We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 2 May 2011

Lực lượng Hoa Kỳ đã hạ sát Osama bin Laden ở Pakistan

Obama announced Osama bin Laden is dead. (Unedited Announcement)


--------

Hoa Kỳ vừa lên tiếng xác nhận rằng Osama bin Laden đã chết, đánh dấu những ngày tháng cuối cùng cho sự truy lùng trên toàn thế giới bắt đầu gần một thập kỷ trước vào ngày 11 tháng 9 chín năm 2001. Osama bin Laden là người đứng đầu cuộc tấn công khủng bố đẫm máu nhất trên đất Mỹ, đã bị giết chết một tuần trước đây bên trong Pakistan bởi một quả bom của phía Hoa Kỳ.

Một viên chức cấp cao của Mỹ cho biết Osama bin Laden đã bị giết bởi lực lượng Hoa Kỳ tại một lâu đài bên ngoài thủ đô Islamabad của Pakistan cùng với các thành viên khác trong gia đình.

Tổng thống Obama vừa tuyên bố sự việc ngạc nhiên này trong một bài nói chuyện vào đêm chủ nhật từ Nhà trắng, và ông nhấn mạnh rằng cuối cùng “công lý đã được thực hiện”.

“Đêm nay, tôi có thể thông báo đến với người dân Mỹ và cho cả thế giới rằng Hoa Kỳ đã tiến hành các hoạt động trong đó đã giết chết Osama bin Laden, thủ lĩnh của Al Qaeda.”

Tổng thống Obama cho biết cái chết của Osama bin Laden bắt nguồn một thông tin mật nhận được cuối tháng Tám vừa qua. Ông cho biết sau nhiều tháng làm việc, tình báo đã được xác định Osama bin Laden đã ẩn mình ở một nơi ”sâu” bên trong Pakistan. Tổng thống Obama cho biết thêm rằng ông đã ra lệnh cho cơ quan tình báo hành động sau khi xác định vị trí cụ thể.

“Bin Laden không phải là một nhà lãnh đạo Hồi giáo. Ông là một kẻ giết hàng loạt người Hồi giáo”, Obama nói. “Vì vậy, cái chết của ông sẽ được chào đón bởi tất cả những người tin vào hòa bình và phẩm giá con người.”

Hoa Kỳ đã chờ đợi kết quả xét nghiệm DNA để xác nhận danh tính trước khi loan đi bản tin quan trọng này. Các nguồn tin cho biết Phó Tổng thống Biden cũng đã thông báo các lãnh đạo Quốc hội vào tối chủ nhật rằng người đàn ông đang bị cả thế giới truy nã đã thực sự bị giết.

Thông báo này được đưa ra gần một thập kỷ sau khi các cuộc tấn công khủng bố vào năm 2001 và đã kích hoạt Hoa Kỳ vào cuộc chiến ở Afghanistan, bắt đầu cuộc săn tìm không mệt mỏi nhân vật chủ mưu này cũng như hàng loạt các lãnh đạo khác trong Al Qaeda.

Trong những năm gần đây, cuộc săn tìm đã dần dần dẫn các tình báo Mỹ qua biên giới Pakistan, nơi mà Al Qaeda được cho là tập trung đông đảo nhất.

Chính quyền trên khắp thế giới đang được kêu gọi để có các biện pháp đề phòng an ninh chặt chẽ sau khi Nhà trắng thông báo thông tin này. Một nguồn tin cho biết các quan chức chính phủ lo ngại rằng cái chết của Osama bin Laden có thể kích động bạo lực hay khủng bố chống lại người Mỹ ở nước ngoài.

Nguyên Ân tổng hợp

Tổng hợp từ Fox News và CNN

30 tháng Tư-lại phải viết về những điều đã cũ...


30.4.1975-30.4.2011. Nếu tôi còn ở VN, ngày này chắc đường phố lại ngập tràn cờ đỏ, băng rôn, khẩu hiệu kỷ niệm 36 năm “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Trên TV lại chiếu những hình ảnh xe tăng húc sập cánh cổng dinh Độc Lập, người người vẫy chào cờ hoa chiến thắng và những bài hát, điệu múa cách mạng lại được đem ra trình diễn. Báo chí lại phỏng vấn ông A ông B về ngày 30.4.1975. Những tờ báo Đảng nhân dịp này lại nhắc nhở người dân đừng quên chiến thắng vĩ đại, công lao thống nhất đất nước và những thành tựu to lớn trong 36 năm qua mà đảng cộng sản đã đem lại cho đất nước, dân tộc, đồng thời khẳng định việc kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa dưới ánh sáng của tư tưởng Mác Lênin vả sự lãnh đạo duy nhất của đảng, chống lại mọi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch v.v…

Nghĩa là vẫn những bài ca cũ. Dù đã là thế hệ lãnh đạo thứ mấy của đảng và nhà nước cộng sản VN, vẫn chẳng có gì thay đổi từ trong tư duy, nhận thức cho đến hành động của họ về cái ngày này, cũng như về quá khứ, hiện tại hay tương lai của đất nước.

Có khác chăng là trong thái độ của người dân. Cho đến ngày hôm nay, sau 36 năm, tôi tin rằng chẳng còn bao nhiêu phần trăm người VN trong nước còn quan tâm đến cái ngày này. Nỗi bận tâm lớn nhất của hầu hết mọi người bây giờ là cơm áo gạo tiền, vật giá leo thang, là bao nhiêu sự bấp bênh, bất trắc trong đời sống hàng ngày.

Tôi còn nhớ năm ngoái khi nhận viết tạp chí điểm blog cho đài RFA, hàng tuần tôi phải đọc các blog trong và ngoài nước để xem để tài nào, vấn đề gì của xã hội VN được các bloggers quan tâm nhất hay nói cách khác, mọi người nghĩ gì, viết về điều gì nhiều nhất trong tuần đó. Và trong tuần lễ cuối cùng của tháng Tư năm ngoái, chủ đề được nhắc đến rất nhiều là sự hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Không chỉ trên các trang blog cá nhân từ những người thuộc thế hệ U90, hơn một nửa đời người đi theo đảng trước khi nhận ra sai lầm như nhạc sĩ Tô Hải, nhà báo Bùi Tín; văn nghệ sĩ, trí thức thuộc thế hệ sinh ra và lớn lên trong chiến tranh ở cả hai phía như nhà báo Ngô Nhân Dụng, nhà phê bình lý luận văn học Nguyễn Hưng Quốc, nhà thơ Trần Trung Đạo… đang sống ở nước ngoài, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn Dạ Ngân, nhà văn Nguyễn Quang Thân…đang sống ở trong nước, vả cả những blogger mới ngoài 30, 20 chỉ biết về cuộc chiến tranh này qua sách vở như Mr. Do, mẹ Nấm, Ngô Minh Trí…Mà từ các diễn đàn độc lập như Talawas, Đàn chim việt, Dân luận, X-café, Đối thoại…, báo chí ở bên ngoài nước như BBC, RFA, RFI, VOA…cho đến ngay cả báo chí của nhà nước như VietnamNet cũng thực hiện cả một loạt bài về chủ đề này.

“Hòa giải hòa hợp”-một khái niệm thật ra đã được đề cập đến từ lâu. Nhưng việc được tập trung nhắc đến như vậy chứng tỏ đó là niềm mong mỏi của rất nhiều người cũng như sự trăn trở vì sao nhiều dân tộc khác đã làm được điều này, như người Mỹ sau cuộc nội chiến Nam Bắc vào năm 1865, như người Đức và các nước Đông Âu khác sau khi chế độ cộng sản bị sụp đổ vào thập niên 80… nhưng VN lại vẫn chưa làm được. Tất nhiên, một vấn đề bao giờ cũng nên được nhìn nhận từ cả hai phía-người thắng, người thua; trong câu chuyện của VN cũng vậy. Nhưng ở đây, rõ ràng trách nhiệm lớn hơn thuộc về nhà nước VN khi họ không chỉ đã có rất nhiều chính sách sai lầm trong cách hành xử với phe thất trận và nhân dân miền Nam cũng như cách điều hành đất nước sau khi giành được chiến thắng, mà bây giờ ngay cả sau hơn ba thập niên họ cũng vẫn chưa có được sự thay đổi thật sự trong tư duy cho đến những việc làm cụ thể để hòa giải, hòa hợp, đoàn kết toàn dân.

Tháng Tư năm nay có vẻ như mọi người chẳng muốn nói nhiều về cái chuyện “hòa giải, hòa hợp” cũ mèm. Sự trăn trở, suy tư nhiều là hiện tình đất nước sau 36 năm, những được, mất, hậu quả của ngày 30 tháng Tư, việc nhìn lại bài học thống nhất đất nước v.v…Và theo thời gian, khi cái nhìn về quá khứ trở nên rõ ràng, khách quan hơn thì nỗi buồn đau đối với những người Việt Nam còn có lòng với đất nước, dù đang sống ở đâu, đang đứng ở vị trí nào, lại càng trở nên nặng nể, ray rứt hơn.

Theo thời gian, cùng với những sử liệu được công bố từ Mỹ và cả từ phía Liên Xô, Trung Quốc, nhiều người VN, trước đây chỉ được nghe thông tin một chiều từ phía đảng và nhà nước cộng sản, mới hiểu ra vai trò của các nước lớn trong cuộc chiến tranh VN, những âm mưu, toan tính của từng nước trên lưng dân tộc Việt, ý nghĩa thật sự của cuộc chiến, của các khái niệm “thắng” và “thua”…

Vì sự thiển cận, thiếu hiểu biết, thiếu vắng một tư duy chính trị sâu rộng, và cả vì sự lệ thuộc nặng nề vào viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc, các thế hệ lãnh đạo đảng cộng sản VN khi đó đã để cho các ông anh Liên Xô, Trung Quốc giật dây. Về phía Liên Xô là ý đồ muốn VN là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á, còn ý đồ của Trung Quốc là “đánh Mỹ bằng người VN”-vừa để làm suy yếu Mỹ vừa nhằm tạo ra một vùng đệm, không có Mỹ ngay sát cạnh Trung Quốc, mở đường cho âm mưu bành trướng lâu dài ở khu vực biển Đông mà bây giờ chúng ta đã thấy. Chính vì những toan tính đó mà Liên Xô và Trung Quốc đã không bỏ rơi miền Bắc VN, ngược lại, đã chi viện đến cùng trong khi Mỹ, vốn là một nước dân chủ, do áp lực của truyền thông quốc tế và của chính nhân dân họ, đã phải rời bỏ VN.

Nếu biết nhìn xa trông rộng, và trước hết là có trách nhiệm, có lương tri với chính dân tộc mình, những người lãnh đạo đảng cộng sản VN đã không chọn con đường thống nhất đất nước bằng mọi giá. Ngay cả khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, Mỹ chấp nhận rút khỏi VN, lẽ ra họ đã có thể dừng lại, và hai miền vẫn tiếp tục con đường phát triển riêng của mình theo như Hiệp định, nhưng họ đã không làm như vậy.

Nhắc lại tất cả những chuyện cũ chỉ để một lần cho những ai còn chưa hiểu rõ về ý nghĩa thật sự của cuộc chiến, khái niệm “thắng”, “thua”.

Có rất nhiều người VN, nhất là nếu hoàn toàn sống ở miền Bắc, hay các thế hệ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh, không chỉ đã hiểu sai rất nhiều về cuộc chiến, mà cả về chế độ VNCH, về những năm tháng của người miền Nam sau tháng Tư năm 1975 dẫn đến việc vì sao có hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Và cái sự hiểu sai ấy còn kéo dài đến tận bây giờ, trong cái nhìn nghi kỵ, thiếu thiện cảm đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Tôi là người miền Nam. Sống chủ yếu tại Sài Gòn. Dù khi chiến tranh kế thúc, tôi chỉ là một đứa trẻ con nhưng gia đình, họ hàng bao đời sống ở miền Nam. Và vì là một người làm văn hóa nghệ thuật, tôi phải tìm hiểu ít nhiều về tình hình văn hóa, văn nghệ của cả hai miền. Chỉ so sánh về kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật cho đến hoạt động báo chí, xuất bản…vào thời điểm 1975, phải nói thật, miền Nam hơn hẳn miền Bắc trong các lĩnh vực này. Việc tìm hiểu điều này đúng hay sai thì cũng không có gì là quá khó, tư liệu, hình ảnh, sách vở, tác phẩm…vẫn còn khá nhiều. Thậm chí 36 năm sau, nhiều mặt của xã hội VN bây giờ như giáo dục hay luật pháp, tình trạng tự do báo chí, tự do ngôn luận, xuất bản cho đến đạo đức xã hội…vẫn tệ hơn.

Về mô hình thể chế chính trị, miền Nam trước đây có mô hình thể chế chính trị giống với Mỹ và phần lớn các nước phát triển khác trên thế giới: dân chủ pháp trị, đa đảng, tam quyền phân lập. Cho đến hiện nay trên toàn thế giới, đây vẫn là mô hình hợp lý nhất, giúp cho một quốc gia phát triển tốt nhất. Bằng chứng là hàng loạt các quốc gia giàu mạnh, tiến bộ đã và đang lựa chọn con đường này. Kể từ năm 1986, đảng và nhà nước cộng sản VN chỉ mới “lặng lẽ” thừa nhận sự sai lầm trong con đường phát triển về kinh tế, họ đã buộc phải “đổi mới hay là chết” và sự đổi mới đó, thực chất là đi theo con đường phát triển kinh tế thị trường, tư bản chủ nghĩa của miền Nam trước đây và của các nước tư bản trên thế giới. Nhưng đó chỉ mới là kinh tế.

Một hạn chế nữa về mặt quan điểm, nhận thức chính trị thường gặp là có nhiều người, dù không bằng lòng với chế độ hiện nay ở VN nhưng chỉ muốn góp ý để đảng và nhà nước sửa sai hầu tốt đẹp hơn chứ không muốn thay đổi thể chế chính trị. Nhưng vấn đề là ở chỗ chính cái mô hình thể chế chính trị đó là sai lầm. Ba cái sai lầm lớn nhất đã được vạch ra từ lâu:

1. Chọn chủ nghĩa Mác Lê Nin làm “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân” là một sai lầm khi chính cái đất nước đẻ ra ông Lênin cũng như bao nhiêu quốc gia khác đã vứt cái chủ nghĩa này vào sọt rác. 2. Để đảng cộng sản điều hành, lãnh đạo đất nước là một sai lầm. Có bao nhiêu quốc gia dưới sự lãnh đạo của một đảng cộng sản đã phải thất bại và tự chuyển đổi? Còn lại bao nhiêu quốc gia vẫn đang nằm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, vả thực trạng của các quốc gia đó ra sao, trừ Trung Quốc là một trường hợp có được sự thành công lớn vể kinh tế nhưng các mặt khác, nếu cần, lại phải có bài phân tích riêng. Các câu hỏi này cũng không có gì khó trả lời. 3. Một mô hình độc đảng lãnh đạo với một nhà nước “tam quyền nhất lập” là sai lầm. Toàn bộ mọi bất công, tồi tệ trong xã hội là từ đây mà ra.

Hiểu như thế rồi thì việc chỉ sửa đổi mà không thay đổi toàn bộ thể chế chính trị là điều ngây thơ. Thực trạng xã hội VN hiện nay không phải chỉ là một vài vấn đề như nạn tham nhũng, khoảng cách giàu nghèo hay lạm phát. Mà là toàn bộ các mặt từ kinh tế, luật pháp, giáo dục, văn hóa, đạo đức xã hội…đều nát như tương. Cũng không còn là vấn đề của một vài hiện tượng, cá nhân. Ví dụ như nạn tham nhũng, không còn là vấn đề của một vài ông A ông B, một vài công ty, tổ chức mà là từ trên xuống dưới, cả xã hội đều đang phải sống chung với nạn tham nhũng và những biến tướng của nó. Từ thói quen hối lộ, nạn “bao bì”, mua quan bán chức, gian lận trong thi cử, bằng cấp, gạ tình lấy điểm…tất cả đểu là những “diện mạo” khác nhau của nạn tham nhũng. Trong một xã hội như vậy một cá nhân muốn sống trong sạch cũng rất khó.

Sự trông chờ, hy vọng vào sự thay đổi của đảng và nhà nước VN là điều ngây thơ khác. Tại sao họ lại phải thay đổi, phải chịu mất mát khi đang ở thế độc quyền lãnh đạo đất nước, có tất cả mọi thứ trong tay, muốn làm gì thì làm, muốn đối xử với nhân dân ra sao cũng được? Vả lại, cứ giả sử rằng có một vị minh quân nào đó cùng với một số cá nhân muốn sửa đổi thì với cả một thể chế, guồng máy như hiện nay, họ cũng đành bất lực. Bởi, như nhiều người hay nói, đã là “lỗi hệ thống” thì phải thay đổi cái hệ thống đó, không còn cách nào khác. Có thay một ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng này bằng một ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng khác cũng vô ích.

Một nhầm lẫn cuối cùng, cũng từ sự hạn chế trong nhận thức, cộng thêm bao nhiêu năm bị đảng và nhà nước tuyên truyền một chiều, nên một số người có cái nhìn nghi kỵ, chia rẽ với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, cứ như sợ mai này đất nước thay đổi họ sẽ về chia phần miếng bánh quyền lực vậy. Một số khác, tuy cũng chỉ trích những đường lối, chính sách của nhà nước nhưng lại tỏ ra “dị ứng” với khái niệm dân chủ và tất tần tật “bọn dân chủ”-tức những người lên tiếng hoặc đấu tranh đòi tự do, dân chủ.

Tự do dân chủ là những giá trị mang tính phổ quát của toàn nhân loại, là khát vọng chung và lớn nhất của mọi con người bất kể màu da, quốc tịch, ngôn ngữ…Chỉ có những quốc gia độc tài mới xem những khái niệm tự do dân chủ như là những chủ đề “nhạy cảm”, mới xem khát vọng đó của người dân như là một đòi hỏi không thể chấp nhận, và bằng mọi cách phải dập tắt. Về phía người dân cũng thế, khi phải sống quá lâu trong một thể chế độc tài, người ta không còn nhận ra là mình đã bị tước đi những quyền lợi gì, và do vậy, cũng đâm ra “nhạy cảm” với những khái niệm này.

Thật ra, nếu cứ sống mãi trong một môi trường chính trị xã hội kiểu như ở VN suốt mấy chục năm qua, con người rất dễ bị “ô nhiễm” về mặt tinh thần và bị ảnh hưởng trong quan điểm, nhận thức về mọi việc mà không tự ý thức được. Cái di hại của một thể chế chính trị độc tài gây ra cho người dân về mặt tinh thần, nhân cách thật nặng nề mà tôi đã từng viết một phần nào trong bài “Những căn bệnh đang hủy hoại xã hội VN” trước đây.

Và đó chính là cái tội lớn nhất của đảng cộng sản VN đối với đất nước, dân tộc sau 66 năm cầm quyền ở miền Bắc và 36 năm độc quyền lãnh đạo trên toàn lãnh thổ VN. Không phải chỉ là sự tụt hậu về kinh tế, lạc hậu về kỹ thuật, công nghiệp…so với các nước khác, mà là sự tàn hại về mặt văn hóa, con người, tinh thần của cả một dân tộc. Thêm vào đó là nguy cơ lệ thuộc nặng nề thậm chí mất nước, do sự hèn nhát của các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN, luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, của một nhóm lợi ích lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc.

Không ai khác, chính nhân dân VN, và là những người đang sống trong nước sẽ phải thực hiện sự thay đổi để cứu lấy vận mệnh đất nước, mà trước hết là cứu mình, con cháu mình, là quyền lợi của chính mình.

Bao giờ thì sẽ có một ngày chúng ta không phải viết mãi về những điều đã cũ mèm này?

@ http://www.rfavietnam.com/node/592

Thư trả lời bạn nhân ngày 30/04

Sydney, ngày 30/04/2011
Bạn thân mến,

Mới đó mà đã 36 năm kể từ cái ngày định mệnh 30/04/1975 và những người được sinh ra vào thời điểm này cũng đã đi hết nửa quãng đường đời. Cũng như mọi năm, tôi có thói quen ngồi lục tìm lại ký ức của cái ngày “đổi đời” đó. Hôm nay trong lúc lang thang đi tìm lại ký ức thì tôi tình cờ đọc được lá “Thư ngỏ gửi bạn ở Hải ngoại nhân ngày 30-4”.

Đọc xong bài viết của bạn, tôi có thể tóm gọn ý của bạn trong những keywords (từ khóa) như sau: 30/04 và ngày “Quốc hận”, “Kẻ thua trận”, Lá cờ Vàng ba sọc đỏ, và “công việc phục quốc” (khôi phục chế độ VNCH).

Đúng là ngày 30/04 có rất nhiều người buồn và vui. Niềm vui của kẻ thắng trận là điều đương nhiên, nhưng những “bà mẹ VN anh hùng” chẳng thể nào có niềm vui được, vì những mất mát quá lớn mà không cần thiết.

Buồn thì không chỉ “kẻ thua trận” buồn, mà ngay cả một bộ phận lớn lao cũng rất buồn. Buồn vì xáo trộn xã hội, cuộc sống, khó khăn kinh tế do chính quyền mới gây ra. Đại đa số dân chúng đều khổ đau dưới sự cai trị của chính quyền mới. Đó là chưa kể đến sự trả thù của chế độ mới đối với quân dân, cán chính VNCH và kể cả nhiều thành phần trí thức, kinh tế, các lực lượng trụ cột của xã hội,... Những sai lầm, mà nói đúng hơn là tội ác do Đảng CSVN gây ra từ sau 1975 (tính từ mốc thời gian 1975 thôi nhé) đã đưa đến một cuộc Exodus vĩ đại trong lịch sử nhân loại: cuộc chạy trốn của hàng triệu người Việt Nam, còn được lịch sử biết đến qua cái tên “Boat People” (“Thuyền Nhân”).

Chế độ mới, ngoài say men chiến thắng, họ thấy có nhu cầu phải “cải tạo” tư tưởng mọi thành phần dưới cái tên mỹ miều “Học tập cải tạo”. Trại Cải Tạo mọc lên khắp nơi để phục vụ nhu cầu này, trong khi nhu cầu thực sự là xây dựng kinh tế, xây dựng lại đổ nát hoang tàn sau chiến tranh lại không được nhà nước CS quan tâm đến.

Tiếp theo sau đó là 2 cuộc chiến biên giới với những người anh em “môi hở răng lạnh”. Là do ai gây nên? Trung Quốc, Khmer Đỏ ư? Thế thì mối giao hảo, chính sách ngoại giao của những “Đỉnh cao trí tuệ” ở đâu mà lại để nhân dân VN phải gánh chịu những hậu quả của những chính sách ngoại giao quái đản đó.



Nói về lá cờ Vàng, thì đó là lá cờ đã có từ lâu, trước lá cờ đỏ sao Vàng, và đã song hành trong lịch sử VN. Các chế độ VN hoặc miền Nam tự do đã sử dụng lá cờ Vàng. Các chế độ sử dụng lá cờ Vàng không phải là những chế độ độc tài trị kiểu cộng sản. Mỗi chính phủ, cá nhân dưới các chế độ đó cũng có những con người hành xử kém cỏi, xấu xa, nhưng biểu tượng của lá cờ Vàng vẫn không thay đổi: biểu tượng của Tự do. Đó chính là tại sao sau 36 năm ở hải ngoại, người Việt Nam tỵ nạn cộng sản vẫn sử dụng lá cờ Vàng làm biểu tượng (tôi xin nhấn mạnh hai chữ “biểu tượng”).

Đã là “biểu tượng” thì chỉ có tính thời gian chứ không bao giờ có tính bất di bất dịch.



Quốc kỳ có thể thay đổi theo thời gian, triều đại, nhưng tổ quốc, đất nước VN là bất di bất dịch. Vì thế, nói rằng “khôi phục chế độ VNCH” hay là áp chế việc sử dụng lá cờ Vàng thì chỉ là điều đặt để, nói cho được của ai đó, chứ không thể là của một tập thể được.

Nhắc đến danh từ này làm chúng ta liên tưởng đến những cuộc nổi dậy khi xưa dưới danh nghĩa “phò Trần diệt Hồ” hoặc “phò Lê diệt Trịnh” ở nước ta hay xa hơn ở bên Tàu thì có “phản Thanh phục Minh”.

Quốc Kỳ & quốc ca là phải do nhân dân quyết định thông qua một cuộc trưng cầu dân ý. Ở miền Nam đã làm điều này. Trong khi đó ở miền Bắc nhà cầm quyền CSVN đã cho áp dụng quốc ca (“Tiến quân ca”) và quốc kỳ (lá cờ đỏ) mà không hề thông qua hình thức trưng cầu dân ý. Hơn nữa, lá cờ đỏ sao vàng chỉ là Đảng Kỳ, chứ không phải là quốc kỳ. Việc áp đặt Đảng Kỳ làm Quốc Kỳ là một việc xem thường người dân.

Cái tự do mà người dân miền Nam hưởng được trong vài chục năm của thời chiến tranh, vẫn hơn xa những gì mà người dân VN có được dưới chế độ CHXHCNVN trong đầu thế kỷ 21 này. Những cuộc biểu tình, hay xáo trộn xã hội nào đó, thật ra là chuyện bình thường trong một xã hội, nhưng lại xảy ra trong thời chiến là điều không hay, gây nhiều khó khăn cho chính quyền, tạo thuận lợi cho đối phương (VC) gây rối thêm. Chính quyền miền Nam không đến nỗi “bất tài” không trị được những thành phần biểu tình hay quấy rối của VC, nhưng có nhiều trường hợp họ bi trói tay bởi nhiều luật lệ quốc tế, rồi dư luận và báo chí trong & ngoài nước. Họ vẫn có thể áp dụng những chính sách tàn bạo của cộng sản, để triệt tiêu mọi mầm mống chống đối, phản biện,... Giả sử nếu họ đã hành xử độc đoán, tàn bạo như cộng sản ở miền Bắc thì chẳng thể nào có được làng báo tự do ở miền Nam, những nhạc sĩ tài ba như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn,... và những người như bà Ngô Bá Thành, Dương Quỳnh Hoa, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Thọ,... đã chẳng có cơ hội “làm cách mạng” trên mảnh đất miền Nam được.

Nói đến cái “phản xạ có điều kiện” của người dân trong nước về lãnh tụ Hồ Chí Minh thì chẳng qua đó là kết quả của chính cái thông tin độc quyền hàng chục năm nay của hệ thống báo chí nhà nước, thần tượng hóa Hồ Chí Minh, ra rả những luận điệu cũ rích, dối trá, lập đi lập lại. Bạn hoặc bất cứ người dân nào trong nước, nếu có thể “vượt tường lửa” đều có thể cập nhật những thông tin “trái chiều” về nhân vật này. Bạn không cần phải đọc, lắng nghe những ý kiến trên các diễn đàn mà bạn chỉ cần tìm hiểu, các thông tin trái chiều, ngoài luồng về Hồ Chí Minh để có thể tự rút ra cho mình một kết luận về nhân vật này.

Thần tượng hóa lãnh tụ hầu như chỉ xảy ra ở các nước cộng sản, đặc biệt là ở các nước cộng sản Á Châu như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn. Ở những quốc gia này, các lãnh tụ được tô vẽ, sùng bái đến mức thần thánh, không ai có thể đụng đến được. Đó cũng là cách mà các chính quyền độc tài cộng sản này, cũng như CSVN sử dụng hình ảnh lãnh tụ được thần tượng hóa để mỵ dân và trị dân và cũng là cái phao để chế độ bám lấy, để chống đỡ cho hình ảnh một đảng cộng sản thối nát, độc tài tham nhũng, ứp hiếp dân lành. Ngày nào cái phao thần tượng này không còn nữa, thì ĐCSVN cũng mất đi một trong những chỗ dựa tinh thần trong việc củng cố quyền lực chuyên chính vô sản. Do đó, việc hạ bệ thần tượng của chế độ CSVN cũng là một trong nhiều phương cách để xóa bỏ độc tài đảng trị. Hạ bệ ở đây không phải là chửi bới vô văn hóa, hay là đốt hình, đốt giấy mà là phải trưng ra được các chứng cứ thật về con người Hồ Chí Minh qua những khảo cứu, điều tra, chẳng hạn như những chứng cứ thu nhặt được và được đúc kết trong cuốn DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh

Bạn thân mến,

Người vui vì ngày 30/04 thì quá ít so với cái tập thể BUỒN, vì sự mất mát quá lớn lao: hơn 3.5 triệu người bỏ mạng chỉ vì “cuộc chiến tranh thần thánh”, “cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”, cuộc chiến tranh “đánh Mỹ cho Liên Xô, cho Trung Quốc”, Hãy nhìn vào trường hợp Nam-Bắc Hàn và Đông-Tây Đức để hiểu được cái giá của “thống nhất” mà dân tộc Việt Nam phải trả và suy cho cùng, với mất mát lớn lao này thì người thua trận là dân tộc Việt Nam, trong khi kẻ thắng trận là Đảng CSVN.

Vinh quang gì với chết chóc, vui sướng gì với mất mát thương đau. Tất cả chỉ còn lại một nỗi đau lớn của dân tộc: Nỗi đau vì người anh em ghét bỏ nhau, gọi người anh em thua trận bằng những ngôn từ tệ hại nhất (“bọn Ngụy”), vẫn phân chia sự khác biệt qua bản Sơ Yếu Lý Lịch và hơn hết là kẻ thắng trận vẫn vui sướng hả hê với những mất mát đó và vẫn chưa hề tỏ ra ân hận vì những lỗi lầm to lớn do chính mình đã gây ra.

Chỉ một vài trang giấy thì không thể nói ra hết được nhiều điều về cái ngày 30/04. Đó là một ngày đau thương trong lịch sử VN, vì đó là cái mốc lịch sử đánh dấu cái ngày mà phần đất tự do còn lại phải chịu chung số phận như miền Bắc, phải chịu sự cai trị hà khắc, vô nhân của cộng sản.

Cám ơn bạn đã chia sẻ những điều khác biệt cũng như cái giống nhau trong suy nghĩ của chúng ta với mong ước một nước Việt Nam sẽ có tự do dân chủ, không còn sự cai trị độc đoán hà khắc của cộng sản.

Xin gởi đến bạn những lời chia sẻ chân tình. Chúc bạn vui khoẻ, đủ sáng suốt và vững niềm tin.

Sydney, ngày 30/04/2011
Lê Minh







Thư ngỏ gửi bạn ở Hải ngoại nhân ngày 30-4


Hà nội, ngày 28 tháng 4 năm 2011
Bạn thân mến,

Bây giờ, khi ngoài trời nắng chói chang cùng với tiếng ve sầu kêu ra rả trên rặng xà cừ trước cửa nhà tôi báo hiệu mùa hè đã đến. Nó làm cho tôi chợt nhớ đến ngày 30/4, ngày mà cách đây 36 năm lực lượng quân đội VNCH đã buộc phải buông súng đầu hàng lực lượng quân đội của những người cộng sản, để cho đất nước ta thống nhất sau hơn 20 năm chia cắt. Ngày đó người ta bảo, nó đã làm cho hàng triệu gia đình vui vì chiến tranh chấm dứt và nó cũng là ngày nhiều triệu gia đình buồn vì họ ở tâm trạng những kẻ thua trận.

Với những người thuộc phe thắng trận, thì niềm vui của họ cũng dần phai nhạt, để nhường chỗ cho nhưng lo toan của cuôc sống thường ngày của mình. Những nghi lễ trọng thể, rầm rộ của chính quyền nhà nước bây giờ hình như cũng dần mai một, như họ cũng đã muốn quên đi vết thương lòng của những người phía bên kia. Nhưng ngược lại, với các bạn, những người thua trận thì hình như không thể quên được nỗi hận thù của mình. Tới mức ngày này được nâng tới mức là ngày quốc hận của những người từng sống hay phục vụ trong chế độ VNCH, điều này họ thường nhắc lại mỗi khi ngày 30/4 gần đến.

Bạn mến,

Người xưa thường nói “Giận quá thì mất khôn”, đó là họ chỉ nói tới sự giận dữ, chứ huống chi là nỗi hận thù. Khi mà nỗi hận này của các bạn, cũng vì bản thân đã bị mất nhà cửa, ruộng vườn, công danh sự nghiệp, nhiều người còn mất cả người vợ yêu quý của mình cho kẻ chiến thắng. Cũng có lẽ vì nỗi hận này, đã làm các bạn tỏ ra đã mất khôn, chính vì thế mà công cuộc vận động cho nền dân chủ của Việt nam hôm nay của cộng đồng người Việt nam ở Hải ngoại vẫn là con số không tròn trĩnh sau 36 năm đằng đẵng tranh đấu. Mặc dù tự do, dân chủ để tiến tới xoá bỏ độc tài… cái đích mà các bạn đang hướng tới là chính nghĩa, là phù hợp với xu thế tất yếu của xã hội loài người văn minh. Vậy mà người ta tưởng như các bạn vẫn như kẻ còn lạc trong rừng không biết lối ra, cho dù đã nhìn thấy chòm sao Bắc đẩu.

Nói chính xác có lẽ là các bạn do hiểu biết về chính trị chưa đủ, nên chưa chọn được một con đường đi đúng cho phong trào của mình. Khi tôi nói thẳng, nói thật những thiếu sót của các bạn ở đây, xin đừng vội chửi bới, miệt thị, vu khống tôi như mọi lần. Nếu coi sự đấu tranh của người Việt ở Hải ngoại với chính quyền hiện tại ở trong nước cũng chỉ là một ván cờ tranh giành quyền lực lãnh đạo đất nước, bằng cách thông qua việc xoá bỏ đảng CSVN, thông qua việc hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, để rồi xoá bỏ Cờ đỏ sao vàng để thay bằng Cờ vàng ba sọc đỏ … thì là hoàn toàn sai lầm ở mức nghiêm trọng. Chủ trương đó nếu không có sự sửa đổi tới tận gốc thì sẽ mãi mãi triền miên trong thất vọng.

Tại sao lại nói như vậy?

Cần hiểu rằng trong thời đại toàn cầu hoá, việc dựa vào sự hỗ trợ về mọi mặt một nước thứ ba như trước đây để làm cách mạng bạo lực giành chính quyền là hoàn toàn không thể. Phương thức duy nhất để thay đổi chế độ hiện tại là sử dụng đấu tranh bất bạo động với sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, đặc biệt là người dân trong nước. Xin đừng quên Cách mạng phải là sự nghiệp của quần chúng, không có sự ủng hộ của quần chúng thì không thể có cách mạng. Và muốn để thu hút đông đảo quần chúng ủng hộ sự nghiệp cách mạng của mình thì các đảng chính trị, các chính trị gia hay các thành phần ủng hộ phải thông qua các phương tiện truyền thông để dân vận, nói đơn giản là phải biết vận động, tuyên truyền, giải thích cho quần chúng nhân dân ở trong nước hiểu bản chất, những vấn đề bất cập về chính trị, quyền và nghĩa vụ của công dân cũng như của chính quyền nhà nước liên quan tới cuộc sống của họ.

Trong mọi vấn đề của đời sống xã hội, kể cả vấn đề chính trị thì sự thiện cảm của người dân hay người tiêu dùng là hết sức quan trọng. Trong một xã hội đa nguyên đa đảng cũng vậy, nhiều cử tri đã dứt khoát không dành sự ủng hộ cho một đảng chính trị qua lá phiếu bầu cử, cho dù đảng chính trị đó có đường lối chính sách tốt, đáp ứng được đa số nguyện vọng của số đông cử tri cũng vì họ có ấn tượng không thiện cảm đối với đảng chính trị đó. Đối với người dân trong nước hiện nay cũng vậy, đa phần là họ không có thiện cảm với các tổ chức chính trị ở Hải ngoại. Một phần họ có quá ít các thông tin về các tổ chức này, trong lúc truyền thông trong nước liên tục vu không và cáo buộc các tổ chức đó là những tổ chức khủng bố, phản động… Quan trọng và nguy hiểm hơn cả là các tổ chức chính trị hải ngoại đã lẫn lộn giữa công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ ở Việt nam với công việc phục quốc (khôi phục chế độ VNCH).

Không những vậy họ quên rằng người dân trong nước sống trong sự kìm kẹp, độc quyền thông tin hàng chục năm nay, đã tạo cho người dân phản xạ có điều kiện, ăn sâu vào máu thịt của họ, làm cho đa số dân chúng luôn yêu quý sùng bái lãnh tụ Hồ Chí Minh và lá cờ tổ quốc của họ. Ngược lại họ lại nặng về hạ bệ thần tượng và biểu tượng quốc gia của người Việt nam hiện nay, hành động đó, chẳng khác gì hành động chửi phủ đầu kẻ họ muốn lôi kéo, đó chính là yếu điểm đã làm người dân trong nước xa lánh và không thiện cảm với phong trào đấu tranh cho tự do và dân chủ.

Bạn thân mến,

Người Việt ở Hải ngoại luôn đề cao danh dự quốc gia (cũ) của họ, mà quên việc tôn trọng danh dự quốc gia của hơn 86 triệu người dân ở trong nước. Phải chăng họ quên câu “Đừng làm những gì với người khác mà mình không thích”?. Những người cộng sản trước đây, họ thành công trong việc thống nhất đất nước cũng vì họ biết dựa vào dân, dùng chiến tranh nhân dân và xây dưng trận tuyến lòng dân. Chính vì vậy cán bộ của họ được người dân che dấu và nuôi dưỡng, để tồn tại và phát triển ngay trong lòng kẻ thù. Như địa đạo Củ chi nằm sát nách Sài gòn đang còn đó là một minh chứng hùng hồn.

Một câu hỏi đơn giản dành cho các chính trị gia và đồng bào ở Hải ngoại là “Liệu có bao nhiêu % dân chúng trong nước dám và sẵn sàng nuôi dấu những người của phe phục quốc về nước hoạt động?”. Chỉ với một câu hỏi đơn giản như thế, mà câu trả lời của nó cũng là câu trả lời vì sao Việt nam chưa thể có cách mạng Hoa nhài, Hoa Sen để thay đổi chế độ.

Người Việt ở Hải ngoại thường tự hào về một nền dân chủ non trẻ của họ, một chính quyền do dân cử thông qua một cuộc bầu cử tự do. Vậy thử hỏi dân Miền Nam ngày đó chọn thế nào? Vì sao chính quyền của họ tự tay chọn ra lại có các nhát tướng như Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ…, khi mà buổi sáng hô tử thủ nhưng buỏi chiều đã vội đáp máy bay bỏ lại tất cả để chạy. Họ nói rằng thua do bị phía Hoa kỳ bỏ rơi, cắt viện trợ mà không tự hỏi mình vì sao Miền Bắc cũng như họ mà không bị đồng minh Liên xô, Trung quốc của họ bỏ rơi? Nói như vậy để mong các bạn Hải ngoại hãy biết chấp nhận sự thật, vì chiến tranh hay trò chơi cũng vậy, đã thua là thua, mình thua là do mình yếu và kém hơn đối thủ của mình. Không chấp nhận sự thật thì không thể rút ra bài học kinh nghiệm cho mình.

Chính vì những lẽ đó, đã làm cho hệ thống truyền thông ở Hải ngoại cũng vậy, thay vì chấp nhận và quên đi quá khứ, quên đi chuyện mình là kẻ thua trận, để tập trung trí lực cho công tác vận động, tập hợp lực lượng. Trên cơ sở một thái độ thân ái, bình đẳng và tôn trọng họ, thông qua đó để mở mang dân trí của dân chúng trong nước để tạo điều kiện cho một sự kiện đồng loạt, đồng lòng của số đông quần chúng trong tương lai. Nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại, hãy thử đảo qua các trang mạng, các forum của bà con Hải ngoại xem các comments thì sẽ thấy thái độ độc đoán, coi thường các bạn đọc có chính kiến không giống của họ. Thử hỏi cứ như vậy thì có thể thâm nhập dân vận được hay không?

Bạn thân mến,

Một thực tế không thể chối bỏ, đó là một bộ phận dân chúng trong nước không nhỏ, đủ loại thành phần, kể cả các cán bộ đảng viên trong đảng CSVN đã bắt đầu chán ghét chế độ hiện tại, do những bất công và đặc biệt là vấn nạn tham nhũng. Nhưng họ không có sự lựa chọn khác cho mình và chắc chắn họ sẽ không chấp nhận để chọn một lực lượng chính trị lấy quốc kỳ VNCH cũ làm biểu tượng quốc kỳ cho đất nước Việt nam này trong tương lai vì đơn giản là họ không có thiện cảm với lá cờ này. Cũng có nghĩa là những người còn theo đuổi chủ trương phục quốc này sẽ không có hậu thuẫn của dân chúng trong nước hiện nay.

Nếu chúng ta hiểu, nguyên tắc quan trọng của chế độ chính trị dân chủ là tôn trọng ý kiến của số đông (đa số), việc quyết định quốc hiệu quốc gia, quốc kỳ hay quốc ca v.v… thì quyền định đoạt sẽ phải là quyết định của dân chúng thông qua một cuộc trưng cầu dân ý thông qua một bản Hiến pháp, chứ nó không thuộc về bất kỳ đảng phái hay tổ chức chính trị nào. Kể cả việc nhỏ như xoá bỏ thần tượng hay phá bỏ lăng Hồ Chí Minh hiện nay cũng là một chuyện không dễ mà làm. Cứ xem tình hình lăng Lênin ở Nga, đã hơn 20 năm cũng chưa thể có câu trả lời, bởi nó là vấn đề lịch sử, không thể tuỳ tiện theo ý của một lực lượng dân chúng chiếm số ít.

36 năm trong một chiều dài lịch sử của một dân tộc thì quá nhỏ bé và ngắn ngủi. Nhưng 36 năm với một đời con người đã là nửa cuộc đời. 36 năm qua cũng đã tạo ra vài ba thế hệ người Việt ở Hải ngoại, một số đã quên tiếng mẹ đẻ, không hiểu lực lượng kế cận của cuộc đấu tranh của người Việt ở Hải ngoại sẽ giải quyết ra sao? Không ai có thể định đoạt được mọi thứ theo ý cá nhân của mình, nhất là chuyện thay đổi một chế độ chính trị thì không hoàn toàn đơn giản như ta nghĩ. Tuy nhiên nếu nhìn lại giai đoạn lịch sử cận đại chính trị Việt nam gần đây trong thế kỷ XX, khi nhìn nhận thắng lợi của đảng CSVN thì mọi người cũng nên suy nghĩ và trả lời các câu hỏi vì sao?

Vì sao chỉ sau 15 năm thành lập, đảng CSVN đã giành được chính quyền?

Vì sao chỉ sau 20 năm, đảng CSVN đã chiến thắng quân đội Việt nam Cộng hoà thống nhất đất nước?

Vì sao họ (đảng CSVN) làm được các kỳ tích phi thường đó mà các tổ chức chính trị của người Việt ở Hải ngoại không làm được một phần nhỏ của họ trong suốt 36 năm qua?

v.v…………

Theo cá nhân tôi nghĩ, cộng đồng người Việt không thiếu người tài trong mọi lĩnh vực, kẻ cả lĩnh vực tổ chức đấu tranh chính trị. Không như một số bạn bè tôi, có nhận xét khi đọc các comments của các members Hải ngoại trên các diễn đàn cho rằng họ là những kẻ ít học. Nhưng họ thiếu một chiến lược đấu tranh đúng đắn có hiệu quả thay cho các việc làm mang tính chất khuếch trương, hình thức đơn lẻ của mỗi tổ chức hòng vừa lòng các ủng hộ viên của họ ở Hải ngoại mà không nghĩ tới lòng dân trong nước muốn gì ở họ.

Bạn mến,

Chắc chắn lá thư ngỏ bầy tỏ những suy nghĩ của tôi này sẽ gây một phản ứng dữ dội đối với cộng đồng người Việt ở Hải ngoại, vì lẽ đời kẻ tầm thường như bạn hay như tôi chỉ thích những lời khen ngọt ngào, chứ trên đời có mấy ai thích lời chê trách, chỉ trích. Nhưng theo tôi, thuốc đắng mới dã tật, sự thật dù có mất lòng nhưng tôi vẫn cứ nói ra. Người ta sẽ bảo tôi là CAM, là cộng sản nằm vùng, khích bác nhằm phá hoại phong trào đấu tranh của các bạn. Nhưng thử hỏi 36 năm qua, phong trào của các bạn đã làm được những gì có thể đe doạ sự bất an của chính quyền cộng sản hay chưa, thì chắc bạn sẽ thông cảm cho tôi.

Ngay từ hôm nay, mỗi thành viên của cộng đồng người Việt ở Hải ngoại, hãy gác lại thù hận của ngày hôm qua hay ý đồ phục quốc khôi phục cờ vàng, để bắt tay vào công cuộc vận động cho dân chủ một cách lành mạnh trong sáng. Đó là cách duy nhất để những người đấu tranh cho sự công bằng, cho lẽ phải như Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung v.v… không bị mang tiếng khi người dân trong nước vơ họ vào chung một rọ với những kẻ có tham vọng khôi phục lại chế độ VNCH.

Trong thời đại ngày nay, thực tế cuộc sống đã chứng minh rằng một chế độ với nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quỳên và một xã hội dân sự là đích hướng đến tất yếu của mọi nhà nước tiến bộ, văn minh thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân trên thế giới. Để đến đích đó có nhiều con đường khác nhau, việc cố gắng khôi phục lại chế độ VNCH để hiện diện lại một lần nữa trên đất nước Việt nam của một số người, là một hành động không cần thiết, dễ gây hiểu lầm, không có lợi, nó đi ngược lại tiêu chí và mục đích của phong trào đấu tranh vận động cho dân chủ nói chung và trong nước nói riêng.

Nhân dịp ngày 30/4, ngày mà có nhiều triệu người vui và cũng có nhiều triệu người buồn, xin viết đôi dòng tâm sự cùng bạn những suy nghĩ của cá nhân tôi, một người Việt nam đang sống trong nước về phong trào đấu tranh vì một nền dân chủ ở Việt nam hiện nay.

Chúc bạn khoẻ và may mắn.
Mến.
Kami

Câu chuyện người đi


Có một thời giặc giã,
Mẹ bồng ta tản cư;
Con cùng nồi niêu treo hai đầu gánh,

Ký ức về Mẹ

Con phố vằng sau cơn mưa chiều dẫn vào khu xóm nhỏ đầy lầy lội, ba người khách khẻ lước nhìn bầu trời với một vài đám mây ăn nhẹ trong cái nắng vàng vọt, họ cố rẻ bước tìm lối trên những mặt nước lầy lội khắp mặt hẻm đang ruồng rả rút xuống đất, trôi về những đường mương, cống rảnh theo con nước đỗ ra sông. Không biết đã qua bao nhiêu con hẻm, ba người khách bổng dừng lại nơi một căn nhà khá xinh xắn có lan-can ăn sát theo một dãy nhà trệt khoảng bốn năm căn cũng có lối kiến trúc tương tự. Căn nhà nổi bậc lên với cửa ra vào và những cửa sổ thoáng nhẹ lớp sơn da trời cùng làn vôi tường trắng mịn bao quanh mặt nhà.

Trong khoảng mười giây đồng hồ đứng trước cửa nhà, một trong ba người khách đẩy nhẹ cánh cửa ngoài bao lơn, đồng lúc dõng dạc lên tiếng.

- Có ai ở nhà không, có khách đến thăm!?

Một thằng bé từ bên trong chạy ra la lớn.

- Ba ơi! có khách.

- Ừ! để ba ra. Con coi chơi với mấy em tránh ồn áo để ba tiếp khách.

Bên trong nhà một người đàn ông có tầm vóc của kẻ phong trần với mái tóc hoa râm vén bức mi-đô đi ra gian nhà khách; Đó là ba của thằng Quang. Từ ngày “giải phóng” vô ba nó thất nghiệp ở nhà chăm sóc, dạy học cho mấy anh chị em của Quang ở những lúc mẹ Quang phải quảy gánh đi bán hàng ở chợ.

Quang rón rén đi vào nhà sau kêu giật thằng em của nó.

- Huy ơi! Đi chơi với anh.

Thằng em nó đáp lễ:

- Ừ! Anh đợi em chút xíu đi!

Huy chạy xuề xòa lại đống đồ chơi chụp vội cây gươm bằng gỗ mà nó tự chế bằng cây thước kẻ đi học, cột vội miếng củi nhỏ với những cọng thun để làm cái phần cán đeo lủng lẳng ngang hông như mấy anh hùng đấu gươm mà nó có lần đã thấy nơi màng ảnh truyền hình nhiều người cởi ngựa reo hò.

Thằng Quang dõng dạc nói.

- Mày bỏ kiếm đi, nếu không tao không cho đi chơi. Anh hai đã có nhiều lần nói với mày cái đó lỡ đánh trúng mấy đứa bạn thế nào về nhà cũng bị mẹ đánh đòn.

Huy là một thằng em hay nghịch phá với chúng bạn, nhưng nó lại biết nghe lời anh chị nó và nhất là với ba mẹ nó. Nó biết mẹ nó không bao giờ đánh nó, chỉ có ba nó thôi! Nhưng mà nó thương cha mẹ nó nhiều, nhất là mẹ nó, không khi nào nó muốn làm cho mẹ nó buồn. Nó biết chiều nay khi tan chợ về, mẹ nó sẽ gánh về nhiều loại bánh trái thơm ngọt như những món qùa thương yêu triều mến luôn dành cho các anh chị em nó.

Huy quăng vội thanh gươm xuống đất rồi chạy lại nắm tay Quang, hai đứa đi dần khuất xa bên nhau ra con phố.

* * *

Buổi chiều về mẹ của Quang với đôi gánh trĩu nặng trên vai, bà khấp khểnh đẩy nhẹ cánh cửa bao lơn. Hôm nay hình như có gì thay đổi trên khuôn mặt hiền hậu của bà. Bà cố vói tay đẩy then cài cửa ngõ như mọi lần và buông tiếng.

- Mấy con của mẹ đâu rồi.

Nhà vẫn không có ai trả lời, bà lần lủi quảy gánh đồ đi vào nhà sau. Bỗng chốc bà đặt gánh xuống và bâng quơ rảo mắt như tìm kiếm một cái gì thân quen. Bà soạn từng đống đồ ra đủ loại bánh trái và những vật liệu như cá, thịt, hành, tỏi… chuẩn bị cho buổi cơm chiều hôm nay. Bà trân trọng đặt các đồ nấu nướng qua một bên. Đặt biệt có một túi bánh ngọt mà từ lúc ra chợ mua được cho đến lúc về bà vẫn không bao giờ quên nó; đó là phần qùa cho các con nhỏ của bà, nhưng giờ này vẫn chưa thấy chúng ở đâu, sao bà bỗng lo qúa! Không như mọi ngày vừa về tới cửa là đã nghe chúng reo hò vang dậy.

Bà lụi khụi ra phía sau nhà bếp mang ra những bó củi, những đống than để nhốm cái lò gạch cho cháy lửa. Từ ngày “giải phóng” vô bà không còn dùng dầu hôi để đốt lò-so nữa vì xăng dầu lên gía qúa khủng khiếp, so với số tiền bà kiếm được hàng ngày chỉ đủ đổi lấy một nữa lít dầu hôi nên phải chuyển sang đốt củi để có tiền lo cho gia đình có các bửa ăn hàng ngày. Nguồn tài chánh gia đình bị phá sản qua những kỳ đổi tiền, phải thắt lưng buộc bụng, phải tính toán theo thu nhập có được để nuôi sống cả nhà…

Được một khoảng lâu thời gian, tiếng củi trong lò đã có vài cây nổ “lóc bóc”, bà đưa tay vói lấy đôi đủa sắt khêu nhẹ lớp củi cho ánh lửa hừng lên rồi trút vội vỉ than vào, đồng lúc bà tìm nồi nấu cơm trong thời gian để bếp lửa hồng tự tỏa ngọn. Từ ngoài cửa có tiếng ba thằng Quang vọng vào.

- Mẹ sắp nhỏ về rồi đấy à! Tôi không biết giờ này mà tụi nó còn đi đâu chơi, tìm hoài mà vẫn không thấy. Lúc nãy còn ngồi nói chuyện với ba người khách đây, quay qua quay lại đến lúc tiễn khách về thì tụi nó đã mất dạng.

Tiếng mẹ đáp.

- Thôi ông coi nồi cơm, để tôi đi kiếm, tụi nó chơi đâu đó với bạn chúng chán rồi thì về chứ có gì.

Ba buồn bực la lớn.

- Bà coi đó, bình thường tôi có nói gì đâu; đàng này trời mưa đường xá lầy lội. Tôi lo là lo cho chúng bị cảm lạnh, lỡ có gì thì tôi với bà tính sao đây?

Tiếng mẹ dịu dàng hơn như cố ngăn đi những gì buồn bực nơi ba Quang.

- Thôi mình, đừng lo nghĩ nữa để đó cho tôi.

Bỗng chốc ngoài cửa ngõ, có tiếng hai thằng la xôn xao…

- Chạy lối này nè Huy, nhanh lên!…

- Ờ, anh coi chừng thằng Ninh kia, nó chạy gần đến rồi đó.

Ba vụt chạy ra khỏi cửa, tóm gọn hai thằng đang la lối với mình mẩy đầy bùn nhơ, tóc tai bù xù thấm đầy nước trên khắp cả người.

- A!… thì ra tụi mày đang chơi rượt bắt. Con cái riết rồi hư hết. Tụi mày phải cho một trận đòn mới được!

Sau câu nói của ba, hai thằng khúm núm, mặt mày tái mét, thều thào đến gần bên mẹ nói không ra tiếng.

- Mẹ ơi! Huy nó không nghe lời con nên đến nỗi này đó mẹ.

Dáng thằng Huy buồn rười rượi, nó cúi đầu xuôi hai tay như không muốn cải lỗi anh nó dù đúng hay sai. Gía ở mọi khi khác không có ba đứng kế bên thì nó đã lao vào lòng mẹ, vừa khóc vừa mếu máo đính chính những gì anh nó nói. Nhưng lúc này nó biết thân phận nó, chỉ một phản kháng thôi, dù là tiếng khóc nhỏ cũng đủ làm cho ba nó nổi giận. Huy cuối đầu để lộ đôi vần trán thon nhỏ như chứa chất suy tư cùng đôi tay buông thỏng xuống theo dáng dấp, khuôn mặt hiền từ, thoảng chốc len lén ngước nhìn ba nó như cố lắng nghe những gì ba nó dạy bảo… Nhưng không, việc này ra ngoài ý muốn nó. Ba không la hay đòi đánh đòn nó nữa mà giọng ba hiền từ đến bên xoa đầu nó, ôm nhẹ nó vào lòng để cố che giấu đi tiếng “thút thít” của Huy vì nó đã muốn lao vào lòng mẹ nó từ lâu, nó muốn khóc lên thật to nhưng vì sợ uy ba nó mà phải cố nín để tỏ khí phách “có chơi có chịu”, câu nói ba nó vẫn thường nói với tụi nó như thế!

Buổi chiều mâm cơm bốc khói, tỏa mùi thơm ngào ngạt cùng mấy tô canh chua và nồi cá đang còn rêu lửa thấm dần trên lò. Anh hai từ ngoài cửa khệ nệ với bao gạo trên vai đi vào, đồng lúc có tiếng Quang la lớn.

- Anh hai mua được gạo rồi mẹ ơi!

Từ từ đặt bao gạo xuống đất, tiếng anh hai trầm thắm.

- Con phải xếp hàng từ sáng tới chiều, phải đợi xe “quân quản” của thành phố chở lại. Mẹ thấy đó, mười ký gạo cho cả nhà, vậy mà có nhiều người nhà hết gạo, xếp hàng gần tới thì lại hết, phải đợi tới hôm sau xếp hàng trở lại.

Mẹ dịu giọng.

- Thôi con rửa tay rồi đi ăn cơm.

Cả nhà quay quần bên mâm cơm, buổi chiều hôm nay anh hai được ba cho biết một tin quan trọng, đó là việc chuẩn bị gói ghém hành trang hôm nay để sáng mai theo ba tìm đường xuống thuyền vượt biên. Ngoại trừ mẹ, ba, anh hai, anh ba và chị tư tất cả năm người được biết tin này, riêng Quang, Huy với bé Út còn nằm nôi thì không cho biết được vì sợ chúng còn nhỏ ra đường nói bậy, hàng xóm hay công an biết được thì bể chuyện ra đi của ba với anh hai.

Anh hai chiều nay có một nét mặt trầm lặng đáng sợ kinh khủng hơn mọi ngày. Hai đứa Quang với Huy không hiểu sao anh hai lại bắt tụi nó đi ngủ sớm, nằm trên giường hai đứa nó cứ chập chờn thả hồn vào những ước mơ viễn du khắp phương trời thật đẹp của tuổi thơ! Mới đây hai đứa còn kể lể hỏi han nhau về chuyện cổ tích, chuyện đánh đu, chọi đáo… giờ đã thiếp mình vào giấc ngũ lúc nào không hay.

Sáng hôm sau khi chợp mình tỉnh giấc, Quang tung mền khều nhẹ chân vào thằng Huy. Hai đứa từ nào đến giờ vẫn cứ khắn khít bên nhau với tuổi hồn nhiên, nào biết ưu tư là gì. Thằng Huy cựa mình la bai bái.

- Sao anh dậy sớm vậy.

Rồi nó cũng chẳng buồn để ý đến mấy cái khèo chân của thằng Quang, nghiêng mình qua bên khác, nhắm mắt đánh giấc tiếp nữa. Quang có vẻ thỏa thích với mấy cú giỡn vừa rồi, rón rén chui ra khỏi mùng. Theo thường lệ, nó chờ tiếng hỏi thăm của mẹ nó; Nhưng không… hôm nay tại sao nó thấy mẹ nó đang ngồi ủ rũ ở một góc nhà, hình như bà khóc thì phải? Nó không hiểu lý do ra sao cả; bổng nhiên nó cảm thấy thương mẹ qúa! Quang đi thật nhẹ lại gần bên và lên tiếng.

- Mẹ khóc phải không, tại sao mẹ khóc?

Vẫn không có tiếng trả lời của mẹ, nó chợt nhìn đôi gánh đang nằm ở góc nhà như mọi ngày, nhưng có một cái gì tự nhiên nó biết hôm nay mẹ không đi bán. Còn nơi phòng khách kế bên, anh ba nó đã thức dậy từ lúc nào, đang ngồi chểnh chệ trên ghế sa-long; nhưng trông anh có vẻ gì buồn rười rượi, hình như anh cũng khóc như mẹ? Cả chị tư nó nữa, tất cả đều khóc!. Quang không còn biết gì nữa, nó chỉ muốn lôi thằng Huy thức dậy. Nhưng mà thôi!… Tự nhiên trong giờ phút này nó biết tốt hơn nên yên lặng. Yên lặng càng nhiều càng tốt như cuộc đời tuổi thơ của nó chưa biết khóc cho những nỗi buồn mất mát chia xa là gì! Bỗng chốc tiếng anh ba nó thều thào.

- Anh hai với ba đi rồi quang ạ!

“Đi”, đi đâu, đi để làm gì, và đi có sao không mà phải khóc?… Trong ý nghĩ của thằng Quang chỉ có thế! Nó ước mơ một ngày qùa cáp thật nhiều như trái cây, bánh kẹo mẹ nó thường đi chợ mang về để hồng lên cuộc đời thơ vui của nó.

* * *

Thời gian qua đi một năm, hai năm, rồi ba năm kéo dài mãi Quang cũng chẳng thấy ba với anh hai về. bổng nhiên nó cảm thấy nhớ qúa vòng tay ôm của ba nó với chuỗi thời gian mỗi ngày một xa dần thơ ấu.

Hôm nay một buổi chiều về muộn, lại một người khách bỗng nhiên xuất hiện trước cửa thềm. Nhìn người khách, nó liên tưởng đến ba người khách năm nào trước đây đã có lần đến nhà và rồi ba và anh nó ra đi để nó chẳng bao giờ còn gặp lại nữa. Tự nhiên Quang cảm thấy ghét mẹ cùng anh chị ghê vì đã nói gạt Quang! Mọi người thường bảo “ba và anh đi rồi sẽ về”, nhưng cho đến hôm nay Quang có thấy gì đâu? Quang thương ba và anh rất nhiều, thương âm thầm theo thời gian mỗi ngày một khôn lớn, cho đến giờ phút này Quang không muốn thấy mặt bất cứ người khách lạ nào xuất hiện trước cửa thềm nhà Quang nữa. Quang muốn thế, Quang không muốn chia xa.

Tình thương đã nuôi Quang lớn dậy và cũng chính tình thương đã ôm Quang trọn cuộc đời. Quang biết rồi đây Quang và các em kế tiếp nó cũng sẽ tiếp nhận những lời nhắn nhủ của người ra đi để lại, gần kề hơn cả bên nó là thằng Huy, hai đứa đã từng vui chơi bên nhau suốt quãng trời thơ ấu, đã từng có những kỷ niệm lớn khôn nhưng trên một dòng đời Quang và Huy không cùng đi bên nhau mãi mãi, cũng như hôm nay trong giờ phút này Quang đã biết thế nào là sự chia xa, thế nào là tình thương xa cách mà ba và anh nó đã nhắn nhủ lại để ra đi. Ôi! cả một quãng đời thương yêu. Nó hy vọng người khách kia sẽ là sứ gỉa mang nguồn vui cho gia đình nó chứ đừng bao giờ mang đến sự chia xa ở những nơi chốn mịt mù mà trong ký ức nó vẫn còn ghi đậm những hình ảnh của người thương quen thuộc.

Sáng hôm sau với túi đồ trên vai, anh ba nó khẻ lay nó dậy, đặt nhẹ trong bàn tay nó tất cả những số tiền mà anh nó đã dành dụm được ở những ngày chạy đôn chạy đáo buôn bán “chợ đen” nơi những khu phố sầm uất người qua lại, bằng cách mua đi bán lại những món hàng như đồng hồ, radio, viết máy, xe đạp… những món đồ tư bản thời thượng luôn làm cho các anh cán bộ mê tít đến híp mắt. Anh nó trầm giọng buông tiếng.

- Quang em, anh rất đau lòng khi phải ra đi, em đừng buồn, chính ngày xưa anh cũng như em vậy. Ba ra đi, anh hai ra đi vì tụi công an nó truy lùng tìm bắt ba, giờ tới phiên anh lớn lên trong xã hội chủ nghĩa mịt mờ không tương lai, phải lên đường làm “thanh niên xung phong”, sống chết vật vờ, trước sau những thanh niên như anh đều bị đẩy vào các cuộc chiến tranh bên Miên, Lào hay Hoa Việt, anh không muốn đi tìm cái chết phi lý trong thế giới cộng sản luôn đầy dẫy những kích động chiến tranh và hận thù, nhưng lúc nào cũng sáo ngữ, điêu ngoa tuyên tuyền là xây dựng thiên đường cộng sản tốt đẹp cho mọi người! Anh buộc lòng phải xa mẹ, xa các em để ra đi tìm tự do. Em chắc hiểu anh hả Quang! Khi nào gặp lại ba và anh hai, anh sẽ viết thư về cho mẹ và em được rõ. Nhớ nhé! Thôi em cầm lấy số tiền anh để dành từ bao lâu để chi xài những việc lặt vặt theo ý em. Tiền này nước ngoài không xài được, vậy anh gởi lại hết cho em.

- Trời! anh đi thật sao?

Quang chỉ nói được có bấy nhiêu và rồi nó cứ nhìn chăm chăm vào mặt anh nó. Bất kể anh nó nói gì thêm cũng mặc, nó chỉ cần hiểu bấy nhiêu thôi đã đủ cảm nhận hết những đau xót chia xa. Trời tháng tư buổi sáng mà sao nó thấy như mặt trời nổ tung từng mảnh vở. Sự thật nghiệt ngã đến thế sao, nó che đi dòng nước mắt như khô kiệt rồi một tình thương đang mất hút… Anh nó hôn nó, hôn Huy, hôn bé Út lần cuối còn trong giấc ngủ nồng.

Sao bỗng trong giờ phút này Quang cảm thấy thương gia đình nó qúa. Nó muốn lay thằng Huy thức dậy. Nhưng thôi, tỉnh để làm gì?! Nó chỉ còn biết đứng chết nơi đầu ngõ, ngó trân anh nó đang dần khuất xa với túi đồ trên vai trĩu nặng.

Cầm số tiền trên tay đã bao lần Quang như lặng chết, nó muốn kéo thời gian ngừng lại, nó không muốn để tình thương vuột khỏi tầm tay. Sao mà nó thương ba và các anh nó qúa! Thương nhất cũng là mẹ, một đời bà luôn chấp nhận hy sinh cho con cái, cả những phần thân xác còm cỏi nhưng đôi gánh không xa lìa trên vai mẹ ở mỗi sáng tinh sương mẹ đã phải lủi thủi gánh hàng ra chợ. Quang tự nhắn lòng, rồi đây với số tiền anh nó cho, Quang sẽ đưa hết cho mẹ. Với cảnh mẹ cút con côi, nó biết những tháng ngày sắp tới mẹ nó sẽ gánh lấy trăm bề cực nhọc chuyện bán bưng, còn phải dìu dắt, nuôi sống, gánh lấy anh chị em nó đi sao cho không vấp ngã qua cuộc đời nhiều đau thương bất hạnh.

(Truyện ngắn đầu tay và cuối cùng ghi dấu lại những tháng ngày bỏ nước ra đi)

© Phạm Thiên Thơ

Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử

Tường An, thông tín viên RFA

2011-04-30

Hành trình vượt biên được nói nhiều, viết nhiều bởi những ngòi bút hải ngoại, nhưng bên cạnh cuộc vượt biên vĩ đại đó, những hình ảnh của cuộc di tản cũng không kém phần đau thương của người dân Việt Nam hầu như bị bỏ quên.

Photo by Tường An/RFA


Nhà văn Tiểu Tử

Nhà văn Tiểu Tử - hiện đang định cư tại Pháp - là một trong số rất ít những nhà văn đã ghi lại những hình ảnh này để nhớ lại một giai đoạn bi thảm trong hành trình tìm tự do. Thông tín viên Tường An trò chuyện với nhà văn Tiểu Tử và giới thiệu một vài đoản văn của ông về cuộc di tản trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Mời quý vị cùng nghe:

Với lối hành văn mộc mạc của người Nam Bộ, những truyện ngắn của nhà văn Tiểu Tử luôn luôn gây xúc động cho người đọc bằng những hình ảnh rất đơn giản trong cuộc sống hàng ngày: một chiếc nón lá, một tô cháo huyết, một cái quần rách, một bản vọng cổ. Những hình ảnh rất đời thường đó, qua giọng văn của ông đã biến thành những âm điệu quê hương khơi dậy nhiều dòng nước mắt.

Cuộc di tản kinh hoàng

black-april-30-250.jpg
Dân chúng quá sợ cộng sản qua sự kiện Tết Mậu Thân đã bỏ chạy khi thấy các đơn vị quân đội rút khỏi Huế. Photo by Trần Khiêm.
Trong tâm tư người Việt hải ngoại, cuộc vượt biên đánh dấu một đoạn đời không thể quên, tuy nhiên nhà văn Tiểu Tử muốn nhắc cho mọi người nhớ lại một một cuộc hành trình khác không kém phần bi thảm đã xảy ra trên chính quê hương của mình trước ngày 30 tháng 4 năm 75. Đó là cuộc di tản từ miền Trung vào miền Nam, từ làng này sang làng khác của người dân để trốn chiến tranh. Ông cho biết lý do ông chọn đề tài này:

"Mỗi một hình ảnh có một cái đau thương riêng của nó. Hình ảnh di tản là cái đầu tiên hết mà mình thấy, thành ra nó gây xúc động mạnh hơn cái hình ảnh của cuộc hành trình tị nạn. Mặc dù rằng hành trình tị nạn có nhiều cái ví dụ như chết ở dưới biển, bị Thái lan nó hãm hiếp rồi nó chặt đầu….này kia…Cái đó là cái mình thấy sau này. Tức là không phải cũng một lúc mà mình có ngần đấy hành trình tị nạn, nghĩa là, nó rời rạc.

Trong lúc đó, thì cuộc di tản nó ồ ạt, nó nhiều, nó đông và cùng một lúc. Thành ra những cái đau thương của cuộc di tản bị cái ồ ạt đó che lấp đi mình không thấy. Nếu mà mình thấy được, viết ra được tất cả những cái đau thương khổ cực trong lúc di tản. Mình sẽ thấy có nhiều hơn nhiều lắm. Bởi vì, nó đông, cái số người đi di tản cũng một lúc, đông lắm."

Nếu mà mình thấy được, viết ra được tất cả những cái đau thương khổ cực trong lúc di tản. Mình sẽ thấy có nhiều hơn nhiều lắm.

Nhà văn Tiểu Tử

Xin mời quý thính giả cùng nghe 1 đoạn tả lại một hình ảnh trong cuộc di tản:

Giữa cầu thang, một bà già, bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chỉ tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng hình ảnh đó đã đeo theo nhà văn Tiểu Tử từ bao nhiêu năm, ông thắc mắc:

"Bà già đó sợ gì mà phải đi di tản? Con cháu bà đâu mà để bà đi một mình? Rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao? Còn cậu thanh niên đã làm một cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu?... Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn tạp như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…"

Những bàn tay nhân ái

di-tan-75-250.jpg
Quá sợ cảnh tàn sát của cộng sản trong trận Tết Mậu Thân, người dân bỏ nhà cửa, ruộng đất gồng gánh theo đoàn quân di tản. Photo by Trần Khiêm.
Đàn bà, trẻ con luôn luôn là những mảnh đời lau sậy, yếu đuối trong cơn lốc của chiến tranh, truyện của Tiểu Tử hầu như luôn có những bàn tay nhân ái đưa ra gánh vác những mảnh đời lau sậy này:

Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ. Người mẹ - chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy - người mẹ tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem.

Nhà văn Tiểu Tử

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu, rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội. Họ bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con. Một anh lính Mỹ chợt đi qua, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xốc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Hình ảnh người Mẹ lúp xúp chạy theo đứa con sắp chết của mình trong tay một người xa lạ, Hình ảnh ấy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng khi viết lại câu chuyện này, nhà văn Tiểu Tử vẫn:

"Cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm!"

Quê hương xa rồi

black-april25-250.jpg
Mọi người đổ xô ra biển để theo tàu vào Đà Nẵng. Photo by Trần Khiêm.
Cái nón lá, hình ảnh mộc mạc, thân quen đến độ người ta không còn nhớ đến nó, không để ý đến nó. Nhưng trong giờ phút chia lìa, nó bỗng trở thành một cái gì gắn bó, một cái gì thân thuộc mà nếu rời xa, người ta tưởng chừng như xa cả quê hương:

Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh!

Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi. Yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà:

"Đó là cái nón lá! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ? Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương…"

Những cuộc chia tay xé lòng

di-tan-75-1-250.jpg
Dân chúng quá sợ cộng sản qua sự kiện Tết Mậu Thân đã bỏ chạy khi thấy các đơn vị quân đội rút khỏi Huế. Photo by Trần Khiêm.
Ngòi bút của ông trải dài qua nhiều đoạn đời bi thảm của cuộc di tản, nhưng hình ảnh thương tâm nhất đã ở lại mãi trong tâm hồn ông là cảnh chia tay xé lòng của hai cha con trên một bến tàu, cuộc chia tay không có tiếng còi tàu hú dài, cũng không có cả một lời từ biệt mà cả cha lẫn con đều biết là sẽ không có ngày gặp lại, nhà văn Tiểu Tử chia sẻ:

"Cái hình ảnh làm tôi xúc động nhất có lẽ là cái hình ảnh mà thằng nhỏ mà Cha nó dẫn đi ra bến tàu. Cầu tàu kéo lên rồi Cha nó lạy lục những người trên tàu. Những người trên tàu thòng xuống cái sợi dây. Người Cha nắm được cái sợi dây cột ngang eo ếch của thằng con, rồi ra dấu cho ở trên kéo thằng con lên.

Thằng con không khóc, không giãy dụa. Nó nghiêng người nhìn xuống cái người đứng ở dưới, lúc đó tôi mới đoán ra cái người đứng ở dưới là Cha của nó. Người đứng ở dưới ra dấu "đi đi, đi đi". Rồi tự nhiên tôi thấy ông già đó úp mặt vô hai tay khóc nức nở, tôi thấy tôi cũng ứa nước mắt.

Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Nhà văn Tiểu Tử

Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn teng dọc theo hông tàu, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói: "Đi, đi! Đi, đi!". Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Không biết thằng nhỏ đó –bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi -- ở đâu? Cha con nó có gặp lại nhau không? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy."

Bên cạnh nghề chính là một kỷ sư hóa học. Nhà văn Tiểu Tử, với trên dưới 30 truyện ngắn ở hải ngoại đã cùng với Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Ngọc Tư đưa văn học miền Nam đến với người đọc bằng ngôn ngữ bình dị mà thắm thiết, lắt léo mà bao dung, đơn sơ nhưng chan hòa tình cảm

Hàng triệu người tham dự Lễ Phong Chân Phước Đức Gioan-Phanlô II

(Tin tổng hợp)

Sáu năm sau ngày từ trần, Đức Gioan-Phaolô II được long trọng tôn phong chân phước, trước một rừng tín hữu tề tựu tại quảng trường thánh Phêrô. Lúc 10 giờ 21 chủ nhật 1 tháng 5 mở đầu tháng Đức Mẹ, ĐHY Agostino Vallini, tổng đại diện giáo phận Roma thỉnh cầu Đức Bênêdictô XVI tiến hành nghi thức phong chân phước. Ngài đã nhắc lại công đức của Đức Gioan-Phaolô II một lòng cậy trông vào Đức Trinh nữ Maria. ‘‘Lúc nào Đức Gioan-Phaolô II cũng tuyên xưng quyền tối thượng của Chúa Kitô như nền tảng chủ nghĩa nhân bản và nguồn gốc các quyền bất khả chuyển nhượng của con người’’.

Sau đó, Đức Bênêdictô đã tuyên đọc sắc phong chân phước bằng tiếng la tinh: ‘‘Ngày hằng mong đợi đã mau đến, vì làm đẹp lòng Chúa. Đức Gioan-Phaolô II được tôn phong chân phước’’. Cả triệu tín hữu đồng thanh hô vang: Amen.


Sau đó, tấm màn phủ chân dung Đức Gioan-Phaolô II trên tiền đình đền thánh Phêrô được kéo lên, trước tiếng hoan hô ‘‘Giovanni Paolo’’ vang dậy tưởng chừng không dứt. Thay vì trời mưa như dự báo thời tiết, bầu trời nắng ráo. Thánh tích của vị chân phước là một ống máu. Nữ tu Marie Simon Pierre (được khỏi bệnh Parkinson nhờ phép lạ của vị chân phước) và nữ tu Tobiana người Ba Lan cung nghinh và đặt thánh tích này trên bàn thờ.


Sáng nay, quảng trường thánh Phêrô treo 27 cờ hiệu, đánh dấu 27 năm triều đại giáo hoàng của Đức Gioan-Phaolô II. Trong bài giảng, Đức Bênêdictô XVI đã ca ngợi ‘‘vị tân chân phước: ‘‘đem lại cho Thiên Chúa giáo một định hướng mới hướng về tương lai, đồng thời đem lại cho lịch sử niềm hy vọng trong tinh thần ‘‘mùa vọng’’, trong cuộc sống riêng của mỗi người và chung cho cộng đoàn; tất cả cùng hướng về Chúa Kitô.’’

Nhắc lại ân sủng Chúa Thánh thần đã mang lại cho công đồng Vatican II, Đức Bênêdictô XVI cho rằng ‘‘các thế hệ mai sau sẽ còn rút tỉa từ công đồng Vaticanô II nhiều công trình vô giá.’


Ngài nhấn mạnh ‘‘với chứng từ đức tin, bác ái và lòng quả cảm tông đồ, vị tân chân phước là người con trung mẫu mực của đất nước Ba Lan, khiến mọi tín hữu trên khắp thế không còn phải ngại ngùng mỗi khi tuyên xưng đức tin, không còn phải khiếp sợ sự thật, vì sự thật bảo đảm cho tự do.’’

Hàng trăm hồng y, 800 linh mục, 710 ca nhạc sĩ trong ca đoàn Nhà nguyện Sixtine đã dự thánh lễ. 23 nguyên thủ quốc gia và 87 phái bộ chính thức hiện diện, trong số có tổng thống Ý Giorgio Nalplitano, tổng thống Ba Lan Breonislaw Komorowski, thủ tướng Pháp François Fillon.

12 giờ 46 cùng ngày, Đức Bênêdictô XVI cầu nguyện trước linh cữu vị tân chân phước, phủ tấm vải viền vàng, đặt trước bàn thờ chính trong đền thánh Phêrô. Sau đó các tín hữu lần lượt nghiêng mình trước linh cữu tân chân phước.


Paris, ngày 1 tháng 5 năm 2011

TS.Lê Đình Thông
Di chuyển quan tài Đức Gioan Phaolô II
VATICAN - Sáng 29-4-2011, quan tài Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã được di chuyển và đặt trước mộ Thánh Phêrô dưới hầm Đền thờ, để chuẩn bị đưa lên tầng trên cho các tín hữu kính viếng sau lễ phong chân phước chúa nhật 1-5-2011.

Cách đây hơn 6 năm, khi an táng, thi hài Đức Cố Giáo Hoàng được đặt trong 3 quan tài: quan tài thứ I bằng gỗ, cũng là quan tài được đặt trên thềm Đền thờ trong thánh lễ an táng. Sau đó, quan tài này được đặt trong một quan tài thứ hai bằng chì và niêm phong. Hai quan tài đó lại được đặt trong một quan tài thứ ba bằng gỗ và đây là quan tài được đưa ra khỏi mộ sáng 29-4-2011. Quan tài này vẫn ở trong tình trạng tốt, tuy cũng có một vài dấu hiệu của thời gian.


Việc mở mộ đã được thực hiện vào sáng sớm thứ sáu hôm 29-4, và quan tài được đặt trên một xe cạnh mộ cho đến 9 giờ, thì có một buổi cầu nguyện ngắn với kinh cầu do ĐHY Angelo Comastri, Giám quản Đền thờ Thánh Phêrô chủ sự, trước sự hiện diện của ĐHY Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, ĐHY Dziwisz, TGM Cracovia, cựu bí thư của ĐTC, và một số HY, GM khác, các vệ binh Thụy Sĩ, Hiến binh Vatican, tổng cộng khoảng vài chục người.

Sau đó, quan tài được đưa tới trước mộ thánh Phêrô cũng ở tầng hầm đền thờ và được phủ bằng một tấm thảm thêu vàng. ĐHY Quốc vụ khanh đã đọc kinh nguyện kết thúc và cộng đoàn giải tán lúc 9 giờ 15 phút.

Thông cáo của Phòng báo chí Tòa Thánh cho biết tấm bia mộ ĐTC Gioan Phaolô 2 bằng cẩm thạch trắng được bảo toàn nguyên vẹn và sẽ được chở về thành phố Cracovia để được đặt trong Nhà thờ mới dâng kính Đức tân Chân Phước.

Hiện nay, quan tài Đức Gioan Phaolô 2 vẫn được để ở tầng hầm Đền thờ thánh Phêrô cho đến sáng chúa nhật 1-5, rồi sẽ được đưa lên tầng trên của Đền thờ và đặt trước Bàn thờ chính để ĐTC Biển Đức 16 và các tín hữu tôn kính sau lễ phong chân phước.


Trong khi chờ đợi, tầng hầm Đền thờ bị đóng lại và công chúng không thể viếng thăm như mọi khi.

Việc đặt quan tài Đức Chân Phước Giáo Hoàng dưới bàn thờ nhà nguyện Thánh Sebastiano trong Đền thờ thánh Phêrô, có lẽ sẽ được tiến hành vào chiều tối thứ hai, 2-5, sau khi giờ đóng cửa Thánh đường (SD 29-4-2011)


TS.Lê Đình Thông 5/1/2011

------------
Bình luận:

Ý NGHĨA LỄ PHONG CHÂN PHƯỚC CHO ÐỨC CỐ GIÁO HOÀNG GIOAN PHAO LÔ ÐỆ NHỊ.



Thiện Ý



Hôm nay, Chủ nhật 1-5-2011, lễ phong Chân Phước cho Đức Cố Giáo Hoàng Gioan-Phao Lô Đệ II đã được long trong cử hành tại Công trường Thánh Phê Rô ở Roma, Thủ phủ Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, dưới sự chủ tế của đương kim Giáo Hoàng Benedicto 16, với sự tham dự đông đảo của hàng trăm ngàn giáo dân đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Hình ảnh diễn tiến buồi lể phong Chân Phước này đã được các cơ quan truyền thông quốc tế loan truyền khắp thế giới, đã tạo niềm tin yêu và tự hào trong lòng các tín đồ Công giáo trên toàn thế giới.

Theo Giáo luật và truyền thống Công Giáo, việc phong Chân Phước là khởi đầu của một hồ sơ Phong Thánh trong tương lai sau khi hội đủ một số phép lạ làm chứng tá cho những ai đã sống trong niêm tin yêu, tôn thờ và thực hành trọn vẹn những giới răn của Thiên Chúa và lề luật của Giáo Hội nơi trần thế của Ngài.Và như thế việc Phong Thánh của Giáo Hội Công Giáo không phải là sự ban cho, mà chỉ là sự ghi nhận công phúc của một tín đồ cần và đủ nên Thánh để công bố, vinh danh, làm gương sáng trước mặt loài người và làm sáng danh Thiên Chúa. Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phao Lô II sở dĩ được lập hồ sơ Phong Thánh, với khởi đầu bằng nghi thức Phong Chân Phước, là vì Ngài đã sống đời tận hiến phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân, làm nên công phúc có dấu chỉ hội đủ các điều kiện cần và đủ để nên Thánh.

Thật vậy, nhớ lại 6 năm trước đây, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Ðệ Nhị đã qua đời lúc 9 giờ 37 phút giờ Italia, tức 19 Giờ 37 phút giờ quốc tế, trong căn phòng riêng của Giáo Hoàng tại Roma, thọ 84 tuổi(1920 – 2005)

Mặc dầu qua đời ở tuổi thọ 84, và qua đời sau một thời gian lâm trọng bệnh, nghĩa là một cái chết đến từ từ theo qui luật tự nhiên, song vẫn đã gây sự bàng hoàng sửng sốt cho nhiều người với những dòng lệ tiếc thương vô hạn. Hàng ngàn người đã tụ tập trong nhiều ngày tại quảng trường Saint Peter để tỏ lòng thương tiếc Giáo Hoàng, trong khi chuông nhà thờ khắp thành phố kéo dồn dập. Chính phủ Italia công bố sẽ để tang Giáo Hoàng 3 ngày. Tại quê hương Ba Lan của Giáo Hoàng, người dân đã quỳ gối và khóc thương khi nghe tin Giáo Hoàng qua đời. Các nhà lãnh đạo quốc gia và tôn giáo trên thế giới cũng đã thể hiện lòng thương tiếc Giáo Hoàng. Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush nói: Thế giới đã mất một nhà vô địch của tự do. Tổng Thư Kỳ Liên Hiệp Quốc Kofi Annan vào thời gian này đã nói:Ông đau buồn sâu sắc trước tin Giáo Hoàng qua đời. Ông mô tả Ngài là một sứ gỉa hoà bình kiên trì, không mệt mỏi. Nhiều tờ báo tại Italia và ở nhiều nơi trên thế giới đã đăng những lời vĩnh biệt Giáo Hoàng ngay từ khi Ngài đang hấp hối trên giường bệnh.

Ðến đây một câu hỏi được đặt ra: Vì sao cái chết của vị lãnh đạo tối cáo của hơn một tỷ người Công Giáo khắp thế giới, đã được ngưỡng mộ và tiếc thương của mọi người, mọi giới như thế? Người ta có thể tìm thấy câu trả lời qua những công việc cả thể mà vị Giáo Hoàng đã làm cho Giáo Hội, cho xã hội loài người và cho cộng đồng nhân loại, trong suốt 27 năm trên ngôi Giáo Hoàng(1978 – 2005).

Thật vậy, lên ngôi Giáo Hoàng năm 1978, Ðức Gioan Phaolô Ðệ Nhị đã là vị Giáo Hoàng du hành nhiều nhất. Ngài đã đến mọi châu lục, từ Âu Châu, Phi Châu, Mỹ châu đến Châu Á, để thăm viếng tín đồ, gặp gỡ hàng giáo phẩm địa phương và tiếp xúc với các nhà lãnh đạo trên một trăm quốc gia. Bằng những chuyến công du của Ngài, Giáo hội Công Giáo đã mang một khuôn mặt mới, một Giáo Hội Công Giáo thực sự vào đời, với vị chủ chăn tìm đến con chiên và cộng đồng nhân loại.

Giáo Hoàng đã rộng mở tấm lòng tìm đến các tôn giáo khác. Ngài đã đi thăm Ðất Thánh Jerusalem, cầu nguyện tại bức tường Phía Tây, đã viếng đền thờ Hồi Giáo ở Syria. Ngài cũng đã mời các lãnh đạo tôn giáo toàn cầu khác đến ASSiSi ở Ý quốc để cùng cầu nguyện cho hoà bình thế giới. Ngài đã đến thăm trại tập trung Auschwitz, lên tiếng xin lỗi người Do Thái về việc Giáo Hoàng tiền nhiệm đã không lên tiếng ngăn cản những vụ Ðức Quốc Xã tàn sát người trong các lò sát sinh; Ngài cũng đã có những nỗ lực góp phần thăng tiến nhân quyền, tự do dân chủ ở mọi nơi mà các nhân quyền và dân quyền cơ bản bị bác đọat.

Mọi người cũng đồng ý là Ngài đã góp phần không nhỏ đưa đến sự tiêu vong chủ nghĩa cộng sản nơi quê hương Balan của Ngài, ở Ðông Âu và cả Liên Xô nữa. Nhưng đồng thời Ngài cũng lên án chế độ tư bản, có tự do, nhưng lại quá đam mê và ích kỷ trong việc kiếm tìm lợi nhuận và thụ hưởng vật chất. Ðặc biệt với giới trẻ, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Ðệ Nhị đã ưu ái và quan tâm đặc biệt cho đến những giây phút chót cuộc đời. Vào đêm Mùng 1 tháng 4 năm 2005, khi Ðức Giáo Hoàng được thông báo là nhiều thanh niên đang tụ họp ở quảng trường Thánh Peter để cầu nguyện, Ngài đã nói ra được một thông điệp gửi đến họ, và có thể đó là những lời nói cuối cùng. Ngài nói “Ta đã luôn cố gắng để gần các con...”.

Việc Ðức Giáo Hoàng được giới thanh niên kính phục và ngưỡng mộ đã trở thành huyền thoại; Ngài luôn cố gắng chuyển đến họ những thông điệp đặc biệt và từng gặp gỡ trong các đại hội giới trẻ nhiều nước trước đây, cũng như dự định sẽ tham dự một lễ hội Thiên Chúa Giáo dành cho thanh niên tại Ðức Quốc vào mùa Hè năm 2005. Tiếc thay Ngài đã ra đi, không còn cơ hội thực hiện ước mơ này.

Về luân lý và đạo đức, Ðức Gioan Phaolô Ðệ Nhị đã khẳng định sự sống con người thuộc về Thiên Chúa, phải được tôn trọng và bảo vệ: Giáo hội lên án việc phá thai, ngừa thai nhân tạo, trợ tử và án tử hình. Về xã hội Ngài phản bác việc hôn nhân đồng tính trái tự nhiên, không cho phép nữ giới làm linh mục và duy trì luật độc thân của các linh mục.



Tựu chung, đối với Giáo Hội Công Giáo, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô Ðệ Nhị được coi là vị Giáo Hoàng cách mạng với nhiều cải tổ Giáo Hội, song luôn trung thành với truyền thống đức tin Công giáo, kiên quyết bảo vệ những tín điều bất khả ngộ. Ngài là vị Giáo Hoàng đã rời Giáo Triều Roma, đi đến nhiều nước, tiếp xúc với mọi giới, đã có những nỗ lực tìm sự cảm thông và hiệp nhất các giáo hội có cùng niềm tin về một Cha Chung Trên Trời, chân thành nhìn nhận một số những sai lầm của Giáo Hội trong quá khứ, đem thông điệp tình thương, bác ái và lòng quảng đại củaThiên Chúa đến cho mọi người, mọi dân tộc. Tiếc rằng Ngài đã không còn cơ hội đến thăm viếng quê hương và Giáo Hội Việt Nam như ước nguyện.



Ðối với thế giới và nhân loại nói chung, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô Ðệ Nhị đã được coi là người có công góp phần vào tiến trình sụp đổ của chế độ cộng sản tại Ba Lan, đưa đến sự sụp đổ toàn bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu. Ðó là lý do cả thế giới, đạo cũng như đời, đều ngưỡng mộ và tiếc thương trước cái chết 6 năm trước đây của vị Giáo Chủ Công Giáo, Ðức Gioan Phao Lô Ðệ Nhị.

Đối với Thiên Chúa, phải chăng chính cuộc đời 84 năm sống đời tận hiến phục vụ Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân nơi trần thế mà hôm nay, sau 6 năm trở về nhà Cha Chung trên Trời, Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã được Giáo Hội ghi nhân công phúc cần và đủ để chuẩn bị công bố sự nên Thánh của Ngài trong tương lai ?



Thiện Ý

Ngày 1 tháng 5 năm 2011

Bài Xem Nhiều