We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 30 April 2011

NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HOÀ NGHĨ GÌ NHÂN NGÀY 30 THÁNG TƯ NĂM 2011.

Nguời lính Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) hiện diện tại Hải Ngoại trên từng các quốc gia Tự Do để làm quê hương thứ hai, thấp thoáng mà đã 36 năm rồi, tính ra có người đến được bến bờ Tự Do gần 20 năm, sau khi ra tù Cộng Sản và được cứu xét Tỵ Nạn Chính Trị tại các quốc gia tạm dung.

Gần như toàn thể quân nhân các cấp chưa ai có giấy giải ngũ, họ bị bức tử rã ngũ sau hơn 20 năm dài (1954-1975) thi hành nghiã vụ thiêng liêng bảo vệ lãnh thổ và người dân Miền Nam Việt Nam. Ngưới lính VNCH ngày nay dù không còn sống trên đất nước Việt Nam nhưng tâm hồn luôn gắn bó với Quê Hương và Dân Tộc, với họ hàng, bè bạn chiến đấu và những đồng đội thương binh năm xưa còn ở lại.
Chúng ta có đủ điều kiện để căm thù Cộng Sản, cũng như đại đa số đồng bào hiện đang sống trong gông cùm Cộng Sản suốt mấy chục năm qua. Nhưng trách nhiệm chưa tròn, đứng trước quốc dân, trước đồng đội đã ngã xuống, trước những lời hứa cùng các bạn tù năm xưa, chúng ta không đặt niềm “Căm Thù” vào công cuộc đấu tranh cho “Chính Nghĩa”. Không đặt căm thù vào Cộng Sản Việt Nam (CSVN) không phải là vì sợ cộng sản trả thù, hay vì trông chờ Hoà Hợp Hoà Giải mà vì hiện nay kẻ khiếp sợ là chính bọn Việt Gian Cộng Sản chớ không phải dân ta. Do đó muốn chiến thắng kẻ thù bằng Chính Nghiã thì chúng phải vượt qua sự thấp hèn của bọn Phi Nghĩa.
Hoà Hợp Hoà Giải với CSVN là điều không thể thực hiện được tại Việt Nam, vì trong lịch sử từ năm 1930 đến nay trên 80 năm biết bao cơ hội Hoà Hợp, Hoà Giải Dân Tộc để kiến tạo sức mạnh Toàn Dân, mà cả thảy đều bị Cộng Nô phủi sạch vì trong Cương Lĩnh của chúng chỉ biết “Căm Thù, Căm Thù và Căm Thù”.

Tấm gương sáng chói của nhà tranh đấu cho Dân Chủ và Nhân Quyền Trung Quốc Lưu Hiểu Ba, đã được Giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 2010, mặc dù ông bị kết án, đày đoạ hàng chục năm tù kể từ Biến Cố Thiên An Môn 1989, nhưng ông vẫn kêu gọi đấu tranh “Bất Bạo Động” và dẹp Hận Thù trong đấu tranh, ông nói: “Thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của ta, phá hỏng lòng khoan hòa và tình người của một xã hội.”
Có người lại hỏi: Các anh tranh đấu cho Dân Chủ và Nhân Quyền cho ai? Xin thưa không phải cho 3 triệu người Việt Hải Ngoại, mà cho 86 triệu đồng bào trong nước. Tức là chúng ta phải thấu đáo nguyện vọng thiết thực của đồng bào Việt Nam muốn gì? Kế đến nhìn ra thế giới để lượng xem “Thế Nước” và nhìn vào trong nước để thấu đạt “Lòng Dân”.
Cách đây mười năm người ta ước lượng Cộng Sản tồn tại từng thập niên một, gần đây vì lòng tham tột đỉnh của Trung Quốc, lại lộ ra sự hèn hạ tột cùng của CSVN, thì lòng người dân Việt dự liệu sự sụp đổ của bọn Việt Gian tính từng năm một. Vừa qua thế giới lại bùng lên cơn bão Hoa Lài, thổi lên từ Bắc Phi, những cơn “Bão Giá” đánh vào kinh tế suy sụp tại Việt Nam, sóng thần “Cơm áo, gạo tiền“ đang tràn tới quê nhà.
Người dân trong nước từ trước đã sống cơ cực, nay không còn chịu đựng được nữa vì vật giá gia tăng ngày một, tham nhũng tràn lan, xã hội sa đoạ, giàu nghèo cách biệt quá xa, hiện trạng bạo quyền truy lùng, bắt nhiều nhà Dân Chủ, sát hại vô cớ dân lành chứng tỏ chúng không phải là thế mạnh mà đang mất niềm tin, lo bề tháo chạy, tẩu tán tài sản ra ngoại quốc thì việc tiên liệu giật sập bạo quyền được tính từng tháng một!!!.
Ngày kỷ niệm 30 tháng Tư, năm nay nơi nơi không còn những lời thán oán, uất hận khi xưa mà tại các quốc gia có nhiều Cộng Đồng Người Việt nhất là Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Pháp quốc và Vương Quốc Anh chúng ta đã đồng lòng phất lên ngọn cờ “Đòi Lại Quyền Tự Quyết” của toàn dân và chủ trương Yểm Trợ đồng bào “Quốc Nội Vùng Lên” bằng các biểu ngữ cương quyết sáng ngời mang tính Vùng Lên, Quật Khởi.
Nhận định tình hình là như thế, nhưng quyền “Quyết Định Tối Hậu” là của Toàn Dân Việt Nam tại Quốc Nội. Thời cơ đến không phải tái diễn hằng năm, mà chỉ đến một lần cho những ai biết “Nắm Bắt Thời Cơ” đúng lúc. Các tôn giáo quốc nội, lực lượng công nhân, nông dân, ngư dân cộng với Dân Oan cả nước còn chần chờ gì nữa khi thời cơ lịch sử đã đến!!!

Lịch sử sẽ sang trang mới hào hùng, ngọn cờ Dân Chủ và Nhân Quyền cho toàn dân Việt, vùng lên Giải Thể chế độ độc tài, phản quốc hại dân để cùng nhau xây cuộc Đời Mới: Hoà Bình, Thịnh Vượng cho quê hương Việt Nam.

Long Điền
28 tháng Tư năm 2011

Đọc Bài “Tìm Mãi Yêu Thương”

Đọc Bài “Tìm Mãi Yêu Thương” Của Nguyễn Thượng Long

1 Nhà Báo Tại VN Nhân Ngày 30/04

Vào dịp 30/04/2011, Ông Nguyễn Thượng Long, một nhà báo ở Hà Đông, Việt Nam, đã viết bài “Tìm Mãi Yêu Thương” với nội dung nói lên những trăn trở, dằn vặt về ngày mà ông nói được những người vui gọi là “quốc khánh”, còn những người buồn thì gọi là “quốc hận”.

Bài của Nhà báo Nguyễn Thượng Long, được viết như một “hoài niệm về ngày 30 tháng 4”, đã đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến ngày đáng ghi nhớ này và liên quan đến lịch sử hay thời sự Việt Nam nhưng có rất ít câu trả lời.

Ông Nguyễn Thượng Long viết :

Thế hệ chúng tôi và anh NHT sinh ra và lớn lên cùng với sự ra đời của nhà nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Độc lập Tự do Hạnh phúc”. Tuổi ấu thơ chúng tôi trôi đi cùng với những cuồng nộ của một thế thái nhân tình rất xa lạ với những phẩm chất truyền thống của một dân tộc bản chất là hiền hoà. Ký ức đầu đời của thế hệ chúng tôi chưa thể nhạt nhoà về những gì đã đến sau những phát triển quái gở của chủ thuyết “Đấu tranh giai cấp”, về con đường chuyên chính vô sản, về bạo lực cách mạng mà những người cộng sản đã du nhập vào đất nước chúng tôi. Vẫn còn nguyên đó những câu hỏi đầy ám ảnh :

– Tại sao lại phải “Đào tận gốc, trốc tận rễ” đám Trí – Phú – Địa – Hào ... rồi bây giờ lại gọi đó mới chính là nguyên khí của đất nước !
– Tại sao sau CCRĐ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải thay mặt Đảng thanh minh trước quốc dân đồng bào rằng : Một Đảng biết nhận ra khuyết điểm của mình, Đảng đó còn có thể tiến bộ, rồi ông lặng lẽ rút khăn tay lau nước mắt (! ?).
– Tại sao lại phải cải tạo thực ra là đánh sập công thương nghiệp tư bản tư doanh tới 2 lần (Miền Bắc sau năm 1954 – Miền Nam sau 30/04/1975). Sau 1986 đến nay lại phải làm lại gần như từ đầu.
– Tại sao lại phải mở ra các “Pháp trường trắng” trong vụ đàn áp nhân văn giai phẩm và xét lại chống Đảng. Pháp trường trắng là : “Nơi không có đầu rơi, không có máu chảy, nhưng có người chết” – (Nguyễn Tuân). Thời gian và năm tháng đã trôi qua đã đủ để minh oan cho những con người tài hoa, dũng cảm và trung thực đó. Đến nay trên thực tế không ít người trong họ đã được vinh danh trở lại thì hỡi ôi người còn, người mất, người đang sống nhưng phải sống đời sống thực vật, cỏ cây, người tha hương biệt xứ mãi mãi ôm theo những ký ức đầy ám ảnh nặng nề, tại sao lại phải làm như thế ? Hôm nay, lại một ngày kỷ niệm 30/04 nữa đến với đất nước chúng ta, dân tộc chúng ta. Cái ngày lịch sử mà cựu Thủ tướng, cựu Uỷ viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Võ Văn Kiệt đã từng ngậm ngùi mà nói : “Có triệu người vui ! Cũng có triệu người buồn !”. Không biết có phải vì đây là tiếng nói của một lãnh tụ cao cấp mà có tình trạng người vui thì gọi ngày 30/04 là ngày “Quốc Khánh”, còn người buồn thì gọi ngày này là ngày “Quốc Hận !”, xin được phép hỏi : Tại sao sau ngày 30/04/1975 ngày con Lạc ở miền Bắc chiến thắng cháu Hồng ở miền Nam, người chiến thắng không thực lòng hoà hợp, hoà giải mà lại tạo ra những thương tổn không đáng có trong lòng những kẻ bại trận. Những ngày tháng tù đầy, cải tạo và phân biệt đối xử với quân nhân, viên chức chính quyền cũ và vợ con gia đình họ đến nay vẫn là những ký ức đầy hãi hùng. Vì những hãi hùng này mà ngày đó hàng triệu người con đất Việt phải liều thân bỏ xứ ra đi, mong kiếm tìm một vận hội mới. Người chiến thắng không chỉ làm ngơ mà còn không hiếm những kẻ trục lợi dựa trên cuộc tháo chạy kinh hoàng diễn ra trong nhiều năm đã làm biết bao gia đình tan nát, bao nhiêu người phải chết trong tuyệt vọng, phải khuynh gia bại sản, phải nhơ nhuốc vì hải tặc, phải hoài thân trong bụng cá, phải bỏ xác trên đảo hoang. Người sống sót không mấy ai tránh khỏi những sang chấn tinh thần không dễ bình phục. Sau nhiều năm tha hương biệt xứ, nay người thành đạt, người không thành đạt, nhưng mỗi khi nhớ về quê hương, xứ xở bên cạnh những bồi hồi là nỗi ngậm ngùi : “Tổ Quốc ! Một dĩ vãng cần phải quên đi”. Đến nay đã có nhiều nhân vật nổi tiếng của chế độ VNCH ... quyết định tìm về cố quốc với nhiều lý do, nhưng thực ra chỉ để được gửi nắm xương tàn, đã phải nhắm mắt bước qua những thị phi của người trong nước, phải bịt tai trước những la ó, của nhiều tha nhân cùng cảnh ngộ. Đặc biệt trong đoàn người ra đi năm đó, đến nay vẫn có quá nhiều người dường như vẫn chưa ra khỏi những ám ảnh của hận thù, thậm chí nhiều người vẫn thề không đội trời chung, không đứng cùng đất với cộng sản, đó chính là nguyên nhân làm nổ ra những cuộc biểu tình phản đối các vị nguyên thủ hôm nay của Việt Nam khi họ xuất ngoại, đặc biệt khi họ công cán qua những nơi có đông người đồng bào của mình ở & thực tế đã cho hay, cũng chẳng có gì là vui vẻ dành cho các nguyên thủ cũ, các nhân vật nổi tiếng của VNCH khi họ trở về Việt Nam. Sự dè bỉu đến với họ không chỉ đến từ những người Quốc Gia đang ở Hải Ngoại, mà còn đến từ chính những người dân trong nước. Nhiều người trong nước đã có một thái độ hợp lý đối với họ, nhưng đâu có phải người trong nước nào cũng vui vẻ với họ. Cho đến lúc này, không chỉ ở những hãng thông tấn vỉa hè, tôi chứng kiến quá nhiều người Việt Nam ở trong nước vẫn còn vô tư ngộ nhận rằng năm 1972 chính ông Nguyễn Cao Kỳ đã chỉ huy chiến dịch giải cứu tù binh Mỹ bị giam giữ ở quê hương Sơn Tây của ông ! Hãy nghe mấy ông Nhạc Sĩ Nhân Dân, đỏ ngực là huân chương, huy chương là giải thưởng nhà nước ... lườm nguýt, chê bai, dè bỉu những gì về ông Phạm Duy ngay trên những trang báo lề phải” (ngưng trích).

Người Việt ở Hải Ngoại đọc những hàng trên đây chắc sẽ không tránh khỏi bực mình và thốt lên : « Cứ hỏi quanh co mãi ! Tại cộng sản chứ còn tại cái gì ? ».

Nhưng với người đọc tại Việt Nam, có lẽ tác giả được khen là can đảm, và có thể không tránh khỏi những phiền nhiễu với nhà nước.

Dưới một chế độ độc tài, người ta quen « đọc giữa hai dòng chữ » để cố bắt được những gì tác giả thực sự muốn nói. Nhưng trong tình trạng tồi tệ bế tắc hiện nay tại Việt Nam, kiểu viết trên đây đã trở nên cổ hủ, không đóng góp vào việc thúc đẩy một cuộc cách mạng dân chủ đáy tầng, ngược lại, có thể còn vô tình giúp kéo dài một chế độ độc tài đã hoàn toàn thối rữa không còn lý do để tồn tại.

Hơn ai hết, những người đã tiếp tay góp sức, nhiều hay ít, dựng nên chế độ quái gở hiện nay tại Việt Nam – những người như Nguyễn Thượng Long, khi đã nhận ra bộ mặt thật ghê tởm và tội ác kinh rợn của nó, cần can đảm đứng lên vạch mặt chỉ tên – như Tô Hải, như Trần Mạnh Hảo, như Cù Huy Hà Vũ ... đã làm.

« Tìm Mãi Yêu Thương » ở đâu ?

Yêu thương chỉ có khi chấm dứt hận thù. Muốn chấm dứt hận thù, cần tiêu diệt nguyên nhân gây nên hận thù.
Miền đất trải dài từ Siberia ở Bắc Á đến dọc sông Danube ở Đông Âu đã ngập chìm trong hận thù, máu và nước mắt suốt hơn nửa thế kỷ dưới sự thống trị của cộng sản. Sau khi Đế quốc Gian ác này (Evil Empire, theo cách gọi của Tổng Thống Reagan) sụp đổ, hận thù đã chấm dứt, yêu thương đã nở hoa, tuy một vài nơi còn chém giết một thời gian do hậu quả của quá khứ hung ác.

Trong hoàn cảnh đen tối của Việt Nam ngày nay, yêu thương không thể đến bằng cách đi tìm trong hoài niệm. Yêu thương chỉ có thể đến do hành động, do cách mạng, do lòng dũng cảm và sự hy sinh.

Tất cả những thảm kịch tại Việt Nam ngày nay đều do một nguyên nhân mà Ông Nguyễn Thượng Long đã giả vờ như không biết để đặt câu hỏi : “Thử hỏi trong lịch sử dân tộc, có giai đoạn nào, có thời kỳ nào và vì ai mà nội lực dân tộc bị huỷ hoại, suy yếu vì chia rẽ, vì ngờ vực lẫn nhau lại dai dẳng, bi thương, sâu sắc & nghiêm trọng đến như vậy ! Tương lai của dân tộc rồi sẽ ra sao ? Ai là người có lỗi trước tiền nhân ? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây ?” Ai phải chịu trách nhiệm và ai có thể chấm dứt đêm đen để đem bình minh đến với dân tộc Việt Nam ?

Bình minh ấy của dân tộc không thể đến theo kiểu “xin-cho” từ những kẻ đã đưa nước Việt Nam vào đêm đen ngày nay (mà ông Nguyễn Thượng Long gọi là các “Đấng chăn dân”), và tuy vận mệnh đất nước Việt Nam nằm trong tay người dân trong nước, nhưng không phải những kẻ chiến bại ngày 30/04/1975 hiện đang sống ở Hải Ngoại đã hoàn toàn bị loại ra khỏi cuộc đấu tranh cho tự do tại Việt Nam khi họ đang nắm trong tay nhiều loại vũ khí : lòng yêu nước, tài năng, tiền bạc, chất xám. Quan trọng nhất là chất xám cộng với lòng yêu nước Việt Nam.

Trong trào lưu dân chủ đang dâng cao trên toàn thế giới ngày nay, Việt Nam sớm muộn cũng phải vùng lên, đứng dậy. Nhưng đứng dậy để đi theo con đường nào ?

Mới đây, “Nhóm Nghiên Cứu Khoa Học Chính Trị cho Dân Chủ Việt Nam và Á Châu (The Vietnamese-American Political Study Group in USA for Democracy of Việt Nam and Asia) do Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn hướng dẫn vừa hoàn thành một tập nghiên cứu tựa đề “Ý Thức Cách Mạng Dân Chủ Đáy Tầng tại Việt Nam, Hoa Lục và Á Châu”, đặt nền tảng lý thuyết cho một cuộc cách mạng dân chủ thực sự tại Việt Nam và một số nước trong vùng Á Châu còn sống dưới các thể chế độc tài, và đã được chuyển cho những chiến sĩ dân chủ ở trong nước.

Đây là một cẩm nang với những khám phá mới và chỉ hướng cần thiết cho giới lãnh đạo tương lai tại Việt Nam và Á Châu, đặc biệt là Hoa Lục và các nước chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, nơi những chế độ độc tài lạc hậu phản tiến hoá “đã hiện diện trên dòng sinh mệnh của con người và dòng sử mệnh của Đông Phương từ hơn 2000 năm qua”, như tập nghiên cứu nhận định.

Chế độ cộng sản giả hiệu ngày nay tại Việt Nam và lục địa Trung Hoa chỉ là biến thể của những chế độ quân chủ chuyên chế thời Hán-Đường-Tống-Nguyên-Minh-Thanh với giới nho quan hủ bại, tham ô, độc đoán, “chăn dân” như chăn bầy cừu, mà người dân chỉ biết cúi đầu câm nín trong tủi nhục, uất nghẹn, van xin. Tâm lý này còn kéo dài cho đến ngày nay trên đất nước Việt Nam trước trào lưu dân chủ đang dâng cao trên toàn thế giới, và gián tiếp trả lời cho câu hỏi : “Tại sao cha đẻ của Cộng sản Việt Nam là Cộng sản Liên Sô sụp đổ đã 20 năm mà Cộng sản Việt Nam vẫn chưa chết ?”.

Đây không còn là lúc để “hoài niệm”, “xin-cho”, hay nói quanh co, tránh né.

Đây là lúc mọi người dân Việt Nam cần thoát ra khỏi não trạng sợ hãi (yếu tố giúp cho bạo quyền tồn tại), dõng dạc đứng lên đòi lại quyền làm người, làm chủ đất nước của mình, làm chủ cuộc sống của mình. Như Patrick Henry, nhà cách mạng ái quốc Hoa Kỳ, đã hiên ngang nói : “Give me liberty or give me death”.

Ngày nào dân Viêt Nam cùng nhau đứng lên và nói lớn như vậy, ngày ấy Việt Nam sẽ có Tự Do và có Yêu Thương.

LS.Sơn Tùng Tháng 04 Năm 2011

Văn hoá “đểu”

Chuyện về giáo dục ở Việt Nam ngày nay (Tức là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Độc lập- tự do - hạnh phúc) .:

Trong một buổi học, cô giáo đang dạy cho học trò tập đọc. Đến một chữ khó trong câu:” Đồng chí Phan Đình Giót đã anh dũng lấy thân lấp lỗ châu mai”. Cô hỏi:”Có em nào biết “anh dũng” là gì?. Hỏi mấy lần mới có một em dơ tay xin “ phát biểu” :

- Anh dũng là “đéo sợ”.

Cô giáo đi từ kinh ngạc đến giận dữ, đem chuyện đến mách hiệu trưởng:

-Đồng chí xem, học trò dốt nát, mất dậy thế này. Nó lại dám nói :”anh dũng là đéo sợ”.

Hiệu trưởng gật gù, mỉm cười nói với cô giáo:

-Ừ! Nó nói thế “ đéo sai”.

Cô giáo lắc đầu chán nản nói:

-Đã thế thì đây “đéo dạy “nữa!

Hiệu trưởng khoát tay:

-Đây “đéo cần”.

Câu chuyện gọi là tiếu lâm, nhưng cười ra nước mắt này là một mặt biểu hiện của một nền “văn hoá đểu”, có thể là tiêu biểu cho văn hoá Macxit – Lêninnit đang ngự trị trên nước Việt Nam.

Nói đến văn hoá, người ta đã hàm một ý khác với dung tục. Người có văn hoá là một người có học – không cứ phải là có bằng cấp cao- cách cư xử lịch lãm, thanh lịch :

Người xinh cái bóng cũng xinh,

Người dòn cái tỉnh tình tinh cũng dòn.

Chính vì muốn có một phạm trù văn hoá tốt đẹp hướng thượng như thế, nên trước kia người ta gọi là văn hiến. Chỉ từ khi văn hoá Tây phương du nhập, các nhà văn tây mới dùng từ văn hoá để dịch chữ “culture” và cho nó nhiều ý nghĩa duy vật hơn. Nhất là quan niệm thiên Marxist của Đào Duy Anh (1), hay của các nhà “văn hoá” Cộng Sản sau này của Việt Nam :”Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình .”(2)

Dùng khái niệm văn hoá Cộng Sản để hiểu văn hoá Cộng sản vì sao lại gọi là “văn hoá đểu”, đối với quan niệm xưa xem ra có nghịch lý; nhưng lại rất “biện chứng” với nền văn hoá Macxit hiện nay ở Việt Nam.

Theo “Tự điển tiếng Việt” do Hanội phát hành , từ “đểu” (3)đã được định nghĩa và có những từ kép như sau:

Đểu (tt) xỏ xiên, dối trá đến mất hết nhân cách: nói đểu, đồ đểu, chơi đểu.

Đểu cáng (tt) đểu và đê tiện : bộ mặt đểu cáng.

Đểu giả (tt) : đểu và thâm hiểm; thủ đoạn đểu giả . (Chữ” giả” theo định nghĩa cũng trong tự điển này là “Không phải thật nhưng làm ra vẻ giống như thật”, khi ghép với chữ “đểu” lại có nghĩa là thâm hiểm.

Thực ra những người làm tự điển chỉ là sưu tập các từ ngữ lưu truyền trong dân gian. Thái độ khoa học là phải ghi rõ ràng những từ mới và nghĩa mới; cũng như những từ cũ đã bị đổi nghĩa. Có nhiều từ lúc đầu là nói lóng, nói trại nghĩa, vì mục đích che dấu bí mật, lâu dần đã mang ý nghĩa che dấu ấy và trở thành thông dụng. Cũng vậy, chữ “đểu” lúc đầu chỉ mang một ý nghĩa là xỏ xiên, dối trá (tự điển ghi chính thức), nhưng nay nó mang rất nhiều nghĩa:” Ngôn ngữ của dân tộc nào cũng gắn liền với lịch sử. Cái gì thường trực và lâu dài cũng trở thành ám ảnh rồi đi vào ngôn ngữ. Mày thử xem, ngôn ngữ của nước nào cũng xoay quanh hai từ “có” và “là”,(“ être et avoir”); to be and to have. Người Việt thì không có gì cả mà cũng chẳng là gì cả, chỉ có cái thân phận nô lệ, bị bóc lột và đói triền miên, vì thế mà động từ cơ bản của tiếng Việt là “ăn”.

Thắng bại thì gọi là “ăn thua”, sinh hoạt nghề nghiệp thì gọi là “làm ăn”; vợ chồng “ăn ở, ăn nằm” với nhau; nói chuyện là “ăn nói”, rồi “ăn ý”, “ăn ảnh”, “ăn khớp”. . . Ngay cả lúc chửi nhau cũng cho ăn cái này cái kia, rủa nhau đồ “ăn mày, ăn nhặt”, “ăn cắp, ăn giật”. Cái gì cũng ăn cả vì đói quanh năm, lúc nào cũng bị miếng ăn ám ảnh. Bây giờ cũng thế, cái gì cũng đểu cáng cả. Chính quyền đểu, Nhà Nước đểu, nhà trường đểu . . .cái gì cũng đểu cả nên “đểu” hiện diện một cách trấn áp qua ngôn ngữ.

Hắn dừng lại một lúc rồi nói tiếp:

-Nhân loại tiến triển qua các thời kỳ đồ đá,, đồ đồng, đồ sắt. Chúng ta còn có thời kỳ “đồ đểu”. Nước mình đang ở thời kỳ “đồ đểu”.

Bây giờ trong nước người ta không nói là giả nữa mà nói là “đểu”: hàng đểu, bằng đểu, rượu đểu, thuốc đểu. (Vô danh)

Tác giả “vô danh” chỉ quan sát và đúc kết hiện tượng sinh hoạt của xã hội Cộng Sản Việt Nam mà không thấy có sự hiện diện của một nền văn hoá chỉ có thể dùng từ “đểu” đặt cho mới xác đáng vì nó có nguyên ủy và biến thái “đểu”.

I.- Nguồn gốc đểu của văn hoá Macxit Lêninnit ở VN:

Về cuối đời, sau khi đã bị đày đọa cả nửa thế kỷ trong xã hội XHCNVN, triết gia Trần Đức Thảo nói “Chính là Marx sai”. Một cái sai của một triết gia đã lấy đi cả trăm triệu tính mạng con người, và còn không biết đến bao giờ nhân loại mới hoàn toàn rũ bỏ được cái sai ấy. Ông Gorbachew nhận định:”Cộng sản là dối trá và chỉ có dối trá” Theo ngôn ngữ hiện đại ở Việt Nam thì là “Cộng sản là đểu và chỉ có đểu”.

Căn cứ vào mục tiêu của Tuyên ngôn Cộng Sản thì nếu không có dân chủ Xô viết, không thể có chủ nghĩa xã hội. Tham vọng của Cộng sản là thực hiện chủ nghĩa xã hội ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước tiền tiến. Năm 1939 Trosky đã viết:”Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là tạo ra một xã hội không giai cấp, dựa trên sự liên kết và thỏa mãn hài hòa mọi nhu cầu. Trong ý nghĩa cơ bản ấy thì chưa có một tí xã hội chủ nghĩa nào ở Liên Xô”. Điều này chứng tỏ một sự lừa đảo có ý thức đối với lao động và nhân dân thế giới. Engel trên lý thuyết nói về xã hội không có giai cấp của CS nghe rất “sướng tai”:”Sau này khi không còn sự thống trị giai cấp và đồng thời không còn cuộc đấu tranh của mỗi cá nhân để tồn tại do sự tổ chức hỗn loạn của nền sản xuất hiện nay, và do sự va chạm và xung đột thái quá bắt nguồn từ cuộc đấu tranh này thì không còn gì để phải đàn áp, không còn có một lực lượng đặc biệt của Nhà Nước để đàn áp nữa. Kẻ tầm thường nghĩ rằng muôn đời vẫn cần có anh xen đầm. Thật ra anh xen đầm còn chế ngự được con người chừng nào con người chưa đủ lực để chế ngự thiên nhiên. Muốn cho Nhà Nước tiêu vong, phải làm tiêu vong sự thống trị giai cấp và cuộc đấu tranh để cá nhân tồn tại”.Nhưng khi chuyển sang thực tế, trước hết bên Liên Xô trong những năm đầu của cách mạng đã hình thành một giai cấp quan liêu. Sự lừa đảo quần chúng nhân dân tiên khởi của chủ nghĩa CS ở Liên Xô là đã dẹp bỏ một giai cấp mà họ gọi là ăn bám, tức là phong kiến để rồi thay thế vào đó một giai cấp ăn bám mới, tức là giai cấp cán bộ có hành vi rất quan liêu. Nói đúng ra, giai cấp quan liêu của CS gồm toàn thành phần đảng viên nắm nhiệm vụ điều hành đất nước, chỉ là một hình thức quan liêu tư sản thoái hoá, vì họ cũng có một động cơ quá trình phát triển như nhau, đúng như Trosky đã nhận xét về giai cấp quan liêu CS này:”Xét về tính chất, quan liêu không phải là một giai cấp, mặc dù có khát vọng trở thành giai cấp. Trong quá trình sản xuất, quan liêu không có vị trí độc lập và cần thiết như một giai cấp. Quan liêu chỉ là một đám người ăn bám vào giai cấp lao động (Cả cái Đảng CS từ lãnh đạo chóp bu đến cấp thấp nhất ở địa phương đều là ăn bám vào lao động quần chúng), như cây tầm gửi ăn bám vào một thân cây to, rút nhựa để sống. Trong hàng chục năm qua, quan liêu ở Liên Xô đã rút ở nền kinh tế Nhà nước những đặc lợi, đặc quyền cho mình. Mặc dầu không chiếm hữu những phương tiện sản xuất, họ vẫn có quyền hưởng thụ tối đa những sản phẩm do những phương tiện sản xuất này làm ra. Chính vì thế, họ đã bảo vệ (bảo vệ theo phương pháp quan liêu của họ!) nền kinh tế tập thể, thành quả của Cách mạng tháng Mười như bảo vệ con ngươi của mắt họ” (Bác Hồ cũng lập lại câu này với đảng viên).Thứ hai họ vẫn phải lẩn lút dấu diếm thu nhập của họ, trước mắt dân chúng. Họ vẫn phải giả dối, đem chủ nghĩa Macxit ra tuyên truyền, trong lúc họ áp dụng chủ nghĩa này dưới lăng kính quan liêu của họ”.(5)

Người nông dân và thợ thuyền, nói theo quan điểm của CS là “vô sản” đoàn kết lại để cho bọn bất lương bóc lột và đoạ đầy. Những tuyên bố lừa phỉnh “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” đã mê hoặc được dân chúng và đưa được họ vào chốn cực khổ triền miên. Đó là đường lối chính trị “đểu” của đảng Cộng Sản Liên Xô, tiền bối của cách mạng tháng Tám V.N. (Đây VN tháng Tám, em Liên Xô tháng Mười - Tố Hữu)

Trong việc đào tạo nếp sống tinh thần của người dân, tức là về mặt văn hoá Đảng chiếu cố tận tình khuôn ép nhân dân trong cái gọi là nền văn hoá vô sản:”Cơ quan trung ương của đảng ban bố những bài không ký tên, khá giống lệnh của các tướng tá quân sự quản lý kiến trúc, văn học, kịch bản, nhảy múa, cố nhiên là cả triết học, các khoa học tự nhiên và lịch sử.”(6).

Sự lãnh đạo bằng khủng bố của Đảng đối với tầng lớp gọi là trí thức tiểu tư sản làm thui chột hết mọi sáng tác, phát minh mà nguyên do cũng chỉ vì tầng lớp này cần phải tạo một vỏ sò cho mình để tồn tại:” Đã từng nếm một kinh nghiệm đau đớn, các nhà khoa học tự nhiên, toán học, ngữ vị văn học, lý thuyết gia về nghệ thuật quân sự cố tránh những khái quát hoá lớn rộng, sợ rằng có một “giáo sư đỏ” thường thường lại là một anh ngoi lên ngu dốt chống lại họ một cách thô bạo bằng một trích dẫn nào đó của Lênin, hoặc Stalin. Trong trường hợp như thế, bảo vệ tư duy và phẩm chất khoa học chắc chắn là tự gây cho mình một sự đàn áp khắc nghiệt.”(7) Như thế, điều hợp lý là phải có một nền văn hoá, nói riêng về văn học xây dựng bằng những tác phẩm “đểu” của những tác giả được Đảng chiếu cố :”Sự trung thực không có nó không thể có công tác lý luận, bị dẫm xuống chân. Những ghi chú để giải thích kèm theo các văn bản của Lênin cứ mỗi lần tái bản lại được sắp xếp lại từ đầu đến cuối để phục vụ lợi ích riêng bộ tham mưu của Chính phủ, tâng bốc các” lãnh tụ”, bôi nhọ các địch thủ của họ, xoá đi một số dấu vết. . . Các sự việc bị bóp méo, tư liệu bị che dấu, hoặc, ngược lại, được chế tạo ra, thanh danh được dựng lên hoặc bị hủy đi”(8). Đặc sắc của các lãnh tụ Cộng Sản đều là các “ nhà văn lớn” với những tác phẩm đồ sộ trở thành kinh điển, và mỗi lời nói là khuôn vàng thước ngọc chỉ đạo:”Bí thư đoàn Thanh niên Cộng sản tuyên bố trong một cuộc hội nghị các nhà văn rằng :”Các chỉ thị của đồng chí Stalin là pháp lệnh cho tất cả mọi người” và người ta vỗ tay, mặc dù một số đỏ mặt vì xấu hổ “…Và như người ta muốn lăng mạ đến tột cùng văn học, Stalin, người không thể viết đúng ngữ pháp một câu tiếng Nga, được phong là một trong những nhà cổ điển về văn phong “.(9)

Nền tảng văn hoá Macxit ở “quê hương cách mạng Tháng Mười” mà những người đầu tiên ái mộ chủ nghĩa Marx hết lòng hết dạ đem về cho nhân dân Việt Nam để thay thế nền văn hoá mà họ gọi là phong kiên lạc hậu, thực dân, tự bản chất nó đã là sản phẩm của đám người “ tiêu giấy bạc giả”- nếu dùng từ mới của VN ngày nay thì là bọn “tiêu tiền đểu”. Thực vậy, những sách gọi là kinh điển mà những trí thức VN đọc để từ đó hiểu chủ nghĩa Mac đều không phải là trước tác cơ bản của nền tảng Macxit. Nếu người ta đã biết không phải học thuộc tứ thư ngũ kinh là thành nhà Nho, mà còn phải có công phu hàm dưỡng tu thân mới thể ngộ được đạo đức để làm một hiền nhân quân tử; thì đối với Macxit khả năng tổ chức và lãnh đạo quần chúng- tức là lừa bịp và đàn áp mới là cơ bản. Hồ Chí Minh chỉ là một người hành động, không phải là lý thuyết gia, và ông cũng hoạt động ở ngoại quốc nhiều hơn ở Việt Nam . Nhóm chủ trương cách mạng theo Maxit là nhóm Tân Việt với Đào Duy Anh, có định hướng và chương trình rõ rệt:”Tôi (Đào Duy Anh) sở dĩ thừa nhận rằng con đường cách mạng của nước ta phải theo phương hướng cách mạng Xã hội chủ nghĩa là do nhận thức bằng lý trí, thấy như thế mới lô-gic, chứ thực ra chưa biết làm cách mạng xã hội chủ nghĩa như thế nào.”(10).Chỉ căn cứ vào sách vở do Đảng Cộng Sản viết mà chuyển đạt chủ nghĩa CS vào VN, Đào Duy Anh cũng như vài cộng tác viên của đảng Tân Việt lúc ấy không hiểu rằng thực chất những sách ấy đã không phản ánh thực trạng của cách mạng Xã hội chủ nghĩa:”Nhờ quen biết một thanh niên quê ở Thanh Hoá đã từng làm thư ký tàu biển cho một công ty hàng hải Pháp, có lẽ bấy giờ anh ta là một đầu mối liên lạc ở Saigon để các thủy thủ Pháp tiến bộ trao cho những sách báo do đảng Cộng Sản Pháp xuất bản, tôi được anh trao cho một số sách về chủ nghĩa Cộng Sản như”: ABC du Communisme, Theorie materialisme historique, Lenine et la question national v.v…Ngoài ra tôi còn mua được một số sách của các nhà xuất bản khác như Histoire du Socialisme, Karl Marx, sa vie, son oeuvre của Mac Beer, Lenine của Clara Zetkin, La femme et la socialisme của Auguste Bebel.”

Con đường đi đến chủ nghĩa Mac hoàn toàn bằng lối hàm thụ ấy đương nhiên chỉ cho người ta một mớ kiến thức hào nhoáng bên ngoài, nhưng nó lại tạo ra một niềm tin mù quáng. Không đối chiếu với thực tại thì không thấy những yếu kém hay sai lầm của lý thuyết. Mang tiếng là khoa học, nhưng lại hành xử rất từ chương, nó sẽ dẫn đến “nói một đàng , làm một nẻo” mà sự kiện này vốn lúc ấy đang diễn ra ở Liên Xô, quê hương của Cách Mạng tháng Mười,”Tôi đã tin tưởng rằng Cách mạng VN muốn thành công, cuối cùng tất phải theo hướng Cách mạng Xã hội chủ nghĩa; chủ nghĩa xã hội ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học hay chủ nghĩa Cộng Sản , dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mac, mà chủ nghĩa Mac là chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử.”(11).

Rất nhiều người đã lầm lẫn khi cho rằng những người Cộng Sản VN chỉ dùng chủ nghĩa Cộng Sản như một phương tiện để tranh thủ độc lập cho nước nhà. Đó là vì theo ý thức hệ cũ, tinh thần quốc gia là tuyệt đối, dù trong chế độ quân chủ, nhân dân và xã tắc vẫn được tôn trọng và từ vua đến quan đều phải lây quốc gia làm trọng. Những nhà cách mạng buổi đầu của VN như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu dù chủ trương Đông Du hay Tây hoá cũng vẫn có mục đích tranh thủ độc lập cho quốc gia. Nhưng Cộng Sản thì theo đúng tư duy của họ, mục đích là thế giới. Quốc gia chỉ là một phần nhỏ của thế giới. Tranh thủ độc lập quốc gia chỉ là bước đầu để cho giai cấp công nông có chính quyền mà tiến lên làm cách mạng thế giới:”Sau khi phân tích tình hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình xã hội, đặc biệt là sự phân bố giai cấp ở nước ta, tôi đi đến kết luận rằng Đảng ta ngày nay phải là một đảng có tính chất liên hiệp quốc dân, chứ chưa có thể là một đảng Cộng Sản thuần túy của giai cấp công nhân được, vì thực ra giai cấp công nhân của nước ta còn non trẻ, nhưng trong tình hình thế giới ngày nay, cách mạng nước ta cuối cùng phải là một bộ phận của cách mạng thế giới, do giai cấp công nhân lãnh đạo, cho nên để có thể đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà từ cách mạng dân tộc tiến lên cách mạng thế giới (tức cách mạng Xã hội chủ nghĩa.”(12)

Rõ ràng :”Trong khi chắp cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

Tự cơ bản của Cộng Sản không có chỗ đứng cho quốc gia. Lenin chỉ dùng chiêu bài dân tộc để đánh phá tư bản và thực dân, cho Liên Xô rảnh tay làm cách mạnh xã hội ở trong nước. Như thế bản chất của văn hoá Macxit đã là giả dối, lừa phỉnh, hay nói ngôn ngữ ngày nay là “đểu”. Vănhoá Macxit hay bất kỳ một nền văn hoá nào đều phải là tiếp thu những tinh hoa của văn hoá tiền nhiệm. Sự tiếp thu ở mặt văn hoá không hàm ý đấu tranh triệt tiêu, mà chỉ là chọn lựa tự nhiên. Tuy vậy giai cấp cầm quyền với sự lo ấu về an nguy của nó, vẫn muốn khống chế một tư duy văn hoá thể hiện ra ở cách tư duy và hành động. Nền văn hoá nhân bản vốn đã có thời gian dài xây dựng và củng cố trong lịch sử, dù bị nhiều va chạm cũng vẫn là tiêu chuẩn cho mục đích hành động của con người. Nó không thể thỏa hiệp được với sự lăng mạ lòng nhân ái và liêm xỉ của con người bằng những hành vi dối trá, cướp đoạt, diệt chủng.

Mê hoặc lý thuyết của những người tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng Sản nhắm vào thành phần trí thức trong xã hội là cái vỏ bạo lực của cách mạng. Họ tung hỏa mù để vừa che lấp những hành vi tàn bạo diệt chủng, vừa lu loa gian dối chào hàng:”Bao nhiêu thế hệ triết gia từ mấy trăm năm gần đây đã cố đi tìm thực chất của cuộc sống con người(*), và đến hơn trăm năm nay Karl Marx là nhà tư tưởng mới gọi là nắm được căn bản của cuộc sống. Nhà Phật cho rằng chỉ cần tâm ý con người được sự chỉ đạo của định và tuệ, thì con người bị “phóng thể” có thể trở vè được bản thân mình, do đó mà tự cứu mình và cứu độ người khác. Karl Marx thì cho rằng con người bị “tha hoá” về mọi mặt phải được giải thoát khỏi sự tha hoá để trở thành con người chân chính, toàn diện . . .Marx thì cho rằng sự tha hoá của con người là bắt đầu từ sự tha hoá về kinh tế, tức là sự tha hoá của chế độ tư hữu tài sản,(*). Người Macxit phải dùng đấu tranh mới thực sự giải phóng được con người (Cộng Sản trên thế giới đã giải phóng được cả trăm triệu người khỏi cuộc sống. Riêng Công Sản Việt Nam đã giải phóng cả 20 triệu dân miền Nam (VNCH) khỏi cuộc sống tương đối ổn định về kinh tế để đưa công nông cả nước vào cuộc sống nghèo khổ, nô lệ ). Người Macxit cho rằng nếu không đấu tranh thì không thể nào mong tự giải thoát được. Song đấu tranh có nhiều hình thức, từ đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị, đến đấu tranh bằng bạo lực, tùy thời cơ mà dùng hình thức này hay hình thức khác.(Cái đểu của đấu tranh tư tưởng Cộng Sản là bịt mồm không cho đôi phương phát biểu). . Những điều căn bản để cứu đời chỉ có thể thực hiện được bằng cách đấu tranh để mở rộng cách mạng ra nhiều nước khác, kể cả những nước Đế quốc chủ nghĩa, để hạn chế và dần dần chấm dứt sự lũng đoạn của những công ty tư bản khổng lồ trên toàn thế giới là những kẻ thủ ác trong những mối đe dọa lớn đối với loài người.(* )Như thế thì có thể nói rằng lý tưởng cứu độ của người Phật tử cũng như lý tưởng cứu thế của các tôn giáo khác mà xưa nay các tôn giáo không thực hiện nổi (sic), chủ nghĩa Mac sẽ có thể thực hiện được”.(12)”Con người được giải phóng khỏi mọi hình thức tha hoá, con người toàn vẹn ấy, chỉ có thể trở thành ở trong xã hội Cộng sản thôi. So với các thứ chủ nghĩa nhân đạo cũ, từ chủ nghĩa nhân đạo Phật giáo và Khổng giáo ở Đông phương, đến các thứ chủ nghĩa nhân đạo bắt nguồn ở lòng thương của Thiên chúa hay những chủ nghĩa nhân đạo của những nhà triết học vô thần, thì chủ nghĩa nhân đạo của Mac cao thượng và thiết thực hơn nhiều”(13).

2.-Chính trị đểu:

Thiết thực đến người dân là chính trị. Trong xã hội Phong kiến, sống dưới sự cai trị của quan lại trong vương triều cũng như chính quyền ở làng xã, nhân dân không thể tránh khỏi những xử đoán bất công, hà khắc, cho nên ai cũng mong muốn một chế độ cai trị dễ thở. Người ta gọi là “minh quân ,lương tể” khi trong nước có vua quan biết thương yêu lo cho cuộc sống an bình của người dân. Cộng Sản đã mị dân bằng chiêu bài dân chủ thủ tiêu tất cả những áp bức của phong kiến:”Về vấn đề quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính thực chất là vấn đề chuyên chính vô sản, nghĩa là” Sự tổ chức của bộ phận tiên phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để đàn áp kẻ áp bức. . . Đồng thời với sự mở mang rất rộng rãi dân chủ. . .cho người nghèo, cho nhân dân. . .chuyên chính vô sản đem lại một loạt hạn chế tự do đối với những kẻ áp bức, kẻ bóc lột, bọn tư bản. Dân chủ cho tối đại bộ phận của nhân dân và đàn áp bằng sức mạnh đối với những áp bức của nhân dân “.(14)

Thực tế xã hội CSVN đã chứng tỏ tính chất “đểu cáng” của chính quyền Cộng Sản dựa trên cơ bản chuyên chính vô sản. Nhân dân được lao động vượt quá sức mình (các tận sở năng) để hưởng được những gì nhà nước chuyên chính ban cho mà không được phàn nàn. Thay vì áp chế kẻ thù giai cấp nay đã hoặc cao bay xa chạy, hoặc nằm im dưới lòng đất, nó “hơi xem nhẹ cái mặt dân chủ đối với nhân dân (sic) (Xem nhẹ nghĩa là giai cấp Đảng làm mọi việc một cách độc đoán cho quyền lợi riêng của Đảng.)

3.- Pháp luật đểu:

Người ta thường dùng những tiêu chuẩn và quan niệm của thế giới dân chủ Tây phương (Cộng sản gọi là phản động) để đo lường và đánh giá hành vi chính trị cũng như luật pháp của Đảng Cộng Sản. Hiển nhiên điều ấy là bất cập vì trong chế độ độc tài toàn trị Cộng sản, không có vấn đề luật pháp không bị chính trị chi phối. Như thế pháp luật là một công cụ để Đảng phát huy tác dụng chuyên chính của nó.(bằng cách bịt mồm bị cáo ở tòa án, định sẵn bản án cho tội nhân trước khi sử, ngăn cản không cho luật sư biện hộ, mớm cung, bịa đặt bằng chứng v.v..Thế nhưng lại bọc cái gọi là “pháp luật XHCN ấy dưới cái vỏ rất dân chủ và tiến bộ:”. . .Làm thế nào để cho nó phát huy tác dụng chuyên chính của nó thì chỉ là đối với cái gì có quan hệ thực sự với kẻ thù giai cấp mà phải phát huy tác dụng quản lý dân chủ của nó đối với nhân dân lương thiện. Muốn được như thế thì chỉ có cách là mở rộng dân chủ XHCN, mà vấn đề dân chủ XHCN, như đã nói ở trên chỉ có thể giải quyết bằng đấu tranh nội bộ- phê bình và tự phê bình- trên nhu cầu của thực tế khách quan.”(14). Xem như thế mới hiểu được nhũng người trong đảng mà phạm pháp thì không thuộc phạm vi luật pháp mà chỉ có “xử lý nội bộ “ căn bản đặt trên sự phê và tự phê”. Điển hình vụ tham nhũng Vinashin ở Việt Nam nếu xảy ra ở nước dân chủ (chẳng thể nào có ở một nước dân chủ như Mỹ, Anh, Pháp), thì dư luận, luật pháp đã xử lý tới nơi tới chốn. Nhưng ở nước CHXHCNVN (độc lập- tự do- hạnh phúc) thì:”Quyết định của Bộ Chính trị đã quyết định không xử lý kỷ luật vơi các tập thể, cá nhân trong Chính phủ liên quan đến tình hình sai phạm ở Vinashin!(Chắc là các đồng chí cũng có phê và tự phê). . Mặc dầu chúng tôi có thiếu xót và khuyết điểm nhưng đã nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và tự xét thấy chưa đến mức phải thi hành kỷ luật

(có nghĩa là nếu một “ nhân dân anh hùng” ăn cắp 100 đồng VN thì tù- ngụy danh là học tập cải tạo , vì Pháp luật nước ta chủ yếu giáo dục, cải hoá; còn “quan lớn bộ Chính trị ăn cắp cả trăm triệu Đôla Mỹ thì lỗi ở đồng đôla đã hủ hoá cán bộ, nên cán bộ phải nghiêm túc tự phê mà đề cao cảnh giác.)

Pháp luật” đểu” là có luật hình sự ban hành để xếp xó, còn thì dùng “luật rừng” mạnh được yếu thua. Mạnh là Đảng, yếu là nhân dân. Bùi Tín đã viết về vụ án “mua dâm nữ sinh vị thành niên ở HàGiang như sau:”Ngay ngày 11 tháng 3 các đài phát thanh VOA, RFA, RFI …đã chỉ ra những điều không bình thường của phiên toà. Tại sao lại xử kín, không cho báo trong nước và báo nước ngoài tham dự, không cho cả người thân trong gia đình, mẹ của hai em Hằng và Thúy vào dự? Tại sao không cho luật sư bảo vệ các em? Tại sao không cho phép luật sư Trần Đình Triển tham dự khi ông tình nguyện biện hộ miễn phí cho các em? Cuối cùng luật sư xin vào dự chỉ để tìm hiểu về vụ án, cũng bị từ chối với một lý do rất vớ vẩn:”Hôm nay toà không làm việc”.

Dưới đây là những biểu hiện của “luật rừng” rõ rệt nhất:

“Tên gọi của vụ án vẫn cứ gọi là “vụ án mua bán dâm của vị thành niên”. Không có gì sai hơn là tên gọi này. Có thể khẳng định nếu không có tên hiệu trưởng ma cô Sầm Đức Xương đứng ra bịp bợm, dọa dẫm. mua chuộc các em rằng:”Không nghe theo, không ngoan ngoãn vâng lời các quan chức thì dù học giỏi cũng không được lên lớp, cũng không được đỗ khi thi, còn bị điểm hạnh kiểm xấu” thì không có vụ án này. Bọn nhóm quan đầu tỉnh tham nhũng, hoang dâm đầu xỏ của vụ án nghĩ ra mưu dùng tên hiệu trưởng đầy thú tính làm tay sai đắc lực. Tên hiệu trưởng này hiểu rõ tâm lý các em là rất sợ bị điểm đạo đức xấu, rất sợ bị điểm thấp, rất sợ thi không đỗ, không được lên lớp, sẽ bị gia đình rầy la, nên lợi dụng nỗi lo sợ ấy, biến các em thành những kẻ nô lệ tình dục.

Để soi tỏ cái chế độ tư pháp độc đảng kỳ dị này, xin nhắc lại lời của Chánh án toà án Nhân dân Tối cao Trịnh Ngọc Dương tháng 10 – 2008 được truyền bá rộng rãi:” Ở nước ta xử đúng cũng được, xử sai cũng được; xử hòa cũng được, xử thắng cũng được.” Một tuyên ngôn, một lời thú nhận đáng sợ. Cũng như nữ luật sư Ngô Bá Thành, Đại biểu Quốc hội từng nói:” Ở Việt Nam ta có một rừng luật, nhưng khi xét xử lại áp dụng luật rừng”.(Bùi Tín viết riêng cho VOA, 21-3-2011).

“Việt Nam không có tù chính trị”, chỉ có phản động làm nguy hại an ninh, chống phá cách mạng. Đấy là cần phải xử. Còn thông thường thì cứ âm thầm bắt người, giam ở một chỗ bí mật, thân nhân cứ lấy ngày nạn nhân được “mời đi làm việc” làm ngày giỗ .

3.- Giáo dục đểu:

Tự cơ bản giáo dục Cộng Sản dạy cho người ta ăn gian nói dối để phục vụ chính trị của Đảng. Ngoài chương trình đào tạo nặng về chính trị (Hồng hơn chuyên) còn có sách vở “đểu” khiến cho trí thức người dân chỉ phát triển theo chiều Đảng muốn (Xin hẹn ở một bài khác tìm hiểu và phê phán sâu đậm hơn về sách “đểu”).Ngay từ hồi Cộng Sản còn lén lút tuyên truyền trong dân chúng VN, người có thể nói có công nhất trong việc đưa chủ nghĩa Cộng Sản vào VN là Đào Duy Anh. Ông đã biết làm việc “treo đầu heo, bán thịt chó”:”Làm việc này tôi có một dụng ý riêng là nhân việc giải thích từ, mà phổ biến trong nhân dân một số khái niệm chính trị theo hướng chủ nghĩa Mac, mà tôi thấy là cách giải thích tiến bộ nhất và khoa học nhất. Tôi có giải thích những thuật ngữ này theo sự hiểu biết của mình do nghiên cứu những sách về chủ nghĩa Mac trước đây, chứ không theo hẳn cách giải thích của các từ thư thông thường, và đôi chỗ nó vượt ra ngoài cách giải thích thường có ở một cuốn từ điển(*).Đó cũng là một cách để phổ biến chủ nghĩa Mac mà bước đầu tôi đã thử làm trong mười ba tập sách của Quan hải tùng thư. Thí dụ:Cộng Sản chủ nghĩa : cái chủ nghĩa muốn tiêu diệt quyền tư hữu, đem tất cả cơ quan sinh sản (*), sinh sản phẩm trên xã hội làm của chung của tất cả mọi người, đặt cơ quan thống kê và quản lý chung; về chính trị thì chủ trương liên hiệp tất cả giai cấp lao động để đánh đổ chế độ Tư bản.(14)

Cả một hệ thống văn học tuyên truyền ngự trị trong giáo dục nhằm uốn nắn tâm hồn người dân ngay từ tuổi mới học nói :”Yêu biết mấy nghe con học nói; Tiếng đầu lòng con gọi Stalin), cho đến ông già gần đất xa trời “nhớ nghĩ chiều hôm”(15). Hệ thống giáo dục ngụy trá ấy không những đánh lừa người dân trong nước, mà còn có mục đích đánh lừa cả quốc tế. Nó không phải là sáng kiến của Cộng Sản VN mà chính là sáng kiến của Cộng Sản quốc tế với Lênin và Stalin:”Cách đây ít lâu, khi tôi ở nước ngoài, người ta đã đề nghị tôi 20.000 Đôla để in các hồi ký của tôi, nhưng những hồi ký này phải qua sự kiểm duyệt của Bộ Chính trị và tôi biết ở đất nước chúng ta, người ta giả mạo, xuyên tạc biết bao nhiêu lịch sử đảng và cách mạng, tôi không muốn tiếp tay cho một số giả mạo như thế. Tất cả công việc kiểm duyệt của bộ Chính trị chỉ là cấm tôi đánh giá trung thực những nhân vật và hành động của họ”(16).

Chúng ta không có công sức mà rà soát toàn bộ tác phẩm văn học và giáo dục của Cộng Sản Việt Nam. Hãy gạt ra ngoài những sách giáo dục ấu trĩ, chỉ kể riêng phần gọi là “hàn lâm” là nơi tham khảo cho những người ngoại quốc muốn biết về văn hoá VN cũng đã “nguyền rủa sự thật “ khủng khiếp đến thế nào. Sách vở miền Bắc đều là những phiên bản của một bản ngợi ca lố bịch gần như hoang tưởng. Hãy xem ông Nguyễn Khắc Viện gọi là trí thức đỉnh cao, đã từng được đào tạo về y khoa ở Paris năm 1983 viết:”Với tất cả những giàu sang và hấp dẫn của nó, xã hội tư bản phát triển nhất vẫn là một xã hội bệnh hoạn, có nguy cơ dẫn loài người đến ngày tận thế hạt nhân(*). Một xã hội xã hội chủ nghĩa ngay từ trong trứng nước như ở Việt Nam còn mang nặng tất cả những chứng tật ấu trĩ và di sản từ ngày xưa (vẫn đổ lỗi cho quá khứ) vẫn có những mầm mống lành mạnh không thể nào có ở những nước tư bản”.(17)

Hãy so sánh ý tưởng sau đâysẽ thấy rõ phiên bản “trăng Liên Xô đẹp hơn trăng Mỹ”:”Nhưng hễ tôi so sánh những cảnh đông người, cảnh xã hội ở đấy với những cảnh tôi thấy trong đường phố Matxcơva thì một sự khác biệt đập ngay vào mắt. Cảnh đông người trên đường phố Matxcơva toát ra một khí sắc lành mạnh không thể có ở các thành phố tư bản”.(18) (Làm sao tìm được ở Paris mầm mống và khí sắc lành mạnh như Hiệu trưởng làm ma cô ép buộc gái vị thành niên bán dâm như ở HàGiang, Thiên đường Cộng Sản của CHXHCNVN.)

Đến thời gọi là “mở cửa” thì vì chủ trương “kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa” nên về mặt văn học có sự tái bản những sách của “miền Nam”. Nhưng Đảng đâu có thiếu đề cao cảnh giác. Các sách đã bị cắt xén những điều chạm đến chính sách và niềm tin của Đảng. Điều này tạo ra những nhận định sai lầm về văn hoá ở “miền Nam (VNCH) trước đây (*). Những học giả ở “Miền Nam” trước đây đều phải tuân thủ một tinh thần tôn trọng sự thật khi sáng tác hay biên khảơ. Nề nếp có tính chất quốc tế ấy khiến người ta tin tưởng ở những điều các vị học giả ấy viết ra, để căn cứ vào đấy mà có những nhận định chính xác.Vì thế những biên khảo không được có sự bịa đặt, dựng đứng hay ngụy tạo chứng cớ. Nếu có sự sai lầm trong tác phẩm biên khảo thì đấy là do trình độ còn yếu kém và không thể che dấu được người đọc có trình độ. Việc phê bình thẳng thắn sẽ giúp độc giả nhận ra những chỗ sai lầm này.

Học giả XHCN thì không tôn trọng quy tắc này. Điển hình như “Thầy” Đào Duy Anh đã dựng lên chuyện cụ Phan Bội Châu ca tụng Nguyễn Ái Quốc mà không cần chưng ra một chứng cớ nào cả.Cũng như “học giả” Trần Dân Tiên đã viết sách về tiểu sử “Bác Hồ” để từ đó những học giả ngoại quốc tham khảo khi viết về Hồ Chí Minh. Thầy Đào viết:”. . Hiện nay đã có người khác giỏi hơn lớp chúng tôi nhiều đứng ra đảm đương công việc để làm trọn cái việc mà lớp chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không?

-Có báo đăng tin Nguyễn Ái Quốc đã bị bắt và chết ở Hương Cảng cách 2,3 năm nay rồi mà?

- Không, tôi chắc ông Quốc vẫn còn, mà ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Họ bắt tôi dễ chứ làm sao bắt được ông Quốc; mà có bắt đi nữa thì cũng phải thả thôi, vì ông ấy giỏi chứ có như tôi đâu, lại có nhiều vây cánh và bạn bè khắp thế giới (Cụ Phan đâu có biết, làm sao Pháp bắt được Nguyễn Tất Thành khi chính hắn đã bán cụ cho Pháp để lấy tiền phát triển Đảng,)

-Thưa cụ “Bò đái thất thanh , Nam Đàn sinh Thánh” chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là khác!

-Kể cái nghề cử tử thì xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường cũng có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực, thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác”.(18)

Các học giả ngoại quốc khi viết về VN cứ yên trí tin vào những sự kiện trên thì giá trị của tác phẩm sẽ như thế nào? Rõ ràng chỉ là phiên bản của một chính sách nói dối thông suốt cả nền văn hoá Cộng Sản.

Trong sách giáo khoa dùng đào tạo giáo viên (Đại học sư phạm) đầy dãy những thông tin bịa đặt, tuyên truyền một chiều và nhất là sinh viên không hề được suy tư đối chiếu để tiếp cận chân lý, do đó đã tập quen cho những người thầy giáo tương lai một bản chất nói dối, ngụy biện, để sau này đi dạy, cứ theo con đường “sáng suốt” của Đảng mà hành nghề. Thí dụ năm 1930, sau thất bại của khởi nghĩa Yên Bái, Pháp có ném bom vào làng Cổ Am, mà họ cho là nơi tụ tập của các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng “ Tan tác Kiến Kiều An đất nước ; Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây”. Các báo chí thời ấy đều có đăng tải. Nhưng vì đó là cuộc nổi dậy của VNQDĐ , do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, nên sinh viên không được học; Còn Đảng thì thổi phồng vụ chống thuế của một số dân làng ở Nghệ Tĩnh lên thành Xô Viết Nghệ Tĩnh(*) mà chính dân làng ở Nghệ Tĩnh cũng chẳng biết Xô viết là cái gì). Như thế là Bộ giáo dục của CSVN đã chủ ý đào tạo một hàng ngũ “thầy đểu” để thực hiện chính sách “dạy đểu”.Việc CSVN có thành công hay không ở chính sách này lại có một nguyên nhân khách quan khác.

4.- Tu đểu;

Kể từ khi “lý thuyết gia” Đào Duy Anh phong “Bồ Tát” cho Hồ ChíMinh:”Không hề có ý đồng nhất hoá Bác Hồ với Khổng Tử, tôi chỉ muốn nói rằng Bác Hồ tuồng như có thể xem là bực thánh nhân tập đại thành những cái thánh của nhà Nho mà còn gồm cả cái thánh của nhà Phật (Bồ Tát), cho đến cái thánh của người Macxit chân chính.”(19) thì Cộng Sản VN khai sáng một nền “tu đểu” có thể coi như từ một lý thuyết của Thích Nhất Hạnh như Đào Duy Anh đã viết:”Tất cả năm công tác mà Thích Nhất Hạnh coi là căn bản và cấp thiết để cứu đời chỉ có thể thực hiện được như ông tự biết khi nào”sự chia cắt đau nhức giữa tôn giáo, chủng tộc và quốc gia được bãi bỏ - Những điều ấy không có thể thực hiện được bằng sự có mặt của các nhà đại sư để cho đạo lý thấm dần vào mọi hoạt động của xã hội và bằng sự tĩnh tu giác ngộ của mỗi người, mà chỉ có thể thực hiện được bằng cách đấu tranh để mở rộng cách mạng ra nhiều nước khác, kể cả những nước đế quốc”.(19)

Cơ bản “hiện đại hoá đạo Phật này cũng giống như chủ nghĩa Macxit là một thứ “đầu voi đuôi chuột. Nhà nước Cộng Sản kinh nghiệm thới gian trước đã từng lợi dụng đạo Phật làm một sức mạnh tranh đấu (20) nên ngày nay đã kiểm soát chặt chẽ giới tu hành chân chính, đồng thời dung dưỡng để tạo nên một cán cân “tu đểu” dần dà tiêu diệt đạo Phật. Điển hình ở một số chùa có hiện tượng buôn thần bán thánh. Trong chùa cũng có sinh hoạt tổ chính trị, và nhiều sư bị phát hiện với rất nhiều hiện tượng phạm giới . Nếu các tín đồ phẫn khích vẫn lui tới lễ bái, tín ngưỡng trở nên lỏng lẻo, nhạt nhẽo; nếu tín đồ bỏ chùa, Đảng thành công, vì đúng là một viên đạn hạ được hai con chim : vừa thực hiện được chủ trương vô tôn giáo, vừa nắm được ý thức của người dân.

Việc đưa cả Hồ Chí Minh vào thờ trong chùa, như ở phần trên có nói là do một bài báo quan trọng của Đào Duy Anh phong “Bồ Tát” cho “Bác”; cũng như dựng tượng “Bác” ở ngay đền Hùng với huyền thoại là ghi nhớ câu nói của “Bác” :”Các vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta phải giữ lấy đất nước”. (Thế mà chỉ 2 năm sau đã sai Phạm Văn Đồng viết công hàm bán đứt Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu). Xây dựng chùa to để nói với quốc tế là tôn trọng tín ngưỡng, nhưng thực chất bên trong lại làm cơ sở cách mạng, không kể làm kinh tế du lịch. Trong khi những chốn tu hành không vào luồng thì đổ nát, nghèo khổ, phải đi xin tiền của người Việt tị nạn ở nước ngoài để trùng tu. Nghiễm nhiên nhiều chùa trở thành chỗ buôn thần bán thánh, vừa làm kinh tế, vừa ru ngủ quần chúng, khiến bất kỳ một manh động nào có hại cho Đảng, Nhà nước đều bị trấn áp ngay từ trong trứng. Hãy cứ đặt một nhận xét nhỏ để thấy rõ vai trò của các sư công an ở chùa này: Năm 1963 sao mà biểu tình dễ dàng và đông đảo thế; còn hiện thời sư sãi phật tử có dịp nào mà tụ tập nổi nghìn người để khiến cho chính quyền phải huy động bộ máy công an giải tán và đàn áp. Như thế , phải nhận rõ ưu điểm của bộ máy an ninh Cộng sản đã lồng được vào tôn giáo niềm sợ hãi sự trừng phạt ở hiện thế.

4.- Hành xử đểu :

Xưa cũng như nay dù mang tên gọi khác nhau ở ngôn ngữ, con người đối với nhau bằng lòng thành. Ở Nho giáo chữ Thành đã mang đầy đủ ý nghĩa triết học là tư tưởng cơ bản của triết lý hành động :”Thành giả, thiên chi đạo giã; thành chi giả, nhân chi đạo giã”( Thành là đạo của Trời, làm đến được điều thành là đạo của người).Không có thành thì sao gây được tín nhiệm với nhau, tôn trọng nhau để tạo một cuộc sống hoà hợp trên căn bản giúp đỡ nhau mà cải thiện cuộc sống.

Cái “ đểu” là Cộng Sản đã phá ngay chữ “Thành” và chữ “Tín” ở chỗ cơ bản nhất là gia đình từ khi khuyến khích con tố cha mẹ, vợ chồng tố nhau. Sự tan nát niềm tin nơi gia đình đưa ra ngoài xã hội tạo nên một xã hội mất niềm tin mà chỉ còn rình mò và lợi dụng nhau. Đành rằng việc làm bậy không đời nào không có, chỉ ít hay nhiều mà thôi. Tuy nhiên Chính quyền phải cầm cân nảy mực để duy trì sự công bình, thành tín cho dân. Ngày trước người ta gọi một ông quan “đểu” là vì ông này lợi dụng chức vụ để ăn tiền, phân xử bất công, đổi trắng thay đen:

Tri Phủ Xuân Trường được mấy niên,

Nhờ Trời hạt ấy được bình yên.

Chữ “y” chữ “chiểu” không phê đến,

Quan chỉ phê ngay một chữ “Tiền”.

Thiểu số quan tham ấy không thể tồn tại hay lũng đoạn xã hội được khi ý thức đạo đức và pháp luật của dân chúng được nâng cao. Câu nhận định tuy rằng hàm hồ, nhưng cũng có chút sự thật của Tản Đà cho ta thấy một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao dân trí với việc ổn định xã hội:

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn,

Cho nên chúng nó dễ làm quan.

Cũng bởi bọn chính quyền lưu manh dùng bạo lực kìm kẹp khủng bố người dân, lại thủ tiêu sự công chính và thành tín nên xã hội VN hiện tại là một xã hội không giống ai. Người ta gọi là “thời kỳ đồ đểu”, tuy nghe đau xót, nhưng cũng phản ảnh được sự thật. Việc xưng bằng cấp “rởm” của Cộng sản VN ngày nay mới nở rộ, nhưng đã có từ quá khứ mà suy ra ai cũng hiểu nhưng không ai dám nói là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đỗ kỹ sư điện tử; còn “Bác Hồ” vì đã chót tô vẽ cho Bác là “thiên tài” hy sinh tìm đường cứu nước quên cả học, nên Đào Duy Anh đành lấp liếm ca Bác về trình độ:”Bác Hồ không đi thi, nhưng sức học chữ Hán bấy giờ đã tương đương với sức học của một người thí sinh trung bình, tức khi chuyển sang học chữ Pháp, Bác đã có được một vốn Hán học về văn thể (*) gọi là kiêm bị, mà về nội dung thì một người thông minh như thế phải là đã có những sở đắc chứ không phải như những học trò dung phàm(*). Bác Hồ học chữ Pháp ở trường Pháp Việt và trường Quốc Học được 6 năm. . .Bác Hồ đã tiếp thu được một số kiến thức về Tây học kha khá đủ để làm thầy giáo dạy học tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết trước khi Bác vào Saigon(*) (21). Bây giờ thì con cháu Bác hách hơn, mua bằng từ Thạc sĩ đến Tiến sĩ ở các nước Tây phương tư bản về để trí thức hoá Đảng.

Tất cả mọi thứ đều được đem ra mua bán từ quan tước đến liêm xỉ và cả sự thật nữa, cho nên mọi hành vi đều thể hiện tính chất nguyền rủa cái Đẹp, cái Tốt va cái Thật. Điều nổi cộm hiện nay là vụ án Cù Huy Hà Vũ đang phô diễn cho cả thế giới thấy rõ một Tòa án ngồi lên trên Pháp luật theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị hay của Đảng mà hành xử “đểu” với nhân dân.

5.- Vấn đề hoà hợp hòa giải với CSVN: Những người còn mang bản chất người có thể hòa vào với nền “ văn hoá đểu” của Cộng Sản Việt Nam không? Cộng sản không thể và không muốn sửa đổi. Cái gọi là nền văn hoá Macxit ấy là tai họa cho không những dân tộc Việt Nam , mà còn cho cả nhân loại cần phải được giải trừ để thay thế vào đấy một nền văn hoá nhân bản. Phải làm ngay lúc này thì vài ba thế hệ sau mới trở về nẻo thiện được. Văn hoá không thể từ trên trời rơi xuống và có kết quả cấp kỳ. Bài học cay đắng của lịch sử là từ giữa thế kỷ trước người ta không nghĩ đến sự nguy hại của văn hoá Macxit vì thật sự chưa có những biểu hiện “đểu” trong xã hội; vì xã hội vẫn còn ảnh hưởng của những yếu tố văn hoá cũ với điều mà người ta gọi là tử tế. Công việc tẩy rửa văn hoá “đểu” thật là khó khăn và lâu dài.” Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.”

Lê Văn Ngọc

Chú thích:

(1) Trong quyển VN văn hoá sử cương của Đào Duy Anh, xuất bản năm 1938 ông định nghĩa văn hoá như sau:” Người ta thường cho rằng văn hoá là chỉ những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hoá vốn có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải ở trong phạm vi văn hoá hay sao? Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt.

Văn hoá đã tức là sinh hoạt thì không kể là dân tộc văn minh hay dã man đều có văn hoá riêng của mình, chỉ khác nhau về trình độ cao thấp mà thôi. Ví dụ văn hoá của các dân tộc Âu Mỹ thì cao, mà văn hoá của các dân tộc mọi rợ ở Phi châu, Úc châu cùng các giống người Mường , Mán, Mọi ở nước ta thì thấp.

(2) Trần Ngọc Thêm- Tìm về bản chất văn hoá Việt Nam – trg25

(3) Xét về từ nguyên của chữ “đểu” chưa thấy có tự điển nào nêu ra ngoài các định nghĩa thông thường. Có thể phỏng đoán rằng tiếng Hoa nói lóng dương vật của đàn ông là con chim , tức là “điểu”. Người Việt ta đọc trại thành “đểu” (?)

(4) Trích từ trang mạng của Vô Danh. Xin cám ơn tác giả Vô Danh đã có phát kiến thâm thúy về ngôn ngữ.

(5) L. Trosky - Cuộc cách mạng bị phản bội – trg 17

(6) Nt – trg 196

(7) nt – trg 196

(8) nt – trg 197

(9) nt – trg 198

(10) Đào Duy Anh - Nhớ nghĩ chiều hôm – trg 33

(11) Nt – trg 34

(12) Nt trh 43

(*)Đào Duy Anh ít tham khảo lịch sử tư tưởng nhân loại nên không hiểu rằng việc đi tìm thực chất của cuộc sống con người đã có ít nhất cũng 2000 năm.

(*)Như vậy muốn đừng bị tha hoá về kinh tế, đương nhiên phải triệt tiêu chế độ tư hữu tài sản.

(*) Một trong những lo âu là võ khí nguyên tử của Đế quốc sẽ tiêu diệt nhân loại, còn võ khí nguyên tử của Liên Xô và Trung Quốc thì không (?)

(13) ĐDA - Nhớ nghĩ chiều hôm – trg 343

(14) nt. Trg 389

(*) Nghĩa là không theo quy luật chính xác của tự điển.

(*) Có lẽ ĐDA muốn nói là các cơ sở sản xuất tạo ra sản phẩm kinh tế. Dùng chữ tối nghĩa như trên có thể làm cho người ta hiểu lầm là cơ quan sinh sản của đàn ông và đàn bà đều trở thành của chung.

(15) ĐDA – NNCH - trg 50 – 51

(16) Tác phẩm cuối cùng của Đào Duy Anh xuất bản năm 1972 vẫn viết được những lời bịp bợm:”Nhưng trong 12 ngày cuối năm nhân dân ta đã quật ngã gần trăm máy bay khổng lồ (B 52) ấy (máy bay là một đồ vật hay một con bò mà quật ngã), khiến thứ võ khí chiến lược hoàn cầu mà đế quốc Mỹ vẫn dùng để đe dọa nhân dân thế giới bỗng biến thành con ngáo ộp không đáng sợ nữa.(Một tài liệu mới phát giác gần đây cho biết: một tốp nhân viên an ninh nhận được điện tín của Chính phủ CSVN xin đầu hàng, nhưng ban này đã bị “cất đi” và Mỹ cũng không ném bom sang ngày thứ 13 nữa. Sau đó hoà đàm Paris lại tiếptục). Không ngờ thua đau như thế, Mỹ phải vội vàng nhận trở lạì với ta quanh bàn hội nghị, cuối cùng phải ký hiệp định đình chiến và thừa nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.”

(17)L. Trosky -Cuộc cách mạng bị phản bội - Phần phụ lục , trg 324.

(*)Liên xô và Trung quốc thủ đắc vũ khí hạt nhân chắc để trang trí.

(18)Nguyễn Khắc Viện - Đạo và Đời –trg 99

(*) Hãy xem ông Nguyễn Khắc Viện nhận định về thanh niên VN ở miền Nam (VNCH):”Bố bỏ nhà đi lính cho Mỹ, mẹ bỏ con sa vào mại dâm, những đứa trẻ lớn lên muốn tránh bị bắt đi lính, chỉ còn cách tự hủy hoại mình với ma túy.(Có bao giờ NKV hỏi nguyên nhân thanh niên ở các nước Liên Xô, Trung Quốc và ngay ở Miền Bắc (CSVN) nghiện ma túy không?

(19) ĐDA - Nhớ nghĩ chiều hôm , trg 55

(20)Sau này mới phát giác Hồ Chí Minh đã báo cáo láo và thổi phồng vụ Xô viết “dạy non này, nên HCM bị Staline giũ lại ở Moscou.

(21) Xin xem thêm “Bàn thờ Phật xuống đường “ trong sách “Biến động miền Trung của Liên Thành.

(*)Đó chỉ là loại suy có tính cách bợ đỡ kiểu như “cậu ấm con quan thì phải đẹp, giàu, học giỏi, thông minh.

(*) Biết về văn thể tức là biết quy tắc , luật lệ làm thơ phú, văn sách, tức là văn thể các bài thi trong chế độ thi cử đời trước.

(*)ĐDA quên nói rằngBác dạy “chim bay cò bay” thể thao ở trường tư thục Dục Thanh( Phan Thiết).

Chuyện về giáo dục ở Việt Nam ngày nay (Tức là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Độc lập- tự do - hạnh phúc) .:

Trong một buổi học, cô giáo đang dạy cho học trò tập đọc. Đến một chữ khó trong câu:” Đồng chí Phan Đình Giót đã anh dũng lấy thân lấp lỗ châu mai”. Cô hỏi:”Có em nào biết “anh dũng” là gì?. Hỏi mấy lần mới có một em dơ tay xin “ phát biểu” :

- Anh dũng là “đéo sợ”.

Cô giáo đi từ kinh ngạc đến giận dữ, đem chuyện đến mách hiệu trưởng:

-Đồng chí xem, học trò dốt nát, mất dậy thế này. Nó lại dám nói :”anh dũng là đéo sợ”.

Hiệu trưởng gật gù, mỉm cười nói với cô giáo:

-Ừ! Nó nói thế “ đéo sai”.

Cô giáo lắc đầu chán nản nói:

-Đã thế thì đây “đéo dạy “nữa!

Hiệu trưởng khoát tay:

-Đây “đéo cần”.

Câu chuyện gọi là tiếu lâm, nhưng cười ra nước mắt này là một mặt biểu hiện của một nền “văn hoá đểu”, có thể là tiêu biểu cho văn hoá Macxit – Lêninnit đang ngự trị trên nước Việt Nam.

Nói đến văn hoá, người ta đã hàm một ý khác với dung tục. Người có văn hoá là một người có học – không cứ phải là có bằng cấp cao- cách cư xử lịch lãm, thanh lịch :

Người xinh cái bóng cũng xinh,

Người dòn cái tỉnh tình tinh cũng dòn.

Chính vì muốn có một phạm trù văn hoá tốt đẹp hướng thượng như thế, nên trước kia người ta gọi là văn hiến. Chỉ từ khi văn hoá Tây phương du nhập, các nhà văn tây mới dùng từ văn hoá để dịch chữ “culture” và cho nó nhiều ý nghĩa duy vật hơn. Nhất là quan niệm thiên Marxist của Đào Duy Anh (1), hay của các nhà “văn hoá” Cộng Sản sau này của Việt Nam :”Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình .”(2)

Dùng khái niệm văn hoá Cộng Sản để hiểu văn hoá Cộng sản vì sao lại gọi là “văn hoá đểu”, đối với quan niệm xưa xem ra có nghịch lý; nhưng lại rất “biện chứng” với nền văn hoá Macxit hiện nay ở Việt Nam.

Theo “Tự điển tiếng Việt” do Hanội phát hành , từ “đểu” (3)đã được định nghĩa và có những từ kép như sau:

Đểu (tt) xỏ xiên, dối trá đến mất hết nhân cách: nói đểu, đồ đểu, chơi đểu.

Đểu cáng (tt) đểu và đê tiện : bộ mặt đểu cáng.

Đểu giả (tt) : đểu và thâm hiểm; thủ đoạn đểu giả . (Chữ” giả” theo định nghĩa cũng trong tự điển này là “Không phải thật nhưng làm ra vẻ giống như thật”, khi ghép với chữ “đểu” lại có nghĩa là thâm hiểm.

Thực ra những người làm tự điển chỉ là sưu tập các từ ngữ lưu truyền trong dân gian. Thái độ khoa học là phải ghi rõ ràng những từ mới và nghĩa mới; cũng như những từ cũ đã bị đổi nghĩa. Có nhiều từ lúc đầu là nói lóng, nói trại nghĩa, vì mục đích che dấu bí mật, lâu dần đã mang ý nghĩa che dấu ấy và trở thành thông dụng. Cũng vậy, chữ “đểu” lúc đầu chỉ mang một ý nghĩa là xỏ xiên, dối trá (tự điển ghi chính thức), nhưng nay nó mang rất nhiều nghĩa:” Ngôn ngữ của dân tộc nào cũng gắn liền với lịch sử. Cái gì thường trực và lâu dài cũng trở thành ám ảnh rồi đi vào ngôn ngữ. Mày thử xem, ngôn ngữ của nước nào cũng xoay quanh hai từ “có” và “là”,(“ être et avoir”); to be and to have. Người Việt thì không có gì cả mà cũng chẳng là gì cả, chỉ có cái thân phận nô lệ, bị bóc lột và đói triền miên, vì thế mà động từ cơ bản của tiếng Việt là “ăn”.

Thắng bại thì gọi là “ăn thua”, sinh hoạt nghề nghiệp thì gọi là “làm ăn”; vợ chồng “ăn ở, ăn nằm” với nhau; nói chuyện là “ăn nói”, rồi “ăn ý”, “ăn ảnh”, “ăn khớp”. . . Ngay cả lúc chửi nhau cũng cho ăn cái này cái kia, rủa nhau đồ “ăn mày, ăn nhặt”, “ăn cắp, ăn giật”. Cái gì cũng ăn cả vì đói quanh năm, lúc nào cũng bị miếng ăn ám ảnh. Bây giờ cũng thế, cái gì cũng đểu cáng cả. Chính quyền đểu, Nhà Nước đểu, nhà trường đểu . . .cái gì cũng đểu cả nên “đểu” hiện diện một cách trấn áp qua ngôn ngữ.

Hắn dừng lại một lúc rồi nói tiếp:

-Nhân loại tiến triển qua các thời kỳ đồ đá,, đồ đồng, đồ sắt. Chúng ta còn có thời kỳ “đồ đểu”. Nước mình đang ở thời kỳ “đồ đểu”.

Bây giờ trong nước người ta không nói là giả nữa mà nói là “đểu”: hàng đểu, bằng đểu, rượu đểu, thuốc đểu. (Vô danh)

Tác giả “vô danh” chỉ quan sát và đúc kết hiện tượng sinh hoạt của xã hội Cộng Sản Việt Nam mà không thấy có sự hiện diện của một nền văn hoá chỉ có thể dùng từ “đểu” đặt cho mới xác đáng vì nó có nguyên ủy và biến thái “đểu”.

I.- Nguồn gốc đểu của văn hoá Macxit Lêninnit ở VN:

Về cuối đời, sau khi đã bị đày đọa cả nửa thế kỷ trong xã hội XHCNVN, triết gia Trần Đức Thảo nói “Chính là Marx sai”. Một cái sai của một triết gia đã lấy đi cả trăm triệu tính mạng con người, và còn không biết đến bao giờ nhân loại mới hoàn toàn rũ bỏ được cái sai ấy. Ông Gorbachew nhận định:”Cộng sản là dối trá và chỉ có dối trá” Theo ngôn ngữ hiện đại ở Việt Nam thì là “Cộng sản là đểu và chỉ có đểu”.

Căn cứ vào mục tiêu của Tuyên ngôn Cộng Sản thì nếu không có dân chủ Xô viết, không thể có chủ nghĩa xã hội. Tham vọng của Cộng sản là thực hiện chủ nghĩa xã hội ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước tiền tiến. Năm 1939 Trosky đã viết:”Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là tạo ra một xã hội không giai cấp, dựa trên sự liên kết và thỏa mãn hài hòa mọi nhu cầu. Trong ý nghĩa cơ bản ấy thì chưa có một tí xã hội chủ nghĩa nào ở Liên Xô”. Điều này chứng tỏ một sự lừa đảo có ý thức đối với lao động và nhân dân thế giới. Engel trên lý thuyết nói về xã hội không có giai cấp của CS nghe rất “sướng tai”:”Sau này khi không còn sự thống trị giai cấp và đồng thời không còn cuộc đấu tranh của mỗi cá nhân để tồn tại do sự tổ chức hỗn loạn của nền sản xuất hiện nay, và do sự va chạm và xung đột thái quá bắt nguồn từ cuộc đấu tranh này thì không còn gì để phải đàn áp, không còn có một lực lượng đặc biệt của Nhà Nước để đàn áp nữa. Kẻ tầm thường nghĩ rằng muôn đời vẫn cần có anh xen đầm. Thật ra anh xen đầm còn chế ngự được con người chừng nào con người chưa đủ lực để chế ngự thiên nhiên. Muốn cho Nhà Nước tiêu vong, phải làm tiêu vong sự thống trị giai cấp và cuộc đấu tranh để cá nhân tồn tại”.Nhưng khi chuyển sang thực tế, trước hết bên Liên Xô trong những năm đầu của cách mạng đã hình thành một giai cấp quan liêu. Sự lừa đảo quần chúng nhân dân tiên khởi của chủ nghĩa CS ở Liên Xô là đã dẹp bỏ một giai cấp mà họ gọi là ăn bám, tức là phong kiến để rồi thay thế vào đó một giai cấp ăn bám mới, tức là giai cấp cán bộ có hành vi rất quan liêu. Nói đúng ra, giai cấp quan liêu của CS gồm toàn thành phần đảng viên nắm nhiệm vụ điều hành đất nước, chỉ là một hình thức quan liêu tư sản thoái hoá, vì họ cũng có một động cơ quá trình phát triển như nhau, đúng như Trosky đã nhận xét về giai cấp quan liêu CS này:”Xét về tính chất, quan liêu không phải là một giai cấp, mặc dù có khát vọng trở thành giai cấp. Trong quá trình sản xuất, quan liêu không có vị trí độc lập và cần thiết như một giai cấp. Quan liêu chỉ là một đám người ăn bám vào giai cấp lao động (Cả cái Đảng CS từ lãnh đạo chóp bu đến cấp thấp nhất ở địa phương đều là ăn bám vào lao động quần chúng), như cây tầm gửi ăn bám vào một thân cây to, rút nhựa để sống. Trong hàng chục năm qua, quan liêu ở Liên Xô đã rút ở nền kinh tế Nhà nước những đặc lợi, đặc quyền cho mình. Mặc dầu không chiếm hữu những phương tiện sản xuất, họ vẫn có quyền hưởng thụ tối đa những sản phẩm do những phương tiện sản xuất này làm ra. Chính vì thế, họ đã bảo vệ (bảo vệ theo phương pháp quan liêu của họ!) nền kinh tế tập thể, thành quả của Cách mạng tháng Mười như bảo vệ con ngươi của mắt họ” (Bác Hồ cũng lập lại câu này với đảng viên).Thứ hai họ vẫn phải lẩn lút dấu diếm thu nhập của họ, trước mắt dân chúng. Họ vẫn phải giả dối, đem chủ nghĩa Macxit ra tuyên truyền, trong lúc họ áp dụng chủ nghĩa này dưới lăng kính quan liêu của họ”.(5)

Người nông dân và thợ thuyền, nói theo quan điểm của CS là “vô sản” đoàn kết lại để cho bọn bất lương bóc lột và đoạ đầy. Những tuyên bố lừa phỉnh “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” đã mê hoặc được dân chúng và đưa được họ vào chốn cực khổ triền miên. Đó là đường lối chính trị “đểu” của đảng Cộng Sản Liên Xô, tiền bối của cách mạng tháng Tám V.N. (Đây VN tháng Tám, em Liên Xô tháng Mười - Tố Hữu)

Trong việc đào tạo nếp sống tinh thần của người dân, tức là về mặt văn hoá Đảng chiếu cố tận tình khuôn ép nhân dân trong cái gọi là nền văn hoá vô sản:”Cơ quan trung ương của đảng ban bố những bài không ký tên, khá giống lệnh của các tướng tá quân sự quản lý kiến trúc, văn học, kịch bản, nhảy múa, cố nhiên là cả triết học, các khoa học tự nhiên và lịch sử.”(6).

Sự lãnh đạo bằng khủng bố của Đảng đối với tầng lớp gọi là trí thức tiểu tư sản làm thui chột hết mọi sáng tác, phát minh mà nguyên do cũng chỉ vì tầng lớp này cần phải tạo một vỏ sò cho mình để tồn tại:” Đã từng nếm một kinh nghiệm đau đớn, các nhà khoa học tự nhiên, toán học, ngữ vị văn học, lý thuyết gia về nghệ thuật quân sự cố tránh những khái quát hoá lớn rộng, sợ rằng có một “giáo sư đỏ” thường thường lại là một anh ngoi lên ngu dốt chống lại họ một cách thô bạo bằng một trích dẫn nào đó của Lênin, hoặc Stalin. Trong trường hợp như thế, bảo vệ tư duy và phẩm chất khoa học chắc chắn là tự gây cho mình một sự đàn áp khắc nghiệt.”(7) Như thế, điều hợp lý là phải có một nền văn hoá, nói riêng về văn học xây dựng bằng những tác phẩm “đểu” của những tác giả được Đảng chiếu cố :”Sự trung thực không có nó không thể có công tác lý luận, bị dẫm xuống chân. Những ghi chú để giải thích kèm theo các văn bản của Lênin cứ mỗi lần tái bản lại được sắp xếp lại từ đầu đến cuối để phục vụ lợi ích riêng bộ tham mưu của Chính phủ, tâng bốc các” lãnh tụ”, bôi nhọ các địch thủ của họ, xoá đi một số dấu vết. . . Các sự việc bị bóp méo, tư liệu bị che dấu, hoặc, ngược lại, được chế tạo ra, thanh danh được dựng lên hoặc bị hủy đi”(8). Đặc sắc của các lãnh tụ Cộng Sản đều là các “ nhà văn lớn” với những tác phẩm đồ sộ trở thành kinh điển, và mỗi lời nói là khuôn vàng thước ngọc chỉ đạo:”Bí thư đoàn Thanh niên Cộng sản tuyên bố trong một cuộc hội nghị các nhà văn rằng :”Các chỉ thị của đồng chí Stalin là pháp lệnh cho tất cả mọi người” và người ta vỗ tay, mặc dù một số đỏ mặt vì xấu hổ “…Và như người ta muốn lăng mạ đến tột cùng văn học, Stalin, người không thể viết đúng ngữ pháp một câu tiếng Nga, được phong là một trong những nhà cổ điển về văn phong “.(9)

Nền tảng văn hoá Macxit ở “quê hương cách mạng Tháng Mười” mà những người đầu tiên ái mộ chủ nghĩa Marx hết lòng hết dạ đem về cho nhân dân Việt Nam để thay thế nền văn hoá mà họ gọi là phong kiên lạc hậu, thực dân, tự bản chất nó đã là sản phẩm của đám người “ tiêu giấy bạc giả”- nếu dùng từ mới của VN ngày nay thì là bọn “tiêu tiền đểu”. Thực vậy, những sách gọi là kinh điển mà những trí thức VN đọc để từ đó hiểu chủ nghĩa Mac đều không phải là trước tác cơ bản của nền tảng Macxit. Nếu người ta đã biết không phải học thuộc tứ thư ngũ kinh là thành nhà Nho, mà còn phải có công phu hàm dưỡng tu thân mới thể ngộ được đạo đức để làm một hiền nhân quân tử; thì đối với Macxit khả năng tổ chức và lãnh đạo quần chúng- tức là lừa bịp và đàn áp mới là cơ bản. Hồ Chí Minh chỉ là một người hành động, không phải là lý thuyết gia, và ông cũng hoạt động ở ngoại quốc nhiều hơn ở Việt Nam . Nhóm chủ trương cách mạng theo Maxit là nhóm Tân Việt với Đào Duy Anh, có định hướng và chương trình rõ rệt:”Tôi (Đào Duy Anh) sở dĩ thừa nhận rằng con đường cách mạng của nước ta phải theo phương hướng cách mạng Xã hội chủ nghĩa là do nhận thức bằng lý trí, thấy như thế mới lô-gic, chứ thực ra chưa biết làm cách mạng xã hội chủ nghĩa như thế nào.”(10).Chỉ căn cứ vào sách vở do Đảng Cộng Sản viết mà chuyển đạt chủ nghĩa CS vào VN, Đào Duy Anh cũng như vài cộng tác viên của đảng Tân Việt lúc ấy không hiểu rằng thực chất những sách ấy đã không phản ánh thực trạng của cách mạng Xã hội chủ nghĩa:”Nhờ quen biết một thanh niên quê ở Thanh Hoá đã từng làm thư ký tàu biển cho một công ty hàng hải Pháp, có lẽ bấy giờ anh ta là một đầu mối liên lạc ở Saigon để các thủy thủ Pháp tiến bộ trao cho những sách báo do đảng Cộng Sản Pháp xuất bản, tôi được anh trao cho một số sách về chủ nghĩa Cộng Sản như”: ABC du Communisme, Theorie materialisme historique, Lenine et la question national v.v…Ngoài ra tôi còn mua được một số sách của các nhà xuất bản khác như Histoire du Socialisme, Karl Marx, sa vie, son oeuvre của Mac Beer, Lenine của Clara Zetkin, La femme et la socialisme của Auguste Bebel.”

Con đường đi đến chủ nghĩa Mac hoàn toàn bằng lối hàm thụ ấy đương nhiên chỉ cho người ta một mớ kiến thức hào nhoáng bên ngoài, nhưng nó lại tạo ra một niềm tin mù quáng. Không đối chiếu với thực tại thì không thấy những yếu kém hay sai lầm của lý thuyết. Mang tiếng là khoa học, nhưng lại hành xử rất từ chương, nó sẽ dẫn đến “nói một đàng , làm một nẻo” mà sự kiện này vốn lúc ấy đang diễn ra ở Liên Xô, quê hương của Cách Mạng tháng Mười,”Tôi đã tin tưởng rằng Cách mạng VN muốn thành công, cuối cùng tất phải theo hướng Cách mạng Xã hội chủ nghĩa; chủ nghĩa xã hội ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học hay chủ nghĩa Cộng Sản , dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mac, mà chủ nghĩa Mac là chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử.”(11).

Rất nhiều người đã lầm lẫn khi cho rằng những người Cộng Sản VN chỉ dùng chủ nghĩa Cộng Sản như một phương tiện để tranh thủ độc lập cho nước nhà. Đó là vì theo ý thức hệ cũ, tinh thần quốc gia là tuyệt đối, dù trong chế độ quân chủ, nhân dân và xã tắc vẫn được tôn trọng và từ vua đến quan đều phải lây quốc gia làm trọng. Những nhà cách mạng buổi đầu của VN như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu dù chủ trương Đông Du hay Tây hoá cũng vẫn có mục đích tranh thủ độc lập cho quốc gia. Nhưng Cộng Sản thì theo đúng tư duy của họ, mục đích là thế giới. Quốc gia chỉ là một phần nhỏ của thế giới. Tranh thủ độc lập quốc gia chỉ là bước đầu để cho giai cấp công nông có chính quyền mà tiến lên làm cách mạng thế giới:”Sau khi phân tích tình hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình xã hội, đặc biệt là sự phân bố giai cấp ở nước ta, tôi đi đến kết luận rằng Đảng ta ngày nay phải là một đảng có tính chất liên hiệp quốc dân, chứ chưa có thể là một đảng Cộng Sản thuần túy của giai cấp công nhân được, vì thực ra giai cấp công nhân của nước ta còn non trẻ, nhưng trong tình hình thế giới ngày nay, cách mạng nước ta cuối cùng phải là một bộ phận của cách mạng thế giới, do giai cấp công nhân lãnh đạo, cho nên để có thể đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà từ cách mạng dân tộc tiến lên cách mạng thế giới (tức cách mạng Xã hội chủ nghĩa.”(12)

Rõ ràng :”Trong khi chắp cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

Tự cơ bản của Cộng Sản không có chỗ đứng cho quốc gia. Lenin chỉ dùng chiêu bài dân tộc để đánh phá tư bản và thực dân, cho Liên Xô rảnh tay làm cách mạnh xã hội ở trong nước. Như thế bản chất của văn hoá Macxit đã là giả dối, lừa phỉnh, hay nói ngôn ngữ ngày nay là “đểu”. Vănhoá Macxit hay bất kỳ một nền văn hoá nào đều phải là tiếp thu những tinh hoa của văn hoá tiền nhiệm. Sự tiếp thu ở mặt văn hoá không hàm ý đấu tranh triệt tiêu, mà chỉ là chọn lựa tự nhiên. Tuy vậy giai cấp cầm quyền với sự lo ấu về an nguy của nó, vẫn muốn khống chế một tư duy văn hoá thể hiện ra ở cách tư duy và hành động. Nền văn hoá nhân bản vốn đã có thời gian dài xây dựng và củng cố trong lịch sử, dù bị nhiều va chạm cũng vẫn là tiêu chuẩn cho mục đích hành động của con người. Nó không thể thỏa hiệp được với sự lăng mạ lòng nhân ái và liêm xỉ của con người bằng những hành vi dối trá, cướp đoạt, diệt chủng.

Mê hoặc lý thuyết của những người tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng Sản nhắm vào thành phần trí thức trong xã hội là cái vỏ bạo lực của cách mạng. Họ tung hỏa mù để vừa che lấp những hành vi tàn bạo diệt chủng, vừa lu loa gian dối chào hàng:”Bao nhiêu thế hệ triết gia từ mấy trăm năm gần đây đã cố đi tìm thực chất của cuộc sống con người(*), và đến hơn trăm năm nay Karl Marx là nhà tư tưởng mới gọi là nắm được căn bản của cuộc sống. Nhà Phật cho rằng chỉ cần tâm ý con người được sự chỉ đạo của định và tuệ, thì con người bị “phóng thể” có thể trở vè được bản thân mình, do đó mà tự cứu mình và cứu độ người khác. Karl Marx thì cho rằng con người bị “tha hoá” về mọi mặt phải được giải thoát khỏi sự tha hoá để trở thành con người chân chính, toàn diện . . .Marx thì cho rằng sự tha hoá của con người là bắt đầu từ sự tha hoá về kinh tế, tức là sự tha hoá của chế độ tư hữu tài sản,(*). Người Macxit phải dùng đấu tranh mới thực sự giải phóng được con người (Cộng Sản trên thế giới đã giải phóng được cả trăm triệu người khỏi cuộc sống. Riêng Công Sản Việt Nam đã giải phóng cả 20 triệu dân miền Nam (VNCH) khỏi cuộc sống tương đối ổn định về kinh tế để đưa công nông cả nước vào cuộc sống nghèo khổ, nô lệ ). Người Macxit cho rằng nếu không đấu tranh thì không thể nào mong tự giải thoát được. Song đấu tranh có nhiều hình thức, từ đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị, đến đấu tranh bằng bạo lực, tùy thời cơ mà dùng hình thức này hay hình thức khác.(Cái đểu của đấu tranh tư tưởng Cộng Sản là bịt mồm không cho đôi phương phát biểu). . Những điều căn bản để cứu đời chỉ có thể thực hiện được bằng cách đấu tranh để mở rộng cách mạng ra nhiều nước khác, kể cả những nước Đế quốc chủ nghĩa, để hạn chế và dần dần chấm dứt sự lũng đoạn của những công ty tư bản khổng lồ trên toàn thế giới là những kẻ thủ ác trong những mối đe dọa lớn đối với loài người.(* )Như thế thì có thể nói rằng lý tưởng cứu độ của người Phật tử cũng như lý tưởng cứu thế của các tôn giáo khác mà xưa nay các tôn giáo không thực hiện nổi (sic), chủ nghĩa Mac sẽ có thể thực hiện được”.(12)”Con người được giải phóng


Lê Văn Ngọc

Thế hệ 36 tuổi

Những em bé sinh ngày 30 tháng Tư năm 1975, hôm nay đã 36 tuổi. Ngày cậu con trai út đủ 36 tuổi, tôi nói với cháu: “Trong đầu bố mẹ vẫn nghĩ như con còn nhỏ lắm.

Nhưng nhớ lại, hồi nhà mình chạy qua Canada, thì bố cũng chỉ bằng tuổi con bây giờ thôi!”

Những bạn trẻ 36 tuổi, ở nước ngoài hay ở trong nước, gọi là họ đã trưởng thành không đủ. Ðúng ra, họ là những người lớn, mà thế hệ cha anh thường không biết. Họ lớn hơn chính các bậc cha chú hồi cũng 36 tuổi! Một “thanh niên” gốc Việt Nam sống ở Ðức, Philipp Roesler sinh trưởng ở Khánh Hòa, đã từng được cử làm bộ trưởng Kinh tế, rồi làm phó thủ tướng của Bang Saxony Thấp (Niedersachsen); rồi sau đó, lên làm Bộ trưởng Y tế trong chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Ðức. Tất cả xảy ra trong cùng một năm, khi Dr. Philipp Roesler đúng 36 tuổi. Năm nay 38, anh lại được bầu làm lãnh tụ đảng Tự Do Dân Chủ, một đảng chính trị lớn ở Ðức, để lên làm phó thủ tướng chính phủ liên bang! Các bạn trẻ Việt Nam 36 tuổi nếu được tự do phát triển, nhiều người không thua kém gì Dr. Philipp Roesler!

Ba phần tư dân số Việt Nam, kể cả người Việt sống ở khắp thế giới bây giờ, ở tuổi từ 36 trở xuống. Họ là tương lai của nước Việt Nam. Thế hệ cha anh phải thành tâm cầu nguyện họ được mọi điều may mắn để thành công. Họ may mắn là nước Việt Nam may mắn! Họ thành công thì hy vọng nước Việt Nam thành công.

Thế hệ 36 tuổi bây giờ may mắn hơn chúng tôi vì khi sinh ra chiến tranh đã chấm dứt. Những bạn ở trong nước thiếu may mắn hơn chúng tôi hồi 20, 30 tuổi. Tuổi đó là lúc chúng tôi lăn mình vào các công tác giúp ích đồng bào. Lập hội đoàn, đi cắm trại, tổ chức học sinh, sinh viên đi làm công tác xã hội. Thời Hoàng Ðạo viết Mười Ðiều Tâm Niệm, năm 1940 ông đã hô hào giới trẻ đi “làm việc xã hội,” như chính ông đã làm. Phải giúp ích xã hội, đó là điều tâm niệm của nhiều thế hệ thanh niên sau đó. Không phải là những việc mà người lớn đã “động viên” mình làm! Phải giúp ích với tinh thần tự nguyện, tự do! Thời nay ít có cơ hội như vậy.

Nhưng hiện giờ ở trong nước vẫn có rất nhiều đoàn thể thanh niên theo đuổi các công tác xã hội. Trong khuôn khổ các chùa, nhà thờ, vẫn có các đoàn Phật tử, các Hướng đạo Công Giáo sinh hoạt. Ðó là những môi trường để rèn luyện chí khí, tập sống chung theo lối dân chủ. Khi các thanh niên họp nhau làm việc, chắc chắn họ muốn quyết định mọi việc chung theo các quy tắc dân chủ; đoàn thể nào không dân chủ thì các bạn trẻ sẽ không muốn gia nhập. Chắc chắn, trong sinh hoạt đoàn thể các bạn trẻ sẽ tập được tinh thần giúp ích, thói quen tôn trọng công ích. Ðời sống tập thể, tự nguyện và tự do, là nơi nuôi dưỡng tinh thần, chuẩn bị xây dựng một xã hội công dân, nền tảng của mọi thể chế dân chủ tự do. Tôi được tin nhiều bạn Hướng đạo ở miền Nam đang tìm cách cho phong trào Hướng đạo được chính thức hoạt động lại, sau khi bị giải tán năm 1975. Họ còn muốn phục hồi lại sinh hoạt Hướng đạo ở miền Bắc. Ðó là những tin mừng. Ước vọng của tuổi trẻ, thế nào rồi cũng thành công!

Thế hệ 36 tuổi nhìn quá khứ khác cách nhìn của thế hệ cha, anh. Cách nhìn thế giới của lớp trẻ bây giờ khác hẳn thời chúng tôi. Họ vượt lên trên biên giới quốc gia, họ thấy một thế giới mở rộng. Chuyện gì xẩy ra ở Tunisia, ở Syria, những người ở lứa tuổi 30 đều biết. Ðặc biệt là những người sống ở nước ngoài, quê hương của họ là cả thế giới. Một người bạn tôi có ba đứa con. Hôm rồi tôi nghe một người khác nói, cháu lớn nhất đang ở Canada, gần đây cháu thứ nhì sang Pháp, còn cô con út đang ở đâu đó bên Tàu! Chính anh bạn này, trước dậy Vật lý ở một đại học Canada nay đã về hưu, tình cờ đang ở Phi Châu vài năm. Anh bạn tôi có lần báo tin mừng: Ðã tìm được một tiệm phở trong thành phố Yaoundé, thủ đô Cameroun! Hai vợ chồng anh đã dậy cách nấu ăn Việt Nam, cho nhiều người bạn ngoại quốc. Cuối Tháng Năm 2011 anh sẽ dậy một lớp về Tứ Diệu Ðế, Bát Chánh đạo và Phật Giáo Việt Nam. Người Việt Nam sống khắp thế giới, địa bàn sống của giới trẻ Việt Nam bây giờ cũng là cả thế giới, không như thế hệ chúng tôi hồi xưa không bao giờ tính chuyện sống ở ngoài nước mình!

Ngay trong giới trẻ ở nước ngoài, nhiều người vẫn thấy mình dính dáng mật thiết với nước Việt Nam, một cách tự nhiên. Hồi 1975, 76, trong một buổi họp với các trưởng Hướng đạo ở Montrea1, tôi bất đồng ý kiến với một bạn trẻ về việc giáo dục trẻ. Tôi đề nghị khi huấn luyện các em lớn lên ở nước này, họ là công dân Canada, có bổn phận với nước Canada, không nên đặt kỳ vọng sẽ dậy các em những bổn phận đối với nước Việt Nam quá xa xôi. Anh bạn tôi, trẻ hơn mươi tuổi, đã kịch liệt phản đối. Anh nghĩ rằng mình phải hun đúc tinh thần yêu nước Việt Nam cho những em sinh ra và lớn lên ở nước ngoài. Vấn đề này chắc bây giờ cũng còn nhiều người tranh luận.

Nhưng anh bạn trẻ của tôi đã làm đúng điều anh tin tưởng. Bây giờ, cô con gái anh ở tuổi 30, sinh ra và lớn lên ở Montreal, đang hoạt động tích cực trong một phong trào trẻ vận động dân chủ tự do cho Việt Nam! Chính cháu đã chọn lý tưởng đó, chọn con đường phục vụ cho quê hương của cha mẹ mình! Cuống rún của cha mẹ vẫn nối liền đến đời con cái!

Con gái tôi, sinh ở Sài Gòn, lớn lên ở Canada, đã về Việt Nam hồi 30 tuổi, đi thăm quê nội, quê ngoại lần đầu. Cháu kể khi đứng lễ trước ngôi mộ ông nội giữa cánh đồng làng thì cảm thấy rõ ràng mình có liên hệ thân thiết với mảnh đất quê hương và những thế hệ tổ tiên đời trước. Cháu đã tới một làng quê ở Quảng Trị thăm một ngôi trường mẫu giáo nơi mà mẹ con cháu có đóng góp để giúp cô giáo và học sinh. Cháu dậy các em bé những trò chơi và các bài hát Hướng đạo, những bài mà cháu học từ nhỏ. Lòng cháu tràn ngập một niềm vui lớn. Trở về, cháu nói cảm thấy rõ mình là người Việt. Khi dậy nhạc ở Ðại Học Mahidol bên Thái Lan, vợ chồng cháu mời các giáo sư và nhạc sinh Việt Nam sang tham dự những cuộc tập họp và thi tài giữa các nhạc sinh Ðông Nam Á; cháu rất vui mừng khi gặp các nhạc sinh Việt Nam xuất sắc so với nhạc sinh các nước khác. Cháu vẫn hãnh diện về tài năng của người cùng giống Việt như mình.

Những bạn trẻ 36 tuổi ở trong nước không có dịp đi qua những kinh nghiệm đó. Ðối với họ, trách nhiệm đối với dân tộc, với lịch sử, cha ông, là một điều tự nhiên. Họ dính liền với quê hương, nhưng đồng thời cũng coi thế giới có thể là nhà của mình. Hầu như ai cũng khao khát được ra nước ngoài học hỏi. Và những bậc phụ huynh ở thành phố cũng chỉ muốn con mình được đi du học. Thời chúng tôi còn trẻ cũng vậy. Các bạn sẽ học được gì khi ra ngoại quốc? Ðiều quan trọng nhất là tập nếp sống tự do. Cuộc sống tự do có nhiều cách thể hiện lạ lắm!

Con gái một người bạn tôi sinh ra ở Mỹ năm nay chưa 36 tuổi, cháu đã về thăm Việt Nam khi mới ngoài 20. Cháu đi một mình, nhưng về đến nơi thì được họ hàng trong Nam, ngoài Bắc đón tiếp, thương yêu. Trước khi đi Việt Nam cháu không bao giờ nói tiếng Việt, trừ khi bị bắt buộc; nhưng sau một tháng cháu đã nói tiếng Việt thông thạo. Và khi trở về Mỹ cháu nhất định chỉ nói tiếng Việt khi gặp hàng chú bác, bạn bè của cha mẹ. Cháu được “Việt Nam hóa” không phải vì nhờ một tháng “du học” trong nước, mà vì suốt hai mươi năm cha mẹ, cô chú đã làm gương cho cháu những cách ăn ở theo tình nghĩa, đạo lý của người Việt.

Khi về nước, cháu cũng hiến tặng cho bà con họ hàng những món quà mà cháu không ngờ tới. Ðó là phong cách sống rất hồn nhiên, vô tư, thành thật, thẳng thắn của một đứa trẻ lớn lên và sống ở một nước dân chủ. Ở Hà Nội mọi người trong họ đều công nhận cháu là một “con ngố”. Nó ngây thơ, tin tưởng ai cũng như mình. Nhưng họ hàng thấy là “con ngố” này đã được giáo dục y như các cụ dậy ngày xưa. Cứ sống lương thiện, chính trực, tin người và nghĩ ai cũng tin mình, kính cẩn và giản dị khi đối xử với người chung quanh. Quen sống ở nước ngoài, cháu dám bầy tỏ ý kiến riêng của mình, khi muốn nói không là nói không, không hề ngần ngại. Cháu lắng nghe học hỏi và bắt chước ngay những lời nói, cử chỉ do các chú bác, anh em chỉ cho. Cháu tôn kính với mọi người nhưng không có thói quen sợ hãi. Cháu đối xử bình đẳng với bất cứ ai trong xã hội, không phân biệt quan với dân, sang hay hèn. Con bé ngố đó tiêu biểu cho một tâm hồn tự do và trong sáng, giản dị. Một tháng cháu sống trong vòng tay âu yếm của họ hàng bà con, cháu cũng hiến tặng cho mọi người hình ảnh một thanh niên được sống không khí lành mạnh và tự do từ thủa nhỏ. Nhìn cách sống của cháu người chung quanh có thể cảm thấy một nền giáo dục tự do trong một xã hội tự do có thể đào tạo nên những con người lương hảo.

Thế hệ các thanh niên Việt Nam trên dưới 20 tuổi, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, đều có thể tập lối sống hiền lương chính trực. Cha mẹ các em trong thâm tâm cũng đều muốn như thế. Chính các bạn thanh niên phải chọn lối sống chính đại, quang minh, tin người và giúp đời; các bạn sẽ xây dựng một nước Việt Nam theo lối sống lương hảo. Chắc chắn đó phải là một nước tự do.


Ngô Nhân Dụng

Ngày Oan Trái

Hai em bận đồng phục trong ảnh này, ảnh thu ở đường phố Sài Gòn Tháng 5, 1975, năm nay 2011, hai em ở đâu?

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương….

Ðêm Tháng Tư Buồn ở Xứ Người – Biết dzồi..! Chán lắm..! Than mãi ..! – .. nằm xem TiVi, thấy thiên hạ lao xao nói đến chuyện Thái Tôn nước Anh-cát-lỵ cưới vợ, Người Lưu Vong Già bồi hồi, ngậm ngùi nhớ lại chuyện đám cuới vương giả cũng diễn ra ở xứ Anh-cát-lỵ năm xưa, khi Thái Tử Charles kết hôn với cô Diana.

Người Sài Gòn cầm cờ Giải Phóng Miền Nam đi đón bọn Bắc Cộng xâm lăng ở Ðường Thống Nhất, ảnh ngày 2 Tháng 5, 1975.

( Minh tinh Thẫm Thúy Hằng, Bạch Tuyết, Năm Châu....

Năm xưa là năm 1981. Mới đấy thôi, tưởng như là đêm qua mà đời tôi đã qua 30 mùa lá rụng. Dòng thời gian dài một ánh bay.. Thân xác con người không thể trở về dĩ vãng nhưng trí nhớ của con người có thể làm cho con người tưởng như mình sống lại ngày xưa. Sống lại thảng thốt, mơ hồ – tất nhiên – đêm lặng, xứ người, nằm trong căn phòng đèn vàng, an ninh Năm Chăm Phần Chăm, tôi mơ hồ trở lại là tôi năm 1981; tôi nhớ lại những buổi tối vào lúc 9 giờ, trong căn gác lửng tối om vo ve tiếng muỗi, tôi nằm bên cái radio Sony nghe Ðài Phát Thanh BBC, VOA. Nhiều lần tôi muốn kêu lên với các ông BBC, VOA:

- Khổ lắm, mấy ông ơi.. Mấy ông cứ..“Công chuá Diana..” là ký gì? Công chuá là con gái vua, công chuá không thể kết hôn với hoàng tử là con trai vua, trừ khi hoàng tử là con vua một nước khác… Mấy ông gọi Diana là “công chuá,” bọn Bắc Cộng chúng nó cười cho…

Ba Tầu chỉ có tiếng “hoàng tử ” để gọi Prince, tiếng “công chúa” để gọi Princess nên khi cô Diana được phong vương hiệu Princess, người ta gọi nàng là “công chuá.” Nhưng nếu không gọi Princess Diana là công chuá, ta phải gọi nàng với tước hiệu gì? Prince có thể là Vương Tử, có thể gọi Princess – bà vợ của ông Prince – là vương hậu hay không? Ông chồng của công chuá là phò mã, con rể cuả Vua là Hoàng Tế – như Hoàng Tế Phillip, ông chồng Bà Vua Elizabeth – Tầu có triếng “tử tức” – “tử” là con, “tức” là con dâu – ta có thể gọi Princess Diana là Hoàng Tức Diana được chăng?

Hôm nay, một trong những ngày Cuối Tháng Tư Thứ 36 kể từ Tháng Tư Năm 1975, tôi viết lan man về chuyện Ðám Cưới cô Diana 30 năm xưa. Tâm viên, ý mã.. Tôi viết thế vì tôi ngậm ngùi với chuyện thời gian qua nhanh. Mới đêm qua tôi nằm ở một góc thành phố Sài Gòn nghe chuyện đám cưới vương giả xứ người ở mãi bên kia biển. Dzậy mà thời gian đã qua 32 năm! Năm 1980 tôi 50 tuổi.

Sài Gòn năm 1980 ở dưới đáy của Tang Thương. Năm ấy tôi đi tù 2 năm vừa trở về mái nhà xưa. Tôi nhớ những buổi chiều lúc 5 giờ, đứng ló mặt trong cưả gió sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu chờ bọn cai tù đi qua điểm mặt, có những chiều tôi ghé mắt nhìn qua cửa gió sà-lim về những vòm cây sao trên đường Chi Lăng ngoài kia, trên bờ tường nhà tù, nắng chiều tô vàng trên những vòm cây ấy, gió chiều làm những cành lá rung chuyển. Tôi tưởng tượng giờ này tôi được đi trên vỉa hè đường Lê Lợi. Hạnh phúc chừng nào. Những chiều bị tù ấy tôi nghĩ khi được ra khỏi tù, được trở về mái nhà xưa với vòng tay gầy của người vợ hiền, tôi sẽ sống ngoan, sống không hờn giận, không uất ức, sống cam chịu với số phận đen hơn mõm chó của tôi. Sống đầu hàng, sống hèn mạt như mọi người dân Quốc Gia VNCH vưà bị tiêu vong, tôi sẽ không làm gì để bị bọn đầu trâu, mặt ngựa nửa đêm đến nhà dựng cổ dậy, bắt đi tù lần nữa. Những ngày đầu khi trở về nhà, tôi nói với vợ tôi:

- Anh đã chịu cực nhục nhiều trong tù, anh sẽ không còn bực mình về những chuyện vặt như việc phải đi họp tổ, tối tối phải đi nghe đọc báo.

Thế nhưng:

Quân lạc phong trần quân bất cải.
Ngã hồi phố thị, ngã do liên.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản.
Giai nhân, cùng sĩ đối sầu miên.

Phong trần Em vẫn là Em.
Anh về phố chợ đêm đêm lại buồn.
Một đi hoàng hạc đi luôn.
Giai nhân, cùng sĩ đối buồn nằm mơ.

Tù hai năm về nhà, tưởng cúi mặt sống được, nhưng chẳng bao lâu tôi lại chịu không nổi. Tuy biết rằng cứ làm Thơ, cứ Viết bài gửi ra nước ngoài là thể nào cũng bị bắt lại, tôi cứ làm Thơ, tôi cứ Viết ra nước ngoài.

Tôi viết những bài than thở, tôi không chỉ than thở cho thân tôi, tôi kêu than cho đồng bào tôi, tôi diễn tả nỗi sầu buồn, nỗi tuyệt vọng của đồng bào tôi, như trong bài thơ:

BUỒN

Như cánh lá vàng sau trận cuồng phong
Anh rạt về đây, xóm hẹp người đông.
Nhà Em, nhà Anh cách hai thước ngõ
Những chiều mưa buồn nước ngập như sông.
Em đứng mỏi mòn bên dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con chờ mong.
Anh đứùng võ vàng sau khung cửa sổ
Như người tù nhìn đời qua chấn song.
Anh đứng trông mây, Em đứng trông chồng.
Mất chồng con bế, con bồng Em mang.

Cái bống là cái bống bang,
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ!
Tiếng ru hờ, tiếng khóc ơ
Vương trên khung cửa bây giờ tang thương.
Ðìu hiu cuối ngõ, cùng đường,
Bên Anh tuyệt vọng, đoạn trường bên Em.
Ngày lại ngày, đêm lại đêm,
Ngày rơi sầu muộn, đêm chìm phôi pha.
Buồn từ trong cửa buồn ra,
Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.
Ta đang sống, ta đang mê?
Hay ta đang chết não nề, Em ơi !

Khi bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt tôi, chúng lục xoát tóm được tập thơ của tôi. Anh Công An Huỳnh Bá Thành có đọc bài Thơ Buồn của tôi; khi thẩm vấn tôi ở Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, y nói :

- Trong lúc nhân dân cả nước phấn khởi hồ hởi tiến lên xã hội chủ nghiã, một mình anh kêu buồn đâu có được. Cái buồn của anh ảnh hưởng xấu đến người khác.

Y hỏi móc tôi :

- Bây giờ anh là « người tù nhìn trời qua chấn song » rồi đấy. Anh thấy sao ?

Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 chừng một tháng, thành phố thủ đô Sài Gòn biến thành một Chợ Trời Khổng Lồ. Theo đúng thông lệ: bọn Cộng đi đến đâu, Chợ Trời Viả Hè đi đến đấy. Tháng Sáu, Tháng Bẩy năm 1975 người Sài Gòn đem đủ thứ đồ linh tinh ra bầy bán ở vỉa hè. Tôi làm bài thơ :

CHỢ TRỜI

Trời chiều đi dạo Chợ Trời,
Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui.
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi
Vỉa hè này những khóc cười bầy ra.
Lạc loài áo gấm, quần hoa
Này trong khuê các, sao mà đến đây ?
Chợ bầy những đọa cùng đầy,
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa.
Bán đồ toàn những người ta.
Mua đồ thì rặt những ma, cùng mường.
Chợ Trời hay Chợ Ðoạn Trường ?
Ðầu Âm Phủ, cuối Thiên Ðường là đây.

Công An VC Huỳnh Bá Thành cũng đọc bài thơ Chợ Trời của tôi. Khi thẩm vấn tôi, y nói:

- Anh làm thơ gọi chúng tôi là Mán, là Mường. Nếu các chú đi bắt anh mỗi chú chỉ đánh anh một cái thôi, giờ này anh không ngồi được vững như thế này.

Tôi đã qua 8 năm tù ngục Cộng sản. Thành tích Tù Ðầy của tôi không có gì để tôi khoe, tôi cũng chẳng làm gì để mong được khen. Ở tù Cộng sản 8 năm mà không làm việc gì để phải tự hổ thẹn, không làm việc gì để vợ con tôi phải xấu hổ vì tôi, dzậy là tôi mừng.

Mất nhau trong cuộc biển dâu
Hồn anh hoa muộn, lá sầu hoang sơ.
Tim anh quằn quại bóng cờ,
Tai anh Mán hú, Mọi hờ quanh năm.

Tôi tìm được bài Kể Tội Bắc Cộng dưới đây trên Internet :

- Khi xâm lăng VNCH, cộng sản đã hành sử như một lũ thổ phỉ đi ăn cướp:

- Chúng cướp 16 tấn Vàng trong Ngân khố Quốc gia VNCH. Những tên đầu sỏ cộng sản đã đưa số vàng ăn cướp này ra ngoài Bắc và dấm dúi chia nhau.

- Chúng cướp tất cả những kho dự trữ của VNCH, ngày đêm chúng chuyên chở những đồ chúng cướp được ở miền Nam về miền Bắc trong nhiều tháng trời.

- Chúng cướp nhà của những người bỏ nước ra đi và những người vượt biên để chia cho nhau.

- Chúng cưỡng bức người dân thành thị đi đày tại những vùng chúng gọi là “khu kinh tế mới” để chúng cướp nhà của họ.

- Chúng bắt người dân phải hiến nhà cho chúng trước khi xuất cảnh.

- Chúng hạ thấp trị giá đồng tiền của VNCH và tổ chức đổi tiền hai lần để cướp tiền của dân. Mỗi lần đổi tiền, chúng chỉ trả lại cho người dân một số ít để chi tiêu trong một thời gian ngắn và chúng cướp sạch số còn lại.

- Chúng tổ chức đánh tư sản mại bản để cướp tài sản, cướp cửa hàng và kho hàng của thương gia.

- Chúng cướp các nhà máy, các xí nghiệp của tư nhân để thành lập các hợp tác xã của chúng.

- Chúng cướp tiền của người dân gửi tại các ngân hàng.

- Chúng thẳng tay cướp đất và nhà của các tôn giáo.

- Chúng dùng luật rừng để cướp đất, cướp nhà của dân.

- Chúng cướp ruộng của nông dân qua thủ đoạn “hợp tác hoá nông nghiệp.”

Bọn Cộng phỉ đã cướp trắng tài sản quốc gia của VNCH và của cải của toàn dân Miền Nam. Toàn dân Miền Nam đã bị bần cùng hoá. Những tên đầu sỏ cộng sản đã chia nhau của ăn cướp và chúng đã trở thành những tên tư bản đỏ có hàng trăm triệu dollars. Những bức hình chụp những đồ vật trang trí trong “dinh thự” tại Hà Nội của tên đầu sỏ cộng sản Lê Khả Phiêu – mới đưọc đưa lên hệ thống internet toàn cầu – đã tố cáo không thể chối cãi tội ăn cướp của chúng. Một bọn cướp vào cướp phá Miền Nam.

o O o

Những đêm dài sau Ngày 30 Tháng Tư 1975..

Nằm như xác chết còn thoi thóp trong căn gác lửng tối om vo ve tiếng muỗi ở Cư Xá Tự Do, nằm phơi rốn trong những phòng tù Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Nhà Tù Chí Hoà, nhớ lại Thơ Kiều, nhiều câu Thơ Kiều làm tôi xúc động. Khi Mã Giám Sinh đưa Thúy Kiều đi Lâm Truy, cảnh chiếc xe ngựa đưa Nàng đi và cảnh trời hôm ấy được Nguyễn Du tả:

Ðùng đùng gió giục, mây vần
Một xe trong cõi hồng trần như bay..

Gợi tôi nhớ lại cảnh những phi cơ trực thăng Mỹ bay từ biển vào Sài Gòn mang đi những người Mỹ cuối cùng còn ở Toà Ðại Sứ Hoa Kỳ, tiếng trực thăng rền rĩ trên trời Sài Gòn suốt đêm hôm ấy – Ðêm 29 Tháng Tư 1975.

Tôi phóng tác hai câu Kiều:

Ðùng đùng gió giục, mây vần
Trực thăng trong cõi hồng trần như bay…

Trăm đắng, ngàn cay.. Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay.. Nỗi buồn khủng khiếp mà những người Quốc Gia VNCH phải chịu sau ngày mất nước không thể nào diễn tả được bằng lời. Ai sống trong nỗi buồn đó người ấy biết. Nhưng thôi, kể lại, than oán, tiếc thương đã đủ nhiều. Ðây là bài cuối cùng tôi viết về Ngày 30 Tháng Tư. Năm tới, nếu còn sống tôi còn viết, nhưng tôi sẽ không viết về Ngày 30 Tháng Tư 1975 nữa.

Hôm nay tôi kể lại với bạn Lời Nói Cuối Cùng của ông Tổng Thống Trần Văn Hương – dù ông chỉ là Tổng Thống có mấy ngày, ông cũng là một trong 4 ông Tổng Thống của tôi:

Lời Tổng Thống Trần Văn Hương:

Tôi xin hứa với anh em … tất cả ở trong trong quân đội là … ngày nào anh em còn chiến đấu, tôi luôn luôn đứng bên cạnh anh em và ngày nào, chẳng may, mà đất nước không còn … thì cái nắm xương khô của tôi sẽ nằm bên cạnh đống xương của tất cả anh em chiến sĩ. Ðó là cái nguyện vọng tha thiết của tôi, suốt cả đời tôi.”

o O o

Bài thơ tôi làm Tháng Tư năm 2010:

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Mất nhau vẩy bút làm mưa gió
Cho đống xương tàn được nở hương…

Một đời ba, bốn phen dâu bể
Mười điều trông thấy chín đau thương
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Nước mất, quân tan, thân chiến bại
Sống nhờ cơm áo ở tha phương
Vèo trông lá rụng đầy đường
Kỳ Hoa Ðất Trích đoạn trường thế thôi.
Huống chi ta đã không còn trẻ
Tự thưở tan hàng ở cố hương.
Tháng Tư..! Ta lặng nhìn sông núi
Sông núi người dưng trắng khói sương.
Quê ta xa mãi bên kia biển
Chỉ thấy tơi bời mây trắng vương.
Ta đau người lính vừa thua trận
Nát gió mưa nằm giữa sa trường
Vẫn nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu Thiên Ðường.
Ðất đá tim ta nhiều ngấn lệ
Em có bao giờ Em khóc thương?

Hồ trường..

Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tha hương
Cúi đầu mà khóc
Nghiêng vai mà gọi
Kỳ Hoa mang mang… ơi người mất nước..
Rừng Phong cùng ta cạn mấy hồ trường.
Hồ trường.. Hồ trường đau thương.
Ta biết thương về đâu?
Ðông phương ngàn dậm thẳm
Mây nước một mầu sương
Tây phương trời đẹp lắm
Có người mất nước như điên, như cuồng…

Hỡi ơi… bạn tác ngoài trôi dạt
Chẳng đọc Thơ Ta cũng đoạn trường!

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái
Ta thắp hương lòng để nhớ thương.
Xa nửa địa cầu thương nhớ mãi
Xương có tàn xin hãy nở hương.

o O o

Hơn ba mươi Ngày 30 Tháng Tư đã đến, đã qua kể từ ngày ta mất nước, ta không thể sống như loài ếch nhái hài lòng nằm trong góc ao đêm mưa ì ộp gọi nhau, ta thương khóc dù ta biết ta có thương khóc bao nhiêu cũng chỉ là vô ích; nhưng sẽ chẳng còn lâu nữa những Tháng Tư sẽ đến với những người Việt không biết gì về Tháng Tư; ngày Quên sẽ tới khi trên cõi đời này không còn người Việt nào đau nhói trái tim khi Tháng Tư trở lại.

Vì năm tháng sẽ qua, vì người sẽ quên, vì đời sẽ lãng, nên khi chúng ta còn sống, năm năm cứ đến Ngày Oan Trái, ta cứ thắp hương lòng để nhớ thương. Ai không nhớ mặc người ta, còn ta, ta cứ một mình rơi nước mắt vào những hồ trường tha hương, thất quốc.. Bạn ơi.. Giờ này, Ngày 25 Tháng Tư, 1975…, quân ta đang chặn đánh quân Bắc Việt Cộng ở mặt trận Long Khánh, Xuân Lộc, anh em ta, đồng bào ta đang chết để cho chúng ta sống…

Ơi những vị bạn già của tôi ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca, trong đau thương, trong tủi cực, trong cô đơn, tuyệt vọng, tôi gửi những lời Thơ này đến các vị:

Gửi thân lữ thứ trăm miền
Nỗi buồn nào cũng mang tên Sài Gòn

Sài Gòn ơi.. Ta đã mất Em trong cuộc đời…
Sài Gòn Xưa Ðẹp Lắm, Sài Gòn ơi..!


hoanghaithuy

Bài Xem Nhiều