We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 23 April 2011

Chuyển giao Ngọn lửa Truyền thống.




( bài viết để tặng các chiến sĩ tranh đấu nhân quyền ở Việt nam, và riêng tặng các bạn luật sư Trần Danh San & Triệu Bà Thiệp cùng các chiến hữu trong Ủy Ban Nhân Quyền Việt nam, nhân kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư)

Hồi năm 1980 – 81, cụ Nguyễn Hiến Lê được một người cháu làm cho Liên Hiệp Quốc ở Genève về thăm và đem cho cụ một số sách báo mới xuất bản tại Pháp. Cụ đọc xong, rồi chuyển cho một số anh em chúng tôi mượn để coi nữa. Thật là một điều may mắn hi hữu, vì sau năm 1975 tại Saigon, rất ít khi chúng tôi lại có được sách báo từ bên ngòai để mà đọc.
Trong cuốn sách nhan đề “Le Défi Mondial” ( Sự Thách đố Tòan cầu) của nhà báo Pháp nổi danh, tôi được đọc đọan văn ông tường thuật lại buổi nói chuyện với Bà Indira Gandhi là Thủ tướng Ấn độ. Và tôi rất tâm đắc với tâm sự của bà Indira thổ lộ với tác giả là nhà báo Jean Jacques Servan – Schreiber (JJSS) như sau : “ Vấn đề là làm sao chúng ta truyền lại được cái ngọn lửa cho thế hệ con cháu tiếp nối cái truyền thống tốt đẹp của cha ông mình” (nguyên văn chữ tiếng Pháp : le transfert de la flamme). Và đó là lý do để bài viết này có nhan đề là “ Chuyển giao Ngọn lửa Truyền thống ”.
I - Rõ ràng là bà Indira Gandhi ( bà lấy tên chồng, chứ không phải có họ hàng gì với Thánh Gandhi) đã tiếp nối cái sự nghiệp lẫy lừng của người cha của bà, đó là Thủ tướng Nehru, người đã cùng sát cánh lâu năm với Thánh Gandhi trong phong trào tranh đấu dành độc lập cho nước Ấn độ thóat khỏi sự kềm kẹp của thực dân Anh quốc. Và sau khi bà mất đi, thì đến lượt con trai của bà là Rajiv Gandhi tiếp nối nắm giữ chức vụ Thủ tướng. Rồi gần đây, lại đến lượt người con dâu của bà là Sonia quả phụ của Rajiv nhập cuộc trong việc lãnh đạo chính trị tại Quốc hội Ấn độ.
Thành ra, chỉ riêng trong một gia đình của cố Thủ tướng Nehru, thì đã có đến ba thế hệ liên tục tham gia phục vụ tại một quốc gia có dân số đông đảo được xếp vào hạng thứ nhì trên thế giới, sau Trung quốc. Đó là chuyện ở Ấn độ.
II – Còn chuyện ở Mỹ, thì tôi xin ghi về trường hợp của một anh bạn mà tôi đã quen biết từ trên 40 năm qua. Đó là anh Stephen B Young – người mà chúng ta đều biết đã từng là chiến hữu thân thiết sát cánh lâu năm với cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy – thì nhờ tìm đọc tiểu sử của anh trên internet, ta cũng thấy được rõ ràng anh Stephen là thứ “con dòng cháu giống”.Thân phụ của anh là giáo sư và cựu đại sứ Kenneth Todd Young, thì thuộc dòng dõi của cụ cố Winthrop Young là người tham gia chiến đấu thời cách mạng độc lâp chống lại quân đội Hòang gia Anh hồi năm 1775. Còn thân mẫu Patricia Morris Young, thì thuộc dòng dõi của cụ cố Louis Morris là người đã ký tên trên Bản Tuyên Ngôn Độc lập Hoa kỳ thời lập quốc.
Rồi đến bản thân Stephen, thì anh đã từng giữ chức vụ Khoa trưởng Trường Luật tại Đại học Hamline ở Minnesota. Anh hiện đang có sự nghiệp chuyên môn lừng lẫy quốc tế với chức vụ “ The Global Executive Director of the Caux Round Table” ( Giám đốc điều hành Tòan cầu của Hội nghị Bàn tròn Caux). Nhưng điều quý báu nhất của Stephen là anh rất yêu thương gắn bó với Việt nam là quê hương của chị Phạm Thị Hòa người bạn đời của anh, và cũng là quê ngọai của lũ con của hai anh chị. Họat động của anh rất năng nổ đa dạng, phải cần đến một bài viết khác nữa, thì mới trình bày đày đủ chi tiết cho rõ ràng được.
III - Ở Việt nam ta, thì lịch sử đã từng ghi chép nhiều về những danh gia vọng tộc, mà trong nhiều thế hệ, cha ông của họ đã có những đóng góp xuất sắc về nhiều phương diện quân sự chính trị, văn hóa xã hội cho đất nước. Trong bài này, tôi muốn ghi lại những đóng góp tích cực và liên tục của giới luật gia Việt nam trong vòng trên nửa thế kỷ gần đây vào công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền trên quê hương đất nước chúng ta.
A - Bắt đầu, phải kể đến Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là người đã đi tiên phong trong sứ mạng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền ngay từ năm 1956 ở Hanoi, lúc mà chính quyền cộng sản còn rất hung hãn quá khích với chiến dịch cải cách ruộng đất. Trong bài diễn văn bất hủ đọc ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại Mặt trận Tổ quốc, ông đã phê phán thẳng thắn chế độ đương quyền như sau : “ Mình tự phụ, tự hào mình có độc quyền tìm thấy và giữ gìn chân lý. Đó là tật tự cao, tự đại của nhà cách mạng.”…” Trái với lời ta thường nói, ta đã thiếu dân chủ với nhân dân”…
Sau đó là ông bị trù dập, bị tước bỏ mọi chức vụ, không còn được hành nghề luật sư, không còn được dậy học và gia đình bị lâm vào cảnh túng thiếu ngặt nghèo, đói ăn thiếu thuốc men chữa bệnh. Và đó cũng là số phận của rất đông trí thức văn nghệ sĩ khác trong Nhóm Nhân văn Giai phẩm từ giữa thập niên 1950 trên đất Bắc.
B – Hai mươi năm sau, lúc cộng sản đã chiếm được tòan thể miền Nam và áp đặt một chế độ độc tài sắt máu trên toàn quốc, thì có một nhóm luật sư họp lại với nhau thành lập một tổ chức với danh xưng là : “Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam”. Và đúng vào ngày 23 tháng Tư năm 1977, Ủy ban đã cho công bố một văn kiện nhan đề là : “ Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”. Luật sư Trần Danh San đại diện Ủy Ban đã công khai tuyên đọc bản Tuyên ngôn này tại công trường Nhà Thờ Đức Bà Saigon. Xin ghi lại một đọan ngắn trong bản giải thích lý do tranh đấu : “Chúng tôi tranh đấu để bênh vực con người, và các quyền bất khả xâm phạm của con người. Chúng tôi đấu tranh để giành lại sự tươi mát của tương lai”.
Ngay lập tức, anh San và các bạn đồng chí hướng mà đã ký tên vào văn kiện này thì đều đã bị công an bắt giam, hạch hỏi, kể cả tra tấn trong nhiều năm. Các bạn luật sư này đã nối tiếp tinh thần tranh đấu kiên cường bất khuất của bậc đàn anh là Luật sư Nguyễn Mạnh Tường ở Hanoi trước đây.
C - Và ngọn lửa tranh đấu này đã được chuyển giao cho thế hệ trẻ hơn hiện nay với những tiêu biểu xuất sắc là Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Bắc Truyển, Lê Trần Luật v.v… Chỉ trong vòng 10 năm gần đây, các bạn luật sư trẻ này đã tham gia nhập cuộc với các bạn đồng lứa tuổi với mình trong công cuộc tranh đấu chống tham ô lãng phí, bảo vệ người dân oan, bảo vệ môi sinh, và nhất là bảo vệ sự tòan vẹn của lãnh thổ trước sự xâm lấn của Trung quốc. Họ đều sinh ra, lớn lên và học hành dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, thậm chí nhiều người còn là con em từ các gia đình cán bộ đảng viên thuộc lọai cao cấp, trung cấp nữa. Ấy thế mà các bạn trẻ này vẫn quyết tâm kiên trì đấu tranh chống lại cái ác, chống lại những điều bất công thất đức đày dãy trong xã hội ngày nay. Và mặc dầu bị sách nhiễu, bị đe dọa, bị giam cấm tù đày, họ vẫn hiên ngang đi tới theo tiếng gọi của lương tâm trong sáng và noi theo truyền thống trượng phu quân tử của cha ông mình : “ Anh hùng thấy sự bất bằng chẳng tha !”.
Đây quả thật là sự tiếp nối, sự kế thừa của chí khí bất khuất của giới sĩ phu trong truyền thống đạo đức văn hóa tốt đẹp từ ngàn xưa của cha ông chúng ta. Vào giữa tháng tư năm 2011 vừa đây, trong buổi họp mặt kỷ niệm của Ủy Ban Nhân Quyền Việt nam do các luật sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp tổ chức tại vùng Little Saigon ở Nam California, một thân hữu đã phát biểu : “Khi luật sư San đọc Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền vào năm 1977 tại Saigon, thì cô Luật sư Lê Thị Công Nhân chưa có sinh ra đời, vì thực tế cô sinh vào năm 1979. Ấy thế mà cô đã hiên ngang tuyên bố trước khi bị bắt giữ : “ Một lần nữa, tôi xin khẳng định tôi không bao giờ thỏa hiệp với cộng sản Việt nam, cho dù điều tồi tệ nhất có thể xảy đến” – “Sống thế nào thì sống vẫn phải giữ lòng tự trọng và lương tâm của mình. Chỉ có lương tâm và lòng tự trọng của tôi nói với tôi rằng : Không bao giờ đầu hàng”.
Lời nói của một cô gái lúc chưa đến 30 tuổi, mà lại được sinh ra và được giáo dục ngay dưới chế độ công sản như thế, thì rõ ràng đã chứng minh rằng : Người cộng sản không thể nào mà dập tắt được cái ngọn lửa yêu nước nông nàn vốn luôn âm ỉ cháy bỏng trong tâm can người Việt, và ngọn lửa này vẫn tiếp tục được lưu chuyển từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp của đại khối dân tộc Việt nam chúng ta vậy.
Và đó chính là niềm hy vọng lạc quan tươi sáng cho quê hương đất nước thân yêu chúng ta trong thế kỷ XXI này./

California, ngày 23 tháng Tư năm 2011

LS.Đòan Thanh Liêm

Những chuyện tháng Tư 2011




Nhận được cú phone của anh S., tôi bàng hòang tưởng mình nghe nhầm, bèn hỏi lại: “Ông L. của mình hả?”; tiếng ông S. lập lại: “Thì L. của mình chớ L. nào?” Tôi hỏi: “Tại sao chết? Chết bất tử vậy?“. Ông S. cười: “Thì chết chớ sao!” Chắc anh cũng không biết trả lời như thế nào trước những câu hỏi lãng xẹt của tôi! Nhưng lúc đó, tôi thật bàng hòang. Trong nhóm 4 người lên chiếc tàu Anh Tuấn rời bến tàu gần kho 5 Khánh Hội ngày 29 tháng 4 năm 1975, bây giờ đã có 2 người bỏ anh em, bỏ bạn bè ra đi vĩnh viễn. Người thứ nhất là ông T., chết cách đây 4 năm vì bệnh ung thư và bây giờ là ông L., bể mạch máu não, như vậy chỉ còn 2 người ở lại là ông S. và nhà tôi! Khi báo tin với nhà tôi, đang đi công tác cho TV ở Thái Lan, anh cũng hỏi câu tương tự: “Ông L. nào? ông L. của mình hả?“; tôi đáp: “Thì ông L. của mình chứ ông L. nào!” Phải, ông L., một người bạn đồng sự trong trung tâm điện ảnh, tại Khánh Hội. Trong lúc hỗn quân, hỗn quan, Cộng Sản chờ chực pháo vào Sài Gòn, chúng tôi đã lên chung chuyến tàu Anh Tuấn đang chuẩn bị nhổ neo. Gia đình ông S. có nhiều người từ Đà Nẵng chạy vào cũng đang chuyển người lên tàu...

Mắt tôi tự nhiên thấy cay cay. Một người bạn thân nữa đã từ giã ra đi! Chừng nào tới phiên những người còn ở lại?

Chúng tôi, 4 gia đình chất lên một xe đi xuống Houston dự đám tang. Trong đó có anh chị P. tuy không đi cùng chuyến tàu Anh Tuấn - anh chị bị kẹt lại, anh đi tù và qua sau -- nhưng anh P. cũng làm việc trong trung tâm điện ảnh trước khi chúng tôi từ Pleiku về Sài Gòn, ngày chúng tôi chất nhau lên tàu lánh nạn Cộng Sản, gia đình anh P. không có mặt tại Sài Gòn. Anh P. làm tài xế chở chúng tôi đi dự đám tang anh L. Anh S. cố gắng làm cho không khí đỡ buồn: ”Ông L. sướng hơn tụi mình, chả bỏ đi trước có tụi mình đến dự, tới phiên tụi mình đi, chả đâu có tới!” Đúng vậy! người nằm xuống, xuôi tay nhắm mắt không còn vướng bận sự đời, hay sự đời cũng không làm cho họ vướng bận, chỉ có người còn sống là nhớ thương, sầu thảm mà thôi. Anh L. ra đi một cách rất nhẹ nhàng, nghe nói anh đi vào phòng tắm, có lẽ lên cơn mệt, anh ngồi rủ xuống sàn, ngủ một giấc say sưa. Chị L. kể lại: buổi tối, không thấy chồng vào phòng ngủ, chị xuống nhà dưới và tìm thấy anh nằm ngáy trong phòng tắm, điều kỳ lạ, là anh vẫn ngáy rất to, nhưng mặc cho chị lay gọi, anh không tỉnh dậy, nên phải kêu 911, thế là anh đi vào giấc ngủ thiên thu! Anh đã được 77 tuổi! Không thể tưởng tượng với tuổi đó, anh nhìn rất trẻ và khỏe mạnh, chị L. nói không hề có một dấu hiệu bệnh tật nào trước đó. Chúng tôi cùng chép miệng an ủi: “Anh L. phải tu chục kiếp mới ra đi một cách nhẹ nhàng như vậy!”

Chúng tôi ôm nhau trong nhà quàn, mắt mũi ai cũng ngu ngơ. Mau thật! tưởng như mới ngày nào, chúng tôi chân ướt chân ráo tới Mỹ, giờ nhìn lại ai cũng 6, 7 chục bó. Con cái mới năm nào còn nhỏ xíu, bồng bế trên tay, nay đứa lớn nhất đã điểm lâm râm tóc bạc.

Tháng 4 của 36 năm về trước, chúng tôi tay xách nách mang với 4 đứa con thơ, leo lên chiếc tàu Anh Tuấn đang đợi dưới bến, để mang một đòan người không biết sẽ trôi giạt nơi nào để tránh họa Cộng Sản. Dĩ nhiên những người chạy ké như chúng tôi mới không biết chiếc tàu sẽ mang mình đi đến phương nào, còn những chủ tàu chắc chắn biết nơi họ sẽ đi đến, đó là Subic Bay, Phi Luật Tân.

Với 4 đứa con thơ, hai vợ chồng và đứa em gái, chúng tôi chỉ kịp mang trên mình một túi xách áo quần nhỏ, không valise, không cặp táp, vài giấy tờ tùy thân mà lúc hỏang hốt, chúng tôi vẫn ráng mang theo. Những vật dụng kồng kềnh nhất là của đứa con mới sinh được hơn 2 tháng, nào là bình sữa, khăn lông, tã lót, bình nước nóng... 3 đứa kia, nét mặt ngơ ngác làm theo lời cha mẹ nhưng có lẽ không hiểu rõ lý do nào rõ rệt tại sao ba mẹ phải bỏ nhà, bỏ cửa, lênh đênh trên biển cả mấy ngày trời vì hai chữ “Việt Cộng tới!”

Rời bờ 1 ngày, chúng tôi nghe lệnh đầu hàng, đàn ông, đàn bà nước mắt lã chã trên gương mặt đã hằn vết suy tư. Cái sợ, cái buồn, cái đau mất nước vào tay Cộng Sản trộn lẫn với cơn mưa bão muốn đánh chìm con tàu làm người lớn mệt nhòai, con nít mất sức, thằng út của chúng tôi khát sữa nhưng khóc cũng không ra hơi. Mẹ con bị say sóng nằm la liệt. Đứa con gái 4 tuổi lại không hề hấn gì, cháu vẫn theo ba, leo lên, leo xuống dưới hầm tầu bằng 1 cái thang dựng đứng, nhìn lên, nhìn xuống đều thấy chóng mặt. Sau cơn mưa, trời lại sáng, thiên hạ đem những hình ảnh bị mưa bão làm ướt, cả những tờ giấy bạc nữa, đem phơi. Chúng tôi lúc ấy mới nghe được mình sẽ đi đến nơi nào. Những người mang quân phục và có súng ống bên mình đã quăng xuống một quãng sông khi nghe lệnh đầu hàng phát ra từ chiếc radio! Trên mình mọi người, quần áo, tóc tai đã bắt đầu khô theo nắng và gió.

Lênh đênh 7 ngày, 7 đêm chúng tôi cũng đến được Subic Bay, Phi Luật Tân. Đòan người lôi thôi, lê thê lếch thếch sắp hàng đi làm giấy tờ. Và từ đó chúng tôi nghỉ ngơi không bao lâu, lại được đưa đi đảo Guam và sau đó đến trại tị nạn đã được định trước là Fort Chaffee, Arkansas.

Cũng như mọi người di tản, chúng tôi phải hòa nhập vào cuộc sống tập thể trong các barack, mỗi gia đình tuy có khỏang không gian riêng, nhưng phải chia chung phương tiện vệ sinh tắm rửa công cộng. Trẻ con vẫn vô tư chạy nhảy, còn người lớn bề ngòai, tuy vẫn sinh họat chung với mọi người nhưng trong tâm trí, ai cũng lo âu, không biết tương lai sẽ về đâu? Việc gì đang xảy ra ở quê hương đang xa cả nửa vòng trái đất? Cha mẹ, anh em, bà con, bạn bè thân thuộc giờ ra sao? Có người còn kẹt lại vợ con, có người chạy theo đòan người di tản, chồng thì vẫn còn kẹt trong một chiến trận nào đó!? Nói làm sao hết những tâm sự ngổn ngang! Bà T. vẫn khóc rấm rứt mỗi đêm về vì đứa con gái thứ 2 bị kẹt lại! Bà Lân với 5 đứa con, gia đình ông S. cũng tạm trú trong một barack không xa mấy.
Chúng tôi, những người đi cùng chuyến tàu vẫn gặp gỡ nhau hàng ngày và cùng tự hỏi, đời mình rồi sẽ ra sao? Ngòai nhóm bạn bè hàng xóm trong cư xá điện ảnh truyền tin, cùng chạy trên chiếc tàu Anh Tuấn, chúng tôi còn gặp được nhiều bạn bè khác, có người học chung trường với tôi, hoặc học cùng khóa Võ Bị với nhà tôi. Ngày ngày trong khi chờ sponsor bảo lãnh, chúng tôi cùng đi sắp hàng lãnh cơm, sắp hàng chờ cà phê, bánh ngọt, hay rủ nhau đi xem phim giải trí. Khi bóng đêm phủ xuống, chúng tôi lại đi vào bên trong, khi thì phòng người này, khi thì phòng người kia, bàn tán nghe ngóng tin tức của đài BBC hoặc VOA. Buổi tối, trong không gian im lặng, chúng tôi lại nghe một tiếng hát thật buồn: “Rồi có một ngày, có một ngày chinh chiến tàn, anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao...”, đó là tiếng hát của một người lính đã bỏ lại vợ con, vì anh đã không còn đường trở về nhà trong một trận đánh. Tiếng hát của anh làm nhiều người mủi lòng. Rồi hàng đêm, chúng tôi cũng nghe được những lời bàn cãi ồn ào về việc nhiều người, vì những lý do khác nhau, có người vì gia đình, có người có thể nhẹ dạ, tin theo lời đường mật của những tên Cộng Sản đã len lỏi trong đòan người tị nạn, ghi danh đi về trên chiếc tàu Việt Nam Thương Tín! Những người đã trải qua cuộc di cư 54, có kinh nghiệm với chế độ sắt máu của Cộng Sản đã lên tiếng khuyên can, nói rằng về là mắc bẫy Cộng Sản. Trong số người trở về ấy có người lính lạc mất vợ con kia, với tiếng hát não nùng mỗi đêm. Họ đã trở về lại Việt Nam, sự trở về của họ không được trả bằng sự đòan tụ, những lời hứa láo khóet, mà họ đã bị Cộng Sản bỏ ngay vào tù! Đây không phải là lần đầu tiên Cộng Sản lừa dối vì bịp bợm, hung ác là bản chất của Cộng Sản, chúng lập đi lập lại trò gian manh không biết bao nhiêu lần, và lần nào chúng cũng câu được một số người nhẹ dạ, mau quên!

Trong tháng Tư của năm thứ 36, tin tức từ Việt Nam đưa sang cho thấy từ lúc Cộng Sản xua quân xâm chiếm miền Nam cho tới nay, chính sách của chúng vẫn không hề thay đổi, vẫn gian ác, xảo quyệt... qua hành động bắt bớ trả thù vẫn tiếp tục đối với những người không cùng chính kiến. Bản chất độc ác, độc tài không hề thay đổi trong chính sách độc đảng. Vụ xử án luật sư Cù Huy Hà Vũ đúng là một thứ luật pháp rừng đã làm cho cả thế giới lên tiếng cảnh cáo chế độ cai trị của Cộng Sản. Cũng trong tháng Tư, lòng người dân trong và ngòai nước vẫn còn hy vọng một cuộc cách mạng tòan dân sẽ diễn ra như cuộc cách mạng Hoa Lài tại Trung Đông. Tuy có nhiều người bi quan nói rằng ở các nước Bắc Phi, Trung Đông chỉ có 1 kẻ độc tài, còn ở Việt Nam có cả một đảng cầm đầu khó mà lật đổ được, nhưng ở đời khó có thể biết được việc gì sẽ xảy ra vì khi sự cùng khổ của dân chúng đã chạm xuống đáy vực, khi con giun xéo lắm cũng phải quằ... Tại Trung Đông chỉ có một bó đuốc của một sinh viên tự tử chỉ vì không tìm ra việc làm trong một đất nước độc tài, tham nhũng mà tạo nên một cuộc cách mạng để đời, huống chi nếu mỗi người dân trong nước Việt Nam sẽ là một bó đuốc thì chế độ Cộng Sản phi nhân phải bị thiêu rụi mà thôi. Vấn đề chỉ là thời gian.

Nói về độc ác thì không có một chế độ nào độc ác hơn chế độ Cộng Sản, mà điển hình là những vụ đánh đập dã man của công an, cảnh sát, công cụ áp chế của đảng đối với dân chúng. Họ đánh đập từ cụ già đáng tuổi ông, tuổi cha của họ cho đến những thanh thiếu niên vô tội, chúng cũng không từ nan phụ nữ hay trẻ em. Máu và nước mắt của người dân trong những cuộc đàn áp giành nhà cửa đất đai của dân, của nhà thờ, của chùa..., máu và nước mắt của người dân vô tội tiếp tục rơi. Điển hình là 55 giáo dân Cồn Dầu đang trốn tránh chế độ Cộng Sản. Phái đòan truyền thanh hệ thống Sài Gòn Houston/Dallas, đài truyền hình SBTN Dallas Fort Worth cùng một vài luật sư đại diện cho ủy ban Cứu Người Vượt Biển đã đi thăm những giáo dân, những người đấu tranh dân chủ phải trốn chạy sự trả thù dã man của Cộng Sản, đang nuôi hy vọng được Liên Hiệp Quốc cứu xét cho họ đến bến bờ tự do.

Sau năm 75, dân Việt đã nghe câu “nếu cột đèn biết đi, nó cũng đi”, tới 36 năm sau, cột đèn không chạy được nhưng người dân vẫn tiếp tục phải bỏ mồ mả ông cha để ra đi vì chế độ bất nhân của Cộng Sản.

Tháng Tư cũng đánh dấu một tháng sau trận động đất và sóng thần dữ dội tại Nhật Bản. Dân Phù Tang tiếp tục khốn đốn với những trận hậu chấn liên tiếp và phải đối phó với sự rò rỉ phóng xạ đe dọa sức khỏe, mạng sống của người dân. Một điểm cũng làm cho lòng cảm thấy ấm cúng đôi chút trong việc cùng nhau góp một bàn tay giữa nhóm bạn bè thân hữu và những tấm lòng vàng của các mạnh thường quân, số tiền thu được lên cao hơn mức dự trù!

Tháng Tư năm nay có quá nhiều điều để nhớ. Tháng Tư của 36 năm lưu lạc xứ người, 36 năm lúc nào cũng quay quắt với những kỷ niệm dấu yêu nơi đất Mẹ. Tháng Tư tại Dallas là lúc bầu trời dễ chịu, có thể ngồi ngòai sân nhìn ngắm đất trời với lòng nhung nhớ mang mang và cố gắng vượt cơn buồn để cho mình một vài hy vọng, vì sống là hy vọng, không có hy vọng con người không thể nào đương đầu với những bất trắc khó khăn của cuộc đời. Và ai trong chúng ta không mơ có một ngày về nhìn lại quê hương thân yêu khi chế độ phi nhân của Cộng Sản sụp đổ?! Tuy nhiên, biết bao nhiêu kẻ “chí còn mong tiến bước, nhưng sức không kham nổi đọan đường” như anh T., anh L. chẳng hạn. Vì vậy chúng ta “cần được dắt dìu” (như lời thiết tha trong bài truy điệu Truyền Thống Võ Bị), chúng ta nguyện cầu hồn thiêng sông núi, nguyện cầu chiến sĩ Vô Danh, phù trì cho cộng đồng hải ngọai có một sức mạnh đòan kết yểm trợ cho cuộc đấu tranh tại quốc nội, sẽ lật đổ chế độ độc ác của Cộng Sản trong một tháng Tư nào đó, không xa, và trang sử nước Việt sẽ đánh dấu một cuộc cách mạng Hoa Lài trên quê hương hình cong chữ S!

Thu Nga

Vắt Chanh Bỏ Vỏ



Thêm một bài học đau thương nữa cho những người đã giúp cho CS Hà nội thắng Mỹ Chiến Tranh VN khi xưa và cho những người thiên tả hoang tưởng muốn hoà giải hoà hợp với Đảng Nhà Nước CS Cộng sản Việt Nam [CSVN] bây giờ. Cả hai thành phần này vô tình hay cố ý lợi cho Cộng sản này đều bị CSVN vắt chanh bỏ vỏ. Một thí dụ điễn hình nhơn thời cơ Đại Thắng Mùa Xuân của CS Hà nội năm thứ 36, CS Hà nội gồm thâu được cả nước Việt Nam, CSVN đối xử với ca nhạc sĩ phản chiến hạng nặng của Mỹ là Bob Dylan còn hơn nước ốc nữa trong cuộc trình diễn tại Saigon ngày 10/4. Dù Bob Dylan vốn là một người nổi đình nổi đám của phong trào Phản Chiến làm Mỹ thua CS Hà nội ngay tại Mỹ, đóng góp rất nhiều cho cái CS Hà nội gọi là đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào.

Vắt chanh xong là bỏ vỏ là thói quen chánh trị biến thành bản chất thứ hai của người CS đối với người ngoài Đảng. CS lợi dụng máu nước mắt mồ hôi của liên minh công nông để chiếm chánh quyền xong là bỏ. Chỉ có đảng viên mới được nắm phần cốt lõi của guồng máy công quyền. Trí thức CS coi là bọn trí thức sinh nhai lúc nào chuyên cũng thua hồng là CS. Trong phong trào Việt Minh, sau khi Đảng CS cướp được chánh quyền, những lãnh tôn giáo, đảng phái tham gia vào Phong Trào Việt Minh nhưng ở ngoài Đảng, bằng cách này hay cách khác, CS ám hại tất cả để chỉ còn Đảng CS độc quyền toàn trị.

Một thời gian sau ngày 30-4-75, CS Hà nội gồm thâu được cả nước VN, những người Nam đi Tây mà học tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do CS làm thành cái bung xung chánh trị, ở Miền Nam đội bôm, đội đạn bị CS Hà nội giải tán Mặt Trận cho về nhà đuổi gà cho vợ cả. Ai còn ở lại có một chức vụ ngồi chơi xơi nước như Nguyễn thị Bình là vì có đảng nhưng cấp thấp phải theo biên chế thua đảng viên cán bộ CS đảng tịch cao ở Hà nội ở nhà mát ăn bát vàng, có quyền ăn trên ngồi trước.

Kế đó mấy người Ba Mươi Tháng Tư lúc CS Hà nội mới vào mang băng đỏ điềm chỉ hết cơ quan này đến cơ quan nọ, chỉ điểm, bắt bớ, xét nhà, dốt sách hết quân dân cán chính VNCH này tới người nọ, một thời gian sau rồi CS cũng dẹp cả lũ.

36 năm sau, những người Phản Chiến loại kép độc Phản Chiến, Phản Chiến nòi của Mỹ, thần tượng lẫy lừng chống Chiến Tranh VN nổi đình nổi đám ở Mỹ khi xưa như Jame Fonda, là Bob Dylan đi VNCS trình diễn cũng bị Đảng Nhà Nước CS kiểm duyệt bài hát và người dân VN cho ra rìa. Theo đặc phái viên báo Pháp Le Monde dù ban tố chức chơi nổi, lấy tên đại nhạc hội khá ấn tượng là "Good Evening Vietnam", nhại lại tựa đề bộ phim "Good Morning Việt Nam" với tài tử Robin William, sự ủng hộ của khán giả đối với Bob Dylan, là không «cuồng nhiệt ». Theo tin AP sân khấu của trường Đại Học RMIT có tới 8.000 chỗ ngồi,vé chỉ bán được có phân nửa, trong đó có nhiều người ngoại quốc. Theo tin AP của Mỹ, tại Saigon, Bob Dylan người nghệ sĩ 69 tuổi này, thần tượng của Phong Trào Phản Chiến Mỹ trình diễn trình diễn những bài phản chiến ruột như bài "A Hard Rain's a-Gonna Fall" và "Highway 61 Revisited".

Không phải dân chơi Saigon và Hà nội, con cháu các cụ cả không có tiền, thiếu phương tiện, thì giờ đi xem. Tô phở bò Kobe 60 Đô la họ ăn như cơm bữa; rượu Tây mấy trăm Đô họ uống như nước lạnh, thì sá gì tấm giấy vào cửa. Vấn đề là họ chẳng biết Bob Dylan là thằng cha căng chú kiết nào. Còn dân lao động trẻ VN bây giờ chiếm trên 60% dân số phải quần quật với miếng cơm manh áo cho gia đình, lương của họ không đủ tiền ăn, tiền ở, tiền xe, không có phương tiện tái tạo sức lao động thì còn thì giờ đâu mà giải trí, xem ca với nhạc sống.

Nhưng Đảng Nhà Nước CS thì khác. Họ biết vai trò của nhạc phản chiến. Ông Trần Long Ẩn, 67 tuổi, Phó Chủ Tịch Hội Các Nhà Soạn Nhạc Việt Nam, nói Nhạc của Bob Dylan mở ra một con đường, theo đó âm nhạc được dùng như một vũ khí để chống đối chiến tranh tại Việt Nam. Bob Dylan là một trong những thần tượng Phản Chiến qua âm nhạc đối với giới trẻ Mỹ và một số ít ở VN trong những năm 1960. Nó đã làm cho dân chúng Mỹ thất thần, rủng chí tranh đấu, chiến đấu và bằng lá phiếu và các cuộc biểu tình họ ảnh hưởng Quốc Hội Mỹ trói tay Hành Pháp phải Việt Nam hóa chiến tranh, bắt Quân Lực Mỹ rút quân khỏi VN như bại trận rút ra khỏi thành.Và sau đó bức tử đồng minh Việt Nam Cộng Hoá bằng cúp vũ khí, đạn dược.

Nếu nói theo kiểu Tàu, Bob Dylan là một đại quốc công thần trên phương diện chiến tranh tâm lý và chiến tranh chánh trị đối với Đảng Nhà Nước CSVN. Không phải dễ gì có một cán bộ địch vận hoạt động rất kiến hiệu trong lòng địch như vậy và có lợi cho CS Hànội trong việc CS gọi là đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào như vậy.

Nhưng đối với CS Hà nội, chánh trị trong chiến tranh hay trong hoà bình cũng thế thuộc quyên chuyên độc của Đảng CS. 36 năm gồm thâu được cả nước, 20 năm bang giao và giao thương với Mỹ, CS Hà nội dứt khoát đóng chặt chánh trị. Bob Dylan có công phản chiến giúp CSVN, đó là một chuyện, chuyện kiểm duyệt lời ca điệu hát của Bob Dylan là một chuyện khác. Báo Daily Democrat cho biết nhà cầm quyến CS kiểm duyệt trước lời ca điệu nhạc Bob Dylan trình diễn phải được chính quyền duyệt trước.

"The Times They Are Changing"' (Thời thế đã đổi thay) và "Blowin' in the Wind" (Bay đi theo Gió) là hai bài chống Chiến tranh ruột và nổi tiếng của Bob Dylan, CS Bắc Kinh và CS Hà nội đều không cho Bob Dylan trình diễn ở Bắc Kinh và Thượng Hải và ở Saigon.

Còn hãng tin DPA của Đức thì nói Tổ chức Human Rights Watch, Tổ chức bênh vực nhân quyền, chính Ông Brad Adams, Giám đốc đặc trách phân bộ Châu Á chỉ trích Bob Dylan vì đã cho phép nhà cầm quyền Việt Nam và Trung Quốc quyết định ông được hay không được hát nhạc phẩm nào. Theo báo Le Monde của Pháp, Human Rights Watch công bố bản thông cáo lên án «thái độ trung lập» của nam ca sĩ Bob Dylan và cho rằng người được xem là «biểu tượng của phong trào các bài hát phản kháng, đáng lẽ ra phải xấu hổ»!

( Vi Anh)

Bài Xem Nhiều