We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 20 April 2011

Tổ quốc đang cần lý tưởng của người lính VNCH

TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM



TỔ QUỐC

Có được giải đất cong cong như hình chữ S nằm hiền hòa bên biển nước trong xanh hôm nay, thì sinh mệnh của Việt Tộc phải trải qua những cuộc trường chinh cam go đầy máu lửa. Cũng nằm trong chiều dài lịch sử đầy tràn biến động đó. Một cuộc chiến tranh mang tính Ý Thức Hệ đã xảy ra trong bạo lực.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 cuộc chiến kết thúc. Kết thúc như lời thơ của Thanh Nam trăn trở:

Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua

Hay như tiếng lòng than thở của Song Nhị:

Canh bạc đã về tay Bạo Chúa
Tình người Ðạo nghĩa đã nhường ngôi

Mới đó thôi mà đã 36 năm rồi! Ba mươi sáu năm, một thời gian không dài so với dòng lịch sử chinh chiến của quê hương. Nhưng với một phần ba của thế kỷ đã đi qua. Rất đủ cho người đời hôm nay hay hậu nhân mai sau có cái nhìn ý nghĩa về chân lý của thế hệ Cha Ông.

Thưa bạn đọc, đặc biệt bạn đọc trẻ tại quốc nội Việt Nam,

Tất cả đã trở thành lịch sử. Bóng tối của chiến tranh đã đi qua, đó đây trên các nẻo đường của quê hương Việt Nam, cây cối đã xanh màu trở lại nhưng tương lai của con người vẫn còn vàng úa. Khắp nơi trên đường phố Hà Nội hay Sài Gòn, hàng ngàn cánh tay của dân oan đang đưa lên để đòi công chính. Và e ngại rằng, một ngày không xa, màu xanh cây cối của đất nước và ước mơ của con người Việt Nam sẽ mãi vàng úa, và lụi tàn dưới bước chân dày xéo của dòng người Ðại Hán phương Bắc đang ào ạt tiến vào Tây Nguyên.

Một sự thật đau lòng đang xảy ra trên Tổ quốc chúng ta.

Bạn đọc nghĩ gì?

Nhìn lại giòng lịch sử đã đi qua và biết được hiện trạng của quê hương hôm nay. Chúng ta mới khẳng định được cái công lao và sứ mạng bảo vệ Miền Nam được tự do-dân chủ và phú cường của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.
Muốn hiểu hết được ý nghĩa nói trên thì chỉ cần một phút thôi. Bạn đọc sẽ nhớ lại giòng lịch sử của 36 năm về trước. Khi những người bộ đội Bắc Việt đưa cao khẩu hiệu “Không Có Gì Quý Hơn Ðộc Lập Tự Do” quyết sống chết để giải phóng Miền Nam và đem lại sự hòa bình cho đất nước. Một thứ hòa bình mà nhà báo Phan Nhật Nam đã chua chát: “Một thứ Hòa Bình quái dị, đắng như thuốc mà quê hương trong cơn thập tử phải uống vào”.

Ðúng vậy! Câu nói này chỉ phát ra sau một ngày Hiệp định Paris được ký kết, nó như một thông điệp xám, một tiên đoán buồn, một phân ưu cho một nửa Tổ Quốc. Một chế độ tự do và dân chủ bị cưỡng bức đi vào một tương lai tăm tối, và chỉ còn là hoài niệm của bao người tranh đấu cho tự do.

Quả thật như thế, trải qua 36 năm dưới chế độ đương thời, ngay cả những người dồn hơi cao cổ thét to khẩu hiệu “Không Có Gì Quý hơn Ðộc Lập Tự Do”, chính họ vẫn không được độc lập tìm cho mình một nhân tài, để tự do bỏ phiếu cho người lãnh đạo quốc gia mà họ muốn. Ðơn giản như thế mà vẫn không có được. Từ đó, ai đã từng sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa mới hiểu ra hết cái chân lý. Có khi trở thành một nguyên lý của thể chế Cộng Hòa là: Chính quyền do dân cử và vì dân mà phục vụ. Rất có thể chế độ Việt Nam Cộng Hòa chưa tuyệt đối hoàn hảo, nhưng rất đầy đủ về quan điểm và khuynh hướng chính trị yêu nước để cho những người lãnh đạo nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phải noi gương theo. Và phải chăng cũng vì thế, gần ba triệu con dân Việt Nam đang lưu vong đều đồng niệm: Việt Nam Cộng Hòa là Tổ Quốc của tôi.

DANH DỰ

Tự ngàn xưa, tiền nhân truân chuyên vất vả lắm mới tạo nên được giang sơn hùng vĩ như ngày nay. Giang sơn này đã kết tinh và hun đúc nên một dân tộc mang tính chí nhân quật cường. Ðó là Dân Tộc Việt Nam. Cho nên trong giòng sử xanh của Việt Tộc, lời của Nguyễn Trãi đã khẳng định về danh dự của Quốc gia và nhân phẩm của Con người như một Thiên Cổ Hùng Văn:

Như nước Ðại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có

Thế mà,
Hơn 60 năm dưới chế độ Cộng sản Việt Nam, Danh dự của Quốc gia và thể diện của Con Người chỉ tóm gọn trong một câu nói ngắn ngủi của Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt:

“Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi đâu cũng bị soi xét”.

Phải!

Không nhục làm sao được khi hàng chục chị em phụ nữ Việt Nam phải bị cởi lột trần truồng cho một người đàn ông Trung Quốc, Ðài Loan hay Ðại Hàn ngắm nhìn để chọn vợ!

Không nhục làm sao khi chính nhân viên Ðại sứ quán Việt Nam ở Nam Phi buôn lậu sừng tê giác!

Không nhục làm sao được khi chính phi công Hàng Không Việt Nam ăn cắp và chuyên chở hàng lậu bị nước Nhật lên án!

Không nhục làm sao được khi ngư dân Việt Nam bị Trung Cộng bắn chết ngay trên lãnh hải của đất nước mình!

Không nhục làm sao được khi anh chị em công nhân lao động bần hàn đang thất nghiệp, thì giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam mở cửa cho công nhân Trung Cộng ào ạt vào Tây Nguyên đào hầm bới mỏ.

Phải chăng anh chị em người Việt không biết lao động chân tay!
Làm sao nói hết tất cả nỗi nhục của người dân Việt Nam!

Từ đó, người ta mới thấm thía nhận ra được sự danh dự của một Quốc gia và thể diện Con Người. Qua câu nói của người lãnh đạo Quốc gia và cũng là người đứng đầu đại diện cho Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, cố Tổng thống Ngô Ðình Diệm từng tuyên bố: “Nếu tôi tiến, thì đồng bào hãy tiến theo tôi. Nếu tôi bỏ chạy, thì đồng bào hãy bắn chết tôi”.

Và Danh dự của Quốc gia cũng như phẩm chất của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa đã được Người khí khái khẳng định với ngoại bang trước giờ lâm chung: “Tôi mới là Tổng thống nước Việt Nam Cộng Hòa. Chứ không phải các ông ở Tòa Ðại Sứ Mỹ. Tôi sẽ lập lại trật tự của đất nước tôi”.
Danh dự là như thế đó!

TRÁCH NHIỆM

Nhìn lại lịch sử cổ đại đến cận đại của Ðông sử hay Tây sử. Thì sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 của Việt Nam chứng minh hùng hồn một điểm. Chưa có một quân đội của một quốc gia nào trên thế giới có số lượng tướng lãnh và binh sĩ tuẫn tiết theo lý tưởng nhiều như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lịch sử cận đại Việt Nam ghi nhận: Họ đã vì Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm mà quyên sinh.
Thưa bạn đọc hải ngoại, bạn đọc quốc nội,

Hiện nay, Tổ quốc Việt Nam chúng ta đang lâm nguy. Lâm vào nguy cơ Hán hóa của Trung Cộng dưới nhiều hình thức. Mấy hôm nay, các cơ quan truyền thông Việt Nam hải ngoại cho phát đi một đoạn phim về cuộc chiến trước đây tại Hoàng Sa và Trường Sa giữa hai quân đội Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Trung Quốc. Các bạn có đau lòng không khi thấy hơn 100 người lính bộ đội Cộng sản Việt Nam mình trần thân trụi với những vũ khí thô sơ, không có tàu bè che chắn, nhưng họ vẫn dũng cảm đứng dàn hàng ngang trên các gầm đá giữa biển khơi, chơi vơi và cô đơn giữa một đoàn chiến hạm tối tân của Trung Cộng đang bao vây chặt họ. Những tiếng súng lớn, súng nhỏ vang lên sau những tiếng hô “Tả Tả” và “Sát Sát” nghĩa là “Ðánh Ðánh” và “Giết đi Giết đi”. Những tiếng la hét, cầu cứu vang lên… và chỉ trong 26 giây đồng hồ, hơn một trăm người bộ đội, hơn một trăm con dân nước Việt chúng ta nằm xuống, nằm xuống như những tấm bia dành cho người tập bắn súng. Chỉ có biển khơi mới nghe lời trăn trối của họ!
Tại sao hôm qua họ phải chết trên những gầm đá kia?

Tại sao hôm nay những gầm đá kia phải dâng nhường cho Trung Cộng?
Ðau đớn hơn, chính những thước phim đó được Quân đội Nhân dân Trung Quốc làm tài liệu để đào tạo lính hải quân. Họ đào tạo cách giết người Việt Nam sao cho nhanh chóng hơn, sao cho man rợ hơn.

Bạn trẻ ở quốc nội Việt Nam hãy xem thước phim đó để đánh thức lòng tự ái dân tộc của mình. Ðây là lúc tốt nhất, thời điểm hợp lý nhất để bạn đặt TỔ QUỐC- DANH DỰ- TRÁCH NHIỆM của người Việt Nam lên hàng tối thượng. Như lý tưởng cao đẹp của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.

Nhân ngày 30 tháng 4, xin gởi đôi dòng suy tư và tưởng niệm đến cùng bạn đọc.

Trân trọng kính chúc quý vị có một Ngày Tưởng Niệm đầy ý nghĩa trong tình Việt Nam.

Kính chào,

Hậu sinh Nguyễn Duy Thành

Thơ: "Nạ Nùng" ?

...Nói làm gì chuyện Lạ triền-miên.
Cứ hằng ngày chuyện Lạ ưu-phiền.
Mổi phút giây chuyện Lạ liền liền.
Vì chuyện Lạ...Việt-Nam "Hô-Biến"..



Thơ: "Nạ Nùng" ?


image

Đất Nước Tôi Bây Giờ Rất Lạ
Từ Bao Giờ Thói Hèn Hạ Thành Quen

image

Tàu nước Lạ đi vào vùng “nhạy cảm”
Tàu nước tôi bỏ bãi cá than trời

image

Ngư dân tôi cúi đầu nhẫn nhục
Hải quân Lạ ngang dọc khắp biển khơi


image

Công ty Lạ lên Tây Nguyên đào quặng
Dân xứ Lạ đến đập núi phá rừng

image
Cao nguyên ơi đâu rồi tiếng trống
Tiếng sáo buồn trôi tiếng đàn t’rưng

image

Đất nước tôi bây giờ rất Lạ
Phim Lạ lên ngôi, tiếng Lạ đổi đời

image

Hàng xứ Lạ khắp hang cùng ngõ hẻm
Em gái theo chồng Lạ kiếp đời trôi
image

Ôi lạ thật cái gì cũng Lạ
Đâu mất rồi con cháu Rồng Tiên


image


Sài Gòn mê nón lính Việt Nam Cộng Hòa

Thời gian gần đây, ở Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác, có nhiều người miền Bắc, trở nên mê... nón lính. Mê nón lính ở đây là mê nón lính Việt Nam Cộng Hòa.

Nón lính Việt Nam Cộng Hòa được chế tác thành nón bảo hiểm, bày bán trên đường phố Sài Gòn.

Người ta không mê nón lính theo kiểu thời trang nhất thời, cũng không giống như kiểu mê đồ cổ, đồ xưa. Nón lính mà họ sắm được họ đội hàng ngày, tuy là nón cũ có khi đã có tuổi đời phải đến năm, sáu mươi năm, có khi bị lãng quên ở một xó nào đó rồi tự nhiên được thích, được mê.

Kế bên cạnh nhà chúng tôi là một ông hàng xóm, tuổi đời chừng bốn mươi lăm, ông này làm nghề giao nước bình (dân Sài Gòn ngày nay hầu hết đều mua nước uống gọi là “nước tinh khiết,” đựng trong những cái bình 20 lít), ông ta có cái nón lính, thứ nón bằng cát-tông cứng lót dưới nón sắt của binh sĩ VNCH.

Nhìn cái nón ông mà thấy ham, vì có màu nâu gỗ, bóng ngời ngời, bóng như thoa mỡ, tới mức lộ cả từng đường vân sọc. Ông quí cái nón này lắm, hỏi cớ sự vì sao, ông không nói. Chỉ biết từ khi nhà nước bắt đội nón bảo hiểm khi sử dụng xe máy thì ông đem ra đội hàng ngày. Có lẽ ông là một trong những người đầu tiên ở Sài Gòn tạo mốt đội nón lính thay vì phải đội các loại nón bảo hiểm kém chất lượng được bày bán đầy đường, đầy tiệm.

Bẵng một thời gian, chúng tôi không thấy ông đội nữa, hỏi ra thì biết bị... mất cắp. Ông nói: “Tiếc đứt ruột anh ơi! Thời giá cái nón tui lúc đó khoảng một triệu chưa chắc mua được, nhưng chuyện không phải vì tiền. Nếu bây giờ phải chuộc hai, ba triệu tôi cũng chuộc cái nón đó.” Chúng tôi không tò mò hỏi về giá trị kỷ niệm của cái nón, bởi ai cũng biết, đa phần người Sài Gòn cố cựu đều có những kỷ niệm sâu sắc với những người lính VNCH.

Ngày nay, chỉ cần đi một đoạn trên đường gần nhà thờ ngã sáu Phù Ðổng là thấy rất nhiều xe bán nón lính.Các xe này đa phần vừa bán nón vừa làm nghề bọc nhựa giấy tờ cá nhân. Người bán thường là dân nhập cư từ các tỉnh phía Bắc vào.

Một hôm chúng tôi ghé vào hỏi thì họ cho biết nón lính ở đây có hai loại; loại nón của lính VNCH còn tốt giá mắc hơn nón lính đưa về từ Camphuchia và Thái. Hỏi vì sao lại mắc hơn cả đôi ba trăm ngàn, họ nói: “Tầm tuổi bác thì biết giá trị của cái nón này rồi, thế mà còn đi hỏi làm gì. Nón ‘lính ngụy’ bây giờ là kỷ vật đấy nhá. Săn tìm khó lắm mà lại cực tốt, cực đẹp nhá.”

Ở Cần Ðước-Long An, chúng tôi có quen một anh nông dân. Hôm anh lên Sài Gòn, ghé nhà chúng tôi, tay cứ cặp cái nón lính bằng sắt. Lúc xong việc, bỗng anh hỏi: “Biết chỗ nào bọc vải lính, bọc lưới nón sắt thì chỉ giúp.” Thì ra: “Tui đi ăn giỗ, thấy trong xó chuồng gà của nhà người bạn còn cái nón sắt thì hỏi mua. Bạn tôi nói, cái nón này có lúc nó chỉ để đâm cua đồng nấu canh, rồi anh cho luôn không lấy tiền.” Ðúng là anh nông dân này đội cái nón sắt lên trông đẹp và oai hơn hẳn. Nhưng cái nón dù được chà giấy nhám rất kỹ vẫn còn sét xẹt lại nặng trịch, đội mỏi cổ muốn chết. Anh nói: “Kệ, đội để nhớ ông già tui. Ổng đi lính chết hồi năm 74. Ông cứ chỉ giùm tui chỗ bọc lại bao nhiêu tiền tui cũng làm.”

Hiện có nhiều điểm trên đường làm “dịch vụ” tân trang nón lính, như bọc vải, bọc lưới, gắn cả huy hiệu của các binh chủng lính đồng minh hoặc lính VNCH. Nói chung là tùy ý khách, chịu giá là có hàng, nếu xài hàng mới do dân Chợ Lớn, chợ trời làm giả thì rẻ tiền, còn chơi đồ xưa, xịn, thì đắt.

Nói về các quân huy hiệu của người lính, chúng tôi nhớ hôm ở Huế, tình cờ thấy những quầy hàng bên lề đường gần cầu Tràng Tiền bày bán đủ thứ quân huy hiệu của tất cả các bên tham gia cuộc chiến Việt Nam hơn 30 năm trước. Theo người bán, đây là “đồ đào.” Ðào ở đây là do lấy cốt hoặc do một số người chuyên sống bằng nghề đào bới để tìm kiếm những thứ còn bán được từ tàn tích chiến tranh. Những quân huy hiệu này phần lớn đã rỉ sét, móp méo hoặc không còn lành lặn nên có thể đoán rằng đó là kỷ vật của những người lính đã chết và nếu tin rằng mỗi kỷ vật có một phần hương hồn thì thật phũ phàng cái cảnh những hương hồn được bày bán la liệt như một đống đồ lạc xon.

Ða phần những kỷ vật cá nhân này là của lính miền Bắc. Người ta tự hỏi, vì sao quân hiệu đính lên mũ, những huy hiệu trên áo, huân, huy chương của những người lính đã đổ máu để có “chiến thắng” trong cuộc nội chiến, lại bị hắt hủi thế này! Và lạ hơn, tại sao quân huy hiệu của họ lại có giá rẻ hơn, không được trân quí bằng, những kỷ vật cùng loại của người lính “thất trận.”

Trước chuyện mê nón lính VNCH, nhiều người vẫn cho rằng sở dĩ có người bền tâm với sở thích này là do cái nón lính bằng cạc tông đúng là rất đẹp và đáng là thứ mẫu mã thời trang nón bảo hiểm ngoại hạng. Có lẽ, nếu đội nguyên xi cái nón này, công dụng làm mũ bảo hiểm sẽ không thể bằng những thứ nón bảo hiểm hàng hiệu ngoại nhập khác, nhưng một khi đã mê rồi thì sá gì! Người mê thời trang kiểu quân đội thì trên thế giới xứ nào cũng có, nhưng mê đội nón kiểu lính VNCH có khi là do một thứ sức hút mãnh liệt. Có thể cho rằng mê đồ lính, nón lính cũng là do ngưỡng mộ và muốn hoài niệm về một thời gắn bó với thể chế dân chủ và người lính tự do!

Trần Tiến Dũng

Ai là thế lực thù địch của họ?

Báo Nhân Dân của đảng Cộng Sản (mà các báo đều là báo của đảng cả) luôn cảnh cáo cán bộ, công an phải đề phòng các thế lực thù địch!

Làm như quên không nói đến bốn chữ “thế lực thù địch” ba ngày là họ ăn không thấy ngon! Nghe nói mãi thế lực thù địch người dân không biết họ đang nói đến ai, có ám chỉ chính mình không? Nhất là những người lâu lâu lại muốn cho bộ óc của mình tập thể dục, bắt nó suy nghĩ.

Bởi vì chỉ cần suy nghĩ mấy phút thôi là người Việt Nam nào cũng thấy có những điều chướng tai gai mắt. Lại muốn có ý kiến! Tại sao ngư dân mình bị “tầu lạ” tấn công, nó bắt cóc đòi tiền chuộc, mà cả nước mình không kéo nhau đến tòa đại sứ cái “nước lạ” đó mà hỏi cho ra chuyện? Tại sao một đại công ty mới lập ra được có ba bốn năm mà đã đạt thành tích lỗ lã hàng tỷ đô la? Tại sao giá cả cứ leo thang làm đồng lương lãnh về mỗi tháng lại mua được ít hơn, mà không thấy ông lớn nào chịu trách nhiệm phải từ chức?

Cứ những câu hỏi như vậy, nghĩ trong đầu thôi là đã có tội rồi. Anh mà nói cho một người nghe tức là anh tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa! Nếu nói cho nhiều người nghe, tội trở thành âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân! Có thể bị đưa ra tòa lãnh án, như các ông Nguyễn Văn Ðài, Cù Huy Hà Vũ, cô Lê Thị Công Nhân đã lãnh. Họ được xếp loại thế lực thù địch cả. Mỗi lần nghe các lãnh tụ đảng nhắc đến bốn tiếng “hèm” đó, người ta lại giật mình: Có phải họ nói mình hay không?

Nếu như quý vị lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam có lúc rảnh rang chợt nghĩ tới đám dân đen đang băn khoăn không rõ mình có thuộc thành phần những thế lực thù địch hay không, quý ngài nên phát ra một bài, định nghĩa rõ ràng “Thế nào gọi là thế lực thù địch?” Hay là quý vị đại biểu Quốc Hội, lúc nào gật đầu thấy mỏi, thử ngẩng đầu lên soạn ra một đạo luật liệt kê rõ những hành động nào thì bị coi là của thế lực thù địch. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, tội lỗi nào cũng nên định nghĩa rõ ràng, thì việc cai trị dân sẽ dễ dàng, mà dân cũng dễ sống!

Thí dụ, có mấy anh công an bỗng dưng lập ra một trạm kiểm soát xe, bắt các xe đi qua phải đóng tiền lệ phí 5 ngàn, 10 ngàn đồng. Nếu lái xe qua đó mà vì chưa thấy luật nào bắt đóng thứ thuế này nên không chịu nộp tiền mãi lộ, thì các bác tài xế có thể bị gán cho danh hiệu thế lực thù địch hay không? Cái tội từ chối không đóng thuế (thu lớn thu nhỏ, cũng đều là thuế cả) sẽ khiến cho nền tảng kinh tế của quý vị công an xã bị thiếu hụt. Quý vị công an thiếu tiền mua thuốc hút, mua trà uống, hiệu năng công việc kiểm soát dân sẽ xuống thấp. Nếu ai cũng làm như vậy thì dần dần không những nguồn lực tài chánh quốc dân sẽ bại hoại, mà còn làm suy yếu cả công cuộc bảo vệ an ninh tổ quốc! Ðó không phải là do các thế lực thù địch thì là cái gì?

Nhưng chính ông chủ tịch xã Thạch Khê ở tỉnh Hà Tĩnh lại nói rằng ông hoàn toàn không hay biết gì về trạm thu tiền mãi lộ đó cả. Tức là các ông công an quên sự có mặt của hệ thống chuyên chính vô sản! Ông chủ tịch có thể tố cáo các ông công an là những kẻ phản động do thế lực thù địch xui khiến phá hoại chính quyền nhân dân xã! Bỗng dưng cả nước khám phá ra hai loại thế lực thù địch ở một xã Thạch Khê. Chỉ vì báo Dân Trí đã cho người điều tra, chụp hình và loan tin sau khi nghe những lời than phiền của các anh tài xế. Rồi tới các báo, đài nơi khác cũng đăng tin! Công an xã Thạch Khê và ông chủ tịch xã đều là nạn nhân của hệ thống thông tin! Chính những tờ báo, các đài này đã để cho thế lực thù địch sai khiến! Có thể hạch tội cho lên đến cấp cao nhất là ông Tô Huy Rứa, vị tổng tổng biên tập của tất cả các báo, đài trong nước Việt Nam! Có phải chính ông này là thế lực thù địch?

Cứ như vậy, ai nhìn người khác cũng có thể thấy một thế lực thù nghịch đang nấp đằng sau! Cũng giống như những kỳ chỉnh huấn, cải cách ruộng đất, chiến dịch chống chủ nghĩa xét lại, đánh tư sản, chống diễn biến hòa bình, vân vân. Nghe đảng nói ra rả, ai cũng cảm thấy đầy những thế lực phản động chung quanh. Có lúc tâm thần hoảng hốt soi gương thấy cái mặt mình cũng toàn nét phản động! Phương pháp của các chế độ độc tài đều như thế này: Hãy dựng lên một con ma, con quỷ nào đó. Hô hào toàn dân cùng nhau đánh ma quỷ, cùng đi tìm ma quỷ, bắt quỷ, đấu tố ma quỷ, giết ma quỷ, vân vân. Lâu ngày dân nhìn đâu cũng thấy quỷ, nhìn ai cũng nghi là ma quỷ! Người nọ sợ người kia, cả nước đều sợ, dưới bàn tay điều khiển của những tay phù thủy!

Cả hệ thống tuyên truyền của các đảng Cộng Sản thế giới đã dùng kỹ thuật đó để người dân sợ. Nhìn mặt nhau là sợ, vì ai cũng có thể thành phản động. Sợ cả hàng xóm, sợ người đi qua đường, cha con, vợ chồng sợ lẫn nhau, rồi đến đêm nằm mơ cũng thấy chính mình thành phản động. Nỗi sợ được gieo vào tiềm thức, đêm hốt hoảng ngủ không yên! Ðọc Ðêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên chúng ta có dịp sống trong không khí lo âu sợ sệt của các nhân vật đang bị nghi là “theo chủ nghĩa xét lại.” Năm 1975 Lê Ðức Thọ vào Nam gặp các cán bộ cộng sản đã từng bị chính phủ miền Nam giam giữ và mới được ra khỏi tù, ông ta nói với họ rằng: “Các đồng chí đều có vấn đề cả.” Một câu nói, bao nhiêu người nghe lạnh cả xương sống.

Trong xã hội cộng sản ai bị coi “có vấn đề” là bị người chung quanh nghi ngại không dám tới gần. Giống như mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm! Trong tiếng Việt Nam hồi xưa thì ba chữ “có vấn đề” vốn không ghê gớm như vậy. Muốn hiểu tại sao nó gây sợ hãi thì phải dịch ngược lại sang tiếng Tầu! Vấn là hỏi, “Vấn đề” có nghĩa là đặt thành câu hỏi. Trong cuộc sống của các đảng viên Cộng Sản Trung Hoa, khi người ta đặt câu hỏi về anh, tức là lòng trung thành của anh đối với đảng đã bị nghi ngờ! Anh phải bắt đầu lo đến cái mạng của anh! Văn hóa Mao Trạch Ðông truyền sang Việt Nam từ năm 1950-51 đã khiến chỉ ba chữ “có vấn đề” đủ gây ra nỗi sợ hãi kinh hoàng. Ai cũng sợ lòng trung thành của mình bị đảng nghi ngờ, còn sợ hơn đời xưa dân đen sợ vua! Tất cả mọi người đã sống đều phải biết sợ, không riêng gì nhà văn Nguyễn Tuân!

Kỹ thuật kiểm soát tâm lý tinh vi, sâu vào đến tiềm thức con người đó, các ông Stalin, Mao Trạch Ðông đã thí nghiệm thành công ở nước họ. Nó được đảng Cộng Sản Việt Nam nhập cảng từ bên Liên Xô, bên Trung Quốc vào nước ta từ những năm 1950, đến bây giờ vẫn còn di họa. Bây giờ, con ma, con ngáo ộp sợ hãi được đem gieo vô tiềm thức mọi người là các thế lực thù địch!

Theo khoa tâm lý trị liệu, muốn cởi bỏ bớt những nỗi sợ ẩn khuất trong đầu mình thì con bệnh trước tiên cần tập trung chú ý nhận diện chính nỗi sợ đó. Phải biết nó là cái gì, từ đâu nó sinh ra. Biết được chút nào, giải bớt được chút đó. Báo Nhân Dân, các báo Công An cứ nói về những thế lực thù địch mãi gây bệnh hoảng hốt lo âu. Mà những báo này là do các cụ trên đây chỉ đạo. Vây chỉ có các cụ mới trị được căn bệnh tâm thần hốt hoảng này mà thôi. Toàn dân Việt Nam bây giờ cần nằm trên cái giường khám bệnh cho các bác sĩ Tô Huy Rứa, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết hoặc Nguyễn Tấn Dũng giúp mình thoát khỏi cơn lo sợ về những thế lực thù địch.

Thì gần đây, hình như các bậc lãnh tụ ở trên đã vô tình soi sang cho dân Việt Nam hiểu chút ít những thế lực thù địch nó là cái gì.

Một bản tin của đài RFI cho biết hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc đang tăng cường hợp tác về an ninh, quốc phòng, tư pháp; và họ nhấn mạnh mục đích là để “đấu tranh chống các thế lực thù địch” của họ. Nghĩa là hai đảng anh em có những “thế lực thù địch” chung!

Căn cứ vào những lời tuyên bố trong các cuộc gặp gỡ giữa lãnh tụ hai đảng này, chúng ta có thể đoán khi nói tới “các thế lực thù địch” là họ ám chỉ những ai.

Từ tuần qua, ngày 12 đến ngày 15 Tháng Tư, phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Cộng Sản Trung Quốc là Tướng Quách Bá Hùng đã qua thăm Hà Nội và được cả Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng, lẫn Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “tiếp đón long trọng” mặc dù vai vế trong đảng của ông Hùng thấp hơn nhiều. Theo báo điện tử của nhà nước Việt Nam, Tướng Quách Bá Hùng, bàn với Nguyễn Tấn Dũng các vấn đề về Biển Ðông và hai bên ý hợp tâm đầu lắm. Báo mạng của nhà nước còn nói ông Quách Bá Hùng đã yêu cầu Hà Nội “cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.” Báo nhà nước nói, tức phải là chuyện hệ trọng!

Nhưng ông Quách Bá Hùng đang ám chỉ ai đây? Nhìn đi nhìn lại thì chỉ thấy nhân dân Việt Nam! Dân Việt Nam đi biểu tình đòi Hoàng Sa! Dân Việt Nam uất ức chửi Trung Quốc lấn chiếm biên giới! Dân Việt Nam lên mạng phản đối việc cho Trung Quốc thuê rừng 50 năm, cho khai thác bô xít! Nhiều người đã đi tù về những ý kiến bất đồng với đảng Cộng Sản! Ðám dân này hoàn toàn không tôn kính mối “quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp” giữa hai đảng Cộng Sản “trước là đồng chí sau là anh em” của người ta!

Tin RFI cũng cho biết Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trung Quốc Vương Thắng Tuấn đang thăm viếng Việt Nam từ ngày 16 đến ngày 20 Tháng Tư. Khi tiếp ông Vương Thắng Tuấn hôm qua, ông Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố là ngành Tư Pháp của hai nước “cần tăng cường hợp tác đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trong việc xét xử tội phạm của mỗi nước.” Ông Triết còn nói rằng hai đảng Cộng Sản cần phải “đấu tranh chống các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.”

Cũng trong tuần qua, Bộ Trưởng Công An Việt Nam Lê Hồng Anh qua thăm Trung Quốc. Theo Tân Hoa Xã tường thuật, ông Lê Hồng Anh nói với Chu Vĩnh Khang, ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đặc trách về an ninh, rằng: “Ðảng và chính phủ Việt Nam coi trọng cao việc hợp tác giữa cơ quan hành pháp và an ninh hai nước, sẵn sàng cùng với Trung Quốc bảo vệ sự lãnh đạo của Ðảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của hai nước.”

Cả hai đảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam đều quyết tâm. Một là quyết tâm bảo vệ việc cai trị của cả hai đảng. Hai là quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội, một chế độ đã bị nhân dân các nước Nga và Ðông Âu xóa sạch hơn 20 năm rồi. Những người nào nghi ngờ giấc mơ chủ nghĩa xã hội đó, những ai muốn hai đảng họ bớt đoàn kết một chút, đều bị coi là “các thế lực thù địch” của họ hết.

Nhìn qua nhìn lại, người Việt Nam phải bảo nhau: Hóa ra họ nói các thế lực thù địch tức là họ nói về chúng mình!

Ngô Nhân Dụng

31 Năm nhìn lại Thư Chung năm 1980 “Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc”.


Những ai khao khát được sống với lý tưởng tự do cho dù họ đang sống xa quê hương hay còn ở trong nước, tất cả đều thấy quặn đau trong lòng mỗi khi tháng tư đen trở về. Thư Chung năm 1980 “Sống Phúc âm giữa lòng Dân Tộc” lại được xuất hiện vào những ngày mang dấu ấn quặn đau này cách 5 năm, sau ngày miền Nam bị sụp đổ năm 1975, tức ngày 01 tháng năm 1980, nay nhìn lại thì vừa tròn 31 năm. Ba mươi mốt năm trôi qua kể từ ngày Thư Chung này ra đời, đất nước và các Giáo Hội đã gánh lấy biết bao đau thương, và càng ngày càng đau thương hơn, bạo quyền càng lộng hành hơn. Hôm nay, đất nước Việt Nam cũng vừa tròn 36 năm khi toàn thể dân tộc Việt phải chịu sống dưới sự tung hoành ngang dọc của những người cộng sản Việt Nam khi họ nắm độc quyền cai trị đất nước. Thử nhìn lại 31 năm trôi qua để biết chuyện hư thực ra sao về bức Thư Chung này mà trong những năm gần đây, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại thường hay nhắc đến Thư chung năm 1980 mỗi khi đề cập các vấn đề liên quan đến Giáo hội Công giáo với điệp khúc ‘Sống phúc âm giữa lòng dân Tộc”. Cụ thể, đầu năm 2011, trong dịp Bế Mạc Năm Thánh, kẻ vô thần được mời đến Thánh Địa La Vang trong ngày Bế Mạc Năm Thánh là ông Nguyễn Thiện Nhân cũng đã lên tiếng nhắc lại câu chuyện về Thư Chung năm 1980 như một tâm đắc, chắc chắn không ngoài mục đích để cảnh báo và nhắc nhở các chức sắc của Giáo Hội Công giáo Việt Nam phải luôn lo mà hướng dẫn dân Chúa cùng đồng hành với đảng cộng sản Việt Nam, ông ta nói:”Sứ điệp của Đại hội dân Chúa vừa qua cũng nhắc lại tinh thần Chung thư 1980: Yêu tổ quốc, yêu đồng bào đối với người Công giáo không những là một t́ình cảm tự nhiên phải có mà c̣òn là một đọ̀i hỏi của Phúc âm. Đây là một sự khẳng định và nhấn mạnh trách nhiệm của người Công giáo đối với Đất nước và Giáo hội.

Lại nữa, ngày 9 tháng 7 năm 2010, Uỷ Ban phá Đạo cũng đã tổ chức mừng kỹ niệm 30 năm Thư Chung năm 1980 nhằm để bày tỏ sự trung thành hỗ trợ đảng vô thần một cách tích cực. Thật ra các thành viên quốc doanh trong Uỷ Ban phá đạo này là những vị đã cam tâm làm tay sai đắc lực cho đảng cộng sản từ khuya rồi, nên họ đã quảng cáo rùm beng trong dịp tổ chức mừng 30 Thư Chung qua sự phô trương trông khá ngồ ngộ với những lời lẻ được phổ biến như sau: “Ngày 9-7-2010 dưới sự chủ trì của Uỷ Ban Đoàn Kết Công giáo và viện Nghiên cứu tôn giáo Việt Nam, hàng chục các nhà khoa học, chức sắc tôn giáo Đạo Thiên Chúa và cán bộ phong trào từ cơ sở đã tụ họp tham gia toạ đàm “ 30 năm thư chung 1980 của HĐGMVN”. Uỷ Ban phá đạo khẳng định:”Kể từ năm 1975 đến nay HĐGM Việt Nam đã có hàng trăm thư chung, tuy nhiên Thư chung năm 1980 đã trở thành dấu son lịch sử đối với đời sống của cộng đồng người Công giáo Việt Nam. Thư chung này là kết quả của Đại hội Giám mục Việt Nam họp tại Tòa Tổng giám mục Hà Nội từ ngày 25-4 đến 1-5-1980.( trích nguyên văn)

Xin bấm vào link dưới đây để đọc bản tin của Uỷ Ban phá đạo mừng 30 năm Thư chung 1980-2010:

http://blog.yume.vn/xem-blog/30-nam-thu-chung-1980-cua-hoi-dong-giam-muc-viet-nam-10-07-2010-.tmtien218.35CF1205.html

Kể từ khi miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay cộng sản năm 1975, thực sự, đất nước đã đi vào thời kỳ đen tối nhất khi cả dân tộc bị đảng cộng sản Việt Nam thống trị. Trong hoàn cảnh khó khăn và đầy phức tạp từ cả đời lẫn đạo, lúc bấy giờ vào năm 1980, các vị Giám mục trên toàn quốc mong muốn thiết lập một Hội đồng Giám mục thống nhất chung cho cả nước, để hướng dẫn dân Chúa sống trong bối cảnh đất nước khá ngặt nghèo này. Vì thế, Đại hội lần thứ nhất các Giám mục Việt Nam đã diễn ra tại Hà Nội từ ngày 24 tháng 4 cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1980 với sự tham dự của 33 giám mục và Đại hội đã bầu Hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn làm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Thư Chung năm 1980 được ra đời trong phiên họp này và nằm trong bối cảnh lịch sử của đất nước mà người dân đang sống trong cảnh sống tận cùng của vực thẳm.

Thử nhìn lại thời điểm của giai đoạn đầy đen tối, trong đó người Công giáo nói riêng và toàn dân Việt Nam nói chung đã phải ngậm ngùi chịu trận, đặc biệt người dân miền Nam phải sống trong cảnh sống tận cùng của vực thẳm qua chủ trương của đảng sau khi chiếm được miền Nam, đảng đã nắm quyền sinh sát qua việc thực hiện ý đồ: vào vơ vét theo đúng nghĩa giải phóng để dân chúng miền Nam được giải phóng hết sạch mọi thứ, cụ thể nhà cầm quyền Hà Nội đã bày ra các vụ cướp có bảo chứng qua cách đổi tiền, qua các vụ trấn lột của người dân với cái gọi là cải tạo công thương nghiệp, thực hiện kế hoạch đày đoạ các gia đình thuộc chế độ cũ như bắt chồng đi cải tạo, vợ con ở nhà đưa đi vùng kinh tế mới. Người dân sống với những bữa ăn bằng bobo và khoai sắn được tính từng lạng cho từng người. Cũ mì tức cũ sắn lúc bấy giờ được viện nghiên cứu khoa học của đảng cộng sản phân tích và hô hào: Sắn là loại thực phẩm có chất dinh dưỡng cao, nên đảng đã hô hào đưa dân chúng lên rừng cuốc đất trồng sắn, rồi đem về cân đo đong đếm để bán lại cho dân dùng. Đây cũng là thời điểm mà làn sóng người dân Việt trong nước chạy trốn cộng sản khá rầm rộ đến độ câu nói khôi hài đã trở thành giá trị hiện thực:” trụ đèn mà đi được thì chúng cũng đi luôn”. Về phiá Giáo Hội Công giáo lại bị sao quả tạ vô thần chiếu cố một cách đặc biệt nhất là ở Huế, nên Đức Cha Điền tại Huế lúc bấy giờ đã phải mạnh mẽ lên tiếng trước Hội Nghị Mặt Trận Tổ Quốc VN Bình Trị Thiên vào tháng 4 năm 1977 :” Người Công giáo là công dân hạng hai”. Thời điểm này, người viết còn đang được đảng v à bác quan tâm cho học tập, cải tạo(sic) để trở thành con người mới xã hội chủ nghiã. Hồi đó, trong trại tù, người viết có đọc tờ báo Nhân Dân và tờ Quân Đội Nhân Dân thấy có đoạn tin nói về linh mục Huỳnh Công Minh từ Sài Gòn bay ra Huế sau vụ Đức Cha Điền phát biểu tại Hội Nghị ở Huế. Linh mục Minh về Huế để triệu tập các giáo viên, công nhân viên Công giáo tại Huế, trong buổi hội họp này, ông linh mục Huỳnh Công Minh đã tuyên bố rằng : “ Việc làm của Đức Cha Điền khi tuyên bố tại Hội Nghị Mặt Trận Tổ Quốc vừa qua là hoàn toàn sai trái”,( ngài sai vì đã dám nói lên sự thật, không chịu cúi đầu, a tòng ) trong đó bản tin cũng có đưa tin là có vài giáo dân ( giáo gian) cũng đồng tình ủng hộ linh mục Minh để lên án vị Chủ chăn nữa. Gớm nhỉ, một linh mục từ Giáo Phận Sài Gòn lại được cái quyền về Huế để phê bình chỉ trích, lên án công khai một vị Chủ Chăn tại Huế, ghê thật, lúc đó tôi giật mình khi đọc đoạn tin này. Nhắc một chút như thế để thấy cái oai vệ của những vị đang được quyền lực của thế lực vô thần hổ trợ.chủ . Linh mục Huỳnh Công Minh là hình ảnh của những kẻ làm tôi hai

Trong phạm vi Giáo Hội Công giáo ở miền Nam lúc bấy giờ, thì không sao kể hết nào chuyện tài sản, nào đất đai của Giáo Hội bị tịch thu như bệnh viện, các cơ quan từ thiện, trường học, Dòng tu, nhà thờ, các Đại chủng viện bị đóng cửa và nhiều cơ sở khác bị chiếm đoạt. Tại Giáo Phận Huế, trong dịp lễ Giáng Sinh năm 1979, Đức Tổng Điền đã kêu gọi toàn Giáo Phận để tang, và toàn thể dân Chúa trong Giáo Phận đã đón ngày đại lễ Chúa Giáng Sinh trong âm thầm và cầu nguyện vì Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện Huế năm đó bị nhà nước cưỡng chiếm. Tại Sài Gòn từ sau năm 1975 nhiều biến động khó hiểu như vụ Dòng Đồng Công, vụ nhà thờ Vinh Sơn đã tạo cho giáo dân một chuổi ngày đầy lo âu và mọi giáo dân luôn sống trong sợ hãi bởi những đe dọa thường trực qua sự theo dõi của công an, của mật vụ, của những tên chỉ điểm, tất cả đều bám sát người Công giáo.

Khi Thư Chung năm 1980 ra đời, người viết đang bước vào năm thứ sáu tại trường “Đại học Lao Động Khổ Sai”, thường được gọi là Trại học tập cải tạo(sic). Trong những năm tháng ở cái trường đại học này thì bài học hóc búa nhất mà người viết học hoài không thuộc, đó là bài học “con người mới xã hội chủ nghĩa”, nghĩa là phải tôi luyện làm sao để bản thân của mình phải biết sống với quyết tâm theo cái định luật quái gở : “Yêu nước là phải yêu chủ nghĩa xã hội”. Suốt 36 năm qua, chắc không ai tôi luyện được cái định luật quái gở này ( ngoại trừ những kẻ cam tâm làm tay sai VC) để trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa và từ đó những ai không theo cái định luật quái gở này thì đều bị liệt vào những kẻ phản động, những kẻ chống đối nhà nước, những kẻ tuyên truyền chống nhà nước XHCN, những kẻ phá hoại sự đoàn kết dân tộc vân vân…

Nhìn lại một chút về bối cảnh khi đất nước hoàn toàn lọt vào tay cộng sản, nhất là thời điểm của năm 1980, năm Thư Chung ra đời, đây là thời kỳ toàn dân đang sống trong cảnh vô cùng tuyệt vọng từ đói rách đến sợ hãi. Chuyện bỏ nước ra đi, không phải chỉ có những người dân miền Nam muốn trốn chế độ cộng sản, đi tìm tự do, nhưng cả những người miền Bắc cũng ào ào vượt biên, có lẻ vì họ đói quá!. Bàn qua một chút như thế để hiểu được hoàn cảnh khi Thư Chung này ra đời. đưa ra Thư Chung để kêu gọi giáo dân đừng chạy nữa, hãy ở lại với các ngài. Chuyện tiếu lâm, có người cho rằng lúc đó HĐGMVN sợ giáo dân bỏ nước trốn đi hết, sợ nhà thờ bị bỏ trống thì vixi chiếm làm kho, nên các ngài đã

Xin bấm vào link dưới đây để đọc và suy nghĩ về Thư Chung năm 1980 có gì mà Uỷ Ban Phá đạo cho đây là dấu son lịch sử đối với đời sống của cộng đồng người Công giáo Việt Nam :

http://hdgmvietnam.org/thu-chung-1980-cua-hoi-dong-giam-muc-viet-nam/216.116.3.aspx

Phạm vi của bài viết này không nhằm mục đích phân tích về Thư Chung năm 1980 , nhưng nhân dịp này cũng nên lướt qua một chút về nội dung Thư Chung để biết thế sự như thế nào mà cả nhà nước VC cũng như Uỷ Ban phá đạo lại cất công ca tụng Thư Chung này.

Thư Chung năm 1980 dài 7 trang với khổ giấy 8.50 x11 gồm 15 tiết mục nhỏ được chia ra từng phần chính như mở đầu là phần : Thông tin về Đại hội Giám mục toàn Quốc-

Phần 2 là : Đường Hướng Mục vụ được nêu rõ hai nhiệm vụ chính gồm

A: Một Hội Thánh vì loài người.

B. Hội Thánh trong lòng Dân Tộc-

Phần ba là Ngỏ lời với các thành phần dân Chúa gồm tiết 12 ngỏ lời với giáo dân- Tiết 13 Ngỏ lời với tu sĩ và Tiết 14 Ngỏ lời với linh mục. Kết thúc Thư Chung là phần Kết luận với tiết 15.

Nói đến Thư Chung năm 1980 thì cụm từ “Sống Phúc âm giữa lòng dân Tộc” thường được nhắc đến như chủ đề của Thư Chung vậy, cho nên khi đọc toàn bộ Thư Chung, tôi đã dừng lại ở đoạn có nội dung: “Hội Thánh trong lòng Dân Tộc”, để biết tại sao Thư Chung năm 1980 lại được vixi ca tụng? Mời đọc phần :Hội Thánh trong lòng Dân Tộc” của Thư Chung từ tiết 8 đến tiết 11, xin trích nguyên văn tiết tiết 9 :

“9. Gắn bó với dân tộc và đất nước:

Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa. Sự gắn bó hoà mình này đưa tới những nhiệm vụ cụ thể mà chúng ta có thể tóm lại trong hai điểm chính:

- Tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

- Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc.”

Trong tiết 9 này được tóm gọn hai điểm chính khá đặc biệt với nội dung :tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc và xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống vàmột lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thông dân tộc”. Thư Chung được soạn khá cẩn thận nên đã phân tích rõ ràng về 2 điểm chính này được viết thành tiết 10 và tiết 11. Trích nguyên văn tiết 10 nói rõ về nhiệm vụ cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc như sau:

“10. Cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc: Về nhiệm vụ thứ nhất là tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc, chúng tôi muốn khẳng định rằng: yêu tổ quốc, yêu đồng bào, đối với người Công giáo không những là một tình cảm tự nhiên phải có mà còn là một đòi hỏi của Phúc Âm, như Công đồng nhắc nhở: “Các người Kitô giáo từ mọi dân tộc tụ họp trong Hội Thánh, không phân cách với những người khác về chế độ, cũng như về tổ chức xã hội trần gian, nên họ phải sống cho Thiên Chúa và cho Chúa Kitô trong nếp sống lành mạnh của dân tộc mình; là công dân tốt, họ phải thật sự và tích cực vun trồng lòng yêu nước” (TG 15).

Lòng yêu nước của chúng ta phải thiết thực, nghĩa là chúng ta phải ý thức những vấn đề hiện tại của quê hương, phải hiểu biết đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà Nước, và tích cực cùng đồng bào toàn quốc góp phần bảo vệ và xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do và hạnh phúc.

Trong công cuộc phục vụ quê hương, Phúc Âm cho chúng ta ánh sáng và sức mạnh để khắc phục các khó khăn và các xu hướng cá nhân ích kỷ, nêu cao tinh thần phục vụ của bác ái phổ quát, hướng tới cảnh “Trời Mới Đất Mới” (Kh 21,1), trong đó tất cả đều hoà hợp hạnh phúc. Và khi phải phấn đấu xoá bỏ những điều tiêu cực, chúng ta có ơn của Chúa Kitô Phục Sinh để mặc lấy con người mới công chính và thánh thiện”.

Trên thực tế, nếu thực hiện đúng theo tinh thần Thư Chung ở điểm vừa nêu trên thì thật là quý hóa vô cùng. Thật vậy, khi những phần đất của tổ quốc bị Tàu cộng chiếm lấy, khi những phần đất của đất nước bị đảng cộng sản hiệp thương với Trung cộng để chia cắt, để nhượng đất, nhượng biển, Giáo Hội lập tức tích cực cùng đồng bào cả nước lên tiếng phản đối Trung cộng xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa để bảo vệ tổ quốc thì còn gì tuyệt vời hơn, vì đó là việc thể hiện việc bảo vệ tổ quốc một cách hữu lý, xin nói với nhau cho rõ: “bảo vệ Tổ quốc chứ đừng bảo vệ đảng cộng sản VN

Khi đề cập đến vấn đề “yêu tổ quốc, hay yêu nước” thì có lẻ HĐGMVN chưa học thuộc bài học tiên khởi mà các nhà đỉnh cao trí tuệ đã vạch ra và bắt buộc toàn dân Việt Nam phải tuân giữ qua cái định luật quái gở mà người viết vừa nêu ở phần trên tức là người “yêu tổ quốc hay yêu nước” thì phải “yêu chủ nghĩa xã hội”, vì thế ông Nguyễn Thiện Nhân khi đến Linh điạ LaVang cũng đã nhắc đến Thư chung năm 1980 một cách mạnh mẽ và còn nhấn mạnh đến đoạn : “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào đối với người Công giáo không những là một t́ình cảm tự nhiên phải có mà c̣òn là một đọ̀i hỏi của Phúc âm. Đây là một sự khẳng định và nhấn mạnh trách nhiệm của người Công giáo đối với Đất nước và Giáo hội.. Qua những nhận định vừa nêu, nếu Giáo Hội muốn mọi việc đều được yên hàn vô sự, mà lại được nhà nước và Uỷ Ban phá đạo ca tụng thì điều kiện tiên quyết là HĐGMVN phải đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa: nghĩa là phải chăn dắt đàn chiên khi muốn thể hiện lòng yêu nước thì phải quyết tâm “yêu chủ nghĩa xã hội”. Có như thế thì mọi việc đều tốt đời đẹp đạo.

Thư Chung nhấn mạnh: “Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa. (....) Lòng yêu nước của chúng ta phải thiết thực, nghĩa là chúng ta phải ý thức những vấn đề hiện tại của quê hương, phải hiểu biết đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà Nước, và tích cực cùng đồng bào toàn quốc góp phần bảo vệ và xây dựng một nước Vit nam giàu mạnh, tự do và hạnh phúc.”

Đọc qua đoạn nêu trên, quả thật Thư Chung đáng được ca ngợi vì đã nói lên tinh thần trách nhiệm của người Kitô đối với Quốc Gia Dân Tộc: “Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta phải quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước…”.

Đúng vậy, Giáo Hội phải gắn bó với vận mạng quê hương cho nên Giáo hội không có quyền chạy theo thời thế để củng cố Giáo Hội mình bằng những lễ hội hoành tráng, mà phải thật sự sống với những kẻ nghèo khó, lên tiếng bênh vực những người đang bị áp bức, đang bị đàn áp, đang bị cướp bóc, dân oan, giáo oan đang bị hành hạ đủ mọi hình thức. Giáo Hội phải gắn bó với những than2h phần đau khổ này. Giáo Hội không thể làm ngơ trước những bất công, trước nạn tham nhũng, nạn buôn người, nạn phá thai công khai do nhà nước hô hào và chủ trương vân vân và vân vân.

Để kết luận, xin hãy cùng nhau tái xác quyết một cách minh bạch, và rõ ràng rằng: Đồng hành với dân tộc chứ không phải đồng hành với đảng cộng sản Việt Nam. Gắn bó với vận mạng quê hương Việt Nam chứ không phải gắn bó với chủ nghĩa xã hội.

Phong trào Cầu nguyện cho Công lý là thể hiện đúng tinh thần gắn bó với vận mạng quê hương, tại sao lại lẫn tránh?

Seattle, Tưởng niệm tháng tư đen 1975-2011.

Nguyễn An Quý

Sự sợ hãi của Cộng sản Việt Nam đang gia tăng

Michael Benge
♦ Chuyển ngữ:
Đinh Từ Thức
Nguồn: Nguyên bản Anh ngữ, “Vietnamese Communists’ Fear Factor is Rising,” American Thinker, 03 tháng 4 ngày 2011

oppression-of-religion


Như một người Libya chống đối từng nói, “Sau khi nhìn những gì xẩy ra tại Tunisia và Ai Cập, chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi cũng có thể làm được”; “bức tường sợ hãi” của họ đã sụp đổ và người dân Libya không còn sợ hãi chính quyền tham nhũng và tàn bạo của họ nữa. Ngược lại, viễn tượng cái nồi nước Trung Đông có thể sôi tràn tới nước họ đã đột ngột tăng thêm yếu tố sợ hãi trong hàng ngũ Cộng sản cai trị tại Việt Nam và Trung quốc. Từ khi khởi sự cuộc nổi dậy tại Trung Đông, vì sợ dân chúng nổi dậy, Việt Nam theo sau Trung Quốc, đã phản ứng bằng cách đàn áp tàn bạo, và bắt giữ những người có thể là bất đồng chính kiến.

Yếu tố bực bội của Việt Nam chắc đã phải được tăng thêm nhiều nấc khi Liên Hiệp Quốc chấp thuận một Vùng Cấm Bay trên Libya, một dấu hiệu mạnh mẽ chứng tỏ sự trợ giúp của quốc tế đối với các nhà phát huy dân chủ tại đó. Độc tài tàn bạo ở Libya và chế độ cộng sản ở Việt Nam có rất nhiều điểm giống nhau. Liệu “Bức tường sợ hãi” của dân chúng Việt Nam cũng sụp đổ?

Tại Trung Quốc, các nhà phát huy dân chủ kêu gọi dân chúng khởi sự ôn hòa một “Cuộc cách mạng Hoa Nhài”.

Tại Việt Nam nhà phát huy nhân quyền và dân chủ lâu đời là Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế viết trên mạng lời thách thức cho nhân dân Việt Nam:

“Hãy đứng thẳng người hiên ngang tuyên bố: Tự Do hay sống nhục! Xuống đường dứt điểm độc tài nhũng lạm quyền thế: đòi việc làm, đòi cơm áo, đòi nhà ở, đòi được học hành; đòi được chăm sóc y tế”. Mặc dầu những cấm đoán trên Internet và phương tiện truyền thông khác, cũng có những nhà phát huy dân chủ khác tiếp tay ông kêu gọi thay đổi ôn hòa, có lẽ là một cuộc “Cách mạng Nước Mắm”.

Coi như một đãi ngộ dành cho quần chúng và kiểm soát thiệt hại, chế độ Cộng sản Việt Nam thỉnh thoảng cũng toan tính những việc làm để lấy lòng trong nước và ngoại giao bằng cách áp dụng chính sách bắt rồi thả; “một nắm tay thép trong bao tay nhung”. Bác Sĩ Quế đã bị bắt, nhưng vì sợ bị “phản hồi” bằng quần chúng chống đối, ông đã mau chóng được thả ra và đặt trong tình trạng canh gác nghiêm ngặt – cô lập – và máy vi tính cùng các phương tiện truyền thông khác của ông bị tịch thu. Sau này, khi mọi xáo trộn lắng dịu nhà cầm quyền cộng sản sẽ lại bắt Bác Sĩ Quế và thi hành chính sách “bàn tay sắt”. Gần đây cộng sản đã phải đối phó với những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng khác một cách tương tự bằng cách hoãn lại những phiên xử những người đã bị bắt và tạm thời thả những người khác từ trong tù; nhưng tất cả đều bị đặt dưới tình trạng quản thúc chặt chẽ tại gia. Mục đích là xả bớt những áp lực chính trị vào thời gian hiện tại trong khi trung hòa phong trao chống đối.

Chế độ Việt Nam cũng đáp ứng bằng cách phô trương lực lượng, động viên lực lượng công an hùng hậu của họ và sai đi những nhân viên thường phục cũng như bọn côn đồ dân phòng ăn lương nhà nước (thuộc Mặt Trận Tổ Quốc). Hàng trăm nhà vận động chính trị và người sử dụng Internet đã bị bỏ tù hay bị quản thúc tại gia, và thêm hạn chế đối với báo chí nước ngoài và trong nước đã được thi hành. Xóa mạng Internet và ngăn chặn tiếp cận với những mạng có những chữ hay câu như “Libya” hay “dân chủ” và “biểu tình phản đối” là chuyện thường, và những kiểm soát khác đối với Internet cũng được áp dụng, đặc biệt trên những mạng “vi-blog” như twitter.

Việt Nam đang bị nạn tham nhũng gia tăng, lạm phát hai số, khan hiếm thực phẩm, cúp điện, và giá xăng tăng gần đây (18%), tiền phá giá, và giá dầu nhập cảng tăng. Tất cả những chuyện này, cộng với an ninh gia tăng đàn áp và cảnh sát tàn bạo, có thể tạo thêm tình trạng công chúng phẫn nộ và bất ổn. Một thí dụ sẩy ra vào hồi tháng Bảy năm 2010, khi hàng ngàn người biểu tình phản đối tại tỉnh Bắc Giang sau khi một thanh niên bị cảnh sát đánh chết. Nạn lao động đình công cũng tăng lên, kể cả một vụ gần đây tại một xưởng ráp xe của Nhật Bản với ba ngàn công nhân. Tuy rằng, tại nhiều nơi, nghiệp đoàn do cộng sản kiểm soát để tránh đình công. Không giống như các nước khác, Việt Nam rất giới hạn truyền thông nước ngoài tiếp cận những nơi có rắc rối, sợ rằng họ có thể khuấy động nồi nước sôi biến thành một cuộc cách mạng.

Việt Nam, một nước 86 triệu dân, có 3,6 triệu đảng viên Đảng Cộng Sản, và duy trì một lực lượng cảnh sát vào khoảng 1,2 triệu người. Thêm vào đó, còn có quân cảnh, công an đặc biệt và lực lượng mật vụ, gồm cả lực lượng dân phòng ăn lương nhà nước, cảnh sát tôn giáo, và đơn vị sát thủ đặc biệt như “Lực Lượng 04” đã được dùng để chống lại các sắc dân thiểu số.

Chế độ cộng sản Việt Nam gần đây đã mãnh liệt đàn áp các nhà hoạt động và bất đồng chính kiến, thẳng tay dẹp các tự do phát biểu, lập hội và hội họp. Riêng trong tháng Một, cảnh sát Việt Nam đã bắt giữ 1.500 người rong chiến dịch kiểm soát chặt chẽ về an ninh vào dịp Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng Sản Việt Nam tại miền Bắc Việt Nam.

Tại Việt Nam, bloggers, luật sư nhân quyền và tự do tôn giáo, công nhân và các nhà hoạt động về quyền sử dụng đất đai, các nhà vận động dân chủ và chống tham nhũng, nhà báo, trưởng giáo, linh mục, sư Phật giáo, thành viên các giáo hội Cơ Đốc giáo tại gia và cư sĩ của các tôn giáo khác, đều bị chế độ quy vào thành phần chống đối. Tất cả đều đối mặt với đe dọa, bắt giữ, đánh đập, tra tấn, bỏ tù, và ngay cả một số bị giết bởi bàn tay của chính quyền.

Thêm cú giáng vào quyền tự do phát biểu là một luật mới, Nghị định số 2 tự tiện đặt ra hình phạt tiền hay cầm tù chống lại các nhà báo và nhà xuất bản về những vi phạm mơ hồ. Những vi phạm này gồm cả phát hành bài viết in, cũng như trên Internet, mà “không có lợi ích cho nhân dân”, tiết lộ “bí mật quốc gia”, và phơi bầy “thông tin không được phép” (ví dụ như những bài viết về tham nhũng và lạm dụng nhân quyền). Nghị định cho phép bất cứ giới chức hay viên chức nhỏ nào trong chính quyền cộng sản hoặc quân đội được quyền quyết định cái gì là một vi phạm, và đòi hỏi nhà báo và nhà xuất bản tiết lộ nguồn gốc của thông tin.

Truyền thông nhà nước Việt Nam gần đây tường thuật rằng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kêu gọi công an bảo đảm rằng không có đảng phái chính trị nào khác được thành lập có thể đe dọa quyền kiểm soát của chính quyền cộng sản.

Trong số 86 triệu dân Việt Nam, 29 phần trăm thuộc lứa tuổi 15-29. Một chiến lược của Đảng Cộng Sản dùng để giữ nắp của cái nồi là gửi những người trẻ, năng động, có khả năng gây rối ra nước ngoài kiếm tiền gửi về cho gia đình và giúp nền kinh tế. Năm ngoái, có tới 85.546 công nhân người Việt được gửi ra nước ngoài lao động; mục tiêu của chế độ cho năm nay là 87.000.

Chế độ đàn áp của Việt Nam không phải chỉ theo dõi và kiểm soát chặt chẽ trên truyền thông, internet, blogs, các mạng xã hội và các lối trưng bầy khác, nhưng nhờ có kỹ thuật được cung cấp bởi các công ty Hoa Kỳ và Anh, bây giờ họ có thể theo dõi chặt chẽ cả điện thoại di động và “dây đất” của những người bị tình nghi là bất đồng chính kiến và phát huy dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo.

Điện thoại có thể dùng cho người Thượng thì đặc biệt xét kỹ. Mặc dù nhận diện kỹ thuật khủng bố của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam và biết rằng những cuộc điện đàm của họ sẽ bị theo dõi, tín hữu Cơ đốc người thượng ở Việt Nam tiếp tục gọi cho thân nhân của họ ở Hoa Kỳ, và ngược lại, trong cố gắng trao đổi thông tin về tiếp tục bách hại và đối xử tàn bạo đối vối người Thượng theo Thiên Chúa giáo, đặc biệt là những người thách thức nhà cầm quyền bằng cách không gia nhập các giáo hội do cộng sản kiểm soát.

Tường trình của Compass Direct News cho biết năm ngoái “nhà cầm quyền cộng sản đã ngăn chặn mừng lễ Giáng Sinh tại hai trong các thành phố lớn nhất Việt Nam” và trên 10 tỉnh “qua nỗ lực mạnh nhất gần đây để đàn áp người Thiên Chúa Giáo”. Nhà cầm quyền cũng cấm Đức Cha Michael Hoàng Đức Oanh, Giám Mục Kontum cử hành mừng lễ Giáng Sinh với các tín hữu Thiên Chúa Giáo người Thượng.

Ông Phil Robertson của Human Rights Watch gần đây đã tuyên bố rằng “Cuộc đàn áp tôn giáo của Việt Nam có hệ thống, trầm trọng và tệ hơn từng ngày”.

Và “dàn nhạc” vẫn chơi đi chơi lại một điệp khúc:

Vào ngày 1 tháng 12, 2010, ba người Thượng Thiên Chúa Giáo, Beo Nay, Phor Ksor và Rin Ksor, là những người thuộc về giáo hội tại gia thuộc tỉnh Gia Lai, đã bị bắt giữ và truy tố về tội “phá hoại đoàn kết dân tộc Việt Nam” bằng cách gia nhập một giáo hội bất hợp pháp. Họ đã được đưa giấy để ký từ bỏ niềm tin vào Thiên Chúa. Khi họ từ chối, các sĩ quan cảnh sát Thinh và Tuan đánh trầm trọng cả ba rồi lại ra lệnh cho họ ký vào giấy tờ; Tuy nhiên, vì họ đã bị đánh quá tệ đến nỗi các sĩ quan cảnh sát phải cầm tay để hướng dẫn họ ký tên.

Vào tháng 11 năm 2010, các trưởng giáo người Thượng Y-Du Ksor và Y-Co Kpa của Phái bộ Tin Mừng Việt Nam (Vietnam Good News Mission – VGM) ở tỉnh Phú Yên đã bị bắt và truy tố vì đã cử hành phụng vụ bất hợp pháp Thiên Chúa Giáo tại giáo hội tư gia, nhập đạo, và sở hữu điện thoại di động – hành vi bị coi là “phá hoại đoàn kết dân tộc Việt Nam”. Họ bị xử phạt một người sáu năm tù và bốn năm quản chế tại gia và người kia bốn năm tù và hai năm quản chế.

Vào tháng Bảy 2010, Bih Ksor, một tín hữu Thiên Chúa Giáo người Thượng và là một Trưởng Thượng trong một giáo hội tại gia, đã bị bắt bởi cảnh sát tỉnh Gia Lai. Vì ông sở hữu một điện thoại di động, nên ông cũng bị kết tội “phá hoại đoàn kết dân tộc Việt Nam”. Ông Bih đã bị đánh, tra tấn, và rồi bị một cú chí tử vào sau gáy. Ngay trước khi ông bị giết, anh em đồng hao của ông là Thai Puih, ở Charlotte, North Carolina (Hoa Kỳ), nhận được một cú điện thoại từ Việt Nam vào một giờ sáng, và nghe được âm thanh của một người đang bị đánh, đang rên la trong đau đớn ở phía sau. Người gọi đã tìm thấy số của Thai trong điện thoại di động của Bih. Ông ta tự xưng là sĩ quan cảnh sát Việt Nam và bảo Thai nghe trong khi họ tra tấn Bih. Thai trả lời rằng ông ta không hiểu họ nói gì và gác máy. Người cảnh sát gọi lại vào lúc hai giờ sáng và nói với Thai rằng Bih đã chết, và ông ta phải gọi thân nhân ở Việt Nam để báo tin và lượm xác. Ngày hôm sau, xác chết được tìm thấy dọc theo một con đường cách làng ông ta nhiều cây số.

Vào tháng Một 2010, cảnh sát tôn giáo từ Hà Nội bắt hai anh em tại tỉnh Gia Lai khi họ hành đạo Thiên Chúa Giáo, là Cop Ksor và Sia Nay, và ra lệnh cho họ phải từ bỏ niềm tin của họ vào Thiên Chúa. Khi họ từ chối, Đại Úy cảnh sát Pham Nhat Toan dắt một con chó từ cũi ra và ra lệnh cho nó tấn công họ. Họ bị cắn nhiều lần ở chân. Rồi họ được thả sau khi đã bị đe dọa rằng nếu họ không từ bỏ niềm tin vào Chúa, họ sẽ bị bắt lại và ông ta sẽ để cho chó cắn chết.

Human Rights Watch nói rằng Việt Nam đã cầm tù trên 300 người Thượng theo Thiên Chúa Giáo từ năm 2001 vì “ôn hòa biểu lộ tín ngưỡng hay quan điểm chính trị của họ”. Tuy nhiên, người Thượng ở Việt Nam tường trình rằng con số đích thực là trên 500.

Thỉnh thoảng, xác chết nát bấy của một người Thượng Thiên Chúa giáo bị vứt ra từ hệ thống nhà tù Việt Nam. Nếu tình trạng xác chết không đến nỗi quá tệ, cảnh sát nhà giam sẽ báo cho gia đình biết để nhận xác đem về chôn tại làng. Tương tự như vậy, thỉnh thoảng gia đình được phép đem những người Thượng bị tra tấn gần chết về làng họ để chết. Việc làm này cốt để khủng bố gia đình và dân làng. Tuy nhiên, nếu tù nhân bị đánh quá tệ, thi thể của họ được chôn ngay tại nhà tù và gia đình có thể được báo tin. Nếu không, gia đình chỉ còn người thân trong niềm nhớ. Đây chính là điều người Thượng Thiên Chúa giáo đã giản dị “biến đi” như thế nào trong hệ thống nhà tù tàn bạo của Việt Nam; tra tấn và hạ sát bởi thế hệ thứ hai hay thứ ba những cai tù theo truyền thống của những kẻ đã mài dũa kỹ năng tra tấn trên những tù binh chiến tranh Hoa Kỳ trong và sau chiến tranh Việt Nam.

Vào ngày 6 tháng Chín, 2009, Tino Ksor, một người Thượng Thiên Chúa giáo bị chết vì tra tấn tại Trại tù Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam. Ông ta đã bị bắt hôm 14 tháng Năm, 2004 vì ông đã giảng đạo tại một giáo hội tại gia thuộc tỉnh Gia Lai và từ chối gia nhập giáo hội do chính quyền kiểm soát là Southern Evangelical Church of Vietnam (SECV). Hai tuần sau, ông ta bị xử tại một tòa án rừng rú (kangaroo court), bị tố cáo về tội “phá hoại đoàn kết dân tộc Việt Nam”, và bị phạt 7 năm tù. Khi ở trong tù, Tino trở thành một lãnh đạo tinh thần cho nhiều tù nhân người Thượng ở đấy, nhưng vào ngày 22 tháng Tám, 2008, công an biệt giam Tino và bắt đầu tra tấn ông, cố gắng cưỡng bách ông từ bỏ lòng tin vào Thiên Chúa. Ngày 7 tháng 9, 2009, công an Việt Nam báo cho gia đình Tino rằng ông ta đã chết. Vợ và mẹ Tino đến nhà tù để nhận xác ông; tuy nhiên, họ được cho biết “Ksor Tino chưa mãn hạn tù nên chúng tôi phải giữ xương cho đến khi hạn tù của ông ấy chấm dứt; rồi các bà có thể tới mà nhận”.

Đây không phải là một trường hợp cá biệt; thí dụ vào ngày 11 tháng Ba 2010, người Thượng Thiên Chúa giáo K’pa Lot chết vì nội thương, do bị đánh liên tục và tra tấn trong khi bị tù ở tỉnh Phú Yên, cũng như người Thượng Thiên Chúa giáo Y-Kap Ayun bị chết vào ngày 17 tháng Tám 2010.

Vào ngày 18 tháng 11, 2010, Simon Roughneen tường trình trên Asia Times Online rằng “Ngoại Trưởng Hillary Clinton đề cao Hà Nội về việc đã ký Công Ước Liên Hiệp Quốc chống lại tra tấn trong cuộc gặp gỡ báo chí vào tháng 11 2010 cùng với người đồng nhiệm [phía Việt Nam] là ông Khiêm”.

Và dàn nhạc vẫn chơi đi chơi lại một điệp khúc.

Chế độ cộng sản Việt Nam nên nhớ kỹ cuộc biểu tình chống đối năm 2001 của ngừơi Thượng Thiên Chúa giáo đã làm cho Đảng lung lay tận gốc rễ. Những người biểu tình ôn hòa đã kiến nghị chính quyền nới lỏng việc lạm dụng nhân quyền, cho họ có tự do tín ngưỡng không bị chính quyền kiểm soát, và trả lại cho người Thượng những đất đai bị chính quyền tịch thu. Thay vì giải quyết vấn đề một cách ôn hòa, chế độ phái công an và quân đội tấn công những người biểu tình bằng xe tăng và máy bay. Trong cuộc đàn áp tàn bạo hàng trăm người Thượng Thiên Chúa giáo đã bị bắt, bị giết, hoặc “biến mất”, và nhiều người vẫn còn bị tù cho đến ngày nay. Mặc dầu người Thượng chỉ có 750.000 trong 85 triệu người Việt, và mặc dầu chỉ có một phần nhỏ trong số người của họ tham gia biểu tình chống đối, họ đã lay chuyển chế độ cộng sản tận cốt lõi và khiến cho phải thay đổi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản. Nếu cuộc bách hại tiếp tục, “bức tường sợ hãi” của người Thượng có thể lại sụp đổ; và lần này những người Việt bị bách hại nhiều phần có thể tiếp tay.

Có vẻ như muốn trêu tức Hoa Kỳ, vào ngày 5 tháng Một năm nay, ông Christian Marchant, một nhà ngoại giao là tùy viên chính trị đặc trách nhân quyền và dân chủ tại Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội, đã bị đối xử thô bạo và bị đánh trong khi một đám cảnh sát đứng nhìn mà không có hành động nào. Ông đã được phép từ nhà cầm quyền Việt Nam để tới thăm một linh mục Công Giáo bất đồng chính kiến. Vì tụ họp nhiều người là bất hợp pháp, nhiều phần chắc là đám đông gồm bọn côn đồ ăn lương chính quyền, một kỹ thuật cộng sản dùng để có lý do phủ nhận. Một người phát ngôn bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói rằng, “Sự quấy nhiễu ‘không thể chấp nhận được’ và chúng tôi đã và sẽ tiếp tục bầy tỏ mối quan tâm sâu xa của chúng tôi”. Đúng là cách đáp ứng kiểu “cọp giấy” đối với các vi phạm nhân quyền mà chế độ cộng sản tiếp tục coi thường trong khi họ làm ăn bình thường với Hoa Kỳ “tôn thờ thương mại”.

Và dàn nhạc vẫn chơi đi chơi lại một điệp khúc.

Huyền thoại: Hoa Kỳ cần Việt Nam như một nước đệm chống lại Trung Quốc: Phần lớn những sai lầm của chúng ta trong chính sách ngoại giao đối với Việt Nam là dựa trên việc dùng Việt Nam để be bờ Trung Quốc lấn dần tại Đông Nam Á. Bất cứ ai nói ra huyền thoại này cần phải sửa lại bài tính: như là, dân số Việt Nam có vào khoảng 85 triệu trong khi Trung Quốc có hơn một tỷ dân. Chẳng những Trung Quốc có đông dân hơn, họ còn có nhiều tiền hơn Hoa Kỳ và không bị giới hạn trong việc hối lộ các giới chức chính quyền ở Đông Nam Á. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình gần đây khi chọn Nguyễn Phú Trọng vào chức vụ quyền lực nhất nước – tân Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam – và ông ta được coi như là người thân Trung Quốc.

Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế được Quốc Hội thông qua và Tổng Thống Clinton chấp thuận vào năm 1998 để phát huy tự do tôn giáo như là chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Nó bắt buộc chính quyền Hoa Kỳ phải can dự với các chính quyền nước ngoài để phát huy tự do tôn giáo và phải có hành động trừng phạt khi cần thiết. Hành động trừng phạt, phần nhiều chỉ là làm cho các nước này bị bẽ mặt bằng cách đặt tên họ trong danh sách Các Nước Đặc biệt Quan tâm (Country of Particular Concern – CPC) trong bản tường trình hàng năm của Bộ Ngoại giao vì họ đã vi phạm thô bạo vào tự do tôn giáo. Tuy nhiên, vì theo chính sách xử đẹp với Việt Nam, nên mặc dầu có những bằng chứng không thể chối cãi là Việt Nam vi phạm thô bạo tới tự do tín ngưỡng, trong vài năm gần đây, Bộ Ngoại giao đã từ chối đặt Việt Nam trong danh sách CPC. Bây giờ, Luật này đã mãn hạn, và như Ken Blackwell, cựu đại sứ Mỹ tại (Ủy hội Nhân quyền) Liên Hiệp Quốc viết trong một bài mới đây, “Mỹ Tự Bỏ Trách nhiệm về Tự do Tôn giáo” (State Is AWOL on Religious Liberties), “Chính quyền Obama và Bộ Ngoại giao đặc biệt mạnh miệng về chính sách này nhưng qua không hành động họ đã giúp và xúi bẩy sự bách hại các tôn giáo thiểu số trên khắp thế giới. Mặc dầu Bộ Ngoại giao đã tường trình rằng tự do tôn giáo bị ‘suy thoái’ trong năm 2010, nhưng họ đã từ chối đặt Afghanistan, và nhiều nước vi phạm tự do tôn giáo khác vào danh sách CPC.” Tất nhiên trong số này có Việt Nam.

Mặc dầu Luật đã mãn hạn, vẫn còn nhiều cách khác để áp dụng hành động trừng phạt nếu Tổng thống Obama và chính quyển của ông có đủ đạo đức để làm như vậy. Bây giờ Tổng thống Obama đã chọn ông David B. Shear vào chức tân Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, thay thế ông Michael Michalak, ông Obama và Bộ Ngoại giao có cơ hội để thay đồi chính sách đối với Việt Nam về những vi phạm quá đỗi của họ đối với tự do tôn giáo và các lạm dụng nhân quyền khác.

Đại Sứ mãn nhiệm Michael W. Michalak đã là một người bào chữa cho những vi phạm bỉ ổi về nhân quyền và tự do tôn giáo của chế độ cộng sản và bảo kê cho họ bằng che chở ngoại giao cho chế độ cộng sản. Ông đã làm như vậy dưới chỉ dẫn rằng Việt Nam đã mau chóng nhận cho các giáo hội và chùa được đăng ký để cộng đoàn có thể hành đạo “hợp pháp”; tuy nhiên, đăng ký như vậy thật ra là đặt họ dưới quyền kiểm soát của cộng sản.

Chế độ cộng sản đã tạo ra những diện mạo ngụy Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo và các định chế tôn giáo khác, giáo hội và chùa. Người Việt và các sắc dân thiểu số muốn hành đạo phải lựa chọn giữa giáo hội và chùa quốc doanh, hoặc bị quấy nhiễu, vào tù và đất bị tịch thu. Các nhân vật ngoại giao và truyền thông dựa vào những giáo hội và chùa trình diễn này (Potemkin churches and pagodas) để khoe rằng chế độ đã tiến bộ như thế nào về mặt tự do tôn giáo. Trên thưc tế, chế độ cộng sản bị hoang tưởng về những tổ chức tôn giáo họ thấy như là đe dọa trực tiếp cho tôn giáo chính trị của họ, là chế độ cộng sản. Bách hại tôn giáo chống lại mọi tín ngưỡng là chuyện thường ở Việt Nam; Thiên Chúa Giáo, Công Giáo, Phật Giáo và những người mang tín ngưỡng khác, đặc biệt là Thiên Chúa Giáo miền Thượng và thành viên của giáo hội tại gia, đã và đang bị quấy nhiễu, tra tấn, cầm tù và sát hại (thường bị coi là bởi tay bọn “côn đồ vô danh trên đường phố” của chế độ). Trưng dụng đất đai của giáo hội là việc làm quen thuộc bởi chế độ cộng sản.

Do không có hành động trừng phạt, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã để cho chế độ cộng sản Việt Nam (họ coi như đây là dấu hiệu bao dung hay chấp thuận ngầm) tiếp tục bách hại tôn giáo và lạm dụng nhân quyền đối với người dân của họ.

Bác Sĩ Quế gần đây viết,

Chỉ mới mùa hè vừa qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã mừng lễ kỷ niệm lần thứ 15 ngày tái thiết lập liên lạc ngoại giao. Việc tái lập bang giao này đã chứng tỏ nhiều lợi lộc về phía Việt Nam. Hoa Kỳ là nước đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam, và hai nước đã có trên 15 tỷ giao thương trong một năm. Hoa Kỳ cũng gia tăng đáng kể trong việc can dự vào Đông Nam Á, và làm như vậy, đã cung cấp hỗ trợ ngoại giao cho Việt Nam ở trong khu vực (thí dụ tranh chấp với Trung Quốc về những quần đảo xa bờ). Giống như nhà phân tích của Viện Quốc phòng Úc về Việt Nam Carl Thayer nói, sau 15 năm “tăng tiến liên lạc có vẻ như vẫn không gây được ảnh hưởng nào với các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Cách tiếp cận của họ đã rõ ràng: Nhận đầu tư và buôn bán với Hoa Kỳ, nhưng dân chủ và nhân quyền thì đừng hòng.

Hà Nội cần Washington rất nhiều so với Washington cần Hà Nội. Vào mỗi giai đoạn, Việt Nam đã hứa tôn trọng nhân quyền và tuân thủ luật quốc tế. Tuy nhiên, mỗi lần, Việt Nam đã nhận thấy rằng họ có thể thu lượm tất cả lợi lộc từ phía Hoa Kỳ, mà theo họ chỉ là con cọp giấy, mà không cần tôn trọng bất cứ lời hứa nào của họ. Plus ça change, plus c’ est la même chose. – Câu tiếng Pháp có thể tạm dịch là “Càng thay đổi nhiều, càng giống như cũ”. Dân chúng Việt Nam vẫn dễ thương, còn chế độ cộng sản vẫn lừa bịp, tàn bạo và đa nghi như bao giờ, trong khi chính sách của Hoa Kỳ để cho họ đàn áp và dối trá.

Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục ve vãn Hoa Kỳ ngay cả bằng những lời hứa thêm nếu nó có thể gia tăng mối liên hệ song phương. Một đối tác thực sự với Hoa Kỳ có hiệu quả mang lại nhiều lợi lộc hơn cho họ nhờ tăng thêm trao đổi, lợi ích về quân sự và hỗ trợ ngoại giao cho họ ở trong khu vực. Đến phiên chính quyền Obama cũng tuyên bố muốn tăng thêm “đối tác thực sự” với Việt Nam; tuy nhiên, nếu cái giá của đối tác bao gồm cả thực sự tiến bộ về nhân quyền và tự do tôn giáo, chúng sẽ không dễ đạt được từ chế độ cộng sản đàn áp. Hoa Kỳ nên công bố một thái độ dứt khoát với chế độ đó rằng sẽ không có chuyện đối tác cho đến khi Việt Nam chấm dứt mọi vi phạm tới nhân quyền và tự do tôn giáo đối với người dân của mình.

Dàn nhạc sẽ còn chơi đi chơi lại một điệp khúc?

Michael Benge đã trải qua 11 năm ở Việt Nam với tư cách là một giới chức ngoại giao, 5 năm là tù binh chiến tranh, và là một sinh viên về chính trị Đông Nam Á. Ông rất năng động trong phát huy nhân quyền và tự do tôn giáo và đã viết nhiều về các đề tài này.

Thành tích thê thảm trong giáo dục xhcn VN

VIỆT CỘNG ĐÃ DẠY CHO SINH VIÊN VIỆT NAM NHỮNG GÌ?

Trường chúng em là một trường ĐH kĩ thuật lớn của đất nước, kì 2 của sinh viên năm đầu, nhà trường đầu tư 3 tiết GDQP-AN một tuần, ngang với số tiết môn Vật lý ĐC. Đặc biệt là bài học về Phòng chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

Dù rất khó bố trí nhưng nhà trường cử thầy phó và trưởng khoa đi đứng lớp tất các giảng đường để giảng dạy bài này, nội dung bài chép trên lớp của một sinh viên được ghi lại dưới đây: (không hiểu sao những bài khác không chép cũng chẳng thấy thầy nói gì, nhưng với bài này thầy trưởng khoa mà thấy đứa nào không chép ngồi nói chuyện thì ăn điểm quá trình zero).

Phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam””

I. Chiến lược “diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch” đối với cách mạng Việt Nam

1. Khái niệm

a. Diễn biến hòa bình

- DBHB là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước là các nước XHCN từ bên trong bằng các biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành.

+ Kẻ thù sử dụng mọi thủ đoạn KTCT, VHXH, QPAN để làm suy yếu từ bên trong đối với các nước XHCN.

+ Chúng kích động mâu thuẫn trong xã hội tạo ra lực lượng chính trị đối lập núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, sắc tộc…

+ Thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập nhằm làm mơ hồ đấu tranh giai cấp.


+ Về kinh tế, chúng khuyến khích phát triển tư nhân hóa.

+ Về văn hóa tư tưởng, chúng khích lệ lối sống tư sản, làm phai nhạt mục tiêu lí tưởng cho sinh viên.


+ Chúng triệt để lợi dụng khai thác những khó khăn, sai sót của đảng và nhà nước trên các lĩnh vực.

b. Bạo loạn lật đổ

- BLLĐ là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng li khai đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền ở địa phương hay TW.

- Hình thức:

+ Bạo loạn chính trị

+ Bạo loạn vũ trang

+ Kết hợp BL vũ trang với BL chính trị

- Quy mô bạo loạn: diễn ra ở các mức độ khác nhau, nhiều nơi, nhiều vùng ở địa bàn có cơ sở chính trị yếu kém.



II. Chiến lược DBHB, BLLĐ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam.

1. Âm mưu thủ đoạn

- 50-75: dùng quân sự nhưng thất bại nặng nề.

- 75-95: bao vây cấm vận kinh tế, cô lập về ngoại giao, lợi dụng những khó khăn về kinh tế, hậu quả sau chiến tranh, đẩy mạnh chiến lược DBHB, coi VN là một trọng điểm.

- 95- nay: trước những thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới, chúng điều chỉnh xóa bỏ cấm vận về kinh tế, bình thường hóa quan hệ ngoại giao để chuyển sang 1 thủ đoạn mới nhằm đẩy mạnh chiến lược DBHB.

2. Mục tiêu của các thế lực thù địch: (thầy giáo bảo nhớ hay quên gì cũng được, chỉ cần nhớ ba chữ “xóa, xóa, lái” là đạt rồi, thầy còn bảo thầy rất tâm đắc vì khi biên tập thầy cho thêm chữ “lái” rất hay vào và đã được xuất bản)

- Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản

- Xóa bỏ chế độ XHCN

- Lái các nước XHCN đi theo con đường CNTB và lệ thuộc vào CN đế quốc.

3. Thủ đoạn

- Chúng nuôi dưỡng các tổ chức phản động lưu vong, các phần tử bất mãn chống đối trong nước, gây mất ổn định chính trị.

- Kích động, dụ dỗ, cưỡng ép quần chúng nhân dân biểu tình.

- Yêu cầu đặt ra là cảnh giác kịp thời, phát hiện âm mưu BLLĐ, dự báo tình hình về quy mô, địa điểm và thời gian.

- Khi bạo loạn xảy ra cần nắm vững nguyên tắc: “nhanh gọn, tiên quyết, linh hoạt, đúng đối tượng, sử dụng lực lượng và phương thức phù hợp, không để lan rộng kéo dài”.


III. Mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm và những giải pháp phòng chống chiến lược DBHB, BLLĐ của đảng ta.

1. Mục tiêu, nhiệm vụ

a. Mục tiêu

- Làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, chiến lược DBHB, BLLĐ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam.

- Giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường hòa bình để xây dựng đất nước.

- Bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia.

b. Nhiệm vụ

- Kiên quyết làm thất bại âm mưu thủ đoạn DBHB, BLLĐ, đây là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ QPAN hiện nay, đồng thời là một nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài.

- Chủ động phát hiện âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, kịp thời tiến công ngay từ đầu, xử lý nhanh chóng, hiệu quả khi có BLLĐ xảy ra.

2. Quan điểm, phương châm

a. Quan điểm

- Đấu tranh chống chiến lược DBHB là một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go ác liệt, lâu dài phức tạp trên mọi lĩnh vực.

- Chống chiến lược DBHB là cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ QPAN hiện nay để bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

- Phát huy sức mạnh tổng hợp các khối đại đoàn kết dân tộc của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam trong đấu tranh phòng chống chiến lược DBHB.

b. Phương châm

- Chủ động, kiên quyết, xử lý khôn khéo tình huống, giải quyết hậu quả khi có BL xảy ra.

- Giải quyết các vụ gây rối, không để phát triển thành bạo loạn.

- Xây dựng tiềm lực vững mạnh của đất nước, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và quốc tế, kịp thời làm thất bại âm mưu thủ đoạn chống phá đối với cách mạng Việt Nam”.

Trên đây là toàn bộ bài học, được giảng dạy trong tất cả 6 tiết, mọi người tùy ý nhận xét (thực ra nếu 6 tiết mà viết từng này thì bao nhiêu thời gian còn lại làm gì nhỉ? Thầy giáo “chém gió” đủ thứ chuyện từ chuyện gia đình của thầy đển chuyện ngày xửa ngày xưa khi thầy còn là một anh binh nhì,…).

Vô tình em còn thấy thằng bạn em nó viết ở cuối bài học là: ”hic hic, hôm nay qua đi, ngày mai nữa là đến ngày 14-2 rồi, không biết nàng đang nghĩ gì nhỉ, ôi trời, đã học Vật lý đau hết cả đầu lại còn phải chép cái đống này, phù…ù…ù… may quá hết rồi. he he”.

Nếu đươc đăng báo, em xin dùng bút hiệu là Huỳnh Thế Nam.


Huỳnh Thế Nam

(bạn đọc Dân Làm Báo)

Giáo dục Việt Nam:
nghịch lý cười ra nước mắt

Nguyễn Trọng Bình


1. Nghịch lý ít người quan tâm

Hàng năm, mỗi khi đến mùa tuyển sinh đại học lại thấy có không biết bao nhiêu là chương trình “tiếp sức” cho các em học sinh lớp 12 ở bậc phổ thông như:“Tư vấn tuyển sinh”, “Tiếp sức mùa thi”…. Hay trước mỗi đợt sinh viên đại học tốt nghiệp ra trường lại có những chương trình như: “Tư vấn kỹ năng xin việc”, “Kỹ năng trả lời phỏng vấn”… diễn ra rất rầm rộ trên khắp cả nước. Ví như vừa qua báo Tuổi Trẻ đã kết hợp với các đơn vị tài trợ, các trường đại học tổ chức hàng loạt các chương trình “Tư vấn mùa thi” cho các em học sinh phổ thông lớp 12 trên khắp mọi miền đất nước như: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hà Nội, Cà Mau…

Trước hết, phải nói rằng chương trình tư vấn này của báo Tuổi Trẻ là rất rất đáng hoan nghênh vì đã góp phần cùng xã hội chung tay chăm lo cho thế hệ trẻ - đội ngũ kế thừa của đất nước. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây là tại sao một tổ chức ngoài giáo dục như báo Tuổi Trẻ phải “xắn tay” vào để lo chuyện này trong khi lẽ ra trách nhiệm chính phải thuộc về ngành giáo dục với một hệ thống quản lý giáo dục rất đồ sộ (Bộ, Sở, Phòng, Viện, Trường học…) cùng mạng lưới giáo dục rất đa dạng và phong phú. Nói cách khác, ở đây có một câu hỏi đặt ra là suốt 12 năm ngồi trên ghế nhà trường phổ thông các em học sinh đã tiếp thu được những gì; mục tiêu và triết lý giáo dục của chúng ta như thế nào mà sao con em chúng ta – những người bạn trẻ đã bước sang tuổi 18 nhưng tư duy và nhận thức về xã hội, về cuộc sống nói chung gần như chỉ là con số không?

Qua báo chí, chúng ta được biết trong quá trình tổ chức các cuộc tư vấn tuyển sinh nhiều thầy cô ở các trường đại học nhận được những câu hỏi và thắc mắc từ các em học sinh lớp 12 nhiều khi rất “ngô nghê” và “tội nghiệp” (đại loại như Tại sao em học bài hoài không thuộc?; Bây giờ em rất hoang mang chưa biết chọn ngành nào, em phải làm sao?; Em muốn học ngành kiến trúc xây dựng vậy em thi khối nào?; Em muốn học để trở thành bác sĩ nhưng em sợ sức em không thi đậu vậy em phải làm gì…?); những câu hỏi “ngô nghê” ấy phản ánh năng lực tư duy và nhận thức độc lập về những vấn đề của cuộc sống của các em học sinh sắp rời mái trường phổ thông rất đáng để chúng ta (nhất là lãnh đạo ngành giáo dục nước nhà) phải suy nghĩ. Tại sao lại như vậy? Tại sao học đến lớp 12 rồi, đã sang tuổi 18 rồi mà các em không thể tự mình định hướng nghề nghiệp cho mình; lớp 12 rồi mà mỗi khi ra khỏi nhà là phải có cha mẹ theo kèm cập mới an tâm; lớp 12 rồi mà còn để cha mẹ lo lắng đủ thứ chuyện về học hành, thi cử của bản thân mình? Lớp 12 rồi mà khả năng nhận thức và tính độc lập trong việc chọn nghành, chọn nghề, chọn trường sao cho phù hợp với sở thích, năng lực học vấn của bản thân, năng lực tài chính của gia đình… còn rất mơ hồ?

Đáng nói hơn, thậm chí sau khi tốt nghiệp đại học rồi, trở thành những “cậu cử, cô cử” rồi mà những kỹ năng giao tiếp và ứng xử với xã hội đôi khi chỉ là con số không, xã hội lại tiếp tục mở những cuộc “tiếp sức” về “kỹ năng trả lời phỏng vấn” và “kỹ năng xin việc làm”…?

Trong khi đó, tuy không có một suy nghĩ, một nhận thức đúng đắn để có thể tự quyết những chuyện quan trọng của đời mình nhưng các bạn trẻ lại thừa những suy nghĩ “độc lập” trong nhiều vấn đề “linh ta linh tinh” khác. Không dám từ quê ra phố một mình để tham gia chương trình tư vấn tuyển sinh nhưng lại rất hăng hái trong việc lập những “băng nhóm” rồi “thanh toán” bạn mình chỉ vì những xích mích nhỏ trong trường học; không biết tìm hiểu và truy cập vào những trang web của các trường đại học để biết thông tin về ngành, nghề tuyển sinh và đào tạo nhưng lại rất sành sỏi trong việc tìm và truy cập vào những trang “web đen” thiếu lành mạnh; không biết chọn ngành, chọn nghề, chọn trường nào cho phù hợp với năng lực, sở trường và ước mơ của mình nhưng rất “cá tính” trong việc tung video clip “sex” lên mạng để chứng tỏ mình là “dân chơi” và “sành điệu”; không dám và cũng không biết tự giới thiệu về bản thân mình trước một hội đồng tuyển dụng khi đi xin việc nhưng lại rất “hăng hái” trong việc “yêu đương nhăng nhít” hay vùi đầu vào những thú vui thâu đêm suốt sáng với game online dẫn đến những hậu quả rất đau lòng mà xã hội đang phải lên tiếng…?

Có thể nói, những điều vừa phân tích ở trên phản ánh rất rõ cái nghịch lý “cười ra nước mắt”, cười mà đau xót và xấu hỗ cho thực trạng buồn của giáo dục nước nhà hiện nay – một thực tế mà ít người quan tâm và dũng cảm “đối mặt”.

2. Lỗi tại ai?

Công bằng mà nói, các bạn trẻ (học sinh, sinh viên) - đội ngũ kế thừa của chúng ta hiện nay không phải tất cả đều thụ động, vẫn có không ít các bạn trẻ rất giỏi và rất năng động và sáng tạo trong học tập. Tuy nhiên, nhìn chung đại bộ phận các bạn trẻ thật sự vẫn chưa “trưởng thành”, chưa có nhiều những “đột phá” trong nhận thức và tư duy để có thể tự quyết định những vấn đề mang tính “bước ngoặt” của cuộc đời mình và rộng hơn nữa là những vấn đề của đất nước (dĩ nhiên ở mức độ các bạn trẻ có thể tham gia phát biểu chính kiến). Có nhiều nguyên nhân lý giải cho vấn đề này nhưng nghiêm túc nhìn nhận thì lỗi này phần nhiều hoàn toàn do cơ chế và môi trường giáo dục của ta hiện nay. Cụ thể hơn, sở dĩ giáo dục nước nhà đang tồn tại nghịch lý “cười ra nước mắt” như đã phân tích ở trên là do nền giáo dục mang nặng tính “giáo điều” chỉ chăm chăm hướng đến những “mục tiêu” nhất thời; là hệ quả của cách làm giáo dục theo kiểu “ăn xổi ở thì”; một nền giáo dục không có “triết lý” rõ ràng. Ví như ở cấp phổ thông thì mục tiêu giáo dục chỉ là “tỉ lệ đậu tốt nghiệp” sao cho “đẹp mắt” lãnh đạo và “nở mày nở mặt” với địa phương bạn; cấp đại học thì “xã hội hóa” bằng cách ồ ạt mở trường đào tạo và cấp bằng theo “nhu cầu xã hội” (mà xã hội thì vốn mang trong mình căn bệnh nan y là “trọng bằng cấp hơn trọng năng lực”). Và để đạt được những mục tiêu nhất thời ấy chỉ có cách duy nhất là bắt buộc và yêu cầu học sinh học “thuộc lòng” sách giáo khoa và sách “chuẩn kiến thức” nhằm đối phó với các kỳ thi. Hoặc không thì tìm “cách này cách nọ” để “đảm bảo tỉ lệ tốt nghiệp” và “nâng cao mặt bằng dân trí” cho đơn vị mình, địa phương mình. Nói tóm lại, chất lượng giáo dục gần như chỉ được đánh giá qua những bảng báo cáo thành tích về “tỉ lệ bình quân” trên… giấy. Điều này tất yếu dẫn đến hậu quả học sinh, sinh viên sau khi ra trường ngẫm kỹ lại phần nhiều chỉ là những “bản sao”, là “thế hệ F1” của giáo viên và sách giáo khoa; nhận thức và tư duy độc lập của học sinh, sinh viên gần như bị thủ tiêu; nền giáo dục từ đó lâm vào căn bệnh trầm kha có tên là “thành tích”…

Không dừng lại ở đó, có thể thấy nền giáo dục “giáo điều” và “ăn xổi ở thì” vốn thường chỉ xem trọng và hay chạy theo những cái gọi là “phong trào” mang tính bề nổi (nhằm đối phó) mà thiếu những cái nhìn mang tính chiến lược căn cơ và lâu dài. Mà giáo dục làm theo kiểu “phong trào” thì cùng lắm chỉ giải quyết được “phần ngọn” chứ thực chất bên trong thì vẫn “giậm chân tại chỗ” bởi cái căn nguyên, cái gốc rễ sâu xa không được xem xét tường tận, thấu đáu. Ví như, trong khi nhiệm vụ chính của giáo dục là phải rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách và tri thức cho học sinh thì nay nhiệm vụ ấy phải đưa xuống hàng thứ yếu vì tất cả đang phải cùng nhau triển khai và thực hiện cái “phong trào”“nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục” (và chỉ “nói” là chủ yếu chứ thực “làm” thì chẳng bao nhiêu).

Hay như lẽ ra trong thời điểm hiện tại, nguyên nhân cốt lõi của thực trạng chất lượng giáo dục phổ thông thấp là do sự hạn chế về kiến thức, tri thức của đội ngũ giáo viên (là nguyên nhân mang tính “dây chuyền” và là cái vòng luẩn quẩn liên quan đến việc đào tạo giáo viên ở các trường đại học) và nội dung và chương trình dạy học (sách giáo khoa ở phổ thông, bài giảng và giáo trình ở đại học) thì không chịu thừa nhận lại đi phát động phong trào “đổi mới phương pháp dạy học” ở tất cả các cấp (suy cho cùng “phương pháp” chính là “cách tư duy” về đối tượng, một khi không có tri thức, không có “tư duy”, không “biết tư duy” thì làm sao có “phương pháp”, nếu có chăng vẫn chỉ là những “phương pháp” mang nặng sự “giáo điều”). Và khi tiến hành “đổi mới phương pháp” lẽ ra, trước hết phải xuất phát từ tình hình thực tế về điều kiện, môi trường dạy học hay sâu xa hơn là đặc trưng văn hóa xã hội của đất nước thì không chịu xem xét, nghiên cứu lại đi “bê nguyên xi” và áp dụng một cách máy móc những “phương pháp” của nước ngoài (vốn có tiền giả định là nền giáo dục đã phát triển ở trình độ cao). Cho nên hậu quả là năm nào cũng “đổi mới phương pháp”, năm nào cũng tổ chức “hội thảo”, tập huấn về “phương pháp mới”; đi đâu cũng nghe người ta bàn luận về “phương pháp”’; tiền bạc, thời gian và công sức đổ ra không biết là bao nhiêu nhưng thực tế thì chất lượng giáo dục thì vẫn cứ giậm chân tại chỗ…; các “chuyên gia phương pháp” thì trong lòng hoang mang còn giáo viên – những người được lệnh phải “đổi mới phương pháp” sau khi được tập huấn “phương pháp mới” lại e dè không dám áp dụng vào thực tế dạy học (sợ học sinh học theo “phương pháp mới” thi rớt tốt nghiệp, không đảm bảo chỉ tiêu tốt nghiệp đã đề ra)… Cứ như thế, cả một hệ thống giáo dục cứ mãi rơi vào cái vòng luẩn quẩn của sự giáo điều, hình thức và “ăn xổi ở thì” để rồi cuối cùng người học (học sinh, sinh viên…) là người lãnh đủ; xã hội lại phải mất thời gian, tiền bạc và công sức để “tiếp sức” cho các em.

3. Thay lời kết

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong khi nói về thành phần và lực lượng sáng tác văn học nghệ thuật (đồng thời cũng là đội ngũ trí thức) nước nhà trước 1945, trong sách Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam giai 1930-1945, có viết:“Nếu lấy năm 1930 làm mốc thì hầu hết những cây bút này tuổi đời chỉ từ 10 đến 20 (Nguyễn Tuân, Thạch Lam 20 tuổi; Thanh Tịnh 19 tuổi; Vũ Trọng Phụng, Hàn Mạc Tử, Nguyễn Huy Tưởng 18 tuổi; Hồ Dzếnh, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương 14 tuổi, Nam Cao 13 tuổi; Huy Thông, Mộng Tuyết, Nguyên Hồng 12 tuổi; Huy Cận, Nguyễn Bính, Bùi Hiển 11 tuổi; Tố Hữu, Chế Lan Viên, Tô Hoài 10 tuổi… Lớn hơn có Khái Hưng 34 tuổi, Hoài Thanh 21 tuổi. Nhỏ hơn có Tế Hanh 9 tuổi”. [1]

Đọc thông tin này làm chúng ta không khỏi giật mình và kinh ngạc về khả năng tư duy và nhận thức về cuộc sống, xã hội của thế hệ trẻ nước nhà những năm trước 1945 nếu so với khả năng tư duy và nhận thức của thế hệ trẻ nước nhà hiện nay. Làm thế nào mà những người có tuổi đời còn rất trẻ lại có thể cầm bút sáng tác thơ văn, thậm chí là viết phê bình và tranh luận các vấn đề học thuật trên báo chí thời ấy một cách đầy tự tin và bản lĩnh như thế? Chắc chắn là do nhiều yếu tố nhưng có một yếu tố quan trọng hơn cả đó là do tư duy của nền giáo dục thời ấy (khoa học, dân chủ và cầu thị…) đã tác động và rèn luyện cho họ. Không biết những người trong bộ máy điều hành và quản lý giáo dục của chúng ta nghĩ gì nếu như biết rằng ngày nay các em học sinh lớp 12 và nhiều sinh viên đại học ra trường rồi nhưng viết không nổi một câu văn; không dám đứng lên trình bày quan điểm và suy nghĩ của mình trước lớp; cả xã hội năm nào cũng vậy đến mùa thi phải “đầu tắt mặt tối” “tiếp sức” cho các em… Trong khi đó cùng trang lứa với các em thì Chế Lan Viên ngày xưa đã cho xuất bản tập thơ Điêu tàn nổi tiếng, Hoài Thanh thì cho ra đời Thi nhân Việt Nam – công trình phê bình văn học xuất sắc của thế kỷ XX…?

Thê thảm lắm rồi, phải dũng cảm “nhìn nhận” để cải cách thôi (nhưng không phải bằng các “phong trào” mang nặng tính “đối phó” rất hình thức như hiện nay)!

Cần Thơ, 13/4/2011
Nguyễn Trọng Bình
Nguồn: Viet-Studies, ngày 17/04/2011

[1] Nguyễn Đăng Mạnh, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam giai 1930-1945. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2000



Bài Xem Nhiều