We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 25 April 2011

Còn Thua Nô Lệ Da Đen

Mỉa mai thay cho thân phận Con Người! Tín ngưỡng và tôn giáo, chủ nghĩa và chánh trị, màu da và văn hóa, là sản phẩm cao cấp, nguồn gốc tự hào của xã hội Loài Người nhưng lại là nguyên nhân chiến tranh, kỳ thị chủng tộc, tội phạm oán thù (hate crimes) hạ phẩm giá Con Người đối với người có khi như ac thú. Nước Mỹ nhờ lập quốc sau, truyền thống tìm tự do mạnh, gốc gác đa nguyên, đa sắc tộc thành hợp chủng quốc rút được kinh nghiệm đau thương của các nướcMỉa mai thay cho thân phận Con Người! Tín ngưỡng và tôn giáo, chủ nghĩa và chánh trị, màu da và văn hóa, là sản phẩm cao cấp, nguồn gốc tự hào của xã hội Loài Người nhưng lại là nguyên nhân chiến tranh, kỳ thị chủng tộc, tội phạm oán thù (hate crimes) nên tránh được chiến tranh tôn giáo, chiến tranh ý thức hệ độc tài, nhưng không tránh được chiến tranh vì màu da và văn hóa. Cuộc nội chiến vì kỳ thị chủng tộc làm đất nước suýt chia đôi, người Mỹ đánh người Mỹ, quân Miền Nam nước Mỹ đổ máu với quân Miền Bắc nước Mỹ. Nội chiến Mỹ có nhiều nguyên nhân xa gần, kinh tế, kỹ nghệ, nhưng chánh yếu vẫn là vấn đề binh và chống sự bất bình đẵng cho người Da Đen. Một tổng thống bị ám sát chết, số thương vong (618.000 người) cao nhứt trong 10 cuộc chiến tranh của Mỹ, kể cả Thế Chiến 2 chỉ đứng hàng thứ nhì với 405.000 người chết (Maris A.Vinovskis, 1989).

Chiến tranh kỳ thị chấm dứt nhưng thái độ và hành động kỳ thị vẫn còn trong lòng xã hội Mỹ, từ tòa án vào trường học, đến sở làm, trên xe bus. Đâu có lâu lắc gì.. Năm 1896 Tối Cao Pháp Viện hãy còn đồng thanh quyết nghị cho phép một nền giáo dục riêng biệt nhưng bình đẳng (separate but equal ) tại trường học đối với học sinh Da Đen. Mãi đến năm 1954, Tối Cao Pháp Viện mới tuyên bố điều đó vi hiến, hủy bỏ, nhơn vụ gia đình Browns kiện học khu Thành phố Topeka, Kansas. Tháng 5 năm 1955, một học sinh 15 tuổi tên Claudette Colvin bị bắt do không chịu nhường chỗ cho một bà Da Trắng. Và ngay sau đó Bà Rosa Parks quyết ngồi trên xe bus để cả nước Mỹ đứng lên chống kỳ thị Da Màu. Sau 381 ngày Tối Cao Pháp Viện, tuyên bố luật Jim Crow vi hiến.

Nhưng hành động kỳ thị coi người Mỹ Da Đen như nô lệ, người Da Đen chịu không nổi mà người Da Trắng, Da Vàng, Da Đỏ cũng chịu không nổi là chuyện nhỏ, là chuyện không nhầm nhò gì ba cái lẻ tẻ so với những gì người Việt đã đang chịu dưới chế độ độc tài đảng trị toàn diện với đường lối tự thực dân (auto- colonialisme ) do CSVN áp dụng đối với chính đồng bào VN của mình - trên cả hai phương diện tinh thần lẫn vật chất.CS trị người bắng bao tử lúc còn tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ nghĩa, coi quần chúng nhân dân như con chó thí nghiệm phản xạ có điều kiện của nhà sinh lý học Nga, Ivan Pavlov ( 1873-1972), đánh một tiếng chuông và đưa cho thấy một miếng thịt bò, nước cương toan bao tử chó tiết ra, sau chỉ đánh chuông mà không đưa ra cục thịt bò, nước bao tử vẫn tiết. Đó là chế độ tem phiếu, sổ gạo, nhân khẩu, chế độ đại táo, tiểu táo cho cán bộ thấp cao. Thêm vào đó bắt người Việt làm con tin với chế độ hộ khẩu, giấy tạm vắng, tạm trú, giấy đi đường và hàng ngàn loại nghị quyết, quyết nghị, pháp lịnh, quyết định mỗi năm trồng lên đầu, lên cổ dân, toàn là buộc chớ không mở. Văn kiện pháp lý của CS ít khi có câu, văn kiện này hủy bỏ những điều khoản trái ngược của các văn kiện có trước, thành ra việc cũ để đó, khi cần giở ra thành mới để trị dân. Sau khi Liên xô sụp đổ, CS có nương tay hơn về kinh tế, nhưng quyết không nới lỏng an ninh nội chính và chánh trị.

Nhưng chính Ông Tổ CS là Karl Marx cũng nói, sức nén càng nhiều, sức bật càng cao. Cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo đi trước.Rồi tự do, dân chủ, nhân quyền tiếp theo, đang phát triển từ phẩm sang lượng, từ điểm sang diện. Diễn biến hòa bình mà CS sợ như thí sinh sợ phạm húy ở trường thi nói trại chữ, đã thành diễn tiến không hòa bình nữa trong phong trào người dân đấu tranh chống VC tham nhũng, VC cướp nhà, cướp đất. Bao lâu cuộc đấu tranh cho quyền lợi có tính cao cấp và tinh thần là tự do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền liên kết được với cuộc đấu tranh cho quyền lợi vật chất, sát sườn người dân, phong trào đấu tranh sẽ triều dâng thác đổ.

Nhưng cũng có người nói sao lâu quá mà đấu tranh cho tự do, dân chủ chưa có kết quả. CS Hà Nội vẫn an nhiên cướp ngày là quan cán bộ CS. Nhưng qui luật đấu tranh vĩ mô khách quan cho biết thế lực nào có tinh thần bất khuất, có tính kiên trì sẽ thắng. Ky tô giáo đấu tranh hàng thế kỷ để trưởng thành trên tro tàn của Đế Quốc La Mã. Người Mỹ Đa Đen và người Mỹ chánh trực đấu tranh giải phóng nô lệ hàng thế kỷ để nước Mỹ mới thành một đóa hoa kết tụ tinh anh của bốn phương, muôn màu muôn vẻ lại muôn hương. Phương chi cuộc đấu tranh của người Việt là một cuộc vận động lịch sử lớn nhứt trong lịch sử 4.000 năm của dân tộc Việt. Lớn lao, cam go, rắc rối nhưng tế nhị hơn chống Bắc thuộc ba lần và Pháp thuộc một lần. Vì đây là một cuộc đấu tranh chánh trị, đối đầu giữa giá trị, niềm tin , và lý tưởng tư do, dân chu, nhân quyền với độc tài đảng trị toàn diện, với đường lối chế độ tự thực dân, biên đồng bào thành nô lệ mớiø. Mà đã nói lịch sử thì đơn vị thời gian thường không đo đếm bằng tháng ngày, mà bằng năm, mười năm. Kiên nhẫn là thành công./.

Vi Anh

Human Rights Watch Yêu Cầu LHQ Điều Tra Đàn Áp ở Syria

BEIRUT - Tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch (HRW - bản doanh New York) yêu cầu LHQ điều tra cuộc đàn áp đối lập bằng bạo động của chính quyền Syria - trên 120 người thiệt mạng trong vài ngày qua. HRW cũng hô hào Hoa Kỳ và Liên Âu cưỡng chế các trừng phạt với các lãnh đạo Syria.

Tính từ khi phong trào dân chủ nổi dậy trong 5 tuần qua, trên 300 người đã bị giết, theo ước lượng của HRW. Thứ Sáu ngày 22-4 là ngày đẫm máu nhất, với 112 người mất mạng.

Liên minh 10 tổ chức nhân quyền Syria loan báo hôm chủ nhật : chế độ Damascus đã bắt nhà tranh đấu Daniel Saoud, người dẫn đầu tổ chức đối lập gọi là Ủy Ban Bảo Vệ Dân Chủ, Tự DBEIRUT - Tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch (HRW - bản doanh New York) yêu cầu LHQ điều tra cuộc đàn áp đối lập bằng bạo động của chính quyền Syria - trên 120 người thiệt mạng trong vài ngày o và Nhân Quyền - ông Saoud là cư dân Babias, bị bắt hôm Thứ Bảy.

Thông tấn nhà nước SANA đưa tin 286 cảnh sát bị thuơng kể từ ngày quần chúng nổi dậy - bản tin ngắn không mô tả chi tiết.

Tại thị trấn Homs thuộc miền trung, nơi 19 người thiệt mạng hôm Thứ Sáu, lực luợng an ninh không cho phép cử hành đồng loạt 19 đám tang - nhân chứng giải thích: cơ quan an ninh không muốn cư dân tập trung quá đông.

Cho tới nay, TT Assad quy trách nhiệm "thế lực ngoại bang" và côn đồ vũ trang gây hỗn lọan - nhưng, rạn nứt có thể đã bắt đầu từ bên trong.

Hôm Thứ Bảy, 2 dân biểu và 1 lãnh tụ tôn giáo của tỉnh Daraa đã từ chức để phản đối hành động đàn áp giết dân biểu tình ôn hoà.

Qua ngày chủ nhật, thêm 1 nghị viên tỉnh Daraa từ chức. Nghị viên al-Zamel tuyên bố với phóng viên "Bổn phận của dân cử là từ chức để phản đối bạo lực".

Bà Ngô Đình Nhu, đã về nước Chúa

Bà Ngô Đình Nhu, nhủ danh Trần Lệ Xuân, vừa qua đời 1924-2011

Tin Buồn

(Bà Ngô Đình Nhu nhủ danh Trần Lệ Xuân đã về nước Chúa vào hồi hai giờ sáng lễ Phục Sinh, Chúa nhật 24 tháng 4 năm 2011 tại một bệnh viện ở thủ đô La Mã của nước Ý.)

Bà Ngô Đình Nhu đã trút hơi thở cuối cùng thanh thản và an bình với tất cả các con và cháu nội ngoại quây quần bên giường bệnh. Bà đã nhận lãnh các phép bí tích cuối cùng với tràn đầy ân sủng của Chúa Phục Sinh.
Bây giờ Bà đã “đoàn tụ” với Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thuỷ mà bà hết lòng yêu thương quí mến.

Xin quý vị độc giả dâng lời cầu nguyện cho linh hồn Maria an vui trên Thiên Quốc.


Trân trọng báo tin,

Trương Phú Thứ

http://nguoivietboston.com/?p=36235


Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30.4.1975

Năm 2003 tôi có bài viết “Dinh Độc Lập trưa ngày 30.4.1975” đầu tiên, bổ sung những năm sau, nêu ra khác biệt trong chuyện kể về thời khắc lịch sử qua đối chiếu sách báo trong nước và nước ngoài.

Chuyện gì xảy ra tại cổng Dinh Độc Lập, tăng nào vào trước, xe 390 hay 843? Khi bộ đội vào được trong dinh, ai đã gặp Tổng thống Dương Văn Minh đầu tiên và đã nói những gì? Ai giương cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam trên nóc dinh? Những nghi vấn đã là đề tài tranh cãi trên tạp chí Xưa&Nay giữa những sĩ quan và bộ đội, với hai nhân chứng lịch sử quan trọng có mặt ở đó lúc bấy giờ là Đại úy bộ binh Phạm Xuân Thệ và Trung tá Chính ủy Bùi Văn Tùng, nay là Trung tướng Phạm Xuân Thệ và Đại tá Bùi Văn Tùng. Một nhân chứng khác là Thượng tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, cũng có mặt. Nhưng nay đã bị xóa tên trong các tài liệu lịch sử vì ông Bùi Tín đã bỏ nước ra đi vào năm 1990.

Vì có nhiều điều không nhất quán nên những năm gần đây Viện Lịch sử Quân đội Việt Nam và Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân đã có những nghiên cứu, tổ chức thảo luận về thời khắc lịch sử này. Nhưng tranh cãi về chuyện ai nói gì với lãnh đạo miền Nam tại Dinh Độc Lập, ai viết văn bản đầu hàng cho Tổng thống Dương Văn Minh đọc để thâu băng cho đến nay vẫn chưa được xác minh rõ ràng.

Bên cạnh đó, những sự việc xảy ra tại đài phát thanh Sài Gòn liên quan đến một số lãnh đạo sinh viên, trí thức, đoàn thể và đặc biệt là Trịnh Công Sơn cũng gây tranh luận vì ông là một nhạc sĩ nổi tiếng đã phát biểu và hát “Nối vòng tay lớn” trên đài vào giờ phút lịch sử sang trang. Lời ca của ông rất nhiều người biết đến. Tựa bài hát còn được dùng để đặt tên cho những trại hè sinh viên – Trại hè Nối vòng tay lớn – do phòng thông tin quốc ngoại tổ chức sau khi Hiệp định Ba Lê 1973 được kí kết để mời gọi sinh viên du học nước ngoài về thăm quê hương, sinh hoạt cùng sinh viên trong nước.

Nội dung các lời dẫn và phát biểu trong chương trình phát thanh đầu tiên của “Đài Sài Gòn Giải phóng”, như ghi lại trong băng phổ biến trên damau.org ngày 1.4.2011[http://damau.org/archives/19337], đã khiến một số bạn đọc muốn biết hư thực ra sao. Bài viết này trình bày những tài liệu ghi nhận được chung quanh đoạn băng đó.

*

1. Những phát biểu về đầu hàng

Trước hết là ghi lại những phát biểu nghe được trong băng, từng đoạn một:

(1) Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hoà hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến điạ phương đã giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến điạ phương giao lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam.

(2) Trong tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc (không rõ) cả nước đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hoà bình của dân tộc và trở lại sinh hoạt bình thường. Các nhân viên của các cơ quan hành chánh quay trở về vị trí cũ theo sự hướng dẫn (không rõ).

(3) Chúng tôi đại diện Lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh, Tổng thống Chính quyền Sài Gòn.

BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H01_XuaNay_234

Ông Nguyễn Hữu Thái, cựu lãnh đạo sinh viên Sài Gòn có mặt tại đài và là người đã phối trí chương trình phát thanh trưa ngày 30.4, trong hồi ức trên tạp chí Xưa&Nay [Số 234, tháng 4.2005, tr. 19-20] tựa “Tiếng nói cách mạng đầu tiên trên Đài phát thanh Sài Gòn”, ghi lại phần mở đầu chương trình phát thanh vào lúc hơn 2 giờ chiều:

“Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới Dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em quân đội giải phóng cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái…”

Sau đó ông giới thiệu lời kêu gọi của Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu:

“Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”

Bài hồi ức ghi tiếp:

[trích báo Xưa&Nay]

Tiếp theo là lời của tướng Dương Văn Minh:

“Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hoà hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ Trung ương đến điạ phương phải giải tán hoàn toàn. Từ Trung ương đến điạ phương trao lại cho Chính phủ cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam”.

Giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu tiếp theo:

“Trong tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hoà bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Nhân viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng”.

Và cuối cùng là lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy Bùi Văn Tùng:

“Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

[hết trích]

Trong phần âm thanh phổ biến, so với trích dẫn từ tạp chí Xưa&Nay ngoài những chỗ nghe không rõ có vài khác biệt.

Căn cứ vào hồi ức của Nguyễn Hữu Thái, ba phát biểu đó là của:

(1) Tổng thống Dương Văn Minh. Trong phần này tôi nghe là “đã” giải tán hoàn toàn, bài viết ghi “phải” giải tán hoàn toàn. Vì âm thanh rè, khó phân biệt rõ nên tôi không chắc. Tuy nhiên theo tài liệu của giới chức quân sử Việt Nam, bản tuyên bố đầu hàng do Chính ủy Bùi Văn Tùng viết trên giấy cho Tổng thống Dương Văn Minh đọc là “phải” giải tán hoàn toàn.

Trong tác phẩm “Giai Phong! The Fall and Liberation of Saigon” của Tiziano Terzani [Xuất bản năm 1975 bằng tiếng Ý. John Shepley dịch sang Anh ngữ. Nxb St. Martin 1976], phóng viên người Ý ở lại Sài Gòn cho đến tháng 7.1975 đã ghi nhận lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh do Chính ủy Bùi Văn Tùng viết trên tờ giấy mầu vàng [tr. 95]. Tác giả ghi nhận chương trình phát thanh có lại lúc 2 giờ 30 chiều vì đài đã im tiếng từ sau tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh vào lúc 10 giờ 25 sáng, khi ông kêu gọi hai bên buông súng và chờ đợi bàn giao quyền hành cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam.

Buổi phát thanh đầu tiên sau 2 giờ chiều của lực lượng giải phóng theo Terzani có phần mở đầu như sau:

“This is the voice of the Revolutionary Forces of Saigon-Gia Dinh. I am a representative of the Liberation Forces. Now Duong Van Minh will make an appeal.”

[Dịch: Đây là tiếng nói của Lực lượng Cách mạng Sài Gòn Gia Định. Tôi là đại diện của Lực lượng Giải phóng. Bây giờ Dương Văn Minh sẽ có lời kêu gọi.”

Theo tác giả tường thuật, sau lời giới thiệu có sự im lặng rồi là lời tuyên bố của Tướng Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu [tr. 96]

“I, General Duong Van Minh, president of the Saigon government, appeal to the armed forces of the Republic of Vietnam to lay down their arms and surrender unconditionally to the forces of the National Liberation Front. Furthermore I declare that the Saigon government is completely dissolved at all levels.”

“In the spirit of harmony and national reconciliation, I, Professor Vu Van Mau, prime minister, appeal to all levels of the population to greet this day of peace for the Vietnamese people with joy. I appeal to all employees of the administration to return to their posts and continue their work.”

Như thế cho thấy lời phát biểu của Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu trên đài là có thực, nội dung như trong băng ghi âm.

Họ có bị ép buộc nói thế không? Theo lời kể của kí giả Đức Borries Gallasch là người đã cho mượn máy cát-sét để ghi lời đầu hàng thì đã có lời qua tiếng lại giữa Chính ủy Tùng và Tổng thống Minh về một vài chữ mà ông Tùng muốn ông Minh phải sử dụng. Trong một phóng sự điều tra 4 kì của đài truyền hình trong nước HTV 9, [http://www.youtube.com/watch?v=OHwf5O3QxTg&feature=related], phần 4 chiếu khúc phim tài liệu với kí giả Gallasch kể về không khí và chuyện viết lệnh đầu hàng, thu thanh sau khi ông vừa rời đài phát thanh và trở lại đường Thống Nhất trước Dinh Độc Lập.

Trong “30.4.1975 Bản hùng ca Thế kỷ XX” [Nxb Lao động 2006] có nhiều tài liệu, hồi ức của những cấp chỉ huy quân sự Quân đội Nhân dân về chiến thắng năm 1975. Phần trích hồi ức của Tướng Võ Nguyên Giáp ghi lời đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh đã được Bộ Chính trị và Quân ủy nghe qua dây ghi âm vào chiều 30.4 như sau: “Tôi là Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi (không có: Quân lực Việt Nam Cộng hoà) bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến điạ phương vào giao quyền cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.” [tr. 243]

Hồi ức của Tướng Giáp không ghi “Quân lực Việt Nam Cộng hoà” là vì không có trong phần âm thanh gốc hay quan chức thông tin kiểm duyệt bỏ đi?

(2) Sau lời tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh là tuyên bố của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Trong băng những chỗ về tên và chức vụ không nghe rõ. Không biết ông Thái nghe băng ghi lại có nghe được danh xưng và chức vụ của vị Thủ tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà hay không? Ông ghi những điều đó vào trong bài viết vì đã biết rõ ông Vũ Văn Mẫu là ai hay ông dựa theo những nguồn tài liệu khác?

(3) Kế đến là lời Chính ủy Bùi Văn Tùng chấp nhận sự đầu hàng. Trong phần này, tôi nghe “tướng” Dương Văn Minh. Còn trong bài ghi là “ông” Dương Văn Minh.

Một nguồn thông tin khác là mạng BBC Việt ngữ ngày 29.04.2005 trong đó có trích báo Tuổi Trẻ ngày 23.03.2005 với lời của cựu Chính ủy Bùi Văn Tùng như sau: “Tôi thảo cho ông Dương Văn Minh lời đầu hàng. Sau khi ông đọc xong thì tôi đọc lời tuyên bố: ‘Chúng tôi đại diện lực lượng quân giải phóng miền Nam VN long trọng tuyên bố TP Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn…’.”

Bài hồi ức trên tạp chí Xưa&Nay số tháng 4.2005 cũng dùng chữ “ông” trước danh xưng Dương Văn Minh, thay vì chữ “tướng”. Có hai băng ghi âm khác nhau? Hay vì nghe không rõ nên ghi nhầm ở đây?

Lời chấp nhận đầu hàng này cũng đã được hãng thông tấn AP, qua bản tin của kí giả George Esper gửi đi và đăng trên nhật báo New York Times ngày 1.5.1975 đã ghi nguyên văn, trong đó có chữ Gen. – tiếng Anh nghĩa là “tướng” – với nội dung rất đúng lời của chính ủy Bùi Văn Tùng như ghi ra từ băng:

“We representatives of the liberation forces of Saigon formally proclaim that Saigon has been totally liberated. We accept the unconditional surrender of Gen. Duong Van Minh, President of the former Government.”

Hãng thông tấn AP có nhân viên nghe đài và dịch lại nguyên văn để kí giả Esper ghi nhận trong bài tường thuật của ông.

Tuần báo TIME ngày 12.05.1975 trong một bài tường thuật cũng ghi lời chấp nhận đầu hàng: “Saigon has been totally liberated. We accept the unconditional surrender of General Duong Van Minh, President of the former government.”

Dựa trên những tường thuật của Borries Gallasch, Tiziano Terzani và George Esper thì những lời tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Chính ủy Bùi Văn Tùng trên đài phát thanh Sài Gòn chiều ngày 30.4.1975 là có thực.

Cũng cần nói thêm là Tổng thống Dương Văn Minh trong ngày 30.4 đã đọc hai tuyên bố trên đài Sài Gòn.

Nhật báo New York Times ngày 1.5.1975 có đăng lời kêu gọi buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh và của phụ tá Tổng Tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh dưới tiêu đề “Saigon’s Surrender Texts” do hãng thông tấn AFP gửi đi bản dịch không chính thức. Đây là bản tuyên bố được thu âm vào sáng sớm tại Dinh Thủ tướng và được phát đi trên đài lúc 10 giờ 25 phút sáng. Nguyên văn tiếng Việt của hai lời tuyên bố này cũng đã được ghi lại nguyên văn trên nhật báo Nhân Dân ngày 1.5.1975.

Còn lời tuyên bố đầu hàng phát đi lúc khoảng 2 giờ 30 chiều là sau khi Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu được áp giải từ Dinh Độc Lập đến đài phát thanh. Tại đây Chính ủy Bùi Tùng đã viết bản văn đầu hàng cho Tổng thống Minh đọc vào máy cát-sét của kí giả người Đức là Borries Gallasch, trước khi được truyền đi qua sóng trong chương trình phát thanh đầu tiên của cách mạng do Nguyễn Hữu Thái điều hợp.

*

2. Về phát biểu và hát “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn

Về sự kiện Trịnh Công Sơn phát biểu và hát trên đài. Tiếp tục ghi lại tiếng nói trong băng:

“(không rõ) Cách mạng Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định. Và chúng tôi xin công bố là Thành phố Sài Gòn đã hoàn toàn được giải phóng lúc 12 giờ ngày hôm nay 30 tháng Tư năm 1975. Chúng tôi xin đồng bào hãy bình thản và bình tĩnh tiếp tục cuộc sống bình thường. Quân đội cách mạng đã làm chủ hoàn toàn thành phố và hiện tại chúng tôi (không rõ) nhưng sau này (không rõ) tất cả anh em thanh niên sinh viên học sinh Sài Gòn và toàn quốc đã biết. Chúng tôi xin giới thiệu anh Sơn có thể nói vài lời và cũng là hát cho qúi vị nghe một bài ngắn ngắn.”

Đoạn này là giọng nói của Nguyễn Hữu Thái, vì ông điều hợp buổi phát thanh. Lúc đó tại đài Sài Gòn có Nguyễn Hữu Thái cùng với giáo sư Huỳnh Văn Tòng, một trí thức từ Pháp về. Ông Thái viết trong hồi ức:

[trích Xưa & Nay]

Thái đích thân đứng ra điều hành buổi phát thanh ấy, đọc thêm bảng công bố của Cách mạng đối với vùng mới giải phóng, mượn của một chính trị viên.

Thái và Tòng cố tình xưng tên tuổi mình là nhằm tạo tâm lý trấn an nhân dân Sài Gòn. Gần đây, nhân dân phía Nam từng bị guồng máy tâm lý chiến của Mỹ và Sài Gòn ra rả tung tin thất thiệt, mô tả nào cảnh tắm máu khi bộ đội đến miền Trung làm dân Sài Gòn sợ điếng hồn. Mọi người thực sự đang kinh hoàng, chỉ mong tìm đường đào thoát chạy thoát thân với bất cứ giá nào! Hy vọng khi nghe được tên tuổi Thái, Tòng họ sẽ nghĩ: “À, nếu mấy tên tư sản kiểu như Tòng, Thái mà còn đó thì chắc cũng không đến nỗi nào!

Xen kẻ vào các lời ghi âm sẵn phát đi phát lại nêu trên, họ tranh thủ kêu gọi đại diện đồng bào các giới đến lên tiếng trên làn sóng phát thanh.

Thấy trong đám đông ùa đến đài có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sinh viên Huỳnh Ngọc Chênh đưa anh vào và tất cả cùng anh hát vang bài “Nối vòng tay lớn”. Không có đàn trống, chúng tôi vỗ tay, khỏ nhịp lên bàn cùng nhau hát vang:

Rừng núi dang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
Mặt đất bao la anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão táp quay cuồng
Trời rộng bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam

Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi
Vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo
Từ quê nghèo lên phố lớn
Nắm tay nối liền biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh.

Bài hát ra đời từ năm 68 nói lên giấc mơ của dân tộc nay mới trở thành hiện thực. Đây là bài hát đầu tiên được phát trên sóng của đài phát thanh Sài Gòn ngày giải phóng.

[hết trích]

Bài viết không ghi lời phát biểu của Trịnh Công Sơn, cũng không ghi trọn vẹn lời ca mà nhạc sĩ cùng một vài người nữa đã đồng ca và câu hát cuối do Nguyễn Hữu Thái ghi lại không như phần âm thanh trên damau.org. Theo băng, đó là “Biển xanh sông gấm nối liền một vòng Việt Nam”. “Việt Nam” khác với “tử sinh” như ghi trong bài viết của Nguyễn Hữu Thái.

Có hai băng khác nhau chăng? Theo Nguyễn Hữu Thái, ông có băng ghi âm này từ nhà sử học Nguyễn Nhã tặng năm 2002.

Trong hồi ức, Nguyễn Hữu Thái không nhắc đến phát biểu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên, khi ông viết rằng ông và Giáo sư Huỳnh Văn Tòng muốn có nhiều giới đồng bào đến để lên tiếng cho mọi người an tâm đừng bỏ nước ra đi thì việc Trịnh Công Sơn trước khi hát đã kêu gọi mọi người ở lại là hợp với tình cảnh bấy giờ tại đài và đúng ý muốn của các ông Thái, Tòng và một chính trị viên bộ đội có mặt.

Về phát biểu của Trịnh Công Sơn, trên tạp chí mạng honvietquochoc.com.vn của Hội Nhà văn Việt Nam ngày 18.8.2010 có bài của Thanh Huyền tựa: “Trịnh Công Sơn hát ‘Nối vòng tay lớn’” cũng ghi lại lời phát biểu của nhạc sĩ, nguyên văn giống như trong băng đã phổ biến, nhưng cắt bỏ một câu quan trọng có lẽ vì là vấn đề “nhạy cảm” trong nước. Đó là câu: “Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.”

BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H02_HonViet_20100818

Phần lời ca, tác giả Thanh Huyền ghi lại đầy đủ, nhưng câu cuối cùng cũng ghi “tử sinh” thì khác với băng trên damau.org và giống như trong hồi ức của Nguyễn Hữu Thái.

3. Ai đã có mặt tại đài phát thanh Sài Gòn?

Sự kiện Trịnh Công Sơn hát trên đài Sài Gòn vào giờ phút lịch sử còn dẫn đến một số thắc mắc: Ai đã đưa nhạc sĩ đến đài? Ông đã phát biểu và hát tự nguyện hay bị ép buộc?

Theo Hoàng Xuân Sơn, một người có chơi với Trịnh Công Sơn thì Nguyễn Hữu Thái đã đưa nhạc sĩ đến đài. Trong bài “Tạm thay lời kết: vạn nẻo mây tần” đăng trên damau.org 04.04.2011, Hoàng Xuân Sơn kể ngày 30.4 Trịnh Công Sơn ghé qua nhà ông với vẻ “Mặt hớt hơ. Và giọng hớt hải” kêu ông cùng lên đài hát “Nối vòng tay lớn” nhưng ông không đi. Nhìn ra đường thấy Nguyễn Hữu Thái đưa Trịnh Công Sơn lên xe cùng bộ đội và những người đeo băng đỏ.

Nếu Trịnh Công Sơn đi với Nguyễn Hữu Thái thì hai người tách rời nhau khi nào? Vì trong hồi ức trên Xưa&Nay đã dẫn trên, ông Thái viết “Thấy trong đám đông ùa đến đài có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Huỳnh Ngọc Chênh đưa anh vào…” và ông cho biết đây là lần đầu tiên gặp lại Trịnh Công Sơn sau 18 năm. Nguyễn Hữu Thái có mặt tại đài là đi theo đoàn xe do bộ đội áp giải Tổng thống Minh, Thủ tướng Mẫu từ Dinh Độc Lập đến đài để đọc lệnh đầu hàng. Đi chung với đoàn có Lý Quí Chung, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng, Hà Huy Đĩnh.

Trong bài: “Góp phần làm sáng tỏ sự kiện lịch sử 30/4/1975” [Xưa&Nay số 264, tháng 7.2006, tr. 27] Nguyễn Hữu Thái viết: “Toán sinh viên do anh Hà Thúc Huy hướng dẫn đã cùng bộ đội chiếm giữ Đài truyền hình và Đài phát thanh rồi nhưng lúng túng không biết phải làm gì tiếp”. Ông cũng đã kể với Terzani trong Giai Phong! là sau khi nghe lệnh buông súng lúc 10 giờ 20 sáng 30.4, ông đang ở Đại học Vạn Hạnh cùng với sinh viên lo tiếp thu quân trang quân phục của lính Việt Nam Cộng hoà đã buông súng theo lệnh Tổng thống Dương Văn Minh. Sau đó ông đi tìm Lý Quí Chung nên vào Dinh Độc Lập, nhưng tài xế sợ và đã không đưa ông và Lý Quí Chung đến đài. [tr. 88]. Như thế, nếu chuyện Nguyễn Hữu Thái kể là thật thì có thể người mà Hoàng Xuân Sơn thấy đưa Trịnh Công Sơn đến đài có thể là Hà Thúc Huy.

Bài “Góp phần làm sáng tỏ sự kiện lịch sử 30/4/1975” đã không làm sáng tỏ mà còn làm lịch sử rối thêm. Đối chiếu với bài hồi ức của ông đăng trên cùng tạp chí vào tháng 4.2005, bài này ông đã đảo lộn thứ tự các tuyên bố của Tổng thống Minh, Thủ tướng Mẫu, Chính ủy Tùng sang một thứ tự mới: Tổng thống Minh, Chính ủy Tùng rồi mới đến Thủ tướng Mẫu. Như thế thứ tự thật sự của các tuyên bố ghi trong băng mà nhà sử học Nguyễn Nhã đã tặng ông như thế nào?

Cuối bài, tác giả Nguyễn Hữu Thái đề nghị nên có những hội thảo khoa học với sự tham dự của các nhân chứng trong vào ngoài nước và cho biết ông đang cố gắng hoàn thành một cuốn sách về sự kiện 30.4.1975. Tập sách nhỏ chừng 50 trang mà ông đã nói với BBC Việt ngữ vào năm 2005 là đã không được phép xuất bản ở Việt Nam.

Chuyện ở đài phát thanh, theo Đoàn Văn Toại là người mà thời sinh viên thuộc thành phần chống chính phủ, tác giả quyển The Vietnamese Gulag [Nxb Simon and Schuster 1986. Tiếng Pháp do Nxb Robert Laffont 1979] thì có những chi tiết rất khác.

Ông kể sau khi nghe lệnh buông súng vào lúc hơn 10 giờ sáng, ông đi tìm bạn cùng thời hoạt động sinh viên và gặp Nguyen Van Thang, người miền Nam, ở trước Dinh Độc Lập và sau đó cùng nhau đi bộ đến đài phát thanh. Tại đài ông thấy hai kĩ thuật viên đã phát thanh lời kêu gọi buông súng của Tổng thống Minh và chưa biết phải làm gì. Họ tưởng ông là người của Mặt trận đến tiếp thu. Ông soạn “Quyết định số 1” kêu gọi dân chúng gom vũ khí vất bên đường đem đến những nơi chỉ định như dinh, tổng hội sinh viên hay Đại học Phật giáo.

Về sự có mặt của Trịnh Công Sơn, Đoàn Văn Toại viết:

“After it was broadcast, we called up Trinh Cong Son, the celebrated composer of peace music and lyrics, whose work had long been banned by the regime. Getting into the spirit of it, he came down to the station with his tapes, which the technicians were happy to play…” [tr. 190]

[Dịch: Sau khi Quyết định (số 1) được phát thanh, chúng tôi kêu Trịnh Công Sơn, một người sáng tác nhiều nhạc và lời ca hoà bình đã bị chế độ cấm phổ biến. Hoà nhập vào niềm vui hoà bình, anh đã đến đài mang theo băng nhạc của mình để những kĩ thuật viên vui vẻ phát đi…]

Tác giả ghi nhận lúc đó tại đài cũng có nhiều chính trị gia, thành phần thứ ba và lãnh đạo các đoàn thể, tổ chức tôn giáo, văn hoá với kiến nghị ủng hộ chế độ mới muốn được phát đi trên đài.

Nhưng trong tác phẩm “The Fall of Saigon” [Nxb Simon and Schuster 1985] Đoàn Văn Toại, rời Việt Nam qua Pháp năm 1978, đã kể với tác giả David Butler rằng đại diện các đoàn thể muốn ông đọc những kiến nghị của họ nhưng ông không đọc và ông nói với mấy người mặc quần áo như bộ đội đã đến đài là bản “Quyết định số 1” cũng chưa được truyền đi mà đến giờ đài chỉ có phát nhạc. [tr. 466]

Theo Đoàn Văn Toại, đài Sài Gòn còn phát thanh. Thông tin trên báo nước ngoài cho biết đài im tiếng – silent – từ sau khi phát đi lệnh buông súng lúc 10 giờ 25 phút của Tổng thống Dương Văn Minh. Không hiểu kí giả nước ngoài ghi “silent” có nghĩa không có gì trên sóng, hay không có tiếng nói, tin tức. Chỉ phát thanh nhạc thì họ cũng cho là đài im tiếng? (thêm dấu hỏi)

Trang thông tin anhbasam.wordpress.com ngày 10.04.2011, khi điểm tin băng ghi âm trên damau.org có nhắc lời tác giả Hoài Hương trong một bài viết dịp 30.04 năm ngoái cho biết Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình, cựu Phó Chính ủy Quân khu 4 đã kể lại “… Sau khi TT. Dương Văn Minh đọc xong lời tuyên bố, trở lại Dinh Độc Lập, chúng tôi mới cho anh em sinh viên Sài Gòn thuộc Tổng đội Sinh viên Sài Gòn vào đàn hát các bài ca cách mạng. Trước giờ mọi người nói vào lúc TT. Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đã có anh em sinh viên Sài Gòn có mặt là sai. Lúc đó không có một thường dân nào hết.”

Tác giả Hoài Hương ghi lại như thế. Vậy tướng Hoàng Trọng Tình và Đoàn Văn Toại ai đúng, ai sai?

Sau khi phần ghi âm được phổ biến trên damau.org, có bạn đọc cho biết họ đã nghe Trịnh Công Sơn hát “Nối vòng tay lớn” với tiếng đàn.

Như thế trong vòng 4 tiếng đồng hồ từ 10 giờ 30 phút sáng, sau khi đài phát đi lời tuyên bố buông súng của ông Minh và của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cho đến khoảng 2 giờ 30 chiều ngày 30.4 là lúc có phần phát thanh lệnh đầu hàng do Nguyễn Hữu Thái điều hợp thì làn sóng đài có phát đi điều gì không? Có phát nhạc từ băng cát-sét, có thể là những ca khúc trong băng Hát cho quê hương Việt Nam, của Trịnh Công Sơn không? Vấn đề này cần được tìm hiểu thêm.

Còn chuyện Trịnh Công Sơn phát biểu rất hăng say, rất có giọng cách mạng trên đài, theo tôi là vì ông tin tưởng hoà bình đã đến với quê hương. Sau bao nhiêu năm chiến tranh, lúc im tiếng súng có nhiều người mừng. Trong khi đó Trịnh Công Sơn là người đã viết lên nhiều ca khúc nói lên mơ ước của mình, của dân tộc thì chắc ông phải rất mừng vui vào giờ khắc đó. Chưa bàn đến quan điểm chính trị của ông mà có người cho là thân cộng vào lúc đó.

Thêm vào đó, câu chuyện của Trịnh Cung kể cách đây hai năm: “Trịnh Công Sơn & tham vọng chính trị” về một thăm dò cho vai trò chính trị có thể có của Trịnh Công Sơn trong chính phủ mới có thể đã khiến ông khi lên đài phát biểu và cất tiếng ca bằng tất cả sự nhiệt tình và rung động của con tim vào giây phút lịch sử đó. Dù chỉ ít phút sau thì biết mình đã bị lừa. Như nhiều người Việt khác, như bao nhiêu bà mẹ đã bỏ công nuôi cách mạng để rồi phải than thở sau ngày 30.4.1975.

4. Trả lại sự thật cho lịch sử

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt đột ngột vào ngày cuối tháng Tư ba mươi sáu năm về trước. Các nhà phân tích tình hình thời bấy giờ dù biết rằng miền Nam không thể tự bảo vệ trước sức tiến quân của bộ đội miền Bắc. Nhưng không ai ngờ kết cuộc đã đến nhanh như thế.

Một cuộc chiến kéo dài gần 20 năm và phút cuối đến quá bất ngờ, ngay cả bộ đội cũng không biết kết thúc đã đến nhanh như thế, cho nên đến hôm nay khi nhớ lại sự việc nhiều chứng nhân lịch sử còn có những ghi nhận khác nhau, đôi khi trái nghịch nhau do bởi trí nhớ đã phai mờ cũng có mà vì hoàn cảnh chính trị cũng có.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một người đã che chở cho Trịnh Công Sơn sau này đã phát biểu ngày 30.4 “có triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”. Trước khi qua đời ông cũng nhắc đến thời khắc lịch sử mà sau hơn 30 năm còn gây tranh cãi. Ông nói muốn có một lịch sử công bằng cần phải có tiếng nói của mọi phiá trong các cuộc hội thảo, như tiếng nói của ông Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn Hữu Hạnh là những người của phiá Việt Nam Cộng hoà.

Đối với sự kiện Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh cũng thế. Hãy để mọi chứng nhân lịch sử được nói ra những sự việc họ chứng kiến. Hãy trả lại cho lịch sử những sự thật của nó.

© 2011 Buivanphu

___

Tài liệu tham khảo:

1/ Xưa&Nay. Tạp chí của Hội khoa học Lịch sử Việt Nam. Số 234 (4.2005), 258 (4.2006), 264 (7.2006)

2/ Butler, David. The Fall of Saigon. Simon and Schuster 1985

3/ Doan Van Toai và David Chanoff. The Vietnamese Gulag. Simon and Schuster 1986

4/ Terzani, Tiziano. Giai Phong! The Fall and Liberation of Saigon. St. Martin’s Press 1976.

5/ 30.4.1975 Bản hùng ca Thế kỷ XX. Nhiều tác giả. Nxb Lao động 2006.

6/ HTV9 trên YouTube.com:

[http://www.youtube.com/watch?v=OHwf5O3QxTg&feature=related]

7/ Thanh Huyền. Trịnh Công Sơn hát “Nối vòng tay lớn”. Tạp chí Hồn Việt. Hội Nhà văn Việt Nam. 18.8.2010

8/ Trịnh Cung. Trịnh Công Sơn & tham vọng chính trị. Damau.org 1.4.2009

9/ Bùi Văn Phú. Lời phát biểu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trên đài Sài Gòn trưa ngày 30.4.1975. damau.org 1.4.2011

10/ Hoàng Xuân Sơn. Tạm thay lời kết: vạn nẻo mây tần. damau.org 4.4.2011

Chú thích cho hình:

H01: Bài hồi ức của Nguyễn Hữu Thái trên tạp chí Xưa&Nay số 234, tháng 4.2005 (ảnh Bùi Văn Phú)

H02: Bài trên tạp chí Hồn Việt của Hội Nhà văn Việt Nam ghi lại phát biểu của Trịnh Công Sơn trên đài Sài Gòn ngày 30.4.1975 (ảnh Bùi Văn Phú)



Bùi văn Phú

Trình độ học vấn của bộ trưởng CS Việt Nam, Hoa Kỳ, và Úc


Một trong những đặc điểm đáng chú ý trong giới quan chức CS Việt Nam là họ thường có bằng cấp rất cao.

Thật vậy, chỉ nhìn qua những danh thiếp của cấp thứ trưởng, vụ trưởng, hay thỉnh thoảng đọc báo về chức danh của các bộ trưởng, chúng ta thấy họ thường là tiến sĩ hay thạc sĩ. Ngược lại, đối với giới quan chức nước ngoài, ấn tượng tôi có qua các danh thiếp của họ là trình độ học vấn trung bình, thường thường là bậc cử nhân, rất hiếm thấy bộ trưởng các nước phương Tây có bằng tiến sĩ. Nhưng đó chỉ là ấn tượng, chứ chưa có bằng chứng nào để so sánh cụ thể. Theo tôi biết, cho đến nay, vẫn chưa có ai làm thống kê để biết trình độ học vấn của quan chức CS Việt Nam và ngoại quốc như thế nào. Có được những thông tin này tôi thiết nghĩ cũng thú vị vì nó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về trình độ của các quan chức chính phủ.

Tôi chọn các quan chức cấp bộ trưởng, vì thông tin về các vị này tương đối đầy đủ hơn. Các thông tin về chức vụ, năm sinh, trình độ học vấn của các bộ trưởng (hay quan chức tương đương cấp bộ trưởng) của Việt Nam, Mĩ, và Úc được thu thập cho từng cá nhân. Riêng trường hợp Việt Nam, tôi còn thu thập thêm thông tin về quê quán để xem sự phân phối giữa 3 miền ra sao.

Kết quả cho thấy nội các của CS Việt Nam có 26 thành viên, ít hơn Úc (28 người), nhưng đông hơn Mĩ (23 người). Tuy nhiên, có sự mất cân đối nghiêm trọng về phân bố giới tính. Trong số 26 thành viên nội các chính phủ Việt Nam, chỉ có 1 nữ duy nhất: đó là bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Trong khi đó, nội các chính phủ Mĩ có đến 7 người là nữ, và con số này chiếm gần 1/3 chính phủ Obana, nhiều hơn cả chính phủ Úc với 4/28 thành viên (hay 14%) là nữ giới.

Về tuổi tác, các bộ trưởng trong chính phủ CS Việt Nam tương đối cao tuổi hơn so với đồng nghiệp của họ ở Mĩ và Úc. Tuổi trung bình của các bộ trưởng Việt Nam là 59, kế đến là Mĩ (tuổi trung bình 56) và Úc (50 tuổi). Người trẻ nhất trong chính phủ Việt Nam là ông Hoàng Trung Hải (50 tuổi), nhưng người trẻ tuổi nhất trong chính phủ Úc chỉ 33 tuổi (Kate Ellis, bộ trưởng thể thao), còn bộ trưởng trẻ nhất của Mĩ cũng chỉ 42 tuổi (ông Peter R. Orszag, giám đốc ngân sách quốc gia, với bằng tiến sĩ từ London School of Economics).

Về trình độ học vấn, chính phủ CS Việt Nam có trình độ cao nhất so với Mĩ và Úc. Trong số 26 thành viên trong nội các chính phủ Việt Nam, có đến 50% (13 người) có bằng tiến sĩ, 10 người có bằng cử nhân, và 3 người có bằng thạc sĩ. Phân tích kĩ hơn thì tôi thấy trong số 13 tiến sĩ bộ trưởng Việt Nam, phần lớn là tiến sĩ về kinh tế (7 người, gồm các ông Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Khôi Nguyên, Vũ Huy Hoàng, Lê Doãn Hợp, Trần Văn Tuấn, Cao Đức Phát, và Nguyễn Văn Giàu), phần còn lại là xã hội học (ông Nguyễn Quốc Triệu), luyện kim (ông Phạm Gia Khiêm), điều khiển học (ông Nguyễn Thiện Nhân), luật (ông Hà Hùng Cường), kiến trúc (ông Nguyễn Hồng Quân), và toán lí (ông Hoàng Văn Phong).

Ở Úc, trong số 28 thành viên chính phủ, chỉ có 1 người duy nhất có bằng tiến sĩ (ông Craig Emerson), 5 người có bằng thạc sĩ, và đa số (22 người ) có bằng cử nhân. Nội các chính phủ Obama có trình độ học vấn cao hơn Úc một chút, nhưng vẫn còn thua xa so với CS Việt Nam. Trong số 23 thành viên, 7 người có bằng tiến sĩ, 8 người với bằng thạc sĩ, và 8 người với bằng cử nhân.

Nếu [tạm] tính PhD là 10 năm theo học đại học, thạc sĩ 6 năm, và cử nhân 4 năm, thì tính trung bình mỗi bộ trưởng hay thành viên trong nội các chính phủ VN có 7.2 năm học đại học, kế đến là Mĩ (6.5 năm), và thấp nhất trong nhóm là Úc (4.6 năm).

Phân tích theo vùng. Nói đến Việt Nam là phải nói đến chính trị vùng. Tình hình phân bố các thành viên và trình độ học vấn trong nội các chính phủ CS Việt Nam không đồng đều giữa 3 vùng. Trong số 26 thành viên, đa số là từ miền Bắc (12 người, hay 46%), miền Trung và miền Nam mỗi miền có 7 người. Điều thú vị ở đây là trong số 12 thành viên từ miền Bắc, có đến 8 người (67%) có bằng tiến sĩ. Số thành viên có bằng tiến sĩ từ miền Trung là 3/7 (43%), và miền Nam là 2/7 (28%).

Vài nhận xét

Trong loạt bài về những bất cập trong việc đào tạo tiến sĩ trên Sài Gòn Giải Phóng, tác giả viết như sau: “Nhà khoa học, nhà quản lý các nước cũng sẽ rất ngạc nhiên khi biết được trong đội ngũ cán bộ của ta hiện nay, tỷ lệ TS rất cao! […] Trên các nước, TS nếu có trong bộ máy quản lý nhà nước thì cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất ít.” Những phân tích trong bài này phù hợp với nhận xét đó. Phân nửa các bộ trưởng (hay quan chức tương đương bộ trưởng) Việt Nam có bằng tiến sĩ, và con số này cao hơn so với chính phủ Mĩ và Úc, hai nước mà trình độ dân trí cao hơn Việt Nam. Tôi chưa có bằng chứng, nhưng tôi nghi rằng tỉ lệ tiến sĩ trong chính phủ Việt Nam có lẽ là cao nhất thế giới.

Ở Việt Nam đang tồn tại một nghịch lí lạ lùng: muốn đề bạt chức vụ nào đó thì phải có bằng cấp tương xứng. Chẳng hạn như điều kiện tiên quyết cho chức vụ giám đốc sở thì phải là bằng cử nhân hay thạc sĩ, trưởng khoa một bộ môn trong bệnh viện thì cần phải có bằng tiến sĩ và … đảng viên. Do đó, người ta đổ xô nhau đi “làm” tiến sĩ, tìm mọi cách và mọi giá để có một cái bằng tiến sĩ chỉ để thăng quan tiến chức, hơn là phục vụ cho khoa học. Chú ý là người ta “làm” tiến sĩ, chứ không hẳn là “học” tiến sĩ. Động từ “làm” ở đây bao gồm nhiều hành động, kể cả những việc làm có thể xem là tiêu cực.

Tuy nhiên, qui định bằng cấp và chức vụ đó là ở cấp địa phương và cơ sở, còn đối với các cấp bộ trưởng hay tương đương thì tôi nghĩ không có qui định bằng cấp càng cao mới được bổ nhiệm chức cao, vì ở cấp này, vị thế và thành tích chính trị đóng vai trò quan trọng hơn là bằng cấp. Nhưng trước khi làm bộ trưởng thì các vị này cũng đã trải qua các chức vụ thấp hơn, nên nhu cầu bằng cấp lúc đó ắt phải có. Điều này có nghĩa là phong trào tiến sĩ và chức vụ đã xảy ra trước đây, và bây giờ chính là giai đoạn gặt hái thành quả. Hiểu theo nghĩa này, tôi nghĩ trong tương lai chúng ta sẽ còn thấy nhiều tiến sĩ trong chính phủ hơn nữa. Nhiệm kì tới biết đâu con số bộ trưởng có bằng tiến sĩ không phải là 50% như bây giờ mà có thể là 2/3.

Tiến sĩ là học vị cao nhất trong hệ thống bằng cấp đại học. Thông thường, con số người có bằng tiến sĩ thấp hơn con số thạc sĩ, và số người với bằng thạc sĩ ít hơn số người với bằng cử nhân. Đó là xu hướng mà chúng ta thấy ở Mĩ và Úc. Ở Úc, chỉ có 1 bộ trưởng duy nhất có bằng tiến sĩ. Nhưng trong chính phủ Việt Nam thì ngược lại: số người có bằng tiến sĩ nhiều hơn số người có bằng cử nhân và thạc sĩ. Đó là một sự phân bố bất bình thường. Sự bất bình thường đó đặt ra câu hỏi có phải bằng tiến sĩ ở Việt Nam quá dễ “lấy”. Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng những lem nhem và bất cập về cách đào tạo tiến sĩ ở trong nước mà báo chí phản ảnh trong thời gian qua làm cho xã hội đánh một dấu hỏi lớn.

Thật ra, nhìn một cách tích cực hơn, chính phủ có nhiều tiến sĩ là một tín hiệu tốt. Con số 50% bộ trưởng có bằng tiến sĩ cho thấy nước ta đúng là nước có trình độ học vấn cao, có lẽ cao nhất thế giới. Phần lớn các tiến sĩ bộ trưởng học về kinh tế, và điều này nói lên rằng chúng ta có thể tin tưởng rằng kinh tế VN sẽ phát triển vượt bực nay mai. Trong khi chưa có bằng chứng cho phát biểu đó, chúng ta hãy cứ tin và hi vọng vậy.

Ở các nước tiên tiến, phần lớn tiến sĩ làm việc trong các đại học và trung tâm nghiên cứu, với một thiểu số nhỏ làm việc trong ngành quản lí. Ở Việt Nam thì ngược lại: phần lớn tiến sĩ làm trong ngành quản lí hành chính, rất ít người giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Thật vậy, chỉ có khoảng ~20% giảng viên trong các đại học lớn ở VN có văn bằng tiến sĩ. Trong khi đó, 50% bộ trưởng VN có bằng tiến sĩ. Một câu hỏi khác cũng cần đặt ra là chính phủ có cần nhiều tiến sĩ như thế hay không trong khi các trường đại học rất thiếu giảng viên ở trình độ tiến sĩ?


tuan's blog

Sài gòn 1975

Tác Giả: Tom Polgar / Nguyễn Phú Xuân dịch

Thật là một thảm kịch khi Hoa Kỳ phản bội miền Nam Việt Nam và hàng chuỗi hứa hẹn đã không được thực hiện mà đỉnh cao là cuộc ra đi hỗn độn của người Mỹ tại Sài gòn và việc bỏ rơi hàng ngàn người Việt đã tin tưởng vào chúng ta.


"Thế nào là gía trị của một lời hứa? "Dan King đã hỏi như vậy trong Nội san của những người hưu trí CIA số Mùa Hè 1999. Ông muốn nói đến việc đã không di tản được hết mọi nhân viên người Việt làm cho Ban Tiếp vận tai Sài gòn, do ông King làm giám đốc.
Câu trả lời thật đơn giản. Những lời hứa không được thực hiện chẳng có gía trị gì cả. Thật là một thảm kịch khi Hoa Kỳ phản bội miền Nam Việt Nam và hàng chuỗi hứa hẹn đã không được thực hiện mà đỉnh cao là cuộc ra đi hỗn độn của người Mỹ tại Sài gòn và việc bỏ rơi hàng ngàn người Việt đã tin tưởng vào chúng ta. Tôi hiểu và chia sẻ phát biểu của Dan King rằng trong một sự nghiệp dài và nổi bật "việc triệt thoái khỏi VN ám ảnh tôi nhiều hơn bất cứ sự kiện nào khác". Thật đúng như vậy. Đó cũng là kinh nghiệm cá nhân tồi tệ nhất của tôi, gần như xấu hơn cả cái chết của song thân tôi và của người em trai. Cố nhiên tôi đau buồn vì sự từ trần của họ, nhưng chúng ta ai mà không một lần chết. Họ chết vì những lý do tự nhiên. Miền Nam VN chết vì chính trị tại quốc nội HK đã đưa đến một loạt quyết định chính sách, trước hết đặt miền Nam VN vào một vị thế chông chênh và rồi lấy hết của họ những phương tiện để chống lại sự xâm lăng công khai của Bắc Việt. Có những việc HK quên thực hiện: chẳng hạn đã không thực thi lời đe dọa của chính quyền Nixon sẽ đáp trả "lập tức và mạnh mẽ" việc Hà Nội vi phạm Hiệp định Ba Lê. Có những việc HK cố tình thực hiện, đó là Quốc hội tuyên bố đơn phương ngừng oanh tạc, việc cấm bất kỳ hoạt động quân sự nào tại Đông Dương và cắt giảm viện trợ xuống xa dưới mức mà TT Nixon đã hứa với TT Nguyễn văn Thiệu tại hội nghị San Clemente tháng 4.1973 mà tôi có được tham dự. Thật là thích ứng khi ông Kissinger trong tác phẩm "Những năm biến động", đã mở đầu chương nói về Đông Dương với tựa đề "Những lời hứa bị quên lãng". HK chưa bao giờ thực thi nghiã vụ của mình theo Hiệp định Ba Lê là thay thế phi cơ, pháo binh và thiết giáp cho Nam VN trên căn bản "một đổi một" khi bị hư hao vì chiến sự. Ngược lại, Hà nội tiếp tục tăng cường lực lượng CS tại miền Nam VN, khiến cán cân quyền lực dần dần và liên tục thay đổi. Tình báo của chúng ta đã báo cáo sự việc và Kissinger đã cố gằng phản ứng lại tình huống này nhưng quyền hạn cũa Mỹ đã hoàn toàn bị tê liệt bởi cuôc chiến giữa Quốc hội và TT Nixon. Chính trị quốc nội Mỹ đã đảm bảo cho Hà nội rằng CS không phải sợ bị HK trả đũa. Cuộc chiến Ả rập-Do Thái năm 1973, việc phong toả dầu hỏa của khối Ả rập, việc thiếu hụt xăng dầu tại Mỹ, việc chuyển giao cho Do Thái và NATO những tiếp liệu quân sự khởi thủy dành cho VN cũng đã ảnh hưởng xấu đến sự chú tâm và tài nguyên của Mỹ; giá dầu cao hơn đã có hệ qủa tàn phá nền kinh tế VNCH. Việc TT Nixon từ chức tháng 8 năm 1974 đã bật đèn xanh cho Bắc việt, theo chính sự nhìn nhận của họ, tiếp tục xâm chiếm miền Nam. Trong cùng lúc, một cuôc chiến khác diễn ra giữa Quốc Hội và Đại sứ Grahgam Martin tại Sài Gòn. Trong một lá thư năm 1973, TT Nixon đã chỉ thị Đại sứ tiếp tục duy trì thái độ chống cộng tích cực của HK tại Đông dương. Nhưng công luận Mỹ và QH đã không còn ý chí hy sinh để hỗ trợ lập trường đó, và chính quyền Mỹ đã không điều chỉnh được chính sách tai VN thích ứng với thực tiễn tình hình đang khai triển trong năm 1974 và những tháng đầu năm 1975.

Những cảnh báo về thảm họa sắp đến được toà Đại sứ Mỹ, Tùy viên quốc phòng và Nhiệm sở CIA đã bị giới quyết định chính sách tại Hoa Thinh Đốn không đếm xỉa tới. Chính sách của HK lờ lững trôi cho đến khi Bắc Việt đạt được một sự khai thông lớn tại Cao nguyên. Giới tình báo chúng ta tại Sài gòn nhận ra rằng miền Nam VN đang đối mặt với cuộc khủng hoảng quân sự và tâm lý lớn nhất. Chúng ta báo cáo về HTĐ rằng việc CS kiểm soát Cao nguyên là điều không tránh khỏi và rằng TT Nguyễn văn Thiệu và chính phủ của ông không thể nào chịu nổi một sự mất mát như thế. Chúng ta kết luận rằng Nam VN đang gặp khó khăn trầm trọng vì sự tương tác giữa quyết tâm của Bắc Việt đạt cho được một giải pháp quân sự và quyết tâm của Quốc hội đơn phương chấm dứt hoặc giới hạn quân viện Mỹ cho miền Nam bất chấp CS có làm gì đi nữa. Kết cục thật dễ tiên đoán: Không có quân viện của HK, Nam VN không thể tồn tại. Khả năng tiến hành chiến tranh của Bắc Việt hoàn toàn không trở ngại và được Nga Sô và Trung Công hỗ trợ.

Chính trong bối cảnh này mà kế hoạch di tản của tòa Đại sứ khởi động mạnh, chuẩn bị cho việc tiến hành những kế hoạch đã được dự thảo ngay từ đầu năm 1975, có sự phối hợp của HTĐ và Tư lịnh Hạm đội Thái bình Dương, để di tản những nhân viên Mỹ không thuộc thành phần tác chiến cũng như một số thành phần được chỉ định của Nam VN. Lập tức có vấn đề nẩy sinh: Người Việt chỉ có thể ra đi với thông hành và chiếu khán hợp lệ do quốc gia tiếp nhận cấp. Không một quốc gia Đông Nam Á nào muốn tiếp nhận người Việt tỵ nạn. Và chúng ta thì lại không có thẩm quyền để miễn trừ cho người Việt khỏi bị chi phối bởi luật lệ Mỹ theo quy định của Sở Di trú-và việc miễn trừ cho tạm dung của Bộ trưởng Tư pháp áp dụng cho người Việt nhập cảnh HK chỉ được đưa ra ngày 25/4/1975 tức 4 ngày trước khi Sài gòn thất thủ. Ngày 26/3/1975 Tham vụ Wolfgang Lehmann yêu cầu được phép ngay lập tức di tản nhân viên, gia đình cùng đồ gia dụng. Yêu cầu này, được lập lại nhiều lần, đã không bao giờ được ghi nhận. Dan King là một viên chức Tiếp vận xuất sắc của Nhiệm sở CIA Việt nam. Tôi chưa bao giờ nghi ngờ về khả năng của ông vậy mà trong bài viết, ông cũng đã thuật lại vài chuyện không đúng. Thật sự không hề có một sự lựa chọn nào khác ngoài việc "nghe lời ông Đại sứ ":Nhiệm vụ của chúng ta là yểm trợ ông Đại sứ trong cương vị viên chức cao cấp nhất của HK - và chúng ta không có sứ mạng hay phương tiện gì để làm khác. Về tài sản cá nhân, Đại sứ Martin đã ban huấn thị cụ thể rằng nhân sự cao cấp phải duy trì sinh hoạt gia đình bình thường, nhằm trấn an người Việt rằng chúng ta không sắp sửa ra đi. Chính ông Đại sừ và nhiệm sở CIA đã mất hết tài sản tại Sài Gòn, và bản thân tôi cũng mất khá nhiều. Tôi không nhớ một cuộc thảo luận chi tiết về việc sử dụng "những xe buýt còn lại" để di tản nhân viên của chúng ta, nhưng tôi nhớ rằng Nhiệm sở không có xe buýt: Tòa ĐẠi sứ và tùy viên Quốc phòng kiểm soát những xe đó, và khoảng sau 3:30 chiều ngày đó không còn có thể sử dụng xe buýt nào nữa vì đám đông vây quanh tòa Đại sứ. Thật ra chưa hề có một thỏa thỏa thuận nào giữa HTD và SG, hoặc ngay cả giữa tổng hành dinh CIA và nhiệm sở SG về con số và thanh phần người Việt nào đủ điều kiện di tản. Trưởng nhiệm sở SG được chỉ thị thảo kế hoạch để di tản "những nhân sự then chốt bản xứ", lúc đó ước tính khoảng 150 người. Tòa ĐẠi sứ chưa hề được hướng dẫn rõ ràng về số lượng được di tản.

Tuy thế,đã có một kế hoạch khẩn được đồng ý, mang bí danh TALON VISE/FREQUENT WIND. Kế họach này chỉ định Đại sứ Mỹ là viên chức chịu trách nhiệm thi hành 1 trong 4 phương án. Một, dùng máy bay thương mại, không có sự tham dự của Tùy viên QP. Hai, Không vận quân sự từ Tân Sơn Nhất và các phi trường khác theo nhu cầu. Ba, di tản đường biển từ 2 hải cảng của Sài Gòn. Bốn, di tản bằng trực thăng ra tàu Hải quân Mỹ ngoài khơi. Tất cả các phương án này cũng như những diễn biến bao quanh đã được kể lại chi tiết trong tuyển tập luận án Không lực HK tại ĐNA, tập IV, luận án 6, "Chuyến bay cuối cùng khỏi Sài gòn".

Phương án #1 (hàng không thương mại) đã được tiến hành theo khả năng hàng không cho phép. Tiến trình này kết thúc khi Cơ quan Hàng không Liên bang tuyên bố các phi cảng Sài Gòn không an toàn, mà không có sự tham khảo gì với tòa Đại sứ. Điều này có nghĩa là những hợp đồng bảo hiểm không còn có gía trị với đường bay SG, và hành động này đến lượt nó đã chấm dứt ngay các chuyến bay thương mại Mỹ.

Phương án #2 cũng đã được thực hiện. Máy bay quân sự Mỹ đưa người Mỹ và người Việt từ SG sang căn cứ Hải quân Mỹ tại Vịnh Subic, và trong những giai đoạn sau, đến Guam. Những điều kiện tiến hành phương án này đã được Đại sứ Martin ấn định. Ông đã loại bỏ việc di tản bằng máy bay quân sự các sĩ quan và viên chức chính phủ VNCH. Nhiệm sở CIA mỗi ngày được thông báo những chỉ tiêu nhất định tùy vào sự khiển dụng của phi cơ. Thủ tục xuất cảnh của người Việt được giản lược bằng cách thiết lập địa điểm xử lý tại phi trường với sự hợp tác của nhà cầm quyền VN. Nói chung sự hợp tác giữa các bộ phận Mỹ là tốt đẹp, ngoại trừ việc Phó tùy viên Quốc phòng đã tìm cách vượt qua hệ thống chỉ tiêu xuất cảnh cho mỗi ngày. Ông đã bị giải nhiệm và đưa ra khỏi VN. Nhiệm sở SG đã tham gia với cương vị là một thành viên của tòa Đại sứ: chúng ta không có máy bay có thể bay sang Vịnh Subic, và những nước láng giềng như Hương Cảng, Thái lan, Mã lai Á và Tân gia ba không muốn tiếp nhận người tỵ nạn. Khi một chiếc phi cơ của Air America chở ngưòi Việt tới Hương cảng, nhà đương cục HK đã bắt giữ chiếc phi cơ và tống giam phi hành đoàn củng toàn thể hành khách.

Phương án #3, việc di tản bằng đường thủy từ cảng SG đã không được thực hiện. Ông Đại sứ sợ rằng cảnh sát địa phương sẽ không điều hành được việc xuống tàu một cách có trật tự, và ông muốn tránh tình trạng hỗn độn và hoảng loạn như đã diễn ra tại Đà Nẵng. Việc không vận bằng phi cơ quân sự tiếp tục cho đến hết ngày 28/4 với những chiếc C-130 và DC-9 đầy ắp. Để chở được tối đa, mọi hàng ghế của C-130 đã được tháo ra. Hành khách phải nằm trên sàn, dưới tấm lưới hàng hóa. Ngày định mệnh 29/4 bắt đầu với việc BV pháo kích Tân Sơn Nhứt. Theo phán đoán của giới chức quân sự Mỹ, được ông Đại sứ xác nhận sau khi đích thân kiểm tra các phi đạo, phi trường không thể nào còn sử dụng được cho loại phi cơ cánh cố định, và do vậy, chúng ta chuyển sang phương án 4, máy bay trực thăng. Việc sử dụng trực thăng Air America là một phần bất khả phân của kế hoạch di tản. Rủi thay, khoảng 1/3 máy bay trực thăng của Air America đã bị hư hại trong cuộc pháo kích sáng sớm. Việc này đưa đến những hậu qủa cực kỳ nghiêm trọng: nhiều địa điểm tập trung được chỉ định, có cả Duc Hotel và nhiều điểm trên sân thượng chỉ có thể rước người bằng trực thăng Air America, trực thăng quân sự không thể đáp xuống các nơi này được vì địa điểm qúa nhỏ mà phi cơ thì nặng nề. Phải dùng xe buýt để đón hầu hết những người Mỹ và Việt được di tản và chở tới TSN: nhiều người khác phải đi bộ đến tòa Đại sứ. Trong khi đó, các viên chức cao cấp của Sứ quán, kể cả Trưởng Nhiệm sở hoạch định một sự hiện diện giảm thiểu tại SG. Đây là mối ưu tư của họ cho đến khoảng trưa, khi có lịnh cho chúng ta ra đi. Trong hòan cảnh đó, khoảng 10:38 sáng, Đại sứ Martin yêu cầu Hoa thịnh Đốn và Tư lịnh hạm đội TBD tiến hành trực thăng vận tức Phương án 4. Lúc 10:51, tư lịnh Hạm đội TBD ban lịnh "thi hành" cho mọi đơn vị, nhưng lịnh này không phải được tiến hành ngay lập tức. Theo Thiếu tướng Richard Carey, binh chủng TQLC, thì các đơn vị tham gia đã không thống nhất thời điềm tiến hành di tản. Điều này, tự nó cũng là một câu chuyện dài.

Bởi đó, chiếc trực thăng đầu tiên đến TSN lúc 2:06 cùng với tướng Carey. Theo kế hoạch, tiếp ngay đó là những chiếc CH-53 chở lực lượng an ninh bộ để bảo vệ khu vực Tùy viên QP. Những trực thăng chở quân này một tiếng sau mới tới, đổ nhóm TQLC đầu tiên, bốc đám người tỵ nạn và bay trở lại tàu. Đến 8 giờ tối, những ai chen chân được vào khu vực tuỳ viên QP đều được di tản, và đến qúa nửa đêm, nhóm lực lượng an ninh bộ TQLC cuối cùng được bốc đi, sau khi đã phá hủy trụ sở tuỳ viên QP. Vào khi đó, chỉ còn một giai đoạn then chốt của chiến dịch FREQUENT WIND là còn đang diễn ra: Việc bốc người trong khu vực sứ quán. Để tiết kiệm nhiên liệu, các phi công của Air America đã thả một số lớn người di tản xuống tòa Đại sứ để cho trực thăng và xe buýt sẽ chuyển tiếp đến TSN. Việc chuyển vận bằng xe buýt phải kết thúc khoàng 3:30 chiều do các khúc đường quanh sứ quán quá hỗn độn và đông nghẹt người. Kế hoạch dự trù chỉ không vận số khoảng 100-150 người chót tại tòa Đại sứ, nhưng kế hoạch này đã bị các diễn tiến làm thay đổi. Bãi đậu xe trong sứ quán được biến thành bãi đáp cho trực thăng và khu sân thượng cũng được sử dụng. Vào 9:00 tối, mặc dù có những chuyến bay liên tục từ sứ quán, vẫn chưa thấy là công tác sẽ kết thúc. Sự hỗn loạn và căng thẳng trong và quanh sứ quán vẫn gia tăng. Với việc phá huỷ trụ sở tuỳ viên QP, liên lạc giữa sứ quán và trực thăng lại có vấn đề, việc tạm ngưng không vận để trực thăng lấy nhiên liệu ngoài khơi đã gần như gây hỏang loạn trong sứ quán. Vẫn còn hàng trăm người trong sứ quán và nhiều hơn nữa tại khu nhà giải trí kế cận. Vào lúc 3 giờ sáng ngày 30/4, bãi đậu xe của sứ quán đã bốc hết ngưới và được phong tỏa. Vẫn còn khoảng 1.200 người, vừa dân di tản, nhân viên sứ quán và lính TQLC trong toà Đại sứ và tòa nhà tiếp vận. Bất chấp lịnh cúa HTĐ, Đại sứ Martin vẫn còn ở lại cùng ban tham mưu cao cấp, Trưởng và Phó nhiệm sở CIA; ông tính toán rằng, mà đúng như thế, chừng nào Đại sứ và ban tham mưu còn thì cuộc không vận vẫn tiếp tục. Đúng là có tiếp tục, nhưng số phi cơ ngày càng giảm, với hàng loạt điện văn từ HTĐ cho biết chỉ còn 13, rồi 10 rồi 6 chuyến nữa. Trong thời gian này, liên lạc bị gián đoạn giữa tòa Đại sứ và Hạm đội TBD. Khoảng 4 giờ sáng, bộ chỉ huy không vận gưỉ một điện văn quyết định đến chiếc máy bay còn trong khu vực. Điện văn này là của Tổng thống HK và phải được chuyển giao bởi chiếc trực thăng nào đầu tiên tiếp xúc với Đại sừ Martin. Chỉ còn 21 chuyến bay. Chỉ di tản người Mỹ. Đại sứ Martin phải lên chiếc trực thăng khiển dụng đầu tiên và trực thăng này sẽ đánh đi "TIGER TIGER TIGER" một khi cất cánh bay ra biển. Hàng trăm người chờ di tản, kể cả nhân viên người Việt của sứ quán, cùng nhân viên toà Đại sừ Đại Hàn, bị kẹt lại trong khuôn viên sứ quán. Trách nhiệm không ở nơi Đại sứ Martin mà ở nơi TT Ford, bộ trưởng ngoại giao Kissinger và bộ trưởng QP James Schlesinger. Ngày 29/4, rạng sáng ngày 30/4 Hải quân và Không quân đã thực hiên 1.422 phi vụ trên bầu trời Sài gòn. Hơn 7000 người được di tản vào ngày chót. Đây là một thành tích ngoại hạng. Tôi tin rằng những người trong chúng ta tại VN đã làm được tối đa những gì có thể làm được trong những điều kiện tuyệt vọng. Chúng ta đã cứu được nhiều người Việt, nhưng đã không cứu được hết những ngưòi đáng được cứu vớt. Tôi dành cho những người trong QH và trong Chính quyền Mỹ giải thích quyết định của họ. Bản chất cuộc thất bại của chúng ta chẳng có gì đẹp đẽ. Thua trận cũng không bao giờ đẹp cả.


bài viết của Tom Polgar

Bài Xem Nhiều