn toàn không ở địa vị đủ cao cấp để nói lên lời cuối, nhưng nhờ một cơ duyên của lịch sử đã may mắn được gặp lại cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần ở London và Boston để nghe và ghi lại những lời cuối cùng của ông về cuộc chiến”. (2)

Ông cựu thủ tướng viết hồi ký Đất Nước Tôi năm 2003 và ông Tiến sĩ phụ tá tổng thống viết quyển Khi Đồng Minh Tháo Chạy” năm 2005. Ở tuổi trên 70, sau gần 30 năm suy ngẫm… hai tác phẩm trên tất phải có giá trị, đáng tin cậy để đồng bào đọc và thấy được tại sao nước mất với biến cố 30/4/1975.

Muốn rút tỉa bài học, trước hết phải nhìn lại cẩn thận, xem xét nguyên nhân nào đã dẫn đến biến cố trên.

Trong sách Đất Nước Tôi có “Chương 18 Tại sao Miền Nam Thua” và “Chương 19 Việt Nam Bị Bán Đứng”, nghĩa là “Miền Nam thua vì Việt Nam bị bán đứng”. Ông Cẩn cho rằng: “Sau khi chiến tranh lạnh tiến dần đến giai đoạn Hoa Kỳ và Nga Xô phải bàn chuyện chung sống hòa bình trong những hoàn cảnh và điều kiện nào đó để quân bình lực lượng, quân bình ảnh hưởng trên thế giới. Chính trong khuôn khổ một trật tự mới cho thế giới này mà VNCH bị biến thành con cờ để trao đổi với Cộng sản Nga Hoa. Nói rõ hơn, thay vì phải giữ cho VNCH được tự do dân chủ với bất cứ giá nào để làm “tiền đồn cho Thế giới Tự do” hầu ngăn chặn chính sách bành trướng của Cộng sản thì nay, vì sẽ có cam kết sống chung hòa bình trong khuôn khổ một trật tự mới đã được thỏa thuận, thì nguy cơ bành trướng Cộng sản không còn nữa, tất nhiên “KHÔNG CẦN TIỀN ĐỒN NỮA”.

Cũng vì đó “VNCH và Đài Loan bị bán đứng từng phần cho Trung Cộng”. Nixon đã bán đứng “quy chế cường quốc và thành viên Hội đồng Bảo An LHQ” của Trung Hoa Quốc Gia cho Trung Cộng. Và sau đó, Hoa Kỳ làm ngơ để Trung Cộng chiếm Hoàng Sa của VNCH. Riêng VNCH còn bị HK hy sinh để đổi lấy Trung Đông, vì lẽ Kissinger -ngoại trưởng HK là người Do Thái. Sự tồn tại của Do Thái và quyền lợi dầu hỏa ở Trung Đông, nên HK phải cắt viện trợ cho VN để dồn cho Do Thái. (3)


Trong chương 18, ông Nguyễn Bá Cẩn có đề cập đến chiến tranh Đông Dương 1946-1954 với nhận xét “Pháp và Đồng Minh (Anh, Hoa Kỳ…) đã thua chiến tranh Đông Dương vì không có chính nghĩa”. Còn chiến tranh Việt Nam 1967-1975, Miền Nam thua vì VNCH bị bán đứng. Không hiểu tác giả dựa vào cơ sở nào để nói rằng chiến tranh Việt Nam khởi sự từ 1967? Phải chăng ông muốn những diễn tiến của lịch sử phải phù hợp với sự nghiệp chính trị của ông. Trang 474-5, ông cho biết: “Kể từ năm 1967 cho đến 1975, trong 8 năm tại Hạ Nghị Viện VNCH, tôi có dịp tiếp xúc với hàng chục nghị sĩ vả dân biểu Hoa Kỳ đến thăm Sàigòn…”.

Cái nhìn của ông Cẩn về chiến tranh Đông Dương 1946-1954 không phản ánh đúng sự thật lịch sử. Chiến tranh Đông Dương khởi đầu từ cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo. Tài liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) đã ghi rõ: trong cuộc xung đột Pháp/Việt Minh ở Nam Bộ và cuộc đàm phán Pháp với ông Hồ Chí Minh năm 1946, Hoa Kỳ giữ thái độ trung lập. Vì thế Tổng thống Truman từ chối lời yêu cầu của De Gaulle xin HK cung cấp phương tiện để chở quân Pháp sang Đông Dương. HK cũng bác bỏ yêu cầu của Paris xin cung cấp vũ khí để Pháp chống Việt Minh. HK cũng làm ngơ trước những lời kêu gọi của ông HCM yêu cầu HK can thiệp để VN trở thành một nước được Mỹ bảo hộ trong một thời gian, trước khi độc lập như Phi Luật Tân.

HK hoàn toàn đứng ngoài trong cuộc chiến Đông Dương cho đến giữa năm 1948. Lúc bấy giờ chiến tranh lạnh giữa Thế giới Tự do và Quốc tế Cộng sản đã diễn ra. Ông HCM từng xác nhận “kháng chiến VN là một bộ phận của nhân dân thế giới do Liên Xô lãnh đạo. Kháng chiến VN là một hình thức cao rộng của giai cấp đấu tranh, nghĩa là cuộc đấu tranh lớn trên toàn thế giới, giữa thế giới tư bản và thế giới cộng sản”. Vì vậy HK áp lực mạnh buộc Pháp trao trả độc lập cho các nước Đông Dương. Nhờ đó, thỏa ước Elysée ra đời năm 1949: Pháp nhìn nhận VN độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp (LHP), song HK vẫn chưa ủng hộ thỏa ước. Đến giữa tháng Giêng 1950, tức ba tháng sau khi chiến thắng ở Hoa Lục, Mao Trạch Đông thừa nhận nước VNDCCH, đồng thời chi viện giúp ông HCM chống Pháp. Ngay sau đó, Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu cũng theo gưong Trung Cộng. Đầu tháng Hai, HK và các nước Tây phương mới chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo.

Theo kế hoạch giải thực (giải trừ chế độ thực dân) của LHQ, các nước thực dân phải huấn luyện người dân thuộc địa có đủ trình độ để quản trị đất nước sau khi thu hồi được độc lập. Riêng VN, đã có đầy đủ chuyên viên trí thức tốt nghiệp từ Pháp hoặc Đại học Hànội…Nhưng VN chưa đủ sức bảo vệ nền độc lập vì sự uy hiếp của Việt Minh Cộng sản. Do đó VN cần phải nằm trong khối Liên Hiệp Pháp, để được Pháp và đồng minh HK -đứng đầu Thế Giới Tự Do yểm trợ mới đủ sức đương đầu với VM được Cộng sản Nga Hoa ủng hộ. Cũng tương tự như Mã Lai, mãi đến năm 1957, sau khi dẹp yên Mã Cộng, Anh quốc mới trao trả độc lập cho Mã Lai.

Nhờ lực lượng cân bằng, đại diện hai khối Thế gìới tự do và Quốc tế Cộng sản là Anh Quốc và Trung Cộng đứng ra chủ toạ hội nghị Genève 1954, đi đến chia cắt ảnh hưởng ở Đông Dương, nhằm bảo vệ hòa bình thế giới. Miên Lào trung lập, miền Bắc VN thuộc ảnh hưởng khối Cộng, miền Nam VN thuộc ảnh hưỏng Thế Giới Tự Do. Trách nhiệm hoàn tất, Pháp rút khỏi Đông Dương. Lãnh đạo miền Nam là thủ tướng Ngô Đình Diệm, một chí sĩ yêu nước, thanh liêm, từng từ chức Thượng thư đầu triều để phản đối Pháp. Nếu Anh Pháp Mỹ không có chính nghĩa trong chiến tranh Đông Dương 1946-1954 khiến Pháp bại trận như nhận định của ông Cẩn, thì làm sao có được VNCH, nhân dân miền Nam được sống trong dân chủ tự do 21 năm!

Ngày 26/4/2005, sau khi phát hành quyển Khi Đồng Minh Tháo Chạy, đài VOA đã hỏi Ts Hưng: “Có nhiều người đã nói rằng MN sụp đổ vì hai lý do Mỹ bỏ rơi và MN thiếu ý chí tồn tại. Là người trong cuộc ông nghĩ sao? Ông Hưng trả lời “Lý do Mỹ bỏ rơi rất đúng vì MN đã được sử dụng như một quân cờ trong ván cờ thế giới. Nhưng một khi đã bắt tay được với Mao trạch Đông và hòa hoãn được với Liên Xô thì “cái tiền đồn của thế giới” không còn cần thiết nữa, và phải tìm cách tháo lui. Câu hỏi đặt ra không phải là “có nên hay không nên bỏ rơi MN” mà là “bỏ rơi như thế nào” thôi. Còn lý do “MN thiếu ý chí” thì chính đại sứ Martin đã nói ngược lại là MN không thiếu ý chí”.

Trong tác phẩm KĐMTC, Ts Nguyễn Tiến Hưng cho rằng nguyên nhân Mỹ dứt khoát bỏ rơi MN là vì quyền lợi của Mỹ ở VN đã không còn nữa. Ông lập luận rằng “Sau Thế chiến II, HK giúp thành lập hai quốc gia Do Thái và VNCH. Ngày 14 tháng 5 1947, Do Thái trở thành một quốc gia độc lập. Ngày 26 tháng 10 1955, nước VNCH được thành lập, Hà Nội nhất quyết đòi hỏi phải tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc để đi tới thống nhất đất nước theo qui định của hiệp định Genève. Tổng thống Diệm, với sự ủng hộ mạnh mẽ của HK, tiếp tục bác bỏ. Ngày nay, VNCH đã mai một 30 năm rồi, nhưng Do Thái vẫn còn trường tồn, lại còn mạnh mẽ hơn. Lý do là vì Mỹ vẫn còn cần đến Do Thái làm tiền đồn để trấn giữ túi dầu ở Trung Đông. “Nếu tiền đồn dầu lửa ở Trung Đông còn cần thiết thì tiền đồn của Thế giới tự do bên Á châu lại không còn cần thiết nữa”. Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của miền Nam để “ngăn chặn làn sóng đỏ” đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần VN đã hết vai trò một tiền đồn của Thế giới tự do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi”. (4)

Lập luận của TS Nguyễn Tiến Hưng về việc HK giúp thành lập hai quốc gia Do Thái và VNCH không phản ánh đúng sự thật lịch sử, Theo tài liệu của Tự điển bách khoa Wikipedia thì năm 1947, Liên Hiệp Quốc chấp nhận phân chia phần đất Palestine thành hai quốc gia: một là Jewish, một là Arab. Ngày 14/05/1948, Israel tuyên bố độc lập. Quả thật, từ đó đến nay HK luôn là đồng minh của Do Thái, có phải vì dầu hỏa hay không? Nhưng có điều chắc chắn là đất nước nhỏ bé này luôn bị các nước Á Rập láng giếng hăm doạ xoá tên trên bản đồ. Do Thái lại là quốc gia đứng đầu các nước ở Trung Đông, không những vì nền kinh tế phát triển mà còn là một nước tôn trọng nhân quyền, dân chủ tự do. Tôi nghĩ rằng đó là lý do HK phải yểm trợ Do Thái, cái nôi dân chủ tự do trong vùng đất nhiều dầu hỏa nhưng thiếu dân chủ tự do vì quá cuồng tín. Cũng tương tự như MNVN sau 1954, HK luôn yểm trợ MNVN, coi đây là mô hình tự do, phồn thịnh ở Đông Nam Á.

Còn lập luận nói rằng HK đã ủng hộ Tổng thống Diệm bác bỏ đề nghị của Hà Nội tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, để thành lập VNCH đã vô tình bôi xấu TT Diệm. Ông Diệm không bác bỏ việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước mà chỉ đưa điều kiện để tiến hành. Đó là khi nào nhân dân miền Bắc được hưởng những quyền dân chủ tự do thực sự. Việc VNCH ra đời cũng tương tự như Do Thái là do LHQ chớ không phải HK. Tại hội nghị Genève 1954, toàn thể các Hội viên thường trực Hội đồng Bảo An LHQ đồng ý chia đôi VN. Thực trạng VN cũng tương tự nước Đức và Triều Tiên. Tháng 8 năm 1955, thủ tướng Diệm đã trả lời đề nghị của Hà Nội về việc tổ chức tổng tuyển cử: “Tổng tuyển cử là một định chế hòa bình và dân chủ nhưng với điều kiện tiên quyết là sự tự do sinh sống và tự do đầu phiếu phải được bảo đảm”. Ông giải thích thêm “người ta không thể làm được điều gì xây dựng về vấn đề này khi mà chế độ Cộng sản miền Bắc vẫn không cho phép người dân của họ hưởng những quyền tự do dân chủ”. Ông Diệm còn cho rằng việc tổng tuyển cử chưa thể thực hiện khi chánh quyền CS ở miền Bắc ngay bước đầu đã vi phạm quyền tự do công dân. Họ không cho người dân miền Bắc được tự do lựa cọn vùng muốn sinh sống theo tinh thần hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam tứ HĐ Genève 1954. Sau đó qua chiến dịch “cải cách ruộng đất” chính quyền miền Bắc đã tiến hành khủng bố tàn bạo trong phạm vi rộng lớn để trấn áp những người không thích chế độ cộng sản.

Còn HK trong tuyên bố riêng công bố sau khi Hội nghị Genève bế mạc, họ cho biết về vấn đề VN bị chia cắt: “nếu quyết định của các cường quốc phản lại ý muốn chung của người dân bản xứ, HK sẽ mưu tìm sự thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do có LHQ giám sát”. Trong tinh thần đó, chính quyền Eisenhower đã ủng hộ lập trường của TT Diệm là cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam chỉ được tiến hành khi nào miền Bắc chấm dứt khủng bố, thực thi dân chủ và để người dân tự do thực hiện quyền đầu phiếu. Việc này HK đã hoàn thành trong HĐ Paris 1973: nhân dân MN được hưởng mọi quyền tự do, sau đó tham gia cuộc tổng tuyển cử tự do để quyết định thể chế tương lai MN. Chính phủ MN sẽ hiệp thương với chính phủ MB để thống nhất đất nước theo tinh thần HĐ Genève 1954.

Ông cựu thủ tướng là một chuyên viên hành chánh, ông Phụ tá tổng thống là một chuyên viên kinh tế, các ông chỉ trình bày tổng quát về lịch sử chính trị nhằm mục đích làm sáng tỏ lập luận của mình: HK bỏ rơi VNCH để dồn lực cho Do Thái, vì lẽ Kissinger là người gốc Do Thái. Ông Cẩn còn đi xa hơn, cho rằng Anh Pháp Mỹ không có chính nghĩa trong cuộc chiến Đông Dương 1946-1954 để có lý do lên án HK bỏ rơi miền Nam hồi năm 1975. Điều quan trọng mà đồng bào muốn biết là giới lãnh đạo đất nước đã nhận định như thế nào về sự sụp đổ của MN? Nay thì đã có câu trả lời: ‘Mỹ không cần tiền đồn nữa” và “tháo chạy”. Ông đồn trưởng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu vội vàng chạy trước, tiếp theo là các viên chức giúp việc chạy sau. “Đất nước tôi” là như vậy, “Đồng minh (của Mỹ) tháo chạy” là như vậy.

Sau này, gặp lại nhau ở hải ngoại, ông Thiệu nói với cựu phụ tá của mình: “Tôi có trách nhiệm, nhưng không có tội” (Je suis responsible mais pas coupable) (5) Dù sao, ông vẫn còn biết mình có trách nhiệm (trước 1975)…Nhưng lại cho rằng mình không có tội, vì tất cả là do Hoa Kỳ. Đổ lỗi cho Mỹ là xong chuyện. Ba mươi năm sau, trong tác phẩm KĐMTC, Ts Nguyễn Tiến Hưng viết rằng: “Nhìn lại lịch sử, tôi cũng không khỏi suy tư và đặt một câu hỏi khác: tại sao phía VNCH lại cứ âm thầm từ hè 1973 khi Mỹ bắt đầu cắt xén viện trợ? Tại sao lãnh đạo hành pháp và lập pháp không họp lại để bàn luận về hồ sơ mật xem phải nên đối xử làm sao với HK trong hoàn cảnh chính trị của Watergate, và dưới triều một tổng thống Mỹ mới? Việc này chỉ được làm sau khi rút khỏi Pleiku thì đã qua muộn”. (6) Ba mươi năm sau, vẫn còn ý nghĩ “ỷ lại vào Hoa Kỳ”, chả lẽ vào thời điểm đó, mang mấy chục lá thư của Tổng thống Nixon gởi Tổng thiệu Thiệu (Hồ sơ mật Dinh Độc lập) đến Quốc hội HK nằm vạ, hăm he: Tổng thống mấy ông hứa thì mấy ông phải giúp. Viện trợ nhiều thì chúng tôi giữ nhiều, viện trợ ít thì giữ ít. Không chịu giúp nữa, chúng tôi bỏ tiền đồn chạy cho mà coi.

Lịch sử là một chuỗi dài nhân quả, từ nhân sinh ra quả. Quả sẽ tạo nhân và cứ thế tuần tự diễn tiến theo qui luật bất di bất dịch: luật nhân quả. Phải tìm hiểu nguyên nhân mới thấy được hậu quả. Đằng này cứ ỷ lại vào Mỹ rồi lên án Mỹ, thì làm sao thấy được những nguyên nhân khác, do mình chớ không phải do Mỹ đã làm sụp đổ Miền Nam? Vì thế, đã không làm tròn trách nhiệm đối với đất nước trước 1975, còn nay thì hết trách nhiệm đối với đồng bào dân tộc.


Làm kẻ thù của HK thì dễ, nhưng làm bạn với họ thì thật là khó. Ngày 29/4/1975, bà Anna Chennault tới Đài Loan mang theo lời nhắn nhủ của (tổng thống) Ford đến cho ông Thiệu. Nội dung cho biết vì tình hình phản chiến ở đây, ông Thiệu không nên đến Hoa Kỳ lúc này. Ông nên đi nơi khác, nhưng gia đình ông thì có thể vào Hoa Kỳ được. Bà Chennault nói có thể dàn xếp để Thiệu đi đâu tùy ý. Ông Thiệu lạnh lùng nói với bà: “Làm kẻ thù của HK thì dễ, nhưng làm bạn với họ thì thật là khó’. (7) Bà Anna Cennault là quả phụ tướng Claire Chennault người đã chỉ huy đoàn Phi Hổ, hồi Đệ II Thế chiến. Bà rất có uy tín của đảng Cộng Hòa, ra vào tự do trong chính giới ở Hoa Thạnh Đốn. Bà đã làm trung gian giữa Nixon và Thiệu, qua đó nhóm ủng hộ đảng Cộng Hòa khuyến cáo VNCH không nên gởi phái đoàn sang dự hòa đàm Paris hồi tháng 11/1968. Ông Thiệu chấp nhận, do đó, kế hoạch hòa bình của đảng Dân chủ Mỹ thất bại, ứng cứ viên Humphrey thất cử, Nixon đắc cử. Đây là món nợ chính trị giữa Nixon và Thiệu được Ts Hưng trình bày trong Chương 2 quyển Hồ sơ Mật Dinh Độc lập.

Ngoài câu nói “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”, đây là câu nói để đời thứ hai của ông Nguyễn Văn Thiệu. Một bài học cho ông và cho đất nước. Trong những ngày cuối tháng Tư/1975 Hoa Kỳ đã mở rộng vòng tay đón 130 ngàn người VN vào đất Mỹ, chả lẽ họ lại hẹp hòi, thiếu nhân đạo đối với vị lãnh đạo VNCH hay sao. Phải có điều gì bí ẩn, tìm hiểu mới thấy được bài học 30/4/1975. Đối với người Á Đông chúng ta, đã gọi là bạn, là tri kỷ thì phải hiểu nhau, ăn ý với nhau, không có cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Sở dĩ làm bạn với HK thật là khó, là vì không hiểu HK, chỉ biết ỷ lại, dựa dẫm vào bạn mà thôi; chớ không biết hợp lực với bạn thực hiện mục tiêu chung của Thế giới Tự do trong chiến tranh lạnh vừa qua. Anh Quốc ăn ý với HK trong việc giải trừ thuộc địa nên Anh Quốc giữ được nguyên khối Liên Hiệp Anh sau Thế chiến II. Bà thủ tướng Anh Thatcher và TT Reagan đã hợp tâm hợp ý giúp kết thúc chiến tranh lạnh không tốn một giọt máu.

Đối với VN, từ sau 1954 đã có hội “Người Mỹ bạn của Việt Nam”. Tháng Năm 1956, Thượng Nghị sĩ John F. Kennedy, bốn năm sau trở thành tổng thống Hoa Kỳ, đã tuyên bố với hội này rằng: “Hoa Kỳ coi Việt Nam như là một thí điểm của nền dân chủ ở Á châu”. Ông còn nhấn mạnh thêm “Việt Nam còn là sự trắc nghiệm về ý thức và quyết tâm của Hoa Kỳ”. Do đó, “nếu miền Nam Việt Nam sụp đổ vì cộng sản, vì rối loạn chính phủ, vì nghèo đói hoặc bất cứ lý do nào khác, thì Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm và uy tín của Hoa Kỳ ở Á Châu chắc chắn sẽ chìm sâu” (8) Hai năm trước, tổng thống Eisenhower đã gởi thư đến thủ tướng Ngô Đình Diệm, xác định mục tiêu của HK là “giúp miền Nam Việt Nam bằng viện trợ để duy trì và phát triển một nhà nước tự do có sức sống mạnh, có khả năng chống trả lại những mưu toan khởi loạn hoặc xâm lược bằng vũ lực”. Hoa Kỳ mong muốn chánh phủ Nam Việt Nam đáp ứng lại bằng cách thực hiện những cải cách cần thiết, mở rộng chánh phủ có sự tham tham gia của các đảng phái chính trị và thiết lật các cơ cấu dân chủ hơn. (9) Đối với Hoa Kỳ, Miền Nam VN là tiền đồn của Thế giới Tự do, để ngăn chận sự bành trướng của CS. Nơi đây còn là “chiếc tủ kính trưng bày sự phồn vinh và nền tự do kiểu Mỹ ở Đông Nam Á” như nhận xét của một cán bộ CS cao cấp Mặt trận giải phóng Miền Nam. (10)

Đầu năm 1965, trước sự uy hiếp nặng nề của Cộng sản Bắc Việt được Liên Xô, Trung Cộng và khối Cộng sản Đông Âu tiếp sức, VNCH sắp sụp đổ. Hoa Kỳ vội can thiệp, đưa quân vào Miền Nam, vừa dội bom miền Bắc, nhằm áp lực Bắc Việt ngồi vào bàn đàm phán giải quyết chiến tranh bằng con đường hòa bình. Sau ba năm với hai gọng kềm: tăng quân vào miền Nam, mở rộng diện oanh kích miền Bắc, Hànội chịu ngồi vào đàm phán ở Paris. Hoa Kỳ bắt đầu rút quân khỏi VN, mở đầu kế hoạch “Phi Mỹ hoá” hạn chế dần sự can dự của Mỹ ở khắp nơi trên thế giới, để làm giảm bớt sự căng thẳng giữa hai khối Tự do và Cộng sản. Nơi nào có mặt Mỹ, thì khối CS yểm trợ lực lượng địa phưong chống đế quốc Mỹ. Nơi nào bị CS đe doạ xâm lưọc để bành trướng như miền NamVN, Hoa Kỳ phải trực tiếp can thiệp. Vì thế tạo ra nhiều khu vực căng thẳng, nhiều lò lửa chiến tranh trên thế giói. Hoa Kỳ đã tự chế qua kế hoạch Phi Mỹ Hoá, rút quân khỏi VN, HK đã đi tiên phong mang lại hòa bình cho thế giới bằng cách làm sứ giả đi Trung Quốc và Liên Xô thuyết phục hai nước này cùng tự chế như Mỹ, để tạo ra một giai đoạn hòa bình, hòa hoãn mà các bên đều có lợi.

HK không dùng quyền phủ quyết, giúp Trung Cộng trở thành Hội viên Thường trực Hội đồng Bảo An LHQ, có địa vị ngang hàng với Anh, Pháp, Mỹ, Nga. Hoa Kỳ còn mặc nhiên thừa nhận Trung Cộng như là lãnh tụ Thế giới Thứ ba, tạo thế chân vạc ba thế giới để cùng nhau bảo vệ hòa bình thế giới. Hoa Kỳ đã thuyết phục được Liên Xô và Trung Cộng áp lực BV chấp nhận chấm dứt chiến tranh VN bằng cách tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN. Nhân dân miền Nam sẽ quyết định tương lai miền Nam chớ không phải do HK hay BV áp đặt. Hội đồng Quốc gia hòa hợp hòa giải dân tộc gồm ba thành phần sẽ được thành lập để tổ chức cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do, để người dân miền Nam thể hiện quyền tự quyết của mình. Ở Miền Nam có ba thành phần chính trị, phù họp với xu thế chung toàn cầu cũng có ba thế giới: HK lãnh đạo Thế giới Tự do, Liên Xô khối Xã hội chủ nghĩa còn Trung Cộng lãnh đạo Thế giới thứ ba.

Hiệp định Paris 1973 ra đời trong bối cảnh “tiền đồn chống Cộng” ở miền Nam Việt Nam vô cùng bền vững, VNCH kiểm soát 80% đất đai, hơn 90% dân số. Trung Cộng đã bị bao vây chặt chẽ: ở đông bắc là Đại Hàn do tướng Pak Chung Hee lãnh đạo, ở phía đông là Trung Hoa Quốc gia do Thống chế Tưởng Giới Thạch, Phi luật Tân do tướng Ferdinand Marcos, ở hướng Nam là Nam Dương do tướng Suharto, ở Cam Bốt do tướng Lon Nol, ở Thái Lan do thống chế Kittykachorn lãnh đạo. Đây là thời điểm, HK kỳ vọng nhân dân miền Nam tự do sẽ chiến thắng CS qua cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do theo tinh thần HĐ Paris 1973. Chiến thắng của MNVN cũng là chiến thắng của HK trong chiến tranh lạnh. HK đã dồn sức viện trợ biến MNVN thành một thí điểm của sự phồn vinh và dân chủ tự do ở Châu Á. Gần 60 ngàn binh sĩ Mỹ đã hy sinh, trên 300 tỷ mỹ kim chiến phí đã giúp MNVN vượt qua sự đe doạ của chiến tranh xâm lược, nay là lúc gặt hái thành quả hòa bình. Nhưng cuối cùng diễn ra cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” giữa HK và VNCH.

Sau HĐ Paris, Nixon mời Thiệu sang HK, hội đàm với ông ở San Clemente. Nixon cam kết sẽ viện trợ đầy đủ cho VNCH với điều kiện VNCH phải cùng Mỹ nghiêm chỉnh thực hiện HĐ Paris 1973. Nếu BV vi phạm, HK có lý do để tái can thiệp...Nhưng Thiệu vẫn kiên trì với lập trường “bốn không”, tiếp tục chiến đấu chớ không hòa giải. Ông đẩy thành phần thứ ba về phía CS, khiến CS có thêm thế lực, MN càng sụp đổ mau. Trong khi đó, sau 1975, Thế giới thứ ba do Trung Cộng lãnh đạo đứng về phía HK đã góp phần làm sụp đổ Liên Xô và khối Xã hội chủ nghĩa thế giới.

Từ 21/5/1973, Kissinger và Lê Đức Thọ trở lại Paris để thảo thuận và ra một tuyên cáo chung xác định hai bên quyết tâm thi hành nghiêm HĐ Paris. Trong thời gian này, Nixon đã gởi gần chục lá thư thuyết phục Thiệu: “Như Ngài rõ, tôi đã công khai tuyên bố nhất quyết thi hành bản hiệp định Paris với tất cả uy tín và thiện chí của Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ sẽ không ai hiểu nổi vấn đề này nếu bây giờ sự thương thuyết bị thất bại vì những trở ngại ta có thể tránh được. Tôi xin lập lại rằng ước vọng duy nhất của chúng tôi là muốn thấy bản Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh và thắt chặt tình liên đới với VNCH. Tôi không tin rằng Ngài muốn tôi phải ra trước dân chúng Hoa Kỳ dể giải thích sự bế tắc của cuộc thương thuyết hiện nay ở Paris. Điều này chắc chắn sẽ đưa tới sự cắt đứt ngân khoản cho Lào và Căm Bốt và cuối cùng là Miền Nam VN. Khi ở San Clemente, tôi đã nói rõ với Ngài về việc xin Quốc hội HK viện trợ đầy đủ khó khăn như thế nào. Tuy nhiên tôi cũng đã trình bày với Ngài rằng chúng tôi sẽ dồn mọi nổ lực không những xin đầy đủ viện trợ cho những nhu cầu hiện tại của VNCH, mà còn yểm trợ cho những kế hoạch kinh tế dài hạn Ngài vừa công bố! Nổ lực này đang tiến hành tốt đẹp và được đặt vào hàng ưu tiên đầu. Nhưng tôi thẳng thắn khuyến cáo Ngài rằng chỉ một mối bất đồng nhỏ nhoi của chúng ta trong tình thế này cũng đủ làm tiêu tan nổ lực trên. Tôi tin chắc rằng Ngài sẽ cân nhắc kỹ lưỡng điều trên khi đọc lá thư này” (11) TT Nixon đã khuyến cáo thảm trạng sụp đổ miền Nam VN từ hai năm trước, bằng giấy trắng mực đen rõ ràng, chớ không phải âm thầm tính chuyện bán đứng VNCH hay đang chuẩn bị tìm cách bỏ chạy.

Dù cố thuyết phục song Thiệu vẫn không nhượng bộ. Ngày 13/6/1973, Nixon gởi lá thư cuối cùng cho Thiệu với lời lẽ đắng cay: “Lá thư của Ngài đề ngày 12/6 là một đòn giáng mạnh vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta. Căn cứ vào những hy sinh và rủi ro của HK phải gánh chịu vì Ngài, tôi không thể ngờ Ngài có thể trả lời một cách tiêu cực như vậy. Tôi chẳng cầu dấu diếm sự căng thẳng trong mối bang giao giữa chúng ta vì Ngài đã phủ nhận những cam kết của tôi trong việc ký kết bản tuyên cáo này. Nếu Ngài lựa chọn đường lối tiêu cực này thì chính Ngài đã vạch ra chính sách tương lai của HK đối với Việt Nam. Tôi sẽ bắt buộc phải chiều ý Quốc hội và công luận HK, chỉ yểm trợ vừa đủ những nhu cầu có tính cách nhân đạo cho nhân dân miền Nam và bỏ qua những quyết định và nhiệm vụ khó khăn để viện trợ kinh tế và quân sự cho VNCH như ta đã thảo luận ở San Clemente. Chẳng cần phải nói dài dòng, nổ lực của chúng tôi trên toàn cỏi Đông Dương sẽ chấm dứt. Tôi coi sự lựa chọn của Ngài như chống đối sự phán đoán và cam kết của chính bản thân tôi. Đây không còn là vấn đề của người đi thương thuyết hay của luật sư và chuyên viên. Đây là vấn đề giữa tôi và Ngài. Sự lựa chọn là do Ngài”. (12)

Từ đó, Quốc hội Hoa Kỳ từng bước giảm dần viện trợ cho VNCH, tước bớt những quyền hạn của tổng thống. Kế hoạch hòa bình của Nixon kể như thất bại, Quốc hội Mỹ mượn vụ Watergate để áp lực Nixon từ chức. Tám tháng đến lượt Thiệu. Đúng như lời Nixon trong lá thư cuối cùng, hành động của Thiệu “là một đòn giáng mạnh vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta” và Hoa Kỳ “chỉ yểm trợ vừa đủ những nhu cầu có tính cách nhân đạo cho nhân dân miền Nam và bỏ qua …viện trợ kinh tế, quân sư”. Trong tình thế như vậy, TT Ford đành phải yêu cầu Thiệu không nên đến Hoa Kỳ. Tình bằng hữu giữa Nixon và Ford với Thiệu đã mất, miền Nam Việt Nam cũng không còn. Điều đau buồn nhất, là hành động của ông Thiệu và những người phụ tá đã làm mất đi cả tình đồng minh Việt Mỹ trong thời kỳ hậu 1975, vì luôn luôn coi HK là phản bội, ký HĐ Paris 1973 để bán đứng miền Nam VN cho CS. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh rất nhiều xương máu với người bạn đồng minh Hoa Kỳ trong cuộc chiến bảo vệ lý tưởng dân chủ tự do. Cuối cùng, Hoa Kỳ chiến thắng, trở thành siêu cường quốc số một thế giới. Còn người bạn đồng minh ngày trước, chỉ vì ông tổng tư lịnh tối cao đã trở mặt, nên ngày nay không còn là đồng minh của Mỹ nữa -Đồng minh trong hòa bình mà HK đã vạch ra sau khi ký HĐ Paris 1973 và rút lui khỏi VN. Đồng minh để tiếp tục trách nhiệm lịch sử chưa hoàn thành: giành dân chủ tự do trong phạm vi rộng lớn, cho đồng bào cả nước.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vì quá ỷ lại vào HK, khước từ quyền tự quyết của nhân dân miền Nam được ghi rõ trong điều 9 HĐ Paris 1973 là “thiêng liêng bất khả xâm phạm phải được tất cả các nước công nhận” (The South Vietnames people’s right to self determination is sacred, inalienable, and shall be respected by all countries), tạo ra thảm cảnh 30/4/1975. Sau đó, đến lượt những người CS, cũng tin tưởng và ỷ lại vào sự “hùng mạnh tất thắng” của Liên Xô, nên khước từ bình thường hoá bang giao với HK, đứng về phía LX chống lại Trung Cộng, tạo thêm cuộc chiến Đông Dương lần thứ ba giữa Cộng Sản Việt Nam và CS Trung Quốc. Khi cuộc chiến này kết thúc cũng là lúc Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ. CSVN lại quay về thần phục Bắc Kinh. Biết được ý đồ của đàn em từng phản bội mình: “thà mất đất, mất biển, chớ không để mất đảng”, giới lãnh đạo Trung Cộng tự do chèn ép. Họ đưa ra 16 chữ vàng làm nền tảng cho mối bang giao mới với CSVN, trong đó có bốn chữ “họp tác toàn diện”. Đó là hình thức “lệ thuộc toàn diện”, họ cũng chưa vừa lòng, họ còn bành trướng thêm tí đất, tí biển của đàn em.

Thảm hoạ của dân tộc Việt Nam trong hơn 60 năm qua, là do những người lãnh đạo đất nước tạo ra. Họ làm theo ý riêng, dựa vào ngoại bang mà còn độc tài độc tôn, độc đảng. Lãnh đạo miền Nam trước 1975 thì “thả mồi”, lãnh đạo đất nước sau 1975 thì “bắt bóng”. Câu chuyện “thả mồi bắt bóng” trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ngày trước, tưởng rằng chỉ là chuyện vui nhưng đó là bài học, giúp những người hằng ưu tư đến tiền đổ suy ngẫm và luận bàn thế sự trong những dịp trà dư tửu hậu. Còn bài học lớn của những người lãnh đạo, muốn đất nước trường tồn phải biết quý trọng văn hoá dân tộc, khắc sâu ý niệm: “quyền tự quyết của nhân dân là thiêng liêng bất khả xâm phạm, phải tôn trọng nó”. Chỉ có nhân dân mới hoá giải được thảm hoạ bị đồng hoá, mới chấm dứt tình trạng kinh tế tụt hậu, đưa đất vào kỷ nguyên Độc lập, Dân chủ, Tự do và Giàu mạnh.


Lê Quế Lâm



(1) Nguyễn Bá Cẩn, Đất Nước Tôi - Hồi ký chánh trị.
Hoà Hảo Press, Derwood MD (USA), 2003, tr. 206-07 & 201.
(2) Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy. Cơ sở xuất bản Hức Chấn Minh,
San Jose CA, USA
, 2005, tr.26.
(3) Nguyễn Bá Cẩn, Sđd, từ trang 447 đến trang 552.
(4) Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Sđd, tr. 454-57.
(5) Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập. C & K Promotions, INC, Los Angeles, 1987, tr. 601.
(6) Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy. Sđd, tr. 459.
(7) Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Sđd, tr. 561. Tác giả phỏng vấn Anna Chennault, ngày
2-3-1986
. Ông Thiệu và gia đình định cư ở Luân Đôn. Các con ở HK và người con gái cũng ở đấy. Ông ta thỉnh thoảng sang thăm con. Bà Chennault cũng có gặp riêng ông Trần Thiện Khiêm và ông Khiêm muốn được sang Mỹ ở. Ông ở Arlington, Virginia (chú thích 14, tr. 891-2)
(8) Phạm Kim Vinh, Nước Mắt Việt Nam. Cơ sở PKV xuất bản, HK, 1982, tr. 13/14.
(9)
US Department of State, American Foreign Policy, 1950-1955 - Basic Documents. Government Printing Office, Washington, DC
, 1957, tr. 2401-04.
(10) Trần Bạch Đằng, Chung Một Bóng Cờ. Nxb Chính trị Quốc gia, Hànội, 1993, tr.857.
(11) + (12) Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập.
Sđd,tr. 327 + 341-42

Tháng Ba gãy súng; Tháng Tư tan hàng


Tháng Ba đã qua, Tháng Tư đã đến, liệu chúng ta có còn nhớ gì không? Những hàng dương tên bờ biển Thuận An và Tư Hiền đã xanh mướt qua mấy mùa mưa gió, rừng núi cao nguyên trên đường lộ 7B đã đâm lộc nẩy chồi bao bận.

Cuộc chiến cũng như người chết đã bị quên lãng. Những ai đã trải qua thời gian tù đày khắc nghiệt còn nhớ gì những ngày lội suối băng rừng, thân còm, bụng lép. Những ai đã đến được bến bờ qua những ngày lênh đênh trên biển cả, còn nhớ gì những nỗi hãi hùng, đau đớn tủi nhục mà tiếng kêu gào oan khiên không đến được trời xanh.

“Tháng Ba Gãy Súng” làm cho chúng ta có một chút gì nhớ đến Cao Xuân Huy, người lính Thủy Quân Lục Chiến đã vứt súng trên biển Thuận An, trong đoàn quân lui binh hỗn loạn, không được yểm trợ phi pháo, trước mặt là biển cả muôn trùng, sau lưng là giặc đuổi cận kề, mà không hề có tàu thuyền nào vào ghé bến. Những người lính dũng cảm mới hôm qua đây, phút chốc đã trở thành những mục tiêu cho những du kích bắn sẻ và những tên tiền sát viên địch điều chỉnh pháo binh, điều mà một người lính TQLC khác là Tô Văn Cấp đã đau đớn đặt tên cho chốn lui quân, nơi tuyệt lộ này là “pháp trường cát”, nơi chiến trường phơi thây bao chiến sĩ của chúng ta.

Tháng Ba gãy súng làm cho chúng ta nhớ lại đoạn đường xương máu kinh hoàng từ Phú Bổn về duyên hải trong những ngày bỏ cao nguyên, làm tan rã một quân đoàn. Một cuộc rút quân không kế hoạch, không có cấp chỉ huy, không có quân bạn yểm trợ, đem con bỏ chợ, hỗn loạn và chết chóc khốn cùng. Người lính lâu nay ở với xóm làng, rừng núi, khuya sớm đùm bọc nhau, ngày nay một người lính lên xe ra đi, năm người dân bồng bế dắt díu nhau chạy theo. Nỗi đau của người lính hôm nay là không bảo vệ được người dân, vì vận nước, ngay người lính có súng mà phải vứt súng, có đất mà phải bỏ đất.

Tháng Tư tan hàng, người lính bị trói tay, người lính bị phản bội, người lính ở lại sau cùng để cho những chuyến tàu chở người ra đi, để cho những chuyến phi cơ rời phi đạo đi về một chân trời hy vọng tự do, bỏ lại quê hương tù đày. Bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra cho miền Nam sau ngày “tan hàng” hay “mất nước”, danh từ sử dụng tùy theo sự suy nghĩ, nỗi mất mát và tâm trạng của mỗi người.

Cướp của tức khắc đi theo với hành động cướp quyền. Lấy danh nghĩa cải tạo xã hội, chiến dịch đánh tư sản mại bản thực chất là một vụ cướp bóc quy mô, đánh vào những gia đình giàu có mang tiếng tư bản, nhưng chính là do công lao mồ hôi, nước mắt, cần cù mà miền Nam có được. Chiến lợi phẩm này được chở về hang ổ miền Bắc, làm giàu cho những kẻ cầm quyền.

Ðánh tư sản, dồn dân đi kinh tế mới, lấy nhà, cướp đất, đổi tiền, tập trung những người có liên hệ với chính phủ miền Nam vào trại “cải tạo”, đốt sách, bỏ tù văn nghệ sĩ, đuổi 850,000 Hoa kiều về nước hay ra biển để gần lại với Liên Xô, xếp hạng dân theo lý lịch chính trị, kiểm soát đời sống và tư tưởng của quần chúng theo chế độ công an trị, với mô hình “công an khu vực”, “công an khu phố” là những gì chế độ Cộng Sản Việt Nam đem lại cho dân chúng miền Nam. Cả nước là phiên bản của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, vùng mệnh danh “giải phóng” là một nhà tù lớn, buổi sáng có tiếng loa phóng thanh thức giấc mọi người đầu xóm, tai mắt công an khắp nơi, dân chúng phải tham gia lao động xã hội chủ nghĩa, thắt chặt bao tử, nắm sinh tử của mỗi gia đình bằng chế độ tem phiếu.

“Chính đảng Cộng Sản đã tước đoạt của nhân dân các quyền tự do mà nhân dân đã từng trả giá quá đắt. Dân chủ tự do bị chà đạp, vũ khí tự vệ bị tước đoạt thì nhân dân giống như những người bị xiềng xích, bị bịt tai, bịt mắt, khép miệng và tất nhiên ngót 80 triệu đồng bào không thể không biến thành tù binh của đảng Cộng Sản Việt Nam” (bản điều trần của Nguyễn Hộ).

Nhân dân miền Nam, kể cả những nhân vật có ảo tưởng với Cộng Sản đã hoàn toàn thất vọng với chính sách chủ trương của nhà nước mới, thể hiện một chế độ độc tài toàn trị, băng đảng. Chế độ này đã đuổi hằng triệu người ra biển, suốt từ những ngày đầu tháng 5 năm 1975 cho đến thời gian các trại tiếp nhận ở Ðông Nam Á đóng cửa, kể cả tổ chức “bán chính thức” đưa người ra khơi để kinh tài. Không một gia đình miền Nam nào không có thân nhân, bà con ruột thịt bỏ xác trên biển Ðông, mà oan khiên dậy đất trời. Khi người dân chán chế độ không còn có thể ra đi bằng con đường “bất hợp pháp” thì người ta bỏ nước ra đi bằng những con đường hợp pháp được nhà nước chấp thuận và khuyến khích như phụ nữ thì đi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn, Trung Cộng; đi ở đợ ở Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ; đàn ông thì đi làm thuê ở Trung Ðông, Nam Dương, Singapore... Chúng ta giải thích thế nào về một mảnh đất quê hương không giữ được chân người.

Tháng Tư miền Nam tan hàng phải chăng để cho Cộng Sản thống nhất đất nước và làm một cuộc cách mạng? Cách mạng là một cuộc đập phá cái cũ để xây dựng cái mới, hoàn hảo, tốt đẹp hơn, cách mạng không phải là để phá cái tốt đi và làm cho xã hội tồi tệ hơn. Ðạo đức suy đồi, nhân tâm ly tán, nhân phẩm phụ nữ trong xã hội Việt Nam ngày nay xuống thấp chưa từng thấy. Chế độ công an trị, dùng công an như là một dụng cụ bạo lực để trấn áp nhân dân. Sự tàn ác của lực lượng này được thể hiện qua những chuyện xẩy ra hằng ngày ngay giữa thời đại văn minh tiến bộ này. Chỉ vì những lỗi nhỏ, không đáng nhận một món tiền phạt đáng giá một bữa cơm, công an côn đồ có thể đánh bể đầu, gãy cổ, giết chết người vi phạm, tàn nhẫn đạp vào mặt dân, tệ hại hơn hành động của thời Pháp thuộc, qua hình ảnh những người lính đánh thuê Phi Châu “rạch mặt” hay lính “partisan” ngày trước.

Nhiều người đã nhìn bức tranh xã hội Việt Nam dưới thời Cộng Sản ngày nay qua cái nhìn “tốt đẹp”, trong đó ai cũng thỏa mãn theo cách riêng của mình, giàu sang thì hưởng thụ theo cách giàu sang, nghèo hèn thì cũng ăn nhậu, tiêu xài theo cách riêng của mình. Sư, Cố thỏa mãn trong khuôn viên chùa hay nhà thờ của mình, tôn giáo thời nay quả là thuốc phiện không sai. Thanh niên, sinh viên lo chạy theo cái ăn cái mặc, vật chất xói mòn lý tưởng . Nỗi sợ hãi bao nhiêu năm qua đã nhiễm vào máu huyết, xin đừng đụng đến tôi, tôi cũng không muốn đụng đến ai. Ðừng nghe, đừng nói, đừng nhìn để sống còn, muốn sống phải biết sợ.

Tôi thật không đủ lạc quan để hy vọng, khi mà trước bất công, đàn áp, con người ta chỉ biết cúi đầu... cầu nguyện, không dám hợp đồng mà chỉ lâm râm cầu nguyện vừa đủ cho mình nghe.

Ðó là những gì tôi nghĩ về những di lụy của một Tháng Ba gãy súng, tiếp theo một Tháng Tư tan hàng và về đất nước hôm nay.


Tạp ghi Huy Phương

Mất gốc

Tháng 4 năm nay kỷ niệm đúng 36 năm ngày tôi rời SàiGòn. Ngày 29-4-1975 gia đình tôi bứng gốc, bứng rễ bỏ hết tất cả để thoát khỏi Việt Nam trong sự hãi hùng. Khủng hoảng lo sợ đến nỗi nếu cái toilette không có ốc vặn chặt xuống đất thì chắc nó cũng đứng dậy chạy theo. Giây phút đặt chân lên chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ, tôi vui mừng đã đến một bến bờ tự do mới, không quan tâm đến gốc rễ của tôi nữa. Định cư ở quê hương thứ hai, thỉnh thoảng có dịp nói chuyện với bạn bè hay người quen, vài người khuyên nhủ tôi đừng nên mất gốc, hoặc khi đề cập đến vấn đề con cái, khuyến khích chúng tôi dậy con cái tiếng Việt để chúng nó đừng mất gốc. Cho đến bây giờ tôi không bàn cãi để yên cửa yên nhà, thế nhưng mấy tuần nay vợ tôi than phiền tôi viết lách làm quái gì vì chả mang thêm một đồng xu phụ trội cho ngân quỹ gia đình làm tôi hơi quê xệ. Chỉ còn một cách để bảo tồn danh dự của tôi là tự sát, viết bài này để trình bày quan điểm của tôi. Viết xong tôi bảo đảm thành phần người Việt quá khích sẽ xin tôi tí huyết. Tôi chết đi vợ tôi sẽ lãnh bảo hiểm nhân thọ một triệu đô-la, chứng tỏ cho nàng là lời tiên tri của tôi từ xưa đến nay là đúng: rồi sẽ có một ngày nghiệp viết lách của tôi sẽ làm cho nàng giầu.

Mất gốc là gì? Tự điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Trung Tâm Từ Điển Học ấn bản năm 1994, (xuất bản ở Hà Nội) và Từ Điển Tiếng Việt, Vietlex, 2009 của một nhóm biên soạn, nhà xuất bản Đà Nẵng (cũng xuất bản ở Hà Nội), cả hai cùng định nghĩa:


Mất gốc: Không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình do nguồn gốc dân tộc, giai cấp.


Theo tự điển tiếng Việt 1997-2004 The Free Vietnamese Dictionary Project, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ , và http://vdict.com/ , cả hai in cùng một giải thích:


Mất gốc: Cắt đứt quan hệ với tổ tiên, nòi giống, cơ sở. Thí dụ: Mấy tên mất gốc sống nhờ vào đế quốc Mỹ.


Cùng một chữ “mất gốc” mà tự điển xuất bản ở Hà Nội định nghĩa khác hẳn với tự điển trên Internet ở hải ngoại. Tôi bảo đảm nếu trưng cầu dân ý hay đến những ông bợm nhậu hỏi “mất gốc” là gì thì sẽ có thêm nhiều định nghĩa khác nhau. Nếu tôi nói định nghĩa này đúng, định nghĩa kia sai thì thể nào tôi cũng chết, không vì đạn bên này thì cũng vì lưỡi dao bên kia nên tôi để cho tùy mọi người xét xử “mất gốc” có nghĩa là gì.


Để xem tôi có mất gốc hay không, trước nhất tôi phải tìm hiểu tôi là người gốc gì trước đã. Tôi đang sống ở California, Hoa Kỳ, thế nhưng tôi người da vàng mũi tẹt. 100% tôi không phải là người cùng một gốc với John Wayne, Clint Eastwood hay Brad Pitt. Tôi là An Nam Mít, không cãi vào đâu được. Rất nhiều dữ kiện chứng tỏ tôi là người Việt Nam:


-Tôi sinh ở nhà thương Đức Chính, trên đường Cao Thắng. Lần cuối cùng tôi xem trên bản đồ, đường Cao Thắng chưa bị động đất chạy sang Mỹ mà vẫn còn cắt ngang con đường Nguyễn Đình Chiểu và Điện Biên Phủ (Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản cũ).


-Tên trong căn cước, giấy hôn thú bên Mỹ của tôi vẫn là tên Việt Nam Nguyễn Tài Ngọc (Ngay cả con của tôi, dù rằng sinh ở Mỹ, tôi vẫn đặt chúng nó tên Việt Nam). Đáng lẽ ra chính tôi là người nên đổi sang tên Mỹ, không phải vì tôi muốn người khác tưởng tôi là George Clooney, nhưng vì tên tôi người Mỹ khó đọc. Họ gọi “Ngọc” là “Gờ-Nóp”, “Nóc”. Bao nhiêu tài tử, ca sĩ Mỹ muốn nổi tiếng phải đổi tên của mình như Charles Bronson người gốc Lithuania, tên mẹ đẻ là Karolis Dionyzas Bučinskis. Kirk Douglas, người gốc Nga-Sô, tên mẹ đẻ là Issur Danielovitch. Demi Moore, người Mỹ, tên cúng cơm là Demetria Guynes.


- Nhiều người Hoa ở SàiGòn nói tiếng Việt có sõi đến đâu nhưng khi mình nghe biết ngay họ không phải là người Việt vì họ nói tiếng Việt lơ lớ. Ngày xưa khi vừa mới qua Mỹ, tôi nhủ thầm trong mười năm tôi sẽ nói tiếng Anh như gió. Ấy thế mà 36 năm sau, tôi nói tiếng Anh với giọng… Việt Nam, phát âm đã dở mà viết lách hay đàm thoại cũng chẳng xong, không thua gì một chị ngày xưa trong xóm tôi lấy một anh chàng Mỹ đen. Tôi vẫn còn nhớ khi về nhà nếu cửa bị đóng, chị gõ cửa, miệng nói lớn cho anh ấy nghe: “Hó-nì, ốp bần đo!” (Honey, open door!). Giọng Mỹ siêu việt của tôi hiện thời cũng không hơn chị ấy là bao nhiêu.


Qua ba lý do trình bày trên, cho dù tôi sống ở Mỹ đến hơn trăm tuổi, gốc nòi giống của tôi là Việt Nam không chạy vào đâu được. Có giải tôi vào Khám Chí Hòa hay nhà tù Hỏa Lò Hà Nội nếu tôi nhận tôi là người Việt Nam thì tôi sẽ chẳng mướn luật sư biện hộ. Trước vành móng ngựa, tôi long trọng tuyên bố: gốc của tôi là Việt Nam.


Tôi không chối cãi gốc của tôi, thế nhưng tôi sống ở Mỹ 36 năm, hơn gấp đôi thời gian sống ở SàiGòn. Như thế thì tôi có mất gốc hay không?


Trước khi nói đến tôi, tôi muốn nói về con cái của tôi trước. Bạn bè khuyên tôi nên dậy chúng nó tiếng Việt để khỏi bị mất gốc. Lời khuyên dậy chúng nó tiếng Việt thì tôi đồng ý, nhưng lý do thì tôi không đồng ý. Lý do để mai sau nó về Việt Nam tìm vợ thì hữu lý hơn là khỏi mất gốc. Chúng nó sinh ở Mỹ, giữ cái gốc Việt Nam có lợi gì cho chúng nó? Để mai sau nếu nó xin làm công dân nước Việt Nam? Giữ phong tục tập quán Việt Nam làm gì? Dùng nước mắm thay vì muối, ăn hột vịt lộn thay vì hột gà luộc? Tụi nó nói tiếng Anh như người Mỹ, nói tiếng Việt như người Mỹ nói tiếng Việt Nam (cậu con trai tôi chỉ biết có vài chữ tiếng Việt: “chết meẹ rooi”). Tuy rằng một phần gốc của nó là da vàng mũi tẹt, nhưng một phần gốc khác của nó là người Mỹ vì chúng nó sinh ra và lớn lên trong tập quán nước Mỹ. Mất cái gốc nòi giống Việt Nam không quan trọng bằng mất cái gốc sinh ra ở Mỹ vì ưu tiên của chúng nó sẽ dành cho quốc gia nó mở mắt chào đời, quốc gia bảo đảm an ninh và nhân quyền, quốc gia cho chúng nó tất cả mọi cơ hội sinh sống từ bé đến lớn. Quốc gia đó không phải là Việt Nam.


Giờ thì đến phiên tôi. Tôi có mất gốc hay không? Nếu theo định nghĩa mất gốc là cắt đứt quan hệ với cơ sở, tôi đã mất gốc. Cơ sở, nhà cửa của tôi bây giờ là ở Mỹ. Căn nhà số 16/38/25 Nguyễn Thiện Thuật vĩnh viễn không còn là của gia đình tôi nữa. Nó đã có chủ mới. Gia đình tôi không bao giờ lấy nó lại được vì không ai điên dại nhận thức mình phạm lỗi tước đoạt tài sản người khác rồi trả lại cho chúng tôi. Lần đầu tiên trở lại SàiGòn vào xem nhà, tôi công nhận có bùi ngùi và có cảm tưởng mình đã trở về nhà cũ. Nhưng rồi lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, càng ngày tôi càng cảm thấy xa lạ, nhất là lần cuối cùng người chủ hiện thời đã phá xập hoàn toàn, xây lại một căn nhà mới. Đứng nhìn căn nhà hình dạng không còn như xưa, ngay cả bảng số nhà cũng thay đổi, tôi không còn cảm thấy liên hệ với nơi tôi khôn lớn nữa. Ngược lại khi trở về Mỹ, máy bay đáp xuống phi trường LAX, lái xe về nhà thấy bóng dáng căn nhà ở Simi Valley, tôi mừng rỡ đã về nhà. Nhà của tôi là ở Mỹ, cơ sở của tôi là ở Mỹ. Tôi đã mất gốc cơ sở ở Việt Nam.


Nếu nói mất gốc là cắt không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình thì tôi xin phân tích bản chất tốt đẹp hay không của người Việt Nam mà tôi đã chứng kiến, có kinh nghiệm tiếp xúc, trong ba giai đọan:


1. Thời gian tôi ở SàiGòn từ lúc sinh đẻ cho đến ngày 30-4-1975.


2. Thời gian tôi sống và sinh hoạt chung với người Việt tỵ nạn từ ngày 30-4-1075 đến ngày 11-7-1975, khi tôi rời trại tỵ nạn ra sống trong xã hội Mỹ.


3. 36 năm tôi sống ở Hoa Kỳ , từ ngày 11-7-1975 cho đến ngày hôm nay.


1.Thời gian tôi ở SàiGòn từ lúc sinh đẻ cho đến ngày 30-4-1975: Tôi rời SàiGòn năm lên 17 tuổi. Ở Mỹ, 17 tuổi vẫn còn là con nít, vẫn còn dưới tuổi trưởng thành. Hai người 18 tuổi trở lên liên hệ tình dục không luật pháp nào ngăn cấm, nhưng nếu người trên 18 tuổi liên hệ tình dục với người dưới 18 tuổi thì sẽ bị ghép vào tội dụ dỗ trai/gái dưới tuổi vị thành niên, dù rằng người dưới 18 tuổi thỏa thuận. Dưới 18 tuổi chưa được đi bầu. Dưới 18 tuổi chưa được phép uống bia rượu. Tóm lại, dưới 18 tuổi đầu óc vẫn còn non nớt. Ấy thế mà tôi đã mục kích bao nhiêu sự xấu xa ở quê hương tôi:


- Một anh lính tài xế trong xóm tôi mang xe Jeep về nhà hút xăng trong xe ra rồi bán lại cho người trong xóm với giá rẻ.


- Gia đình nào có con cái đến tuổi quân dịch chạy tiền thì sẽ được miễn dịch. Trong khi người Mỹ đổ máu cho tự do của miền Nam, tướng Mỹ có con đi lính chết ở Việt Nam thì một số tướng lãnh và người giầu có cho cho con cái ra nước ngoài. Chỉ có lính nghèo là đổ máu.


- Tôi đi gác nhân dân tự vệ phải gác thế cho người đóng tiền trong khi các cấp chỉ huy hệ thống Nhân Dân Tự Vệ lấy tiền thu.


- Tổng Thống và Phó Tổng Thống VNCH đều là những bậc tướng lãnh. Khi trận chiến Cộng Sản thôn tính miền Nam đến mức quyết liệt, Tổng Thống lên trước quốc dân tuyên bố sẽ chiến đấu sát cánh bên dân, Phó Tổng Thống lên tuyên bố trước quân đội VNCH và cả thế giới là “Tôi thích ăn nước mắm, tôi quyết sẽ ở lại với quê hương tôi tử thủ đến mức cuối cùng”. Ấy thế mà trước khi xe tăng Cộng Sản phá vỡ cửa sắt Dinh Độc Lập, Tổng Thống và đại gia đình đã yên lặng đi ngoại quốc mang theo cả một máy bay đầy của cải, Phó Tổng Thống cũng rời khỏi SàiGòn bay đến một chiến hạm Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ. Một quốc gia với dân tình tham nhũng là một lối sống. Một quân đội cá tính từ Binh Nhì đến Trung Tướng chỉ lo cho cá nhân của mình thì cái tốt đẹp vốn có của mình do nguồn gốc dân tộc không còn hiện hữu.


- Miền Bắc dùng võ lực thôn tính miền Nam gây ra bao nhiêu tử vong.


2. Thời gian tôi di tản từ 30-4-1075 đến ngày 11-7-1975: Bài “Chí Nam nhi” của Nguyễn Công Trứ có bốn câu thơ như thế này:


Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ.

(Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh có nghĩa là Từ xưa đến nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh. Hai câu thơ tiếng Hán này là của Văn Thiên Tường, một tướng lãnh của Trung Hoa). Hai câu thơ sau, ý của tác giả là người ta chỉ biết anh hùng sau khi thời thế xẩy ra. Tôi kém may mắn tìm hiểu được bản chất của người đồng hương trong cơn ly loạn:


-Hỗn loạn dành đường sống cho riêng mình.


-Ăn cắp chai tương ớt, xì dầu ở nhà ăn trong trại tỵ nạn đem về phòng ngủ barrack của mình dù rằng người Mỹ nói như van lậy thức ăn không thiếu thốn.


-Lấy hết chăn trên máy bay, khi vào trại mang chăn ra cắt may thành áo lạnh, đến nỗi người Mỹ không mang chăn trên những chuyến máy bay sau nữa.


-Những người muốn trở lại Việt Nam (dùng con tầu Trường Xuân) đã nổi loạn, đốt cháy cơ sở vì người Mỹ quá chậm trong việc cung cấp lương thực và sửa sang máy móc cho con tầu.


-Orote Point: dân tỵ nạn ở trong lều quân đội, đôi lúc phải giặt quần áo rồi phơi ở bên ngoài lều. Phơi mà không có người nhà canh chừng thì bao nhiêu quần áo cũng bị mất cắp.


-Cũng ở Orote Point, người Mỹ họ cắt nửa thùng phi làm thùng giữ phân và nước tiểu ở những toilette gỗ, xây dã chiến. Lính G.I. là người đi đổ và lau rửa toilette. Không hiểu tại sao mà người Việt tỵ nạn không đi tiêu vào thùng phi mà tiêu tiện đầy lên chỗ phản ngồi bằng gỗ. Cuối cùng, họ bắt người tỵ nạn chia phiên nhau lau rửa và đổ thùng phân vì họ nói mãi nhưng chẳng ai nghe.


-Người gạt người, thân hay lạ, trong việc đóng tiền vượt biên.


-Và sau cùng, một cảnh gia đình tôi mãi không bao giờ quên. Bên cạnh chỗ ngồi của gia đình tôi trên chiếc tầu chiến Mỹ đi từ Vũng Tầu đến Subic Bay là một gia đình khá giả. Họ đã chuẩn bị sẵn nên mang theo lương thực, nước uống, sữa Guigoz…đầy đủ cho người lớn và trẻ em trong gia đình. Một chị trên tầu có con nhỏ, không có sữa cho con mình bú nên đến xin một người đàn bà trong gia đình này cho chị ta một chút ít sữa cho con. Người đàn bà nhìn chị ta, nói rằng không cho sữa không, nhưng sẽ bán nếu chị ấy trả tiền bằng sợi dây chuyền vàng đeo trên cổ. Chị kia tháo sợi dây chuyền để đổi sửa cho con!


3. 36 năm tôi sống ở Hoa Kỳ, từ ngày 11-7-1975 cho đến ngày hôm nay:


Vào năm 1994, khi trận động đất ở Northridge gây thiệt hại trầm trọng cho nhiều thành phố, kể cả Simi Valley, FEMA (Federal Emergency Management Agency- Cơ Quan Quản Lý Khẩn Cấp Liên Bang) đến Simi Valley thiết lập trụ sở cứu giúp. Vợ tôi làm cho County, tình nguyện làm giúp FEMA. Một trong những sự trợ giúp khẩn cấp là thức ăn. Động đất gây ra cúp điện, thức ăn trong tủ lạnh do đó sẽ bị hư. Nhà ai thức ăn bị hư thối đến điền giấy tờ (chỉ có một vài chi tiết: tên tuổi và địa chỉ) thì FEMA sẽ phát cho một thẻ phiếu trị giá $120 dollars. Cầm thẻ phiếu này đến bất cứ siêu thị nào mua sắm thức ăn dùng nó để trả tiền, siêu thị sẽ lấy vì họ sẽ tính tiền lại với chính phủ. Vợ tôi thấy một người đàn bà Việt Nam đến xin hai lần. Lần thứ nhất một mình nhưng lần thứ hai mang theo một lô người Việt Nam nữa. Vì không biết vợ tôi là người Việt Nam, bà ta vừa cầm giấy ghi tên phân phát cho những người đó vừa nói: “Tụi bay cứ đề tên vô, địa chỉ thì ghi đại số nào cũng được, không ai xét hết. Tủ lạnh nhà mình không bị cúp điện, thức ăn không hư, họ cũng cho mình $120 vì không cách nào mà họ xét được”.


Ai có đọc báo Mỹ thỉnh thoảng sẽ thấy người Việt Nam bị bắt vì tội gian lận. Nhân viên an sinh xã hội khai gian chính phủ bỏ tiền giúp người nghèo vào quỹ riêng của mình, hơn một triệu đô-la. Một bà khai sổ sách cho một hãng xe ở Van Nuys biển thủ bạc triệu. Người làm giấy tờ cho mượn tiền mua nhà khai gian với nhà băng mấy triệu. Văn phòng y khoa khai gian Medical cả trăm nghìn. Một số người có cơ sở thương mại trốn thuế. Không lúc nào mà không có tin xấu. Người Mỹ đã làm ơn, cho người Việt chúng ta một cơ hội sống trong tự do. Thay vì trau giồi nhân bản đạo đức của mình để họ hãnh diện đã không lầm khi cho phép người mình sang đây, chúng ta làm ngược lại. Tôi biết một ông Việt Nam lớn tuổi, lúc nào cũng cay cú người Mỹ là nguyên nhân làm cho Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ (hoàn toàn không phải lỗi vì người Việt tham nhũng hay không có tinh thần chiến đấu!) , một lần nói với tôi là: “Tổ cha mấy thằng Mỹ! Tụi nó điếm lắm!”. Đây là một cá tính tôi thấy của người Việt: không bàn cãi một vấn đề với lý luận, tri thức nhưng với bướng bỉnh. Khi sai không nhận là mình sai, chụp mũ người khác, dùng từ ngữ hạ cấp chửi đối phương, và đôi lúc còn dọa đánh người ta nữa. Đây là gốc Việt Nam, tôi không nên mất gốc?


Cách đây vài tháng, tôi có viết một bài phê bình “Xem Paris By Night 99 : Tôi là người Việt Nam” , đăng trong Saigonocean.com http://www.saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm .Paris By Night hay ASIA là những chương trình nhạc được người Việt hải ngoại ưa chuộng, và như thế ít ra cũng phản ảnh một phần nào dư luận của người Việt. Chủ đề của DVD này là hãnh diện vì tôi là người Việt Nam. Tôi tóm tắt ba nhận xét chính sau đây:


1. Hầu hết những người Việt Nam được vinh danh trong DVD này cảm ơn bố mẹ họ, gia đình họ… làm việc siêng năng cần cù để bây giờ họ được thành công. Không một ai cám ơn chính phủ Mỹ, dân tộc Mỹ đã cho họ có một cơ hội sang đây. Bố mẹ hay chính bản thân họ có cần cù đến đâu mà nếu họ vẫn còn ở Việt Nam, không ở Mỹ thì họ có thành công như bây giờ không? Bài học “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” quá đơn giản nhưng rất ít người nhớ.


2. Ông “vua nail” Quý Tôn tuyên bố là ông ta ước ao những người làm nail đoàn kết để nâng cao giá cả. Tôi ngồi nghe há hốc miệng kinh hoàng trong khi cả hí viện vỗ tay ầm ầm, kể cả người hướng dẫn chương trình. Chỉ có chính thể Cộng Sản xưa cũ mới ấn định giá cả hàng hóa. Giá cả do nhà nước ấn định như trong các nước Cộng Sản ngày xưa (và cả Việt Nam trước khi Đổi mới vào năm 1986) đưa tới kinh tế sụp đổ, dân tình đói kém. Từ khi khối Cộng Sản Nga-Sô sụp đổ, Nga không còn ấn định giá cả. Đặng Tiểu Bình sau khi sang Mỹ viếng thăm Tổng Thống Jimmy Carter vào năm 1979, kinh hoàng trước sự giầu có của nước Mỹ, về Trung Hoa áp dụng chính sách free market, thị trường cạnh tranh ấn định giá tiền. Kết quả: không ai có thể phủ nhận Trung Hoa tiến vượt bực chỉ trong vòng 30 năm nay. Việt Nam bắt chước Trung Hoa, áp dụng chính sách Đổi Mới vào năm 1986, nhà nước không còn áp dụng giá cả. Chỉ cần hỏi một người sống ở Việt Nam so sánh sự khác biệt trước Đổi Mới và bây giờ để xem chính sách nhà nước ấn định giá cả có hữu hiệu hay không. Thế mà khi nghe ông “vua nail” Quý Tôn nói, không một ai chửi bới mà vỗ tay ầm ầm! Đây là một “tốt đẹp” trong giòng máu Việt của tôi mà tôi không nên mất gốc?


3. Paris By Night là một cơ cấu thương mại, tổ chức ca nhạc thu tiền bán vé, bán DVD để lấy lời. PBN tạo ra một chủ đề kích thích dân tộc tính để thu hút khán giả, bán DVD. Khi bắt đầu DVD phần 2, Nguyễn Ngọc Ngạn còn nhân cơ hội để quảng cáo bán sách viết mới nhất của mình. Dùng một niềm tự hào chung -hãnh diện tôi là người Việt Nam- để làm tiền gây lợi riêng mà không một ai thấy ngứa tai gai mắt?


Theo tự điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, “mất gốc” là không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình. Nếu những kinh nghiệm với người Việt Nam trên đây tôi đã chứng kiến trong cuộc đời được gọi là tốt đẹp, thì vâng, xin cho tôi mất gốc.


Nguyễn Tài Ngọc

Bài Xem Nhiều