We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 24 April 2011

36 năm đất nước thống nhất, một tội danh bị đánh tráo, nỗi buồn riêng và chung

Suốt 36 năm qua, mỗi lần tới ngày 30 tháng 4
là mỗi lần tôi trở về với miền ký ức.


Tôi vốn không thích “bị” phỏng vấn và phỏng vấn có sự chuẩn bị trước, phải hẹn hò, chờ đợi. Thường hỏi về những sự kiện liên quan tới Ba Lan, bạn hữu của đài quốc tế Pháp RFI biết tính tôi vậy, nên khi gọi điện thoại cho tôi chỉ trao đổi ngắn gọn về chủ đề, giới hạn thời gian, rồi thực hiện ngay.
Năm 2007, anh Nguyễn Khanh của “Radio Free Asia” từ Washington DC gọi điện qua Ba Lan có nhã ý phỏng vấn nhân dịp 32 năm ngày thống nhất đất nước, tôi cũng đề nghị làm luôn. Khi trả lời rằng, ngày này 32 năm về trước tôi đang nằm ở nhà tù Hoả Lò, anh Khanh đã rất ngạc nhiên.
Về miền ký ức
Sau hơn một năm trời bị biệt giam, không được gia đình thăm viếng, chịu đói rét, ghẻ lở, cùng với các cuộc thẩm vấn liên miên, tôi nhận bản án 2 năm tù giam của Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội với tội danh là “Trốn ở lại nước ngoài”. Tôi bị an ninh cộng sản Ba Lan bắt giữ, giao nộp cho phía Việt Nam và bị áp tải về nước sau chuyến trốn qua Thuỵ Điển không thành, phải quay trở lại.
Ý thức phản kháng lại các đạo lý giáo điều, bất công, phi nhân bản của chế độ cộng sản và cuộc hành trình mạo hiểm đi tìm tự do của tôi đã xảy ra rất sớm, trước cả cái mốc lịch sử của cuộc “exodus” chưa từng có của người Việt sau 30 tháng 4 năm 1975.
Cũng muốn nói thêm để các bạn trẻ biết rằng, cho đến cuối thập niên 70, đầu 80 của thế kỷ trước, sinh viên Việt Nam từ miền Bắc du học ở các nước cộng sản (cũ) chạy sang các nước tư bản bị quy kết tội rất nghiêm trọng. Án phạt dành cho tôi có lẽ được giảm nhẹ sau khi Cục Chấp pháp Bộ Nội vụ kết luận tôi trốn qua Nam Tư, Thuỵ Điển chỉ vì muốn ở lại với người mình yêu, chứ không có hành động làm gián điệp hay phản bội tổ quốc.
Ít ai giờ đây tin rằng, ngay tại châu Âu, hồi đó chúng tôi bị cấm yêu, giữa sinh viên Việt Nam với nhau, chứ đừng sớ rớ tới người ngoại quốc.
Tuy nhiên, đến cả Adam và Eva trên Vườn Địa đàng còn quên lời răn của Thượng đế, không kìm nổi tò mò, dám ăn cả trái cấm, huống chi chúng tôi, những chàng trai, cô gái đang ở tuổi đôi mươi bằng xương bằng thịt nơi trần tục. Chúng tôi vẫn yêu nhau nhưng lén lút, kín đáo và khôn ngoan đối phó với những con mắt cú vọ sẵn sàng bẩm báo với trưởng đoàn lấy điểm. Người yêu của tôi là một cô gái Ba Lan xinh đẹp, tên Bozena, học khoa Pháp văn, cùng Wroslaw University.
Số sinh viên “vượt rào” bị phát hiện và đuổi về nước bấy giờ không ít. Hầu hết bị trả về địa phương, quay lại với “kiếp trâu cày chạy bữa đứt hơi”. Họ không thể ngẩng mặt lên làm một con người bình thường được nữa, vì bị hàng xóm, thậm chí gia đình, khinh thị, hắt hủi. Ở thành phố, tấm lý lịch đen tối không cho họ cơ hội tìm được việc làm tử tế nào ngoài lao động chân tay. Tôi biết T. người Thanh Hoá, học ở Warsaw Polytechnic, đã chết trên biển khi đi đánh cá, còn K. tôi gặp trong tù, người Quảng Bình, đã chết vì mìn nổ khi đi làm ruộng…
Tuy đã phải ngồi tù nhưng tôi gặp nhiều may mắn hơn. Sau 14 năm vật lộn, xoay xở và ma mãnh qua mặt chính quyền với nhiều trò có thể viết thành một cuốn tiểu thuyết bi hài, tôi đã quay trở lại Ba Lan, đúng lúc chế độ cộng sản Ba Lan sụp đổ và ở lại luôn cho đến nay. Tôi không bao giờ quên cảm nghĩ của mình khi máy bay của hãng Hàng không Liên Xô Aeroflot dứt khỏi đường băng sân bay Tân Sơn Nhất vươn lên bầu trời vào ngày 9 tháng 10 năm 1989: “Thế là ta đã chiến thắng!”.
Quy định cấm yêu được chấm dứt sau sự kiện Lê Vũ Oanh, con gái của cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn, bất chấp can ngăn của Đại sứ quán, đã nhất quyết lấy chồng người Nga, gây nên làn sóng phản đối của sinh viên. Họ đòi hỏi quyền được bình đẳng. Một số đã viết thư tập thể bằng máu gửi lên Đại sứ quán Việt Nam. Nhờ “công” của con gái vị lãnh đạo cao nhất của Đảng mà chính sách được thay đổi! Sau này Lê Vũ Oanh chết do băng huyết trong lúc sinh con, nhiều sinh viên thương cảm nói có lẽ nên đúc tượng đồng “Nữ thần Tình yêu” cho cô! Đúng thế, Lê Vũ Oanh đã làm một cuộc cách mạng.
Vào một đêm không ngủ trong trại tạm giam ở ngoại thành Hà Nội (sau này tôi được biết có tên gọi là B15), tôi viết:
… Tiếng dế kêu thưa thớt, hoang sơ
Tiếng lá cây xào xạc gió khua
Tiếng ếch ngoài đồng sau cơn mưa
Tiếng gà gáy gọi trời trở sáng
Tiếng chó sủa làng bên vang vọng…
Chỉ thế thôi, chẳng có gì hơn
Bản nhạc trời khuya rầu rĩ lạ thường!
(…) Sự thật nơi nào trên khắp thế gian
Có bao giờ tình yêu trở thành tội lỗi
Khi đó đây những vành đai biên giới
Khép mọi con đường, giam cả lứa đôi?
Hoặc trước đó, trên những nẻo đường đi tìm mặt trời và sóng biển:
Từ trên cao, Bozena em ơi, hãy cùng anh nhìn xuống địa cầu
Thế giới dọc ngang những đường chia xẻ
Biên giới chẳng riêng là những ngọn núi, dòng sông hay hàng cọc bình thường
Bởi chính nơi đây, chân lý và tình yêu chẳng có phút giây nào khỏi bị đoạ đầy, cắn xé!
Cái xấu xa, chua chát của cuộc đời dạy anh bài học yêu em
Giúp anh trả lời thế nào là Tình yêu và Cuộc sống
Quên gông sắt, nhà tù lấy em làm hy vọng
Xây nên cuộc đời!
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một lần trong cuộc phỏng vấn của BBC đã từng nói rằng, trong ngày 30 tháng Tư năm 1975, có triệu người vui nhưng cũng có cả triệu người buồn. Tôi thuộc vế sau. Cả phòng giam hôm ấy huyên náo khi giám thị loan báo tin chiến thắng. Tôi cũng phải cười nói hoà vào đám đông, nhưng lòng quặn đau nghĩ tới viễn cảnh đen tối và cùng đường của mình. Hy vọng le lói của tôi sau khi ra tù sẽ tìm cách vào Nam vụt tắt!
Tội danh bị đanh tráo
36 năm trôi qua. Có thể là một nửa đời người. Việt Nam đã trải qua vô vàn biến động và thay đổi chóng mặt. Nhưng có một thứ bất biến: Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ độc quyền cai trị đất nước, vẫn cùng một triều đại phong kiến mới với những khuôn mặt của các ông Vua mới kế vị nhau.
Tôi đã nhiều lúc nghĩ đến tội danh “trốn ở lại nước ngoài” mà tôi đã phải chịu gánh chịu. Cũng một bộ máy ấy, cũng đảng cầm quyền ấy, tội danh này dưới lăng kính hôm nay sẽ được quan sát ra sao?
Không có Bộ Luật hình sự của CHXHCN Việt Nam trong tay, cũng chẳng ham muốn truy cập trên mạng để tìm hiểu, tôi cho rằng, tội danh “trốn ở lại nước ngoài” đã bị loại bỏ khỏi đời sống pháp lý của chế độ hiện hành. Bởi vì nếu có, nhà tù Việt Nam sẽ không thể nào xây kịp!
Hàng chục ngàn, nếu không nói tới con số hàng trăm ngàn, công nhân Việt Nam lao động trong khuôn khổ hợp tác kinh tế tại Nga, Bulgaria, Tiệp Khắc (cũ), Đông Đức (cũ) sau khi Bức tường Berlin sụp đổ đã không trở về nước mà ở lại mưu kế làm ăn hoặc xin tị nạn.
Tôi cũng là nhân chứng liên tiếp suốt hai thập niên qua trước dòng người Việt bay sang Nga rồi khốn khổ vượt biên bất hợp pháp vào Ba Lan và các nước khác.
Hàng trăm ngàn công nhân được xuất khẩu lao động trong những năm gần đây, bị bóc lột thậm tệ, bị lừa gạt, bị bỏ rơi, không thể trở về nước vì món nợ đè lên vai, đã phải ở lại vật lộn với cuộc sống cơ cực, thậm chí phải hành nghề trộm cắp, đĩ điếm (như ở Malaysia)…
Rồi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, gần cả triệu người miền Nam chấp nhận một sống hai chết, đã trốn chạy khỏi chế độ.
Nếu bị xử tù như tôi về tội “trốn ở lại nước ngoài”, chúng ta hình dung một bức tranh xã hội sẽ khủng khiếp như thế nào.
Ở đây, chúng ta thấy rằng, cùng một hành vi, ngày hôm trước được xem là có tội, ngày hôm sau mặc nhiên thành chuyện bình thường, thậm chí còn được nhà nước khuyến khích. Vậy thì, trong sự oan ức của tôi chỉ có thể được cắt nghĩa bằng hai cách. Thứ nhất, tôi thuộc những người “đầu thai nhầm thế kỷ”, giống như các văn nghệ sĩ trong phong trào Nhân văn Giai phẩm đã nói về mình. Thứ nhì, sự ấu trĩ và sai lầm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đẩy vô vàn con người lương thiện xuống vực thẳm của bất hạnh và đau thương.
Dưới bàn tay cai trị của Đảng cộng sản Việt Nam, rõ ràng các khái niệm đã được đánh tráo trơ trẽn và nhanh chóng. Giờ đây, lực lượng đông đảo những người “trốn ở lại nước ngoài” (như tôi) mỗi năm gửi về nước nhiều tỷ đôla, mang tiền về nước đầu tư, Nhà nước ra Nghị quyết 36 gọi họ là bộ phận không thể tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, là “khúc ruột ngàn dặm”, có thể xênh xang “áo gấm về làng”:
“Ngày đi, Đảng gọi Việt gian
Ngày về thì Đảng chuyển sang Việt kiều
Chưa đi: phản động trăm chiều
Đi rồi thành khúc ruột yêu ngàn trùng!”
(Thơ dân gian)
Song song với các khái niệm bị đánh tráo, các tội danh cũng được phù phép biến hoá thêm cho kịp với hoàn cảnh mới, nhằm phục vụ mục đích đàn áp tự do.
Điều 88 của Bộ luật hình sự xác định tội “truyên truyền chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam”, được các luật gia và tổ chức quốc tế cho là rất mù mờ, có thể dẫn đến quy kết tuỳ tiện.
Tôi viết những dòng cảm xúc này sau khi vụ án xử Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trong ngày 4 tháng 4 vừa rồi đã gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước.
10 tài liệu mà Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội lấy cơ sở quy kết tội cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nếu đặt dưới ánh sáng của quyền phát biểu chính kiến và góp ý cho nhà nước được bảo hộ bởi Hiến pháp và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký và cam kết, thì Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ phải được xem là vô tội. Tiếng nói của anh khó nghe với chính quyền, nhưng thực ra anh chỉ nói thay những người cùng có ý nghĩ như anh nhưng chưa hoặc không dám nói ra (ý của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh).
Vậy mà Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đã bị kết án nặng nề với 7 năm tù giam, 3 năm quản chế, trong “một phiên toà trơ trẽn”, “làm mất thể diện quốc gia”, thậm chí “lưu manh và ô nhục”.
Trước Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, rất nhiều nhà bất đồng chính kiến khác cũng đã chung một số phận.
Là một công dân có kiến thức tối thiểu về luật pháp, có lương tri, không ai không hiểu một thực tế phũ phàng: “Ở Việt Nam ta đã có cả một rừng luật nhưng khi xét xử lại dùng luật rừng!” (nhận định của bà Ngô Bá Thành, một luật sư nổi tiếng trước và sau năm 1975).
Là một công dân có trách nhiệm với xã hội, khao khát công lý và công bằng xã hội, không ai có thể mặc nhiên cúi đầu chấp nhận trò chơi luật pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ở nước ta xử đúng cũng được, xử sai cũng được, xử hòa cũng được, xử thắng cũng được” (phát biểu trước Quốc hội của ông Trịnh Hồng Dương, Chánh án Tòa án tối cao, nhiệm kỳ 1997- 2002).
Lời kết
Ngang nhiên chà đạp lên cả luật pháp do chính mình thiết lập, lên các giá trị nhân đạo vẫn rao giảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bất nhân khi ném hàng triệu sinh linh vào hố tử thần, vào bể khổ của ngục tù và sự đày ải tinh thần, cũng như vật chất kể từ Cải cách Ruộng đất cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975 và suốt 36 năm qua, chưa thấy có tín hiệu cải thiện nào.
Hả hê trên chiến thắng, ngông cuồng trên bạo lực, ngạo mạn trên sự giàu sang phú quý do tham nhũng mà có, những người cầm cán cân công lý của Đảng Cộng sản Việt Nam có lẽ chưa bao giờ nhận thức được sai lầm của các thế hệ tiền nhiệm chăng? Không những thế, họ còn tiếp tục mạnh tay hơn, tàn nhẫn hơn, đưa những người vô tội vào vòng lao lý hoặc cái chết tức tưởi bởi bàn tay của công an, đôi khi chỉ vì đi xe gắn máy quên đội mũ bảo hiểm!
Cho nên, dễ nhận ra rằng, tại sao sau 36 năm đất nước thống nhất, mọi thứ khẩu hiệu hô hào hoà hợp, hoà giải dân tộc, quên quá khứ, hướng tới tương lai của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không mang lại ý nghĩa thuyết phục nào. Người ta vẫn thấy đậm màu sắc giả dối phía sau sân khấu tuyên truyền sặc sỡ và ầm ĩ. Trong lòng người Việt muôn phương vẫn nặng trĩu những ký ức oán hờn, tủi hận. Vết thương lòng vẫn rỉ máu vì chưa bao giờ được giải toả hoặc đền bù, chí ít một lời xin lỗi thành tâm cũng không.
Mặc dù phải trải qua số phận nghiệt ngã của đất nước bị chia cắt và cuộc chiến huynh đệ tương tàn vì ý thức hệ, tôi cho rằng, những người con của đất Việt, trong hay ngoài nước, khắp ba miền, không có lý do gì lại không có thể cư xử với nhau trong tình nhân ái, bao dung, cao thượng vì sự phát triển của đất nước. Nhưng thái độ này chỉ có thể tồn tại và thể hiện trong một xã hội cởi mở, dân chủ, tự do, mọi người bình đẳng trước pháp luật và những quyền tự do cơ bản nhất của công dân được Hiến pháp thực sự che chở.
Một nhà nước tạo ra được môi trường như thế sẽ không cần phải tốn công sức kêu gọi tình đoàn kết dân tộc.■
© 2010 Lê Diễn Đức – RFA Blog
http://www.rfavietnam.com/node/566

Mất Gốc


Tháng 4 năm nay kỷ niệm đúng 36 năm ngày tôi rời SàiGòn. Ngày 29-4-1975 gia đình
tôi bứng gốc, bứng rễ bỏ hết tất cả để thoát khỏi Việt Nam trong sự hãi hùng.
Khủng hoảng lo sợ đến nỗi nếu cái toilette không có ốc vặn chặt xuống đất thì
chắc nó cũng đứng dậy chạy theo. Giây phút đặt chân lên chiến hạm của Đệ Thất
Hạm Đội Mỹ, tôi vui mừng đã đến một bến bờ tự do mới, không quan tâm đến gốc rễ
của tôi nữa. Định cư ở quê hương thứ hai, thỉnh thoảng có dịp nói chuyện với bạn
bè hay người quen, vài người khuyên nhủ tôi đừng nên mất gốc, hoặc khi đề cập
đến vấn đề con cái, khuyến khích chúng tôi dậy con cái tiếng Việt để chúng nó
đừng mất gốc. Cho đến bây giờ tôi không bàn cãi để yên cửa yên nhà, thế nhưng
mấy tuần nay vợ tôi than phiền tôi viết lách làm quái gì vì chả mang thêm một
đồng xu phụ trội cho ngân quỹ gia đình làm tôi hơi quê xệ. Chỉ còn một cách để
bảo tồn danh dự của tôi là tự sát, viết bài này để trình bày quan điểm của tôi.
Viết xong tôi bảo đảm thành phần người Việt quá khích sẽ xin tôi tí huyết. Tôi
chết đi vợ tôi sẽ lãnh bảo hiểm nhân thọ một triệu đô-la, chứng tỏ cho nàng là
lời tiên tri của tôi từ xưa đến nay là đúng: rồi sẽ có một ngày nghiệp viết lách
của tôi sẽ làm cho nàng giầu.

Mất gốc là gì? Tự điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Trung Tâm Từ
Điển Học ấn bản năm 1994, (xuất bản ở Hà Nội) và Từ Điển Tiếng Việt, Vietlex,
2009 của một nhóm biên soạn, nhà xuất bản Đà Nẵng (cũng xuất bản ở Hà Nội), cả
hai cùng định nghĩa:

Mất gốc: Không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình do nguồn gốc dân
tộc, giai cấp.

Theo tự điển tiếng Việt 1997-2004 The Free Vietnamese Dictionary Project,
http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ , và http://vdict.com/ , cả hai
in cùng một giải thích:

Mất gốc: Cắt đứt quan hệ với tổ tiên, nòi giống, cơ sở. Thí dụ: Mấy tên mất gốc
sống nhờ vào đế quốc Mỹ.

Cùng một chữ “mất gốc” mà tự điển xuất bản ở Hà Nội định nghĩa khác hẳn với tự
điển trên Internet ở hải ngoại. Tôi bảo đảm nếu trưng cầu dân ý hay đến những
ông bợm nhậu hỏi “mất gốc” là gì thì sẽ có thêm nhiều định nghĩa khác nhau. Nếu
tôi nói định nghĩa này đúng, định nghĩa kia sai thì thể nào tôi cũng chết, không
vì đạn bên này thì cũng vì lưỡi dao bên kia nên tôi để cho tùy mọi người xét xử
“mất gốc” có nghĩa là gì.

Để xem tôi có mất gốc hay không, trước nhất tôi phải tìm hiểu tôi là người gốc
gì trước đã. Tôi đang sống ở California, Hoa Kỳ, thế nhưng tôi người da vàng mũi
tẹt. 100% tôi không phải là người cùng một gốc với John Wayne, Clint Eastwood
hay Brad Pitt. Tôi là An Nam Mít, không cãi vào đâu được. Rất nhiều dữ kiện
chứng tỏ tôi là người Việt Nam:

-Tôi sinh ở nhà thương Đức Chính, trên đường Cao Thắng. Lần cuối cùng tôi xem
trên bản đồ, đường Cao Thắng chưa bị động đất chạy sang Mỹ mà vẫn còn cắt ngang
con đường Nguyễn Đình Chiểu và Điện Biên Phủ (Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản
cũ).

-Tên trong căn cước, giấy hôn thú bên Mỹ của tôi vẫn là tên Việt Nam Nguyễn Tài
Ngọc (Ngay cả con của tôi, dù rằng sinh ở Mỹ, tôi vẫn đặt chúng nó tên Việt
Nam). Đáng lẽ ra chính tôi là người nên đổi sang tên Mỹ, không phải vì tôi muốn
người khác tưởng tôi là George Clooney, nhưng vì tên tôi người Mỹ khó đọc. Họ
gọi “Ngọc” là “Gờ-Nóp”, “Nóc”. Bao nhiêu tài tử, ca sĩ Mỹ muốn nổi tiếng phải
đổi tên của mình như Charles Bronson người gốc Lithuania, tên mẹ đẻ là Karolis
Dionyzas Bučinskis. Kirk Douglas, người gốc Nga-Sô, tên mẹ đẻ là Issur
Danielovitch. Demi Moore, người Mỹ, tên cúng cơm là Demetria Guynes.

- Nhiều người Hoa ở SàiGòn nói tiếng Việt có sõi đến đâu nhưng khi mình nghe
biết ngay họ không phải là người Việt vì họ nói tiếng Việt lơ lớ. Ngày xưa khi
vừa mới qua Mỹ, tôi nhủ thầm trong mười năm tôi sẽ nói tiếng Anh
như gió. Ấy thế mà 36 năm sau, tôi nói tiếng Anh với giọng… Việt Nam, phát âm đã
dở mà viết lách hay đàm thoại cũng chẳng xong, không thua gì một chị ngày xưa
trong xóm tôi lấy một anh chàng Mỹ đen. Tôi vẫn còn nhớ khi về nhà nếu cửa bị
đóng, chị gõ cửa, miệng nói lớn cho anh ấy nghe: “Hó-nì, ốp bần đo!” (Honey,
open door!). Giọng Mỹ siêu việt của tôi hiện thời cũng không hơn chị ấy là bao
nhiêu.

Qua ba lý do trình bày trên, cho dù tôi sống ở Mỹ đến hơn trăm tuổi, gốc nòi
giống của tôi là Việt Nam không chạy vào đâu được. Có giải tôi vào Khám Chí Hòa
hay nhà tù Hỏa Lò Hà Nội nếu tôi nhận tôi là người Việt Nam thì tôi
sẽ chẳng mướn luật sư biện hộ. Trước vành móng ngựa, tôi long trọng tuyên bố:
gốc của tôi là Việt Nam.

Tôi không chối cãi gốc của tôi, thế nhưng tôi sống ở Mỹ 36 năm, hơn gấp đôi thời
gian sống ở SàiGòn. Như thế thì tôi có mất gốc hay không?

Trước khi nói đến tôi, tôi muốn nói về con cái của tôi trước. Bạn bè khuyên tôi
nên dậy chúng nó tiếng Việt để khỏi bị mất gốc. Lời khuyên dậy chúng nó tiếng
Việt thì tôi đồng ý, nhưng lý do thì tôi không đồng ý. Lý do để mai
sau nó về Việt Nam tìm vợ thì hữu lý hơn là khỏi mất gốc. Chúng nó sinh ở Mỹ,
giữ cái gốc Việt Nam có lợi gì cho chúng nó? Để mai sau nếu nó xin làm công dân
nước Việt Nam? Giữ phong tục tập quán Việt Nam làm gì? Dùng nước mắm thay vì
muối, ăn hột vịt lộn thay vì hột gà luộc? Tụi nó nói tiếng Anh như người Mỹ, nói
tiếng Việt như người Mỹ nói tiếng Việt Nam (cậu con trai tôi chỉ biết có vài chữ
tiếng Việt: “chết meẹ rooi”). Tuy rằng một phần gốc của nó là da vàng mũi tẹt,
nhưng một phần gốc khác của nó là người Mỹ vì chúng nó sinh ra và lớn lên trong
tập quán nước Mỹ. Mất cái gốc nòi giống Việt Nam không quan trọng bằng mất cái
gốc sinh ra ở Mỹ vì ưu tiên của
chúng nó sẽ dành cho quốc gia nó mở mắt chào đời, quốc gia bảo đảm an ninh và
nhân quyền, quốc gia cho chúng nó tất cả mọi cơ hội sinh sống từ bé đến lớn.
Quốc gia đó không phải là Việt Nam.

Giờ thì đến phiên tôi. Tôi có mất gốc hay không? Nếu theo định nghĩa mất gốc là
cắt đứt quan hệ với cơ sở, tôi đã mất gốc. Cơ sở, nhà cửa của tôi bây giờ là ở
Mỹ. Căn nhà số 16/38/25 Nguyễn Thiện Thuật vĩnh viễn không còn
là của gia đình tôi nữa. Nó đã có chủ mới. Gia đình tôi không bao giờ lấy nó lại
được vì không ai điên dại nhận thức mình phạm lỗi tước đoạt tài sản người khác
rồi trả lại cho chúng tôi. Lần đầu tiên trở lại SàiGòn vào xem nhà, tôi công
nhận có bùi ngùi và có cảm tưởng mình đã trở về nhà cũ. Nhưng rồi lần thứ hai,
thứ ba, thứ tư, càng ngày tôi càng cảm thấy xa lạ, nhất là lần cuối cùng người
chủ hiện thời đã phá xập hoàn toàn, xây lại một căn nhà mới. Đứng nhìn căn nhà
hình dạng không còn như xưa, ngay cả bảng số nhà cũng thay đổi, tôi không còn
cảm thấy liên hệ với nơi tôi khôn lớn nữa. Ngược lại khi trở về Mỹ, máy bay đáp
xuống phi trường LAX, lái xe về nhà thấy bóng dáng căn nhà ở Simi Valley, tôi
mừng rỡ đã về nhà. Nhà của tôi là ở Mỹ, cơ sở của tôi là ở Mỹ. Tôi đã mất gốc cơ
sở ở Việt Nam.

Nếu nói mất gốc là cắt không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình thì
tôi xin phân tích bản chất tốt đẹp hay không của người Việt Nam mà tôi đã chứng
kiến, có kinh nghiệm tiếp xúc, trong ba giai đọan:

1. Thời gian tôi ở SàiGòn từ lúc sinh đẻ cho đến ngày 30-4-1975.

2. Thời gian tôi sống và sinh hoạt chung với người Việt tỵ nạn từ ngày 30-4-1075
đến ngày 11-7-1975, khi tôi rời trại tỵ nạn ra sống trong xã hội Mỹ.

3. 36 năm tôi sống ở Hoa Kỳ , từ ngày 11-7-1975 cho đến ngày hôm nay.

1.Thời gian tôi ở SàiGòn từ lúc sinh đẻ cho đến ngày 30-4-1975: Tôi rời SàiGòn
năm lên 17 tuổi. Ở Mỹ, 17 tuổi vẫn còn là con nít, vẫn còn dưới tuổi trưởng
thành. Hai người 18 tuổi trở lên liên hệ tình dục không luật pháp
nào ngăn cấm, nhưng nếu người trên 18 tuổi liên hệ tình dục với người dưới 18
tuổi thì sẽ bị ghép vào tội dụ dỗ trai/gái dưới tuổi vị thành niên, dù rằng
người dưới 18 tuổi thỏa thuận. Dưới 18 tuổi chưa được đi bầu. Dưới 18
tuổi chưa được phép uống bia rượu. Tóm lại, dưới 18 tuổi đầu óc vẫn còn non nớt.
Ấy thế mà tôi đã mục kích bao nhiêu sự xấu xa ở quê hương tôi:

- Một anh lính tài xế trong xóm tôi mang xe Jeep về nhà hút xăng trong xe ra rồi
bán lại cho người trong xóm với giá rẻ.

- Gia đình nào có con cái đến tuổi quân dịch chạy tiền thì sẽ được miễn dịch.
Trong khi người Mỹ đổ máu cho tự do của miền Nam, tướng Mỹ có con đi lính chết ở
Việt Nam thì một số tướng lãnh và người giầu có cho cho con cái ra nước ngoài.
Chỉ có lính nghèo là đổ máu.

- Tôi đi gác nhân dân tự vệ phải gác thế cho người đóng tiền trong khi các cấp
chỉ huy hệ thống Nhân Dân Tự Vệ lấy tiền thu.

- Tổng Thống và Phó Tổng Thống VNCH đều là những bậc tướng lãnh. Khi trận chiến
Cộng Sản thôn tính miền Nam đến mức quyết liệt, Tổng Thống lên trước quốc dân
tuyên bố sẽ chiến đấu sát cánh bên dân, Phó Tổng Thống lên tuyên bố trước quân
đội VNCH và cả thế giới là “Tôi thích ăn nước mắm, tôi quyết sẽ ở lại với quê
hương tôi tử thủ đến mức cuối cùng”. Ấy thế mà trước khi xe tăng Cộng Sản phá vỡ
cửa sắt Dinh Độc Lập, Tổng Thống và đại gia đình đã yên lặng đi ngoại quốc mang
theo cả một máy bay đầy của cải, Phó Tổng Thống cũng rời khỏi SàiGòn bay đến một
chiến hạm Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ. Một quốc gia với dân tình tham nhũng là
một lối sống. Một quân đội cá tính từ Binh Nhì đến Trung Tướng chỉ lo cho cá
nhân của mình thì cái tốt đẹp vốn có
của mình do nguồn gốc dân tộc không còn hiện hữu.

- Miền Bắc dùng võ lực thôn tính miền Nam gây ra bao nhiêu tử vong.

2. Thời gian tôi di tản từ 30-4-1075 đến ngày 11-7-1975: Bài “Chí Nam nhi” của
Nguyễn Công Trứ có bốn câu thơ như thế này:

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ.

(Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh có nghĩa là Từ xưa
đến nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh. Hai câu thơ tiếng
Hán này là của Văn Thiên Tường, một tướng lãnh của Trung Hoa). Hai câu thơ sau,
ý của tác giả là người ta chỉ biết anh hùng sau khi thời thế xẩy ra. Tôi kém may
mắn tìm hiểu được bản chất của người đồng hương trong cơn ly loạn:

-Hỗn loạn dành đường sống cho riêng mình.

-Ăn cắp chai tương ớt, xì dầu ở nhà ăn trong trại tỵ nạn đem về phòng ngủ
barrack của mình dù rằng người Mỹ nói như van lậy thức ăn không thiếu thốn.
-Nếu có dịp là lừa gạt nhau bằng những trò gian dối như dụ mua vàng bạc giả, đồ giả, khi bị trách cứ thì tỉnh bơ, không biết xấu hổ.

-Lấy hết chăn trên máy bay, khi vào trại mang chăn ra cắt may thành áo
lạnh, đến nỗi người Mỹ không mang chăn trên những chuyến máy bay sau nữa.

-Những người muốn trở lại Việt Nam (dùng con tầu Trường Xuân) đã nổi loạn, đốt
cháy cơ sở vì người Mỹ quá chậm trong việc cung cấp lương thực và sửa sang máy
móc cho con tầu.

-Orote Point: dân tỵ nạn ở trong lều quân đội, đôi lúc phải giặt quần áo rồi
phơi ở bên ngoài lều. Phơi mà không có người nhà canh chừng thì bao nhiêu quần
áo cũng bị mất cắp.

-Cũng ở Orote Point, người Mỹ họ cắt nửa thùng phi làm thùng giữ phân và nước
tiểu ở những toilette gỗ, xây dã chiến. Lính G.I. là người đi đổ và lau rửa
toilette. Không hiểu tại sao mà người Việt tỵ nạn không đi tiêu vào
thùng phi mà tiêu tiện đầy lên chỗ phản ngồi bằng gỗ. Cuối cùng, họ bắt người tỵ
nạn chia phiên nhau lau rửa và đổ thùng phân vì họ nói mãi nhưng chẳng ai nghe.

-Người gạt người, thân hay lạ, trong việc đóng tiền vượt biên.

-Và sau cùng, một cảnh gia đình tôi mãi không bao giờ quên. Bên cạnh chỗ ngồi
của gia đình tôi trên chiếc tầu chiến Mỹ đi từ Vũng Tầu đến Subic Bay là một gia
đình khá giả. Họ đã chuẩn bị sẵn nên mang theo lương thực, nước uống, sữa
Guigoz…đầy đủ cho người lớn và trẻ em trong gia đình. Một chị trên tầu có con
nhỏ, không có sữa cho con mình bú nên đến xin một người đàn bà trong gia đình
này cho chị ta một chút ít sữa cho con. Người đàn bà nhìn chị ta, nói rằng không
cho sữa không, nhưng sẽ bán nếu chị ấy trả tiền bằng sợi dây chuyền vàng đeo
trên cổ. Chị kia tháo sợi dây chuyền để đổi sửa cho con!

3. 36 năm tôi sống ở Hoa Kỳ, từ ngày 11-7-1975 cho đến ngày hôm nay:

Vào năm 1994, khi trận động đất ở Northridge gây thiệt hại trầm trọng cho nhiều
thành phố, kể cả Simi Valley, FEMA (Federal Emergency Management Agency- Cơ Quan
Quản Lý Khẩn Cấp Liên Bang) đến Simi Valley thiết lập trụ sở cứu giúp. Vợ tôi
làm cho County, tình nguyện làm giúp FEMA. Một trong những sự trợ giúp khẩn cấp
là thức ăn. Động đất gây ra cúp điện, thức ăn trong tủ lạnh do đó sẽ bị hư. Nhà
ai thức ăn bị hư thối đến điền giấy tờ
(chỉ có một vài chi tiết: tên tuổi và địa chỉ) thì FEMA sẽ phát cho một thẻ
phiếu trị giá $120 dollars. Cầm thẻ phiếu này đến bất cứ siêu thị nào mua sắm
thức ăn dùng nó để trả tiền, siêu thị sẽ lấy vì họ sẽ tính tiền lại với chính
phủ. Vợ tôi thấy một người đàn bà Việt Nam đến xin hai lần. Lần thứ nhất một
mình nhưng lần thứ hai mang theo một lô người Việt Nam nữa. Vì không biết vợ tôi
là người Việt Nam, bà ta vừa cầm giấy ghi tên phân phát cho những người đó vừa
nói: “Tụi bay cứ đề tên vô, địa chỉ thì ghi đại số nào cũng được, không ai xét
hết. Tủ lạnh nhà mình không bị cúp điện, thức ăn không hư, họ cũng cho mình $120
vì không cách nào mà họ xét được”.

Ai có đọc báo Mỹ thỉnh thoảng sẽ thấy người Việt Nam bị bắt vì tội gian lận.
Nhân viên an sinh xã hội khai gian chính phủ bỏ tiền giúp người nghèo vào quỹ
riêng của mình, hơn một triệu đô-la. Một bà khai sổ sách cho một
hãng xe ở Van Nuys biển thủ bạc triệu. Người làm giấy tờ cho mượn tiền mua nhà
khai gian với nhà băng mấy triệu. Văn phòng y khoa khai gian Medical cả trăm
nghìn. Một số người có cơ sở thương mại trốn thuế. Không lúc nào mà không có tin
xấu. Người Mỹ đã làm ơn, cho người Việt chúng ta một cơ hội sống trong tự do.
Thay vì trau giồi nhân bản đạo đức của mình để họ hãnh diện đã không lầm khi cho
phép người mình sang đây, chúng ta làm ngược lại.
Tôi biết một ông Việt Nam lớn tuổi, lúc nào cũng cay cú người Mỹ là nguyên nhân
làm cho Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ (hoàn toàn không phải lỗi vì người Việt tham
nhũng hay không có tinh thần chiến đấu!) , một lần nói với tôi
là: “Tổ cha mấy thằng Mỹ! Tụi nó điếm lắm!”. Đây là một cá tính tôi thấy của
người Việt: không bàn cãi một vấn đề với lý luận, tri thức nhưng với bướng bỉnh.
Khi sai không nhận là mình sai, chụp mũ người khác, dùng từ ngữ
hạ cấp chửi đối phương, và đôi lúc còn dọa đánh người ta nữa. Đây là gốc Việt
Nam, tôi không nên mất gốc?

Cách đây vài tháng, tôi có viết một bài phê bình “Xem Paris By Night 99 : Tôi là
người Việt Nam” , đăng trong
Saigonocean.comhttp://www.saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm . Paris
By Night hay ASIA là những chương trình nhạc được người Việt hải ngoại ưa
chuộng, và như thế ít ra cũng phản ảnh một phần nào dư luận của người Việt. Chủ
đề của DVD này là hãnh diện vì tôi là người Việt Nam. Tôi tóm tắt ba nhận xét
chính sau đây:

1. Hầu hết những người Việt Nam được vinh danh trong DVD này cảm ơn bố mẹ họ,
gia đình họ… làm việc siêng năng cần cù để bây giờ họ được thành công. Không một
ai cám ơn chính phủ Mỹ, dân tộc Mỹ đã cho họ có một cơ hội sang đây. Bố mẹ hay
chính bản thân họ có cần cù đến đâu mà nếu họ vẫn còn ở Việt Nam, không ở Mỹ thì
họ có thành công như bây giờ không? Bài học “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” quá đơn
giản nhưng rất ít người nhớ.

2. Ông “vua nail” Quý Tôn tuyên bố là ông ta ước ao những người làm nail đoàn
kết để nâng cao giá cả. Tôi ngồi nghe há hốc miệng kinh hoàng trong khi cả hí
viện vỗ tay ầm ầm, kể cả người hướng dẫn chương trình. Chỉ có
chính thể Cộng Sản xưa cũ mới ấn định giá cả hàng hóa. Giá cả do nhà nước ấn
định như trong các nước Cộng Sản ngày xưa (và cả Việt Nam trước khi Đổi mới vào
năm 1986) đưa tới kinh tế sụp đổ, dân tình đói kém. Từ khi khối Cộng Sản Nga-Sô
sụp đổ, Nga không còn ấn định giá cả. Đặng Tiểu Bình sau khi sang Mỹ viếng thăm
Tổng Thống Jimmy Carter vào năm 1979, kinh hoàng trước sự giầu có của nước Mỹ,
về Trung Hoa áp dụng chính sách free market, thị trường cạnh tranh ấn định giá
tin. Kết quả: không ai có thể phủ nhận Trung Hoa tiến vượt bực chỉ trong vòng 30
năm nay. Việt Nam bắt chước Trung Hoa, áp dụng chính sách Đổi Mới vào năm 1986,
nhà nước không còn áp dụng giá cả. Chỉ cần hỏi một người sống ở Việt Nam so sánh
sự khác biệt trước Đổi Mới và bây giờ để xem chính sách nhà nước ấn định giá cả
có hữu hiệu hay không. Thế mà khi nghe ông “vua nail” Quý Tôn nói, không một ai
chửi bới mà vỗ tay ầm ầm! Đây là một “tốt đẹp” trong giòng máu Việt của tôi mà
tôi không nên mất gốc?

3. Paris By Night là một cơ cấu thương mại, tổ chức ca nhạc thu tiền bán vé, bán
DVD để lấy lời. PBN tạo ra một chủ đề kích thích dân tộc tính để thu hút khán
giả, bán DVD. Khi bắt đầu DVD phần 2, Nguyễn Ngọc Ngạn còn
nhân cơ hội để quảng cáo bán sách viết mới nhất của mình. Dùng một niềm tự hào
chung -hãnh diện tôi là người Việt Nam- để làm tiền gây lợi riêng mà không một
ai thấy ngứa tai gai mắt?

Theo tự điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, “mất gốc” là không giữ
được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình. Nếu những kinh nghiệm với người Việt
Nam trên đây tôi đã chứng kiến trong cuộc đời được gọi là tốt đẹp, thì vâng, xin
cho tôi mất gốc.

Nguyễn Tài Ngọc
April 2011

Bài Xem Nhiều