We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 28 April 2011

KẺ THÙ NÀO?



KẺ THÙ NÀO?


Khẩu hiệu của VC:

“Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!”

Vậy sao mỗi kẻ thù Tàu chẳng… ‘thắng”*?

Kẻ thù nào dọa “đánh… thắng, vượt qua”?
Khó khăn nào Việt Cộng mới chịu…thua?
Kẻ thù “lạ” giết đồng bào trên biển?

Giặc lộ diện, đảng đoàn câm miệng hến

“Hồng hơn chuyên”? Toàn trơ trẻn, khùng điên!
Thói yếu hèn như khuyển mã thành quen
Giỏi hà hiếp triền miên dân vô tội.

Cứ “đổi mới” mà chẳng sao đi tới

Thụt lùi hoài, “thắng lợi” hóa ra tro.
Uổng công đào bao “mật khu hố bò”
Bò chê “mật” đỏ lòm lom cộng sản.

Bán Dân, Nước; thỏa ngu đần bội phản

Gây oán than, chuốc náo loạn: cuồng ngông
Hóa “đại đồng” trống rỗng cả non sông
Duy có đảng hóa… “rồng” tư bản đỏ!

Ý Nga, 23-4-2011.


*Tất cả chữ in nghiêng đều là ngụy ngôn trong các khẩu hiệu của VC



VINH DANH CỘNG ĐỒNG

NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CS

*“Lịch sử thì dài mà đời mình lại ngắn”

Nguyễn Hữu Nhật.

“Dài lịch sử mà đời mình lại ngắn”

Bao nhiêu người đã ngao ngán buông xuôi?
Ai vui chơi, ai tiệc rượu liên hồi?
Núi Sông gọi, mấy ai vùi mê lộ!

Còn giặc “đỏ” hỏi đời ai trường thọ?

Bao trẻ thơ đã bươi rác cầm hơi?
Bao tuổi xuân từng xuôi ngược xứ người
Sống tức tưởi, chết trong niềm uất hận?

“Dài lịch sử mà đời mình lại ngắn”

Thật nhọc nhằn bầu tâm huyết dân mang
Dựng “thiên đàng”*, sao địa ngục ngổn ngang?
Ôn trang sử, vẫn rõ ràng chính nghĩa!

Chống dối trá nên Cộng Đồng chọn lựa

Từ xót xa viết trang sử: hùng ca
Không lơ là, giữ chính nghĩa quốc gia
Tâm giữ Lửa. Cộng Đồng luôn cứng rắn!

“Dài lịch sử mà đời mình lại ngắn”

Từ khổ đau mà già dặn hẳn lên
Những thuyền nhân, tỵ nạn rạng tuổi tên
Đích phải đến: cùng viết thơm trang sử!

Ý Nga, 24-4-2011.



NHỚ MẸ, THƯƠNG EM.


*1975-2011

Kính dâng tất cả những người Mẹ VN đã mỏi mòn chờ đợi các con:
-Đang tha hương nơi trú quốc từ sau quốc nạn 30-4-1975.
-Đã mất trên biển Đông
-Đang lưu lạc làm dâu, nô lệ ở xứ người hay chính trên Quê Mình

Đêm nhớ Mẹ, nghe tủi buồn thân phận

Hận giùm dân cảnh ly tán xa nguồn
Nào riêng ta xa Mẹ, mất cha con
Còn cả nước, bao nỗi buồn tang chế!

Ba mươi sáu!* Ta đếm thầm như thế

Tháng Tư về, lại giỗ bạn chí thân
Ít trái cây, chọn ba lượt, bảy lần
Bằng nước mắt tần ngần hoài trong chợ.

Ba mươi sáu! Con số buồn ngờ ngợ

Xác vật vờ, hồn bạn còn lửng lơ?
Đã vào bờ hay tạm bợ vật vờ?
Chờ dân hái Hoa Tự Do đã mất!

Mẹ của bạn chắc khóc mòn đôi mắt?

Mẹ ta kìa! Cũng mòn mỏi trông con
Mẹ Việt Nam cạn lệ cùng nước non
Bao đau đớn pha tủi hờn uất ức!

Những người Mẹ tấm lòng luôn thao thức

Chống chỏi đời bằng nghị lực đại dương
Lòng thương con bế tắc, Mẹ mở đường
Con bại tướng, cùng đường… đều tìm Mẹ.

Đêm nhớ Mẹ, thương những em còn trẻ

Gái chân quê bị khinh rẻ, lao nô
Bị dày vò, ruồng bỏ, kiếp bơ vơ
Dâu trăm họ, không họ nào đồng chủng .

Ai tròn mộng, đang ung dung sung sướng:

Chị em ơi! Sao vui hưởng đời riêng?
Không cùng nhau góp Lửa lật bạo quyền ,
Sao lặng tiếng, thản nhiên bày yến tiệc?

Ý Nga, 22-4-2011.

Xin Nhớ Đến...

Hình hài gửi lại quê hương,
Hồn thiêng sớm tối về nương bóng cờ.




Xin Nhớ Đến...

Sương nhếch nhác trên bờ vai thấm mỏi,
Ánh điện mờ còm cõi hắt lên nhau,
Người trầm ngâm bên ghế đá chai màu,
Đại lộ vắng, chuỗi kinh sầu nín bặt.

Nến tưởng niệm, ngọn cuối cùng đã tắt,
Trời Bolsa lạnh ngắt gió đồng hoang,
Cột đèn khuya, thấp thoáng bóng cờ vàng,
Tiếng ai đó trong đêm vang buồn bã.
x
x x
Hỡi những cánh chim nương nhờ xứ lạ,
Đã xa rồi ngày hối hả lìa quê.
Bao tháng Tư cũng nối tiếp đi về,
Ai giữ được lời thề không phai nhạt?

Bạn may mắn đến được bờ bến khác,
Trên biển đời trôi giạt, nhớ đừng quên,
Quên những người dù không tuổi không tên,
Nhưng máu đã thấm mềm trang sử Việt.

Xin nhớ đến chúng tôi, người bị giết,
Trong kinh hoàng của ngày Tết Mậu Thân,
Chưa kịp đón mừng Xuân,
Xác chồng chất kín mộ phần tập thể.

Xin nhớ mãi rừng khăn tang xứ Huế,
Vì kẻ thù đang trăm kế ngàn phương,
Muốn chối bay chối biến những tang thương
Chúng đã trút lên quê hương ngày đó.

Xin nhớ đến chúng tôi, đàn trẻ nhỏ,
Tay mẹ hiền đang vỗ giấc bình yên,
Đạn pháo kích chợt rền,
Tuổi thơ vội lênh đênh đường thiên cổ.

Xin nhớ đến những cha, anh... khốn khổ,
Giặc đêm về đem đấu tố phân thây.
Người dân lành, không tấc sắt trong tay,
Phút gục chết, đành đắng cay nuốt hận.

Xin nhớ đến chúng tôi, người lính trận,
Áo rừng xanh sớm đậm máu chiến trường,
Học quen dần cảnh nát thịt tan xương,
Để cho bạn được đến trường yên ổn.

Đêm chiến địa, gót giày đinh thức muộn,
Khói đạn thù cuồn cuộn xoáy trầy non.
Bạn vui chơi Đà lạt, Huế, Sài gòn,
Tôi xương cốt vỡ giòn trong mưa pháo.

Xin nhớ đến chúng tôi, tù "cải tạo",
Cùng bạn chia từng muỗng cháo thìa rau.
Bạn gặp may, nay êm ấm sang giàu,
Chúng tôi khổ theo chuyến tàu định mệnh.

Đứa nhắm mắt nơi nhà giam tối lạnh,
Đứa một mình nằm chết cạnh dòng khô,
Đứa xuôi tay dưới họng súng hung đồ,
Mấy khi được một nấm mồ yên tạm?

Xin nhớ đến người xưa kia cùng bạn,
Trong đêm dài bi thảm trốn vượt biên.
Bạn Trời thương, chân đặt đến đất liền,
Chúng tôi vẫn bập bềnh trong bể nạn.

Kẻ phơi xác khi mới vừa lên cạn,
Kẻ đắm thuyền bỏ mạng giữa trùng khơi,
Kẻ vào tay hải tặc nát tan đời,
Đường biển cả, mấy ai người may mắn?

Này bạn hỡi, quê hương còn vạn dặm,
Lối về thôn vẫn thăm thẳm mịt mờ.
Xin đừng quên những người chết năm xưa,
Đang trú ẩn dưới bóng cờ yêu dấu.
x
x x
Nỗi đau đớn đêm dài thêm nung nấu,
Người ngước nhìn màn sương máu dần loang.
Lá cờ vàng vẫn lặng lẽ hiên ngang,
Che chở những mảnh hồn hoang bạc phước.

Nếu bất hạnh ngày mai trên đất nước,
Màu cờ này chẳng sớm được tung bay,
Thì quê hương mãi mãi sẽ đọa đày,
Sẽ vĩnh viễn mất vào tay dị tộc.

Trần Văn Lương
Cali, ngày Quốc Hận 30-4-2011

Tự do ngôn luận thời XHCN

Lâu lắm rồi mới đến chơi nhà ông đồ gàn. Thật ra đó là một ông giáo già về hưu, ngày trước mình hay qua nhà ông trao đổi sách với nhau. Đến nơi ông hỏi dồn dập:

– Mày biết vụ thằng Vũ con ông Huy Cận chứ, xử 7 năm cơ đấy. Chỉ cái tội nói lên sự thật.

Mình giả vờ hỏi để ông già bật máy nói cho xôm:

- Nói thật mà bị tù đến 7 năm à, chắc là tiết lộ bí mật quốc gia, quốc phòng, an ninh thì mới bị xử tù vì tội nói thật. Chứ ngoài cái đó ra, nói thật phải được khen chứ. Sao lại bỏ tù, thời nào mà lạ vậy.

Ông giáo già chặn ngay:

– Thời XHCN chứ còn thời nào nữa, mày nghĩ mày đang sống thời Tần Thủy Hoàng à. Thời này nói gì không vừa ý người ta , là họ bắt, họ xử. Quyền trong tay họ, họ muốn thế nào chả được.

Mình cãi:

– Thế thì loạn à, phải có pháp luật , mọi cái phải chiểu theo pháp luật chứ. Sao tùy tiện được.

Ông già nói:

– Này nhé, chưa nói đến đoạn họ dựng chứng cứ giả, nhân chứng giả. Chỉ cần giờ tao ví dụ thế này. Mày nói một câu như sau

- Đảng Cộng Sản Việt Nam không tốt, thì họ đã không đứng vững đến ngày nay.

Đấy ví dụ mày nói câu như thế. Mày thấy không có tội đúng không ?

Mình gật đầu nói:

– Như thế là khen Đảng, chứ có tội gì?

Ông giáo già nói:

– Con ơi, ông mày đây già đời sống 50 năm trong lòng cộng sản, người ta thích cho mày chết là mày chết, họ đứng vững vì họ có caí quyền đó chứ không phải vì họ không tốt thì đã không đứng vững đâu. Mày cứ nghĩ là đứng vững được là do tốt à. Ngây thế lắm con trai ạ. Giờ tao sẽ chỉ cho mày thấy, riêng câu nói đó nếu họ thích họ cho mày đi tù.

Mình nghe thế điên quá gào:

– Nói thế tù sao được, vi phạm cái gì mà tù.

Ông giáo già xua tay:

- Bình tĩnh nào con trai, thế này nhé. Họ bắt mày vì tội tuyên truyền nói xấu chế độ, nhằm kích động lật đổ chính quyền nhân dân.

Mình tá hỏa tam tinh, ngơ ngác hỏi:

– Sao câu đó thôi mà thành tội to thế, ông đùa cháu thì cũng vừa với thực tế thôi chứ.

Ông giáo:

– Thực tế nhất đấy con ạ, đây này nếu họ thích thì họ hỏi mày thế này

Mày có viết đoạn Đảng Cộng Sản không tốt ..không ? Thì mày nói sao, đúng là mày có viết đoạn ấy.

Mình dãy nảy:

– Nhưng mà nguyên văn câu đó còn thêm đoạn là - thì họ không đứng vững đến ngày nay- mà.

Ông giáo nói:

– Tòa nó chả cho mày văn thêm, nó nói bị cáo chỉ trả lời có hay không. Nào thì tòa hỏi bị cáo có viết đoạn Đảng Cộng Sản không tốt…có viết hay không.

Mình nói:

– Tất nhiên là có viết, nhưng còn thêm đoạn sau..

– Uỳnh

Ông già nổi giận đập bàn như chủ tọa Nguyễn Hữu Chính, chánh tòa hình sự Hà Nội:

– Bị cáo Lái Gió trả lời rõ, có hay không. Tất nhiên có viết là bị cáo đã khẳng định mình có viết câu đó. Tòa chuyển sang phần khác.

Mình định cãi, ông già nói:

– Tỉnh táo nhé, tòa nó chỉ hỏi thế, mày có thì tòa nó chuyển sang phần khác. Ở tòa thì thằng chủ tọa nó có quyền. Mày cự sao được. Đến ông tổng giám mục Ngô Quang Kiệt hàng triệu dân Công Giáo yêu mến mà còn bị cắt cúp kiểu đó , chứ mày là cái gì. Giờ mày nghe luận tội nhé.

Ông già nghiêm giọng:

– Bị cáo Lái Gió nghe tòa tuyên án, qua phần xét hỏi bị cáo dù quanh co nhưng đã phải nhận rằng có làm ra tài liệu nói xấu Đảng lãnh đạo. Hành vi của bị cáo đã khiến quần chúng nhân dân phẫn nộ, gây tác động xấu cho xã hội. Mục đích của bị cáo là bôi xấu chế độ khiến nhân dân hiểu lầm, qua đó dẫn đến những thế lực thù địch lợi dụng cơ hội, khoét sâu mâu thuẫn nhằm làm mất ổn định chính trị. Tiếp sức cho cách mạng mầu để thay đổi chính thể, phá hoại thành quả cách mạng của nhân dân ta đã đổ bao xương máu dành được, ý đồ cuối cùng của bị cáo là tuyên truyền kích động để lật đổ chính quyền nhân dân. Xét thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, tòa căn cứ…xét thấy cần phải có mức án thích đáng…để răn đe …

Ông già xuống giọng thầm thì:

– Thế là 7 năm chứ 17 năm cũng có lý phải không con. Bọn báo chí nó đưa tin theo chỉ định từ phiên tòa, dăm ba đứa cò mồi nó viết blog ngoài lề dạng kiểu Lái Gió đã nhận tội rằng y có viết đoạn như thế như thế…rồi nó lại ra vẻ thương cảm là sao dại thế, không viết thế này lại viết câu đó. Dân tình đọc xong lúc đó họ đã nghĩ mày có tội thật. Vì từ lúc bắt đến lúc xử xong, người ta làm mọi thứ để thiên hạ hình dung mày có tội thật. Thế là thiên hạ nghĩ là thằng Lái Gió nó mà không viết thế, thì sao nó bị bắt, sao mà bị xử tù. Bao nhiêu người viết đầy ra đấy có sao đâu.

Nghe ông già nói đến đây, mình thấy đuối lý. Công nhận ông già sống lâu kinh nghiệm, nhìn lại thì mọi việc diễn ra như thế là chuyện quá bình thường. Mình nghe xong mà hậm hực, cay cú nhưng chả biết nói sao.

Ông già cười vỗ vai mình nói:

– Tao biết mày sẽ uất ức, vì như thế là mày bị oan. Mày ức vì bị oan là chính đúng không ?

Mình gật đầu nói:

– Vâng ạ.

Ông già nói:

– Thế tốt nhất là đừng đưa mình vào thế bị oan, đúng không.?

Mình gật đầu:

- Vâng thế không viết, không nói gì ông nhỉ ?

Ông già:

– Mày mãi vẫn chưa khôn, đã ví dụ như thế có nghĩa là họ muốn bắt tù mày thì kiểu gì họ cũng làm được, nói hay không thì có nghĩa lý gì.

Mình hỏi:

- Thế thì thế nào ạ ?

Ông giáo đứng dậy, nhìn lên ảnh Bác Hồ treo trên tường nói:

– Thì cứ nói mẹ nó thật, như thế đi tù cũng đỡ ức con ạ.

Người Buôn Gió


http://nguoibuongio1972.multiply.com/journal/item/296

TIÊN TRI CỦA CAO ĐÀI


Thượng Đế đã ban ra huyền khải TỰ DO DÂN CHỦ CHO TOÀN NHÂN LOẠI NÓI CHUNG VÀ CHO VIỆT NAM NÓI RIÊNG LÀ MỘT LỘ ĐỒ THIÊN ĐỊNH. Thượng Đế đã chuẩn bị cho người tín đồ Cao Đài tất cả những thứ cần thiết --đức tin, trí tuệ, dũng khí và lòng nhân--. Thượng Đế đã giao sứ mạng cho tín đồ Cao Đài là phải giúp cho toàn dân thực hiện DÂN CHỦ MỤC và TỰ DO QUYỀN từ khi khai đạo. Và TRÁT LỆNH LỊCH SỬ ĐANG ĐƯỢC BAN PHÁT KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI. Còn chờ gì mà chưa dấn thân hỡi người tín đồ Cao Đài?


Trước đây rất nhiều năm tôi đã từng tìm hiểu về đôi liễn “Cao thượng chí tôn đại đạo hòa bình dân chủ mục” nằm bên cột trái và “Đài tiền sùng bái tam kỳ cộng hưởng tự do quyền” nằm bên cột phải của cổng chính tại tất cả thánh thất Cao Đài trực thuộc Tòa Thánh Tây Ninh. Tôi đã được những tín đồ Cao Đài giải thích ý nghĩa của đôi liễn đó là: “Đấng Chí Tôn ở trên cao hơn hết, Đạo lớn hòa bình hướng tới dân chủ. Trước đài tôn thờ Đấng Cao Đài, kỳ ba cùng chung hưởng quyền tự do.” Tôi không nhớ chính xác từng lời họ đã nói nhưng đại ý là như vậy. Họ còn cho biết là đôi liễn này do chính Đức Lý Giáo Tông (một vị đại tiên điều hành việc đạo từ cỏi vô hình) đã ban cho, lúc Cao Đài kiến lập Toà Thánh Tây Ninh, tức là cách nay hơn nửa thế kỷ.


Tôi không thắc mắc gì về nó nữa. Mãi cho đến vài mươi năm sao, cách đây vài hôm, đứng trước cổng tam quan đi vào nội ô Toà Thánh Tây Ninh tôi có dịp đọc lại đôi liễn trên và lại suy nghĩ về ý nghĩa của chúng. Trong lúc đang khép mắt và chìm trong tỉnh lặng, đầu tôi bổng lóe sáng và tôi đột nhiên hiểu rõ, rất rõ, đôi liễn trên thì ra là một huyền khải về chiều hướng tương lai của nhân loại nói chung và đồng thời cũng là một tiên tri về tương lai của đất nước Việt Nam nói riêng. Hơn thế nữa, nó còn xác định sứ mạng mà người tín đồ Cao Đài trong suốt dòng thế cuộc chuyển hoá đó.


Thiên khải, viết lại theo như tôi hiểu, “Cao thượng chí tôn, đại đạo hòa bình, Dân Chủ Mục. Đài tiền sùng bái, tam kỳ cộng hưởng, Tự Do Quyền.” có nghĩa là: MỤC TIÊU DÂN CHỦ là cao hơn hết quan trọng hơn hết, là con đường lớn dẫn tới hòa bình. QUYỀN TỰ DO phải được coi trọng như tín điều, cả Bắc Trung Nam đều chung hưởng. Nếu như hai chữ “Tam Kỳ” được hiểu là kỳ 3 thì “dân chủ mục” và “tự do quyền” là cho khắp thế giới. Và ở đây nó hàm chứa cả hai ý.


Như vậy thì, TỰ DO DÂN CHỦ CHO TOÀN NHÂN LOẠI NÓI CHUNG VÀ CHO VIỆT NAM NÓI RIÊNG LÀ MỘT LỘ ĐỒ THIÊN ĐỊNH. Và có lẽ đây là một tiên tri ở cấp độ vĩ mô, một tiên tri cao nhất trong những tiên tri mà tôi từng nghe nói tới.


Chiều hướng của nhân loại có trên con đường tiến đến tự do dân chủ toàn cầu hay không thì mọi người đã thấy và đang thấy nên câu trả lời đã quá rõ. Còn khi nào Việt Nam đạt được mục tiêu dân chủ và toàn dân được chung hưởng quyền tự do thì còn phải chờ xem người Việt có vượt qua được sự sợ hãi và dám đứng lên đối kháng với ĐCSVN để nắm lấy cơ hội hay không. Và, sự ứng xử của những tín đồ Cao Đài chân chính sẽ đóng góp không nhỏ vào cuộc cách mạng đó, một tiến trình chuyển hóa đến chỗ tốt đẹp hơn mà Thượng Đế đã cho con cái Cao Đài của ngài biết rõ và giao cho sứ mạng từ hơn nửa thế kỷ trước là phải chung tay với toàn dân Việt Nam mà thực hiện.


Có thực sự Đấng Đại Từ Phụ đã chuẩn bị cho con cái của ngài và đã ủy thác sứ mạng từ lâu? Tôi tin đúng là như vậy.


Trên lầu Hiệp Thiên Đài, mặt tiền của Toà Thánh, có đôi liễn “Nhơn bố tứ phương, Đại Đạo dĩ nhơn hưng xã tắc. Nghĩa ban vạn đại, Tam Kỳ trọng nghĩa chấn sơn hà.” Hiệp Thiên Đài là biểu tượng hiệp nhất giữa Trời và Người, sự hiệp nhất đó thông qua đức Nhân và đức Nghĩa, thể hiện của đức Nhân và đức Nghĩa là làm hưng thịnh xã tắc và chấn chỉnh lại sơn hà để ban phát hạnh phúc cho bá tánh tứ phương lâu dài đến vạn đại.


ĐCSVN làm băng hoại đất nước chúng ta tới mức độ đã không còn lý do để mà tiếp tục nhẫn nhục. Thường dân bị chà đạp. Tu sĩ bị chà đạp. Chí sĩ bị chà đạp. Tiền nhân mở nước và giữ nước cũng bị chà đạp. ĐCSVN đã đi đến mức coi toàn dân là kẻ thù và “chỉ biết còn Đảng, còn mình” thì quốc gia xã tắc đã thật sự lâm nguy. Để “hưng sơn hà, chấn xã tắc” người tín đồ Cao Đài không còn con đường nào khác hơn là phải giúp cho toàn dân đứng lên giải thể ĐCSVN.


Tại cổng của Đạo Đức Học Đường (Nghĩa Thục Trung Tiểu Học) do Hội Thánh Thành Lập, có hai câu liễn “Đạo đức lưu truyền hậu tấn hiếu trung phò xã tắc. Học đường giáo hóa thơ sinh nhơn nghĩa lập giang sơn.” Học đường là nơi đào tạo nhân tài. Và nhân tài của Cao Đài là phải “hiếu trung phò xã tắc.” Đã xác định là phải “phò xã tắc” thì đương nhiên hiếu đó phải là hiếu với dân và trung đó phải là trung với nước, không phải là hiếu trung với một “quyền lực đời” hại nước hại dân. Nhân tài của Cao Đài là phải lấy đức Nhân và đức Nghĩa mà giúp ổn định giang sơn. Khi giang san đã nổi sóng dưới sự cai trị của một nhà cầm quyền phi nhân nghĩa, thì nhân tài của Cao Đài không có sự chọn lựa nào khác hơn là phải giúp toàn dân đứng lên giải thể bọn cầm quyền phi nhân phi nghĩa, làm tròn trách nhiệm “hiếu trung phò xã tắc.”


ĐCSVN đã và đang thao túng lũng đoạn đất nước, đã và đang chà đạp lương dân bá tánh, đã và đang trù dập quân nhân nặng tình với tổ quốc, đã và đang đàn áp chí sĩ và trí thức lên tiếng khuyên ngăn, đã và đang đè bẹp thanh niên bày tỏ lòng yêu nước, đã và đang cấu kết với ngoại bang mua bán non sông Việt. Nhân tài Cao Đài không thể hiếu trung với ĐCSVN. Đêm trên đất nước đã quá dài. Chịu đựng của người dân trên đất nước đã quá đủ. Tiếng kêu của bá tánh đã thấu tới Hoàng Thiên. Để “hiếu trung phò xã tắc” nhân tài Cao Đài không có sự chọn lựa nào khác hơn là phải giúp cho toàn dân đứng lên giải thể ĐCSVN.


Tại cổng của Văn Phòng Trung Tông Đạo trong nội ô Toà Thánh Tây Ninh có hai câu liễn “Trung nghĩa đạo khai Việt Thường hòa Nam Bắc. Tông nhơn đức hóa Hồng Lạc hiệp Đông Tây.” Một lần nữa đức Nhân và đức Nghĩa được lập lại ở đây, thông qua đó Bắc-Nam hòa, thông qua đó Đông-Tây hiệp. Đông Tây hiệp mà hiệp cái gì? “Quyền tự do, mục tiêu dân chủ” là khái niệm và ngôn ngữ phát xuất từ phương Tây. Tuy vậy, nhưng vì tự do dân chủ là những giá trị phổ quát (giống như tình thương là giá trị phổ quát) mà con người dầu sống ở nơi nào trên mặt đất này cũng đều cảm nhận và khao khát như nhau cho nên “tự do quyền” và “dân chủ mục” không là của riêng cho phương Tây. Mang tự do dân chủ “ban phát tứ phương” để đáp ứng lòng khao khát chính đáng đó của mọi người là đức Nhân. Tuy “tự do dân chủ” và “tình thương yêu” đều cùng là những giá trị phổ quát nhưng khác nhau ở chỗ con người có được hưởng tự do dân chủ hay không còn tùy thuộc vào thái độ của nhà cầm quyền cho nên đôi khi con người phải đấu tranh mới có được. Dấn thân đấu tranh để mang tự do dân chủ “ban phát tứ phương” đó là đức Nghĩa. “Đông Tây hiệp” chính là như vậy, là Tự Do Dân Chủ của phương Tây hiệp với Nhơn Nghĩa của phương Đông.


Dưới sự cai trị của ĐCSVN, “Đông-Tây hiệp” chỉ là và mãi mãi là giấc mơ lung linh huyền ảo nếu như toàn dân không dám đứng lên giải thể ĐCSVN để biến giấc mơ thành sự thật. Người tín đồ Cao Đài không có sự chọn lựa nào đúng đắn hơn là phải dấn thân và “hoá Hồng Lạc” để giúp cho toàn dân đứng lên nắm lại chủ quyền đất nước thực hiện dân chủ tự do hiệp với nghĩa nhơn.


Tại cổng của Báo Quốc Từ có hai câu liễn “Bảo thủ cơ đồ anh hùng dương khí phách. Hộ trì quốc vận chí sĩ hiển oai linh.” Người tín đồ nào của Cao Đài cũng đều biết và phải biết “bảo thủ cơ đồ, hộ trì quốc vận” là một nghĩa vụ của một người công dân sống trong một đất nước. Bảo thủ cơ đồ chứ không phải bảo thủ quyền lực của đảng cầm quyền. Hộ trì quốc vận chứ không phải hộ trì chế độ cầm quyền. Điều này có nghĩa là người tín đồ Cao Đài có trách nhiệm phải giải trừ những tập đoàn bán nước để “bảo thủ cơ đồ.” Điều này có nghĩa là người tín đồ Cao Đài có trách nhiệm phải giải trừ những chế độ làm cho đất nước suy vong để “hộ trì quốc vận.”


Để “bảo thủ cơ đồ hộ trì quốc vận,” người tín đồ Cao Đài không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải giúp cho toàn dân đứng lên giải thể ĐCSVN, một đảng cướp đã đoạt lấy chủ quyền đất nước của toàn dân bằng mưu sâu kế độc và bây giờ đã đến mức coi toàn khối dân tộc là kẻ thù để rồi “chỉ biết còn Đảng, còn mình.” Cụm chữ “chỉ biết còn Đảng, còn mình” không phải chỉ là một khẩu hiệu vô thưởng vô phạt, nó là một “tuyên chiến thư” của ĐCSVN gởi tới toàn dân, nó là “bằng chứng nhận tội” chống lại nhân dân và tổ quốc của ĐCSVN, nó là “khuôn mặt thật” đáng kinh tởm của ĐCSVN đã dấu sau lưng cái mặt nạ đỏm dáng để gạt dân suốt bao nhiêu năm qua nay tự làm rớt xuống và phô bày chân tướng, nó là con dấu đã đóng lên cái bản án phá nước hại dân của ĐCSVN. Nếu bây giờ không là lúc để người tín đồ Cao Đài “bảo thủ cơ đồ hộ trì quốc vận” thì là khi nào?


Còn nhiều nữa nhưng tôi nghĩ chỉ với những câu liễn vừa nêu trên cũng đã đủ để cho thấy rằng Đấng Đại Từ Phụ đã chuẩn bị cho con cái Cao Đài của ngài có được tất cả những gì cần thiết --đức tin, trí tuệ, dũng khí và lòng nhân-- để thực hiện sứ mệnh thiên khải.


Nói tóm lại, với tôi thì tiên tri của Cao Đài đã quá rõ: đất nước Việt Nam trong tương lai sẽ là một quốc gia lý tưởng, một xã hội văn minh thiện đức, được xây dựng trên nền móng “tự do dân chủ của phương Tây kết hợp với Nhân Nghĩa của phương Đông.”


Điều này có nghĩa là ĐCSVN SẼ PHẢI BỊ GIẢI THỂ dầu muốn hay không muốn. Cũng có nghĩa là CUỘC CÁCH MẠNG ĐỂ ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC SẼ PHẢI TỚI VÀ SẼ THÀNH CÔNG, vấn đề chỉ là thời gian.


Không những tiên tri của Cao Đài đã quá rõ mà sứ mạng của người tín đồ Cao Đài nằm trong tiên tri đó cũng quá rõ. Người tín đồ Cao Đài phải giúp cho toàn dân thực hiện DÂN CHỦ MỤC và TỰ DO QUYỀN trên đất nước Việt Nam cho người dân Việt Nam. Thực hiện DÂN CHỦ MỤC và TỰ DO QUYỀN trên đất nước Việt Nam cho người Việt Nam là sứ mạng của mỗi người tín đồ Cao Đài mà Thượng Đế đã ủy nhiệm khi ngài chọn Việt Nam để khai đạo.[1]


Thượng Đế đã ban ra huyền khải TỰ DO DÂN CHỦ CHO TOÀN NHÂN LOẠI NÓI CHUNG VÀ CHO VIỆT NAM NÓI RIÊNG LÀ MỘT LỘ ĐỒ THIÊN ĐỊNH. Thượng Đế đã chuẩn bị cho người tín đồ Cao Đài tất cả những thứ cần thiết --đức tin, trí tuệ, dũng khí và lòng nhân--. Thượng Đế đã giao sứ mạng cho tín đồ Cao Đài là phải giúp cho toàn dân thực hiện DÂN CHỦ MỤC và TỰ DO QUYỀN từ khi khai đạo. Và TRÁT LỆNH LỊCH SỬ ĐANG ĐƯỢC BAN PHÁT KHẮP NƠI TRÊN THẾ GIỚI. Còn chờ gì mà chưa dấn thân hỡi người tín đồ Cao Đài?




[1] Ghi Chú: Xin đừng hiểu lầm là tôi chủ trương tôn giáo Cao Đài đứng ra lãnh đạo hoặc đơn độc thực hiện cuộc cách mạng. Ngược lại, tôi tin rằng nó phải là nỗ lực của toàn dân. Tôi cũng tin rằng một liên minh của nhiều tôn giáo là cần thiết, rất cần thiết, để làm dung môi thực hiện cuộc cách mạng đổi mới đất nước, và tôi sẽ nói rõ lý do tại sao trong thời gian tới.

Nguyễn Trung Chính

https://sites.google.com/site/tochucnguoivietyeunguoiviet

Tại Sao Có Ngày 30/4/1975 ?


quân sự việt nam, lịch sử việt nam

Sau ngày Cộng sản chiếm miền Nam 30/4/1975, khẩu hiệu “Chủ Nghĩa Mác Lê Bách Chiến Bách Thắng” đã được giăng khắp hang cùng ngõ hẻm. Khẩu hiệu trên cũng được các cán bộ cộng sản từ Bắc vào lên lớp giảng dạy cho dân miền Nam . Thực ra khẩu hiệu chỉ nói lên một điều duy nhất: chủ nghĩa Mác Lê do một thiểu số cộng sản cầm quyền lần này đã thắng Dân Tộc Việt Nam . Chúng ta đều biết chủ nghĩa Mác Lê là một chủ nghĩa quốc tế. Tại Việt Nam , chủ nghĩa này kết hợp với tư tưởng và hành động bạo chúa của Stalin và Mao trạch Đông. Chủ nghĩa Mác Lê Stalin và Mao lấy đấu tranh giai cấp, lấy bạo lực cách mạng để cướp và nắm giữ chính quyền.

Giở lại trang sử Việt Nam, những năm đầu 1920, khi Hồ chí Minh vừa gia nhập Quốc Tế Cộng Sản, Hồ đã gây ra nạn phân hóa trong hàng ngũ những ngừơi đấu tranh giành độc lập dân tộc tại Pháp. Những người Quốc Gia đã nhận ra ngay Cộng sản là một thế lực Quốc Tế. Nếu theo chủ nghĩa này khi đánh đuổi được người Pháp Việt Nam sẽ lại lại lọt vào vòng thuộc địa của đế quốc Liên Sô. Quốc Tế Cộng Sản còn chủ trương tiêu diệt giai cấp, tiêu diệt những thành phần quốc gia dân tộc. Chủ trương này đi ngược với truyền thống: dân tộc con trăm trứng - anh chị em một nhà. Bởi vậy các chiến sỹ quốc gia đã công khai bất đồng chính kiến với Hồ chí Minh và một thiểu số người chạy theo Quốc Tế Cộng Sản.

Ngày nay nhiều nguồn sử liệu cho thấy Hồ chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận các khỏan tài chính to lớn từ Liên Sô để thực hiện “Cách Mạng Cộng Sản” tại Đông Dương. Thậm chí có những bức thơ Hồ chí Minh bèo nheo với Quốc Tế Cộng Sản không được Quốc Tế Cộng sản trả tiền tương xứng về công lao “khuyển mã” của mình. Hồ lại còn bán Cụ Phan Bội Châu cho Pháp vừa có tiền vừa mượn tay Pháp tiêu diệt được một lãnh đạo Phong trào chống Pháp không theo Cộng sản.

Khi Chủ Nghĩa Mác Lê bắt đầu lan tới Việt Nam những năm 1930-40, đảng Cộng sản thay vì đấu tranh giành độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, lại lo đấu tranh giai cấp. Đảng Cộng sản lấy chủ trương "trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ", lấy bạo lực cách mạng làm phương tiện tiêu diệt mọi thành phần không theo cộng sản. Nạn nhân của Sô Viết Nghệ Tĩnh, của Nam Kỳ Khởi Nghĩa không phải là người Pháp mà lại chính là những người Việt Nam không theo Cộng sản và những người nông dân bị Cộng sản lường gạt mang thân mình lót đường xây dựng đế quốc Liên Sô .

Ngày 9/3/1945, khi Nhật đảo chánh Pháp và trao quyền cho Hòang Đế Bảo Đại. Chính phủ Trần trọng Kim được thành lập, vừa lo nạn đói, lo cải cách xã hội và giáo dục, lo soạn thảo hiến pháp, lo xây dựng một chính quyền dân chủ. Việt Minh ngược lại xây dựng bạo lực để nổi dậy cướp chính quyền.

Sau đó đến lượt người Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngày 19/8/1945, Việt Minh cướp được chính quyền, Hòang Đế Bảo Đại phải thóai vị. Khi đã củng cố được quyền hành đảng Cộng sản quay súng tiêu diệt mọi tổ chức hay cá nhân không theo cộng sản. Đức Thầy Hùynh Phú Sổ, Lý Đông A, Trương Tử Anh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu và hằng trăm lãnh đạo các Tổ Chức Quốc Gia khác đã bị Cộng sản tiêu diệt. Hàng chục ngàn các chiến sỹ đấu tranh cho độc lập và tự do dân tộc thuộc Cao Đài, Hòa Hảo , Việt Quốc và thuộc hàng trăm các Tổ Chức Chính Trị Quốc Gia khác đã bị đảng Cộng sản xuống tay tiêu diệt. Nhân lực và tiềm lực của Dân Tộc đã bị đảng Cộng sản bán rẻ cho Tổ Quốc Liên Sô trong Thế Giới Đại Đồng.

Tất cả Chương Trình quan trọng của đảng Cộng sản đều đã được Báo cáo cho Quốc Tế Cộng sản. Gần đây hai bức thư của Hồ Chí Minh gởi Stalin, xin được xem xét và cấp chỉ dẫn cho Chương trình Cải cách Ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam đã được phát hiện trong đống hồ sơ của Cục Lưu trữ Quốc gia Nga. Một ngày không xa chúng ta sẽ có được những tài liệu đảng Cộng sản buôn dân bán nước để viết lại một trang sử bi hùng dân tộc.

Người Pháp quay lại Đông Dương và từng bước trao trả độc lập cho cả 3 nước Việt Miên Lào . Nhưng người Pháp cương quyết không trao quyền lực cho Hồ chí Minh vì biết rõ ông ta là một cán bộ Quốc Tế Cộng sản, đảng Cộng sản và Việt Minh chỉ là một tổ chức ngọai vi của đảng Cộng sản Quốc Tế. Người Pháp từng bước chính thức trao trả độc lập cho Cựu hoàng Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc Gia. Những người Quốc Gia với tâm huyết giành độc lập và thống nhất đất nước đã liên kết dưới sự lãnh đạo của Cựu Hòang . Trong khi đó vì muốn đảng Cộng sản nắm được độc quyền chính trị, Hồ Chí Minh cương quyết tiếp tục chiến tranh tiêu diệt chính quyền, quân đội và mọi cá nhân, tổ chức Quốc gia.


Năm 1949, đảng Cộng sản Trung Hoa chiếm được lục địa Trung Hoa, khi ấy Mao Trạch Đông nói rõ ý đồ dùng Đông Dương làm bàn đạp và đảng Cộng sản Việt Nam làm tay sai để bành trướng phong trào Cộng sản xuống các nước Đông Nam Á. Sẵn mang bản chất tay sai từ thể xác lẫn tư tưởng, Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam đã sang Tàu rồi sang Nga để chính thức nhận lãnh trách nhiệm Quốc Tế tại Đông Dương. Chính yếu tố này đã làm cho cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954) mở rộng thêm và càng ngày càng khốc liệt hơn.

Chiến tranh Việt Nam còn được gọi là chiến tranh Đông Dương, vì ngòai chiến trường chính là Việt Nam, còn hai chiến trường phụ là Lào và Cam Bốt. Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Quốc Tế Cộng Sản phân công nhiệm vụ trên cả ba chiến trường.

Nếu Đông Dương không có đảng Cộng sản Việt Nam thì Đông Dương đã không xảy ra chiến tranh. Thật vậy sau thế chiến thứ hai, tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á có hoàn cảnh địa lý và chính trị tương tự Việt Nam đều đã giành được độc lập, được tự do và đều không bị lâm vào chiến tranh như tại Đông Dương. Người Pháp cũng đã từng bước chính thức trao trả độc lập cho Cựu hoàng Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc Gia.


Khi chiến tranh Đông Dương đến hồi khốc liệt nhất, đảng Cộng sản đã theo lệnh của Liên Sô và Trung Cộng chia đôi đất nước Việt Nam . Thay vì lo cho đời sống của người dân miền Bắc, đảng Cộng sản lại tiếp tục đưa quân đội và khí giới vào miền Nam . Nói một cách khác nếu không có đảng Cộng sản Việt Nam thì cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã tránh được, và cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1954-1975) dĩ nhiên đã chẳng xảy ra.

Sau Hiệp Định Đình Chiến Geneve, tiếp tục vai trò bành trướng được Quốc Tế Cộng Sản giao phó, quân đội và cán bộ cộng sản với trang bị vũ khí của Liên Sô, Trung cộng và các nước Đông Âu, đã ào ạt xâm lấn ba quốc gia Đông Dương. Phản ứng lại Hoa Kỳ và các Quốc Gia Đồng Minh gởi quân sang nhưng chỉ nhằm bảo vệ các quốc gia này không để lọt vào tay quân cộng sản. Phía Cộng sản tăng cường chiến tranh. Cuộc chiến càng ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Phía Cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ Đông Dương, trong khi đó Hoa Kỳ lại vẫn chạy theo chiến lựơc ven bờ chỉ lo giữ Đông Dương thay vì tấn công Khối Cộng Sản.

Để duy trì chiến lược bảo vệ Đông Dương Hoa Kỳ đã phải trả một giá rất đắt cả về cả nhân lực lẫn tài lực. Trên các Đài truyền hình Hoa Kỳ tin tức chiến trường tạo ra hình ảnh Hoa Kỳ đã thất bại trong cuộc chiến tại Việt Nam . Mỗi tuần hàng ngàn binh sỹ Hoa Kỳ tử trận hay bị thương, cuộc chiến như đang xẩy ra tại chính Hoa Kỳ. Phong trào phản chiến nổi lên gây ảnh hưởng đến chính giới và chính sách Hoa Kỳ.

Mặt khác Hoa Kỳ khi ấy đã bắt tay được với Trung Hoa Cộng Sản. Vì thế họ cũng thay đổi chiến lược và chính sách tại Đông Dương. Hiệp Định Ba Lê được ký kết. Hiệp Định này lại ngầm chấp nhận sự hiện diện quân đội Bắc Việt tại Đông Dương. Hoa Kỳ rút quân đội trong khi đó quân đội Bắc Việt lại gia tăng xâm nhập người và vũ khí vào Nam . Quốc Hội Hoa Kỳ lại quyết định cắt giảm Quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa. Thiếu quân trang, quân cụ Việt Nam Cộng Hòa đã lọt vào tay quân cộng sản ngày 30/4/1975.

Trong gần 3 thập niên từ 1949 tới 1975, dân tộc Việt đã kiên cường chống lại Khối Cộng sản Quốc Tế do Nga Tàu lãnh đạo. Bao chiến sỹ Quốc Gia , chiến sỹ quân đội Việt Nam Cộng Hòa và người dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ miền đất cha ông để lại và xây dựng một miền Nam tự do. Ở cuối cuộc chiến Trung cộng lộ rõ bản chất xâm lược mang quân xâm chiếm Hòang Sa. Ngặt nỗi quần đảo này đã đựơc Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam chuyển giao cho Trung cộng từ những năm 1958.

quân sự việt nam, lịch sử việt nam

Ba mươi sáu năm qua, thiểu số cầm quyền cộng sản đã thiết lập một thể chế tòan trị tại Việt Nam . Thiểu số cầm quyền cộng sản lại xuất thân từ những kẻ chuyên lấy đấu tranh giai cấp, lấy bạo lực cách mạng làm phương tiện tiến thân. Như Hồ chí Minh họ đã hiến dâng thể xác và tinh thần cho tư tưởng ngọai lai Mác Lê Stalin Mao , vì thế họ luôn sẵn sàng tình nguyện làm tay sai cho ngọai bang Nga Tàu . Ngay sau 1975, Đảng Cộng sản lại đưa Việt Nam vào hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam (1975-1989) và biên giới phía Bắc (1979-1989), hai cuộc chiến này lại do những mâu thuẫn nội bộ giữa các đảng Cộng sản Liên Sô, Trung Quốc, Việt Nam và Cam Bốt tạo ra. Đảng Cộng sản Việt Nam khi ấy luôn mồm hãnh diện làm “nhiệm vụ quốc tế” cho Liên Sô để chống lại “chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc”.

Chiến tranh từ 1945 đến 1989 đã làm cho hàng triệu binh lính và thường dân vô tội Việt Nam bị chết và bị thương tổn cả tinh thần lẫn thể xác. Chiến tranh cũng làm phân hóa dân tộc chỉ mang lợi cho đảng Cộng sản tiếp tục cầm quyền và Trung cộng từng bước thực hiện chiến lược xâm chiếm Việt Nam . Trung Cộng đã đánh chiếm Hòang Sa, Trường sa và nhiều phần lãnh thổ Việt Nam. Thế mà đảng cộng sản lại bắt bớ, đàn áp mọi tiếng nói yêu nước đòi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Gần đây chúng ta lại biết thêm Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã bán sống Tây Nguyên cho Trung Cộng khai thác bauxite, bán rừng để Trung cộng tòan quyền khai thác hay xây dựng căn cứ để xâm thực Việt Nam.

Sau chiến tranh đảng Cộng sản đưa tòan dân tộc Việt vào nhà tù cộng sản, mọi tiếng nói bất đồng đều bị đảng Cộng sản xuống tay đàn áp dã man. Mất tự do, mất dần độc lập quốc gia, ngày 30/4/1975, miền Nam lọt vào tay quân cộng sản, nhưng cũng là ngày khởi đầu cho một cuộc đấu tranh mới: đấu tranh để giành lại tự do, dân chủ và vẹn tòan lãnh thổ.

Ba mươi sáu năm qua, cứ đến 30/4 hằng ngàn bà con khắp các tiểu bang tại Úc châu lại hướng về Canberra biểu tình trước tòa Đại sứ Việt cộng. Những người biểu tình nhắc nhở nhau Úc châu là vùng cấm Việt cộng và phải góp một bàn tay mang dân chủ tự do đến cho Việt Nam .

Ba mươi sáu năm qua, Úc Châu luôn luôn nêu cao tinh thần quyết tâm giải thể cộng sản mang tự do dân chủ đến cho Việt Nam . 30/4 năm nay Cộng Đồng Ngừơi Việt Tự Do tại Úc châu sẽ vận động đồng bào khắp nơi trên Thế giới đồng ký tên Thỉnh Nguyện Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam . Thỉnh nguyện thơ này sẽ được đồng bào tất cả các tiểu bang ký tên, cũng như sẽ đưa lên trên mạng để đồng bào khắp nơi trên thế giới cùng ký.

Đặc biệt vào ngày 12/6/2011 sắp tới Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria sẽ tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành với tiêu đề là “ Vinh Danh Cờ Vàng - Giải Thể Cộng Sản Việt Nam ”. Đòan biểu tình sẽ phát xuất từ Federation Square, tuần hành vào giữa trung tâm thành phố Melbourne để tiến về Quốc Hội Victoria trao Thỉnh Nguyện Thư. Cuộc biểu tình nhằm nói lên nguyện vọng của người Việt tại Victoria luôn luôn ước mong và đấu tranh để tự do dân chủ sớm đến với dân tộc Việt Nam. Mong Cách Mạng Hoa Nhài sớm đến Việt Nam . Các Tiểu Bang khác tại Úc châu cũng đang thảo luận với các hội đòan để hoặc sẽ tổ chức biểu tình cùng ngày hoặc sẽ tổ chức trao Thỉnh Nguyện Thư đến chính giới địa phương.

Cộng đồng Úc châu cũng như Cộng đồng Người Việt Tự Do Hải Ngọai luôn hướng về quê cha đất tổ để Việt Nam sớm có Tự Do. 30/4 khi ấy sẽ chỉ còn là một ngày trong lịch sử. Lịch sử một Dân Tộc đã kiên cường chống lại chủ nghĩa Mác Lê, Quốc Tế Cộng Sản và thiểu số tay sai “cõng rắn cắn gà nhà” cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

27/4/2011

Nhà Lãnh đạo Quốc gia Lúc về hưu, họ làm những gì?


Sau thời gian dài tìm hiểu về sinh họat của Xã hội Dân sự, tôi mới nảy ra ý nghĩ là cần chú ý đến họat động của những nhà lãnh đạo quốc gia, để xem họ đã và đang làm những gì, sau khi rời bỏ chức vụ chính trị và trở về sinh sống như một người công dân bình thường? Điển hình như từ năm 1981, thì Tổng thống Jimmy Carter ở Mỹ, Tổng thống Valéry Giscard d’Estaing ở Pháp đã về hưu, lúc mới ở tuổi 56 – 57, nhưng người nào cũng đều rất năng nổ họat động trong nhiều lãnh vực từ thiện nhân đạo, hòa giải tranh chấp hay nghiên cứu chính trị luật pháp, viết sách… Và họ lại được công luận đánh giá rất cao về các họat động này, vượt trội hơn cả thành tích trong thời gian làm lãnh đạo quốc gia nữa. Lại nữa, vì tuổi thọ con người mỗi ngày một tăng cao hơn, nên những nhân vật lãnh đạo này lại càng có nhiều thời gian phục vụ quốc gia xã hội kể từ lúc về nghỉ hưu và với hiệu năng rất cao nữa.
Trong lọat bài này, tôi sẽ lần lượt trình bày về các nhà lãnh đạo tại một số quốc gia mà mới về nghỉ hưu trong vài ba chục năm gần đây. Bài đầu tiên xin được viết về sinh họat của hai vị cựu Thủ tướng Anh quốc, đó là Margaret Thatcher và Tony Blair. Tiếp theo, sẽ là các nhà lãnh đạo tại các nước cựu cộng sản như Lech Walesa ở Ba lan, Vaclac Havel ở Tiệp khắc, Mikhael Gorbachov ở nước Nga v.v… Rồi đến cựu Tổng thống Nelson Mandela ở Nam Phi, các cựu Tổng thống ở Mỹ v.v…

* Bài 1 : Hai vị cựu Thủ tướng Anh quốc.


Trong vòng 30 năm gần đây, tại Anh quốc có hai vị Thủ tướng thuộc hai đảng chính trị đối lập nhau, nhưng lại đều giữ chức vụ lãnh đạo đất nước rất lâu, mỗi người đến cả chục năm. Đó là Thủ tướng Margaret Thatcher thuộc đảng Bảo thủ và Tony Blair thuộc đảng Lao động.

A – Thủ tướng Margaret Thatcher ( sinh năm 1925).

Bà là vị Nữ Thủ tướng đầu tiên của nước Anh và giữ chức vụ này liên tiếp trong ba nhiệm kỳ từ năm 1979 đến năm 1990 (11 năm). Bà được tiếng là một vị lãnh đạo cương quyết, cứng rắn nên có biệt danh là “Iron Lady” (Người Phụ nữ Sắt Đá). Bà rất thân thiện và nhịp nhàng ăn ý với Tổng thống Ronald Reagan của Mỹ, và được coi là một trong bộ ba nhà lãnh đạo ở Tây Âu (Reagan – Thatcher – Giáo Hòang John Paul II) mà đã góp phần quyết định vào việc làm sụp đổ hệ thống cộng sản do Liên Xô lãnh đạo vào cuối thập niên 1980.
1 - Từ ngày rời bỏ chức vụ Thủ tướng vào cuối năm 1990, bà Thatcher vẫn họat động sôi nổi trong vòng hơn 10 năm và chỉ ngưng việc đi diễn thuyết trước công chúng khắp thế giới từ năm 2002, sau khi bị một lọat những “ chứng tai biến mạch máu não lọai nhẹ” (small strokes).
Bà đã hòan thành hai cuốn Hồi ký được bán rất chạy, đầu tiên là cuốn “ The Downing Street Years” dài 914 trang, xuất bản năm 1993, nói về những năm bà giữ chức vụ Thủ tướng (Nhà số 10 Downing Street tại thành phố London chính là địa chỉ văn phòng Thủ tướng Anh quốc). Cuốn tiếp theo nhan đề là “ The Path to Power” (Con Đường dẫn tới Quyền lực) dài 656 trang, xuất bản năm 1995, nói về họat động chính trị kiên trì của bà để dành lại quyền lãnh đạo quốc gia cho đảng Bảo thủ. Và cuốn sách thứ ba với nhan đề là “ Statecraft” ( Nghệ thuật chính trị) dài 486 trang, xuất bản năm 2002, trình bày những suy nghĩ của bà về tình hình chính trị thế giới và đưa ra những sách lược cho một thế giới đang thay đổi.
Vào năm 2003, phu quân của bà là Denis Thatcher lìa trần và ông được sự khen ngợi của nhiêu giới thuộc khuynh hướng chính trị khác nhau. Hai ông bà sống với nhau trên 50 năm và có hai người con song sinh một trai, một gái tên là Mark và Carol chào đời vào năm 1953.
2 – Tổ chức “ Margaret Thatcher Foundation”.
Năm 1991, tổ chức Margaret Thatcher Foundation được thành lập nhằm thăng tiến đường lối tự do chính trị và kinh tế. Tổ chức này theo đuổi 5 mục tiêu rộng lớn sau đây :
a/ Cổ võ rộng rãi sự chấp thuận những nguyên tắc của nền dân chủ, của thị trương, nền pháp trị và chính sách mạnh mẽ về quốc phòng.
b/ Khuyến khích mối liên kết vững mạnh xuyên đại tây dương giửa Anh quốc, Âu châu và Bắc Mỹ châu (strong transatlantic links).
c/ Trợ giúp và khuyến khích các dân tộc tại những quốc gia cựu cộng sản và những dân tộc bị áp bức khác trên khắp thế giới để họ chấp nhận thể chế dân chủ.
d/ Phát triển mối liên lạc chặt chẽ hơn giữa các dân tộc Tây Âu với các dân tộc ở Trung Đông nhằm tìm kiếm một nền hòa bình lâu bền với an ninh bảo đảm.
e/ Thúc đảy tự do thương mại trên khắp thế giới.
Với uy tín và tầm ảnh hưởng lớn lao của Margaret Thatcher, Tổ chức này được sự yểm trợ rất mạnh mẽ về tài chánh của khu vực từ thiện tư nhân (private philanthropy) từ nhiều nơi, đặc biệt ở Mỹ. Và được đăng ký tại Mỹ như là một cơ sở giáo dục bất vụ lợi, do đó được miễn thuế. Các bài diễn thuyết trong 55 năm của bà Thatcher từ 1945 – 2000 đã được ghi trong CD – ROM và hiện đã được cấp phát cho 1,600 thư viện đại học khắp thế giới.
Tổ chức Margaret Thatcher Foundation này phối hợp công tác với nhiều tổ chức từ thiện, trường học, các đại học và các định chế văn hóa lớn, cụ thể như Thư viện Quốc hội Mỹ. Nhờ đó mà họat động rất đa dạng, rộng rãi. Với tầm nhìn bao quát và quy mô họat động thật lớn lao, ta có thể xếp lọai Foundation này như là một đơn vị điển hình của Xã hội Dân sự Tòan cầu trong thế giới hiện nay vậy (The Global Civil Society).

B – Thủ tướng Tony Blair (sinh năm 1953)
Vào ngày 2 tháng Năm năm 1997, khi ông bắt đầu nhận lãnh chức vụ Thủ tướng nước Anh, thì Tony Blair mới có 43 tuổi, nên ông là vị Thủ tướng trẻ nhất của Anh quốc kể từ sau khi Huân tước Liverpool là Thủ tướng năm 1812. Ông giữ chức vụ này liên tục trong 10 năm, cho đến năm 2007 mới từ chức. Ông là người bạn thân thiết và cộng tác chặt chẽ với cả hai Tổng thống Mỹ là Bill Clinton và George W Bush. Ông đặc biệt yểm trợ Tổng thống Bush trong cuộc chiến tranh chống khủng bố từ năm 2001 sau vụ tấn công khủng khiếp 911 tại New York, cụ thể là với hai cuộc chiến tại Afghanistan và tại Irak.
Khi về hưu vào năm 2007, thì Tony Blair mới có 54 tuổi, còn quá trẻ để mà “rửa tay gác kiếm - vui thú điền viên”. Mà quả thật như vậy, liền sau khi thôi làm Thủ tướng, Tony Blair đã được bổ nhiệm làm Sứ thần chính thức của Tứ cường đặc trách về Trung Đông (Official Envoy of the Quartet on Middle East – Quartet này gồm Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Âu châu, Hoa Kỳ và Nga).
Là một luật sư với tài ăn nói trôi chảy lưu lóat, lại có bà vợ Cherie cũng là luật sư, nên gia đình Tony Blair có nhiều nét tương đồng với cặp Bill & Hillary Clinton. Có lúc Tony được mời diễn thuyết trong vòng có 90 phút, mà được trả tới 250,000 dollar. Ông còn được mời làm cố vấn cho một số ngân hàng như JM Morgan Chase và có nguồn tin cho rằng ông có số thu nhập hằng năm lên tới 7 triệu bảng Anh tức là trên 12 triệu dollar. Hai ông bà có 4 người con tên là Euan, Nicholas, Kathryn và Leo.
Chưa đày một năm sau khi từ giã chức vụ Thủ tướng, vào tháng Năm 2008, Tony Blair đã cho trình diện trước công chúng một tổ chức với danh xưng là “ Tony Blair Faith Foundation” (Sáng Hội Niềm Tin Tony Blair), mà ta có thể ghi nhận một số đặc điểm như sau :
1 – Tony Blair Faith Foundation
Ông tuyên bố trong Lễ Ra Mắt Foundation ở New York rằng : Một trong những mục tiêu của tổ chức này là “ Chống lại sự cực đoan trong cả 6 tôn giáo lớn “ (counter extremism). Và ông xác nhận đây là tổ chức mà ông dự định dành hết cuộc đời còn lại của mình để phục vụ. Và chỉ riêng trong một năm đầu tiên, Foundation đã quyên đậu được tới 3.5 bảng Anh để dành cho ngân sách điều hành của hội.
a/ Abraham House
Foundation dự trù sẽ thiết lập một cơ sở đặt tên là Abraham House dành cho tín đồ của cả ba tôn giáo xuất phát từ tổ phụ Abraham (Abrahamic faiths), đó là Do thái, Kitô giáo và Hồi giáo và cả những người khác đều có thể đến nơi đó để họp mặt gặp gỡ trao đổi thân thiết với nhau.
Hiện đã có ít nhất ba tổ chức cùng tham gia với Dự án này, đó là “Cambridge Inter – Faith Programme”, “The Coexist Foundation” và “ Ralph Appelbaum Associates”.
b/ Faith and Globalisation Initiative (Sáng kiến Niềm Tin và Tòan cầu hóa).
Hợp tác với Đại học Yale, Foundation sẽ phát động những khóa học, những hội nghị và dự án nghiên cứu dành cho sự đối thọai, phân tích, tìm kiếm giữa tín đồ các tôn giáo với nhau nhằm giải quyết nạn nghèo đói và tranh chấp trên thế giới. Tony Blair nhận sẽ là một trong những người dậy học trong dự án này.
Về nhân sự, bà Ruth Turner hiện giữ chức vụ Giám đốc Điều hành của Foundation. Và rất nhiều nhân vật có tên tuổi trong giới tôn giáo và giới đại học đã nhận làm việc trong Hội đồng Quản trị hay Hội đồng Cố vấn của Foundation. Điển hình như Mục sư Rick Warren của Nhà thờ Saddleback Valley tại Orange County California.

2 – Vài dòng về cuốn Hồi ký “ A Journey – My Political Life “.

Năm 2010 vừa qua, Tony Blair đã cho ra đời cuốn Hồi ký có nhan đề “ A Journey – My Political Life “ dài 700 trang do nhà xuất bản Alfred A. Knopf ấn hành. Sách được công chúng hưởng ứng nồng nhiệt đón nhận. Tác giả đã tặng tòan bộ số tiền nhuận bút lên tới trên 4.6 triệu bảng Anh để xây dựng trung tâm thể thao dành cho thương bệnh binh.
Tuy nhiên, tại một số nơi ở nước Anh, việc Ra Mắt Sách này vì bị phản ứng mạnh mẽ của những người chống cuộc chiến tranh ở Irak, nên đã phải hủy bỏ. Cuốn sách kể lại rất nhiều chi tiết trong cuộc đời họat động chính trị sôi nổi của tác giả, mà có người khen, có người chê với đủ ý kiến trái nghịch nhau trong các bài điểm sách nhan nhản trên báo chí và truyền thanh truyền hình.
Tóm tắt lại, cả bà Margaret Thatcher cũng như ông Tony Blair khi về hưu, thì đều tiếp tục hăng say phục vụ quốc gia xã hội và có những đóng góp thật kỳ diệu xuất sắc trên bình diện tòan cầu nữa./

California cuối tháng Tư 2011
LS .Đòan Thanh Liêm

Tướng Nguyễn Ngọc Loan trong Biến Cố Tết Mậu Thân

Tác Giả: Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI
Thứ Bảy, 18 Tháng 7 Năm 2009 10:30


Nhân kỷ niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân 1968, người Việt quốc gia hẳn không bao giờ quên những cảnh tượng tang thương đẫm máu do Cộng Sản Bắc Việt gây nên.

Riêng ngành Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), có một câu chuyện thật, thật 100%. Câu chuyện ấy vang lừng khắp thế giới. Câu chuyện ấy được kết thúc với nhiều đau thương, nghiệt ngã, qua cái chết của cả cuộc đời một vị Tướng và đau khổ hơn nữa, qua cái chết của cả một chế độ, khiến VNCH bị bức tử, hàng triệu người phải lưu vong và hàng vạn quân cán chính phải trải qua bao nhiêu năm tháng tù đày, tủi nhục.

Đó là câu chuyện về "Tướng Nguyễn Ngọc Loan Trong Biến Cố Tết Mậu Thân”.

1. Tết Mậu Thân 1968 Mịt Mù Khói Lửa

Bằng Hiệp Ước Genève năm 1954, các cường quốc trên thế giới đã chia cắt nước Việt Nam thành hai lãnh thổ với hai chế độ chính trị hoàn toàn khác nhau về ý thức hệ: Miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, theo khối Cộng Sản quốc tế. Miền Nam là nước Việt Nam Cộng Hòa theo khối thế giới tự do.

Tuy nhiên, ngay khi ký Hiệp Ước, miền Bắc đã có kế hoạch xâm chiếm miền Nam bằng võ lực. Họ gài cán bộ để hoạt động du kích, chôn mìn, đặt bàn chông, tấn công quân đội VNCH và tiêu hủy các làng mạc của dân chúng miền Nam. Sau đó, họ thiết lập đường mòn Hồ Chí Minh dọc biên giới Lào-Cao Miên để chuyển quân và võ khí, đạn dược từ miền Bắc vào Nam.

Cuối năm 1967, khi quân đội Hoa Kỳ đã gửi đến Nam Việt Nam khoảng 500 ngàn quân, Bắc Việt muốn chọn Khe Sanh làm địa điểm giao tranh thư hùng giống như mặt trận Điện Biên Phủ năm xưa. Đồng thời, Bắc Việt cũng muốn dùng mặt trận Khe Sanh để che giấu kế hoạch tổng công kích trên toàn lãnh thổ VNCH vào dịp Tết Mậu Thân 1968 để phô trương lực lượng.

Vì hai Đại Tướng Bắc Việt Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp bất đồng quan điểm về trận chiến miền Nam, nên Đảng Cộng Sản giao cho Đại Tướng Thanh chỉ huy mặt trận miền Nam, còn Đại Tướng Giáp chỉ huy mặt trận miền Bắc. (1)

Ngày 6-7-1967, đang khi chuẩn bị cuộc tấn công VNCH, Đại Tướng Thanh bất ngờ qua đời. Bắc Việt loan tin là ông chết vì bệnh tim ở Hà Nội, nhưng sau đó, báo chí Tây phương xác nhận Tướng Thanh chết vì trúng bom của Hoa Kỳ. Cũng có tin là ông bị thanh toán nội bộ. Sau đó, Tướng Giáp được Đảng Cộng Sản chỉ định tiếp tục lập kế hoạch tấn công lớn vào dịp Tết Mậu Thân.

Như các năm trước, vào các dịp Tết và lễ lớn, hai miền Nam Bắc đều đồng ý hưu chiến trong ít ngày. Dịp Tết Mậu Thân năm 1968, Bắc Việt đề nghị hưu chiến 7 ngày, nhưng VNCH chỉ đồng ý 3 ngày. Tin tưởng vào lệnh hưu chiến này, 50% quân nhân miền Nam được phép về gia đình ăn Tết. Chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng rời Saigon về Mỹ Tho để mừng Tết ở quê vợ. Trong khi đó, quân đội miền Bắc bất chấp lệnh hưu chiến, ngày đêm chuyển quân và vũ khí để chuẩn bị xâm lăng miền Nam.

Giữa không khí linh thiêng của ngày Tết Mậu Thân, mọi người lũ lượt đến chùa và nhà thờ để cầu nguyện bình an cho Năm Mới. Tiếng pháo và múa lân mừng Xuân của miền Nam bỗng dưng bị pha trộn bằng tiếng súng của Cộng Sản. Nhà cửa bốc cháy hòa lẫn tiếng đàn bà con nít khóc lóc thảm thương!

Bắc Việt đã tung vào trận đánh Tết Mậu Thân 80.000 lính từ miền Bắc vào, cùng với tất cả các lực lượng du kích và đặc công trong thành phần Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để tấn công 36 trong số 44 tỉnh miền Nam và 6 thị xã, cùng với 64 trong số 242 quận lỵ. Các cán binh Cộng Sản chỉ được học tập tấn công, nhưng không biết đường rút quân. Tại những cộng sự đặt súng lớn, xạ thủ bị xích chân vào bàn súng. Điều này chứng tỏ Cộng Sản quyết tâm tử chiến: thắng thì sống, thua thì chết.

Đêm 30 rạng ngày 31-1-68 DL (tức đêm mồng Một rạng mồng Hai Tết), Saigon bị tấn công tại nhiều địa điểm quan trọng, như phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH, đài phát thanh Saigon, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Dinh Độc Lập phía đường Nguyễn Du…

Thực sự, Cộng Sản đã chiếm được đài phát thanh Saigon và đài này đã bị tắt tiếng một thời gian ngắn, nhưng Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG đã phối hợp với quân đội để tái chiếm đài phát thanh và đã không hề có một bài hát hay lời tuyên truyền nào của Bắc Việt kịp phát đi từ làn sóng của đài phát thanh Saigon.

Ký giả Don North của hãng NBC có mặt tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ lúc quân đội Bắc Việt tấn công đã kể rằng: Vào lúc 2g45 sáng ngày 31-1-68, 19 đặc công Cộng Sản đeo băng đỏ trên cánh tay dùng chiếc xe hơi Peugeot và taxi chạy thẳng vào cổng tòa Đại Sứ và nổ súng. Họ đã chiếm được một căn phòng trong tòa Đại Sứ, nhưng lực lượng canh gác phản công. Phía Hoa Kỳ, có 4 quân cảnh và một lính Thủy Quân Lục Chiến tử thương. Còn tất cả 19 đặc công đều bị giết chết sau 6 giờ giao tranh. (2)

Cộng Sản tưởng rằng khi họ về thành phố sẽ được dân chúng tiếp đón niềm nở. Nhưng thực tế, Cộng Sản tới đâu, người dân đều bỏ chạy. Hơn lúc nào hết, các CSQG đã trở thành người bạn khắng khít nhất của dân. Họ canh gác nhà thương để bảo vệ bệnh nhân. Họ giúp đỡ dân chạy loạn và họ phối hợp với các quân binh chủng chiếm lại từng nhà, từng tấc đất đã bị Cộng quân chiếm giữ. Vì số lượng dân chúng, gồm đàn bà trẻ con, bị thương tích quá đông, các bác sĩ và y tá phải tràn ra các đường phố để cứu cấp. Các thương binh Cộng Sản được đối xử rất nhân đạo. Họ được cứu chữa giống như các thương binh VNCH và dân chúng.

Cố Đô Huế bị thiệt hại nặng nhất. 12.000 quân Cộng Sản tiến chiếm Huế vào đêm Mồng Một Tết. Cầu Trường Tiền bị mìn đặc công giựt sập. Phải mất 26 ngày, quân đội VNCH, với trọng pháo yểm trợ từ chiến hạm Hoa Kỳ, mới có thể chiếm lại Huế. Nhưng buồn thảm và tang tóc phủ kín Cố Đô, với trên 7.000 thường dân và cán bộ bị chôn sống tập thể tại rất nhiều hố rải rắc khắp hang cùng ngõ hẻm.



Nạn nhân Tết Mậu Thân tại Huế

2. Tướng Loan Nổ Súng

Sáng ngày mồng Hai Tết, tức ngày 31-1-1968 (DL), Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan đang đích thân chỉ huy trận chiến khốc liệt tại khu vực Chùa Ấn Quang, Chợ Lớn, góc đường Sư Vạn Hạnh và Ngô Gia Tự thì hai nhân viên Cảnh Sát dẫn đến trình diện Tướng Loan một đặc công Cộng Sản đã giết người rất dã man trong hai ngày qua. Đó là Đại Úy Nguyễn Văn Lém, tự Bảy Lốp.

Ảnh Eddie Adams
Đại Úy đặc công Nguyễn Văn Lém được dẫn tới trình diện Tướng Loan

Chỉ ít phút trước đó, Bảy Lốp đã giết hại vợ, các con và thân nhân của một sĩ quan Cảnh Sát VNCH. Theo tài liệu của ông Lão Ngoan Đồng, vào lúc 4g30 sáng hôm đó, Nguyễn Văn Lém đã chỉ huy một đơn vị đặc công cùng với xe tăng của Tiểu Đoàn 2 Cơ Giới VC tấn công trại Phù Đổng của binh chủng Thiết Giáp ở Gò Vấp. Sau khi kiểm soát được trại lính, Bảy Lốp bắt giữ gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn và bắt Trung Tá phải chỉ dẫn cách xử dụng các xe tăng còn để lại trong trại. Trung Tá Tuấn từ chối, thế là Bảy Lốp giết chết toàn thể gia đình Trung Tá, gồm cả một bà mẹ già 80 tuổi. Chỉ có một bé trai 10 tuổi tuy bị thương nặng nhưng được cứu sống.


Ảnh "Vietnam, A Chronicle of the War",Black Dog & Leventhal Publishers, Inc. 2003, pg.478
Đám tang gia đình Trung Tá Nguyễn Tuân với 6 chiếc quan tài

Nguyễn Văn Lém bị bắt gần một hố chôn tập thể 34 thường dân bị giết. Lém khai rằng y rất tự hào là tác giả hố chôn tập thể đám người này, vì đã hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó. Lúc bị bắt, Lém mặc quần xà lỏn, áo sơ mi cụt cánh, hai tay bị trói trặt về phía sau mông, nhưng trong người vẫn còn đeo khẩu súng lục.

Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã được bá cáo về những hành động giết người dã man của Nguyễn Văn Lém và chính ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém ngay tại phạm trường.

Ảnh Eddie Adams
Tướng Loan hành quyết đặc công Đại Úy Nguyễn Văn Lém

Ảnh Eddie Adams
Quang cảnh sau khi bắn

Thế là Sáu Lèo đã loại Bẩy Lốp ra khỏi cuộc chiến đầy nước mắt của trần thế!

Nhân chứng Nguyễn Tường Toại là một thường dân lúc đó kể lại:

“Chính tôi là người đã chứng kiến tướng Loan bắn tên cộng sản ấy, tôi biết hắn đã làm những gì. Năm 1968 ở Saigon, giữa cuộc chạm súng, hắn đẩy trẻ thơ vô tội ra như là một làn sóng người, để đồng đội tẩu thoát. Trong trận đánh khốc liệt này, hắn sử dụng trẻ con làm lá chắn, để các binh sĩ phải thôi bắn… Lúc ấy mọi thứ đang hỗn loạn. Là Tư Lệnh Cảnh Sát, Tướng Loan khi nhìn xác trẻ con chết, ông hỏi: “Tại sao vậy? Chuyện gì vậy?” Đến khi biết tại sao mấy đứa bé chết, biết ai chịu trách nhiệm về hành động này, Tướng Loan đã nổ súng hạ tên thủ phạm.”

3. Cuộc chiến Việt Nam sang trang

Yếu tố bất ngờ luôn luôn được hoạch định trong bất cứ trận đánh nào. Bắc Việt mở cuộc tấn công vào dịp Tết linh thiêng của VN là một yếu tố bất ngờ, nhưng tại sao trận tấn công Tết Mậu Thân đã không diễn ra vào cùng một thời điểm trên toàn lãnh thổ VNCH? Sau này người ta mới được biết đó là do trục trặc kỹ thuật từ Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt.

Quân lệnh về ngày giờ nổ súng trên khắp lãnh thổ Miền Nam được giữ tối mật. Chỉ có cấp lãnh đạo quân sự cao cấp nhất mới nhận lệnh viết, còn các cấp dưới chỉ nhận khẩu lệnh. Lệnh đó như sau: “Đánh vào đêm 30 Tết Mậu Thân”.

Khi hoạch định cuộc tấn công Tết Mậu Thân, Bắc Việt đã cảm hứng theo cuộc Đại Phá Quân Thanh của Quang Trung Nguyễn Huệ chiếm thành Thăng Long năm 1789. Vua Quang Trung thời ấy đã cho quân sĩ ăn Tết sớm hơn 3 ngày để rồi mở trận Đống Đa - Ngọc Hồi đánh đuổi quân Thanh vào đêm 30 Tết năm Kỷ Dậu.
Cũng vậy, Bắc Việt muốn làm lịch sử theo gương Tây Sơn: “Quang Trung Nguyễn Huệ chiếm Hà Nội đuổi giặc Thanh đêm 30 Tết Kỷ Dậu thì Cộng Sản Bắc Việt chiếm Saigon đuổi Mỹ ngụy đêm 30 Tết Mậu Thân”.

Một sự kiện rất đáng chú ý khác là bỗng nhiên, ngày 8-8-1967, Hà Nội công bố sửa lại Âm lịch, áp dụng múi giờ là GMT +7, khác với múi giờ của Trung Hoa mà Việt Nam đã dùng từ ngàn năm trước là GMT +8. Hậu quả của việc này là sẽ có một số năm, ngày Mồng Một Tết Âm Lịch đi sớm hơn Tết của Trung Hoa. Tết Mậu Thân 1968 là Tết đầu tiên bị ảnh hưởng do quyết định này. Thế nhưng, trong lúc miền Bắc sửa lịch thì miền Nam vẫn tiếp tục theo lịch Trung Hoa, không chịu sửa. Thành ra, vô tình Việt Nam bỗng dưng có hai đêm 30 Tết Mậu Thân tại hai miền Nam Bắc khác nhau. Lệnh của Bắc Bộ Phủ là “Đánh vào đêm 30 Tết Mậu Thân”, nhưng quân Bắc Việt không biết khởi sự tấn công vào đêm nào. Đêm 30 Tết theo lịch Bắc Việt hay lịch Nam Việt?

Nếu đánh vào “Đêm 30 Tết Bắc Việt” thì quá sớm, vì các quân nhân VNCH chưa xuất trại đi phép nghỉ Tết. Tấn công trong lúc lực lượng VNCH còn y nguyên tức là tự sát. Còn nếu đánh vào “Đêm 30 Tết Nam Việt” thì binh lính Bắc Việt ăn Tết chưa đủ 3 ngày, không giống với Vua Quang Trung. Khi các cấp chỉ huy mặt trận khám phá ra lệnh tấn công mơ hồ thì đã quá muộn! Tướng Giáp không có cách nào gửi lệnh điều chỉnh được nữa. Do đó, mới xảy ra việc Saigon và các tỉnh miền Nam bị tấn công không cùng một thời điểm.

Quân đội thuộc Quân Khu 5 của Bắc Việt nổ súng từ Quảng Nam đến Khánh Hoà vào đêm 30 Tết của miền Nam, tức đêm 29 rạng ngày 30-1-68 Dương Lịch. Còn tại các nơi khác, Cộng quân lại ăn Tết đủ ba ngày rồi mới khởi sự tấn công vào đêm 30 rạng ngày 31-1-68 Dương Lịch, tức là đêm Mồng Một Tết.
Về phía VNCH, cho tới năm ngày trước Tết, không có dấu hiệu gì chứng tỏ tình báo miền Nam bắt được kế hoạch tấn công của Bắc Việt. Nhưng theo tài liệu riêng của Trung Tá Nguyễn Thiện, Trưởng Khối Đặc Biệt CSQG lúc bấy giờ, thì đến ngày 26 tháng Chạp, trong số các tin tức nhận được, có “nguồn tin Tây Ninh” sau khi đi họp với Trung Ương Cục miền Nam về, đã báo cáo rất chi tiết kế hoạch tổng tấn công của Việt Cộng. Chúng quyết định lợi dụng tinh thần “ngưng bắn” của Quân Dân Việt Nam Cộng Hòa để nổ súng, đặc biệt là nhắm vào Thủ Đô Saigon và các tỉnh lỵ. Tin tức này đã được chuyển cho cả 2 phía: Tổng Nha CSQG và Đại sứ Hoa Kỳ nội trong ngày 27 tháng Chạp Âm Lịch. Ngay sau đó, Tổng Nha CSQG cũng như bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH đã ra lệnh cấm trại 100%. Nhưng lệnh này đã quá trễ, vì có một số quân nhân, công chức đã được đi phép từ 5 ngày trước. Đi phép luân phiên trước, rồi sau đó trở về đơn vị thay cho một số khác đi tiếp (tức là đi phép trước và sau Tết). Điều cũng nên nói ở đây, khi có một số người đi phép như thế, thì tại các trụ sở của CSQG, từ Tổng Nha đến các Ty và Chi Cảnh sát đã bắt đầu đào giao thông hào, sắp bao cát. Đó là lệnh của Tổng Giám Đốc Nguyễn Ngọc Loan được gửi tới các đơn vị CSQG.

Khi súng bắt đầu nổ ở một số tỉnh Cao Nguyên vào đêm 30 Tết, các tỉnh khác cũng vẫn bình thản vui Xuân, coi như không có gì xảy đến cho mình. Chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn không rời Mỹ Tho để về Saigon đối phó với tình hình. Đáng lẽ ra, nếu khi thấy một số tỉnh bị tấn công thì các tỉnh khác, kể cả Saigon, đều phải ngưng ăn Tết mới phải. Lúc đó, VNCH có tới 24 tiếng đồng hồ chuẩn bị nghênh chiến và bố trí. Thiệt hại của miền Nam chắc chắn giảm đi rất nhiều.

Còn phía Hoa Kỳ, báo chí Mỹ chỉ trích cơ quan tình báo CIA đã bất lực khi không biết được tin tấn công. Nhưng các chứng nhân tại miền Nam VN đã nhìn thấy quân Bắc Việt di chuyển gần sát các căn cứ quân sự Hoa Kỳ mà không gặp trở ngại gì, cũng như các quân nhân Mỹ bị cắm trại 100% trong lúc quân đội miền Nam đi chơi đầy đường phố, người ta nghi ngờ rằng Hoa Kỳ thực sự có biết kế hoạch tấn công này. Có thể Hoa Kỳ đánh giá sai lạc tin tức tình báo, hoặc muốn giấu VNCH hoặc đã có sự thỏa thuận ngầm nào đó giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt?

Ông Charles B. MacDonald, một nhà viết sử Quân Đội Hoa Kỳ, đã đoạt nhiều bằng tưởng lục, đã tiết lộ rằng: “Mặc dầu TT. Thiệu đã không hủy các giấy nghỉ phép cho quân lính, nhưng với áp lực của Tướng Westmoreland, ông đã cam kết rằng ít nhất 50% quân số - lúc đó là khoảng 732.000 người - sẽ phải ứng trực.”

Qua tin tức này, chúng ta có thể đưa ra 2 nhận định: Thứ nhất, Hoa Kỳ biết chắc có cuộc tổng công kích. Thứ hai, TT. Thiệu đã không “nhạy cảm” trước sự cảnh giác của đồng minh Hoa Kỳ. Có thể vì lệnh của Ngũ Giác Đài, Tướng Westmoreland không được chính thức tiết lộ tin này cho VNCH, nhưng bằng một cách gián tiếp, ông đã cảnh giác tới mức “áp lực” TT. Thiệu đừng cho binh linh về phép, vậy mà ông Thiệu vẫn không hiểu được ý của Tướng Westmoreland, để rồi vẫn xả trại lính và chính ông cũng thản nhiên về quê vợ ăn Tết!

Cho dù VNCH bị tấn công hết sức bất ngờ như vậy, nhưng về phương diện quân sự, Cộng Sản đã chấp nhận thảm bại trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân. Chỉ trong vòng từ 2 đến 3 ngày, các lực lượng quân đội và Cảnh Sát miền Nam, cùng với quân lực Hoa Kỳ yểm trợ, đã dũng cảm đẩy lui bộ đội Bắc Việt ra khỏi tất cả các nơi chiếm đóng, ngoại trừ thị xã Huế phải mất gần một tháng trời.

Tổng kết thiệt hại của các bên tham chiến trong biến cố Tết Mậu Thân được ghi nhận như sau:

Phía Hoa Kỳ và Đồng Minh có 1.536 tử thương, 7.764 bị thương, 11 mất tích.

Phía VNCH, có 2.788 tử thương, 8.299 bị thương, 587 mất tích.

Phía Bắc Việt, có 45.000 tử thương, 6.991 bị bắt, còn bị thương và mất tích không rõ.

Phía dân chúng, có 14.000 tử thương, 24.000 bị thương và 630.000 người mất nhà cửa.

Tuy nhiên, phải thành thực nhận rằng Cộng Sản Bắc Việt đã thành công về mặt chính trị và xảo thuật.

Về xảo thuật, Bắc Việt đã mở cuộc tấn công này để dùng sức mạnh quân dân chính miền Nam thanh toán hết sức mạnh quân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (tuy chẳng có nhiều) để chuẩn bị cho ngày miền Bắc thống nhất đất nước. Điều này thực sự được chứng minh, vì ngay sau ngày 30-4-1975, các lực lượng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị Bắc Việt cho giải giới và nhận chìm trong quên lãng, khiến cho những người trong Mặt Trận này giận tím mật tím gan mà không đủ sức tạo ra một đề kháng nào cả.

Vy Thanh, một cán bộ Cộng Sản cao cấp miền Nam đã thú nhận rằng “Miền Nam bị nhuộm đỏ” và đau xót châm biếm Trung Ương Cục (TƯC) Miền Nam:
“Ðây là đất TƯC, đọc theo từng âm của mẫu tự thành “TỨC”. TƯC là chỗ gây ra cái tức, như tức mình vì thấy quá nhiều chuyện trái tai gai mắt, tức hộc gạch vì ức lòng quá mà nói ra không được, máu trong tim muốn ộc ra, tức lộn ruột vì đang đứng gặp chuyện ngược đời thành thử đầu dộng xuống đất cẳng chổng lên trời.”

Còn về phương diện chính trị, Bắc Việt đã thành công nhờ các lực lượng phản chiến tại Hoa Kỳ nổi lên như vũ bão sau Tết Mậu Thân, khiến cho đương kim Tổng Thống Lyndon B. Johnson (Đảng Dân Chủ) không dám ra tranh cử nữa và Richard M. Nixon đã lợi dụng tình hình chính trị tại VN để thắng cử, rồi đưa Henry Kissinger vào chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao, bán đứng VNCH cho Cộng Sản.

Chính Phạm Văn Đồng đã công khai tuyên bố cuộc chiến Việt Nam đã thắng trên đường phố Hoa Thịnh Đốn.

Tóm kết, biến cố Tết Mậu Thân thực sự đã thay đổi toàn diện chiến tranh Việt Nam. Và một diễn biến lúc đầu người ta tưởng là nhỏ, nhưng lại đã góp phần rất lớn trong việc thay đổi cuộc chiến. Đó là tấm hình Tướng Loan hành quyết Bẩy Lốp trên đường phố Saigon. Tấm hình đã gây oan nghiệt cho cả cuộc đời ông và hơn thế nữa, nó đã góp phần rất lớn trong diễn biến sụp đổ của chế độ VNCH.

Vậy ai là tác giả của tấm hình đầy oan nghiệt này?

4. Nhiếp ảnh gia Eddie Adams

Eddie Adams sinh ngày 12-6-1933. Ông đã từng tham dự 13 cuộc chiến tranh, từ Việt Nam đến vịnh Ba Tư, với tư cách ký giả chụp ảnh chiến trường. Ông đã lãnh tới 500 giải thưởng.

Khi Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc tấn công Tết Mậu Thân, nhiều ký giả chiến trường ngoại quốc được tung ra khắp miền Nam để thu hình và loan tin. Bám sát bộ chỉ huy hành quân của Tướng Loan ngày mồng Hai Tết Mậu Thân là nhiếp ảnh gia Eddie Adams của hãng AP và phóng viên quay phim người Việt Nam làm việc cho đài NBC, tên là Võ Sửu.

Tất cả các diễn biến về Tướng Sáu Lèo bắn đặc công Bẩy Lốp đã được Eddie Adams và Võ Sửu thu hết vào ống kính, không sót một chi tiết. Tướng Loan biết rõ việc này. Nếu muốn, ông có thể ra lệnh tịch thu lại hết các cuốn phim, nhưng ông đã không làm như vậy. Có thể Tướng Loan nghĩ rằng ông đã làm một điều rất đúng trong quyền hạn của ông nên không cần gì phải che giấu. Ngay sau lúc bỏ lại khẩu súng lục vào bao, ông thản nhiên nói với Adams: “Tên Việt Cộng này đã giết nhiều người Hoa Kỳ và người của tôi.”

Tuy ông Võ Sửu của đài NBC quay được cảnh Tướng Loan bắn Bảy Lốp, nhưng cả thế giới chỉ biết đến bức hình của Eddie Adams thôi.

Adams kể lại lúc Tướng Loan bắn Nguyễn Văn Lém như sau: “Lúc đầu, tôi tưởng Lém được dẫn đến để Tướng Loan thẩm vấn. Khi ông rút súng chĩa vào Lém, tôi cũng vẫn còn tưởng là ông chỉ dọa thôi. Hoá ra, ông bắn thật.”

Còn phóng viên Võ Sửu kể lại rằng: Sau khi bắn, Tướng Loan nói với các ký giả: “Những tên này đã giết vô số dân chúng của tôi và tôi nghĩ Đức Phật sẽ tha thứ cho tôi.”

Ngay đêm mồng Hai Tết Mậu Thân, bức hình của Adams được gửi từ Saigon ra ngoại quốc và rồi được in ngay trên trang nhất của các báo chí trên khắp thế giới.

5. Bức hình oan nghiệt

Bức hình Sáu Lèo bắn Bẩy Lốp được các nhóm phản chiến đưa ra khai thác tận tình trên các báo chí, truyền thanh và truyền hình tại Hoa Kỳ để đạt tới mục đích mong muốn: Phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam bằng mọi giá, vì – theo lời họ - nó bẩn thỉu, không có chính nghĩa.

Tom Buckley, bình luận gia của báo Harper nhận xét: “Đây là lúc công luận Mỹ quay lại chống chiến tranh Việt Nam.”

Viện Gallup vào giữa tháng 3-1968 công bố rằng trước Tết Mậu Thân, có 1/5 người được hỏi đã nhận mình là “diều hâu” (tức ủng hộ chiến tranh), nhưng sau khi thấy bức hình Tướng Loan bắn Bảy Lốp thì họ tự đổi thành “bồ câu” (tức chống chiến tranh).

Đại Tướng Colin Powell, lúc đó mới mang lon Thiếu Tá đang dự khóa huấn luyện ở Fort Leavenworth, Kansas, kể lại quang cảnh lớp học quân sự sau khi bức hình oan nghiệt được đăng trên báo chí và truyền hình như sau: “Hôm đó, khi tôi đến lớp học, mọi nguời không ai tin được chuyện này đã xảy ra, y như vừa bị một cú thoi vào bụng.”

Cũng kể từ tháng Ba 1968, các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam tại Hoa Kỳ đột nhiên rầm rộ khác thường. Tháng 10 năm đó, lực lượng Cảnh Sát Hoa Kỳ bắt đầu đụng độ với các cuộc biểu tình bạo động. Một năm sau, các cuộc biểu tình phản chiến tại Hoa Kỳ đòi rút quân ra khỏi Việt Nam đã thu hút hàng triệu người tham dự. Chính phủ Hoa Kỳ bị Quốc Hội trói tay, cắt ngân sách viện trợ cho VNCH. Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu xếp ba lô hồi hương vào năm 1973, để rồi hai năm sau (30-4-1975), miền Nam Việt Nam tức tưởi tuyên bố đầu hàng.



Cộng Sản chiếm dinh Độc Lập, Saigon, ngày 30-4-1975

6. Adams hối hận

Adams kể lại rằng sau khi bức hình Tướng Loan bắn Bẩy Lốp được gửi về trụ sở trung ương, thượng cấp của ông khuyến khích ông ráng chụp thêm nhiều bức hình giống như vậy, nhưng Eddie Adams nói rằng ông bắt đầu suy nghĩ về việc này. Càng tìm hiểu về Tướng Loan, ông càng ngưỡng mộ Tướng Loan về tài đức. Tướng Loan là người đang được dân chúng Việt Nam thương mến, ông là người làm tốt cho xứ sở ông. Ngay từ khi Cộng Sản tấn công vào Saigon, ông là vị Tướng duy nhất điều động lực lượng Cảnh Sát ngoài đường phố. Nếu không có Tướng Loan, không biết số phận Saigon sẽ ra sao? Vậy mà bức hình của ông lại gây ngộ nhận để công luận lên án Tướng Loan là tàn bạo.

Tên tuổi Adams bỗng nhiên nổi lên như cồn. Chỉ một năm sau, tức năm 1969, nhờ bức hình này, Adams lãnh luôn hai giải thưởng cao quý Pulitzer và World Press Photo. Nhưng thật lạ kỳ! Ông ta bắt đầu nhận ra có điều gì không ổn. Ông thuật lại rằng: “Tôi mặc bộ đồ dạ hội sang trọng để lãnh giải thưởng và tiền thưởng về bức hình đó tại Đại Hội Nhiếp Ảnh ở Hòa Lan. Khi ban nhạc trổi bài quốc ca Hoa Kỳ, tôi bật khóc. Không phải tôi khóc vì sung sướng, mà khóc cho Tướng Loan. Cho tới giờ phút đó, tôi vẫn chưa ý thức được việc tôi đã làm. Khi chụp tấm hình đó, tôi đã hủy hoại đời ông Tướng, vì ông bị dân chúng ở cả nước ông lẫn Hoa Kỳ lên án về tội giết tù binh chiến tranh. Trong bất cứ cuộc chiến nào, người ta cũng vẫn thường làm như vậy, nhưng hiếm có nhiếp ảnh viên nào chụp được mà thôi.”

Năm 1983, Adams trở lại Việt Nam và được biết tấm hình oan nghiệt của ông được trưng bày ở một chỗ rất trang trọng của Bảo Tàng Viện Chiến Tranh tại Saigon. Tuy nhiên, hiện nay không hiểu vì lý do gì, bức hình đã được gỡ bỏ, và chỉ được bày bán trong gian hàng bán đồ kỷ niệm tại Bảo Tàng Viện này thôi.

Sau năm 1975, có tới 8 người đàn bà đứng ra nhận là vợ của Nguyễn Văn Lém. Tuy nhiên, cho tới nay, xác của viên đặc công này vẫn chưa được tìm thấy.


Bà Nguyễn Thị Lốp, 56 tuổi, quả phụ Nguyễn Văn Lém (Ảnh chụp năm 1988)

Trong nhiều dịp khác nhau, Adams tiếp tục bày tỏ niềm ân hận về hậu quả bất công của tấm hình: “Tôi nhận tiền để trình diễn cảnh một người giết một người. Tướng Loan đã bắn chết tên Việt Cộng đã giết rất nhiều người dân vô tội và tướng Loan chỉ dùng công lý để xử tội hắn mà thôi.”

Vào năm 1994, Adams không muốn trưng bày bức hình oan nghiệt này nữa. Ông giải thích: “Nếu sự việc tái diễn, có lẽ tôi cũng lại chụp tấm hình như vậy, vì đó là nghề nghiệp mà! Nhưng tôi không còn muốn nói gì về bức hình ấy nữa. Tôi không trưng bày nó nữa. Tôi không xử dụng nó bất cứ tại nơi đâu.”

Ông thường nói rằng: “Tướng Loan là một vị anh hùng của chính nghĩa. Bức hình tôi chụp đã lừa dối công luận. Ông chiến đấu cho cuộc chiến của chúng ta, không phải cuộc chiến của họ. Vậy mà mọi điều nhục nhã lại đổ trên đầu con người này.”

Trong cuộc tỵ nạn của người Việt Nam năm 1975, Eddie Adams cũng đã chụp được những tấm hình nổi tiếng về cuộc vượt thoát can đảm, đầy gian nguy của thuyền nhân Việt Nam vào năm 1977. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã xin phép hãng AP để gửi sang Quốc Hội các tấm hình này. Nhờ vậy, gần 200.000 thuyền nhân Việt Nam được chấp thuận định cư ở Hoa Kỳ. Eddie Adams sung sướng nói rằng: “Tôi thà được biết đến qua những bức hình tôi chụp 48 người Việt Nam tỵ nạn trên chiếc thuyền dài 30 foot, rồi bị hải quân Thái đuổi ra biển. Nhờ những tấm hình này, tôi đã làm được những điều tốt mà không gây đau khổ, oan nghiệt cho ai cả.”

7. Tranh luận về bức hình

Tại sao bức hình Sáu Lèo bắn Bẩy Lốp đã trở thành đề tài nóng bỏng?

Nhóm phản chiến Hoa Kỳ lập luận rằng: Đại Úy đặc công Nguyễn Văn Lém đã bị bắt, hai tay bị trói quặt về sau lưng, tức là Nguyễn Văn Lém đã thực sự trở thành tù binh chiến tranh, Tướng Loan không có quyền hành quyết một kẻ thù trong trường hợp đã bị bắt, không còn phương tiện tấn công. Hành động này trái với điều 3 Quy Ước Genève ngày 12-8-1949 về tù binh. Từ đó, họ kết luận cuộc chiến Việt Nam là bẩn thỉu, người Mỹ không nên dính vào nữa.

Phóng viên chiến trường Neil Davids của Úc Đại Lợi, trong cuốn “In The Frontline”, đã bênh vực Tướng Loan rằng tên đặc công mặc áo dân sự, tức là không phải “quân nhân địch” như đã quy định trong Quy Ước Genève về tù binh, y lại phạm tội quá rõ ràng là giết nhiều đàn bà con nít và ngoan cố không chịu đầu hàng thì Tướng Loan có gọi là “phiến loạn” để xử bắn trong thời gian “thiết quân luật” thì cũng không có gì để gọi là quá đáng.

Tướng William Westmoreland, Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam đã nhận định rằng hành động của Tướng Loan là "không khôn ngoan, nhưng Tướng Loan đã làm dưới áp lực. Vấn đề này liên quan tới pháp lý mà ông không thể phán đoán được. Ông chỉ muốn nhấn mạnh đến áp lực vào thời điểm đó, tức là sự giận dữ về những hành động khủng bố của Cộng Sản." Và sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Tướng Westmoreland đã phẫn nộ công kích báo chí vì đã tạo ra những nguồn tin thất thiệt, tâng bốc sự thảm bại của Việt Cộng thành một cuộc "chiến thắng tâm lý" của Cộng Sản.

Nhưng thực sự, cả thế giới đã mắc lừa phản chiến Mỹ: Lừa về sự kiện và lừa về pháp lý.

a) Về sự kiện:

Chính tác giả tấm hình, ông Eddie Adams đã nói bức hình của ông mới chỉ nói lên được một nửa sự thực. Ông ân hận, ông khóc lóc, ông phân bua, ông gào thét trên truyền hình, truyền thanh, báo chí và trước quan tài của Tướng Loan để cảnh giác thế giới rằng họ đã hiểu lầm về ý nghĩa bức hình của ông. Một nửa cái bánh vẫn là cái bánh, nhưng một nửa sự thực là sự sai, sự gian xảo, sự lừa lọc, sự lầm lẫn. Thế mà cả thế giới vẫn nhắm mắt, bịt tai và im lặng để cho Tướng Loan chết trong oan khiên và VNCH chết tức tưởi trong nhục nhằn.

Vậy cái nửa sự thực kia mà bức hình Adams không diễn tả được là gì?

Đó là:

1- Adams đã không ghi lại được những hình ảnh Nguyễn Văn Lém bắn giết và chôn sống dã man những người dân vô tội mà Tướng Loan có trách nhiệm phải bảo vệ. Họ là đàn bà, con nít không có phương tiện tự vệ trong tay. Sự việc này cũng đã được điều 4 Quy Ước Genève ngăn cấm các quân nhân tham dự chiến tranh không được làm như vậy.

2- Adams đã không diễn tả được cảnh Bắc Việt đã lợi dụng thỏa ước hưu chiến ngày Tết thiêng liêng như phương tiện để tấn công bất ngờ VNCH, gieo bao nhiêu tang thương, chết chóc, tủi hờn cho dân chúng miền Nam.

3- Adams cũng đã không ghi được cảnh tượng hàng ngàn người dân Huế bị chôn tập thể do bàn tay các đồng chí của Nguyễn Văn Lém gây nên.

Tóm lại, cái nửa sự thực mà Adams không trình bày được là nguyên nhân dẫn đến cái nửa sự thực được diễn tả trong bức hình. Nói cách khác, Tướng Loan nổ súng kết liễu đời Nguyễn Văn Lém chỉ là hậu quả tất nhiên của chính việc làm của Lém đã giết hại những người dân vô tội mà thôi.

b) Về pháp lý:

1- Trong bốn phe tham chiến tại Việt Nam: Bắc Việt, Nam Việt, Hoa Kỳ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, chỉ có chính phủ miền Nam (VNCH) đã không hề ký kết bất cứ phần nào của Quy Ước Genève về tù binh và còn công khai bác bỏ vào ngày 18-2-1974. Còn Hoa Kỳ ký ngày 2-8-1955; Bắc Việt ký vào các năm 1953, 1957 và 1976; và Mặt Trận ký vào các năm 1973, 1974.

Tại sao VNCH đã không ký Quy Ước này? Chúng tôi chưa tìm ra tài liệu để trả lời. Tuy nhiên, cần ghi nhận ngay rằng VNCH có quyền làm như vậy mà không ai có thể suy luận xấu cho hành động không ký kết này. Các Quy Ước quốc tế không phải là tài liệu gì cần thiết đến nỗi các quốc gia hội viên không ký không được. Liên Hiệp Quốc cũng không có quyền bắt các hội viên phải ký kết mọi Quy Ước quốc tế, như Quy Ước về tù binh. Tính đến năm 2005, mới chỉ có 192 quốc gia trên thế giới chấp thuận toàn thể Quy Ước về tù binh. Một số quốc gia chỉ thuận một phần. Số khác thuận với những giới hạn do họ đặt ra. Ví dụ: Hoa Kỳ chấp nhận toàn thể Quy Ước về tù binh, ngoại trừ Hiến Chế (Protocol) 1 và 2 ban hành năm 1977.

Như vậy, VNCH (1954-1975) chưa hề bao giờ ký kết chấp nhận Quy Ước Genève về tù binh thì làm sao có thể quy kết VNCH và Tướng Loan vi phạm Quy Ước này được?

2- Dù có phê chuẩn Quy Ước, nhưng mỗi quốc gia lại tự ý giải thích Quy Ước theo quan niệm và quyền lợi riêng tư của mình. Hãy lấy ngay trường hợp Bắc Việt và Hoa Kỳ làm bằng chứng.

Bắc Việt không tuân thủ Quy Ước dành cho tù binh Hoa Kỳ với lý do rằng Hoa Kỳ đã mở cuộc chiến tranh đế quốc xâm lược Việt Nam, tức là một cuộc chiến không có chính nghĩa, cho nên tù binh Mỹ không đáng hưởng những đặc ân của Quy Ước tù binh.

Phía Hoa Kỳ lại cũng không cho quân lính Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được hưởng Quy Ước, viện lý do là Bắc Việt và Mặt Trận đã áp dụng những chiến thuật du kích quá dã man, không thích hợp cho một cuộc chiến quân sự. Binh lính Bắc Việt và Mặt Trận bị bắt thực sự chỉ là những can phạm hình sự, chứ không phải đúng nghĩa tù binh.

Gần đây nhất, sau khi Hoa Kỳ đem quân chiếm đóng Afghanistan vào tháng 10-2001 và lật đổ chính quyền Taliban, Tổng Thống George W. Bush không cho các quân nhân của Taliban hưởng ân huệ của Quy Ước Genève, vì chính quyền Bush gọi họ là “chiến binh phi pháp luật” (unlawful combatants), chứ không phải tù binh chiến tranh (prisoners of war).

Đến tháng 3-2003, Hoa Kỳ lại mở cuộc chiến lật đổ chính phủ Saddam Hussein tại Iraq và không cho bất cứ chiến binh nào không có quốc tịch Iraq bị Hoa Kỳ bắt trên đất Iraq được hưởng quy chế tù binh.

Như vậy, dù có chấp nhận Quy Ước về tù binh mà lại cắt nghĩa Quy Ước theo ý riêng của mình, thì có ký hay không ký cũng chẳng khác nhau bao nhiêu.

Giả như VNCH có ký vào Quy Ước Genève thì có thể giải thích rằng Nguyễn Văn Lém không phải là tù binh chiến tranh, vì khi bị bắt, y không giao tranh với quân lực VNCH, mà lại đang lùng kiếm giết hại dân lành vô tội. Rõ ràng y là tội nhân hình sự, chứ không phải tù binh.

3- Việc ký kết đã vậy, còn việc vi phạm Quy Ước quốc tế cũng không phải là điều ít khi xảy ra. Ví dụ:

- Bắc Việt thỏa hiệp ngưng chiến trong dịp Tết Mậu Thân, nhưng công khai mở cuộc tấn công trên toàn lãnh thổ VNCH.
- Bắc Việt ký Hiệp Định Đình Chiến Genève 1954, nhưng vẫn ngăn cản, không cho đồng bào miền Bắc di cư và chuẩn bị đem quân xâm chiếm miền Nam.

- Bắc Việt ký Hiệp Ước Hòa Bình Paris 1973, nhưng vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh tại miền Nam Việt Nam cho đến ngày thành công.

- Bắc Việt ký Quy Ước tù binh, nhưng không áp dụng. Thẩm Phán Quân Sự Hoa Kỳ, ông Ronald P. Cundick viết rằng: “Mặc dù Bắc Việt và Việt Cộng (ám chỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đã không chịu áp dụng Quy Ước Genève về tù binh, nhưng họ vẫn nói rằng họ đối xử nhân đạo với quân nhân bị bắt. Tuy nhiên, trên thực tế, các tù binh Hoa Kỳ bị Bắc Việt và Việt Cộng bắt giữ đã bị đối xử dã man và bị dùng như con tin chính trị và lợi khí tuyên truyền.”

Thế giới đã không lên tiếng về việc hàng triệu sinh linh đã phải hy sinh trong các vụ Bắc Việt vi phạm các Hiệp Ước kể trên, mà lại làm ầm ĩ vụ Tướng Loan bắn Nguyễn Văn Lém. Người ta đòi hỏi Nguyễn Văn Lém phải được hưởng quy chế tù binh theo Quy Ước Genève. Làm gì có Quy Ước đó trong cuộc chiến ở Việt Nam? VNCH không ký. Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ký, nhưng chính họ đã xé bỏ từ lâu. Quy Ước Tù Binh chỉ còn là mảnh giấy lộn, bị bom đạn đốt cháy. Còn đâu mà tìm?

4- Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được khai sinh ngày 20-12-1960 với mục đích lật đổ chế độ chính trị miền Nam bằng bạo lực. Bắc Việt luôn luôn chối là không hề tham dự gì vào các trận đánh ở miền Nam. Đó chỉ là chuyện riêng tư giữa nhân dân miền Nam nổi dậy chống nhà cầm quyền của họ.

Nếu lập luận này là đúng thì hai hậu quả được đặt ra cho vụ Tướng Loan:

Thứ nhất, Nguyễn Văn Lém là một phần tử trong tổ chức nổi loạn chống chính phủ miền Nam, nên không phải áp dụng Quy Ước Quốc Tế Genève, mà là luật lệ VNCH.

Thứ nhì, luật pháp của VNCH thời đó đã đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật, nghĩa là các cán binh Cộng Sản chống lại VNCH bằng võ lực không còn được luật pháp bảo vệ như một công dân thường. Nguyễn Văn Lém là một phần tử trong tổ chức bị luật pháp đặt ngoài vòng pháp luật, y lại còn bị bắt quả tang trong lúc phạm tội hình nguy hiểm. Vậy thì Tướng Loan, vị chỉ huy cao cấp nhất ngành Cảnh Sát, đang có mặt trên phạm trường có quyền thụ lý nội vụ và quyết định những biện pháp thích nghi. Tướng Loan đã hành xử đúng quyền hạn của ông khi quyết định xử tử Nguyễn Văn Lém ngay tại phạm trường, để chấm dứt tội ác của y. Quyết định của ông phải được coi là hợp luật. Cần ghi nhận rằng Tướng Loan không hề bị khiển trách hay điều tra bởi các cơ quan Giám Sát, Hành Pháp, Tư Pháp hay Lập Pháp của VNCH về việc ông đã hành quyết Nguyễn Văn Lém.

Tuy nhiên, sau ngày 30-4-1975, chiếc màn nhung tuyên truyền của Cộng Sản rớt xuống, cả thế giới đều thấy rõ ràng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là con đẻ của Bắc Việt. Bằng chứng quá nhiều:

- Con đường mòn Hồ Chi Minh do Hà Nội xây dựng,

- Vũ khí đạn dược từ Nga Sô và Trung Cộng từ Bắc đổ xuống Nam,

- Các cán binh đều nói giọng miền Bắc,

- Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy trận đánh tiến chiếm miền Nam,

- Hà Nội công khai tuyên bố chiến thắng và tức khắc khai tử hai thể chế chính trị tại miền Nam cùng một lúc: VNCH và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Đúng là một phát súng, hai con chim ngã gục!

Phải đợi tới lúc này, cả thế giới mới nhìn thấy một sự thực hiển nhiên là Bắc Việt đã xé bỏ biết bao nhiêu Hiệp Ước Quốc Tế ngay khi chữ ký chưa ráo mực, miễn sao đánh chiếm được miền Nam. Vậy thì đưa Quy Ước Quốc Tế Genève về tù binh ra buộc tội VNCH và Tướng Loan rõ ràng chỉ là một công việc thừa thãi, đúng ra là một trò hề! Sau này, tất cả những bộ mặt phản chiến nổi danh tại Hoa Kỳ như nữ tài tử Jane Fonda, và nữ ca sĩ Joan Baez đều đã đấm ngực ăn năn.

Đây là lời thú tội của Jane Fonda: “Tôi xin được nói đôi lời, không phải chỉ gửi đến các cựu chiến binh Việt Nam ở New England, mà đến tất cả những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam. Họ là những người bị tôi gây tổn thương, hoặc bị tôi gây thêm sầu khổ, do những lời tôi đã nói hay những việc tôi đã làm. Tôi cố gắng giúp chấm dứt sự chết chóc và chiến tranh, nhưng có những lúc tôi không chín chắn và thiếu thận trọng khi làm việc đó và tôi... rất hối hận vì đã làm tổn thương họ. Tôi muốn được xin lỗi họ và gia đình họ.”

Nhưng mọi việc đã quá muộn màng. Đời con gái khôn ba năm dại một giờ! Lịch sử đã sang trang. Miền Nam đã hoàn toàn bị nhuộm đỏ! Có hối hận cũng chẳng ích lời gì nữa!

5- Sau cùng, vấn đề còn lại là việc Tướng Loan xử tử Bẩy Lốp có đúng thủ tục pháp lý và nhân đạo hay không?

Lý lẽ quan trọng nhất người ta thường nêu lên để trách cứ Tướng Loan là đã xử tử Nguyễn Văn Lém mà không có án lệnh của toà án.

Không! Người ta đã lầm. Lầm hoàn toàn! Người ta đòi hỏi Nguyễn Văn Lém phải được bắt giữ đúng thủ tục tư pháp? Ai có quyền bắt giữ kẻ phạm pháp? – Đó là Cảnh Sát. Nhưng Cảnh Sát là những người mà Lém đang tìm giết. Chẳng những giết Cảnh Sát mà Lém còn giết cả vợ con, gia đình Cảnh Sát nữa. Lém đâu có cần đến Cảnh Sát! Dù sao, thực tế Nguyễn Văn Lém đã bị Cảnh sát bắt đang lúc quả tang phạm pháp.

Người ta đòi phải đem Nguyễn Văn Lém ra toà án xét xử. Còn toà án đâu mà xử? Toà án cũng như các cơ sở công quyền đều là mục tiêu Lém và các đồng chí của y đang chủ trương đốt phá cho kỳ hết. Thẩm phán là những người Lém đang tìm bắt để chôn sống.

Tất cả miền Nam Việt Nam trong dịp Tết Mậu Thân là một bãi chiến trường khổng lồ mà Bắc Việt đã dựng nên. Trong hoàn cảnh chiến tranh, chết chóc, lửa đạn như vậy mà lại còn đòi hỏi nào là Quy Ước, nào là Cảnh Sát Tư Pháp, nào là Tòa án, nào là Thẩm phán... Tất cả những thứ đó Nguyễn Văn Lém không cần. Điều mà y thực sự cần là chấm dứt tội ác và đền tội.

Nguyễn Văn Lém đã không mặc quân phục, đội nón cối, đi dép râu để giao tranh với quân đội VNCH như các bộ đội Bắc Việt khác. Nguyễn Văn Lém mặc thường phục, đi giết hại, khủng bố đàn bà con nít để bắt họ làm bia đỡ đạn. Bẩy Lốp chẳng những đã không phủ nhận mà còn hãnh diện về các vụ giết và chôn sống đàn bà con nít của y. Hành vi này kết thành tội sát nhân với trường hợp gia trọng, bắt buộc phải bị tử hình.

Phương cách thi hành án tử hình vẫn được áp dụng vào thời đó tại Việt Nam là các tử tội bị trói vào cột và một tiểu đội hành quyết nổ súng. Sau đó, viên tiểu đội trưởng đến gần bắn một phát súng ân huệ vào đầu tử tội để chắc chắn y đã chết. Nguyễn Văn Lém đã bị hành quyết đúng theo thủ tục: Tử tội bị trói đem ra pháp trường và hưởng phát súng hành quyết cũng chính là phát súng ân huệ của Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG.

8. Cuộc Đời Tướng Nguyễn Ngọc Loan

Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan sinh ngày 11-2-1930 tại Huế, tốt nghiệp Khóa 1 Trường Võ Khoa Thủ Đức.

Năm 1953, ông thụ huấn khóa phi công tại Trường Không quân Salon de Provence tại Pháp và tốt nghiệp với bằng Kỹ Sư Hàng Không. Ông là một phi công lái khu trục cơ đầu tiên của Không lực VNCH. Khoảng đầu năm 1960, ông giữ chức Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 2 Quân Sát, đóng tại Nha Trang.

Năm 1964, ông được vinh thăng Đại Tá và giữ chức Tư Lệnh Phó Không Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Trong chiến dịch "Mũi Tên Lửa" (Flamming Dart), ngày 11-2-1965, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đã dẫn đầu những phi đoàn Bắc phạt A1 Skyraider vượt qua vĩ tuyến 17 bắn phá miền Bắc Việt Nam.

Ngay sau chiến dịch này ông được bổ về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Giám đốc Nha An Ninh Quân đội, phụ trách Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

Kể từ ngày về chỉ huy ngành CSQG, các báo chí Saigon được gần gũi với Đại Tá Loan hơn và đã đặt cho ông hỗn danh là “Sáu Lèo”. Tác giả Phan Lạc Phước đã giải thích ý nghĩa hỗn danh “Sáu Lèo” như sau:

“Sáu ở đây là quan Sáu theo danh xưng bình dân thời Pháp gọi các quan võ, mỗi một vạch trên vai là một cấp bậc (thiếu úy vạch một vạch là ông một, trung úy vạch hai vạch là ông hai…). Nhưng sau chữ Sáu của ông Loan còn thêm tĩnh từ Lèo. Không biết nó xuất xứ từ đâu, nhưng khi nó đi vào ngôn ngữ dân gian thì nó mang một ý niệm bỉ thử, dèm pha, tiêu cực. Tiền lèo là tiền vô giá trị, hay là tiền chỉ có trong tưởng tượng. Hứa lèo là hứa xuông, hứa hão, hứa mà không thực hiện bao giờ. Vậy Sáu Lèo có nghĩa là một ông quan vô giá trị hay là một ông tướng hữu danh vô thực hay sao? Sở dĩ cái danh xưng này đứng vững, một phần là vì cái bề ngoài luộm thuộm của ông Loan. Ông rất ít khi mặc quân phục, mũ mãng cân đai, nghênh ngang giàn giá. Ông thường mặc quần Trây-di xộc xệch, không đeo lon lá gì, chân đi dép cao su lẹp xẹp. Ra ngoài thì ông ngồi xe jeep bình thường, không có mang cờ quạt, mà cũng không có xe mở đường, mô tô bảo vệ. Ông nhiều khi còn cỡi xe mobilet lạch xạch đi làm. Có khi ông còn một tay cầm chai lade, vừa chửi thề loạn xạ. Bề ngoài của ông tướng Loan đúng là xập xệ, là lèo, nhưng việc làm của ông thì lại không lèo một chút nào… Ông hành động theo những điều mà riêng ông cho là phải. Ông là người bất quy tắc (non conformist) cho nên ông được gọi là Sáu Lèo.”

Cách giải thích của tác giả Phan Lạc Phước khá lý thú. Tuy nhiên, chữ “Lèo” ngoài ý nghĩa khôi hài châm biếm như trên, còn có thể mang thêm một ý nghĩa khác đứng đắn và cũng hợp với hoàn cảnh Tướng Loan. “Lèo” thường đi chung với chữ “Lái”: Lèo Lái. Từ sau cuộc đảo chánh 1963, các nhân viên ngành CSQG bị gán tiếng là thân cận với chế độ Ngô Đình Diệm, nên bị bạc đãi và mất tinh thần, nhưng khi Tướng Loan về lèo lái con thuyền Cảnh Sát thì tất cả đều đổi mới, bóng tối tự ti mặc cảm biến mất, ánh sáng bình minh ló dạng và mọi người hăng hái ra khơi. Lúc đó, ngành Cảnh Sát có 70.000 nhân viên, chỉ chuyên chú về việc bảo vệ luật lệ. Đại Tá Loan đã quân sự hóa ngành Cảnh Sát để trở thành một lực lượng bán quân sự, vừa bảo vệ trật tự dân chúng vừa hành quân võ trang chống Cộng Sản với lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến. Thành quả đáng tuyên dương là chính lực lượng Cảnh Sát đã chống trả cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân ngay từ giây phút đầu tiên, để rồi sau đó, các quân binh chủng khác mới tập trung tiếp sức.

Năm 1966, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan được chính quyền Saigon cử ra miền Trung bình định vụ biến động Phật Giáo miền Trung. Với thành quả rất mạo hiểm và xuất sắc này, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng vào tháng 11-1967.

Sau Tết Mậu Thân năm 1968, ông được thăng cấp Thiếu Tướng.

Tác giả Phạm Phong Dinh trong cuốn “CHIẾN SỬ Quân Lực VNCH” đã viết rằng: “Cống hiến lớn nhất của Thiếu Tướng Loan mà cũng là mối oan khiên mà ông phải gánh chịu nhục nhằn trong vòng mấy chục năm là cuộc chiến đấu trong những ngày Mậu Thân binh lửa…

“Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan cùng lực lượng CSQG và Cảnh Sát Dã Chiến chịu trách nhiệm đánh địch tại lãnh thổ các quận 1, 2, 3, 4, 5. Các chiến sĩ Cảnh Sát liên tục mở những cuộc hành quân loại địch ra khỏi dân chúng. Tuy nhiên, khi mặt trận Hàng Xanh nổ lớn, Thiếu Tướng Loan đã điều động lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến và đích thân ông chiến đấu sát cánh với các chiến sĩ Mũ Nâu Tiểu Đoàn 30 BĐQ của Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân. Các thám thính xa V100 của Cảnh Sát cũng được gửi tới tăng viện mặt trận. Quân ta tiến vất vả và chậm trên khắp mặt trận, là bởi vì bọn Việt Cộng man rợ, chúng lùa thường dân, đàn bà, người già và trẻ em làm bia đỡ đạn hoặc dùng súng bắn chặn không cho dân chúng di tản ra khỏi khu vực giao tranh. Các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia và Cảnh Sát Dã Chiến được Thiếu Tướng Loan điều động đến càn quét khu vực Thị Nghè. Gia đình của một Đại Úy Cảnh Sát trong khu vực này không chạy kịp đã bị tên Bảy Lốp, Đại Úy Đặc Công Việt Cộng tàn sát man rợ.”

Cựu Đại Tá Trần Minh Công, trước khi giữ chức Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, đã có thời làm việc sát cánh bên Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Hồi Tết Mậu Thân, ông giữ chức Trưởng Ty CSQG Quận Nhì Đô Thành Saigon. Nhờ mặc chiếc áo giáp nên ông đã thoát chết, vì đạn Việt Cộng đã bắn nát áo ông.

Đại Tá Công đã khẳng định rằng: “Tướng Nguyễn Ngọc Loan là một vị Tướng trí thức trong hàng ngũ tướng lãnh VNCH. Tướng Loan là một người rất can đảm, một cấp chỉ huy tài ba và là một vị anh hùng dân tộc. Ít có vị tướng nào lại cùng cầm súng chiến đấu ngoài mặt trận như một người lính thường. Nếu không có Tướng Loan xông pha bảo vệ Thủ đô Saigon trong dịp Tết Mậu Thân, tôi nghĩ Saigon sẽ tan hoang không khác gì Huế.”

Chỉ bốn tháng sau, tức ngày 5-5-1968, Bắc Việt lại mở cuộc tổng công kích lần thứ hai. Lần này, Tướng Loan cùng với lực lượng Cảnh Sát can đảm của ông ngày đêm xông xáo chiến đấu ngoài đường phố Saigon. Ông bị địch quân bắn trọng thương vào cả hai chân trên cầu Phan Thanh Giản. Một ký giả người Úc nhìn thấy và đã khẩn cấp dìu ông vào chỗ an toàn. Định mệnh thật lạ kỳ: Một ký giả Mỹ đã hủy diệt danh tiếng Tướng Loan thì một ký giả Úc đã cứu sống ông.

Sau đó, Tướng Loan được chở sang Úc chữa trị, nhưng vì bị công luận Úc phản đối, nên ông lại được chở sang bệnh viện Walter Reed Army Medical Center ở Washington, DC., Hoa Kỳ. Nhưng thật đau đớn cho Tướng Loan, các dân biểu phản chiến tại Quốc Hội Hoa Kỳ vào lúc đó cũng phản đối. Trở về Sàigòn với đôi chân tật nguyền khập khiễng, Tướng Loan được giải ngũ và dành thì giờ vào các công tác thiện nguyện giúp trẻ mồ côi.

Ngày 3-6-1968, 6 sĩ quan ưu tú của quân lực VNCH mà phân nửa là CSQG đã bị trực thăng Mỹ “bắn lầm” (?) tại một cao ốc ở Chợ Lớn trong cuộc hành quân đánh đuổi Cộng Sản. Người ta nói rằng nếu Tướng Loan không bị thương thì có lẽ cũng đã bị chết với bộ tham mưu hành quân này.

Năm 1975, miền Nam sụp đổ, máy bay của Hoa Kỳ không đưa Tướng Loan và gia đình ông di tản, nhưng các chiến hữu không quân của ông đã cứu ông.

Khi Tướng Loan đến Hoa Kỳ, nữ Dân Biểu Nữu Ước Elizabeth Holtzman yêu cầu trục xuất ông và cả Sở Di Trú và Nhập Tịch Hoa Kỳ cũng đồng quan điểm. Nhưng quyết định trục xuất Tướng Loan về Việt Nam có nghĩa tương đương với bản án tử hình dành cho ông. Vì thế, chính Tổng Thống Jimmy Carter đã phải can thiệp và quyết định cho phép ông được định cư tại Hoa Kỳ.

Tướng Loan và gia đình đến lập nghiệp ở thành phố Springfield, Tiểu Bang Virginia, Hoa Kỳ. Ông mở một tiệm bán pizza mang tên Pháp là “Les Trois Continents” (Ba Đại Lục). Đã có lần, Eddie Adams đến tiệm pizza này thăm Tướng Loan. Khi nhắc đến tấm hình oan nghiệt năm xưa, Tướng Loan không hề nói một lời oán trách tác giả tấm hình. Ông còn yên ủi Adams: “Ông làm nhiệm vụ của ông, tôi làm nhiệm vụ của tôi. Chỉ có thế thôi!” Chính vì câu nói này, Adams càng thêm mến phục Tướng Loan và họ đã trở thành đôi bạn tri kỷ.

Trong một dịp có vài chiến hữu cũ đến thăm Tướng Loan tại quán ăn, bên những ly rượu hội ngộ, Thiếu Tướng Loan đã rưng rưng nước mắt thổ lộ hoài bão:

"Nếu cơ may một ngày nào đó tụi mình trở về, thì lúc đó tụi mình đều là nghĩa quân cả. Không Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Bộ Binh, Lực Lượng Đặc Biệt gì cả. Tụi mình chỉ là nghĩa quân. Nghĩa quân đây là nghĩa quân của thời Lê Lợi khởi nghĩa, của thời Cần Vương chống giặc ngoại xâm. Chỉ có đám quân đội của tụi mình mới có thể nói chuyện "phải quấy" với đám quân đội phía bên kia, vì hồi còn đánh nhau, hai bên đều bị bịt mắt cả".

Đến năm 1991, tướng Loan phải đóng cửa tiệm pizza này, vì dân chúng địa phương đã nhận diện được ông. Có kẻ đã vào nhà vệ sinh của tiệm và viết lên tường câu khiếm nhã này bằng Anh ngữ: “Chúng tao đã biết mày là ai.”

Nhận xét về cá tính của Tướng Loan, cựu Đại Tá Trần Minh Công nhận định như sau: “Nhìn phong cách và diện mạo của Tướng Loan, nhiều người cứ tưởng lầm ông là một bạo tướng, nhưng nhiều lần tôi đã từng chứng kiến ông ngồi khóc một mình. Tìm hiểu ra mới biết ông là người rất giầu tình cảm. Ông thương yêu thuộc cấp, sống chết với họ. Kể cả khi ông bắt gặp đàn em làm bậy, ông cũng không nỡ phạt họ, mà chỉ răn đe để họ cải sửa. Mỗi khi thuộc cấp hy sinh tử trận, ông khóc thương, nước mắt dầm dề. Có khi thượng cấp hiểu lầm ông, ông cũng khóc. Ông kể lể: ‘Tao phục vụ quốc gia, dân tộc, chứ tao đâu có phục cá nhân nào.’”

Ngay khi còn ở Việt Nam vào lúc nắm giữ quyền uy trong tay, gia đình Tướng Nguyễn Ngọc Loan vẫn sống rất thanh bạch. Tiền lương đem về hôm trước, hôm sau ông lại lấy đi để giúp đỡ thuộc cấp. Khi bị thương, phải đi ngoại quốc chữa trị, ông không đủ tiền. Thuộc cấp xin đóng góp, nhưng ông không nhận.

Trong cuốn “Bốn Tướng Ðà Lạt” của Lê Tử Hùng có kể lại vụ Tướng Nguyễn Ngọc Loan trả lại chiếc nhẫn kim cương cho một Hoa kiều giầu có, tên là Hoa Hồng Hỏa. Ông này là một trong những thương gia gốc Hoa lương thiện, nhưng đã trở thành nạn nhân của các tướng lãnh sau cuộc đảo chánh 1963. Ông ta bị vu oan để rồi chiếc biệt thự của ông ở Ðà Lạt bị một ông tướng chiếm. Tới thời Tướng Loan chỉ huy ngành CSQG, họ Hoa mới được minh oan và tiếp tục làm ăn. Khi ông Loan gặp hoạn nạn, phải ra ngoại quốc chữa chân, Hoa Hồng Hỏa biết ông là người thanh liêm, gia cảnh thanh bạch, lại không có thân nhân ở ngoại quốc, nên đã trả ơn Tướng Loan bằng cách tặng ông một cái nhẫn kim cương. Sau này ông Hoả kể lại rằng ông không biết Tướng Loan phải chữa trị bao lâu và cuộc sống ở ngoại quốc khó khăn ra sao, nhưng ngày trở về Việt Nam, Tướng Loan đã đem trả lại chiếc nhẫn cho chủ nó. Vợ chồng Hoa Hồng Hỏa đã lạy khóc và ca tụng Tướng Loan là bậc “Thánh”!...

9. Dòng Lệ Tiếc Thương


Linh cữu Cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan

Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã qua đời lúc 20 giờ ngày 14-07-1998 vì bệnh ung thư, thọ 68 tuổi. Ông để lại vợ, bà Mai Chính, 5 người con và 9 cháu nội ngoại.

Ngay sau khi nhận được tin này, Eddie Addams đã viết ra bản điếu văn bằng nước mắt ngập tràn và từ con tim vỡ nát vì hối hận. Tuần báo TIME đã đăng tải bài điếu văn này ngay trong số phát hành ngày 27-07-1998.

"Tôi đoạt giải Pulitzer trong năm 1969 nhờ tấm ảnh chụp một người bắn vào một người khác. Trong tấm ảnh đó có đến hai người chết: Người nhận lãnh viên đạn và Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Ông Tướng đã giết chết tên Việt Cộng, nhưng tôi giết ông Tướng bằng cái máy ảnh của tôi. Những tấm ảnh vốn vẫn là những thứ vũ khí kinh khủng trên thế giới. Người ta tin tưởng vào chúng, nhưng những tấm ảnh đó cũng có thể nói láo, thậm chí không cần phải ngụy tạo. Chúng chỉ nói lên được có phân nửa của sự thật. Những gì mà tấm ảnh này chưa nói lên được là: "Người ta sẽ hành động ra sao nếu họ ở vào vị trí của ông Tướng, vào cái thời điểm và nơi chốn của một ngày nóng bức, khi người ta vừa bắt được một tên gọi là ác ôn mà trước đó hắn đã bắn chết một, hai hay ba người lính Mỹ?

“Tướng Loan là một mẫu người có thể được gọi là chiến binh đúng nghĩa và được thuộc cấp kính trọng. Tôi không nói rằng những gì ông Tướng đã làm là đúng, nhưng người ta phải tự đặt mình vào vị trí của ông. Tấm ảnh không hề diễn tả được rằng ông Tướng đã tận tụy dành nhiều thời gian đến các bệnh viện để thăm hỏi những nạn nhân chiến cuộc. Tấm ảnh này đã thực sự làm đảo lộn cuộc đời ông. Ông chẳng hề phiền trách gì tôi. Ông nói với tôi rằng: Nếu tôi không chụp tấm ảnh, thì sẽ có người khác làm việc đó, nhưng tôi vẫn cảm thấy bứt rứt xốn xang về ông và gia đình ông trong một thời gian dài. Tôi vẫn thường liên lạc với ông, lần cuối cùng mà chúng tôi nói chuyện với nhau đã xảy ra hồi sáu tháng trước, vào lúc ông đã bị bệnh rất nặng.”

Trong lúc các bạn hữu, các tổ chức người Việt tỵ nạn còn phải đắn đo, suy nghĩ, họp bàn về việc có nên đăng báo phân ưu và gửi vòng hoa đến phúng điếu cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan hay không thì Eddie Adams đã mau mắn gửi một vòng hoa lớn nhất đến phân ưu Tướng Loan với hàng chữ:

"Kính thưa ông Tướng, Lệ đã tràn đầy trong mắt tôi".

Dưới đây là bản dịch nguyên văn những lời nói của chính Eddie Adams, phát ra từ đáy con tim, với những cảm xúc ân hận vì đã chụp tấm hình oan nghiệt, làm hại đời của Tướng Loan:

“Trong đời tôi, bức hình này đã gây ra bao nhiêu lời chỉ trích. Bức hình đã làm tôi đau đớn. Tôi đã bắt đầu nghe được điều này ngay khi bức hình được tung ra. Như quý vị đã biết: Nó đã gây nên những cuộc biểu tình vào năm 1968 và đã tạo ra sự giận dữ và phẫn nộ tại Hoa Kỳ.

“Tôi không hiểu được điều này và cho tới giờ này tôi cũng vẫn không hiểu được, vì trong thời chiến, con người ta chết vì chiến tranh. Và điều mà tôi đã hỏi nhiều người rằng nếu quý vị là ông Tướng đó và nếu quý vị bắt được kẻ đã giết hại dân chúng của quý vị thì quý vị sẽ làm sao? Đây là thời chiến mà!
“Làm sao mà biết được nếu chính quý vị gặp hoàn cảnh này mà lại không bóp cò súng?

“Bởi vậy tấm hình này đã nói dối, đưa đến việc người ta kết án ông Tướng. Ông là một vị Tướng, nhưng thực ra, lúc đó ông là Đại Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát QGVN. Ông đã tốt nghiệp trường chỉ huy tại Hoa Kỳ. Ông là người đậu thủ khoa. Tôi hiểu ông và kính phục ông. Tôi nghĩ rằng đã có hai người chết trong bức hình của tôi: Không phải chỉ người bị bắn, mà cả chính ông Tướng bắn nữa.

“Bức hình đã hủy diệt cuộc đời ông và tôi không hề có ý như vậy. Ý của tôi là chỉ muốn trình bày việc gì đã xảy ra. Sự thực là tôi không muốn gánh trách nhiệm là kẻ đã hủy diệt đời sống của bất cứ ai cả.”

Eddie Adams đã đến tham dự đám tang của Tướng Loan và nói rằng: “Tướng Nguyễn Ngọc Loan là một anh hùng. Cả nước Mỹ nên khóc thương ông. Tôi không thích ông ra đi lặng lẽ theo cách này, để không ai biết đến”.

Sáu năm sau đó, vào ngày 12-9-2004, Eddie Adams cũng qua đời. Hưởng thọ 71 tuổi.

10. KẾT LUẬN

Kẻ chiến thắng, uống mãi ly rượu mừng rồi cũng có ngày say sưa bất tỉnh.

Người bại trận, nhấp mãi chén đau thương rồi cũng có ngày tỉnh giấc vùng lên.

Không phải tất cả những kẻ chiến thắng đều là đúng đắn, giỏi giang hay ái quốc.

Cũng không phải tất cả những người bại trận đều là sai lầm, dốt nát hay phản quốc.

Đã trên 30 năm qua, đây là lúc phải trả lại sự thực cho lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Sự thực của lịch sử là gì?

Sự thực không thể chối cãi là: Trong cuộc chiến Việt Nam, kẻ chiến thắng không phải do tài ba của mình, người bại trận không phải do yếu kém của mình. Kẻ thắng không ngờ mình thắng, người thua không hiểu tại sao mình thua. Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh? Anh và tôi, tất cả chúng ta chỉ là những con tốt thí trên bàn cờ quốc tế. Tất cả chiến thắng hay thất bại trong cuộc chiến Việt Nam đều do bàn tay phù thủy, lông lá của ngoại bang vẽ ra.

Bởi vậy, đây là lúc phải xét định công tội cả bên thắng cũng như bên thua bằng tinh thần ái quốc đối với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam.

Cuộc chiến Việt Nam không phải bẩn thỉu như người ta nghĩ đâu, vì đó là một trận thư hùng giữa Tự Do và Độc Tài, giữa Hữu Thần và Vô Thần, giữa Quốc Gia và Cộng Sản.

Phản chiến Hoa Kỳ lên án Tướng Loan bắn Cộng Sản là lạc hậu. Thế thì khi Tướng Loan bị thương, được đem đến nhà thương bên Úc, người ta từ chối không chịu chữa. Đó là văn minh chăng? Người ta lén lút vào nhà vệ sinh thuộc cơ sở làm ăn của Tướng Loan viết những câu hăm dọa, tục tĩu. Đó là văn minh chăng?

Phản chiến Hoa Kỳ rầm rộ biểu tình chống chiến tranh Việt Nam vì bức hình Tướng Loan bắn Việt Cộng ngay tại chiến trường mà họ gọi là "tù binh", trong khi họ lại yên lặng khi các quân nhân Hoa Kỳ lột trần truồng tù binh Iraq để làm trò giải trí, khi các tù binh Iraq bị xích như những con chó bò lê lết trên sàn nhà?

Trong vụ tấn công Tết Mậu Thân, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Saigon và Tướng Loan đều có cùng một chủ trương là những kẻ chủ mưu cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân phải trả giá ngay tức khắc tại phạm trường, không để sống sót bất cứ một tên nào, nhưng Tướng Loan đã áp dụng theo cách thế “ngạo nghễ” của riêng ông, hoàn toàn khác với phương pháp âm thầm kín đáo của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. 19 đặc công đánh vào Tòa Đại Sứ Mỹ, không ai bị bắt, không ai bị thương, tất cả đều chết.

Tại sao chúng ta lại buồn phiền, xấu hổ, mang tự ti mặc cảm, khi đám phản chiến Hoa Kỳ gọi Tổng Giám Đốc CSQG/ VNCH là “bạo tướng”, trong khi chính họ gọi Tổng Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld và bà Ngoại Trưởng Condoleezza Rice ngày 4-5-2006 tại Atlanta là những “tội phạm chiến tranh”? Nếu đã là “tội phạm chiến tranh” thì phải lãnh hình phạt tử hình, chứ không thể ngồi điều khiển Ngũ Giác Đài và Bộ Ngoại Giao của siêu cường quốc Hoa Kỳ được.

Trong suốt cuộc đời, Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã chịu bao nhiêu oan khiên, nghiệt ngã: Phật Giáo ghét ông vì vụ Bàn Thờ Phật xuống đường. Công Giáo ghét ông vì ông bắt tên cán bộ Cộng Sản nằm vùng Phạm Ngọc Thảo, tự nhận là “con nuôi ông Diệm” ẩn núp tại một giáo xứ ở Hố Nai. Sinh viên tranh đấu ghét ông vì ông dẹp họ biểu tình. Tổ chức phản chiến trên thế giới ghét ông vì ông bắt kẻ sát nhân phải đền tội ngay tức khắc tại phạm trường.

Nhưng bây giờ lịch sử đã chứng minh: Tất cả những kẻ ghét ông đã sai, và ông đã hành xử đúng.

Tướng Loan đã đem sinh mạng và tất cả danh dự đời ông để bảo vệ đời sống của dân lành. Ông gieo rắc bình an cho dân chúng ở Saigon, Đà Nẵng, Nha Trang… và tất cả những nơi ông đặt chân đến.

Cầu mong Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan được an nghỉ bình yên trong Ánh Hào Quang Rạng Ngời, với lòng cảm mến, kính phục và biết ơn của tất cả những người Việt quốc gia.

Tiến Sĩ TRẦN AN BÀI
Nguyên Giảng Sư Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia

CHÚ THÍCH

1. Tet Offensive, Wikipedia Website
2. - Don North, “VC Assault on the U.S. Embassy”, Website
- Charles B. MacDonald, “Communist thrust-the Tet Offensive of 1968” – “The Vietnam War”, 1980, trang 150
3. “A Famous Photograph”, New England Republican, Feb. 17, 2005.
4. Trích bài viết “Tưởng Niệm Sáu Lèo” của Lão Ngoan Đồng.
5. Trích trong bài “Về Một Sự Kiện Trong Tết Mậu Thân”, đăng trên báo Người Việt ngày 14-8-1993 và Đặc San Phượng Hoàng của Hội Ái Hữu Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Bắc Cali, năm 2005. Nhân chứng Nguyễn Tường Toại sau này gia nhập quân đội VNCH, cấp bậc Thiếu Úy, phục vụ tại Sư Đoàn 23.
6. Charles B. MacDonald, “The Vietnam War”, Fourth impression 1980, trang 150.
7. Sau năm 1968 là các năm 1969, 1985, 2007, 2030, 2053... Tết Việt Nam sẽ sớm hơn Tết Trung Hoa một ngày.
8. “The Vietnam War”, Fourth impression 1980, trang 150
9. The Vietnam War, A Salamander Book, 4th impression 1980, trang 151
10. Vy Thanh, “Lớn Lên Với Đất Nước”, trang 290
11. “A Famous Photograph”, New England Republican, Feb. 17, 2005.
12. Myrna Oliver, Los Angeles Times, Sept. 20, 2004.
13. New York Times, “Execution”, July 16, 1998.
14. “A Famous Photograph”, New England Republican, Feb. 17, 2005.
15. Như trên.
15. Như trên.
17. Duncan Currie, Weekly Standard.com
18. Eddie Adams, “The Pictures That Burn in My Memory”, Press Telegram Parade Newspaper, May 15, 1983.
19. Myrna Oliver, Los Angeles Times, Sept. 20, 2004.
20. Duncan Currie, Weekly Standard.com
21. Myrna Oliver, Los Angeles Times, Sept. 20, 2004.
22. Trích bài “Tưởng Niệm Sáu Lèo” của Lão Ngoan Đồng
23. Peter Arnett, "Move to Eject Viet Raises Storm." The Capital Times, Nov. 2, 1978.
24. Stanley Karnow, "Vietnam - A History" (New York: The Viking Press, 1983), p. 545
25. Peter H. Rohn, “World Treaty Index”, 2nd Edition 1983
26. Encarta, Online Encyclopedia 2006
27. Geneva Conventions, MSN Encarta, Website.
28. Encyclopedia Americana, 2003, trang 625
29. Trích cuộc phỏng vấn của bà Barbara Walters trong chương trình 20/20 năm 1988.
30. Trích trong bài “Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Con Sói Già Cô Đơn”, phần tài liệu của Take2Tango.com
31. “A Famous Photograph”, New England Republican, Feb. 17, 2005.
32. New York Times, “Execution”, July 16, 1998.
33. Duncan Curie, “Photographs Do Lie”, Website.
34. - Myrna Oliver, Los Angeles Times, Sept. 20, 2004.
- Christopher Reed, The Guardian, Sept. 22, 2004.
35. Phạm Ngọc Dinh, “Một Đời Tận Tụy Với Nước Non - Nguyễn Ngọc Loan”, Chiến Sử QLVNCH
36. New York Times, “Execution”, July 16, 1998.
37. Trích bài viết “Tưởng Niệm Sáu Lèo” của Lão Ngoan Đồng.
38. Bản dịch của Phạm Phong Dinh.
39. Duncan Currie, Weekly Standard.com
40. Tết Mậu Thân, ông đã là Chuẩn Tướng, nhưng cấp bậc này không có trong quân lực Hoa Kỳ.
41. Voice Autobiography of Execution by Photographer Eddie Adams, Wikipedia.
42. “There are Tears in My Eyes”, CNN, Aug. 26, 1999


http://saigonecho.com/main/lichsuvn/chientranhvn/cacnhanvat/22316-u-triu--1910.html