We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 22 April 2011

Hoài niệm Ngày 30 tháng Tư : TÌM MÃI YÊU THƯƠNG

THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 22.4.2011
Suốt 36 năm dài, một Nhà báo ở Hà Đông đi “tìm mãi yêu thương” khi hoài niệm Ngày 30.4

PARIS, ngày 22.4.2011 (QUÊ MẸ) - Cơ sở Quê Mẹ vừa nhận được bài viết của Nhà báo Nguyễn Thượng Long gửi từ Hà Đông nói lên tâm trạng của cả một thế hệ ở miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa khi nghe tin “chiến thắng 30 tháng Tư năm 1975”. Rồi từ đó, “chiến thắng” ấy đưa dân tộc đi về đâu ? đưa nhân dân vào chốn “thiên đàng” nào ? Tác giả chỉ thấy một Pháp Trường Trắng dựng lên trên đất nước và trong lòng người. Pháp Trường Trắng, nói theo sự ví von của Nhà văn Nguyễn Tuân, là “Nơi không có đầu rơi, không có máu chảy, nhưng có người chết”.

Lâu nay, đa số người hải ngoại thường nghe nỗi lòng người miền Nam trước mối tang thương trầm thống của Tháng Tư Đen. Nhưng ít khi dược nghe nỗi lòng người miền Bắc về bi kịch lớn của dân tộc, thì đây là một trong những tiếng nói ấy của nhà báo Nguyễn Thượng Long.

Xin giới thiệu bạn đọc toàn văn bài viết ấy sau đây :

Hoài niệm Ngày 30 tháng Tư :

TÌM MÃI YÊU THƯƠNG

“Xin kính dâng bài viết này cho Mẹ
và Quê Hương Việt Nam thân yêu”. (NTL)

Khi những cánh cổng sắt nặng nề của dinh Độc Lập bị các chiến xa và xe tăng Quân Giải Phóng húc đổ vào trưa 30 – 4 – 1975, thì trong một căn phòng nhỏ ở đường Yết Kiêu Hà Nội, có một người đàn ông gương mặt u uẩn, tóc trắng xoá xoã vai đang trầm ngâm bên chén rượu và cây đàn piano, ngay lúc đó, trong tay ông cây đàn đã rung lên những hợp âm làm xao xuyến lòng người :

“Từ nay người biết yêu người,
Từ nay người biết thương người ”.

Người đàn ông đó là nghệ sĩ đa tài Văn Cao và những ca từ, hợp âm trên cũng là tiết tấu chính, cảm hứng chủ đạo cho ca khúc tràn đầy tính nhân bản “Mùa Xuân Đầu Tiên”, cũng là ca khúc cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác văn – thơ – nhạc – hoạ đầy trắc trở của ông.

***

Tôi nghĩ rằng đã là người Việt Nam, dù là người chiến thắng hay là kẻ chiến bại, dù ở đâu trên mặt đất này thì ai ai vào ngày tháng đó cũng thở phào và không ít thì nhiều đều có chung cảm hứng yêu thương nhau như vậy. Nhưng những gì đã diễn ra sau mốc lịch sử đó lại không hoàn toàn như vậy, đến nỗi hơn mười năm sau (1987), ngày ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ, nhà văn NHT một lần phải thốt lên : “Vinh quang nào mà chẳng xây trên những nỗi điếm nhục !”. Tôi không biết tâm trạng của anh NHT lúc đó như thế nào mà lại phải thốt lên lời dữ dội như vậy.

Thế hệ chúng tôi và anh NHT sinh ra và lớn lên cùng với sự ra đời của nhà nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Độc lập Tự do Hạnh phúc”. Tuổi ấu thơ chúng tôi trôi đi cùng với những cuồng nộ của một thế thái nhân tình rất xa lạ với những phẩm chất truyền thống của một dân tộc bản chất là hiền hoà. Kí ức đầu đời của thế hệ chúng tôi chưa thể nhạt nhoà về những gì đã đến sau những phát triển quái gở của chủ thuyết “Đấu tranh giai cấp”, về con đường chuyên chính vô sản, về bạo lực cách mạng mà những người cộng sản đã du nhập vào đất nước chúng tôi. Vẫn còn nguyên đó những câu hỏi đầy ám ảnh :

- Tại sao lại phải “Đào tận gốc, trốc tận rễ” đám Trí – Phú – Địa – Hào… rồi bây giờ lại gọi đó mới chính là nguyên khí của đất nước !

- Tại sao sau CCRĐ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải thay mặt Đảng thanh minh trước quốc dân đồng bào rằng : Một Đảng biết nhận ra khuyết điểm của mình, Đảng đó còn có thể tiến bộ, rồi ông lặng lẽ rút khăn tay lau nước mắt. ( !?).

- Tại sao lại phải cải tạo thực ra là đánh sập công thương nghiệp tư bản tư doanh tới 2 lần (Miền Bắc sau năm 1954 – Miền Nam sau 30/4/1975). Sau 1986 đến nay lại phải làm lại gần như từ đầu.

- Tại sao lại phải mở ra các “Pháp trường trắng” trong vụ đàn áp nhân văn giai phẩm và xét lại chống Đảng. Pháp trường trắng là : “Nơi không có đầu rơi, không có máu chảy, nhưng có người chết” – (Nguyễn Tuân). Thời gian và năm tháng đã trôi qua đã đủ để minh oan cho những con người tài hoa, dũng cảm và trung thực đó. Đến nay trên thực tế không ít người trong họ đã được vinh danh trở lại thì hỡi ôi người còn, người mất, người đang sống nhưng phải sống đời sống thực vật, cỏ cây, người tha hương biệt xứ mãi mãi ôm theo những kí ức đầy ám ảnh nặng nề, tại sao lại phải làm như thế ?

Hôm nay, lại một ngày kỷ niệm 30/4 nữa đến với đất nước chúng ta, dân tộc chúng ta. Cái ngày lịch sử mà cựu Thủ tướng, cựu Uỷ viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Võ Văn Kiệt đã từng ngậm ngùi mà nói : “Có triệu người vui ! Cũng có triệu người buồn !”. Không biết có phải vì đây là tiếng nói của một lãnh tụ cao cấp mà có tình trạng người vui thì gọi ngày 30 – 4 là ngày “Quốc Khánh”, còn người buồn thì gọi ngày này là ngày “Quốc Hận !”, xin được phép hỏi :

Tại sao sau ngày 30/4/1975 ngày con Lạc ở miền Bắc chiến thắng cháu Hồng ở miền Nam, người chiến thắng không thực lòng hoà hợp, hoà giải mà lại tạo ra những thương tổn không đáng có trong lòng những kẻ bại trận. Những ngày tháng tù đầy, cải tạo và phân biệt đối xử với quân nhân, viên chức chính quyền cũ và vợ con gia đình họ đến nay vẫn là những kí ức đầy hãi hùng. Vì những hãi hùng này mà ngày đó hàng triệu người con đất Việt phải liều thân bỏ xứ ra đi, mong kiếm tìm một vận hội mới. Người chiến thắng không chỉ làm ngơ mà còn không hiếm những kẻ trục lợi dựa trên cuộc tháo chạy kinh hoàng diễn ra trong nhiều năm đã làm biết bao gia đình tan nát, bao nhiêu người phải chết trong tuyệt vọng, phải khuynh gia bại sản, phải nhơ nhuốc vì hải tặc, phải hoài thân trong bụng cá, phải bỏ xác trên đảo hoang. Người sống sót không mấy ai tránh khỏi những sang chấn tinh thần không dễ bình phục.

Sau nhiều năm tha hương biệt xứ, nay người thành đạt, người không thành đạt, nhưng mỗi khi nhớ về quê hương, xứ xở bên cạnh những bồi hồi là nỗi ngậm ngùi : “Tổ Quốc ! Một dĩ vãng cần phải quên đi”. Đến nay đã có nhiều nhân vật nổi tiếng của chế độ VNCH… quyết định tìm về cố quốc với nhiều lý do, nhưng thực ra chỉ để được gửi nắm xương tàn, đã phải nhắm mắt bước qua những thị phi của người trong nước, phải bịt tai trước những la ó, của nhiều tha nhân cùng cảnh ngộ. Đặc biệt trong đoàn người ra đi năm đó, đến nay vẫn có quá nhiều người dường như vẫn chưa ra khỏi những ám ảnh của hận thù, thậm chí nhiều người vẫn thề không đội trời chung, không đứng cùng đất với cộng sản, đó chính là nguyên nhân làm nổ ra những cuộc biểu tình phản đối các vị nguyên thủ hôm nay của Việt Nam khi họ xuất ngoại, đặc biệt khi họ công cán qua những nơi có đông người đồng bào của mình ở & thực tế đã cho hay, cũng chẳng có gì là vui vẻ dành cho các nguyên thủ cũ, các nhân vật nổi tiếng của VNCH khi họ trở về Việt Nam. Sự dè bỉu đến với họ không chỉ đến từ những người Quốc Gia đang ở hải ngoại, mà còn đến từ chính những người dân trong nước. Nhiều người trong nước đã có một thái độ hợp lý đối với họ, nhưng đâu có phải người trong nước nào cũng vui vẻ với họ. Cho đến lúc này, không chỉ ở những hãng thông tấn vỉa hè, tôi chứng kiến quá nhiều người Việt Nam ở trong nước vẫn còn vô tư ngộ nhận rằng năm 1972 chính ông Nguyễn Cao Kỳ đã chỉ huy chiến dịch giải cứu tù binh Mỹ bị giam giữ ở quê hương Sơn Tây của ông ! Hãy nghe mấy ông Nhạc Sĩ Nhân Dân, đỏ ngực là huân chương, huy chương là giải thưởng nhà nước...lườm nguýt, chê bai, dè bỉu những gì về ông Phạm Duy ngay trên những trang báo lề phải.

Sau hơn 36 năm, với những gì mà chúng ta quan sát được cho thấy, ngày 30/4 đâu có hoàn toàn chỉ là biểu tượng của sự toàn bích. Bên cạnh những giá trị tự thân, ngày đó cũng làm xuất hiện những chia rẽ mới rất đáng tiếc đối với nhiều thế hệ người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước như điều mà ông Võ Văn Kiệt đã nói : “Triệu người vui – Triệu người buồn”.

Tôi tin rằng đến nay nếu phải nhắc lại cuộc chiến tranh đó, nghĩ lại những gì đã xẩy ra trong ngày 30 / 4 / 1975, người Mỹ chỉ coi đó là một kỷ niệm buồn cùng với những toan tính thành công và cả không thành công của họ. Điều gọi là“ Hội chứng Việt Nam vẫn còn là bóng ma ám ảnh nước Mỹ” chỉ là sản phẩm của tưởng tượng.

Chưa người Việt Nam nào đã quên Tuyên Bố Thượng Hải ngày 28 /2 /1972. Đó là cuộc mặc cả trên lưng người Việt Nam ở cả 2 miền của Hoa Thịnh Đốn và Trung Nam Hải, là cú “Đi Đêm” đầy tai tiếng giữa Nixon và Mao. Đặc biệt là sau khi Hội Nghị Ba Lê được các bên ký kết, Mỹ chính thức bước ra khỏi cuộc chiến, bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà, Mỹ không chỉ có lỗi với đồng minh chiến lược của mình, Mỹ có lỗi với cả dân tộc Việt Nam khi dửng dưng, ngoảnh mặt đi để Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam (1974) và từ đó cho tới ngày 30 / 4 / 1975 trong tiếng gầm thét của cỗ máy chiến tranh trong tay người Việt Nam, chỉ có người Việt Nam chúng tôi ở 2 bên là ngã xuống trong cuộc lao vào nhau, chém giết nhau, thanh toán nhau chí mạng chứ đâu có người Mỹ.

Để khai thông được con đường vào Hoa Lục, ngay từ ngày đó, người Mỹ đã tạo ra một tư thế Địa Lý Chính Trị rất bất lợi cho dân tộc chúng tôi khi chúng tôi phải tồn tại bên cạnh “Anh chàng khổng lồ” đầy tham vọng Trung Quốc đã tay trong tay với Hoa Kỳ lúc mà Liên Xô đồng minh chiến lược của Việt Nam đã quá già yếu.

Hình ảnh một Đặng Tiểu Bình, 10 h sáng 29/1/1979 tại thảm cỏ trước Nhà Trắng, xúng xính trong bộ đồ của một cao bồi miền viễn tây nước Mỹ và những gì mà ông ấy đã nói ở đó về “Mèo Trắng – Mèo Đen”, về kế hoạch sẽ dậy cho bọn tiểu bá côn đồ Việt Nam một bài học đã là quá đủ để nói : Người Mỹ đâu có trắng tay sau cuộc chiến ở Việt Nam. Nếu sau ngày 30 / 4 / 1975 người Mỹ không dang tay đón nhận làn sóng Thuyền Nhân Việt Nam bỏ xứ ra đi…thì hình ảnh Hiệp Sĩ Nhân Quyền Hoa Kỳ chắc chắn sẽ hoen ố, sẽ chẳng ra gì trong con mắt của người Việt Nam.

Về một phương diện khác, tôi nghĩ : nếu người chiến thắng vẫn cứ giữ mãi nỗi hoan hỉ ngày 30 / 4 là ngày đánh dấu sự kiện “Đánh cho Mỹ cút – Đánh cho nguỵ nhào”, chúng ta cũng sẽ rất khó giải thích những chuyển động chính trị trong xã hội Việt Nam những ngày gần đây.

Về mối quan hệ hôm nay giữa Mỹ và Việt Nam, bên cạnh xu thế nồng ấm thì lại mới có một sự cố thật khó hiểu. Chỉ vì đến thăm Linh Mục Nguyễn Văn Lý mà ngài tùy viên chính trị sứ quán Hoa Kỳ bị mấy ông an ninh Huế cho “Lên bờ xuống ruộng” mà sau đó Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng chỉ khiêm nhường bầy tỏ “Sự quan ngại...”, dường như người Mỹ thời Obama không mặn mà với quyền con người cơ bản thì phải ! Người Mỹ đang toan tính gì ? Ban lãnh đạo Việt Nam đã gửi đi thông điệp gì từ vụ ra tay này ? Không biết dân tộc chúng tôi sẽ đi về đâu trong tư thế Địa Lý - Chính Trị mới với sự xưng hùng xưng bá ngày càng công khai của Trung Quốc, sự lùi bước đã đến giới hạn cuối cùng của ban lãnh đạo Việt Nam trước Thiên Triều, sự ngày càng xa rời những mục tiêu dân chủ của nước Nga đồng minh cũ của Việt Nam, sự suy yếu trông thấy của siêu cường Nhật Bản, sự vùng lên của Bắc Phi và Trung Đông, cùng với sự hiện diện ngày càng sâu của sức mạnh Hoa Kỳ trên Biển Đông và Đông Nam Á. Đây là câu hỏi bỏ ngỏ xin dành cho tất cả mọi người Việt Nam còn quan tâm tới thời cuộc.

Chúng ta vẫn thường tự tôn về truyền thống văn hiến hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, trong khi đó nước Mỹ chỉ mới lập quốc hơn 230 năm, nhưng sau chiến tranh Nam – Bắc Mỹ (1862 – 1865), giữa bên chiến thắng và bên chiến bại … họ đã có cách hành xử hòan toàn khác chúng ta là : Lấy sự hoà hợp thay cho oán thù.

Sau ngày 30/4/1975, không làm như người Mỹ, chúng ta cũng chẳng làm như tổ tiên chúng ta đã làm trong những tình huống tương tự. Những gì đã diễn ra sau thời điểm đó được hiểu như một cuộc tính sổ không cần thiết giữa kẻ thắng và kẻ bại trận. Nhiều người thuộc thế hệ tôi đã từng đặt ra một hoán vị giả định :

Sau hiệp nghị Giơnevơ 1954, phía Bắc vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân miền Nam họ sẽ sống với Đảng cộng sản. Đảng sẽ dúi vào tay họ khẩu AK47 được sản xuất từ Liên Xô. Nam vĩ tuyến 17 sẽ là những người dân của miền Bắc. Họ sẽ sống với những người quốc gia. Trong tay họ là những khẩu AR15 được sản xuất ở Hoa Kỳ hay ở Tenavip. Điều gì sẽ xảy ra đây ? Lịch sử sẽ phải viết khác đi chăng ? Tôi nghĩ rằng không thể. Người miền Nam mà sống ở miền Bắc cũng sẽ biết thế nào là đấu tố trong cải cách ruộng đất, thế nào là :

“Mang bục công an đặt giữa trái tim người,
Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước”

(Lê Đạt)

sẽ phải thắt lưng buộc bụng, phải làm viêc bằng 2 để xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn phải dốc sức để “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” như lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh. Người miền Bắc sống ở miền Nam cũng làm sao mà tránh khỏi những ngày quân trường Thủ Đức, có học hành chút ít như trang lứa chúng tôi tránh sao khỏi những ngày võ bị Đà Lạt ! Rồi tất cả cũng phải dốc sức để “Bắc Tiến”, để “Lấp sông Bến Hải !”, dốc sức để “Kéo dài biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17” như lời kêu gọi của ông Ngô Đình Diệm, phải tiếp thụ những huấn thị : “Đừng nghe những gì cộng sản nói – Hãy nhìn xem những gì cộng sản làm” của ông Nguyễn Văn Thiệu, phải cầm phấn viết tên mình lên những trái bom sẽ ném xuống đầu người dân Miền Bắc như những gì mà ông Nguyễn Cao Kỳ đã từng phải làm lần ông ra sân bay Đà Nẵng.Và nếu như lịch sử lại có một kết cục ngược lại, ngày 30 /4 / 1975 lại kết thúc chiến tranh ở Hà Nội ! thì liệu người dân Miền Bắc có thoát được những cuộc tập trung cải tạo để tẩy não như ngày nào ông Diệm “Tố Cộng”, lê máy chém đi lấy đầu cộng sản theo Luật 10/ 59 ! Vậy là bi kịch vẫn đến với dân tộc chúng ta như một thứ tiền định.

Thế thì không chỉ người dân mà những kẻ buộc phải cầm súng ở cả hai bên xét cho cùng đều là những quân cờ vô tội trên bàn cờ xung đột ý thức hệ do những triết thuyết ngoại lai chi phối. Hoàn toàn đúng như những gì mà nhà thơ Nguyễn Duy đã viết trong bài thơ “Tổ quốc nhìn từ xa” :

“Xét cho cùng với mọi cuộc chiến tranh
Một bên thắng còn nhân dân đều bại !”

Nếu các “Đấng chăn dân” ở cả hai bên cùng nghĩ được như thế, thảm kịch đã không xảy ra. Kho tàng tiếng Việt đã không phải xuất hiện những cụm từ quá biểu cảm “Thuyền nhân” (Boat People để chỉ những người bỏ quê hương ra đi bằng thuyền). Sau này là cụm từ “Dân oan” ( Chỉ những người dân gặp phải oan ức trong đời sống Việt Nam đương đại). Vào những tháng năm ly loạn đó, không một ai nghĩ rằng lại đến lúc những kẻ : “Macô, đĩ điếm, lười lao động đáng nguyền rủa” lại được Đảng ta “Trìu mến” gọi là “Khúc ruột ngàn dặm !”… Không mấy ai nghĩ được lại có lúc nhiều tỉ USD hàng năm đã lăn ngược những con đường đầm đìa nước mắt của những thuyền nhân bỏ xứ lăn tìm trở về tiếp máu cho đất nước đang ngày càng tụt hậu với khu vực và quốc tế, đang loay hoay kiếm tìm “Chiếc Lá Diêu Bông” xã hội chủ nghĩa !. Điều này là một bất ngờ là một trớ trêu của lịch sử dân tộc. Nhưng lần này có thể nói đó là một trớ trêu có hậu.

Hôm nay, Đảng đã hạ mình nhận anh, nhận em với những người bỏ xứ. Ngay từ Xuân Mậu Tý, ông Nguyễn Minh Triết - Chủ Tịch nước, ông Phạm Thế Duyệt nguyên UVBCTĐCSVN, nguyên Chủ Tịch MTTQVN, ông Nguyễn Cao Kỳ - Nguyên Phó Tổng Thống, Nguyên Thủ Tướng VNCH, ông Đỗ Mậu – Nguyên Tổng Thanh Tra quân lực VNCH, ông Phạm Duy – Nguyên cán bộ văn hoá kháng chiến của chiến khu Việt Bắc, một trong ba nhạc sĩ nổi tiếng nhất trong lịch sử âm nhạc Việt Nam đương đại ( Phạm Duy – Văn Cao – Trịnh Công Sơn) đã hoà hợp dân tộc ở mức tay trong tay mà ánh mắt nhìn nhau chưa hết bẽ bàng !


Nguyên Phó Tổng Thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ và Chủ Tịch CHXHCN VN Nguyễn Minh Triết đang tay trong tay.

Nhạc Sĩ Phạm Duy với Sổ Hộ Khẩu và Chứng Minh Thư nhân dân.

Vào thời điểm tôi đang viết những dòng chữ này, các Fan hâm mộ các ca sĩ hải ngoại của cư dân nơi tôi ở đang vô cùng háo hức đón chờ thế hệ hậu duệ của những tài danh Chế Linh (Chế Phong), người hùng Biệt Động Quân Duy Khánh với quý tử Chế Phi cùng với những siêu sao cỡ Thanh Tuyền, Tuấn Vũ, Elvis Phương, Trường Vũ, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên… đã “Nối vòng tay lớn” điều mà cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ao ước ngay từ buổi trưa 30/ 4 của 36 năm về trước ! Sao lại phải muộn màng đến như vậy ! Đây thực sự là hoà hợp hay chỉ là một thứ chính trị thớ lợ !?...Hay đây là một dẫn chứng sinh động cho điều mà ông Võ Văn Kiệt đã từng nói : “Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ Quốc Việt Nam không của riêng một ai, một Đảng, một phe phái, hay một tôn giáo nào”. Những cuộc “Nối vòng tay lớn” tương tự đã, đang và có thể sẽ còn diễn ra dồn dập hơn nữa, liệu quá trình đó có làm lu mờ đi vừng hào quang của chiến thắng 30/4/1975 ?

Câu trả lời đã quá rõ : Chúng ta đã “Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của… (không) trí tuệ” ( Hà Sĩ Phu) và cái giá của cuộc tương tàn để có một xã hội như thế này…thật là thê thảm & vô nghĩa. Tôi nghĩ, nếu được làm lại thì những người Việt Nam yêu nước, thương nòi, có văn hoá, có nhân cách, có lòng tự trọng… sẽ hành xử khác những gì mà những người chiến thắng đã làm sau ngày 30 – 4 – 1975.

Thử hỏi trong lịch sử dân tộc, có giai đoạn nào, có thời kỳ nào và vì ai mà nội lực dân tộc bị huỷ hoại, suy yếu vì chia rẽ, vì ngờ vực lẫn nhau lại dai dẳng, bi thương, sâu sắc & nghiêm trọng đến như vậy ! Tương lai của dân tộc rồi sẽ ra sao ? Ai là người có lỗi trước tiền nhân ? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây ?

Thế mới biết : Con đường để Việt Nam đi đến dân chủ là không hề đơn giản như tên gọi của các loài hoa. Ngày mà người Việt Nam ở trong nước cũng như ngoài nước có được một tiếng nói chung, một lộ trình chung, một đề án chung để Tổ Quốc Việt Nam hiện diện trong thế giới nhốn nháo này ở tư thế ngửng cao đầu, xứng tầm với những gì mà dân tộc lẽ ra phải được khẳng định từ lâu rồi, những gì mà Văn Cao ao ước :

“Từ nay người biết yêu người,
Từ nay người biết thương người”.

có lẽ vẫn còn xa vời lắm và lại như một định mệnh, với “BỮA TIỆC DÂN CHỦ” của nhân loại, chúng ta sẽ vẫn chỉ “MÃI MÃI LÀ NGƯỜI ĐẾN SAU”.

Lời cuối : Khi giao tiếp với cuộc đời, tôi đã phải nhân danh rất nhiều tư cách. Khi tôi chống tiêu cực trong giáo dục, khi tôi bênh vực những người là dân oan, khi tôi cầm lá phiếu đi bầu, khi tôi tự ứng cử Quốc Hội 12, khi tôi “Sống, làm việc theo Hiến Pháp và Pháp Luật”, khi tôi thực thi những gì trong các Tuyên Ngôn – Công Ước quốc tế mà chính phủ Việt Nam đã cam kết thực hiện, khi tôi thực thi quyền tự do ngôn luận , tự do báo chí, quyền được phản biện và bảo lưu chính kiến của mình…đấy là tôi sống với tư cách một “Con Người Chính Trị”, “Con Người Công Dân”. Khi tôi phải gồng mình lên trước những nghịch cảnh đến từ thiên nhiên , đến từ chính đồng loại của mình theo kiểu “Con giun xéo lắm cũng quằn”, hoặc khi tôi đi theo tiếng hú gọi từ “Nơi Hoang Dã” …ấy là tôi đã sống trong tư cách của “Con Người Bản Năng – Con Người Sinh Học” và dù phải hiện diện trong trong tư cách nào thì tất cả phải chung một mẫu số CHÂN – THIỆN – MỸ. Để viết bài này, tôi đơn giản chỉ nhân danh là “Con Người Chính Trị”, “Con Người Công Dân” khi bầy tỏ những hoài niệm của tôi về ngày 30 / 4 / 1975, mốc thời gian đã đi vào lịch sử của dân tộc với biết bao hệ luỵ chi phối tới đời sống tinh thần của toàn thể cộng đồng.

Có thể lắm, khi đọc bài viết này, sẽ có người lên án tôi, bóc mẽ tôi chỉ vì tôi không suy nghĩ như họ. Xin mời ! Tôi chủ trương không đối lời, không tranh biện. Tôi “không…” không phải là tôi không dám…tất cả cũng chỉ vì tôi là một tín đồ của ĐA NGUYÊN, là tín đồ của đa nguyên, tôi chấp nhận mọi ý kiến đối lập.

Nhân đây tôi có lời minh định về việc có một số trang báo khi khai thác bài “Cách Mạng đâu có đơn giản chỉ là hiệu ứng của đám đông” của tôi, đã có sự biên tập không chính xác so với văn bản gốc. Cụ thể, tôi viết : “Với tư cách là một con người chính trị…”, đã được biên tập lại thành : “ Với tư cách là một người hoạt động chính trị…”. Việc xuất hiện động từ “Hoạt Động” trong cụm từ “một người hoạt động chính trị” đã gây ra những ngộ nhận không đúng về tôi.

Những sai lạc này là đáng tiếc, rất cần được nhìn nhận và rút kinh nghiệm./.

Thành phố Hà Đông những ngày đầu tháng 4 năm 2011
Nhà Báo : NGUYỄN THƯỢNG LONG

NHỮNG NGÀY ĐÁNG NHỚ CỦA THÁNG TƯ ÐEN 1975.


Ðể nhớ lại các sự kiện cuối cùng xẩy ra trong những ngày của tháng tư đen 1975, đã đưa đến kết thúc một cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn khốc liệt do cộng sản Bắc Việt gây ra kéo dài 21 năm (1954-1975) và để nhớ lại lý do chúng ta có mặt trên xứ sở này từ 36 năm qua là gì, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả và độc giả Việt Nam khắm nơi một số sử liệu sau đây:

Ngày 1 – 4 – 1975, Ở phía Bắc Trung phần Việt Nam, Sư Ðoàn 22 Bộ Binh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trên đường rút lui khỏi Quảng Ngãi di tản về Qui Nhơn đã bị cộng quân dùng chiến xa và pháo binh truy kích. Tính đến ngày này, hơn phân nửa lãnh thổ của Miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay cộng quân. Trong tuần lễ đầu của tháng 4, cộng quân đã có mặt ở tỉnh Long An cách thủ đô Sài Gòn 30 dặm về phía Nam, cắt đứt quốc lộ 4 nối liền Sàigòn với Cần Thơ, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 4 với Tư Lệnh Vùng là Tướng Nguyễn Khoa Nam.

Từ ngày 6 đến ngày 15 tháng 4 năm 1975, hai Trung Ðoàn thuộc Sư Ðoàn 2 Quân Lực VNCH và một Tiểu Ðoàn Nhẩy Dù được không vận ra phi trường Phan Rang để chặn đứng bước tiến của cộng quân. Tướng Nguyễn Vinh Nghi chỉ huy cuộc hành quân này sau đó bị cộng quân bắt sống khi chúng tấn công và chiếm đóng Phan Rang. Tính đến ngày 7 tháng 4 năm 1975, cộng quân đã chiếm đóng 2/3 lãnh thổ Miền Nam Việt Nam. Ngày 8-4, Tướng Frederick Weyand, nguyên Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam đã phúc trình trước Quốc Hội Hoa Kỳ là Nam Việt Nam không thể tồn tại được nếu khống có sự trợ lực của Hoa Kỳ. Cũng trong ngày này Tổng Thống Thiệu cử Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn làm Thủ Tướng thay Ðại Tứơng Trần Thiện Khiêm thành lập nội các mới.

Từ ngày 8 đến ngày 21 tháng tư năm 1975, tại Xuân Lộc, Sư Ðoàn 18 Bộ Binh do Tướng Lê Minh Ðảo chỉ huy đã bị 2 Sư Ðoàn cộng sản Bắc Việt bao vây. Mặc dầu được tăng cường thêm Sư Ðoàn 5 Bộ Binh và Tiểu Ðoàn 1 nhẩy dù để bảo vệ Xuân Lộc, song với 4 Sư Ðoàn Cộng quân tấn công, lại không được không quân thả dù tiếp tế đạn dược và các tiếp liệu khác, nên ngày 21-4-1975, các lực lượng phòng thủ này đã phải rút khỏi Xuận Lộc, sau khi hai qua bom CBU đã được không lực ném xuống các vị trí cộng quân gây tổn thất nặng nề cho đối phương. Sau đó Tướng Lê Minh Ðảo và một số đông binh sĩ đã bị cộng quân bắt làm tù binh

Từ ngày 21 đến 28-4-1975, sau khi Xuân Lộc phòng tuyến cuối cùng bảo vệ mạn Bắc Sài gòn thất thủ, Tổng Thống Thiệu từ chức, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương theo Hiến Pháp trở thành Tổng Thống, đã liên lạc với Tướng Dương Văn Minh, người chủ trương hòa giải hòa hợp với cộng sản, mong tìm một giải pháp cứu vãn tình hình. Nhưng Dương Văn Minh đòi Tổng Thống Hương phải chuyển giao chức vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa cho mình nói là để có tư cách thương lượng với cộng sản và để tránh cuộc tàn sát Sài gòn của cộng quân. Cùng lúc ấy đài phát thành Hà Nội và các đài của cộng sản loan báo là “chỉ chấp nhận thương thảo với Dương Văn Minh mà thôi”.

Ông Merillon Ðại sứ Pháp ở Sài gòn cho biết sẽ lãnh trách nhiệm dàn xếp một cuộc thương thảo giữa Dương Văn Minh và cộng quân. Mặc dầu đòi hỏi của Dương Văn Minh hoàn toàn trái với hiến pháp, song phải chấp nhận do tình hình thực tế, nên khuya ngày 27-4-1975, theo đề nghị của Tổng Thống Trần Văn Hương, Quốc Hội lưỡng viện Việt Nam Cộng Hịa đã biểu quyết chấp nhận cho Dương Văn Minh trong chức vụ Tổng Thống VNCH ngoài dự liệu của Hiến Pháp. Ngày hôm sau 28-4, sau khi nhận chuyển giao quyền từ Tổng Thống Hương, Dương Văn Minh cử giáo sư Vũ Văn Mẫu làm Thủ Tướng chính phủ thay thế Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn..

Ngày 29-4-1975,các đơn vị cộng quân đã xiết chặt vòng vây tiến vào Sài gòn. Cùng ngày này Dương Văn Minh lên đài phát thanh ra lệnh cho Quân Lực VNCH buông súng đầu hàng và đòi hỏi người Mỹ phải rút khỏi Việt nam trong 48 giờ, như tạo thuận lợi cho ý định thành lập một “Chính Phủ Hòa Giải Hòa Hợp” với cộng sản. Thế nhưng cùng hôm này, tại Paris Pháp Quốc, đại diện của công cụ Cộng Sản Bắc Việt là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã cho Bộ Ngọai Giao Pháp biết “Dương Văn Minh cũng không thể chấp nhận được và quân cộng sản Bắc việt sẽ tiến chiếm Sài Gịn bằng võ lực”. Sau đó 8 Sư đoàn chính quy cộng sản Bắc viết đã tiến chiếm Sài gòn vào đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4 năm 1975, trước sự phủi tay của Hoa Kỳ và sự làm ngơ của quốc tế, nhất là các cường quốc đã cùng ký tên trong bản Hiệp Ðịnh Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại Hịa Bình Việt Nam ngày 27-1- 1973.

Trên đây chúng tôi vừa nhắc lại các sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị xẩy ra trong tháng Tư Ðen 36 năm trước đây như là bài học kinh nghiệm lịch sử và là dịp nhắc nhở tất cả đồng hương chúng ta về lý do chúng ta có mặt trên xứ sở này chẳng phải vì lý do kinh tế mà vì lý do chính trị. Từ đó, cùng nhau kiểm điểm lại những gì cộng đồng chúng ta đã làm được hay chưa làm được cho nhiệm vụ chính trị đối với Quê Mẹ Việt Nam. Đó là nhiệm vụ đấu tranh cho mục tiêu đập vỡ bạo quyền cộng sản để dân chủ hóa và phát triển đất nước. Kiểm điểm để rút kinh nghiệm cho giai đọan đấu tranh trước mắt, mà những biến chuyển tình hình quốc tế tại vùng Trung Cận Đông đã và đang có nhiều thuận lợi cho giai đọan đấu tranh cuối cùng, sao cho có hiệu quả dứt điểm được càng sớm càng tốt, một chế độ độc tài toàn trị, phản dân hại nước, đã thống trị đất nước, đè dầu cưỡi cổ, độc quyền áp bức, bóc lột nhân dân ta hàng nửa thế kỷ qua.



Thiện Ý

Ngày 21 tháng 4 năm 2011

Ý Nghĩa lịch sử 30-4-1975

THUA ÐỂ THẮNG, CỘNG SẢN THẮNG ÐỂ THUA

Ðúng 36 năm trước đây, ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến tranh Quốc-Cộng giai đoạn 2 tại Việt Nam đã chấm dứt sau 21 năm diễn biến khốc liệt (1954-1975). Một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt như thế, nhưng đã kết thúc nhanh gọn và khá bất ngờ với cả hai phe bản xứ tham chiến: Việt Quốc và Việt Cộng.

Sau cuộc chiến, đã có nhiều cách lý giải và đánh giá về sự kết thúc chiến tranh Việt Nam một cách không bình thường. Riêng chúng tôi, nhân ngày 30 tháng 4 lần thứ 36 hôm nay, chỉ xin nhắn lại một đánh giá tổng quát mà chúng tôi đưa ra từ lâu ( được lý giải qua tập “Tài Liệu Nghiên Cứu Lý Luận: Việt Nam Tong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới”, khởi thảo từ trong nước năm 1977, ấn hành lần đầu năm 1995 và tái bản năm 2005 tại Hoa Kỳ), được nhắc lại nhiều lần qua các bài viết để quý thính giả và độc giả cảm nghiệm xem có đúng với những gì đã và đang xây ra trên thực tế hay không. Ðó là “ 30-4-1975: Quốc gia thua để thắng, Cộng sản Thắng để thua”. Vì sao?

Vì cả lý luận lẫn thực tiễn, chẳng cần đợi sau 36 năm, mà đã từ lâu, ngày một khẳng định giá trị của sự đánh giá tổng quát này.

Thật vật, vào ngày 30-4-1975 chấm dứt chiến tranh và một thời gian sau đó, quả thực nhiều người đã nghĩ rằng: Ðảng CSVN và chế độ độ XHCN độc tài Miền Bắc đã thắng người Việt Quốc Gia và chế độ VNCH ở Miền Nam Việt Nam. Ðiều này dễ hiểu, vì dưới cái nhìn hiện tượng, trong một cuộc chiến giữa hai phe, bên nào tiêu diệt được đối phương chiếm được mục tiêu sẽ là kẻ chiến thắng. Công sản Bắc Việt đã đạt mục tiêu thôn tính Miền Nam bằng chiến tranh vào ngày 30-4-1975,thì như vậy cứ nhìn hiện tượng rõ ràng phe CSVN đã thắng phe Quốc Gia Việt Nam (QGVN).

Tuy nhiên chẳng bao lâu sau đó, thực tế đã dần dần ghi nhận và cho đến hôm nay có thể khẳng định không sợ sai lầm rằng: “Cộng sản đã THẮNG để THUA”. Cái chiến thắng mà họ có được, chỉ là “chiến thắng biểu kiến” (giả tạo). Và ngày 30-4-1975 chỉ là điểm mốc thời gian của một quá trình đưa CSVN đến sự thua bại hoàn toàn vào cuối quá trình này.Vì sao?

Vì CSVN vốn là công cụ bành trướng chủ nghĩa thực dân mới của Ðế quốc Ðỏ Nga Xô. Do đó ý đồ và mục tiêu của đảng CSVN không thể khác ý đồ và mục tiêu của đảng Cộng Sản Nga Xô (CSNX). Như vậy, thực tế sau ngày 30-4-1975 CSVN phải được Nga Xô và các nước “Xã Hội Chủ Nghĩa anh em” hổ trợ tích cực, toàn diện và vô điều kiện để xây cựng thành công chủ nghĩa xã hội tại thuộc địa kiểu mới Việt Nam, phát huy thắng lợi để tiếp tục đẩy mạnh “Chiến tranh Cách Mạng”, “Chiến tranh Giải phóng” đến các nước trong vùng như Thái Lan, Miến Ðiện, Mã Lai. Phi Luật Tân.v.v...Thế nhưng thực tế hoàn toàn khác: Tất cả những điều đáng lẽ phải xẩy ra đó đã không xẩy ra sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc.

Thực tế sau đó Nga Xô đã thất bại trong nỗ lực “Cải Tổ” đi đến sụp đổ, kéo theo sự tiêu vong các nước XHCN Ðông Âu. Trung Cộng thực hiện chính sách “Mở cửa” làm ăn với Tư Bản. Công cụ CSVN vội đưa ra chính sách “Ðổi Mới” theo gương “Cải Tổ” Liên Xô (1986). Rồi vội cầu hoà với Trung Cộng và học tập lý luận sáng tạo mới của nước đàn anh xấu bụng và có tham vọng bá quyền này, rằng: “Chủ Nghĩa Xã Hội cũng có thể áp dụng kinh tế thị trường” được Việt cộng hoá thành con đường “Ðổi mới” một cách cưỡng ép rằng “Kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Ðây là lối lý luận ngụy biện, cưỡng ép nhằm che đậy thực trạng và chiếu hướng mới không thể đảo ngược tại Việt Nam cũng như toàn cầu: Chủ nghĩa xã hội đã phá sản, đã tiêu vong tại Nga Xô, đang tiêu vong tại Việt Nam và các nước XHCN còn lại (Trung Cộng, Bắc Hàn và Cuba). Quá trình tiêu vong CNXH tại Việt Nam khởi đi từ ngày 30-4-1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Là lối lý luận cưỡng ép, ngụy biện, vì nó duy ý chí, trái ngược với thực tế. Thực tế phát triển trong môi trường kinh tế thị trường không thể định hướng XHCN, mà tất yếu sẽ phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa. Trong môi trường này, tất yếu nhà nước XHCN sẽ bị tư bản hoá (đã và đang từng buớc Giải tư quốc doanh), chế độ chuyên chính vô sản sẽ được dân chủ hoá, và các cán bộ đảng viên cộng sản sẽ được tư sản hoá (đã và đang trở thành những nhà tư bản Ðỏ). Chiều hướng phát triển này đã được thể hiện ngày càng rõ nét trên thực tế tại Việt nam, ai cũng có thể thấy và kiểm chứng được.

Và như thế rõ ràng là ngày 30-4-1975 “Cộng sản THẮNG để THUA” cuộc thực sự vào cuối quá trình của sự tiêu vong chế độ XHCN về mặt bản thể. Bởi vì, cuối cùng thì mục tiêu và lý tưởng của những người CSVN đã không đạt được. Trái lại, thực tế đã thúc ép, dẫn dắt và buộc được CSVN phải đi vào quỹ đạoc ủa đối phương (Tự do, kinh tế thị trường) và thực hiện theo đúng lý tưởng (Quốc gia, dân tộc, dân chủ) và mục tiêu tối hậu (Dân chủ hoá Việt Nam, phát triển toàn diện đất nước trong nền kinh tế thị trường) của đối phương.

Thật vây, đối với những người Việt Quốc Gia, lý tưởng và mục tiêu đấu tranh trước sau như một: Ðộc lập dân tộc, dân chủ tự do, xã hội công bằng, phát triển toàn diện đất nước đến phú cường, văn minh tiến bộ theo đà tiến hoá chung của nhân loại.

Và vì vậy, kể từ sau ngày giành được độc lập từ tay thực dân Pháp vào năm 1954, mong muốn chân thành của những người Việt Quốc Gia ở Miền Nam Việt Nam, kẻ cầm quyền cũng như dân giả, là thiết lập một chế độ độc lập dân tộc, dân chủ tự do(Việt Nam Cộng Hoà) và phát triển toàn diện Miền Nam đến giầu mạnh. Thành quả mong muốn này sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp chính trị(dân chủ), kinh tế (giầu mạnh), xã hội(công bình) khả dĩ đánh bại chế độ độc tài đảng trị của những người Cộng sản Bắc Việt: chính trị (độc tài toàn trị), kinh tế (nghèo đói), xã hội (áp bức, bất công), mà không cần xử dụng sức mạnh quân sự tiêu diệt đối phương.

Nói cách khác, ước muốn của người Việt Quốc Gia trước đây, thay vì dùng chiến tranh để áp đặt mô hình chủ nghĩa quốc gia hay chủ nghĩa xã hội, cứ để hai chế độ chính trị đối nghịch trên hai Miền Bắc, Nam có thời gian và cơ hội thi đua thực hiện mô hình chính trị, kinh tế, xã hội của mình, chờ cơ may thống nhất đất nước một cách hoà bình, thông qua con đường dân chủ. Lúc đó, mô hình xây dựng và phát triển đất nước nào có hiệu quả thực tiễn, sẽ được nhân dân hai miền chọn lựa bằng lá phiếu của đa số trong một cuộc trưng cầu dân ý tự do thực sự, có giám sát quốc tế nếu cần.

Thế nhưng ước muốn chân thành và hết sức có lợi cho đất nước và dân tộc trên đây của những người Việt quốc gia ở Miền Nam đã không được những người CSVN ở Miền Bắc đáp ứng. Bởi lý tưởng và mục tiêu của những người CSVN hoàn toàn khác biệt với lý tưởng và mục tiêu của người Việt quốc gia. Sự khác biệt rõ nét nhất là Người Quốc Gia hành động tất cả vì Quốc Gia Dân Tộc, cho Tổ Quốc Việt Nam, trong khi những Người Cộng Sản Việt Nam hành động tất cả vì Quốc Tế Cộng Sản, cho Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Xô.

Do đó, để làm tròn nghĩa vụ công cụ bành trướng ngõ hầu áp đặt chủ nghĩa cộng sản trên cả nước, đảng CSVN đã phát động và tiến hành cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, đẩy chính quyền và nhân dân Miền Nam Việt Nam vào một cuộc chiến tranh tự vệ và Hoa Kỳ có cớ can thiệp ngày càng sâu rộng vào chủ quyền VNCH. . . Cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn này đã kéo dài hơn 20 năm (1954-1975), sát hại hàng triệu sinh linh, tàn phá đất nước, di hại lâu dài nhiều mặt cho đất nước và dân tộc.

Nhưng rồi sau cùng thì cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn đã kết thúc một cách không bình thường, do sự sắp xếp tiền định của ngoại bang, đã để cho CSBV “tạm thắng” cuộc chiến một cách dễ dàng, không cần chiến đấu(vì Việt Quốc bị ép buộc đầu hàng) không cần giữ đất và không đủ người để tiếp thu (vì Việt Cộng bị động, bất ngờ, tốc độ rút lui nhanh hơn tốc độ tiến quân)

Chính vì sự kết thúc chiến tranh không bình thường này, mà ngay từ những ngày tháng năm đầu, khi cuộc chiến vừa tàn, người Việt Quốc Gia ở Miền Nam không khỏi nghĩ lại nhận định có tính tiên liệu của hai ngoại nhân. Một là Tướng độc nhản Moise Dayan, Bộ Trưởng Quốc Phòng Do Thái lúc bấy giờ khi đến thăm Miền Nam; hai là Sir Wilson. một chuyên viên Anh quốc làm cố vấn về du kích chiến cho Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam; Cả hai ngoại nhân này đều có chung nhận định đại ý rằng “Muốn chiến thắng cộng sản tại Việt Nam, cần cộng sản hoá ”. Nay thì Miền Nam Việt Nam đã bị cộng sản hoá sau ngày 30-4-1975. Chế độ độc tài toàn trị cộng sản đã thiết lập 36 năm qua trên toàn cõi Việt nam.Thực tế CSVN đã thất bại hoàn toàn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam. Đảng CSVN đã biến chất hoàn toàn và cái bảng hiệu “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nhhĩa Việt Nanm” thực chất cũng như thực tế chì là trò lừa bịp theo kiểu gian thương “Treo đầu dê bán thịt chó” để thủ lợi mà thôi.

Như vậy phải chăng “Quốc gia đã THUA để THẮNG” ? Nếu đúng như vậy thì tại sao và QUỐC sẽ thắng CỘNG nay mai như thế nào?

1.- Tại sao? Tại vì mục tiêu và lý tưởng đấu tranh của người Việt Quốc Gia trước sau như một, vẫn là chân lý thời đại (độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa quốc gia), có chính nghĩa, đáp ứng đúng khát vọng toàn dân(Ðộc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc). Chân lý, chính nghĩa và khát vọng ấy, nếu người Việt Quốc Gia đã mất cơ hội thành đạt trước 30-4-1975, trong chiến tranh tự vệ, trên chiến trường, thì hôm nay, sau 36 năm kiên trì tiếp tục cuộc đấu tranh cho lý tưởng và mục tiêu của mình, đã và đang buộc được CSVN phải tự thú sai lầm, phải sửa sai và từng bước lùi dần về phía dân chủ, từng bước phải trả lại cho nhân dân các quyền tự do, quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền căn bản…

Mặc dầu cho đến lúc này, đảng CSVN vẫn chưa một lần dám công khai thú nhận sự chọn lựa con đường XHCN là sai lầm, tác hại toàn diện cho đất nước và dân tộc. Ðồng thời họ cũng chưa dám công khai thừa nhận lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của người Việt Quốc Gia theo đuổi từ bao lâu nay là ÐÚNG, có lợi cho đất nước và dân tộc.

Thế nhưng, tất cả những gì chế độ CSVN đã và đang thực hiện, đem lại phần nào những hiệu quả thực tế hôm nay, chính là họ đã làm theo sách của người Quốc Gia. Nghĩa là những người CSVN đã và đang bị buộc phải làm, không thể khác hơn, những gì mà lý tưởng, mục tiêu và con đường mà người Quốc gia theo đuổi.

Ðối với người Việt Quốc gia quan niệm chiến THẮNG trong cuộc đấu tranh, không nhất thiết phải là lật đổ, tiêu diệt đối phương để độc quyền thực hiện lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của mình, mà chỉ cần bất cứ ai, lực lượng nào thực hiện được đúng mục tiêu và lý tưởng của mình. Vì vậy nếu người cộng sản Việt nam chỉ cần thực hiện đúng lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của người Việt Quốc Gia, thì điều đó cũng đủ yếu tố xác định thắng lợi sau cùng của người Việt Quốc Gia và cuộc đấu tranh chống cộng sẽ chấm dứt.

2.- Vậy QUỐC thắng CỘNG như thế nào?

Chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam do đảng CSVN áp đặt tại Việt Nam đã và đang trên quá trình tiêu vong và đã bước vào giai đoàn cuối cùng: Tiêu vòng hoàn toàn về mặt bản thể trong “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”. Trong môi trường mật ngọt này, cán bộ đảng viên CS được tư sản hoá, nhà nước Cs được tư bản hoá và chế độ được dân chủ hoá. Ðó là quá trình tiêu vong tất yếu của đảng và chế độ CSVN, xác định sự toàn thắng của các lực lượng quốc gia, dân tộc, dân chủ Việt nam. Sự tất yếu này đến mau hay chậm là tùy thuộcc vào ba lực đẩy, lực xoay chủ yếu:

- Một là sự tự hủy do phân hoá nội bộ đảng và chế độ CSVN.

- Hai là cường độ và hiệu quả thực tế của các hình thức đấu tranh của các lực lượng quốc gia, dân tộc, dân chủ trong cũng như ngoài nước, thu hút được quần chúng,tạo ra cao trào đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh, nhân quyền của nhân dân trong nước.(Chủ lực)

- Sau cùng là áp lực trên đảng và chế độ CSVN của các cực cường, các chính quyền dân chủ,Liên Hiệp Quốc, các tổ chức kinh tế tài chánh quốc tế và các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế.

Dưới áp lực của ba mũi giáp công trên đây, đã thúc ép được chế độ độc tài toàn trị hiện nay lùi dần về phía dân chủ. Chất dân chủ đã và đang đẩy lùi chất độc tài và tích lũy. Khi lượng dân chủ tích lũy đủ triệt tiêu hoàn toàn chất độc tài, thì theo qui luật duy vật biện chứng mà những người cộng sản Việt nam từng tin như giáo điều, rằng “Lượng đổi, chất đổi”, thì chế độ độc tài toàn trị hiện nay sẽ tiêu vong hoàn toàn bản thể để hình thành chế độ dân chủ tại Việt nam.



Tóm lại: 36 năm trước đây, ngày 30-4-1975 cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam đã kết thúc không bình thường đã chỉ đem lại một chiến thắng giả tạo ( biểu kiến) cho cộng sản Việt Nam. Thực tế đã ngày một khẳng định cuộc chiến tranh kết thúc như thế không phải là thắng lợi của phe này đối với phe kia, mà chỉ là do nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực nắm trung tâm quyền lực thế giới. Do đó, thực tế đã ngày một khẳng định ngày 30-4-1975 chỉ là khởi điểm một quá trình đưa CSVN đến sự tiêu vong về bản thể, để hình thành một chế độ dân chủ mai hậu tại Việt nam theo chiều hướng mới: Dân chủ tất thắng độc tài. Một khi chế độ độc tài cộng sản tiêu vong về mặt bản thể, lý tưởng và mục tiêu đấu tranh của những người CSVN đã không đạt được, nay phải xoay chiều cố thực hiện những điều mà người Việt Quốc Gia đấu tranh chưa đạt. Và như thế có thể kết luận rằng: 30-4-1975
“Quốc Gia đã thua để ThắngCộng sản đã Thắng để Thua”.

Thiện Ý

Tháng 4 năm 2011

Lực lượng Syria bắn người biểu tình, 11 người thiệt mạng


Biểu tình chống chính phủ ở Syria sau lễ cầu nguyện hôm thứ Sáu
Hình: AP Photo

Người biểu tình trên khắp nước Syria xuống đường sau các buổi lễ cầu nguyện ngày thứ Sáu

Ít nhất 11 người thiệt mạng ở Syria ngày hôm nay khi lực lượng an ninh bắn vào những người biểu tình chống chính phủ ở một vài thành phố.

Các hãng thông tấn cho biết những người được chứng kiến tường trình rằng những người chết là những người biểu tình ở những khu vực trong đó có cả ngoại ô Douma của Damascus, và khu vực Daraa ở miền nam, nơi tập trung các cuộc biểu tình gần đây.

Hàng ngàn người biểu tình trên khắp cả nước đã xuống đường sau các buổi lễ cầu nguyện ngày thứ Sáu và lực lượng an ninh đã đáp trả bằng hơi cay và đạn thật.


Các cuộc tuần hành phản đối chính phủ của Tổng thống Bashar al-Assad diễn ra một ngày sau khi tổng thống ký một nghị định chấm dứt luật khẩn cấp trong một nỗ lực nhằm chấm dứt vụ bất ổn.

Những người được chứng kiến cho biết tại một số cuộc tuần hành, người biểu tình đã hô khẩu hiệu “tự do” khi họ kêu gọi chấm dứt sự cai trị của ông Assad.


Một trang trên Facebook tập hợp người ủng hộ đã gọi cuộc biểu tình này là cuộc biểu tình “Ngày thứ Sáu Tuần Thánh”, một ngày lễ của người Cơ đốc giáo. Một hình ảnh trên trang web cho thấy hình người Cơ Đốc giáo và người Hồi giáo với dòng chữ “một trái tim, một bàn tay, một mục tiêu.”

Bao Giờ Các Bà Việt Nhà Ta Đình Công?


Miền Nam mất vào tay việt cộng nay được 36 năm ! Lấy lại nước, lập lại chánh quyền dân chủ ngày càng khó khăn.
Có nhiều người Việt tỵ nạn nay đành chấp nhận thân phận đã an bài. Ở đâu sống theo ở đó . Người Việt sống ở Pháp chia sẻ những khó khăn với người Pháp và các sắc dân khác . Người Việt sống ở Bỉ hiện đáng tội nghiệp hơn hết vì tới Bỉ là người mất nước, nay lại phải gánh chịu thêm thân phận người dân Bỉ không Chánh phủ từ gần cả năm qua .
Bỉ là quốc gia trung tâm của Âu châu nhưng hiện nay không có Chánh phủ vì các chánh khách của hai địa phương Flamand và Wallonnie hiềm khích nhau, căng thẳng nhau, không thể thoả thuận với nhau để lập Chánh phủ mặc dầu nhà Vua đã can thiệp, đề cử một người hòa giải .
Một tình trạng làm cho dân bỉ chán nản, bắt đầu khó chịu, nổi nóng . Tuy dân Bỉ được tiếng là hiền hòa . Họ muốn tìm lại cho họ một nước Bỉ bình thường như trước kia .
Dân chúng bắt đầu tìm mọi cách phản ứng để cho những chánh khách Bỉ hiểu là người dân Bỉ đang sống trong cảnh đất nước của họ không có Chánh phủ như vậy đó .
Một cuộc «diễn hành xấu hổ »
Bất mãn cùng cực, người dân Bỉ vận động biểu tình để đánh động dư luận chánh giới và quần chúng .
Ngày chủ nhựt 23 tháng 01 năm 2011 vừa rồi, dân chúng Bỉ tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành trên đường phố, mệnh danh là một cuộc «Diễn Hành Xấu hổ » . Ban tổ chức chỉ vừa kịp phổ biến lời kêu gọi mà cuộc biểu tình qui tụ được ngay hơn 30,000 người tham dự . Điều này đủ nói lên sự đoàn kết mạnh mẻ, sự quyết tâm của dân chúng muốn những người có trách nhiệm phải giải quyết tình trạng khủng hoảng chánh phủ hiện nay. Biểu tình còn nói lên sự mệt mỏi tột độ của dân chúng đang gia tăng nữa .
Trước đó ít lâu, tài tử và nhà điện ảnh Benoit Poolworde của Bỉ đã bày tỏ sự bất mãn của mình bằng cách không cạo râu. Ông kêu gọi tất cả đàn ông Bĩ hãy đồng loạt «đình công cạo râu» . Cứ để râu mọc dài tự do cho tới khi nào Bĩ có một Chánh phủ mới .
Cuộc vận động «biểu tình không cạo râu » của nhà điện ảnh Benoit Poolworde sau đó được TV Pháp trình chiếu đã làm cho khán giả Pháp cảm thấy hào hứng : « Hay quá, ta có một nước Bĩ đầy lông lá !"
Người dân thấy cần phải phản ứng mạnh, tích cực hơn, may ra mới thay đổi được tinh thần bè phái, cố chấp hẹp hòi vì ích kỷ của những người hoạt động chánh trị chuyên nghiệp . Họ phổ biến một thông cáo trên Internet kêu gọi dân chúng kéo nhau đông đảo tới cấm trại ngay trước Dinh Thủ tướng . Lập tức có ngay 140 000 người ký tên tham dự . Họ còn làm kiến nghị yêu cầu Chánh phủ hoàn trả thuế năm 2010 cho họ nếu trong 100 ngày nữa mà không lập được Chánh phủ mới .
Các Bà đình công
Hôm tháng 02 rồi, dư luận Bỉ đón nhận thêm một ý kiến mới, độc đáo, nhằm đóng góp giải quyết tình trạng vô Chánh phủ kéo dài gần như bất tận . Đó là ý kiến của Bà Bác sĩ sản khoa, Thượng Nghị sĩ vùng Flamand, đưa ra làm cho cách giải quyết khủng hoảng Chánh phủ của dân chúng thêm phần phong phú và vô cùng đa nguyên . Bà Thượng Nghị sĩ Marleen Temmerman đề nghị làm một cuộc «đình công giường chiếu». Thật vậy bà Thượng Nghị sĩ, Bác sĩ sản khoa, kêu gọi tất cả các bà hãy cương quyết «làm reo ái ân» bằng cách «giữ chặt 2 chân khép kín lại» cho tới khi nào có một Chánh phủ mới ra đời .
Theo Bà Thượng Nghị sĩ, kêu gọi «làm reo» kiểu này hi vọng sẽ có hiệu lực thúc đẩy những phe phái đối nghịch cố hữu phải chịu tiến hành thương lượng nhanh chóng để sớm có Chánh phủ mới .
Đề nghị «làm reo hai chân khép kín » là rút kinh nghiệm từ bài học tương tợ đã áp dụng ở xứ Kenya, cách đây ít lâu, chỉ không đầy 3 tuần, kết quả mỹ mãn . Trở về thời cổ đại, người ta không quên một vụ đình công ái ân vô cùng cao đẹp vì mục đích kêu gọi chấm dứt chiến tranh giửa Athènes và Sparte . Đó là vụ đình công ái ân của nàng Lysistrata ở Hi-lạp .
Người Bỉ rất khả ái, hiền hòa, hiếu khách . Họ thích khôi hài . Họ thích kể cho nhau nghe những chuyện vui cười . Như chuyện tiếu lâm của Việt nam .
Dân Bỉ sống trên một đất nước bình yên mà không có Chánh phủ hơn 10 tháng qua. Một điều thật khó tin . Hằng ngày, họ tìm những ý nghĩ hiền lành để mong đánh thức những người có trách nhiệm nhưng vẫn với một cách nói vui vẻ, duyên dáng, để làm cho mọi người đều thấy dể chịu khi phải tranh đấu cho những vấn đề trọng đại đi nữa .
Ở Pháp, bên cạnh đó, khi bất mãn Chánh phủ, người dân kéo nhau xuống đường biểu tình, đập phá cửa hàng, đốt xe,… tiếp theo , đình công kéo dài làm tê liệt mọi sanh hoạt xã hội, phí phạm hằng triêu triệu euros . Và Pháp vì đó nổi tiếng là xứ biểu tình và đình công nhứt Âu châu. Có lắm khi biểu tình và đình công một cách vô cùng «du côn », bất kể quyền lợi dân chúng .
Các Bà đầm Pháp «khước từ ái ân»
Ở Pháp ngày nay có một hiện tượng đang trên đà phổ biến . Đó là các Bà trong gia đình từ chối ái ân với chồng . Không biết các Bà có khép cứng 2 chân như các bà Bĩ đình công hay không vì các Bà đầm Pháp chỉ từ chối ái ân một cách bình thường và tự nhiên . Hiện tượng ở Pháp hoàn toàn không có ý nghĩa liên đới ủng hộ cuộc « đình công giường chiếu » của các Bà ở Bĩ tranh đấu cho đất nước của họ sớm có Chánh phủ.
Theo kết quả thăm dò vừa được phổ biến thì cứ 2 Bà đầm Pháp thì có 1 Bà tự nhiên từ chối ái ân với chồng hay người bạn tình đang sống chung . Ở Anh cũng xảy ra hiện tượng mới mẻ này . Báo chí Anh mở một cuộc điều tra, xác nhận cứ 2 phụ nữ, có 1 người từ chối ái ân với người hôn phối cùng sống chung trong nhà .
Khi biết chuyện lạ này, nhiều người nghĩ rằng các Bà từ chối ái ân phải chăng vì mang nặng mặc cảm có thân thể kém thẩm mỹ, không còn những đường nét hấp dẩn nữa? Thật ra ngoài lý do có thân thể thiếu những đường nét hấp dẩn, sự từ chối ái ân còn liên hệ với nhiều lý do khác nữa . Nhà bào chế dược phẩm Fembido nhờ mở cuộc điều tra để dựa theo kết quả mà chế tạo thuốc giúp đem lại cho các bà sự ham muốn ái ân một cách bình thường . Kết quả điều tra cho thấy có 52 % các Bà không muốn ái ân vì thân thể xấu, 29 % vì có thân thể quá mập và 23 % vì thiếu tình yêu . Về phía các Ông, kết quả điều tra công bố có 11 % không muốn ái ân vì nhìn lại người đàn bà của mình nay có « thân hình hởi ơi » và 8 % vì thiếu tình yêu .
Tóm lại có 72% các Bà không muốn ái ân nữa vì những lý do cơ thể thiếu thẩm mỹ hoặc vì không có tình yêu .
Bác sĩ Catherine Hord dạy tại Đại học Oxford phản bác: « Nói rằng các Bà từ chối ái ân vì cảm thấy thân thể của mình không còn đẹp nữa, đó là điều không thực tế » .
Trong số các bà từ chối ái ân vì cảm thấy mình không còn quyến rũ như trước đây nữa, có 13% các Bà, nếu muốn làm tình, thì phải làm tình trong bóng tối . Sau cùng, một số ít, chỉ có 6 % các Bà làm tình với chồng một các lơ là vì không thấy đó thật sự có ý nghĩa là đời sống ái ân của vợ chồng . Ái ân là sự pha trộn yếu tố cơ thể và tâm lý . Với mỗi phụ nữ, sự cảm nhận đều khác .
Trong lúc đó, Bác sĩ Frédéric Saldmann, qua quyển sách «Đời sống và Thời gian» (Flammarion, Paris, xuật bản 3/2011) báo một tin mừng lớn tới mọi người: quan hệ tình dục thường xuyên sẽ giúp cho sức khỏe tráng kiện . Ông quả quyết « làm tình ngăn chặn được nhiều bịnh tật nguy hiểm như ung thư hoặc tim mặch xuất hiện » .
Với các ông, làm tình 21 lần tháng sẽ giảm 1/3 nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến . Còn với các bà, làm tình sẽ phóng thích chất ocytocine giúp chống lại chứng ung thư vú .
Tác giả kết luận « làm tình 3 lần trong tuần sẽ làm tăng tuổi thọ 10 năm » . Vây nếu làm nhiều hơn, thì …?
Các Bà Việt đình công vì yêu nước !
Ở Việt nam ngày nay, có nhiều bà giàu có bỏ ra cả ngàn đô-la mua bồ nhí cho một đêm theo thể thức đấu giá . Họ có nếp sống sa đọa khác hẳn với phụ nữ âu châu. Họ chạy theo tình dục một cách điên cuồng .
Còn các Bà Việt ở hải ngoại ?
Các Bà Bĩ kêu gọi « đình công giường chiếu » để nước Bĩ sớm chấm dứt tình trạng vô Chánh phủ kéo dài . Đình công ái ân vì mục tiêu chánh trị yêu nước .
Người Việt nam ở hải ngoại đang sống trong «tình trạng không có Chánh phủ Việt nam» vì bị mất nước từ 36 năm qua . Các ông và cả các bà, từ 36 năm qua, không ngừng nghỉ tranh đấu cho Việt nam sớm được tự do dân chủ, tức không còn chế độ công sản cai trị đất nước . Nhưng ngày nay, nhiều tổ chức tranh đấu hiềm khích nhau, chống đối nhau chết bỏ. Trong cùng tổ chức, nhiều cá nhân chống đối nhau làm cho tổ chức tang rả hay phân hóa, suy yếu đi.
Thậm chí Hội Ái hữu cùng trường, cùng binh chủng mà cũng chia rẽ, chửi bới nhau, không nhìn nhau còn hơn đối với kẻ thù cộng sản . Bởi khi về Việt nam, họ còn lễ phép với cộng sản, giữ ôn hòa, khả ái với cộng sản .
Muốn chấm dứt tình trạng xung đột, chia rẽ của các tổ chức tranh đấu của người Việt nam hải ngoại, chỉ có các Bà ra tay thì mới giải quyết hiêu quả được .
Đúng vậy. Các Bà hãy hưởng ứng thật tình lời kêu gọi đình công ái ân của các Bà Bỉ bằng cách «giữ chặt 2 chân khép lại» cho tới khi nào các ông không còn chia rẽ nhau, không còn chửi bới nhau, chịu cùng nhau hợp tác tranh đấu cho mục tiêu chung.
Ôi! Công đức của các Bà sẽ vĩ đại. Đời đời sẽ nhớ ơn các Bà!


Nguyễn thị Cỏ May

Đem tâm tình viết lịch sử: Trí thức nào, chính quyền nấy

Bằng Phong Đặng văn Âu – Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, ngày 20 tháng 4 năm 2011,
Kính gửi Nhạc sĩ Tô Hải,
Thưa anh,

Đọc sách của anh, tiếp tục theo dõi những bài viết của anh và nhiều lần trò chuyện cùng anh qua điện thoại, tôi nhận thấy anh xứng đáng là vị lão thành cách mạng anh hùng. Bởi vì anh dứt khoát lên án kẻ đánh lừa nhân dân đi vào con đường bán nước hại dân; trong khi lắm kẻ tay trót nhúng chàm, nhìn đất nước suy vi, dân tình khốn khổ, một mặt thì kiến nghị bày tỏ sự phản kháng mà miệng vẫn tụng câu “Bác Hồ vô vàn kính yêu”. Sợ là tâm lý rất thường tình của con người, chẳng có gì phải dấu giếm.

Anh đã từng sợ, nhưng nay vượt qua nỗi sợ thì thẳng thừng lên án kẻ đã gieo rắc sự sợ hãi khiến cho cả dân tộc trở nên hèn. Anh tự thú nhận “Anh là thằng hèn” trong hàng triệu người hèn thì anh không còn hèn nữa. Một khi anh dám nói lên Sự Thật thì tâm hồn anh, xác thân anh được giải phóng. Vì ngưỡng mộ anh, hôm nay tôi ngồi viết thư này để tâm tình cùng anh về chuyện quê nhà.

Trước năm 1975, ở Miền Nam nhà văn Nguyễn Mạnh Côn viết cuốn “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” bằng những bức thư gửi cho người bạn mang tên Kiên Trung, để thuật lại bối cảnh lịch sử diễn ra vào thời điểm gọi là Cách Mạng Mùa Thu. Nhờ đọc cuốn sách này, hàng hậu bối như tôi mới có sự hiểu biết về những thủ đoạn chính trị của người cộng sản. Năm 1960, nhờ đọc cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” do học giả Hoàng văn Chí biên soạn và xuất bản năm 1959, tôi biết được tình hình các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ ở Miền Bắc bị chủ nghĩa cộng sản đầy đọa như thế nào. Đặc biệt tôi ngưỡng mộ hai tác giả, một già và một trẻ, là cụ Phan Khôi khí phách qua bài tham luận “Phê Bình Lãnh Đạo Văn Nghệ” và thi sĩ Phùng Quán yêu sự chân thật qua bài thơ “Lời Mẹ Dặn.”

Tôi không phải là nhà văn chuyên nghiệp như Nguyễn Mạnh Côn, mà chỉ thuần là người lính đánh giặc để bảo vệ giá trị tự do (a freedom fighter), chẳng qua bị “lạc đường vào lịch sử” mà cầm bút viết chuyện nước non. Tự biết khả năng hạn hẹp của mình, tôi mạo muội đánh bạo kế tục con đường của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn và noi gương hai đức tính cao quý của cụ Phan Khôi và thi sĩ Phùng Quán với ước mong rằng mình không làm hổ thẹn thanh danh ba vị dưới suối vàng và hy vọng giúp thế hệ sau mình biết được những gì đã xảy ra trên đất nước Việt Nam vào thời đại mình đã sống. Dĩ nhiên, đây không phải là chính sử hay biên niên sử, nhưng chắc chắn những ghi chép này hoàn toàn độc lập, không thuộc phe phái nào, không định kiến hay lòng thù hận.

Vốn ảnh hưởng triết lý Phật giáo, nhưng thờ phượng Ông Bà Tổ Tiên là chính, tôi tin vào luật nhân quả luân hồi. Có lẽ kiếp trước mình không khéo tu nên bị đầu thai làm người Việt Nam ở vào thời đại quỷ ám. Dân tộc ta từng bị Tầu, Tây đô hộ, nhưng chưa có thời kỳ nào khủng khiếp như cái thời kỳ có những nhà cách mạng giả danh cứu nước mang về một loại tà giáo quái ác đến kinh hồn. Tầu và Tây không làm cho ta mất bản sắc văn hóa, không áp bức dân ta xuống hàng thú vật; chỉ có con quỷ cộng sản có khả năng làm điều đó mà thôi!

Tôi đoán chừng rằng ông Hồ Chí Minh là một Con Quỷ, tu luyện lâu năm thành tinh, rồi đầu thai vào dân tộc Việt Nam, hiện hình thành một nhà đạo đức giả với mục đích đầy đọa dân ta. Anh Hải biết vì sao tôi đoán như thế không? Bởi vì một con người dù tài ba đến thế nào đi nữa cũng không thể có khả năng mê hoặc những bộ óc thông minh nhất nước ta và những bộ óc thông minh nhất thế giới từ khi còn sống cho đến khi đã chết gần nửa thế kỷ như ông Hồ. Có những nạn nhân bị đảng cộng sản do ông Hồ lập lên dẫn ra pháp trường mà mồm vẫn hoan hô Hồ Chí Minh muôn năm. Có những người lương thiện, từng hết lòng nuôi dưỡng, phục vụ kháng chiến bị Hồ Chí Minh làm nhục, rồi giết chết mà con cái họ cứ tôn vinh, thờ kính ông ta. Ví dụ, nhạc sĩ Phạm Tuyên có người cha là nhà văn hóa Phạm Quỳnh bị Hồ Chí Minh giết chết, mà sau ngày ba mươi tháng tư năm 1975 lại đặt nhạc để tung hô hung thủ giết cha mình bằng bài ca “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng”!

Nay ông Hồ không còn trên thế gian nữa, tội ác của ông bị phanh phui rành rành từ thư khố cộng sản ở Liên Xô, nhưng vẫn còn có những tín đồ sụp lậy ông ta, coi ông ta như một bậc Thánh. Nếu không phải là loài quỷ, ông Hồ không thể sản sinh ra một đàn quỷ con làm nhiều điều cùng hung cực ác mà dân vẫn để cho ngồi yên trên chiếc ghế thống trị. Ấy là nhờ bọn quỷ con này đặt con quỷ Hồ nằm chình ình giữa quãng trường Ba Đình như hòn đá tảng không cho dân Việt cất đầu lên nổi.

Một con quỷ thứ hai rất đắc lực phục vụ con quỷ Hồ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nằm chờ chết ở bệnh viện Việt Xô, nơi dành cho cán bộ cao cấp. Anh Hải có biết tại sao tôi gọi Võ Nguyên Giáp là con quỷ thứ hai? Khi thành lập chính phủ liên hiệp, ông Hồ Chí Minh mời cụ Huỳnh Thúc Kháng – một nhà cách mạng tên tuổi – làm Bộ trưởng Nội Vụ, tức là bộ Công An ngày nay. Cụ Huỳnh chỉ là bề mặt có tính cách trình diễn đoàn kết Quốc Cộng, người phụ tá Cụ Huỳnh là Giáp, giữ chức Thứ trưởng mới là kẻ có thực quyền, có nhiệm vụ tuân lệnh Hồ Chí Minh thủ tiêu những lãnh tụ quốc gia như Lý Đông A, Trương Tử Anh, Huỳnh Phú Sổ v… v… Võ Nguyên Giáp sau đó được Hồ Chí Minh phong chức Đại tướng năm 37 tuổi, dù chưa từng trải qua trường quân sự nào và chưa từng đạt được chiến công nào, để thành lập “Bộ Đội Cụ Hồ”. Hồ thờ “quỷ giáo Mác Lê” chủ trương tiêu diệt lãnh tụ quốc gia; Giáp là tay chân thừa hành mệnh lệnh của Hồ. Ngoài nhiệm vụ thủ tiêu lãnh tụ quốc gia khi làm thủ lãnh Công An, Giáp còn là Đại tướng cầm quân, đẩy thanh niên trí thức thuộc gia đình tiểu tư sản trong “Bộ đội Cụ Hồ” vào các mặt trận ác liệt nhất nhằm nướng cho kỳ hết giai cấp tư sản trong kế hoạch “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Đại Hội 10 năm 2006, cả thế giới đã lên án cộng sản phạm tội ác chống nhân loại, Võ Nguyên Giáp dù tay nhúng vào máu hãm hại hàng triệu thường dân vô tội, không hề tỏ ra ăn năn, sám hối, lại còn ca ngợi những thành tích vẻ vang của Chủ nghĩa Xã hội.

Trên đường Nam tiến, tổ tiên ta có lẽ đã giết hại nhiều dân tộc như Chàm, Thủy Chân Lạp, Khmer … cho nên con cháu đời này bị lũ quỷ hiện hình người, có nhiều ma thuật để trả thù, như các cụ ta đời trước đã dạy: “Đời Cha ăn mặn, đời Con khát nước”? Không phải tôi nghĩ quẩn hay loạn trí đâu, anh Hải. Tôi quả quyết tin rằng chỉ loài quỷ mới có khả năng làm tiêu tan văn hóa của một dân tộc với bốn ngàn năm văn hiến, biến cả một đất nước thành “Đêm Giữa Ban Ngày”. Đêm là bóng tối, là môi trường cho quỷ dữ lộng hành. Vì vậy con quỷ cộng sản phải làm cho cả dân tộc u tối bằng cách thi hành chính sách bưng bít thông tin để ngu dân. Hễ ai nói lên Sự Thật là chúng ra tay sát hại ngay!

Muốn chống lại quỷ, ta phải đưa ánh sáng vào nơi tối tăm. Ánh sáng đó là gì? Là Trí Tuệ, là Sự Thật, là Dũng Cảm. Thập niên cuối của thế kỷ trước, ông Hà Sĩ Phu đã dùng ba vũ khí đó để chống lại quỷ. Ấy là ông dùng trí tuệ để dẫn dắt đám quỷ sứ đang lộng hành ra khỏi vũng lầy. Ông lấy Sự Thật từ thực tiễn ba quốc gia có lãnh thổ bị chia đôi như Đức quốc, Triều Tiên và Việt Nam thì cái nửa thuộc phe “tư bản dẫy chết” có tự do hơn, cơm no áo ấm hơn, năng suất sản xuất cao hơn; còn cái nửa thờ tà giáo cộng sản thì như thể là địa ngục trần gian để chứng minh. Cái dũng cảm của ông Hà Sĩ Phu là dám ví cộng sản là loài ký sinh sống bám vào lòng yêu nước của nhân dân. Tiếc thay cái ánh sáng của nhà trí thức Hà Sĩ Phu chỉ le lói, không được các nhà trí thức khác phụ họa để tăng cường độ sáng, nên ông bị tù đầy, bị quản chế. Ông Hà Sĩ Phu đã không dồn quỷ vào chân tường. Ông dành cho quỷ một lối thoát. Ông tạm chấp nhận cái luận điểm của quỷ phô trương rằng nhờ chủ nghĩa cộng sản mà Việt Nam có thể đánh Tây đuổi Mỹ giành độc lập. Ông bảo rằng thôi được, các ông bảo thế thì ta tạm tin như thế. Nhưng dùng thuyền để sang sông được rồi, tại sao không bỏ thuyền xuống mà đi cho thoải mái, lại cõng cái thuyền ấy trên lưng để đi lom khom chả giống ai? Chính vì cứ cõng cái thuyền trên lưng (nhất định không bỏ Điều 4 Hiến pháp) nên tập đoàn quỷ Việt Nam cứ phải đi lom khom trước giặc thù Phương Bắc và bắt nhân dân cả nước cũng phải đi lom khom như mình!

Anh Tô Hải thân mến,

Xin lặp lại: Tôi đánh giá anh là nhà cách mạng lão thành số một vì không những anh dám tự xác nhận mình là thằng hèn, nhưng anh dám chống gậy đi biểu tình cùng với giới trẻ chống lại Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Còn các ông “quyết tử để dân tộc quyết sinh” thì trốn biệt tăm, biệt tích! Anh đã thẳng thừng kết tội Hồ Chí Minh trên giấy trắng mực đen. Thế kỷ trước tôi phục Hà Sĩ Phu, thế kỷ này tôi phục anh. Trông gương anh, tôi không hiểu sao các anh hùng quyết tử một thời còn dám tự xưng mình là lão thành cách mạng? Họ không đáng là hậu duệ của luật sư Cù Huy Hà Vũ; chứ đừng nói là bậc trưởng thượng!

Tổ tiên mình linh thiêng lắm anh Hải ạ! Nhà Trời phái xuống xứ sở mình một cô gái nhỏ nhắn tên là Phạm Thanh Nghiên dám ngồi nhà ôm tấm bảng “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”: “Người Việt phải biết thương yêu người Việt”. Tôi nghĩ ông Trương văn Sương đúng là vị Bồ Tát tái sinh. Anh Hải biết tại sao không? Bởi vì ông Sương có cha là người Trung Hoa, mẹ là người Khmer. Nghĩa là về huyết hệ, ông Sương không phải là người Việt Nam, ông chỉ sinh trên đất nước Việt Nam. Vị Bồ Tát đã lấy lượng bao dung mở một lối thoát sám hối mà không thể cảm hóa được bọn cầm quyền. Điều đó chứng tỏ tập đoàn cai trị là quỷ, chứ đâu phải người? để phản kháng tại gia. Cô gái biểu dương lòng yêu nước bằng một hành động rất hiền hòa, bị tập đoàn ma quỷ bắt bỏ tù. Thế mà cả nước không ai biết cô là người của Nhà Trời phái xuống để bắt chước noi gương cô nhằm phản kháng thụ động để tê liệt bô máy cai trị. Tiếp theo, một vị Bồ Tát xuất hiện. Đó là tù nhân Trương văn Sương được ví như một Nelson Mandela. Trương văn Sương bị quỷ cộng sản bỏ tù chung thân, được quỷ tạm thả ra một năm để tự lo chữa bệnh tim, rồi sau đó phải vào ở tù tiếp. Thế mà một con người đang bệnh hoạn, ốm yếu ngồi giữa Saigon dám lên án cộng sản là kẻ có tội với dân tộc Việt Nam, nhưng sẵn sàng bao dung tha thứ vì ai cũng có thể phạm vào lỗi lầm. Ông khuyên

Chưa hết! Trời còn cử ra một nhân vật khác để cứu dân Việt Nam. Đó là luật sư Cù Huy Hà Vũ. Anh tưởng rằng tôi nói nhảm à? Tổ tiên ta muốn dân ta giác ngộ, sám hối thì mới mong thoát ra cái họa bị quỷ ám. Ông Cù Huy Hà Vũ là con đẻ của nhà thơ Huy Cận và cũng là con nuôi của nhà thơ Xuân Diệu. Hai nhà thơ thời tiền chiến này được cả nước yêu chuộng, nhưng lầm đường lạc lối vị bị con quỷ cộng sản dụ dỗ. Hai nhà thơ dùng khả năng thiên phú của mình đã góp sức với quỷ làm mê hoặc lòng người, giúp cho quỷ lên ngôi. Nay Trời Phật bắt con của hai người phải có hành động sám hối. Lâu nay người ta ca tụng ông Hà Vũ bênh vực dân oan Cồn Dầu, bảo vệ di tích văn hóa Huế, kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà người ta không nói đền cái việc ông Hà Vũ đòi nhà cầm quyền làm lễ truy điệu và dựng bia tưởng niệm các anh hùng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa can trường chiến đấu chống lại bọn bành trướng Trung Cộng vào năm 1974. Lời đòi hỏi của luật sư Cù Huy Hà Vũ có một tầm chiến lược rất cao mà nhà cầm quyền vì mê muội bạc tiền, công danh nên không nhận ra đã đành, nhưng các nhà trí thức, các vị lão thành cách mạng không nhìn thấy tầm chiến lược đó thì thật là đáng trách.

Tại sao tôi khẳng định lời đòi hỏi của luật sư Cù Huy Hà Vũ có tầm chiến lược rất cao ư?

Thưa anh Tô Hải,

Tà giáo cộng sản luôn luôn giương cao ngọn cờ chính nghĩa để thu phục lòng người. Khát vọng của nhân dân Việt Nam dưới gót giày xâm lược của Thực dân Pháp là được độc lập, tự do và hạnh phúc. Nhờ núp dưới khẩu hiệu đó, cộng sản đã động viên toàn dân không tiếc máu xương. Giương cao ngọn cờ “Giải phóng Miền Nam”, cộng sản đã chiếm được Miền Nam, nhưng hành động của kẻ chiến thắng còn tàn ác hơn quỷ dữ: đẩy dân ra biển, lùa dân lên rừng để chiếm đoạt của cải! Đánh tư sản mại bản tan hoang. Trong đầu óc người cầm quyền và trong não trạng của thành phần gọi là cách mạng lão thành vẫn coi chính quyền Miền Nam là ngụy quân, ngụy quyền, đầy tớ Đế quốc Mỹ. Tội ác của cộng sản gây ra sau khi xâm chiếm Miền Nam được ông Hà Vũ yêu cầu Đảng sám hối bằng hành động tuyên dương chiến sĩ Hải Quân Việt Nam là anh hùng cứu nước để hòa giải hòa hợp nhằm đoàn kết toàn dân chống lại giặc thù Phương Bắc. Tầm chiến lược cao của ông Hà Vũ là điểm đó.

Cuối thế kỷ trước, căn cứ vào thực tiễn, ông Hà Sĩ Phu kết tội cộng sản là loài ký sinh sống bám vào lòng yêu nước. Đầu thế kỷ này, cũng căn cứ vào thực tiễn, ông Cù Huy Hà Vũ xác nhận rằng quân dân Miền Nam anh hùng, đã noi gương tiền nhân dám đương đầu chống lại Tầu Cộng mạnh hơn mình; trong khi đó cộng sản luôn luôn vỗ ngực tự cho rằng “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” thì lại quá ươn hèn nhu nhược. Đòi hỏi của ông Hà Vũ xây đài tưởng niệm chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa là nhìn nhận Miền Nam yêu nước, Đảng hãy xóa bỏ lằn ranh Quốc Cộng và trở về đạo lý dân tộc, cùng nhau đoàn kết diệt kẻ thù chung và xây dựng đất nước trong tình thương yêu giống như Bồ Tát Trương văn Sương nhắn nhủ: Người Việt Hãy Yêu Thương Người Việt. Năm 2010, phụ họa theo lời yêu cầu của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, tôi gửi một bức thư cho nhà cầm quyền Việt Nam qua cơ quan ngoại giao của họ ở Hoa Kỳ, đề nghị Nhà Nước cung cấp một chiến hạm nhân Ngày Rằm Tháng Bảy lễ xá tội vong nhân, để chở thân nhân các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Cộng trong trận hải chiến năm 1974 và thân nhân chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân chống Trung Quốc năm 1988 ra Hoàng Sa làm lễ truy điệu các chiến sĩ đã bỏ mình vì nước. Tôi dù là lính Không Quân, cũng sẵn sàng tháp tùng chiến hạm. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ im lặng.

Tôi từng viết thư đề nghị nhà cầm quyền Việt Nam thành tâm thực hiện đoàn kết dân tộc bằng những hành động cụ thể (chứ không phải bằng Nghị quyết 36) thì người Việt hải ngoại sẽ bỏ qua quá khứ phạm tội ác của họ. Khối chất xám và tài chánh của người hải ngoại sẽ là nguồn lực giúp cho nước Việt Nam mau chóng trở thành con tiểu long của Châu Á. Bằng cớ là Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ dù là con đẻ và con nuôi của công thần chế độ mà chỉ cần kêu gọi nhà cầm quyền dựng tượng đài kỷ niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa thì đã được hầu hết đồng bào hải ngoại lên tiếng ủng hộ. Có người đòi về Việt Nam biện hộ cho Cù Huy Hà Vũ trước tòa. Anh có thấy đấy chính là phía thua trận đã sẵn sàng xóa lằn ranh Quốc Cộng giữa người Việt quốc gia và Cù Huy Hà Vũ? Đảng cầm quyền bỏ tù Cù Huy Hà Vũ vì họ không muốn hòa giải hòa hợp với người quốc gia yêu nước, nhân dân Việt Nam có thấy không?

Nếu dân tộc ta chịu thức tỉnh để nhận ra tín hiệu từ Trời Phật gửi xuống thì mỗi người Việt phải là một Phạm Thanh Nghiên, một Trương văn Sương hoặc một Cù Huy Hà Vũ. Ai là người sẽ khởi xướng tự biến mình là Phạm Thanh Nghiên, là Trương văn Sương, là Cù Huy Hà Vũ, nếu không phải là các nhà trí thức, các cách mạng lão thành? Tôi tin chắc rằng cộng sản sẽ bó tay, không cách nào có thể bỏ tù hết 80 triệu con người nếu toàn dân ta dám noi gương các vị anh hùng vừa nêu. Tôi không đồng ý với người anh thúc bá – Hùm Xám Đặng văn Việt – gửi đơn khắp các cơ quan để xin phục hồi danh dự cho song thân mình. Mới đây, đọc thư của ông anh mình trên trang Bauxite-VN, tôi hoàn toàn thất vọng.

Năm ngoái, nhà văn Trần Mạnh Hảo viết bài tham luận Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” được nhiều độc giả quốc nội hải ngoại tán thành và khen hay. Bài tham luận đó cho đến nay vẫn còn được nhiều người nô nức phổ biến cho nhau đọc. Điều đó chứng tỏ ai cũng quý SỰ THẬT. Vậy tôi sắp sửa nói lên sự thật này thì liệu người nghe có thấy khó chịu? Nhóm chủ trương trang mạng Bauxite-VN tự nhận mình là những nhà trí thức phản biện. Liên tiếp mấy năm liền, các vị đã viết kiến nghị gửi lãnh đạo Việt Nam, được nhiều người tên tuổi ký vào để xin việc này việc nọ. Nhưng không lần nào được lãnh đạo đếm xỉa, các kiến nghị đều bị ném vào sọt rác! Sự khinh thường của người cầm quyền đến nước này là tột độ.

Theo tôi, viết đơn như anh Đặng văn Việt xin Đảng phục hồi danh dư song thân hoặc viết kiến nghị xin nhà cầm quyền ngưng dự án khai thác Bauxite ở Tây Nguyên như các nhà trí thức phản biện đã làm, là một cách hợp thức hóa cho Nhà Nước Cộng Sản có vị thế chính đáng (legitimacy) trong việc cai trị. Cộng sản tự nhận họ là chính quyền nhân dân là một sự tiếm dụng danh nghĩa, bởi vì họ dùng thủ đoạn chính trị và bạo lực để cướp chính quyền; chứ họ không hề cho người dân dùng lá phiếu để lựa chọn. Đáng lý ra sau nhiều lần gửi kiến nghị mà đều bị coi khinh thì người trí thức không nên kiên nhẫn làm việc đó nữa. Rồi đây kiến nghị xin tha Cù Huy Hà Vũ cũng sẽ bị nhà cầm quyền ném vào sọt rác.

Giá như các nhà trí thức viết một bản cáo trạng có nội dung tương tự như sau, để ai đồng ý thì ký vào:

“Chúng tôi những cách mạng lão thành, những nhà trí thức cực lực lên án việc Đảng Cộng sản Viêt Nam bỏ tù Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ về tội âm mưu lật đổ Chính quyền Nhân dân là vô căn cứ, trái với quyền làm người của một công dân yêu nước được quốc tế xác nhận, bởi vì dưới ách cai trị của cộng sản, Việt Nam chưa hề có Chính quyền Nhân Dân.

Chúng tôi những cách mạng lão thành, những nhà trí thức cực lực lên án việc Đảng Cộng Sản Việt Nam nhượng đất nhượng biển, cho ngoại nhân khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, khai thác rừng đầu nguồn mà không cho dân biết, dân bàn, dân kiểm tra là hành động bán Non Sông của Tổ tiên để lại…

Đó mới là khẩu khí của người tự nhận mình là cách mạng lão thành từng dám quyết tử để thế hệ sau quyết sinh, của nhà trí thức dám đứng về phía kẻ bị đàn áp, bị bóc lột để đòi quyền làm người. Tự do không thề xin mà có! Nếu các vị cách mạng lão thành không có cái dũng của Tô Hải, vẫn còn bám vào thần tượng Hồ Chí Minh để thờ, còn coi quân dân Miền Nam là ngụy, là phản động; và nếu các nhà trí thức không có cái dũng của Hà Sĩ Phu ở cuối thể kỷ trước dám coi cộng sản là ký sinh trùng hoặc cái dũng của Cù Huy Hà Vũ ở đầu thế kỷ này công khai xác nhận quân dân Miền Nam anh hùng đã oanh liệt chống lại giặc thù truyền kiếp Phương Bắc thì nước Việt Nam sẽ còn ngụp lặn trong vũng lầy. Các nhà cách mạng lão thành trót bị ma đưa lối quỷ đưa đường, tham gia vào cái đảng của tội ác thì nay nên quỳ xuống xin lỗi quốc dân. Các nhà trí thức phải có cái dũng như người tù kiệt xuất Trương văn Sương ngồi giữa Saigon mà ngang nhiên kết tội cộng sản. Tôi không viết bài phê bình nhà toán học Ngô Bảo Châu như một số người, vì xét cho cùng, anh ta đáng thương hơn đáng trách, vì bộ óc thông minh xuất chúng đó trót sinh ra trong chế độ … của quỷ! Cách mạng lão thành “quyết tử”, các nhà trí thức còn viết kiến nghị xin xỏ thì không thể đòi hỏi gì hơn ở người trẻ Ngô Bảo Châu!

Thưa anh Tô Hải quý mến,

Bộ máy tuyên truyền cộng sản dùng phương pháp nhai đi nhai lại sự dối trá khiến cho người nghe riết thì tưởng là sự thật. Thực chất họ là tay sai Nga Tầu, nhưng ngụy trang là anh em đồng chí. Họ miệt thị lãnh đạo Miền Nam là bè lũ Nhu Diệm, Thiệu Kỳ làm đầy tớ cho Đế quốc Mỹ với mục đích bôi nhọ chính nghĩa của người Miền Nam và giành chính nghĩa giải phóng dân tộc về phía họ. Thực tế đã cho toàn dân thấy rõ Đảng Cộng Sản là kẻ bán nước. Và sử sách để lại chứng tỏ Tổng thống Ngô Đình Diệm là người yêu nước tôn trọng chủ quyền quốc gia, nhất định không để quân đội Hoa Kỳ hiện diện trên đất nước Việt Nam. Tôi đã gửi cho anh xem bức thư của bà Đặng Tuyết Mai – nguyên phu nhân cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ – nay đã ly dị, viết cho tôi thì anh thấy rõ cung cách ứng xử của lãnh đạo Miền Nam đối với Hoa Kỳ ra sao. Trong một bức thư ngắn ngủi, bà Đặng Tuyết Mai không thể kể ra hết những sự kiện mà người chồng cũ của bà được Đồng Minh không những chỉ có Hoa Kỳ mà còn có cả lãnh tụ của các nước như Úc, Tân Tây Lan, Đài Loan, Đại Hàn, Mã Lai, Phi Luật Tân… kính trọng lãnh đạo Miền Nam như thế nào. Bà Đặng Tuyết Mai đang ở Saigon, ai cũng có thể đến để hỏi cho rõ ngọn ngành, chứ không cần đợi đến lúc bà xuất bản cuốn hồi ký. Chẳng hiểu trong hàng ngũ Tướng lĩnh trẻ cộng sản có sản sinh ra nổi một Nguyễn Cao Kỳ đầy nhiệt tình yêu nước thương dân, trong sạch, có nhân cách lãnh đạo để dân không khinh, để ra tay cứu nước?

Phương cách cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam là dùng mánh mung, tiểu xảo, thủ đoạn từ đối nội đến đối ngoại. Họ không tuân thủ chính luật lệ do họ đặt ra. Nhân dân trong nước căm ghét họ vì cái tội nói dối; thế giới khinh khi họ vì tội đưa tay ký kết chấp nhận luật chơi quốc tế, nhưng vẫn có hành vi côn đồ đối với nhân dân. Tập đoàn thống trị cộng sản chắc chắn phải sụp đổ vì ngay trong nội bộ đã cho ta thấy mầm chia rẽ. Cái nguy cho đất nước là người cộng sản mang tâm lý không ăn được thì đạp đổ, nên họ nhất quyết không cho một tổ chức nào thành hình để chuyển nhượng quyền lực một cách êm thắm. Do đó, sự sụp đổ của cộng sản sắp tới đây sẽ vô cùng ghê gớm, vì ông Ba Tầu ở Phương Bắc chắc chắn sẽ nhẩy vào ăn có. Nghĩ tới ngày đó, tôi vô cùng lo lắng. Vì vậy ngày đêm tôi cầu mong sẽ có một vị Tướng cộng sản đang cầm quân bỗng nhiên được Trời Phật thanh tẩy để trở thành một vị Thánh Gióng, một Quang Trung Nguyễn Huệ … Ngoài ra, hết thuốc chữa rồi anh Tô Hải ạ!

Xin anh hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe để viết những bài viết thức tỉnh các vị lão thành cách mạng cùng thời với anh.

Trân trọng,

Bằng Phong Đặng văn Âu


Ý NGHĨA CỦA MỘT CHỮ KÝ Từ dễ chịu đến dễ chịu

Hòa Bình là kết quả của Công Lý và Tình Liên Đới

(Is 32,17; Gc 3,18; Srs 39)



Ý NGHĨA CỦA MỘT CHỮ KÝ
Từ dễ chịu đến dễ chịu

Năm nay ở Sài Gòn mùa mưa bắt đầu khá sớm, lại vào lúc ai cũng bị ám ảnh bởi con ma cúp điện. Không khí đang oi bức, ngột ngạt, bỗng trở nên dễ chịu hẳn ra. Trước đó không bao lâu, lại xảy ra một chuyện “dễ chịu” khác.

Đó là ngày 18-04 trang mạng Nữ Vương Công Lý đưa tin : đức cha Phao-lô Nguyễn Thái Hợp, giám mục Giáo phận Vinh, Chủ tịch Uỷ Ban Công Lý – Hoà Bình của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đã ký tên vào kiến nghị trả lại tự do cho tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Bản tin ghi rõ là tên đức cha Hợp ở trong danh sách đợt 2 (chứ không phải đợt 1), chắc hẳn là trước khi đặt bút ký, ngài đã phải đắn đo, suy nghĩ, thậm chí hỏi ý kiến. Điều đáng chú ý là các lời bình tiếp theo sau bản tin : Chỉ trong 3 ngày đã có tới 48 lời bình, tất cả đều cho thấy những người đọc đã mừng vui, phấn khởi đến mức nào : “Tin vui trong tuần thánh”, “Thật là tuyệt vời”, “Chớ gì các giám mục đều ký”, “Vô cùng khâm phục”, “Thật là kỳ diệu”…
Sức mạnh của tập thể

Tuy những người chủ trương kiến nghị là các nhà khoa học của mạng bauxite, đứng đầu là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, và đức cha Hợp cũng như bao người khác, chỉ “ăn theo” thôi (lại vào đợt 2), nhưng chỉ một chữ ký của ngài cũng khiến cho bao nhiêu người nức lòng phấn khởi ! Bản thân đức cha Hợp hẳn không quên rằng chỉ cách đây mấy tháng, hồi nổ ra vụ Cồn Dầu, ngài đã gửi văn thư cho Chủ tịch UBND Tp. Đà Nẵng, nhưng không được hồi âm, cho dù ngài gửi với tư cách Chủ tịch Uỷ Ban Công Lý – Hoà Bình của HĐGM/VN. Kinh nghiệm đó cho thấy chức danh tự nó chẳng có gì ghê gớm cả. Và chuyện này, các chức sắc của HĐGM/VN biết rõ hơn ai hết : suốt bao nhiêu năm trường, bao nhiêu văn thư, bao nhiêu kiến nghị được gửi đến các cơ quan nhà nước, đã bị đối xử như thế nào ! Nay chấp nhận cùng đứng với một tập thể, tiếng nói chung có một sức mạnh khác. Có người đã nói rất đúng : phải chi không chỉ một mình đức giám mục Vinh, nhưng tất cả các giám mục cùng ký tên, cùng lên tiếng, thì tiếng nói chung còn mạnh tới mức nào, vì đằng sau các ngài là bảy tám triệu dân Công Giáo.
Đằng sau bản kiến nghị

Bản kiến nghị đòi huỷ bỏ bán án cho tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ là một hành động đấu tranh cho công lý. Bất cứ người có lương tri nào cũng thấy : đó là một bản án bất công. Khác với luật sư Lê Quốc Quân, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ không phải là một tín hữu Công Giáo, càng không phải là một thành viên của Uỷ Ban Công Lý – Hoà Bình của HĐGM/VN do đức cha Nguyễn Thái Hợp làm Chủ tịch. Thế nhưng đức cha Hợp vẫn ký vào bản kiến nghị ủng hộ tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ là vì đằng sau tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ là cả một cuộc đấu tranh

– cho người nghèo qua việc văn phòng mang tên ông sẵn sàng đứng ra bênh vực các giáo dân Cồn Dầu, cho dù sau đó nhà nước không chấp nhận,

– cho tự do dân chủ qua yêu cầu xoá bỏ điều 4 hiến pháp,

– cho môi sinh, cho toàn vẹn lãnh thổ qua việc kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cho phép Trung Quốc vào khai thác quặng bauxite Tây Nguyên…
Ý nghĩa lớn của một việc nhỏ

Thế thì ký vào kiến nghị yêu cầu trả tự do cho tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tuy chỉ là một hành vi nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa lớn. Từ bao nhiêu năm nay, nguyên tắc “không làm chính trị” vẫn ám ảnh các giám mục Việt Nam, cộng thêm với nỗi sợ hãi đã ăn vào máu thịt của bất cứ ai sống dưới một chế độ độc tài, tàn ác. Hậu quả là các ngài đã ngậm miệng làm thinh trước những vấn đề xã hội như áp bức, bất công, hay ngay đến sự tồn vong của dân tộc. Nay nếu đã đến lúc khám phá ra rằng cái tự do tôn giáo mà các ngài có bổn phận phải kiếm tìm (chưa nói đến đấu tranh) không thể nằm khơi khơi một mình, tách biệt với mọi thứ tự do khác, thì việc chung tiếng nói, chung sức chung lòng với bất cứ ai thành tâm thiện chí, để đấu tranh cho công lý, cho tự do dân chủ, cho môi sinh, cho toàn vẹn lãnh thổ là một việc làm thích đáng, cho dù chậm trễ. Và qua việc luật sư Lê Quốc Quân và bác sĩ Phạm Hồng Sơn được trả tự do, đức cha Hợp cũng như bất cứ ai, đều hiểu ra rằng nếu không có các buổi cầu nguyện tại nhiều nơi và đang lan rộng ra khắp nước, thì bao nhiêu văn thư, bao nhiêu cuộc đối thoại với chính quyền, cũng chẳng đi tới đâu.
Một luồng gió mới

Điều không thể chối cãi là trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ, phiên xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã tạo nên một bầu khí mới, đánh dấu một giai đoạn mới, liên kết nhiều thành phần xã hội khác nhau. Và việc bắt giữ trái phép một số người, trong đó có luật sư Lê Quốc Quân và bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã đưa đến chỗ “già néo đứt dây”, đưa đến các buổi tổ chức cầu nguyện hàng loạt khắp nơi để cuối cùng hai “phạm nhân” được thả ra không kèn không trống. Trong thánh lễ tạ ơn tại nhà thờ Thái Hà, hình ảnh các gia đình tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, luật sư Lê Quốc Quân và bác sĩ Phạm Hồng Sơn như một lời mời gọi tha thiết : đã đến lúc mọi công dân Việt Nam, thuộc mọi giai tầng xã hội, thuộc mọi tôn giáo phải cùng nhau đấu tranh ôn hoà cho nhân quyền, cho tự do dân chủ, cho toàn vẹn lãnh thổ. Hoạ mất nước đang lù lù trước mắt. Người dân Việt Nam đang trở thành xa lạ ngay trên đất nước của mình. Thế thì kiến nghị trả tự do cho tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ chính là cơ hội cho mọi người Việt Nam cùng cất tiếng nói : Luật pháp không thể tiếp tục bị coi thường, công lý không thể bị chà đạp cách thô bạo. Tiếng nói của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ không chỉ là tiếng nói của một nhà trí thức, của một luật gia, một công dân yêu nước, nhưng là tiếng nói của mọi người Việt nam yêu tự do, yêu độc lập, yêu hoà bình.
Kết luận

Đã có biết bao nhiêu lời kêu gọi, bao nhiêu lời tuyên bố chẳng có bao nhiêu tác dụng, nhưng chỉ một chữ ký thôi cũng đã gây phấn khởi cho bao người, đúng như lời Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI : “Con người thời nay không cần thầy dạy, nhưng cần nhân chứng”. Xin được kết thúc với lời bình của ai đó sau khi đọc thông tin về việc đức cha Hợp ký tên vào kiến nghị trả tự do cho tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ : “Chớ gì các giám mục đều ký !”


Sài Gòn, ngày 21 tháng 04 năm 2011

Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm pascaltinh@gmail.com

Bài Xem Nhiều