We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 19 April 2011

TRƯỜNG CA CHO THÁNG TƯ ĐEN

TRƯỜNG CA CHO THÁNG TƯ ĐEN
(Gởi đảng viên các cấp của nhà nước CSVN.
Riêng tặng đồng bào Việt Nam quốc nội và hải ngoại)



Mỗi tháng Tư về, tôi lại làm thơ

Thả bay khắp trời liên mạng
Những bài thơ nói về tội đảng
Nói thẳng, nói ngay và nói rất chân tình





Tôi nói rằng quê đang thét tiếng bất bình

Và nói đảng đã trong giờ tận tuyệt
Ngàn núi lửa đang vươn mình rung chuyển
Đợi giờ thiêng, đồng loạt, nổ bùng ra ..
Trận địa chấn này cho chính đảng gây ra
Cứ gian ác là tự đào lấy huyệt
Màn sắp hạ rồi, tuồng vào đoạn kết
Bởi tàn hung thì sẽ gặp hung tàn !
Và nói rằng
Dân tộc Việt Nam
Những Hưng Đạo sẽ chung tay làm tròn lời thề sông Hoá
Để giang sơn có một mặt trời sáng toả
Xóa đi bóng tối điêu tàn
Bóng tối kinh hoàng của những trại giam
Của xích xiềng, của mồ chôn tập thể
Của tám chục triệu dân lành nghẹn ngào mắt lệ
Cho Việt Nam vàng một màu cờ





Mỗi tháng Tư về tôi lại làm thơ

Bằng nỗi xót xa từ trong tiếng thở
Cho những mẹ, những cha,
Những anh chị em và những chồng, những vợ
Những sinh viên học sinh
Những trẻ mồ côi, bụi đời, đầu đường góc chợ
Rằng tôi thương hết mọi người
Nhưng, ngủ giấc đã dài, tỉnh dậy đi thôi !
Tỉnh để dựng công bình cho dân nước
Đừng mãi cúi đầu, cầu an, khiếp nhược
Hãy ngẩng lên và đứng thẳng làm người
Làm rạng giống nòi khắp chốn, khắp nơi
Nhận trách nhiệm khi nước nhà hưng phế


Hãy tỉnh dậy, chạm tay vào thực tế
Đừng mãi ngồi than khóc để ngày qua
Già nhắc cháu con nối nghiệp ông cha
Trẻ can đảm bước vào giờ lịch sử
Khơi đuốc lửa hồng, can trường lên chứ
Hỡi Triệu, Trưng, Nguyễn Huệ, hỡi Ngô Quyền !
Cọc nhọn, tre ngà, ngựa sắt, nhung yên
Còn cả đấy, hãy mau mà thừa kế
Dù gió lớn, vững tay chèo, ta nhé ...
Mây tan đi, nhất định phải quang trời !
Ta sẽ đưa thuyền đến bến, đến nơi
Ý dân muốn thì lòng trời phải tựa
Đều bước nhé, hỡi muôn ngàn đuốc lửa
Nếu không đi, ai có đến bao giờ ....


Cứ tháng Tư về tôi lại làm thơ
Gởi các đảng viên, những người lãnh đạo
Con đường đó, đảng các ông xây bằng gian manh, lừa đảo
Nên những oan hồn đang đợi ở đầu kia
Nếu ông hỏi
Họ đợi chờ chi ?
Thưa, họ đợi một công bằng vay trả
Đừng tưởng bạo tàn rồi không sao cả
Sẽ bình yên hưởng thụ sang giàu




Không !

Ông đảng viên ơi !!

Không đúng thế đâu ...
Trồng cây nào ông ăn trái nấy
Và vay làm sao thì ông phải trả về làm vậy
Chính con cháu ông sẽ đến đòi ông đấy
Hoặc cháu con ông trả nợ cho người
Ông phải tin
Vì đó là luật công bằng muôn thuở ông ơi
Và của vòng huyền vi nhân quả
Hơn nửa thế kỷ dài
Dưới tay các ông bao triệu người gục ngã
Máu xương, sông núi hoang tàn
Dân chúng ba miền đói khổ lầm than
Trong khi các ông thừa tiền du hí
Bản Giốc, Nam Quan, Trường - Hoàng Sa cũng bị
Các ông cắt bán cho Tàu



Tội các ông nhiều, kể chẳng hết đâu

Hãy đợi ngày đền trả
Nhưng ngay bây giờ
Phải dừng lại những mị lừa gian trá
Đừng gây thêm tội ác tầy trời
Mau ăn năn và sám hối đi thôi
Rồi quay về với quê hương, dân tộc
Hãy tạ tội với những linh hồn oan khốc
Với người tù và ba cõi Bắc - Nam - Trung
Với quê hương
Hãy mau quì trước cửa đền Hùng
Thắp một tuần nhang xin ơn đại xá
Bởi tội ác đã đến giờ phải trả
Mau lên kẻo chẳng kịp nào
Nếu chờ đến lúc vùng lên của tám chục triệu đồng bào
Thì e rằng qúa trễ ...



Hỡi quân đội, công an, các đảng viên tuổi trẻ

Cứu muôn dân, mau đập vỡ giáo điều !
Phá nát xích xiềng, xây dựng nhé, tin yêu
Đem lại cho đời: Tự Do, Công Bình, Nhân Bản !
Không thể nữa, cúi đầu vâng lệnh đảng
Hãy hiên ngang mà để tiếng thơm đời

Người ta sống để làm người

Sống làm sâu bọ, hỏi thời sống chi ?
Đứng lên, ngạo nghễ mà đi
Đừng hèn hạ sống, sống quì, sống khom !



Ngô Minh Hằng

Thiên đường XHCN (TÌNH NGƯỜI)

Sưu Tầm

Gần Am Bát Tiên tại thành phố Tây An có một cụ già sau lưng treo một cái bảng với hàng chữ " tôi bán tôi, chỉ bán với giá 20 ngàn tệ, sở trường của tôi là; giữ nhà.... nấu cơm..." Hàng chữ cuối cùng trên bảng viết: KHỎE HƠN
CHÓ.


Đây là người giao gas cực khổ nhất Phật Sơn, từ miệng ông kể, chúng tôi được biết ông họ Lý, đến từ tỉnh Quảng Đông, làm việc cho hãng bơm gas, còn vợ ông thì làm việc ở xưởng may, thằng con trai không có người trông coi cho nên mỗi ngày ông phải cõng thằng bé trên lưng đi giao gas. Vừa làm cha, lại phải kiêm chức mẹ, ông phải cõng con lên lầu xuống lầu để giao gas đến tận nhà.....


Hai cụ già mang trái Đào từ nhà lên Huyện bán, có người mua vài ký và trả cho cụ 50 Yuen giả, vì Đào rẻ cho nên cụ thối rất nhiều tiền lại cho họ. sau khi họ đi rồi cụ nhìn lại tiền trên tay vẫn chưa biết đó là tiền giả cho đến khi người bên cạnh nói cho cụ biết đó lả tiền giả thì hai cụ chỉ biết đứng sững, buồn tiếc và rưng rưng nước mắt. Cụ tính rượt theo nhưng họ đã đi mất dạng rồi.

Người mẹ bị bệnh ung thư xương, trước khi lìa đời bà đan cho con trai mình quần bằng len, số lượng đủ mặc đến khi con 25 tuổi.

Hai người này đang mót bạc cắc để trả tiền khám bệnh cho nhà thương.

Tại T.P Vũ Hán Trung Quốc có chú chó vì sợ bị người ta đánh cho nên chui vào trong tường trốn 3 năm trời không dám ra khỏi động. Nghe nói 3 năm trước, chính mắt chú chó con thấy mẹ mình bị đập chết cho nên sợ quá chạy vô trong tường trốn, từ đó không dám đi ra ngoài nữa. Thỉnh thoảng chú chó thò đầu ra thở không khí một tí. Dân địa phương thấy vậy thay phiên nhau mỗi ngày cho 3 bữa cơm, ba năm liên tục.


Tháng 10 năm 1998, hầm Thạch Cao ở Hà Bắc TQ bị xập, 6 công nhân bị chôn ở dưới hầm. Vì chi phí để cứu người tốn đến 600 ngàn yuen, cho nên họ quyết định bỏ cuộc và bồi thường cho gia đình nạn nhân mỗi hộ là 30 ngàn yuen. Tổng cộng có 5 hộ chấp nhận tiền bồi thường, duy chỉ có ông Lâm từ chối nhận tiền và đòi phải cứu con mình. Chính phủ địa phương đành phải làm theo ý ông Lâm. Sau 27 ngày đào xới, kết cuộc họ phát hiện 6 người bị nạn vẫn còn sống sót----------SỨC MẠNH CỦA TÌNH THƯƠNG ĐÃ MANG LẠI SỰ KỲ DIỆU.

Đúng là một người đàn bà đang kéo tàu. Cũng như những người đàn ông khác, chị để trần phần trên thân thể, chân đi dép rơm, điều nay nói lên sự nghèo túng, khốn cùng của chị.


Người mẹ lượm rác 9 năm nuôi con đi hết con đường Đại Học. Hình do người con chụp cho mẹ.



Panda ôm lấy chân một nhân viên cứu trợ sau trận động đất. Con vật còn sợ đến thế huống chi là người.

Ông không biết cái gì gọi là chính trị, là kinh tế. Ông chỉ mong mỗi ngày kiếm được 10 yuen để mỗi tháng ông có tí tiền gừi cho con tiêu xài và cho mẹ ông mua thuốc uống. Ông rất sợ chết, ông phải phấn đầu vì cả nhà đang cần ông nuôi. Cả nước có khoảng 7 tỷ người như ông không được sự giúp đỡ của chính phủ, không được một tí phúc lợi nào. Họ là những người dễ bị quên nhất.


Lúc già rồi tính sao? Chỉ cần có ông/bà bên cạnh là thấy lòng đủ an rồi, có ông/bà bên cạnh là có cả thế giới. Đến lúc không còn đi đứng được nữa, dựa nhau trên chiếc ghế đu đưa càng thương nhau hơn.

Cõng cha xuống núi.
Tình cha thương con như núi Thái Sơn, cha đã từng to lớn như núi trong lòng ta, khi chúng ta lớn lên, chúng ta phải làm tảng núi thật lớn để cha nương tựa.

Chỉ Vì 3 Kílô Cua, Công An Đánh Dân Bầm Dập


SAIGON
-- Công an Việt Nam lúc nào cũng có dư thừa lý do để đánh người. Sau một thời đánh dân vì không đội mũ bảo hiểm, bây giờ lại đánh dân chỉ vì 3kg cua. Đó là chuyện xảy ra tại Sài Gòn.
Báo Gia Đình kể rằng, theo lời công an, “chị Ngọc và người nhà có hành vi chống người thi hành công vụ.”
Tuy nhiên, phía người dân thì nói chỉ vì công an lên cơn thèm nhậu, muốn xử ép để mua cua giá rẻ, thế là công an liền đánh cho chị bán cua tới té xỉu, “đa chấn thương phần mềm tay, chân. Hiện sức khỏe của nạn nhân không tốt nên các bác sỹ thường xuyên cho chị Ngọc thở bằng ôxy.”
Thế là, theo báo Gia Đình, gia đình nạn nhân gửi đơn tố cáo đến các cơ quan chức năng về việc chị Dương Thị Mỹ Ngọc (SN 1977, ngụ đường 120, KP2, phường Tân Phú, quận 9, TP Sài Gòn), bị ông N.T.H – Công an phường Tân Phú, quận 9 đánh đến mức phải nhập viện.
Tại Bệnh viện Quân dân Miền Đông (quận 9), phóng viên Báo GĐ&XH đã gặp chị Ngọc và được nạn nhân cho biết không hề có mâu thuẫn với ông H. Nguyên nhân chị bị đánh tại trụ sở Công an phường Tân Phú xuất phát từ việc không đồng ý bán 3kg cua biển cho ông H.
Báo này đã ghi theo lời kể của chị Ngọc, trưa ngày 3/4, chị đang bán hải sản tại chợ Tân Phú thì ông H ghé vào mua 3kg cua biển. Là người quen nên chị Ngọc lấy giá 520 ngàn/3kg cua biển, nhưng ông H chỉ trả giá 300 ngàn nên chị Ngọc từ chối nên ông H bỏ đi. Ngày 6/4, ông H mặc quân phục, chạy xe máy đến đụng vào mâm hải sản của chị Ngọc nên hai bên xảy ra xô xát. Ông H bắt chị Ngọc dẹp số hàng trên lên lề đường, nhưng do số hải sản trên quá nhiều nên chị Ngọc không vận chuyển kịp.
Chị Ngọc cho biết: “Khi đó, ông H quát nạt nói là tôi chống đối và dùng tay đánh một cái vào bên má tôi. Trong lúc xô xát không may tôi có làm ông H bật cúc áo. Sự việc này có nhiều người dân bán ở chợ Tân Phú chứng kiến. Khoảng vài phút sau ông H đã gọi dân phòng của phường đi xe máy xuống chợ Tân Phú và đưa tôi về trụ sở công an làm việc. Khi đến trụ sở công an, tôi bị ông H đánh ngất xỉu và bắt ký vào tờ đơn với nội dung chống người thi hành công vụ. Thấy tôi không ký, ông H tiếp tục đánh”.
Báo này ghi thêm: “Sáng ngày 7/4, chị Ngọc được gia đình đưa đến Bệnh viện chữa trị. Theo chẩn đoán của Bệnh viện Quân dân Miền Đông, chị Ngọc bị đa chấn thương phần mềm tay, chân. Hiện sức khỏe của nạn nhân không tốt nên các bác sỹ thường xuyên cho chị Ngọc thở bằng ôxy.”

Ai dậy người Việt cày cấy?

(Trình bày tại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 17-4-2011 tại Mississauga, Ontario, Canada )

Cấy lúa

1.- SỬ LIỆU XƯA

Hậu Hán thư (Hou Han shu) là sách do Phạm Diệp hay Phạm Việp (Fan Ye) (398-445) viết vào thế kỷ thứ 5 về đời nhà Hậu Hán (25-220) bên Trung Quốc, trong đó có nhiều đoạn liên hệ đến lịch sử cổ Việt. Theo Hậu Hán thư: “Tục Cửu Chân làm nghề săn bắn chứ không biết dùng bò để cày. Dân thường phải mua lúa Giao Chỉ mỗi lần bị thiếu thốn. [Nhâm] Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng, ruộng đất trù mật, mỗi năm một rộng thêm; trăm họ được đầy đủ.” (Nguyễn Phương trích dịch, Việt Nam thời khai sinh, Huế: Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Đại Học, 1965, tt. 186-187.) Cửu Chân, châu thổ sông Mã, cùng với Giao Chỉ, châu thổ sông Hồng, là địa bàn sinh sống của người cổ Việt.

Nhâm Diên, người huyện Uyển, thuộc Nam Dương (Trung Quốc), làm thái thú Cửu Chân (từ năm ất dậu (25), đến năm kỷ sửu (29), thì được gọi về Trung Quốc. Ông được các bộ cổ sử Trung Quốc ca tụng là người đã dạy cho dân Việt biết cách dùng lưỡi cày bằng sắt (điền khí) để cày ruộng.

Dựa vào tài liệu của Trung Quốc, các sách xưa của người Việt đều viết gần giống như trên. Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên viết vào thế kỷ 15, trình bày sự kiện Nhâm Diên như sau: “Diên là người Uyển. Tục người Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng, trăm họ no đủ.” (Bản dịch của Nxb. Khoa học Xã hội Hà Nội: 1993, tập 1, tr. 155.) Khâm định Việt sử thông giám cương mục vào thế kỷ 19, viết tương tự như thế. (Tiền biên, quyển thứ 2).

Cho đến đầu thế kỷ 20, Trần Trọng Kim cũng nói rằng: “Bấy giờ dân quận ấy chỉ làm nghề chài lưới và săn bắn, chứ không biết cày cấy làm ruộng nương. Nhâm Diên mới dạy dân dùng cày bừa mà khai khẩn ruộng đất, bởi vậy chẳng bao lâu mà quận ấy có đủ thóc gạo ăn.” (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Nxb. Tân Việt in lần thứ bảy, 1964, tr. 46.)

Những sử liệu nầy đều xuất phát từ nguồn sử liệu Trung Quốc, hay nói cụ thể là từ Hậu Hán thư. Mục đích của Hậu Hán thư nhằm kể công khai hóa của người Trung Quốc đối với người Việt, trong khi thực tế hoàn toàn trái ngược, vì một việc rất đơn giản: Ruộng lúa ở Việt Nam chúng ta là ruộng lúa nước, tức lúa gạo, trong khi ruộng lúa ở vùng châu thổ Hoàng Hà (Trung Quốc), nơi quần tụ của người Hán, là ruộng lúa khô, trồng lúa mỳ, lúa mạch và kê.

Ngay cả tài liệu cổ sử Trung Quốc cũng xác định ruộng lúa cổ Việt là ruộng lúa nước. Theo sách Giao Châu ngoại vực ký, [viết khoảng giữa đời Tấn (265-420), Trung Quốc] thì: “Hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc điền tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc dân, người cai quản dân gọi là Lạc vương, người phó là Lạc tướng, đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu…”( Lê Tắc, An Nam chí lược [chữ Nho], Huế: Uỷ Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam, Viện Đại Học, 1961, tr. 39.) Tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy là ruộng lúa nước. Trong khi đó, người Trung Quốc xưa ở vùng Hoàng Hà trồng lúa mì và lúa mạch trên ruộng khô, làm sao giỏi kỹ thuật trồng lúa gạo ở ruộng nước hơn người Việt, mà dạy người Việt?

2. SỬ LIỆU NGÀY NAY

Trong sách Ancient China (1967), tác giả Edward H. Schafer viết rằng: “Thuật trồng lúa gạo và thuần hóa gia súc chắc chắn [Trung Quốc] đã tiếp thu từ các sắc dân tầm thường ở miền nam xa xôi hẻo lánh [nam Man].” (Nguyên văn: “The art of cultivating rice and domesticating cattle were doubtless adopted from the despised races of the remote south.”) ( Edward H. Schafer, Ancient China, New York: Time-Life Books, 1967, tr. 16.) Cũng theo tài liệu nầy, Khổng Tử (551-479 TCN) chưa ăn cơm, và “sống chủ yếu bằng loại bánh làm bằng kê”. (Confucius have subsisted chiefly on millet cakes.), Khổng Tử cũng chưa biết uống trà (Cofucius never tasted tea…), vì gạo và trà đều xuất phát từ phương Nam. (Edward H. Schafer, sđd. tt. 16, 37, 38.)

Những tài liệu nghiên cứu mới, phát hiện rằng tại vùng Mê Linh (Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay) quận Giao Chỉ (châu thổ Hồng Hà), người ta tìm thấy những bộ xương trâu đã có mặt tại đây khoảng 2000 năm trước Công nguyên (TCN), và hai lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn (thế kỷ thứ 5 TCN đến thế kỷ 1 SCN) dùng cho trâu cày. (Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam [Việt Nam khai sinh], University of California Press, 1983, tr. 35.)

Những tài liệu nầy cho thấy dân Lạc Việt đã biết làm ruộng lúa nước và đã biết sử dụng điền khí (bằng đồng) trước khi người Trung Quốc đến xâm lăng. Lúc đó, dân Lạc Việt dùng lưỡi cày bằng đồng vì đồ đồng là nghề luyện kim của dân Lạc Việt (vốn nổi tiếng về trống đồng), và nhất là đồ sắt bị hạn chế, do việc bà Lữ hậu nhà Hán đã ra lệnh cấm xuất cảng sắt xuống phía nam Trung Quốc từ năm 183 TCN. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch tập 1 của Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr. 92.)

Ngày nay, kết quả khảo cứu của các học giả Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc và cả Việt Nam đều xác nhận rằng trung tâm đầu tiên của nền văn minh lúa nước trên thế giới là Đông Nam Á, rồi từ đó lan truyền đi khắp thế giới. Cũng theo các tác giả trên, tâm điểm của trung tâm văn minh lúa nước ở Đông Nam Á chính là khu vực Hòa Bình ở Bắc Việt Nam. (Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TpHCM, 1997, tt. 75-86.) Hòa Bình nằm trên vùng uốn khúc của sông Đà đổ về sông Hồng, gần huyện Mê Linh (tức Phú Thọ, Vĩnh Phúc), quận Giao Chỉ thời cổ Việt, nơi phát tích của Hai Bà Trưng.

Như thế, rõ ràng Nhâm Diên không phải là người khai tâm dân Việt dùng điền khí để cày cấy như Hậu Hán thư đã viết và các bộ sử khác chép theo. Người cổ Việt đã biết sử dụng điền khí trước khi Nhâm Diên đến cai trị Cửu Chân. Phải chăng Nhâm Diên, thái thú Cửu Chân, tức vùng châu thổ sông Mã, nơi có trung tâm trống đồng Đông Sơn (Thanh Hóa), chứng kiến dân chúng địa phương đã cày cấy bằng lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn, rồi báo cáo như trên để lập công với triều đình Trung Quốc?

Trước khi kết thúc câu chuyện, xin mọi người lưu ý đến một kinh nghiệm rất tầm thường, tầm thưòng đến nỗi chúng ta quên lưu ý: Trong các tuồng tích cổ xưa hay phim kiếm hiệp Trung Quốc, gọi nôm na là truyện Tàu mà chúng ta đã đọc hay xem, hầu như ít có hoặc không có cảnh ăn cơm. Lý do đơn giản vì như đã trình bày ở trên, ngày xưa, người Tàu không trồng lúa gạo, không có gạo để mà ăn, mà chỉ trồng lúa mì, lúa mạch và kê mà thôi. Về sau, người Tàu học cách trồng lúa gạo từ phương Nam. Trong truyện Thủy hử chẳng hạn, các hảo hán Lương Sơn Bạc thường vào tửu quán, gọi vài cân thịt, vài cân rượu, và thêm bánh bao chứ không có ai gọi vài thố cơm. (Bánh bao làm bằng lúa mỳ nhân thịt. Trong Thủy hử có đoạn mô tả một hắc điếm chuyên bắt cóc khách trọ lấy thịt làm nhân bánh bao.)

Ví dụ đơn giản nầy đủ cho thấy thời xa xưa người Tàu ở vùng Hoàng Hà chưa biết trồng lúa gạo và không dính líu gì đến việc trồng lúa gạo của người cổ Việt. Vì vậy không thể có chuyện người Tàu dạy người Việt trồng lúa gạo. Câu chuyện người Tàu dạy người Việt trồng lúa gạo là một huyền thoại nhằm đề cao người Tàu khai hóa người Việt là một chuyện không thật. Người Việt tự khám phá cách trồng lúa gạo, cung ứng thực phẩm cho chính mình, và truyền lên phía Bắc cho người Tàu. Rõ ràng là như thế.

(Toronto, 17-4-2011)

© Trần Gia Phụng

Tòa án lương tâm

NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CHỐNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA

Trong một bài viết của một “người dân thầm lặng” nhờ báo Đẹp đăng:

“Tất cả chúng ta đều là những người không chấp nhận chế độ CS và đã bỏ nước ra đi dù ra đi dưới bất cứ diện nào cũng đều là NHỮNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA, bổn phận của chúng ta là phải chống Cộng Sản, một việc làm cần phải có đối với một tấm lòng yêu nước. Bây giờ Cộng Sản đã và đang theo chúng ta đến tận nơi này, thì tại sao chúng ta không chống chúng nó mà lại chống chính NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CỦA CHÚNG TA? Đây là một điều đau lòng vô cùng”.

Chúng tôi có đọc được một bài viết của Ls Hoàng Duy Hùng với tựa đề “MẶT THẬT CỦA MẶT TRẬN - VIỆT TÂN - PHÁ NÁT NIỀM TIN “ đăng trên diễn đàn như một bằng chứng trả lời câu hỏi “Tại sao chúng ta không chống chúng nó mà lại chống chính người Việt quốc gia của chúng ta?”

Dưới đây, xin được trích một phần của bài viết Mặt thật của Mặt trận – Việt Tân - Phá nát niềm tin” của tác giả Ls Hoàng Duy Hùng tức Nghị viên Al-Hoàng.

“Trích”

Đa số cho rằng đây là sự thoái thân của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam của cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh. Nhiều người cho rằng đây là tổ chức Cộng Sản trá hình - nằm vùng, bề ngoài mang nhãn hiệu Quốc Gia nhưng thực chất là được điều hành bởi Cộng Sản để tìm cách khống chế các hoạt động của người Quốc Gia hoặc lèo lái các công việc chống Cộng theo sự cho phép và hướng dẫn của họ.

Nhiều người cho rằng hiện nay Việt Tân còn yếu nên tỏ vẻ "hòa hoãn" với những người chống đối.

Một số người cho rằng khi nào Việt Tân mạnh lên, nanh vuốt sẽ vung ra (giống y như khi Mặt Trận mạnh vào thập niên 1980's thì đã có những hành vi côn đồ liền như vụ án của hai ký giả Đạm Phong và Tú Rua) và họ sẽ công khai bày tỏ bộ mặt tay sai Cộng Sản của họ. Chưa có đủ mạnh, thế mà trên mạng lưới có những người của Việt Tân hoặc thân hữu của Việt Tân đã dùng những lời lẽ tục tĩu như "ăn l…" của đàn bà.

…………………………………………………………

Cộng Sản nhận ra người Việt ở hải ngoại là vốn liếng to lớn vô cùng hiện nay nên chúng tìm cách khai thác, dụ dỗ người Việt hải ngoại đưa tiền bạc và chất xám về nước đầu tư giúp chúng ngày thêm giàu mạnh xiết chặt ghế cai trị của chúng. Nếu chúng công khai ra mặt làm chuyện này, chúng sẽ bị phản đối dữ dội.

Do đó, Cộng Sản phải dùng những tổ chức bề ngoài mang nhãn hiệu là Quốc Gia nhưng bên trong là do chúng khống chế, do chúng chỉ đạo, để từng bước một khống chế người Việt hải ngoại và đưa đẩy người Việt hải ngoại chấp nhận chính sách của chúng.

Hai tổ chức tay sai to lớn của Cộng Sản ở hải ngoại là Mặt Trận, nay là Việt Tân, và cái gọi là "chú phỉnh" Việt Nam Tự Do - Đảng Dân Tộc của Nguyễn Hữu Chánh. Có người đã ví von hai tổ chức này tuy hai mà là một như tay phải và tay trái trong kế hoạch thâm hiểm đó của tình báo CSVN.

……………………………………………………………

Để dễ thâu tóm quần chúng, Mặt Trận lập nhiều tổ chức ngoại vi như Hội Chuyên Gia gọi tắt là VPAC, sau này lại có thêm Phong Trào Phan Bội Châu, Tuổi Trẻ Lên Đường, Ủy Ban Liên Kết Trong Ngoài, v.v.

Năm 1994, Mặt Trận chơi chiêu bài ba lá xào bài thành lập Liên Minh Việt Nam Tự Do và ra mắt cũng tại Berlin. Cụ Duy Xuyên đã ôm bụng cười viết bài thơ: "Liên Minh Mặt Trận phở bò, tuy hai mà một cùng lò chui ra."

Năm 1999, tôi tố cáo những tội ác của Mặt Trận và việc Mặt Trận dấu diếm cái chết của Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, tôi nêu rõ Hội Chuyện Gia, Ủy Ban Liên Kết là ngoại vi, và Liên Minh Việt Nam Tự Do là con bài bịp ba lá của Mặt Trận và nay mai Việt Tân sẽ ra lò để thế cho cái thây sình thối của Mặt Trận. Ông Nguyễn Ngọc Đức, Tổng Thư Ký Liên Minh Việt Nam Tự Do ra văn thư hùng hổ "khẳng định" tôi vu khống cho Liên Minh Việt Nam Tự Do và "khẳng định" Liên Minh Việt Nam Tự Do độc lập không có lệ thuộc Mặt Trận!! Hội Chuyên Gia cũng làm chuyện tương tự như vậy.

Tôi thách thức họ đưa tôi ra tòa, họ im thin thít, ai nấy ôm bụng cười!!

Cái tẩy của mấy ông, người ta biết quá rồi, vậy mà còn tháu cáy, thà các ông chơi bài lật ngữa thì người ta còn nể đôi chút!!

………………………………………………………………..

Các nhân sự nòng cốt của Mặt Trận cũng chính là của Liên Minh Việt Nam Tự Do, Hội Chuyên Gia, và nay là Việt Tân. Cơ cấu cũng na na như nhau, hành động cũng giống nhau nên Việt Tân chính là alter ego hay là sự thoái thân của Mặt Trận là thế. Tình báo cao cấp của Cộng Sản khống chế được Mặt Trận quyết định ra mắt Việt Tân là để thả ra quả bóng thăm dò dư luận, xem thử mở bảng "hành nghề" tay sai cho Cộng Sản có làm ăn được hay không như Hồ Công Tử đã vịnh thơ:

Việt Tân vấn kế Tú Bà,
Mần răng dụ dỗ chuyên gia Việt kiều,
Dạy rằng: Học lấy tuyệt chiêu,
Ba mươi sáu kiểu thương yêu mặn nồng.
Chiêu bài Hòa Giải nằm lòng,
Cho nai tơ mắc vào tròng nghiệt oan,
Chị em hoạt động an toàn,
Môn bài Nhà Thổ Đảng Đoàn Quốc Doanh.
Hôm nay làm lễ cải danh,
Phở Bò Kháng Chiến đổi thành Việt Tân.
Chị em rước khứa xa gần,
Hành nghề đã có lai-sần Quốc Doanh!

Có phải Việt Tân thật là Đảng Quốc Doanh - tay sai hoặc nằm vùng của Cộng Sản - hay đây chỉ là cảm tính không thích của cá nhân tôi, Hồ Công Tử cũng như các cá nhân khác về tổ chức này? Nói phải có sách, mách phải có chứng, tôi xin nêu dẫn dữ kiện và lý luận như sau:

I. Trước hết, về danh xưng.

Danh xưng Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng nói lên đảng này chủ trương canh tân đất nước chớ không phải lật đổ bạo quyền. Khi nói đến "canh tân" thì nói đến 2 vế hay 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chấp nhận sự cầm quyền của chế độ hiện hữu như là thế chính thống; 2/ Trở thành một phần của chế độ này để vận động sự "canh tân". Việt Tân chấp nhận chế độ Cộng Sản, vận động sự "chấp nhận" đó ở trong và ngoài nước với những bằng chứng như sau: ………………………………………………………….

“Hết trích”

Theo ý kiến của Ls. Hoàng Duy Hùng, sở dĩ có tình trạng người Việt quốc gia chống chính người Việt quốc gia vì đã có những người Việt quốc gia nỡ lòng chấp nhận làm công cụ, làm tay sai cho CSVN để đánh phá người Việt quốc gia hải ngoại, như Ls. Hoàng Duy Hùng khẳng định “ Cộng Sản phải dùng những tổ chức bề ngoài mang nhãn hiệu là Quốc Gia nhưng bên trong là do chúng khống chế, do chúng chỉ đạo, để từng bước một khống chế người Việt hải ngoại và đưa đẩy người Việt hải ngoại chấp nhận chính sách của chúng”.

Nghĩa là trong trường hợp này, có những người Việt quốc gia chấp nhận làm công cụ, làm tay sai cho CSVN để đánh phá người Việt quốc gia hải ngoại, cho nên người Việt quốc gia phải chống người Việt quốc gia.

Nếu quí vị nào còn thắc mắc tại sao người Việt quốc gia chống người Việt quốc gia, xin hỏi Ls Hoàng Duy Hùng và đảng viên đảng Việt Tân.

Từ bài viết trên, Ls Hoàng Duy Hùng đã khẳng định đảng Việt Tân là tay sai của đảng CVSN ở hải ngoại.

Vì Ls. Hoàng Duy Hùng xác định đảng Việt Tân là tay sai CSVN, cho nên tất cả đảng viên đảng Việt Tân cũng là tay sai CSVN, và tất cả những cá nhân, đoàn thể hợp tác với đảng Việt Tân, hoặc ủng hộ đảng Việt tân, hoặc có sự cộng tác của đảng viên đảng Việt Tân, cũng đều bị đánh giá là tay sai CSVN.

Cho nên nhiệm vụ của mọi người Việt quốc gia chân chính là không những chống CSVN mà còn phải chống cả tay sai của CSVN tại hải ngoại nói chung, và tại Houston, nói riêng.

Với tư cách là một luật sư đang hành nghề tại tiểu bang Texas, dĩ nhiên là phải có kiến thức về pháp luật, riêng trong vấn đề này, tôi tin tưởng Ls Hoàng Duy Hùng đã nắm vững sự kiện, đã thu thập đây đủ chứng cớ về việc đảng Việt Tân thực sự là tay sai CSVN, nên xin mạn phép có vài thắc mắc như sau:

Câu hỏi 1: Thời gian tranh cử vừa qua tại tổ chức cộng đồng Houston, mọi người đều thấy đảng viên Việt Tân ra sức hợp tác - ủng hộ mọi mặt với liên danh Tương lai do bà Ls Teresa Hoàng làm thụ ủy (em gái ruột của Ls Hoàng Duy Hùng), nay là Chủ tịch HĐĐD/CĐ bất hợp lệ, chẳng lẽ HĐĐD/CĐ bất hợp lệ và những cơ quan truyền thông, những cá nhân ủng hộ, chẳng hạn ông Lưu Qúy Tùng – bà Lê thị Thu Cúc …. cũng đồng lòng làm tay sai CSVN hay sao?

Câu hỏi 2: Và những “chính trị gia” ủng hộ HĐĐD/CĐ bất hợp lệ Houston như các ông Lê Phát Minh + Nguyễn Tấn Trí (Liên minh Dân chủ Việt Nam) – ĐYS Cảnh Thiên Đào Văn Thảo, Đặng Quốc Việt, Trần Quang Tích (Việt Tân) – Nguyễn Hoàng Thắng (Ủy ban phối hợp các chánh đảng người Việt tại Houston) – Nguyễn Hữu Thiết (Liên minh Quang phục) – Võ Đức Quang (Thăng Tiến) – Trịnh Kim Duyên (Việt nam quốc dân đảng) – Phạm Ngọc Trung (Phong trào quốc dân hành động) - Nguyễn Công Bằng (Vì Dân), Anh Trinh (Radio Hoa mai) - và kể cả bản thân Ls Hoàng Duy Hùng, Gs Nguyễn Chính Kết (Khối 8406?) ….. cũng cam lòng là tay sai CSVN hay sao?

Câu hỏi 3: Chẳng lẽ các đảng viên đảng phái chính trị Việt nam tại Houston đã vứt bỏ “ngọn cờ chính nghĩa chống Cộng” để giương cao “ngọn cờ tay sai Cộng Sản” hay sao? Hình như ván cờ chính trị Việt Nam sắp có thay đổi lớn mà kẻ viết bài này chưa hiểu được, nên các đảng viên các đảng phái chính trị tại Houston – ngoại trừ Dân Xã Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Tân Đại Việt - mới quay ngược hẳn chủ trương, hành động như vậy?

Cũng trong phạm vi đề tài “Tại sao người Việt quốc gia chống người Việt quốc gia”, chúng tôi cũng đọc được một bài viết của Ls Lê Duy San. Trước khi góp ý, kính mời quí độc giả đọc phần trích dẫn bài viết của Ls Lê Duy San có tựa đề “ HÒA GIẢI hay HÓA GIẢI”, như sau :

“Trích”

Có người cho rằng bọn Cộng Sản Hà Nội muốn “Hoà Hợp, Hoà Giải”.

Thật ngây thơ và ngu xuẩn! Làm sao chúng chiụ hoà hợp hoà giải khi mà bọn đang nắm quyền trong tay, đang ăn trên ngồi trốc? Hoà hợp hoà giải gì mà chúng vẫn giam giữ cả ngàn người chỉ vì họ bất đồng chính kiến với chúng hoặc chỉ vì họ đã phổ biến một vài bài báo tỏ bầy những nguyện vọng chính đáng của dân tộc?

Vậy mà nói: “Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này?” Vậy thì phải bắt lấy cơ hội này để làm gì? Phải chăng họ muốn chúng ta, những người đã bị bọn Cộng Sản Hà Nội cướp đoạt hết tài sản và đẩy lên rừng, ra biển với hai bàn tay trắng, nay lại đem tiền của trở về hợp tác với bọn chúng?

Lời kêu gọi này cũng chẳng khác gì lời kêu gọi “Hãy xóa bỏ hận thù” và Hoà hợp hoà giải” của bọn Cộng Sản Hà Nội và một số tay sai , trở cờ hoặc cò mồi trước đây đã từng được cổ xúy rầm rộ qua các phong trào như “Ủy ban xây dựng và tái thiết VN” trước đây của NBC, NVT, “Kế hoạch hóa dân chủ VN và giải pháp chính phủ Liên Hiệp” của Stephen Young, của các nhón như “Thông Luận”, “Hợp Lưu” v.v…và vài cá nhân như Phó bá Long, Lê Xuân Khoa, Nhật Tiến, Thụy Khê, Khánh Trường v.v…


Thực ra thì chiêu bài ”Xóa bỏ hận thù” hay “Hoà hợp hoà giải” đã được bọn Cộng Sản Hà Nội dùng đi dùng lại nhiều lần, nhưng mỗi lần ở mỗi hoàn cảnh khác nhau và chủ đích khác nhau.

Năm 1945, để cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, bọn Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ được gọi là Việt Minh đã kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, mọi đảng phái chính trị, mọi tôn giáo phải đoàn kết để làm một cuộc cách mạng dân tộc. Nhưng sau khi cướp được chính quyền, thay vì hoà hợp, hoà giải với các đang phái quốc gia, chúng đã hoà hợp hoà giải với thực dân Pháp để tiêu diệt tôn giáo và các đảng phái chính trị, nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng phái quốc gia có thực lực nhất. Chính Đức thày Huỳnh Phú Sổ cũng vì qúa tin vào lời đường mật của bọn chúng nên đã bị bọn chúng thủ tiêu trên đường đi đến phó hội với bọn chúng.

Năm 1954, sau khi ký Hiệp Định Genève chia cắt Việt Nam, bọn Cộng Sản Hà Nội lại một lần nữa kêu gọi đoàn kết khi tiếp thu miền Bắc và cho các đàn em như Nguyễn Bảo Hoá (Tô Nguyệt Đình), Phạm Văn Huyến, Tôn Thất Dương Kỵ v.v… thành lập :Phong Trào Hoà Bình” ở miền Nam để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử vào năm 1956.

Năm 1967, bọn Cộng Sản Hà Nội lại cho các tay sai thành lập một phong trào khác lấy tên là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích vào năm 1968.

Năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, bọn Cộng Sản Hà Nội lại cho thành lập một lực lượng thứ ba với chủ trương “Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc” để chuẩn bị cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975.

Gần đây, trước sự Trung Cộng cưỡng chiếm biên giới và lãnh hải của Việt Nam cũng như sự bất mãn của dân chúng vì sự lộng quyền của chính quyền địa phương, nhất là bọn công an, chúng lại cho bọn tay sai, nằm vùng ở hải ngoại đưa ra chiêu bài “hãy xoá bỏ hận thù để đoàn kết chống giặc Tầu xâm lược” mà một trong những kẻ to mồm nhất la Bác Sĩ Nguyễn Thị Thanh ở Canada. Thử hỏi chúng (bọn Cộng Sản Hà Nội) có chính quyền, có quân đội, có vũ khí trong tay, sao chúng không chống mà lại kêu gọi chúng ta, những người Việt hải ngoại trong tay chẳng có gì, chống?


Bởi vậy cho nên chúng ta có thể kết luận rằng chiêu bài “Xoá bỏ hận thù, Hoà Hợp Hoà Giải” của bọn Cộng Sản Hà Nội bây giờ được đề ra cũng không ngoài mục đích để hoá giải những nỗi khó khăn, những sự oán hận của dân chúng đang dâng cao chứ thực tâm chúng chẳng bao giờ chúng hoà hợp hoà giải hay đoàn kết gì cả.

Không những thế, chúng còn luôn luôn gây căm thù, gây chia rẽ để dễ trị vì đó là chính sách của bọn chúng. Thực vậy, cứ mỗi lần bọn Cộng Sản Hà Nội đưa ra một chiêu thức nào đó, là y như rằng cộng đồng người Việt hải ngoại của chúng ta lại chia ra làm hai phe: phe ủng hộ và phe chống đối khiến cộng đồng chúng ta đã chia rẽ lại chia rẽ thêm.

Tóm lại, bọn Cộng Sản Hà Nội chỉ muốn chúng ta. những người Việt Quốc Gia chống Cộng, quên đi hận thù để chúng dễ dàng dẹp tắt những bất mãn của người dân đang manh nha nổi dậy và hoá giải được tất cả những gì bất lợi cho chúng, để chúng dễ dàng dụ dỗ những thành phần ngây thơ, nhẹ dạ nhưng có khả năng.

“Hết trích”

Chiêu bài “Người quốc gia chống người quốc gia” của ông cử tri “thầm lặng” nào đó xem ra không có sức thuyết phục.

Câu “Người quốc gia chống người quốc gia” thực chất chỉ là một giải pháp, một mánh lới, một chiêu bài tạm thời trong một giai đoạn nào đó, nhằm bao biện thuyết phục “đối phương” như Ls Hoàng Duy Hùng nhận định “ Nhiều người cho rằng hiện nay Việt Tân còn yếu nên tỏ vẻ "hòa hoãn" với những người chống đối” là một kế hoạch mà CSVN thường áp dụng trong đấu tranh chính trị đã được Ls Lê Duy San phân tích rõ ràng, mạch lạc như trên.

Phe nhóm phía bên kia đã học tập cách tấn công địch của CSVN, cũng dùng lời lẽ mềm dẻo là chúng tôi không coi họ là thu địch, vẫn là anh em, để lôi kéo về phía mình, đồng thời bôi nhọ cá nhân

Ông cử tri thầm lặng nào đó viết “Tất cả chúng ta đều là những người không chấp nhận chế độ CS và đã bỏ nước ra đi dù ra đi dưới bất cứ diện nào cũng đều là NHỮNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA, bổn phận của chúng ta là phải chống Cộng Sản, một việc làm cần phải có đối với một tấm lòng yêu nước. Bây giờ Cộng Sản đã và đang theo chúng ta đến tận nơi này, thì tại sao chúng ta không chống chúng nó mà lại chống chính NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CỦA CHÚNG TA ? Đây là một điều đau lòng vô cùng”.

Quí vị đọc kỹ ông cử tri thầm lặng nào đó viết “Tất cả chúng ta đều là những người không chấp nhận chế độ CS và đã bỏ nước ra đi dù ra đi dưới bất cứ diện nào cũng đều là NHỮNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA, bổn phận của chúng ta là phải chống Cộng Sản”, sẽ thấy ông cử tri thầm lặng cố tình không nhắc đến nhiệm vụ chống tay sai CSVN, phải chăng có dụng ý bao che cho tay sai CSVN tại Houston như đã được Ls. Hoàng Duy Hùng xác định.

Chúng tôi không những đang chống CSVN mà còn chống cả tay sai của CSVN núp dưới danh nghĩa người Việt quốc gia tại Houston.

Chúng tôi hiểu được sự kiện này không đúng trọn vẹn tâm huyết, tâm ý của ông cử tri thầm lặng nào đó, nhưng chắc chắn là đúng 100% với ý chí của những người cử tri thầm lặng thuộc thành phần người Việt quốc gia chân chính, không phải là “Người Việt quốc gia nửa vời”, chân ngoài chân trong, mà người ta gọi là “Người Việt quốc gia chàng hảng”, chỉ chống CSVN mà thôi, và không chống tay sai CSVN nằm vùng ở hải ngoại.

Lộ tẩy rồi. Có phải thế không???

Và rất hy vọng bài này sẽ làm vừa lòng Ls. Hoàng Duy Hùng. Tôi chỉ dám mạn phép “phụ họa” chút xíu để tỏ chút chân tình thông cảm với nỗi lòng của ông.

Phúc Linh


30-4-1975 NGÀY QUỐC HẬN - QUỐC NẠN

30-4-1975
NGÀY QUỐC HẬN - QUỐC NẠN



Ngày 30-4-1975 là ngày Quốc Hận cho quân dân cán chính của Miền Nam Việt Nam. Quê hương sau 36 năm dưới sự cai trị độc tài của đảng CSVN, mà tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, thực chất chỉ là bọn tay sai của đế quốc Trung Cộng,vì thế ngày 30-4-1975 cũng đã trở thành một ngày Quốc Nạn cho toàn thể dân tộc Việt.
Ngày 30-4-1975 là một ngày Quốc Hận bởi vì với sự áp đặt của các thế lực quốc tế, Miền Nam VN thân yêu đã bị Hoa Kỳ và Trung Cộng bán đứng trắng trợn cho Cộng Sản Bắc Việt.
Số phận của Miền Nam Việt Nam đã bị định đoạt sau ngày 15-2-1972 qua chuyến công du của tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon gặp Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh để cam kết là Hoa Kỳ và Trung Cộng là đồng minh trong cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô. Hiệp định Paris ngày 23-1-1973 ra đời để tạo điều kiện cho Hoa Kỳ rút quân, cắt giãm viện trợ cho Miền Nam Việt Nam và không ngăn chận sự xâm lăng của Cộng Sản Bắc ViệtSau khi cưỡng chiếm được Miền Nam, hành vi đầu tiên mà bạo quyền CSVN áp dụng là tập trung hàng trăm ngàn quân dân cán chính của miền Nam vào các trại tù ở những nơi rừng sâu nước độc để đày đọa, trả thù một cách hèn mọn.Hậu quả khiến cho hàng chục ngàn người bị bệnh tậât và hàng ngàn người chết. Đối với các thân nhân của quân dân cán chính miền Nam gồm các đàn bà, trẻ con, ông bà già, bạo quyền CSVN đã lùa họ đi các vùng kinh tế mới là những nơi rừng thiêng nước độc. Hành động nầy chỉ nhằm tiêu diệt các gia đình quân dân cán chính miền Nam. Tấât cả nghiã trang quân đội nơi chôn cất các tử sĩ của QLVNCH đều bị công an đập phá hoặc bắt di chuyển hài cốt. Không chịu đựng được sự tàn bạo của nhà cầm quyền Hà Nội, hàng triệu người với các chiếc thuyền nhỏ bé đã bấât chấp đói khát, bệnh tậât, hải tặc, sóng gió đã vượt biển đi tìm tự do. Hậu qủa đã có hàng trăm ngàn người phải vùi thân nơi biển cả.
Bên cạnh đấy, chiêu bài Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc do Hồ Chí Minh và đảng CSVN đưa ra chỉ là một sự lừa bịp.
Nền độc lập của Việt Nam đã bị Trung Cộng cướp mất. Năm 1958, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng đã ký Hiệp Định dâng hai quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa cho Trung Cộng. Cuối năm 1999 và đầu năm 2000, nhà cầm quyền Hà Nội lại tiếp tục dâng lãnh hải và lãnh thổ cho Trung Cộng. Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan trước đây của VN thì nay thuộc về Trung Cộng. Rồi đây theo thời gian phải chăng VN sẽ thành một tỉnh lỵ của Trung Cộng?
Sau ngày 30-4-1975 toàn dân Việt bị nhà cầm quyền Hà Nội tước đoạt mọi quyền tự do căn bản như các quyền tự do tôn giáo, tư tưởng, báo chí, biểu tình, lập hội, đình công v.v..
Dân số VN hiện nay trên 80 triệu người, nhưng chỉ có thiếu số tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, các đảng viên cao cấp của đảng CSVN có tài sản trên hàng trăm triệu mỹ kim. Trái lại, đại đa số người dân Việt nhất là tại thôn quê phải lâm vào cảnh nghèo đói cơ cực. Nhiều thiếu nữ còn tuổi vị thành niên bị đem bán ra ngoaị quốc để làm nô lệ tình dục để mong kiếm cơm nuôi gia đình. Nạn tham nhũng của các viên chức CSVN và cảnh đàn áp của công an đối với người dân xảy ra hàng ngày một cách rất thô bạo.
Hiến pháp của CSVN năm 1992 chỉ là tờ giấy lộn và luật lệ đặt ra thì vi hiến, tước đoạt nhân quyền của người dân một cách trắng trợn chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi cho tập đoàn lãnh đạo Hà Nội. Mọi lời phê bình đảng hay nhà nước CSVN, các tư tưởng dân chủ của các thanh niên yêu nước, tu sĩ và giới trí thức trong nước đều bị ngăn cấm và bị tòa án tuyên án một cách nặng nề.
Vào thập niên 1960, thời tổng thống Ngô Đình Diệm, miền Nam VN vượt xa Nam Hàn, Phi Luật Tân và Thái Lan. Nhưng nay dưới chế độ độc tài CSVN, Việt Nam hoàn toàn bị tụt hậu thua kém các quốc gia kể trên.Đây chính là điều bất hạnh cho quê hương và dân tộc Việt Nam vậy./

Ý Dân

Giải phóng miền Nam

Giải phóng miền Nam - Tập I

Babui




Tưởng rằng anh "giải phóng" tôi
Nào ngờ anh "dụ", anh lôi vô tù
Bao năm "cải tạo" chổng khu
Một lần "phỏng giái" vì ngu tin người

Ai ơi hãy ngẫm cuộc đời
Đừng tin cộng phỉ có ngày tiêu ma
Tuyên truyền ngon ngọt thật là
Đến khi thắng cuộc, quỉ ma lộng hành!

-----------------

Giải phóng miền Nam - Tập 2

Babui




Tưởng rằng anh "giải phóng" tôi
Nào ngờ anh "dụ", anh lôi vô tù
Bao năm "cải tạo" chổng khu
Một lần "phỏng giái" vì ngu tin người

Ai ơi hãy ngẫm cuộc đời
Đừng tin cộng phỉ có ngày tiêu ma
Tuyên truyền ngon ngọt thật là
Đến khi thắng cuộc, quỉ ma lộng hành!
Giải phóng Sài Gòn, thắng vẻ vang ;
Khai gian có họ để nhận hàng ;
Chẳng có nghề nào bằng ăn cướp ;
Giết người rồi được hưởng giầu sang

----------
Giải phóng miền Nam - Tập 3
Babui




Tưởng rằng anh "giải phóng" tôi
Nào ngờ anh "dụ", anh lôi vô tù
Bao năm "cải tạo" chổng khu
Một lần "phỏng giái" vì ngu tin người

Ai ơi hãy ngẫm cuộc đời
Đừng tin cộng phỉ có ngày tiêu ma
Tuyên truyền ngon ngọt thật là
Đến khi thắng cuộc, quỉ ma lộng hành!

Cuộc ĐẤU TRANH DÂN CHỦ vô cùng cam go TRỞ LỰC hiện nay là bọn bán Nước Việt gian cs được bảo kê bởi TRUNG QUỐC, não trạng Việt chuyên chia phân lọai VÀ NHẤT LÀ không ít trong số các Nhà gọi là Dân chủ không thiếu nhiều CHÚ CUỘI do Đảng cài đi ra NGỌAI QUỐC dưới dạng TỴ NẠN như KINH NGHIỆM BA LAN khi chế độ CS sụp đổ người ta phát hiện trong CÔNG ĐÒAN ĐÒAN KẾT có rất nhiều CÔNG AN CHÌM MẬT VỤ CS cài vào !! -
-------

Giải phóng miền Nam - Tập 4 (Ra đi)

Babui



" TỰ DO ơi, TỰ DO!
Tôi trả bằng nước mắt
TỰ DO hỡi, TỰ DO!
Anh trao bằng máu xương
TỰ DO ơi, TỰ DO!
Em đổi bằng thân xác
Vì hai chữ TỰ DO, Ta mang đời lưu vong..."
---------------
Giải phóng miền Nam - Tập cuối: Quê hương đoạ đày

Babui



Tưởng rằng anh "giải phóng" tôi
Nào ngờ anh "dụ", anh lôi vô tù
Bao năm "cải tạo" chổng khu
Một lần "phỏng giái" vì ngu tin người

Ai ơi hãy ngẫm cuộc đời
Đừng tin cộng phỉ có ngày tiêu ma
Tuyên truyền ngon ngọt thật là
Đến khi thắng cuộc, quỉ ma lộng hành!
Ai ơi hãy ngẫm cuộc đời
Neu tin cong phi thi doi tieu ma.....



Khánh thành tượng đài thuyền nhân VN ở Hamburg, Đức


Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA
Tượng đài thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn cộng sản được khánh thành vào thứ 7, 12 tháng 9 tại cảng Hamburg.

Photo RFA file

Thuyền nhân đang dược cứu vớt lên tàu để đưa vào đảo

Đây là công sức do tập thể người Việt tại Đức và từ những quốc gia khác đóng góp, để tri ân chánh phủ và nhân dân Đức đã cứu sống, tiếp nhận và tận tình giúp đỡ những thuyền nhân VN vượt biển tìm tự do, tìm lẽ sống trong cái chết cận kề ngoài biển khơi, cách đây hơn 30 năm.

Ban Việt Ngữ chúng tôi liên lạc với các thành viên trong ban tổ chức Hội xây dựng tượng đài tỵ nạn Hamburg, Đức Quốc và ghi nhận thêm chi tiết từ buổi lễ.

Xin nhường lời cho anh Đỗ Hiếu.

Từ cảng Hamburg, Đức Quốc, nơi đang diễn ra buổi lễ khánh thành tượng đài tị nạn, ông Lê Văn Hồng, phó Trưởng Ban Tổ chức cho RFA chúng tôi một vài chi tiết về quang cảnh trước mắt:

Đại diện cho tổ chức ngày hôm nay, tôi xin được gửi lời kính chào đến toàn thể quý vị và thính giả của đài RFA. Quý vị đang nghe tiếng vỗ tay của rất đông khán giả ở đây. Hôm nay có sự góp mặt của ít nhất 700 người thuộc đủ mọi thành phần đến từ nhiều nơi, có một số người đến từ Paris - Pháp. Vừa rồi là lời phát biểu của ông bộ trưởng nội vụ của liên bang Đức. Tôi biết rằng giờ này không thể dịch ra được lời nói của ông bởi bây giờ qua phần thứ hai là đại diện bên Công giáo cũng như đại diện cho bên Phật giáo cử hành lễ tưởng nhớ đến tất cả đồng bào đã bỏ mình trên biển cả trên đường đi tìm tự do. Hôm nay bầu trời rất đẹp, tràn ngập ánh nắng và chúng tôi nghĩ đây là một buổi lễ rất thành công.”

Hình thành công trình

Kế đó ông Nguyễn Hữu Huấn, Hội Trưởng hội xây dựng tượng đài trình bày về sự hình thành từng bước của công trình này. Sự hình thành công trình này là do sự đóng góp của toàn thể người Việt tị nạn Cộng sản tại CHLB Đức nói riêng và cũng có một số đông những người đã được tàu khác vớt họ cũng nhớ ơn.

Ông Nguyễn Hữu Huấn

“Ba mươi năm trước đây các con tàu Cap Anamur của Đức đã cứu vớt 11.300 thuyền nhân Việt nam. Gần 30 năm sau chúng tôi đã ngồi lại với nhau và bàn là chúng ta phải làm một cái gì để cám ơn nhân dân Đức, cám ơn tấm lòng của họ đã giúp mình. Điều quan trọng nữa là chúng tôi muốn nói lên lý do tại sao người Việt tị nạn cộng sản lại có mặt ở nước Đức để cho cả thế giới đều biết. Anh em chúng tôi đã chọn cảng Hamburg là cảng chính, là nơi xuất phát các con tàu Cap Anamur trở về cùng với những người tị nạn. Chúng tôi đã xin chính phủ chấp nhận cho chúng tôi được làm một tượng đài kỷ niệm ở đó. Thuở ban đầu thì rất khó khăn, trong gần 4 năm trời bây giờ chúng tôi mới thành công và chính phủ đã giúp chúng tôi để có một miếng đất. Họ cho luôn chúng tôi một miếng đất ở đó để xây dựng tượng đài.”

Kiến trúc tượng đài

Rupert-Neudeck-180.jpg
Phóng viên Rupert Neudeck, một trong những người thành lập tàu Cap Anamur. Photo courtesy of Wikipedia.

Dịp này, ông Lê Văn Hồng cũng mô tả vài nét về kiến trúc của tượng đài vừa được khánh thành và nói sẽ gởi đến ban Việt ngữ chúng tôi những hình ảnh tại chỗ.

“Khu tượng đài được đặt lên ở vùng đất rộng 50 mét vuông, nằm ngay trên mặt đê chính của hải cảng Hamburg và mặt đê này được họ dành cho một chỗ rất đặc biệt. Tượng đài là một cột bằng đá hoa cương đen và đặt lên trên đó một tấm sắt bằng đồng đúc viết bằng ba thứ tiếng. Tiếng thứ nhất là tiếng Đức kể lại toàn bộ ba lần với ba con tàu Cap Anamur 1, Cap Anamur 2 và Cap Anamur 3 với tổng cộng 11.300 người Việt tị nạn đã được cứu. Đồng thời bên tiếng Anh và tiếng Việt cũng viết như thế. Tấm bảng đồng này cộng với chân bằng đá hoa cương cao khoảng 1,5 mét. Bên cạnh chúng tôi đặt hai con sư tử bằng đá trắng làm nổi bật lên nét Á châu. Chung quanh được trồng hoa.”

Ông Nguyễn Hữu Huấn cũng giải thích thêm về sự hình thành công trình này.

“Sự hình thành công trình này là do sự đóng góp của toàn thể người Việt tị nạn Cộng sản tại CHLB Đức nói riêng và cũng có một số đông những người đã được tàu khác vớt họ cũng nhớ ơn. Ở ngoài nước Đức, trong Âu châu, tại Mỹ châu và Úc châu cũng có tiền ủng hộ cho chúng tôi làm. Nhân tiện đây chúng tôi cũng xin cám ơn tất cả các người VN, tất cả cộng đồng đã giúp đỡ chúng tôi để thành công được dự án này. Rất là khó khăn từ nhiều phía và cuối cùng thì chính phủ nước Đức đã chấp nhận cho chúng tôi. Chỉ có hai tượng đài thật lớn là của chính phủ Đức thôi và bây giờ người VN tị nạn tại CHLB Đức này có một tượng đài. Đó là tượng đài độc nhất của tư nhân.”

Ý nghĩa tượng đài

Kế đó, Ban Việt Ngữ chúng tôi ghi lại ý kiến của một bà Đài, nữ công dân Đức, gốc Việt, một thuyền nhân được tàu Cap Anamur cứu mạng, trong hoàn cảnh tuyệt vọng, sắp chìm đắm ngoài đại dương, mấy mươi năm trước, bà là một trong hàng trăm người hiện diện tại buổi lễ: Tượng đài sẽ nói lên lời cám ơn nhân dân Đức, ông bà tiến sĩ Neudeck và nhất là tượng đài sẽ nói cho con cháu về sau biết vì lý do gì nó ở đây.

Bà Đài, Đức

“Cách đây 30 năm, chồng tôi và các con tôi đã được tàu Cap Anamur cứu mạng trong một hoàn cảnh tuyệt vọng cận kề cái chết. Ơn cứu tử đó gia đình tôi và những người VN định cư ở Đức đã luôn khắc ghi trong lòng. Nghe tin Hội tượng đài Hamburg thành lập, tôi và các bạn bè tôi đã rất mừng, đã cổ động và ủng hộ. Tượng đài sẽ nói lên lời cám ơn nhân dân Đức, ông bà tiến sĩ Neudeck và nhất là tượng đài sẽ nói cho con cháu về sau biết vì lý do gì nó ở đây. Ba mươi năm rồi mới đền đáp được và người Việt nam định cư tại Đức nói được chữ cám ơn sẽ tồn tại mãi với thời gian tại cảng Hamburg.”

Được biết, sau nhiều năm vận động, tượng đài tỵ nạn được hoàn thành và tọa lạc ngay tại cảng Hamburg là nơi con tàu nhân đạo Cap Anamur đã xuất phát và trở về.

Đây là một hải cảng sầm uất của Đức đứng thứ nhì Châu Âu và lớn thứ 7 toàn thế giới, đồng thời cũng là trung tâm du lịch quốc tế thu hút trên 8 triệu du khách mỗi năm.

Sau lễ khánh thành kết thúc vào chiều cùng ngày, ban tổ chức chuẩn bị một chương trình văn nghệ vào chiều tối với sự tham gia của nhiều ban nhạc đến từ khắp Âu Châu, với chủ đề “Hát cho nhau nghe”.

(Theo tin RFA)

TuongNiem6
Tượng đài tưởng niệm Thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn cộng sản tại nước Đức,
Cảng Hamburg

ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN

ĐÀI TƯỞNG NIỆM

THUYỀN NHÂN

VIỆT HẢI

Hôm nay đúng ngày 30 tháng Tư, 2008, những ký ức cũ sau 33 năm nghiệt ngã lại hiện về khi người Cộng Sản Việt Nam nhẫn tâm trả thù người dân Việt Nam Cộng Hòa qua nhiều chính sách tàn bạo, gây điêu đứng cho người dân bị trị miền Nam. Để rồi trong sách báo ghi nhận những tiếng hờn cô đơn trong lao tù, những tiếng khóc oan khiên dưới đáy mồ lòng đại dương. Tôi xót xa xem bài thơ của thi sĩ Ngô Minh Hằng như sau:

Khóc người đáy biển

Tháng Tư ra biển khóc người

Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin về…

Biển chiều vàng ánh tà huy

Dài tay sóng níu bước đi vô hồn

Đứng trên bờ đá cô đơn

Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa

Ai hay đáy biển là nhà

Máu pha lệ hận chan hòa đại dương

Thịt da nát dưới bạo cuồng

Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!

Mắt buồn nhìn sóng biển xanh

Thấy sương khói vẫn vô tình khói sương

Mà lòng đòi đoạn đau thương

Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi

Tháng Tư ra biển khóc người

Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau

Tôi viễn xứ, người biển sâu

Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương

Người trên sóng nước trùng dương

Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa

Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!

Đau tình sông núi làm thơ khóc người

Người vùi xương trắng biển khơi

Còn tôi sống kiếp dân Hời vì ai?

Ngô Minh Hằng

(Viết để khóc cho mình và cho những thuyền

nhân kém may mắn trên đường vượt biển tìm

Tự Do sau 1975.)

Tượng Đài Mẹ Bồng Con, Canada.

Tôi có xem một bài báo viết dịp kỷ niệm 20 năm xa xứ, đúng vào tháng 4 năm 1995, thủ đô Ottawa của Canada đã cho ra đời Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam tại đây với bức tượng Mẹ Bồng Con của điêu khắc gia Phạm Thế Trung tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố sầm uầt này, ông vốn là người tị nạn vượt biển đến Canada với kỷ niệm u buồn về chuyến hành trình gian nan đầy hiểm nguy, là nguồn cảm hứng khiến ông sáng tác tác phẩm độc đáo này. Người Việt du lịch từ các nơi có dịp ghé xem hay cư ngụ tại Canada không khỏi hãnh diện vì đã dựng được một bức tượng thật ý nghĩa và tạo xúc động cho nhân loại do một biến cố chính trị đau thương do nạn Cộng Sản tàn ác gây ra. Bức tượng đồng đen "Mẹ Bồng Con" đang chạy giặc, cho thấy nét lo âu hối hả. Gương mặt người mẹ đầy can đảm nhìn về phía trước, bà đi tìm một chỗ an toàn cho đứa con đang ngủ bình yên trên cánh tay mẹ. Tượng Mẹ Bồng Con to giống như người thật, là tấm lòng ưu ái mà chính quyền Canada dành cho người Việt tị nạn chính trị, quốc gia đã cưu mang tiếp nhận hơn 200,000 người Việt, mà làn sóng thuyền nhân chiếm độ 80% trên tổng số cộng đồng người Việt sinh sống tại Canada. Dưới chân tượng Mẹ Bồng Con, có bảng lưu niệm viết bằng tam ngữ: Việt, Anh và Pháp thật xúc động:

"Tưởng niệm những người đã bỏ mình trên đường tìm tự do".

Bác sĩ Dương Anh Dũng, một thuyền nhân đến Đức do con tàu Cap Anamur vớt, ông là thủ quỹ trong Ban Chấp Hành của Hội Xây Dựng Tượng Đại Thuyền Nhân tại cảng Hamburg cho tôi biết Tượng Đài Thuyền Nhân dự trù hoàn tất sang năm, 2009. Mô hình điêu khắc đang chuẩn bị.

Hải cảng Hamburg bên Đức quốc là khởi điểm hải hành của các con tàu nhân đạo Cap Anamur đã đi cứu vớt 11,300 thuyền nhân tị nạn VN ngoài Biển Đông đưa về bến bờ tự do và chăm sóc y tế cho 35,000 thuyền nhân VN trong các đảo tỵ nạn tại Đông Nam Á. Chính Hamburg cho thấy sự rộng mở từ tâm và nhân ái với những nạn nhân tị nạn Việt Nam tại Biển Đông liều mình ra đi tìm ý nghĩa của hai chữ tự do, họ được cứu vớt mà nơi xuất phát và trở về của những con tàu nhân đạo Cap Anamur và các vị chủ tàu đều là người Đức đang sinh sống tại Hamburg.

Hamburg từ lâu đã được xem như Cửa ngõ ra thế giới, và giờ đây với sự hiện diện của tượng đài tị nạn Việt Nam thì Hamburg còn được gọi là Cửa ngõ đến tình người. Nó là một hải cảng lớn bận rộn và quan trọng của Âu châu, và là một danh lam ghi dấn tích can trường của thuyền nhân Việt Nam.

Để tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam bỏ mình trên Biển Đông, hai nơi Bỉ và Thụy Sĩ cũng đã xây dựng bia tưởng niệm tại LiègeGenève.

Tượng Đài Thuyền Nhân thì có tại Canada, ĐứcHoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ, mô hình của Tượng Đài Thuyền Nhân đã có rồi, nó là biểu tượng người mẹ bồng con trườn trên cát dang tay cầu cứu và người thanh niên dìu bà cụ già đứng phía sau. Dự án nguyên thủy được nhà văn Thái Tú Hạp và hiền thê là thi sĩ Ái Cầm thực hiện lời ước nguyện từ Biển Đông khi ông bà ra đi vượt biên. Chuyến đi tưởng chừng vô vọng vì bị thiên nhiên bão táp đe dọa.

"Đi về đâu thuyền lạc giữa mênh mông

Không thể hiểu khi an bình đất nước

Người giết hại người thù hận đau thương

Người đày đọa người chết thảm giữa biển đông

Biển ơi! Xin hãy dừng cơn thịnh nộ

Hãy mở đường đưa ta đến niềm hy vọng bình an"

Đó là trích đoạn bài thơ dài "Lời Nguyện Giữa Biển Đông" của Thái Tú Hạp vào năm 1979, khi ông dâng cảm xúc tận cùng bắt nguồn từ khi con tàu ra khơi với 200 người tị nạn vượt trùng dương từ Đà Nẵng và bị bão tố đánh vỡ vào bờ hoang đảo Hải Nam, 13 người tử nạn. Ông đã thầm nguyện đến xứ sở Tự Do nào đó sẽ lập bia thờ và để tưởng niệm đến những đồng hương đã vĩnh viễn ở lại giữa Biển Đông u trầm oan khuất.

Dự án đã được thai nghén và thi hành từng bước một từ nhiều năm qua, với bao khó khăn trên bước đường thực hiện. Vì tính cách vô vị lợi và mang một ý nghĩa cao đẹp, dự án được nhiều đồng hương tiếp tay hỗ trợ. Điểm đặc sắc là ngoài bức tượng đúc bằng đồng màu nâu, do điêu khắc gia kiêm họa sĩ Vi Vi thực hiện, còn có Bia Đá Hoa Cương màu đen rất thẩm mỹ khắc tên các thuyền nhân và bộ nhân không đến được đích điểm tự do, hoặc vì mất tích hay đã tử nạn, tên họ được ghi nhận lên bia đó. Đến nay hơn 5,000 nạn nhân đã ghi nhận trong danh sách làm bia. Việc tìm kiếm tên nạn nhân quá cố hay mất tích đã được cung cấp bởi thân nhân hay bạn bè của họ, việc khắc tên tên nạn nhân hoàn toàn miễn phí. Theo sự phác họa đài tưởng niệm này, bức tượng bằng đồng có chiều cao là 7.2 feet và nặng 4,000 pounds sẽ được đặt trên một bệ bê tông nằm giữa một hồ nước. Xung quanh hồ nước, phía bên ngoài sẽ là những bia đá hoa cương có khắc tên các nạn nhân. Tượng đài này cuối cùng đã tìm được nơi tọa lạc thích hợp là khu vực gần Vườn Vĩnh Cửu thuộc đất nghĩa trang Westminster Memorial Park, trong thành phố Westminster, ngay kế cận vùng Little Saigon, nơi tập trung đông đảo nhất đồng hương Việt Nam tại hải ngoại.

Ngày 26 tháng 4 năm 2008, đã có hơn 400 quan khách, các giới chức chính quyền Westminster, Dân Cử và Đại Diện các Hội Đoàn, Báo Chí và đồng hương tề tựu cùng với các thành viên trong Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam và các nhân viên của Westminster Memmorial Park đã chính thức làm lễ động thổ khởi công xây dựng tượng đài.

Nếu trong một phút suy tư nào đó, ta tự hỏi có bao nhiêu người đã tử nạn trên bước đường tìm tự do như vậy. Nếu biết quá nguy hiểm thì tại sao hàng triệu người đành dứt khoát là phải rời bỏ quê cha đất tổ để ra đi. Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thì những số liệu về người tị nạn được ghi nhận như sau:

Đã có trên 850,000 người được định cư và trên 850,000 người xem như đã tử mạng trên đường vượt biên. Vào cuối năm 1978 đã có hơn 60,000 thuyền nhân tại các trại tị nạn Đông Nam Á. Vào tháng 6 năm 1979 đã đạt số cao kỷ lục với 54,000 thuyền nhân đến các trại. Nếu chúng ta ước tính chỉ có 50% sắc suất vượt biên thành công thì đã có 100,000 người ra đi trong vòng một tháng. Số người thiệt mạng rất đáng cho chúng ta suy ngẫm. Lý do người ta liều mình trên Biển Đông cũng vì họ không thể sống dưới sự cai trị tàn ác của nhà cầm quyền hung bạo Cộng Sản Việt Nam.

Với con số khổng lồ gần một triệu nạn nhân coi như đã mất tích hay tử nạn, thì danh sách 5,000 người này được ghi nhận vào đợt đầu khắc tên sẽ là nổ lực tiêu biểu cho sự ghi ân và nhớ ơn những nạn nhân vượt biên chấp nhận đối diện với những rủi ro, những liều lĩnh thà chết còn hơn sống nhục nhã trong chế độ phi nhân tính của CSVN. Sự ra đi vĩnh viễn của hàng trăm ngàn nạn nhân của những thách đố biển cả hay vượt xuyên rừng núi để tạo ra thảm trạng đánh động lương tâm thế giới, để rồi chúng ta có những chuyến tàu ra khơi cứu vớt người vượt biển như Cap Anamur từ Đức, con tàu Đảo Ánh Sáng (Ile de Lumière) từ Pháp, hay Hải quân Hoa Kỳ,...

Trong những ý tưởng như vậy, đại diện cho Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam đã phát biểu những cảm nhận như sau:

"Cho đến nay thảm trạng Thuyền Nhân vẫn còn vang vọng như những thông điệp, những chứng tích cụ thể đầy đau thương và dũng cảm nhất trong lịch sử dân tộc, đã in sâu vào tâm khảm hàng triệu người Việt Nam rời khỏi quê hương vượt biển tìm tự do. Đã có hàng trăm ngàn thuyền nhân, bộ nhân trên những chặng đường gian nan đầy máu và nước mắt nhưng cuối cùng không đến được bến bờ nguyện ước. Đã đánh thức lương tâm nhân loại, đón nhận chúng ta vào định cư nơi các miền đất Tự Do, An Bình và Thịnh Vượng."

Lời Nguyện Giữa Biển Đông là tiếng kêu gào thống thiết vọng về từ biển cả xa xăm, những vong hồn bơ vơ bỏ lại với trùng dương sóng dử, tiếng khóc thê lương của những cuộc chia ly bi thảm ngút ngàn trời cao mà thơ Thái Tú Hạp đã diễn tả, những ước nguyền từ chuyến hải hành oan nghiệt, nhưng may mắn... Chuyện thuyền nhân là những chứng tích ghi nhận trang sử bi hùng nhất của người tị nạn mưu cầu sự tự do và nhân quyền trong đời sống, mà trong những chứng tích đã qua, có người thành công và có kẻ thất bại. Cuối cùng, những thất bại trong bất cứ cuộc hành trình tìm tự do nào cũng được tôn vinh và ghi nhớ qua biểu tượng của Tượng Đài Thuyền Nhân ngày nay.

"Biển sóng đừng xô nhau chìm sâu đáy nước

Đừng xé em tôi từng mảnh cuồng điên

Em chỉ là cánh hoa mong manh thánh thiện

Em hồn nhiên trinh trắng ngây thơ

Tiếng mẹ khóc, mẹ gào to hơn sóng cả

Cuộc chia ly bi thảm ngút trời cao

Biển ơi! Xin hãy đưa ta đến trái tim người

Trái tim như thác nguồn yêu thương từ ái

Biển vỗ về nhau những nghiệt ngã trầm kha

Hoa Tự Do nở bằng nước mắt

Bằng máu xương khổ lụy hãi hùng

Con đường sáng biển khơi thức dậy

Trong tình thương của nhân loại thăng hoa

Biển ơi! Dù sao ta vô cùng cảm tạ

Lời nguyện một lần mãi khắc ghi

Xin hãy bốc hơi thành mưa thành suối Cam Lồ

Gieo xuống ruộng đồng xanh thắm ước mơ

Chảy vào trái tim người hiểm độc

Cho cuộc đời chuyển hóa Thiện Tâm

Chuyện Thuyền Nhân là những trang sử

Máu xương và nước mắt nghìn năm

Những thảm kịch từ Việt Nam réo gọi

Từ biển đông trầm thống kêu gào

Biển xót xa và loài người cứu khổ

Trong vòng tay Thánh Mẫu Từ Bi

Trong trái tim Mẹ Quan Âm Bồ Tát

Biển hết trầm luân bất hạnh thảm sầu

Biển thắp ngọn hải đăng tỉnh thức trong hồn nhau

Tạ ơn đất trời xóa tan thù hận

Ánh sáng nhiệm mầu trong tăm tối thương đau

Cho chúng ta niềm tin yêu hạnh phúc

Mùa xuân như triều sóng vươn lên

Tỏa ngát tình thương khắp cùng thế giới"

(Thơ Thái Tú Hạp)

Việt Hải

Ngày 30 tháng Tư, 2008.


Bài Xem Nhiều