We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 29 April 2011

36 Năm Sau Nhìn Lại





Cuộc tranh đấu, chiến đấu của người dân ở Bắc Phi và Trung Đông để lật đổ chế độ độc tài đã phát triển từ điểm sang diện và từ phẩm sang lượng, trở thành cuộc cách mạng quốc gia, phong trào nhân dân lan toả, một qui trình không thể ngăn cản được. Công cuộc tranh đấu, chiến đấu này, người dân Việt Nam ở Đông Nam Á đã làm, đã chiến đấu chống độc tài Cộng sản gần 20 năm ở nước nhà VN và tiếp tục đấu tranh chống CS ở hải ngoại 36 năm, mà 30-4-2011 này là ngày Quốc Hận thứ 36, người Việt hải ngoại đại đa số đang chuẩn bị làm kễ tưởng niệm, một lễ chánh trị lớn nhứt trong năm.

Chánh nghĩa chống độc tài của người Việt Quốc gia ngày càng sáng tỏ. Những ý đồ lẻ tẻ chủ trương không gọi ngày 30-4-1975 là ngày Quốc Hận, mà gọi là Ngày Tự Do của nhóm Hoà Giải, Hoà Hợp, Ngày Thống Nhứt của CS Hà nội bị người Việt hải ngoại đại đa số là quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà và gia đình cùng hậu duệ bác bỏ, tịt ngòi luôn.
Với độ lùi thời gian khá đủ, hồ sơ giải mật nhiều, nhiều nghiên cứu của các đại học vô tư, lịch sử đã trả lại chân lý Chiến tranh Việt Nam, chánh nghĩa mà mấy thế hệ người Việt hy sinh những ngày hoa mộng để vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa chiến đấu chống lại làn sóng xâm lược của CS.
Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại sau khi Mỹ “Việt Nam hóa chiến tranh”. Việt Nam Cộng Hòa tồn tại sau khi Mỹ ký Hiệp định Paris năm 1972 dù hiệp định này mặc thị cho quân Bắc Việt xâm nhập ở lại Miền Nam mà quân Mỹ rút hết trọi. Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại đến 30-4-1975. Nói chung kể ra quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã “chì” lắm rồi. Có nhiều nghiên cứu của Mỹ so sánh nếu quân lực Mỹ bị cúp xăng dầu, đạn được, máy bay như Quân Lực VNCH thì, quân lực chỉ chịu nổi 3 tháng, chớ không phải 3 năm như quân lực VNCH.
Mầm móng thất bại đã có ở Mỹ, thất bại ngay tại Mỹ, ngay ở đồi Capitol đã thấy rõ trong cuộc nói chuyện mật của mấy đời tổng thống Mỹ dính vào Chiến Tranh Việt Nam. Những băng ghi âm được giải mật gần đây cho thấy Chiến tranh Việt Nam là chuyện bất đắc dĩ của hầu hết mấy đời tổng thống Mỹ Dân Chủ lẫn Cộng hòa. Thử hỏi một cuộc chiến mà người đồng minh chánh yếu lại tham chiến bất đắc dĩ, chưa đánh đã muốn đàm, mới vào đã tính rút như vậy, dù chánh quyền và nhân dân Việt Nam có Trần Hưng Đạo tái thế cũng không thắng nổi, chớ đừng nói TT Ngô đình Diệm hay Nguyễn văn Thiệu.
Một đồng minh bất đắc dĩ như vậy mà lại muốn làm thay nghĩ thế cho quân dân Việt Nam Cộng hòa, giành vai trò lãnh đạo chỉ huy bằng áp lực đồng tiền viện trợ, bằng cách mua chuộc lũng đoạn nội bộ bạn, tiếp tay cho phe này đánh phá, lật đổ phe kia, thử hỏi bạn còn sức đâu, còn tinh thần đâu mà chống CS trên nguyên tắc là kẻ thù chung của Việt Mỹ.
Cuộc họp xét lại Chiến tranh Việt Nam ở Lubbock, Texas mới đây cho thấy một sự thật làm nỗi buồn nhược tiểu, nỗi nhục da vàng Việt Nam thêm thấm thía. Cuộc thảo luận của Cố vấn Kissinger với TT Nixon, hai người ở trong phòng lạnh huy hoàng, tưởng mình là người ăn học cao, làm chánh trị giỏi, thông kim quán cỗ, quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam để tạo điều kiện cho TT Nixon đắc cử. Hai người chân chưa đụng bùn lầy chiến trường Việt Nam, chưa nhỏ một giọt máu, một giọt nước mắt, một giọt mồ hôi trong Chiến tranh Việt Nam như mấy chục triệu quân dân cán chính VNCH và gần một triệu quân nhân Mỹ mà đi quyết định cho số phận những người trong cuộc. Mà quyết định vì quyền lợi ứng cử của riêng mình, mới độc địa làm sao ấy. Đau thương nhứt là Cố vấn Kissinger đánh giá 2 năm sau việt nam hóa chiến tranh coi như Việt Nam CH bị xóa số, đi vào dĩ vãng, với cách nói và giọng nói vô cảm, vô tình nghĩa, và vô tội vạ không thể tưởng tượng được ở một người có ăn học.
Và phóng lao phải theo lao, Nixon và Kissinger tìm cách bóp méo sự thật về Việt Nam CH để hậu thế không đổ tội phản bội đồng minh, hại bạn chiến đấu. Kissinger vua đi đêm, vua xì tin tạo điều kiện hạ thể dân quân Việt Nam CH. Thời đó cứ mở báo Mỹ ra xem tin thì thấy tướng tá tham nhũng, lính tráng Việt Nam đào ngũ, sinh viên biểu tình, ký giả đi ăn mày, âm mưu đảo chánh, tướng này đánh tướng kia. Bình luận thì chê Chiến tranh Việt Nam sai lầm, làm quân nhân Mỹ bị “hội chứng”, kinh tế Mỹ bị suy thoái, xã hội Mỹ bị phân hóa, chánh trị Mỹ bị chia rẽ. Dân chúng bị phản chiến hóa bằng truyền thông đại chúng, lần lượt ảnh hưởng Quốc Hội. Quốc hội trói tay Hành Pháp, cắt viện trợ cho Việt Nam, buộc quân đội Mỹ rút quân như thua trận lần đầu tiên trong quân sử Mỹ. Sau đó hủy bỏ định chế quân dịch đã có từ lâu ở Mỹ. Một cuộc chiến mà một ngày tốn hàng tỷ, giờ chót Quốc Hội Mỹ chỉ viện trợ 1 tỷ cho nguyên cả năm, rồi sau đó cắt thêm 300 triệu nữa thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa coi đã trắng tay. CS Bắc Việt được thế đổ xô vào Miền Nam, Việt Nam Cộng hòa kêu cứu, Mỹ đánh chữ làm thinh, bất động như đồng lõa. Sau cùng Chiến tranh Việt Nam phải kết thúc, CS Hà nội tóm thâu cả Miền Nam.
Để chống đỡ búa rìu dư luận về tội phản bội đồng minh, nhận định sai lầm tình thế và muốn làm thay nghĩ thế cho người trong cuộc, Nixon, Kissinger ngoài việc đổ tội cho Quốc hội, cho Phản Chiến còn đưa ra lập luận bỏ Việt Nam là bắt con tép để nhữ con tôm Trung Cộng, phá vỡ hệ thống CS quốc tế, làm cho Liên xô và Đông Âu sụp đổ. Biện luận đó hiện giờ vẫn còn trong giới chánh trị khuynh tả và phản chiến. Nhưng không thuyết phục trước những sự thật, Phi luật Tân không tin Mỹ, đuổi Mỹ ra khỏi nước, chỉ mới cho Mỹ đổ quân lại thời TT Bush chống khủng bố. Đại Hàn cũng thế tự rèn cán chỉnh quân, tự tạo nội lực, phong trào quốc gia vươn lên thường biểu tình đuổi Mỹ. Và hầu hết những nhà phân tích chánh trị quốc tế đồng ý với nhau rằng Liên xô sụp vì đột quị kinh tế do chạy đua võ trang với Mỹ, chớ không phải do Mỹ đi được với TC.
Sự thật vẫn là sự thật; chân lý lịch sử dù Thượng Đế cũng không đổi được. Một thời gian sau Mỹ hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam, trong khi Chiến tranh Việt Nam còn tiếp diễn, chính Đại sứ Mỹ Martin về tường trình quân đội Việt Nam CH chưa bao giờ giữ vững an ninh lãnh thổ, chánh trị Việt Nam chưa bao giờ ổn định hơn lúc bấy giờ, nhờ tự quyết và tự chủ. Và 30 năm sau, tại Texas, Viện Lubbock, những học giả và sử gia ngồi lại tái thẫm định, trả chân lý, trả chánh nghĩa lại cho Chiến tranh Việt Nam, cho Việt Nam CH và cho Quân lực VNCH.
Người Việt bây giờ đã có gần 1 triệu rưởi người là công dân Mỹ không cần, không buồn trách móc mấy ông học cao, làm chánh trị cao Mỹ đã đưa đẩy nước Mỹ phản bội đồng minh, bóp mũi cho VNCH chết vì cái đó đã đi vào quá khứ rồi. Điều quan trọng là người sau không phạm sai lầm trước nữa. Điều quan trong là biết sử dụng chân lý, kinh nghiệm trong Chiến tranh Việt Nam cho tương lai. Chiến tranh Iraq, Afghanistan rất cần những kinh nghiệm ấy để Mỹ đừng mang tiếng phản bội đồng minh, bỏ nhân dân, chánh quyền, và quân đội Iraq, Afghanistan, Do thái thân cô thế cô giữa biển hận thù Hồi giáo cực đoan. Và người Mỹ gốc Việt cũng cần rút kinh nghiệm để ứng phó thích hợp và đúng đắn trong công cuộc quốc tế vận đối với Mỹ trong sự nghiệp đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN./.



http://mylinhng.wordpress.com/2011/04/17/36-nam-sau-nhin-l%E1%BA%A1i/

“Đ M Cho Tao Chửi Mày Một Tiếng”

Tôi có người bạn tù ở chung trại tù VC ở Hoàng Liên Sơn là anh Nguyễn Đức Trạch. Bạn ta là con của bà nhà văn Tùng Long, anh của nhà văn LS.Nguyễn Đức Lập. Là một cựu sĩ quan Quân Báo của QLVNCH nhưng anh ta rất hiền lành. Ít ai ngờ anh ta lại là nhà thơ Trạch Gầm, tác giả bài thơ “Đ M .Cho Tao Chửi Mày Một Tiếng” có nội dung như sau:


“Đ M, cho tao chửi mày một tiếng
Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng
Đảng của Mầy, chết mẹ… đảng tào lao.
Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng
Cầm súng làm gì chẳng lẽ hiếp dân
Tao không tin lính lại hèn đến thế
Lại rụng rời… trước ách ngoại xâm.
Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngõ
Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
Mội liền răng à thì ra vậy đó
Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh.
Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu
Thân phận mầy cũng là Lê là Nguyễn
Hà cớ gì… mầy hèn đến thế sao.
Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến
Mấy chết rồi, tao nghĩ chẳng đất chôn
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi
Cứ đà nầy… chết tiệt còn sướng hơn.
Đàn gảy tai trâu… xem chừng vô ích
Giờ mầy nghe tao chửi còn hơn không.”

Ngày 30 tháng Tư 1975: Một cái nhìn mới


Đã gần 40 năm qua, người Việt Quốc-gia gọi biến cố 30-4-1975 là ngày quốc-hận. “Hận” này, theo tôi hiểu là “hận” mất nước. Nhưng phong trào xét lại lịch-sử Chiến-tranh Việt-nam (CTVN) khởi đầu từ thập-niên cuối của Thế-kỷ 20 đã đánh đổ những sai-lạc về thực-chất của cuộc chiến do bộ máy tuyên-truyền của Đảng CSVN và các thế lực quốc-tế chủ-trương.[1] Ngày nay có nhiều bằng-chứng cho thấy biến-cố 30 tháng 4 năm 1975 chỉ là một khúc quanh trong cuộc chiến quốc-cộng: Ngày 30-4-75 không những đã làm cho chính-nghĩa quốc-gia trở nên sáng chói mà còn báo hiệu giai đoạn mở đầu cho chiến thắng cuối cùng của những người Việt-nam yêu-chuộng tự-do chống lại chế-độ độc-tài Cộng-sản và chủ-nghĩa Cộng-sản vô thần, vô tổ-quốc và vô gia-đình.

1- Biến-cố 30 tháng 4 là ngày quốc-hận ?

Tại sao lại có biến-cố 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà phe Cộng-sản Việt-nam tiến vào thủ-phủ của người quốc-gia như chỗ không người? Xin trả lời ngắn gọn là: Vì người Mỹ đã đi đến quyết định là sự tiếp-tục tồn tại của một chính-quyền quốc-gia trên bán đảo Đông-dương đã trực-tiếp phương hại đến quyền lợi và chính sách của Hoa-kỳ trong chiến-tranh lạnh.

Đến nay có nhiều bằng chứng cụ-thể cho thấy người Mỹ đã quyết tâm hủy-hoại mọi cơ-hội chiến thắng Cộng-sản Hà-nội của phe người Việt quốc-gia. Sol Sanders một bình luận gia chính-trị quen thuộc tiết-lộ: “Washington đã chiến-thắng trong cuộc chiến tại Việt-nam cho đến khi Henry Kissinger và nội-các Nixon trong giai-đoạn “détente”, đã vận-động hậu-thuẫn tại quốc-hội Mỹ và Moscow, nhằm cắt đứt viện-trợ quân-sự cho Quân-lực VNCH sau khi đã biến guồng máy chiến tranh này lệ-thuộc hoàn toàn vào viện-trợ của Hoa-Kỳ.”[2] Trong khi đó Robert F. Turner, cựu Giám-Đốc của Center for National Security, tiết-lộ trên tờ Washington Times rằng “Quốc-Hội Hoa-kỳ đã hành động sai lầm vì đã nghe theo TNS Ted Kennedy (Massachusett) và Đảng Dân-chủ, khiến chúng ta bị thất-bại bất ngờ trong khi chiến thắng đã gần kề.”[3] Thật ra đây chỉ là một cách chạy tội, đổ lỗi qua lại.

Các nhà làm chính sách của Hoa-kỳ đã chủ-trương rằng để cho Đảng CSVN cai-trị Việt-nam, mối giao hảo giữa Hoa-kỳ và Trung-quốc sẽ được hàn-gắn lại và sẽ làm cán cân quân-bình lực lượng trong chiến tranh lạnh nghiêng hẳn về phía thế-giới tự-do. Peter Rodman, Phụ-Tá của TS Kissinger đã nhìn nhận rằng “Nixon/Kissinger đã bỏ Việt-nam để đổi lấy mối giao-hảo Hoa-kỳ – Trung-quốc và sau đó dùng Trung-quốc để chống lại Nga-sô.”[4] Đặc biệt, một tài liệu mật gồm 28,000 trang đã cho thấy TS Kissinger, một nhà làm chính-sách và cũng là một nhà thương-thuyết, đã sắp đặt để quân-đội Bắc-việt tiến vào chiếm miền Nam sau khi Ông đưa quân Mỹ rút ra khỏi miền Nam.[5]

Như vậy sự-thật về cuộc chiến quốc-cộng trong giai đoạn 1954-1975 là quân-đội quốc-gia không thua quân-đội cộng-sản. Nhưng về mặt chính-trị, áp lực mạnh mẽ của quốc-tế vì muốn đưa Đảng Cộng-Sản Việt-nam lên cai-trị toàn bộ nước Việt-nam, người Mỹ đã phá-hỏng mọi cơ hội bảo vệ tổ-quốc Nam Việt-nam của phe người quốc-gia. Để có thể tiếp-tục cuộc chiến một mất một còn với ĐCSVN, ngày 30 tháng 4 năm 1975 phe quốc-gia bị bắt buộc phải tái-phối-trí chiến lược, lìa bỏ quê-hương. Chúng ta chưa mất nước vì những người tin tưởng vào chính nghĩa quốc-gia vẫn còn đó, quê-hương vẫn còn đó, đầu-não lãnh-đạo cuộc chiến vẫn còn đó. Nguyễn Ánh chạy qua Xiêm rồi trở về dựng lại cơ-đồ. De Gaulle cũng không để mất nước Pháp khi phải chạy qua Anh. Như vậy có nên gọi biến-cố 30-4-75 là ngày mất nước không?

2- Ngày 30-4-1975: Ngày “Ô-Nhục” của tổ-quốc Việt-nam?

Kể từ ngày 30-4-1975, ĐCSVN lên nắm chính-quyền, mọi người dân Việt đã sống và chứng-kiến tận mắt một giai-đoạn lịch-sử đen tối nhục nhã chưa bao gìơ có trong lịch-sử dựng nước và giữ nước của Ông cha. Đây là quan-điểm của những người Việt đang sống ở Việt-nam, của sinh-viên du-học, và của lớp trẻ lớn lên ở hải-ngoại trở về Việt-nam để kinh doanh.

Nhà-văn Trần-Như, người đang sống ở trong nước nhận định về xã-hội Việt-nam dưới sự cai-trị của ĐCSVN như sau:

“Giặc Tầu đô-hộ nước ta một ngàn năm không ai vong thân, không ai lẫn lộn căn cước. Giặc Pháp đô-hộ Việt-nam một trăm năm, dân Việt vẫn là Việt-nam. Giặc Hồ mang học thuyết cộng-sản vào cai-trị nước ta mới có 60 năm dân bị lẫn lộn căn cước và vong thân. Xã hội Việt-nam từ khi lập quốc cho tới nay chưa có thời nào suy đốn như thời Hồ.”[6] Nói một cách dễ-hiểu, NHỤC là vì người dân trên đất Việt ngày nay không còn văn-hóa không có nhân-phẩm; họ đang sống như một con vật vì con vật không có văn-hóa và nhân phẩm.

Còn tổ-quốc và đất đai đã bị ĐCSVN vừa bán vừa dâng hiến cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Trung-quốc.Văn-hóa còn dân-tộc còn. Trong hơn 1000 năm Tầu đô-hộ “không ai vong-thân, không ai lẫn-lộn căn-cước” vì phong tục tập quán của Việt-nam sau lũy tre xanh vẫn được duy-trì, dân chúng không bị Tầu-hóa. Nhưng năm 1954 tại miền Bắc, ĐCSVN đã phá-hủy toàn bộ lũy tre-xanh bao bọc hệ-thống làng-xã tự-trị để thành-lập những nông-trường tập-thể với máy cầy Liên-sô xây dựng xã hội chủ-nghĩa. Trong đó mọi người vô-sản ăn cùng, ngủ cùng, làm cùng. Lẫn lộn căn cước là vậy. Vong thân vì Cộng-sản coi con người chỉ là công cụ sản-xuất bị tước đoạt nhân-phẩm nên chỉ còn là con vật. Đây là một lối-sống hoàn toàn xa-lạ đối với nếp-sống Việt-nam. ĐCSVN đã hủy-diệt văn hóa, lịch-sử, ngôn-ngữ cũng như linh-hồn Việt-nam để giúp Trung-quốc dễ bề nô-lệ hóa dân tộc. Văn-hóa mất dân-tộc mất. Nhục vì lịch-sử oai-hùng đối-kháng giặc phương Bắc của Ông-Cha đã bị kẻ nội-thù ĐCSVN “rước voi về” xóa bỏ tất cả.

Công dân Việt-nam Hà-Sĩ-Phu tóm-tắt kết qủa công-trình xây-dựng Xã-Hội Chủ-Nghĩa của ĐCSVN như sau: “Dân tộc phải đương đầu với một cuộc tổng khủng hoảng nhân cách! Xã hội đang lộn ngược do thang gía-trị lộn ngược. Chủ-nghĩa vô hồn tạo ra một khoảng trống ghê-rợn về văn-hóa, lý-tưởng và nhân cách.”[7]

Một sinh viên VN sang du-học tại Úc trong đợt đầu tiên khi Việt-nam vừa mở-cửa đổi mới, tâm-sự với tôi: “Chú ơi khi ra tới ngoài này, chúng cháu không dám nhận mình là người Việt-nam nữa!” Chính hậu-qủa cai-trị của một tầng lớp lãnh đạo thiển-cận giáo-điều đã làm sinh-viên này thấy xấu-hổ vì mình là người của một nước nghèo đói và chậm tiến nhứt thế-giới.

Những cảm nhận này của các du-học-sinh đã được Anderson Quách thấy tận mắt và kể lại rất đầu đuôi xúc-tích. Anderson là một cậu bé tị-nạn đến Mỹ lúc mới 5 tuổi và trở lại Việt-nam làm ăn vào tháng 10 năm 2007 với hy-vọng đầu-tư để phát-triển đất nước. Tuy nhiên sau 2 năm đắn đo tìm hiểu, Anderson mất 200,000 đô mà vẫn không thực hiện được mục đích của mình đành phải bỏ cuộc trở về Mỹ. Anderson nhận xét, lãnh đạo Việt-nam hiện nay không những bất-tài mà còn bất-tín và thiếu đạo-đức. Hậu qủa là một xã-hội băng hoại chờ đợi ngoại-nhân đến tiếp-quản. Về Hồ-Chí-Minh, “Tôi nhận ra rằng hai vị anh-hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế-độ đã dùng mọi thủ-đoạn để biến họ thành thần-thánh, giúp cho họ gĩư vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính-trị-gia qủy-quyệt, nhiều mờ ám, dù nhìn ở bất cứ góc độ nào . . . Ông tự viết tiểu-sử để ca-tụng mình (Trần Dân Tiên), không nhìn nhận cha-mẹ, cũng như 12 đứa con rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế-giới, viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tang bốc trơ trẽn (lá thơ gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912), làm mật-vụ cho Nga, khoe là trọn đời độc-thân để phục-vụ tổ-quốc trong khi có ít nhất 3 người vợ. . . Chuyện Ông thủ-tiêu không biết bao nhiêu là đối-thủ chính-trị có thể hiểu được vì Ông làm chính-trị kiểu Cộng-sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Stalin hay Mao. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt-nam và nhìn những biểu-ngữ ca tụng “tấm gương đạo-đức của Bác Hồ”.

Anderson viết tiếp: “Sau 1 năm ở Việt-nam, tôi hiểu được một sự thật căn bản của xã-hội: Tất cả mọi con người, mọi con số đều là gỉa-dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thật sẽ làm mình đau-khổ rồi còn bị công-an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự-nhiên, như ăn uống, không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo-đức của hiện-tượng này.”[8]

Ngoài cái nhục không được làm người đúng với phẩm gía con người ở ngay trên đất nước của mình, dân-tộc hiện nay còn phải chịu cái nhục lớn nhất từ xưa đến nay, đó là “hồn-thiêng sông-núi” đã bị người cộng sản đặt lên “mâm” để trước bàn thờ cúng “Bác Mao”. Thay vì lãnh-đạo đất nước bảo vệ sự toàn-vẹn lãnh-thổ, thì ĐCSVN lại cúi-đầu nhận làm “thái-thú” cho ĐCS Trung-quốc; họ sợ mất Đảng hơn mất nước.[9]

Nhân dân Việt-nam phản đối Trung-Cộng chiếm Hoàng-Sa và Trường-Sa lại bị chính-quyền của mình đàn-áp tàn nhẫn. Đảng-viên Phạm Đình Trọng viết: “Ý thức dân-tộc bị coi nhẹ đến đau lòng còn biểu hiện ra trong việc làm trong hành-xử của nhà nước với dân. Thanh -niên sinh-viên học-sinh tập họp trước sứ-quán Trung-Hoa, ôn-hòa phản đối Trung-Hoa sát nhập quần-đảo Hoàng-sa, quần-đảo Truờng-Sa vào lãnh thổ Trung-Hoa. Đó là nền văn-minh Lạc-Việt lên tiếng, là ý-thức dân tộc Việt-nam lên tiếng! Nhà nước dùng công-cụ bạo-lực trấn-áp tiếng nói chính đáng của nền văn-minh Lạc-Việt, trấn-áp ý-thức dân-tộc chính-đáng của nhân-dân . . .”[10]

Rồi vào tháng 12, 2007, khi bị Hồ Cẩm Đào điện thoại trách mắng về việc để sinh-viên Việt-nam biểu-tình phản đối Trung-Cộng xâm chiếm lãnh-thổ, Tổng Bí-Thư Nông Đức mạnh liền thề-thốt rằng “Vì tình hữu-nghị đời-đời bền vững với Trung-quốc, lãnh đạo Việt-nam sẵn sàng dâng-hiến tất cả.” Có nghĩa là ĐCSVN đã sẵn-sàng làm nội-ứng tay-sai biến Việt-nam thành một chư hầu của Trung-quốc với những bước đi cụ thể như: dâng hiến 789 cây-số vuông đất-đai thuôc Cao-bằng và Lạng-sơn; bán 11,000 cây-số vuông trên biển và chủ-quyền của hai quần-đảo Hoàng-sa và Trương-sa; giao dự-án khai thác quặng “bo-xit” trên Tây-Nguyên cho Tầu và 20000 công nhân người trung-quốc; cho phép người trung-quốc tự do đi lại ở Việt-nam từ Lạng-sơ đến mũi Cà-mâu (không cần hộ chiếu).

Nếu qúi độc-gỉa chưa thấy rõ cái “nhục” mà Trung-cộng cố tình gây ra cho dân Việt, tôi xin nhắc lại mấy trường hợp sau đây. Dân ta đánh-cá trong hải-phận Việt-nam bị tầu Trung-cộng đuổi đi sau đó còn bắn chết người và đánh chìm tầu của người Việt. Đặc biệt lúc ấy chiến-hạm Việt-nam chỉ đứng nhìn như không có chuyện gì xẩy ra. Sau đó Trung-cộng nói đấy là sự thỏa thuận chung.[11] Vào ngày 29 tháng 4 năm 2008, khoảng 200 thanh niên Trung-cộng mặc đồng-phục Olympic 2008 với cờ quạt ngang nhiên kiêu hãnh diễn-hành tại thành-phố Hồ-Chí-Minh. Trước tòa Đại-sứ Trung-quốc ở Hà nội, có khoảng 30 thanh-niên Trung-quốc biểu-tình hô khẩu-hiệu “Hoàng-sa và Trường-sa là của Trung-quốc”; không có chuyện gì xẩy ra. Nhưng khi sinh-viên Việt-nam biểu tình chống Trung-cộng chiếm Hoàng-sa và Trường-sa thì lại bị nhà cầm quyền Việt-nam đàn-áp bắt bớ. Không nhục sao?

Mới đây ĐCSVN còn cho dịch ra tiếng Việt cuốn sách của Trung-Quốc, “Ma Chiến-Hữu”, ca-ngợi quân-đội Trung-quốc anh-hùng trong trận chiến Việt-Trung năm 1979. Sách dịch ra tiếng Việt lập tức được cho phổ biến khắp Việt-nam. Trong khi đó sách Việt ca-ngợi anh-hùng VN và chống Trung-quốc lại bị thâu-hồi? Báo-chí và dân-chúng không được phép dùng chữ “Trung-cộng” để chỉ “Trung-quốc”! Như vậy có nhục không?

Bằng chứng viện dẫn cho thấy biến-cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu ngày ĐCSVN đưa dân chúng Việt-nam vào một cuộc sống ô-nhục, ngang với loài vật. ĐCSVN lãnh-đạo, xóa căn cước Việt của người dân, đưa đất nước vào vòng nô-lệ Trung-cộng. Một chuyện chưa từng xẩy ra trong lịch-sử nước Việt. Nếu người dân Đức coi bức tường Bá-Linh là bức tường “Ô-Nhục”, dân-chúng Việt-nam phải gọi ngày 30-4 là ngày “quốc-nhục” mới thật đầy-đủ ý-nghĩa và đúng.

3- Biến-cố 30-4-1975: Một khúc quanh trong cuộc chiến quốc cộng

Nghị-trình duy nhất và vô cùng cấp-bách của cộng-đồng tị-nạn Việt-nam tại hải-ngoại hiện gìơ chính là “Cái nhục của chậm tiến và cái họa nô-lệ Tầu-cộng” của Việt-nam dưới sự cai-trị của ĐCSVN. Trong ý-nghĩa này, ngày “quốc-nhục” tiếp-tục nhắc nhở những ngừõi yêu-chuộng tự-do rằng cuộc-chiến “quốc-cộng” vẫn còn đang tiếp-diễn. Nhưng hiện-nay cán-cân quân bình lực lượng đã nghiêng hẳn về phe người quốc-gia. Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ĐCSVN đã để lộ ra bộ mặt thật của họ khiến cho chính-nghĩa của phe quốc-gia trở-nên mạnh-mẽ và sáng chói hơn bao gìơ hết. Đúng như tướng Do Thái Ông Moshe Dayan nhận định trong chuyến thăm viếng Nam Việt-nam: “Nếu muốn thắng cộng-sản, Miền Nam phải thua Cộng-sản trước đã.”

Trong khoảng từ 1930 đến 1975, Cộng-sản Việt-nam đội lốt Chủ-nghĩa Dân-tộc để đánh lừa người Việt yêu nước và dư-luận thế-giới. Nhưng từ 1975 đến nay họ đã hiện nguyên hình là một đảng say mê quyền-lực, một đảng cướp. Họ thi hành triệt để giáo điều Mac-xit Lenin-nit để củng cố quyền-lực và ăn cướp bóc-lột của dân-chúng qua các chính-sách cải-cách ruộng đất, kiểm-kê và đánh tư-sản, trăm hoa đua nở, chế-độ lý-lịch “đào tận gốc tróc tận rễ”, hợp tác xã sản-xuất, nông-trường tập-thể, làm theo chỉ-tiêu hưởng theo nhu cầu, vân vân . . .

Cái chính-nghĩa dân-tộc mà ĐCSVN dung làm bình-phong để lừa-gạt những người yêu-nước từ trước đến gìơ đã bị chính lãnh-tụ Hồ-Chí-Minh vô tình đạp đổ. Trong lúc hấp hối Bác Hồ đã thổ-lộ với các đồng-chí trong Bộ Chính-Trị là mình sẽ đi gặp “Bác Stalin và Cụ Lênin!” “Dân-tộc” gì mà khi sắp chết lại không muốn gặp Lê-Lợi, Hưng Đạo là các anh-hùng dân tộc, hay Ông Bà tổ-tiên của mình mà lại đòi về với mấy người Nga? Vì thế ĐCSVN đã mất cái thế nhân-dân. Chính-quyền và cán bộ hiện nay đều chân trong chân ngoài để tháo chạy vì tổ-chức của ĐCSVN đã hoàn toàn phân-hóa rữa nát, mất định-hướng, nơm nớp lo sợ diễn tiến hòa-bình.

Chính lời trăn-trối của Hồ Chí Minh phủ-nhận chính-nghĩa dân-tộc và trao cái thế nhân-dân lại cho phe quốc-gia. Rồi “cái họa nô-lệ Tầu và cái nhục không được làm người” do hậu qủa cai-trị của ĐCSVN từ 1975 đến nay đã trao thế chủ-động trong cuộc chiến quốc-cộng vào tay của phe người quốc-gia. Tóm lại thực-tế “tự hủy-diệt” của phe Cộng-sản đã mở đường đưa phe quốc-gia vào thế thượng-phong và chiến thắng cuối cùng.

Thêm vào đó, Cộng-đồng người Việt hải-ngoại hiện nay như Cựu Đại-sứ Lâm-Lễ-Trinh phân tích có một tiềm lực kinh tế, chính-trị, giáo-dục và trí-tuệ hơn hẳn tổ-chức chính-quyền của nhà nước XHCN Việt-nam. Ví-dụ như tổng-sản-lượng quốc-gia của Việt-nam vào năm 2001 là 14.5, tỉ trong khi đó lợi-tức của 3 triệu người tị-nạn là 15 tỉ.[12] Số tiền của hải ngoại gởi về giúp bà con hiện nay đã lên đến gần 7 tỉ tức là xấp-xỉ 1/2 tổng sản lượng của cả nước. Điều đáng lưu-ý là trong số 3 triệu người này lại có một lực lượng chuyên-viên lỗi-lạc trong mọi lãnh vực lên đến 300,000 người. Theo Ông Lâm Lễ Trinh, đây là một con số thống kê chưa từng thấy tại các nước ĐNA.

Cuối cùng, một điều rất hiển nhiên cần lưu-ý đó là thời-cơ và thế ngoại vận của phe người Việt quốc-gia đang làm cho chế-độ độc-tài CSVN tuyệt-vọng. Về thời cơ chẳng hạn, cuộc cách mạng tin học và trào lưu “toàn-cầu-hóa” hoàn toàn không thuận lợi cho các chế-độ độc-tài. Vì thế tiến trình dân chủ-hóa Việt-nam sẽ không thể nào đảo ngược được. Phe người Việt quốc-gia, khởi đầu với nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa tại miền Nam Việt-nam do Ông Ngô Đình Diệm lãnh đạo, chủ-trương xây dựng một chế-độ dân chủ đích-thực. “Xã-hội khép kín” của ĐCSVN đã bị cuộc cách-mạng tin-học và cơn-bão “toàn cầu hóa” mở tung ra và còn đang tiếp-tục mở rộng hơn nữa với những phong trào đòi dân-chủ ở trong nước bắt tay làm đầu-cầu cho hải-ngoại tiến vào mở trận-đánh cuối-cùng: ĐCSVN gọi đó là “Diễn tiến Hòa-bình”. Bây giờ chính là thời cơ của phe yêu-chuộng tự-do và độc-lập thực-sự của dân-tộc vì cả thế-giới hô hào dân-chủ-hóa.

Thế thượng phong của hải-ngoại về mặt trận ngoại-giao lại càng rõ rệt hơn. Trong thời chiến, Nam Việt-nam bị Hà-nội cấu kết với các cường quốc để tạo ra những phong-trào phản-chiến trên thế-giới, vận-động mua chuộc đại-diện dân-cử tại các quốc-hội trên thế-giới và những cuộc trao đổi quyền-lợi đội lốt các hiệp-định Geneve 1954 và Paris 1973. Ngày nay chính người tị-nạn đang dùng “gậy ông đập lưng ông” trả lại ĐCSVN những gì họ đã làm trước đây. Các lãnh đạo và đại-diện ngoại-giao của Việt-nam hiện nay mỗi khi thăm viếng để xin-xỏ một điều gì ở các quốc-gia có người tị-nạn, đều phải trốn chui trốn nhủi không dám đi vào cửa chính. Người Việt quốc-gia ở hải-ngoại hiện nay ngoài các hoạt-động về kinh-tế xã-hội kỹ-thuật giáo-dục, đã bắt đầu tích-cực tham gia vào các cơ chế dân-cử sẵn-sàng dùng các phương thức dân-chủ hiến định để đập tan những hành động gian manh của CSVN tại các quốc gia này. ĐCSVN đang ở vào thế “tứ bề thọ địch”!

4- Thay lời kết

Việc ĐCSVN bán đất bán biển và làm tay sai cho chủ-nghĩa bành-trướng của Trung-Cộng đang đẩy mạnh và làm cho trận-chiến cuối cùng giữa hai phe “quốc và cộng” bùng nổ sớm hơn người ta tưởng. Nhờ vào kỹ thuật tối tân của tin học, những gì mà ĐCSVN cố tình dấu-diếm đã được thế-giới bên ngoài, chính xác hơn là cộng-đồng người Việt tự-do hải ngoại, biết đến. Ví-dụ bí-mật về vụ bán biển được gởi ra quốc-ngoại từ email ngày 20 tháng 8 năm 2008 gồm cả bản Anh-ngữ lẫn Việt-ngữ và đã được Đại-Tá Phạm Bá Hoa trích dẫn như sau: “. . . Ngày 25 tháng 12 năm 2000, Chủ-tịch Trần Đức Lương sang THCS gặp Chủ-tịch Giang Trạch Dân và hai bên cùng ký hiệp ước. Theo đó VNCS bán một phần biển cho THCS với gía 2,000,000,000 mỹ kim (2 tỉ), và THCS trả cho Việt-nam dưới hình thức đầu-tư . . . . .”[13] Nhờ đó, hải-ngoại mới hay biết sự việc và đang vận dụng mọi tài nguyên sẵn có để bổ túc tiếp cứu cho những gì mà kẻ-sĩ trong nước đang bị kềm-kẹp không thể phản-ứng hữu-hiệu được.[14]

Một cây viết trong Việt-nam (có lẽ cũng là 1 đảng viên cao cấp) với bút-hiệu “Người Buôn Gío” tung lên “net” bài viết báo động mất nước. Ông cho biết vì những khó-khăn dưới chế-độ CS, kẻ-sĩ đành bó tay, không thể làm tròn sứ mạng “thất-phu hữu-trách”. Theo Ông, việc ĐCSVN gạt bỏ mọi can-ngăn tự quyết-định để THCS khai thác quặng bo-xit trên Tây-Nguyên chính là muốn mở đường cho người Tầu đào “mồ chôn nước Việt”. Ông cho rằng vấn đề Hoàng-sa và Trường-Sa rồi cũng thế:

“Nếu Tây-Nguyên đã là phần của người Trung-quốc làm ăn, thì việc tranh cãi về Hoàng sa – Trường sa có thể đoán kết-qủa là vô-nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà khi các nhà sử-học Bắc-kinh được tài-trợ quy-mô, bài bản để sưu-tập tài-liệu hay chế-biến lịch-sử để chứng minh chủ-quyền các hải-đảo đó là thuộc về họ. Chính-phủ Việt-nam vẫn bình chân như vại, một số nhà tâm-huyết do điều kiện hạn-chế chỉ sưu-tầm tìm hiểu trong khả năng của mình, kinh phí tự-túc do bản thân bỏ ra. Thậm chí việc Hoàng sa-Trường sa không được báo chí nhắc đến là khó khăn cho những trí-thức và học-gỉa trong qúa-trình tìm tòi tài-liệu, vô hình chung biến hai quần-đảo này thành đề tài bí-mật không được bàn tán công khai.”[15]

Nhờ chủ-trương tài-trợ quy mô của Bắc-kinh cho các nhà sử-học, THCS đã có được bài bản để hỗ-trợ về mặt công-pháp cho âm mưu bành-trướng của họ tại biển Đông. Ví-dụ họ sửa lịch-sử, viết sách nói rằng Hoàng-sa Trường-sa là của Trung-quốc rồi đưa vào trường học để dậy cho học-sinh Việt-nam; họ vẽ ra bản đồ lãnh-hải 12 hải-lý để bao gồm các quần đảo nói trên; họ đặt ra tên mới cho hai quần đảo này là Huyện Tam-sa và thuộc về tỉnh Hải-nam của Trung-quốc; họ xây cất các hạ-tầng cơ-sở kể cả phi-đạo và hải-cảng; họ đem những giống cây lục địa ra và trồng ở đó; quân-đội cũng được điều động ra đồn trú. Về mặt tuyên-truyền họ bắt đầu lên-tiếng tuyên bố Chủ-quyền của Trung-quốc trên các hòn-đảo này; họ cho công bố bản-đồ; cho người biểu-tình ủng-hộ; ra lệnh cho ĐCSVN bịt miệng những người nói ngược lại. Ví-dụ như “Văn-thư đề ngày 7-12-07 cấm sinh-viên biểu-tình của Phó Hiệu-trưởng Đại-học Công-nghệ Hà-nội, Ông Hà Quang Thụy, Bí Thư Đảng-ủy . . . . Văn thư đó còn đòi các thủ-trưởng phải góp-phần vào việc ngăn-chận biểu-tình.”[16]

Báo-chí hải-ngoại và “internet” là một nguồn thông-tin dồi-dào về các tin tức liên-quan đến cái xã-hội bị bưng-bít ở Việt-nam. Tuy-nhiên họ không được đào-tạo để làm những công-việc bài-bản quy-mô như các học-gỉa và sử-gia Trung-quốc đã làm để phục-vụ cho âm-mưu bành-trướng của ĐCSTQ chiếm đoạt Hoàng-sa và Trường-sa của Việt-nam. Đây là một vấn đề lớn-lao vì nó liên-quan đến cuộc tranh-chấp quyền lợi giữa hai quốc-gia. Nếu hai bên không thể giàn-xếp ổn-thỏa bằng con đường ngoại-giao, vụ-việc sẽ phải được giải-quyết tại tòa-án quốc-tế. Vì thế để có thể lập được một hồ-sơ pháp-lý cho một vụ án quốc-tế là chuyện của những chuyên-gia công-pháp quốc-tế, những nhà thương-thuyết ngoại-giao lão-thành, những sử-gia học-gỉa uyên-thâm, mới mong thực-hiện được một căn bản pháp-lý vững-chắc để đánh bại đối-phương. Ngoài kiến thức chuyên-môn còn phải có tài-nguyên dồi-dào và thời-gian để thực-hiện. Xin lấy một ví-dụ, Trung-quốc công-bố một bản-đồ trong đó bao-gồm hai quần-đảo tranh chấp. Cùng lúc đó họ trưng bầy hình ảnh khai quật được một số đồ-gốm đời nhà Minh trên đảo Trường-sa chẳng hạn. Muốn cãi lại họ chúng ta phải có đủ bằng chứng là người Việt-nam xuất hiện tại đây trước đời Minh.

Để đáp-ứng nhu-cầu này, vào khoảng giữa năm 1995 một tổ-chức đã được thành-lập tại hải-ngoại với cái tên là Ủy-Ban Bảo-Vệ Sự Vẹn-Toàn Lãnh-Thổ (BVSVTLT). Vì nhu cầu đòi-hỏi, năm 2008 tổ-chức phải lập thêm một đơn vị đặc-trách về vấn-đề Hoàng-sa và Trường-sa tên là Ủy-Ban về Hoàng-sa và Trường-sa. Ủy-Ban BVSVTLT gồm các luật-gia, các gíao-sư về công-pháp, các sử-gia và học-gỉa uyên-bác. Họ đang hy-sinh đáp lại tiếng kêu cứu của núi-sông làm tròn trách nhiệm “thất-phu hữu-trách”. Người sáng lập ra tổ-chức này là một Ông gìa 73 tuổi. Trước đây, ở Việt-nam, Ông là Phụ-tá Khoa-Trưởng Luật-khoa, Giáo-sư chính-trị và công-pháp. Sau 1975 là học-gỉa tại Hoover Institute, nghiên-cứu về “Cách-mạng, Chiến-tranh và Hòa-bình, Đồng Giám-đốc Dự-án Oral Life History tại Viện Nghiên-cứu Đông Á Đại-học U.C. Berkeley, California.

Thành-qủa mà Ủy-ban này đã thực-hiện được trong năm 2008 là một Bạch-Thư về Hoàng-sa và Trường-Sa. Và cũng trong năm 2008 này họ đã hoàn-tất được một hồ-sơ pháp-lý về Hoàng-sa và Trường-sa, sau 13 năm dài nghiên-cứu sưu-tầm. Hồ-sơ này sẽ giúp cho chính-quyền hậu cộng-sản của Việt-nam đưa vấn-đề tranh-chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng sa và Trường sa giữa Việt-nam và Trung-quốc ra trước tòa-án quốc-tế.

Hiện nay Ông đang dùng hết thì gìơ hưu-dưỡng đi khắp năm châu để diễn-thuyết cho đồng hương và “giáo-dục” các nhà làm chính-sách ở các nước sở tại về những việc phi-pháp mà ĐCSVN đang tiếp tay thực hiện âm-mưu bành-trướng của Trung-Cộng, trong đó có vụ Hoàng-sa Trường-sa và hậu-qủa của nó. Ông gìa đó chính là Giáo-sư Tiến-sĩ Nguyễn Văn Canh.

Đây là một vấn-đề lớn có liên-quan đến lợi-ích của toàn dân toàn quân, vượt lên trên lợi-ích của các phe phái cho nên những buổi nói chuyện của GS Nguyển Văn Canh đã được đồng-hương khắp nơi trên thế-giới hân-hoan đón-nhận. Ngoài ra sự ra đời của Ủy-ban BVSVTLT là sự lên tiếng của hải-ngoại đáp-lại lời kêu cứu của thức-giả và dân-chúng ở trong nước. Phải chăng đây là một sơi dây nối kết trong và ngoài nước và mọi thành-phần người Việt-nam yêu nước lại với nhau? Theo tôi, chính cái “nhục nô-lệ và họa mất-nước mà ĐCSVN đã gây ra đã khiến hưng-vận của nước Việt-nam tái xuất-hiện.

Nên gọi ngày 30-4-75 là ngày quốc-hận hay là ngày quốc-nhục? Có một điều chắc chắn đó là ngày đánh dấu giai đọan mở đầu chiến-thắng cuối-cùng của người Việt không cộng-sản.

TS Nguyễn Ngọc Tấn

NỖI BUỒN THÁNG TƯ


Hình 1. Quan tài buồn phủ kín đời anh

Viết tặng những người Vợ và Con của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa đang sống ở Quê Nhà.

NGUYỄN KHẮP NƠI

Trong cuộc chiến chống Cộng sản, giữ vững giang san, người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh và chịu đựng nhiều hơn cả. Trong cuộc chiến, họ có thể bị chết, bị thương, bị bắt làm tù binh . . . Sau cuộc chiến, họ lại bị bọn Việt cộng đưa đi các trại cải tạo ở những vùng rừng núi hoang vu của Miền Nam và những vùng đất không người ở, tuốt biên giới Bắc Việt và Trung cộng. Đã có rất nhiều người lính đã bị bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc vì bị hành hạ làm việc quá độ, bị bỏ đói, lạnh, bệnh tật không thuốc men.

Nhưng thôi, đã là Lính chiến, chiến đấu giữ gìn giang sơn, nay Nước đã mất, nhà đã tan, phải chịu đựng như vậy, chứ biết than van với ai bây giờ?

Chỉ tội nghiêp cho gia đình của họ, cha mẹ vợ con của họ. Những người này cũng đã chịu đựng, chia xẻ ngọt bùi với người chiến sĩ, có khi cũng đã cùng chiến đấu chung với người lính tại chiến trường. Họ đã chết cùng với chồng của họ mà không bao giờ được nhắc tới, vì họ chỉ là . . . phụ chiến đấu mà thôi.

Anh Tuyết, một chiến hữu của Binh chủng Nhẩy Dù đã kể cho tôi nghe câu chuyện thật là thương tâm:

2 .

Tầu về bến anh hẹn mình dạo phố,

Tay chinh nhân đan năm ngón tay ngà

“Năm 1972, Tiểu Đoàn 3 chúng tôi đánh giải vây trại Lực Lượng Đặc Biệt Ben Het ở vùng Pleiku. Trại này chỉ có một tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng trấn giữ (không nhớ rõ, có phải là Tiểu Đoàn 88 hay không?), nhưng bọn Việt cộng đã đem cả một trung đoàn với pháo binh yểm trợ để nhất định nhổ cái gai trên đường mòn Hồ chí Minh của chúng. Anh em Biệt Động Quân đã chống trả dữ dội suốt nhiều ngày chiến đấu, cuối cùng đã phải xin tăng viện. Khi Đại đội đầu tiên của Tiểu Đoàn 3 Dù được trực thăng vận xuống trại, tôi đã tận mắt chứng kiến một cảnh tượng thật bi hùng: Tại một ổ đại liên, bên cạnh xác chết của người xạ thủ Biệt Động nằm dưới đất, còn có xác của một người phụ nữ, chết nằm vắt ngang khẩu đại liên. Vì trận chiến còn đang tiếp diễn, nên những người lính Nhẩy Dù đã phải chắp tay xá xác chết người Phụ nữ rồi đặt xác của bà xuống đất, dùng khẩu đại liên bắn vào bọn bộ đội cuồng tín đang dùng chiến thuật biển người mong tràn ngập trại lính.

3.Vợ chồng đồng sinh đồng tử tại trận tuyến

Sau khi đã đẩy lui bọn Việt cộng, thu dọn chiến trường, ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân đã cho chúng tôi biết, xác chết của người phụ nữ trên khẩu đại liên đó lả chị Mường (không nhớ rõ tên), vợ của xạ thủ đại liên tên Lái (tôi xin lỗi, đã lâu quá, cũng quên, không chắc là đúng tên). Chị Mường ở Nha Trang, theo đoàn xe tiếp tế lên thăm chồng, vì từ ngày cưới cách đây hơn một năm, anh Lái đã chưa được về phép, và đã xin ở lại chờ kỳ tiếp tế sau mới trở về. Khi trại bị bọn Việt cộng tấn công, chị đã không chịu theo đoàn xe tiếp tế về mà trốn ở lại để được chiến đấu bên cạnh anh Lái. Những khẩu đại liên là linh hồn của trại lính, là mục tiêu đầu tiên mà bọn Việt cộng cần phải hủy diệt, nên bọn chúng đã cho rất nhiều đặc công xung phong vào lô cốt của hầm đại liên. Qua ba lần tấn công, người lính tiếp đạn cho anh Lái bị tử thương, chị Mường đã thay thế anh ta để vác những thùng đạn, lắp vào súng cho anh Lái bắn. Anh Lái đã nhiều lần kêu vợ chạy lui về phòng tuyến phía sau để tránh nguy hiểm, nhưng chị đã từ chối.

Đến khi anh Lái bị trúng đạn, gục trên khẩu súng, chị Mường đã đẩy xác anh xuống đất và cầm cần súng tiếp tục chiến đấu, để rồi tới phiên chị cũng trúng đạn, gục ngã trên khẩu đại liên.

Cũng nhờ chị tiếp tục bắn ngăn chặn bọn Việt cộng, nên trại lính mới giữ vững được và rồi đuợc anh em Nhẩy dù giải vây.

Quan tài của anh Lái được phủ cờ, được chôn ở nghĩa trang Quân Đội, nhưng xác chết của chị Mường không được phủ cờ, không được chôn ở nghĩa trang Lính. Anh Lái được thăng cấp lên Cố Hạ Sĩ, người mẹ già được lãnh tiền tử của anh, những Chị Mường không được thăng cấp và cũng không có tiền tử, vì chị không là lính, chỉ là vợ lính mà thôi.

Cho đến hôm nay, chắc chắn rằng bên cạnh những người Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa bị mất một phần thân thể, còn có rất nhiều nhũng người vợ lính đã trở thành phế nhân vì đã cùng chồng chiến đấu chống bọn Cộng Nô. Cũng giống như trong thời chiến, các anh em Thương Phế Binh được đồng đội cưu mang giúp đỡ, riêng những người vợ lính bị thương tật vì chiến tranh vẫn còn bị đặt ra ngoài vòng trợ giúp của chúng ta.

Bạn có thể nói với tôi:

“Tại vì họ không phải là Lính, nên đâu có thể đòi hỏi những quyền lợi của người lính đuợc!”

Đúng, họ không là Lính, nhưng họ đã chiến đấu tại chiến trường cùng với chúng ta, và vì chiến đấu, nên họ mới bị thương tật, chúng ta đâu có thể bỏ qua họ mà không giúp đỡ!

Giúp đỡ bằng cách nào bây giờ?

Nếu cả hai vợ chồng của họ đã bị chết trong cuộc chiến (như trường hợp của anh Lái và chị Mường nói trên), thân nhân ruột thịt của họ (cha mẹ già, con thơ nay đã lớn) cũng cần phải được giúp đỡ. Những thân nhân này chắc chắn sẽ còn giữ giấy khai tử của đơn vị và của làng xã. Hãy giúp đỡ những thân nhân còn lại này.

Nếu chỉ một mình người vợ lính bị thương tật chiến trang còn sống, người chồng đã tử trận, chị chắc chắn sẽ còn giữ giấy khai tử của đơn vị người chồng. Những quả phụ này mới là người chúng ta cần giúp đỡ hơn ai hết, vì họ chỉ còn lui cui một mình, thân thể lại không toàn vẹn, việc mưu sinh hàng ngày chắc chắn có phần vất vả.

Nếu cả hai vợ chồng nguời lính còn sống, vả cả hai củng bị thuơng tật vì chiến tranh, cả hai vợ chồng đều cần được sự giúp đỡ của chúng ta.

Các hội bạn của Thương Phế Binh, các hội tình thương, những hội đoàn cựu quân nhân, chắc chắn cũng đã có danh sách của những quả phụ này. Có thể đã có một số hội đoàn đã làm công việc thiện nguyện giúp đỡ các qủa phụ của tử sĩ rồi. Thay mặt mọi người (Không có giấy phép đại diện, tôi nhận ẩu thôi), tôi xin cám ơn những tấm lòng vàng kể trên.

Cuộc sống của những người Lính, những Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa còn ở lại quê nhà bây giờ ra sao?

Cuộc sống của những cô nhi quả phụ của các tử sĩ Vỉệt Nam Cộng Hòa còn lại ở quê nhà ra sao?

Họ có được sống một cuộc sống bình thường như mọi người dân khác hay không? Họ có được đi làm? Đi học . . . như những người dân bình thường khác hay không?

Chúng ta hãy đọc những lời tâm huyết của một người quả phụ và một Cô Nhi Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sau đây:

“Sau khi cả nhà đuợc người tài xế lái xe cho anh Tự tới nhà báo tin:

Anh Tự đã bị chết”

Và cho biết địa điểm giao tranh, ngày 02 tháng 05 1975, tôi cùng với hai đứa em chồng đã mướn xe Lam đến khu vực trường Tiểu học Trung Lập Thượng, tỉnh Hậu Nghĩa để dò hỏi tìm xác của anh Tự.

Du kích địa phương không chịu chỉ nơi chôn, còn lớn tiếng la hét:

“Bọn Ngụy chúng mày bị xử bắn hết, được cách mạng vùi thây là tốt lắm rồi, đừng tìm kiếm làm chi nữa.”

Ngày hôm sau, cả nhà trở lại tìm nữa, lần này, mấy người du kích đã thông cảm, chịu dắt đi tìm xác của anh Tự, chôn tại một ngôi mộ lớn.

Khi đào lên, xác của Tự ở trên cùng, sau đó tới xác của ông Tỉểu Đoàn Phó và các anh em Biệt Động Quân khác. Cả nhà mừng quá, vội mướn xe Lam chở xác của anh Tự đưa thẳng vào nhà xác của Bệnh Viện Nguyễn Văn Học (Tỉnh Gia Định). Các Bác sĩ và Y tá đều là những người còn lại của Việt Nam Cộng Hòa, nên sau khi chúng tôi và người cậu (cũng làm trong bệnh viện này) giải thích lý do cái chết, bác sĩ đã đồng ý cho làm thủ tục khám nghiệm.

Anh Tự bị chết là do hai viên đạn bắn vào đầu, thêm 4 viên nữa bắn vào người, bàn tay phải bị gẫy, đã buộc lại bằng chiếc vớ của anh Tự, chắc là anh đã bị thương trong khi giao chiến, nên đã tự lấy vớ cột bàn tay lại.

Như vậy, có nghĩa là anh Tự đã bị bọn Cộng sản Bắc Việt bắn chết ngay sau khi anh không chịu gỡ lon và cởi quân phục. Hai người du kích có mặt khi anh Tự bị bắn, cũng đã kể lại như trên.

Xác của anh Tự được chôn ở Nghĩa Trang Gò Vấp, kế bên ngôi mộ của Tướng Lê Nguyên Vỹ.

Mẹ tôi có lập bàn thờ cho anh Tự ở nhà. Tìm mãi, chỉ còn có một tấm hình của anh khi được gắn lon Thiếu Tá.

Mấy ngày sau, bọn nằm vùng đã dắt đám bộ đội đến nhà, bắt mẹ tôi phải bỏ tấm hình của anh Tự xuống, bọn chúng nói:

“Không được thờ bọn lính ngụy”

4. Bàn thờ người tử sĩ

Mẹ tôi không chịu, phân bua với bọn chúng:

“Tôi chỉ còn có một tấm hình này của con tôi mà thôi. Con tôi dù là lính, nhưng đã chết rồi, tại sao lại không cho thờ? Rồi mẹ cứ thế nhào tới ôm lấy hình của anh Tự, không cho bọn chúng gỡ xuống. Hàng xóm của chúng tôi đến xem đông lắm, ai cũng nói rằng:

“Chết rồi thì phải được thờ. Nghĩa Tử Là Nghĩa Tận.”

Bọn chúng thấy dân chúng phản đối, nên đã bỏ về, nhưng vẫn không chịu bỏ qua, vẫn còn trở đi trở lại nhiều lần nữa để buộc mẹ tôi phải gỡ hinh anh Tự trên bàn thờ xuống, nhưng mẹ tôi và bà con hàng xóm vẫn không nhượng bộ. Cuối cùng, bọn chúng không bắt mẹ tôi bỏ hình của anh Tự xuống, nhưng đòi phải lấy viết xóa cái bông mai trắng trên cổ áo đi. Mẹ tôi không trả lời gì cả, cứ để y nguyên hình của anh Tự như vậy.

Và đến nay, tấm hình của anh Tự vẫn còn y nguyên bông mai trắng mà tôi đã mua gởi lên nơi đóng quân của anh khi nghe tin anh được thăng cấp Thiếu Tá.”

THÁNG TƯ LẠI VỀ

Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến

“Sàigon những ngày sau Tết ngột ngạt vì đông người, khói bụi và kẹt xe. Quảng đường chỉ có ba cây số từ nhà tôi đến nơi làm việc mà phải chạy xe mất đến hơn nửa giờ đồng hồ. Hết nói nỗi!

Lý do là vì các lô cốt chắn ngang đường và những cái hố đào trên đường. Đường xá Saìgòn đã chật hẹp, lại còn thêm giòng người nhập cư từ các tỉnh kéo về, gây ra tình trạng mất cân bằng về lao động.

Tôi xin giành câu trả lời này cho tất cả mọi người nhé!

Nhịp sống Sàigon vốn đã nhanh nay càng nhanh đến chóng mặt cũng như chỉ số lạm phát đã điểm mức hai con số. Các mặt hàng thiết yếu hàng ngày liên tục tăng như xăng dầu, điện sinh hoạt nói chung là tăng một cách hổn loạn và chính quyền gần như bất lực.

Khoảng cách giàu nghèo ngày càng thấy rõ. Sự phân biệt giai cấp trong xã hội đang định hình một cách đầy những rủi ro : Một tô phở giá US$35? Vậy mà tiệm phở vẫn đông khách như bình thường! Lượng khách ra vào là những người giàu có, đại gia, cậu ấm cô chiêu. Họ đi những xe hơi trị giá đến vài tỷ đồng, ôi chả cần quan tâm là bọn người ấy làm gì mà nhiều tiền như vậy.

Tôi xin giành câu trả lời này cho tất cả mọi mọi người nhé!

Với chính bản thân tôi, thiết nghĩ chắc không bao giời tôi bước vào ăn phở với cái giá cực kỳ phi thực tế đó. Ăn một tô phở là gần bằng một tháng lương của tôi rồi. Cũng may là tiệm phở đó nằm ở Hà Nội, tôi thì ở Sàigon. Nếu không, hàng ngày tôi sẽ có dịp chạy ngang tiệm phở để chiêm ngưỡng và tận mắt thấy các thượng đế (khách hàng) giàu có mặt mũi họ ra làm sao? Có khác gì với loài người bình thường chúng tôi không?

Tôi xin giành câu trả lời này cho mọi người nhé!

Tôi chợt rùng mình vì cuộc sống của chính tôi hiện tại, mọi khó khăn đang dần hiện ra trước mắt mà tôi chưa biết phải giải quyết ra sao? Niều thứ để lo lắm mọi người ơi! Lang thang trên internet tìm job mới nhưng nhìn vào các tiêu chuẩn tuyển dụng thấy chóng cả mặt: Nào là phải tốt nghiệp đại học này, đại học nọ. Nào là phải có kinh nghiệm . . . v . . .v. Còn tôi, tôi chẳng có gì cả!

Nhìn hai đứa con nằm ngũ hồn nhiên mà buồn đến dại người, cái nét hồn nhiên của những đứa trẻ vẫn không đổi thay. Chúng mặc xác giá vàng đang lên kỷ lục, giá USD cũng như vậy nhảy múa cả ngày, vật giá leo thang, chúng chỉ cần biết là hôm nay ba đi làm có đủ tiền mua đồ ăn cho chúng nó hay không mà thôi.

Cảm giác khi nhớ lại thời ấu thơ đầy gian khó, tôi lo lắng rằng không biết các con tôi có đủ khả năng để chịu đựng như tôi đã từng bị trong những năm tháng đã qua không? Năm 2011 là một năm đầy biến động trong cuộc sống và công việc của tôi, hụt hẫng và gần như tuyệt vọng, ngũ một đêm dậy trở nên tay trắng, rồi lại phải đối đầu với những khó khăn hàng ngày. Hai đứa con tôi ngày càng lớn, nhìn con tôi mà buồn đến não lòng. Tôi vẫn còn được đi học, nhưng chỉ học tới trung học thôi, còn lên đại học, tôi không được xét đơn, nên đành đi làm cu li kiếm sống. Sau hơn ba muơi năm, tôi tưởng là mọi việc đã chìm vào quên lãng, bất ngờ, một ngày không đẹp, tôi đã được gọi lên văn phòng để cho nghỉ việc.

Lý do? Tôi cũng không muốn hỏi, vì biết số phận của mình rồi, nhưng người trưởng phòng đã bỏ ra ngoài, để màn ảnh máy vi tính lại, tôi liếc nhìn:

“Cha là lính chiến đấu của Ngụy quân”

Tôi chi là nguời dân không có thứ hạng trong xã hội. Người ta sợ bố tôi đến thế sao? Căm thù bố tôi đến mức này nữa?

Mọi năm, cứ đến tháng này và suốt hết tháng Tư là tôi buồn đến dại người. Ba mươi sáu năm trôi qua mau mà tôi cứ tưởng như mới chừng mới hôm nào. Nhìn di ảnh của Bố tôi – cố Thiếu tá Trần Đ T, Tỉểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn . . . Liên Đoàn . . . Biệt Động Quân - nghiêm nghị trên bàn thờ mà lòng tôi quặn thắt từng cơn. Tôi bổng nhớ đến các bạn bè của ba thời chinh chiến mà tôi được biết và đã tiếp xúc người còn người mất. Hình ảnh hào hùng năm xưa đã chìm vào quên lãng, chỉ còn lại đó những ký ức buồn của một thời chinh chiến quên mình, hy sinh nhưng bị đồng minh phản bội một cách tàn nhẫn, hèn hạ. Sau đó họ dùng chiêu bài cho phép định cư các cựu tù nhân chính trị gọi là HO đễ phần nào làm dịu dư luận quốc tế, cho dù có thế nào đi nữa thì họ đối với tôi - Đồng minh của QLVNCH – Họ mãi là kẻ hèn nhát, không xứng đáng với tư cách của một nước lớn tự cho mình có cái quyền định đoạt số phận của một nước nhỏ như Miền Nam Việt Nam. Lịch sử sẽ phán xét lương tâm của chính họ, còn biết bao nhiêu thân phận, gia đình, cá nhân bị họ lãng quên một các có chủ ý như các chú, Bác TPB, quả phụ, các quân nhân QLVNCH chiến đấu quên mình, hy sinh bản thân cho cái gọi là ‘tiền đồn tự do”. Mà đáng lẽ ra họ, từng là đồng minh phải có trách nhiệm giúp đỡ. Cái qui định cải tạo 3 năm để được định cư là gì – tôi chẳng hiểu nổi, đã làm bao gia đình phải miễn cưởng ở lại Việt Nam trong uất ức mà chẳng biết tỏ cùng ai. Tôi chẳng hy vọng những dòng chử này đến tay của Tổng Thống Hoa Kỳ, nhưng tôi phải viết lên sự thật, và họ phải có một hành động hoặc cử chỉ dù là giả dối để đính chính và xin lổi hàng triệu quân nhân VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến VN.

Đọc đi đọc lại các bài viết về Bố tôi cảm giác vui buồn lẫn lộn, nghẹn ngào khi đọc bào viết về Chú Đoàn Văn Xường – TĐP – TĐ 38 – Liên Đoàn 32 – Biệt Động Quân, người đã chứng kiến tận mắt cái chết thương tâm nhưng kiêu hãnh của Bố tôi, uất hận đến dâng trào về cái chết của Chú Xường. Chú đã vượt ngục nhiều lần nhưng không thành công để rồi bị biệt giam cho đến chết mà đến giờ này gia đình Chú ấy vẫn chưa tìm được xác. Chú xuất thân khóa 22 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt . . . Đau đớn tột cùng. Rồi lại nhớ những cuộc hội ngộ buồn vui trộn lẫn với Bác Đặng HT – Trung tá BĐQ, nhớ lần đi Kampuchea với bác ấy. Bác là một sĩ quan đàn anh người dẫn dắt và thương yêu Bố tôi như người em ruột thịt của mình, nhớ Chú Trần C Ch gọi điện về Việt Nam gửi cho nhà tôi một ít tiền, chú ấy nói :

“Chú không phải là quân nhân dưới quyền của bố con, cũng không cùng một Tiểu Đoàn, nhưng cảm thấy tự hào về tấm gương hào hùng của bố của con, chú cũng hoàn toàn hãnh diện về BĐQ, nhớ Bác Nguyễn N Kh – TĐT TĐ 33 – LĐ 32- BĐQ kể trong một lần dừng chân hành quân:

. . . Bác Kh và bố tôi đang nằm nghi trên võng thì một quả bom to rớt gần sát chổ nằm của hai người nhưng không phát nổ - Bố tôi cười và nói :

“Anh Khoan à, bom rơi như vầy mà anh em mình không sao, chắc số mạng em và anh lớn lắm, vậy thì mình đừng có lo lắng gì về chết chóc nữa.”

Rồi một ngày tôi được may mắn gặp rất nhiều bạn bè của bố tôi từ thời học tiểu học, người còn ở Việt Nam, người tận Úc và Mỹ. Khỏi cần phải nói là tôi hạnh phúc biết chừng nào, được các chú kể lại thời thơ ấu, thời vừa vào lính, thời chiến tranh ác liệt mà mọi người vì hoàn cảnh chiến tranh đã mất liên lạc, giờ còn lại đây người còn người mất, người đã nằm xuống cho quê hương, người còn nằm đâu đó chưa chịu về với gia đình, người mang thương tật đến suốt đời, người cách xa nữa vòng trái đất biết khi nào để tương phùng.

“Thoáng suy tư nhớ về thời thơ ấu

Mộng không thành từ lúc tuổi đôi mươi

Viết lên đây dòng chữ nghẹn thành lời

Rồi phút chốc sẽ chìm vào quên lãng

Sống trên đời mỗi người một sứ mạng

Người còn người mất bởi vì đâu

Cuộc đời đang sống mãi là bể dâu

Mong kiếp sau ngồi cùng nhau trò chuyện

Chuyện vui buồn hãy cùng nhau cầu nguyện

Cho Việt Nam mãi mãi được bình yên.”

Không khí những ngày này ở Saigon làm lòng người buồn da diết, những cơn gió nhè nhẹ mang cái se se lạnh dường như đang báo hiệu cho mùa mưa sắp về. Cái buồn chẳng hiểu vì đâu? Chỉ biết là buồn, buồn cho cuộc sống khó khăn, buồn cho số phận người ở lại, buồn cho nhiều thế hệ lỡ làng trong và sau cuộc chiến.

Buồn cho những người đền nợ nước mà chưa một lần được vinh danh, họ chỉ biết chiến đấu vì lời nguyện ước với núi sông:

Tổ Quốc – Danh dự - Trách Nhiệm.

Họ thật sự không cần vinh danh, không cần nghi thức phủ kỳ, không cần chức tước . . .

Họ chỉ cần những người còn lại nhớ đến họ và thắp cho họ một nén hương lòng để an ui họ phần nào, mỗi khi ngày 30 tháng Tư lại về.

Trần Thế. Con của Lính Việt Nam Cộng Hòa.”

Nước mất, nhà tan, xã hội đảo điên. Một bọn khủng bố lên nắm chính quyền, trả thù người Lính Việt Nam Cộng Hòa đến tận đời thứ hai vẫn còn thù, thì mong gì cuộc sống của những người Linh, những người Thương Phế Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn sống ở quê nhà được yên lành!

Hãy giúp đỡ những chiến hữu va gia đình của họ. Ngày xưa, trong báo Tiền Tuyến của Lính, có mục:

“Diều Hâu Mớm Con” để gây quỹ giúp những gia đinh anh em binh sĩ, tử sĩ.

Có ai còn nghĩ đến chương trình này không?

5. Vòng Hoa Chiến Thắng.

NGUYỄN KHẮP NƠI.

Về Du Học Mỹ

Thời sự: Trong “Câu chuyện Việt Nam” hàng tuần của đài phát thanh VOA, tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ, phát ngày 23/4/2011 gần ngày người Mỹ gốc Việt kỷ niệm ngày Quốc Hận thứ 36, gạt nước mắt bỏ nước ra đi tỵ nạn CS, có tin phân tích khá dài của Nguyễn Trung. Tin rằng Thứ trưởng Thương mại Mỹ trong nội các của TT Obama, là Ông Francisco Sanchez hướng dẫn một phái đoàn gồm đại diện của gần 60 trường đại học và cao đẳng của Hoa Kỳ đến nước Cộng Hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực giáo dục giữa hai nước.
Thời sự này đáng chú ý cho người Việt trong lẫn ngoài nước. Cái nhìn có thể có khác nhau tùy quan điểm, lập trường chánh trị đối với tương quan giữa Washington và Hà nội. Nhưng đứng trên phương diện quyền lợi quốc gia dân tộc Việt Nam vốn là một thực thể trường tồn trong khi nhà cầm quyền chỉ là giai đoạn bởi quan nhứt thời dân vạn đại - việc người Việt đi du học Mỹ là một điều tốt và có lợi.
Một là lợi về kinh tế và chánh trị cho Mỹ. Từ thời TT Bush Cộng Hoà đến TT Obama Dân Chủ lúc nào Mỹ cũng muốn tăng cường việc du học Mỹ đối với người Việt trong nước. Chánh quyền Mỹ xem vấn đề VN du học Mỹ là vấn đề vừa kinh tế vừa chánh trị. Đại sứ Mỹ Michael Michalak mãn nhiệm mới ra đi lúc nào cũng tự hào trong nhiệm kỳ của Ông ở VN, Ông đã tăng số sinh viên VN lên gấp bốn. Và ông Thứ trưởng Thương mại hướng dẫn phái đoàn đại học Mỹ nói với VOA, rằng Mỹ muốn chứng kiến con số đó ‘tăng thêm’.
Về kinh tế lợi cho Mỹ là cái chắc, có thể kiểm chứng được. Nội cái việc Ô Thứ Trưởng Thương mại cầm đầu một phái đoàn gồm gần 60 đại diện đại học và cao đẳng Mỹ đi VN là một bằng chứng cụ thể. Ông khẳng định giáo dục và đào tạo được coi là một trong 10 dịch vụ xuất khẩu hàng đầu của Hoa Kỳ.Trong niên học 2009 - 2010, sinh viên quốc tế đóng tiền học và chi tiêu đã đem lại cho nền kinh tế Mỹ gần 20 tỷ đôla. Sinh viên Việt Nam có nhu cầu đi du học lớn, trong khi nhiều trường đại học, cao đẳng của Mỹ muốn tới Việt Nam.
Còn về chánh trị cái lợi cho Mỹ là một giả thuyết, một hy vọng, chưa kiểm chứng được. Ô. Thứ trưởng nói: “Tôi nghĩ rằng sinh viên từ bất kỳ nước nào, khi họ tới và chứng kiến quyền tự do ngôn luận đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới thì họ có thể giúp mang những đặc tính tích cực đó về nước nhằm giúp nước mình phát triển cả về kinh tế lẫn chính trị’”. “Các sinh viên sẽ có cơ hội thiết lập các mối quan hệ lâu dài, mà những ai quyết định trở về và bắt đầu kinh doanh, sẽ có các đầu mối liên hệ để giúp họ phát triển công việc kinh doanh trong tương lai.” “Tôi nghĩ rằng có rất nhiều cơ hội từ việc đi du học và đặc biệt là tại Mỹ” và “quá trình học tập tại Mỹ có thể giúp các sinh viên Việt Nam quan sát và học hỏi từ ‘cách thức chính phủ và xã hội hoạt động’.
Hai, lợi cho nhà cầm quyền CS Hà nội. Bang giao và giao thương và có thể hợp tác an ninh với Mỹ mà không cán bộ, đảng viên ăn học, hiểu biết Mỹ là như người mù đi đêm rồi. Việc đưa con cháu các cán bộ đảng viên CS đi học Mỹ để đào tạo đội ngũ kế thừa tiếp tục cai trị hay cho một số sinh viên con em thường dân giàu nhờ cuộc đổi mới kinh tế du học Mỹ rồi sau đó tạo điều kiện cho họ phấn đấu để kết nạp vào đảng – là điều đảng cầm quyền độc tài thường phải làm. Con của cán bộ gộc của Trung Cộng, Hàn Cộng đều được đưa đi du học để trở thành hoàng tử đỏ có học hơn cha là nhà có phước.
Trước mắt “Con cháu các cụ cả” của Đàng CSVN đi học có thể trở thành đường dây chuyển tiền, rửa tiền, cất dấu ở ngoại quốc, và đầu cầu của con đường thoát thân lỡ khi có biến động chánh trị lớn như phe cánh hay dân chúng đứng lên lật đổ chánh quyền chẳng hạn.
Cái lợi này đối với Đảng Nhà Nước CSVN lớn hơn cái hại do những người du học Mỹ về hoạt động và vận động diễn biến hay chuyển biến hoà bình chế độ độc tài đảng trị toàn diện của CS sang thể chế tự do, dân chủ. CS độc tài toàn trị rất dễ diệt sự chống đối của trí thức. CS chọn người theo lý lịch, cho thăng tiến theo biên chế của Đảng, tức thâm niên đảng tịch và thành tích phấn đấu, hồng luôn cao hơn chuyên thì người có học ngoài đảng chỉ làm chuyên viên thôi, chớ khó làm chánh trị, làm chính sách.
Theo Tiến sĩ Lê Sĩ Long, Giám đốc Sáng kiến Quốc tế về Chương trình nghiên cứu Toàn cầu của Đại học Houston, tứ hai năm trước đã thấy VNCS đang tìm cách ‘cải tạo’ các cá nhân từng đi du học và có tư tưởng ủng hộ thay đổi hệ thống chính trị, điển hình là hai người đang thụ án tù là luật sư Lê Công Định, hay blogger Nguyễn Tiến Trung. Ông nói “Hành động trấn áp của chính phủ Việt Nam dù ít dù nhiều sẽ phát đi một thông điệp tới thế hệ trẻ, các du sinh rằng, họ có thể đi học ở nước ngoài, nhưng chính quyền sẽ đảm bảo rằng họ không thể sử dụng kiến thức để chống lại nhà nước độc đảng." Vì thế theo Tiến sĩ Long, “nhiều sinh viên Việt Nam theo học ở Hoa Kỳ và lĩnh hội được một số các giá trị dân chủ không muốn quay trở về vì chưa hợp thời’.
Ba và cuối cùng, lợi cho quốc gia dân tộc trong trường kỳ. Được biết VN hiện có 13,000 sinh viên du học Mỹ, đứng hạng 9 trong số các quốc gia có số lượng du học sinh cao nhất tại Mỹ. Tự do, dân chủ không phải là giá trị của nền văn minh Tây Phương như CS thường hay ngụy biện. Nó là giá trị phổ quát, trình độ tiến hoá của Loài Người. Khoa học kỹ thuật Mỹ là tiền tiến nhứt thế giới. Sinh viên du học Mỹ dù là con em của CS về nước trở thành hoàng tử đỏ cũng không đỏ hoét, đặc sệt CS như cha anh họ. Sinh viên dân thường học Mỹ về dù chỉ là chuyên thua hồng trong guồng máy công quyền hay thành những người sống và làm việc trong xã hội VN do CS khống chế, ít nhứt tác phong hành động tự do, dân chủ mà họ hấp thụ trong thòi gian học Mỹ cũng ảnh hưởng một phần nào trong dân chúng và đối với những cán bộ đảng viên cùng du học với họ.Và ngay những sinh viên du học không về nước vì bất mãn con người và chề độ độc tài CS nhứt định cũng có dính líu với người trong nước, sẽ chuyển ánh sáng tự do, dân chủ về quê hương và trở về nước khi có thay đổi chế độ./.

( Vi Anh)

Những Tâm Trạng Về Ngày 30/04: ‘Triệu Người Vui, Triệu Người Buồn’?

Không ai mong đợi, ngày 30/04 hằng năm vẫn đến . Nó đến để nhắc nhở Người Việt Hải ngoại cái mốc thời gian quan trọng trong lịch sử thành lập Cộng Đồng Người Việt nam Hải ngoại. 30/04 là ngày khai sanh ra một nước Việt nam Hải ngoại với hơn 3 triệu dân sống trên 90 vùng lục địa của quả địa cầu. Nước Việt nam Hải ngoại hội đủ những điều kiện nhân xã, phong phú, trên cơ sở «Quyền tự quyết dân tộc » (!) ghi đậm nét trên 2 Hiệp định Genève và Paris về chấm dứt chiến tranh và vảng hồi hòa bình cho Việt nam . Chỉ thiếu Chánh quyền và lãnh thổ riêng của mình mà thôi .
Đồng thời ngày 30/04 cũng đến để làm sống lại những hình ảnh đau thương của 36 năm trước, nhắc lại cảnh nước mất, nhà tan, kẻ chết, người sống, gia đình lạc nhau, …do những người cộng sản hà nội cố tâm gây ra v ừa nhằm trả thù và vừa khủng bố nhân dân Miền nam.
Ngày 30/04 đến không ai mong đợi ! Nhưng có một Cụ Già ngày ngày gở lịch, đánh dấu một ngày qua, để biết mình còn sống thêm một ngày. Năm nay, Cụ nhìn tờ lịch 30/04 với những xúc động mãnh liệt vì những hình ảnh của ngày 30/04 cách đây 36 năm bổng hiện về tràn ngập trong ký ức của Cụ như ngày ấy mới xảy ra hôm qua:
“… Làm sao giải thích được mỗi lần tôi gạch tréo một ngày như vậy tôi có cảm tưởng như là tôi vừa nhích lại gần quê hương một chút - một chút thôi - đủ để nuôi hy vọng thấy một ngày nào đó mình vẫn còn sống mà trở về…
Sáng nay, cũng giống như mọi ngày, tôi cầm bút gạch tréo ô vuông ngày hôm qua. Ô vuông ngày hôm nay đập vào mắt tôi làm tôi giật mình : ngày nầy, năm 1975 ! Tôi bỗng nhớ ra, nhớ rõ, những gì đã xảy ra ngày đó, nhớ như in. Rồi sợ « cái ngày đó » nó vuột khỏi ký ức vốn đã
quá hao mòn của tuổi già , tôi vội vã lấy giấy bút ghi lại…” *
Cụ viết tiếp về ngày 30/04 năm 1975 lúc đó Cụ trách nhiệm kho xăng dầu của hảng Shell ở Nhà Bè nơi cung cấp tới 65 % nhiên liệu cho nhu cầu quân sự mà lúc đó trong kho chỉ còn tạm đủ cho 7 ngày máy bay hoạt động . Singapore từ chối chở qua một tàu xăng máy bay theo hợp đồng đặt mua của Cụ nếu không được lực lượng an ninh Mỹ hộ tống . Cụ lo lắng quân đội hết xăng trong lúc vc đang trên đà tiến quân hùng hục vào vùng Sài gòn nên đã yêu cầu người Mỹ giúp đở . Cụ lo lắng không đủ nhiên liệu cho chiến trường đang hồi sanh tử là do phát xuất từ tinh thần tự giác trách hiệm, chớ kỳ thật cho tới lúc đó, và suốt thời gian qua, không có Cơ quan hữu trách nào của Chánh quyền Sài gòn quân tâm tới . Không một liên hệ với Cụ để theo dõi khả năng cung cầu của đôi bên . Có lẻ Chánh quyền nghĩ mọi nguồn cung cấp cho nhu cầu sống còn của Miền nam là vô tận và phải có thôi. Tới lúc này, thì phần lớn cấp lãnh đạo cao cấp ở Sài gòn đang bận lo thu xếp tài sản để chạy giử lấy thân lại càng không có thì giờ để nghĩ tới xăng dầu .
Ông W. một người Mỹ thuờng làm việc với Cụ vội tới với 2 phụ tá để giải quyết. Sau khi nghe Cụ trình bày vấn đề, ông W. điện thoại nói chuyện với cấp liên hệ và cho biết yêu cầu của Cụ bị từ chối. Ông W. vì cảm tình riêng với Cụ, khuyên Cụ nên ra đi khỏi Việt nam vì nơi đây sẽ chẳng còn gì :
“…Một lúc sau, nét mặt và giọng vẫn tự nhiên :« Rất tiếc! Chúng tôi không giúp được ! Thôi ! Chúng tôi về !».
Tôi đang nghe nghẹn ngang ở cổ thì ông W vỗ vai tôi nói nhỏ bằng tiếng Pháp :«Allez vous en ! » (Ông hãy đi, đi !) Ra đến cửa phòng, ổng ngừng lại nhìn tôi, gật nhẹ đầu một cái như để chào nhưng tôi nghĩ là ổng muốn nhắc lại câu nói cuối cùng « Allez vous en ! »…
Tôi ngồi bất động, nghe thấy mình bất lực quá và cũng tức tràn lên cổ vì nghe thương vô cùng cái quê hương nhỏ bé của mình, nhược tiểu đến mức độ mà khi cần nắm tay thì «họ » dán nhãn «hai bàn tay nắm lấy nhau» để chứng tỏ sự thật tình «khắn khít», rồi khi không cần nữa thì cứ tự nhiên buông bỏ không ngượng tay vì biết mười mươi rằng « thằng nhược tiểu đó không làm gì được mình » !
Tôi ráng kềm xúc động, bước qua phòng họp của ban giám đốc, chỉ nói được có mấy tiếng :« Chánh quyền Mỹ từ chối ! ».
Trên đây là nổi đau đớn của một tư chức khi biết đất nước thương yêu của mình sắp mất vào tay giặc . Cụ đã không làm theo lời Ông Mỹ khuyên “ Allez-vous en ” mà ở lại chia sẻ với người thân khá nhiều đắng cay, uất hận của chế độ cộng sản dành cho dân ngụy để 36 năm sau, ở một vùng ngoại ô Paris, Cụ gở từng tờ lịch mà mong được xích lại gần, bao nhiêu hay bấy nhiêu, cái ngày trở về quê hương.
Năm nay, ngày này, ở Hà đông, nhà báo Nguyễn Thượng Long** suy nghĩ, phán xét đâu là ý nghĩa đích thực của cái ngày 30/04 năm 75 . Ông phê phán về ngày 30/04 năm nay không phải để cho riêng ông được thỏa mản, mà đối với ông, là một hành động vô cùng thiêng liêng vì Ông đem trọn vẹn sự suy nghĩ ấy dâng lên Mẹ và Quê hương của Ông .
Hình ảnh ngày 30/04 khi chiến xa của quân giải phóng tiến vào cổng Dinh Độc Lập hiện về sống đọng trong ký ức của ông bổng làm ông nhớ lại lúc đó, nhạc sĩ Văn Cao đang ở đường Yết Kiêu, Hà nội, cất lên những hợp âm làm xao xuyến lòng người :
“Từ nay người biết yêu người,
Từ nay người biết thương người”.
“… Tôi nghĩ rằng đã là người Việt Nam, dù là người chiến thắng hay là kẻ chiến bại, dù ở đâu trên mặt đất này thì ai ai vào ngày tháng đó cũng thở phào và không ít thì nhiều đều có chung cảm hứng yêu thương nhau như vậy. Nhưng những gì đã diễn ra sau mốc lịch sử đó lại không hoàn toàn như vậy, đến nỗi hơn mười năm sau (1987), ngày ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ, nhà văn NHT một lần phải thốt lên : “Vinh quang nào mà chẳng xây trên những nỗi điếm nhục !”. Tôi không biết tâm trạng của anh NHT lúc đó như thế nào mà lại phải thốt lên lời dữ dội như vậy.
Thế hệ chúng tôi và anh NHT sinh ra và lớn lên cùng với sự ra đời của nhà nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Độc lập Tự do Hạnh phúc”. Tuổi ấu thơ chúng tôi trôi đi cùng với những cuồng nộ của một thế thái nhân tình rất xa lạ với những phẩm chất truyền thống của một dân tộc bản chất là hiền hoà. Kí ức đầu đời của thế hệ chúng tôi chưa thể nhạt nhoà về những gì đã đến sau những phát triển quái gở của chủ thuyết “ Đấu tranh giai cấp”, về con đường chuyên chính vô sản, về bạo lực cách mạng” mà những người cộng sản đã du nhập vào đất nước chúng tôi. Vẫn còn nguyên đó những câu hỏi đầy ám ảnh:
- Tại sao lại phải “Đào tận gốc, trốc tận rễ” đám Trí – Phú – Địa – Hào… rồi bây giờ lại gọi đó mới chính là nguyên khí của đất nước !
- Tại sao sau Cải Cách Ruộng Đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải thay mặt Đảng thanh minh trước quốc dân đồng bào rằng : Một Đảng biết nhận ra khuyết điểm của mình, Đảng đó còn có thể tiến bộ, rồi ông lặng lẽ rút khăn tay lau nước mắt. ( !?).
- Tại sao lại phải cải tạo thực ra là đánh sập công thương nghiệp tư bản tư doanh tới 2 lần (Miền Bắc sau năm 1954 – Miền Nam sau 30/4/1975). Sau 1986 đến nay lại phải làm lại gần như từ đầu.
- Tại sao lại phải mở ra các “Pháp trường trắng” trong vụ đàn áp nhân văn giai phẩm và xét lại chống Đảng. Pháp trường trắng là : “Nơi không có đầu rơi, không có máu chảy, nhưng có người chết” – (Nguyễn Tuân). Thời gian và năm tháng đã trôi qua đã đủ để minh oan cho những con người tài hoa, dũng cảm và trung thực đó. Đến nay trên thực tế không ít người trong họ đã được vinh danh trở lại thì hỡi ôi người còn, người mất, người đang sống nhưng phải sống đời sống thực vật, cỏ cây, người tha hương biệt xứ mãi mãi ôm theo những kí ức đầy ám ảnh nặng nề, tại sao lại phải làm như thế ?
Hôm nay, lại một ngày kỷ niệm 30/4 nữa đến với đất nước chúng ta, dân tộc chúng ta. Cái ngày lịch sử mà cựu Thủ tướng, cựu Uỷ viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Võ Văn Kiệt đã từng ngậm ngùi mà nói : “ Có triệu người vui ! Cũng có triệu người buồn !”.
Chắc chắn chỉ có những người cộng sản chiếm được quyền lực, cướp giựt tài sản nhân dân Miền nam, biển thủ tài nguyên đất nước làm giàu thì vui mà thôi . Còn lại là toàn dân, nạn nhân của cường quyền cộng sản, chỉ biết chẳng những buồn mà uất hận, câm thù chế độ này.
Ông Võ văn Kiệt nói câu đó như hàm ý chia sẻ nổi đau của một đại bộ phận dân tộc. Nhưng đó cũng chỉ là lời nói chẳng đặng đừng mà thôi . Bởi nếu lương thiện thì ông Kiệt đã không đem trọn đời của ông đi làm cách mạng để có ngày mà «Có một triệu người vui, có một triệu người buồn» như vậy . Hơn ai hết, ông Kiệt, cũng như Lê Duẩn, Nguyễn văn Linh, đều đã sanh sống trong Miền Nam, ông phải hiểu đời sống ở Miền nam như thế nào, tình cảm của dân Miền nam đối với ông như thế nào mà ông có thể hoạt động được suốt nhiều năm dài để có ngày 30/04 ? Rồi sau 30/04, chánh quyền của ông đối xử với những người đã từng giúp đở ông và các đồng ngũ của ông như thế nào ? Phải chăng cộng sản các ông toàn là một thứ phản trắc, vô ơn bạc nghĩa, coi cái cộng sản của các ông trọng hơn nghĩa đồng bào, tình dân tộc không?
Sáng nay, Cỏ May nhận được bức thư của một nữ Giáo chức từ Huế gởi thăm hỏi người thầy củ ở Pháp . Bức thư không viết thăm hỏi thông thường như những lần khác, mà viết như để bộc bạch cho đươc vơi đi phần nào những uất nghẹn chất ngất từ 36 năm qua ở người phụ nữ trí thức và lương thiện phải sống dưới một chế độ cộng sản bất lương:
«Thầy kính thương,
Hai đứa em cảm nhận nỗi lòng Thầy với sự tình Việt Nam hiện tại, đó là sự thực, nhìn sự thực trước mặt để biết thế nào là tương lai sắp đến .
Nhớ lại trong phim "Tể tướng Lưu Gù", anh chàng Lưu Dung đánh động Càn Long với hai chữ " Bán hết" để nói lên việc gian lận trong kỳ thi mà Lưu Dung vừa trải qua .
Nước Cộng Hòa XHCNVN cái gì cũng "bán hết" ! Ngay cả thân mạng con ngươi còn bán, huống hồ "đất đai".
Riêng từ ngữ : Đất-Nước xem ra thế nào ?
Đất + Nước = Đất nước .
Đất bán hết thì nước sao có thể còn được .
Danh từ mới XHCN " Quỹ đất " ; cứ thế mà thi nhau "bán hết" dưới mọi hình thức: đầu tư, quy hoạch, phát triển ....điển hình ... mô hình ... nhân rộng... cộng tất cả "bán hết" thì "hết bán" vì hết sạch cả rồi !!!!
36 năm sau ngày thống nhất thì đến "bán tất" !!!!!
Và "biết ra sao ngày sau"????
Đúng là "tận thế" = tận tường thế giới gian xảo.
Với em, hai chữ « Tận thế » được hiểu như thế , chứ không phải là thế giới này chết hết người.
Tận thế = tận thế gian, tỏ tánh người, tở tường nhân thế.
Hiện con người tuy thân người nhưng người có tâm, đứng vào hàng NHÂN thì hiếm hoi lắm, kỳ dư là tâm dữ, tâm ác : tán sát các loài : giết thú rừng, phá cây rừng, tàn phá thiên nhiên, hủy hoại con người dưới nhiều hình thức khác nhau : thanh - thô - tế nhị .
Thầy ơi !
Động đất - sóng thần , đất động vì tâm địa nhân thế thời này đang dậy sóng vì ba độc Tham Sân Si làm chủ .
Đây là điều mà hơn 36 năm trước, chắc hiếm người đã nghĩ đến .
Biết nói gì đây, Thầy ơi .
Em Dung , 30/04/2011»
Cỏ May xin có lời cảm tạ Cụ Tiểu Tử, nhà báo Nguyễn Thượng Long và nhà Giáo Dung vì Cỏ May đã trích dẫn một đôi dòng tâm sự của quí vi để muợn giải bày những ấn ức riêng của mình khi ngày 30/04 đến, một lần nữa, nhắc Cỏ May nay đã đi khỏi quê hương Nam kỳ Lục tỉnh của mình hết 32 năm rồi mà chưa biết bao giờ sẽ trở lại.


Nguyễn thị Cỏ May

Ghi chú :
- Tiểu Tử , Ngày 30/04 năm nay. Trước 30/04/75, Ông làm Giám đốc Shell Nhà Bè.
- Nguyễn Thượng Long, nhà báo, Tìm mãi yêu thương, Hà đông, 4/2011.
- Bức thư riêng của một nữ Giáo chức đang sanh sống tại Huế gởi thăm thầy cũ, nhận được ngày 26/04/2011.

Tháng ngày buồn

Lại thêm một tháng tư nữa, 36 năm tròn sống trong đau đớn tủi nhục. Người ra đi mỏi mòn trông ngóng, người ở lại trông ngóng mỏi mòn. Có lẽ không một người dân miền Nam nào không nhớ chuỗi ngày đau thương này. Có ai hỏi tôi tháng ngày nào trong đời tôi cảm thấy buồn nhất, tôi sẽ không ngần ngại trả lời ngay rằng đó là ngày 30-04-1975. Từ ngày đó, cuộc đời tôi đóng lại, sang trang. Ngày qua tháng lại, niềm oán hận vơi bớt nhưng nỗi tủi nhục không tan, nỗi đau lòng ngày càng chồng chất.

Năm nay không hiểu vì sao tôi lại đau lòng đến thế không biết ! Tự hỏi vì sao? Đau lòng vì sự ra đi vĩnh viễn của một nhạc sĩ suốt đời trăn trở cho niềm đau của dân tộc? Đau lòng vì đọc mấy bài viết sỉ nhục quân dân miền Nam, được đăng tải bởi một trang mạng mà mình luôn theo dõi ? Đau lòng vì một ý kiến vu vơ trên diễn đàn, lăng nhục cả một tập thể quân nhân của nước bại trận? Hay vì nghe tin một luật sư can trường phải lãnh bản án hơn 7 năm ngồi sau chấn song sắt mà tương lai của đất nước vẫn thăm thẳm mù khơi? Hay đau lòng vì thấy biên cương lãnh thổ ngày một bị mất dần từng mảnh?

Nghĩ tới nghĩ lui, sự đau lòng này có lẽ do tổng hợp những nguyên nhân trên và nhiều nguyên nhân khác nữa.

Sáng nay, nghỉ cuối tuần, được đọc bài viết của Trúc Xanh, lòng càng quặn đau, trí óc tôi lại nhớ, nhớ thật nhiều, rồi chập chờn trong ký ức, những hình ảnh xa xưa hiện về...

Phải nói sao đây? Hình ảnh đứa em gái mới 21 tuổi đã quấn khăn sô, vật vã bên quan tài người chồng, tay ôm hai đứa con dại, một đứa 3 tuổi, đứa kia còn bồng trên tay. Cố thiếu tá không quân! Không đau lòng sao? Nhưng dù sao đó cũng là những ngày tháng giao tranh, hai bên cùng có người gục ngã.

Còn những ngày gọi là hoà bình, thống nhất thì như thế nào?

Sài Gòn 30-4-1975
Nguồn: OntheNet
Những ngày cuối Tháng Tư, Sài Gòn chao đảo, mẹ tôi bảo chở bà đến thăm đứa con trai thứ hai bị thương ở chiến trường Mộc Hoá, được đưa về bệnh viện Sài Gòn điều trị. Lo lắng cho con, lại sợ gia đình có quyết định gì, bỏ con lại không đành, bà bảo con khoan về đơn vị, ở lại chờ xem tình hình ra sao; người con trai trả lời rằng anh không thể bỏ rơi đồng đội và ngày hôm sau anh quay về Mộc Hóa.

Ngày 30-4, lãnh tụ đầu hàng, anh thất thểu trở về, nước mắt đầm đìa, uất hận nói rằng trên đường về nhìn thấy đạn dược vất lăn lóc, vậy mà trên chiến trường không có đạn để chiến đấu! Anh đập đầu vào tường khóc thảm thương khi thấy ba mình quyết định ở lại, kéo cả đại gia đình kẹt theo.

Lệnh đi học tập 10 ngày. Mẹ lui cui gói hành lý cho hai con trai đầu, một con rể và một đứa cháu nuôi từ thuở bé, vị chi 4 người. Mẹ tin tưởng chỉ xa các anh 10 ngày thôi. Nhưng người anh thứ hai khều nhẹ em gái ra sân, hỏi em có nhớ chuyện Ba Lan không ? Em gật đầu, anh nói, vậy thì cứ nghĩ như các anh chết rồi đi, nhưng đừng nói chi cho mẹ biết, mẹ đau. Mẹ chưa đau mà lòng tôi đau nhói. Thôi rồi, anh nói nhẹ nhất là đi vác tà vẹt, không có ngày về. Tiễn các anh đi, nhà trở nên âm thầm lặng lẽ.

Các anh rời nhà, một thời gian ngắn sau đó, ba uống 20 viên chloroquine, khi phát hiện ra, huyết áp của ba chỉ còn 70, bà bác sĩ gia đình chỉ lẳng lặng khuyên mẹ đưa ba vào bệnh viện. Vài hôm sau gặp mẹ, bà hỏi tin ba, nghe nói ba được cứu sống, bà không dám tin vì bà nói trong cuộc đời hành y của bà, chưa thấy ai huyết áp xuống 70 mà còn sống. Mẹ nói huyết áp của ba bình thường chỉ 90 mà thôi. Bà thốt: “À, ra thế!”

Nghe tin trại giam Long Khánh nổ, mẹ lo âu vì con Cả ở tù trong trại này nhưng tin tức bằng bặc. Đứa em trai út, mới 17 tuổi, nóng tin anh, trong cơn phiền muộn, ngồi trong lớp học, vẽ nghệch ngoạc trên trang vở một vòng tròn có mắt, có mũi, có tai, có miệng với ba sợi tóc dựng đứng trên đầu, dưới bức hình đề tên “Hồ Chí Mén.” Ra về bị công an bắt ngay trước cửa lớp. Hoá ra sau lưng em là tên chỉ điểm, nhìn thấy bức vẽ, hắn ta lẻn ra khỏi lớp báo cáo ngay với công an, thế là em bị tóm vào tù.

Bốn đứa lớn còn ở trong tù, mẹ lại sói đầu thêm vì cậu Út ! Kẻ đi Bình Dương, người đày Phú Quốc, kẻ ở Hàm Tân.

Một buổi chiều mưa lất phất, chợt một người đàn ông dáng dấp lam lũ gõ cửa bước vào. Anh giở nón chào, lần trong nón, lấy ra một mảnh giấy nhàu nát có bút tích của anh Cả. Anh báo tin da anh đã vàng ệch, xin mẹ gởi thuốc sốt rét gấp.

Mẹ run rẩy, cả nhà náo loạn, người soạn hành lý, kẻ chạy đi mua thuốc, mẹ tất tả đi trong đêm với người đàn ông lạ. Thì ra những ngày bị đi lao động, anh Cả thường gặp người đàn ông này, vì vậy khi anh ngã bệnh, người này tình nguyện trèo non lội suối đem thư về giùm. Có thuốc kịp thời, cứu được mạng anh nhưng con vi trùng sốt rét vẫn tiềm ẩn trong cơ thể anh, thỉnh thoảng tràn ra, gây cho anh những cơn nóng lạnh bất thường. Mẹ xin tạ ơn người đàn ông tốt bụng, anh từ chối, chỉ lấy tiền xe. Trong khốn cùng vẫn còn những tấm lòng vàng, xin cám ơn anh, người không quen biết. Có vậy mới biết tình quân dân cá nước.

Hết anh Cả, đến anh Hai. Một ngày được phép đi thăm, mẹ cùng hai con gái, gian nan vất vả, tay xách nách mang, đem thức ăn, thuốc uống đến cho con. Từ xa, thấy một người cõng anh trên lưng, hai đứa em gái biết chuyện chẳng lành, rú lên khóc, mẹ điếng người. Đến nơi, người bạn nhẹ nhàng đặt anh xuống. Anh bị gãy cột sống, lý do là cả nhóm bị ngồi “học tập” trong một căn nhà chỉ còn khung gỗ, gió xô khung gỗ sập, đè lưng anh, xương sống gãy đôi. Không bệnh viện, không thuốc men, chỉ còn đồng đội ! May mắn thay trong nhóm có một bác sĩ và một dược sĩ. Họ ghép gỗ, trói chặt anh vào, không cục cựa. Nằm như thế mấy tháng trường, vết thương tự lành. Bạn bè hằng ngày thay nhau cõng anh đi vệ sinh, đút cơm cho anh ăn. Anh bạn dược sĩ, sau những giờ lao động vất vả, luẩn quẩn quanh anh, chăm sóc anh với tình thương mến chân thành và chính anh ấy là người cõng anh Hai ra gặp mẹ cùng các em. Anh Hai thoát chết nhưng vì thiếu phương tiện, chữa trị bằng phương pháp thô sơ với tình đồng đội thắm thiết che chở cưu mang, cột sống anh lành nhưng nhô ra 2 phần rõ rệt, từ đó cứ trái gió trở trời là anh đau nhức !

Người rể và đứa cháu lênh đênh trên con tàu được gọi là con tàu Exodus đầy phân và nước tiểu, đi đày ra Phú quốc.

Rồi Mẹ chạy sói đầu để lo cho cậu Út được phóng thích.

Ngày đầu tiên ra khỏi tù, nửa đêm thấy em lồm cồm bò dậy, mở hộc bàn, lấy tờ giấy phóng thích ra mân mê, em nói như trong cơn mê rằng có phải em tự do rồi không ? Hỏi em trong tù thế nào? Em nói họ trói em, một tay quành qua vai ra sau lưng, tay kia vòng xuống lưng, tay này bắt chéo tay kia, trói nghiến, cứ thế mà ngồi suốt ngày suốt đêm, sự đau đớn buốt tới đầu, tới vai, tới cổ, mấy tháng trời. Họ không tin đứa con nít 17 tuổi hành động như vậy, họ nghĩ sau lưng em phải có một tổ chức, để moi cho ra tổ chức nào xúi dục em, họ đã hành hạ em như thế. Họ không bao giờ nghĩ rằng khi uất hận, con người có thể làm nhiều việc không ai ngờ được.

"Giải phóng Miền Nam"- Tranh Babui
Nguồn: DCVOnline.net
Những người ở tù lần lượt ra, kết hợp với đứa con trai duy nhất còn ở nhà, không bị nằm…tù, vì em là chuyên viên và không có nợ … máu ! Mẹ lo cho các con vượt biên. Mẹ nói có bán hết gia sản, mẹ cũng không muốn thấy các con trai bà sống trong ngục tù.

Người trong tù và người ra đi đã biết số phận mình, chỉ người ở lại lo âu, trông ngóng cho đến khi cầm được bức điện tín báo tin đến nơi an toàn trong tay. Nếu nhìn được khuôn mặt rạng rỡ của người ở lại, chắc hẳn những người ra đi đều thấy ấm lòng.

Ba bị giữ lại tại phi trường vì tội “trí thức miền Nam”! Với người Cộng sản ngày đó, trí thức của miền Nam cũng là kẻ có tội! Vì đã một lần được cứu sống, nên lần này ba dùng phương pháp nhịn ăn dần dần, cả nhà bất lực nhìn ba từ từ đi vào cõi chết. Đau đớn hơn nữa là chết…đói!

Mẹ là người trong gia đình tới vùng tự do sau cùng, sau khi đưa ba về nơi an nghỉ cuối cùng. Và mẹ cũng là người bỏ mọi người ra đi trước tiên. Biết mẹ sẽ bỏ đi, các con hỏi mẹ có muốn đưa về nằm cạnh ba không, mẹ trả lời chắc nịch rằng mẹ muốn nằm trong lòng đất tự do, mẹ không muốn về nằm ở nơi đã gieo bao nổi đau thương cho mẹ và dân tộc mẹ. Mọi người đùa với mẹ là đất ở đây phủ tuyết 6-7 tháng, lạnh lắm, mẹ cười nói, đất lạnh nhưng tình nồng. Biết mẹ sẽ vĩnh viễn ra đi, các con hỏi mẹ có muốn về thăm một lần không? Mẹ lắc đầu!

Toàn gia đình tôi đã đặt chân đến bờ tự do, ngoại trừ ba. Nơi quê hương mới, chúng tôi xây dựng lại bằng năm bằng mười những vật chất bị cướp mất ở quê nhà, nhưng vết thương tâm linh có lẽ không bao giờ lành lại.

Hương Cao

Bài Xem Nhiều