We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 5 May 2011

MỘT TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO CHẤP NHẬN BỊ VIỆT CỘNG GIAM TÙ, QUYẾT KHÔNG TỪ BỎ ĐỨC TIN


K
ính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu và quý niên trưởng,

http://i1228.photobucket.com/albums/ee452/letraidotnet99/vn/nguyenvanlia200.jpg

Ông Nguyễn Văn Lía, một Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống tại An Giang đã bị công an cộng phỉ tỉnh An Giang bắt giam trái pháp luật vào ngày 24/4/2011. Theo Tín đồ PGHH cho biết, ông Lía đã bị cơ quan công quyền của Nhà nước cộng phỉ Việt Nam khởi tố theo điều 258 của Bộ Luật hình sự nước CH XHCN Việt Nam. Với tội danh này, mà chính quyền cộng phỉ Việt nam đã quy kết cho ông Lía, thì ông có thể bị kết án tù từ 6 tháng đến 7 năm kèm theo quản chế tại địa phương sau khi rời nhà tù.

http://a9.vietbao.vn/images/vi902/2005/1/20362552-images438783_HoaHao.jpg

Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu và quý niên trưởng,

Năm 2003, ông Nguyễn Văn Lía cũng đã từng bị bắt giam, từng tù đày 30 tháng vì các hoạt động tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng của Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) ở miền Tây. Ông còn là nạn nhân của các hành động dã man của công an cộng phỉ Việt nam, cháu con và thuộc hạ của Hồ Dâm Tặc. Ông Lía đã từng bị thuộc hạ của tên Hồ Dâm Tặc tra tấn, nhục hình, bị đánh đập nhiều lần, bị dí roi điện trong lúc đang điều khiển xe gắn máy làm ông bị thương nặng, gãy xương sườn, gãy xương bã vai, chấn thương đầu, hoàn toàn mất thính lực một bên tai... phải điều trị dài hạn đến nay di chứng vẫn còn như là một tội ác của cộng phỉ Việt nam đối với lương dân Việt nam không bao giờ phai nhạt.

http://danlambao1.files.wordpress.com/2011/03/npnga-lmly.jpg?w=640&h=180

Cũng xin nhắc lại, vào ngày 24/4/2011 ông Nguyễn Văn Lía cùng với vợ đi dự đám giỗ gia đình một đồng đạo. Khi bị CSGT Việt cộng chặn xe lại, ông đã xuất trình đầy đủ giấy tờ hợp lệ. Tuy nhiên, CSGT Việt cộng đã tự tiện bẻ ngược kiếng xe của ông và nói rằng ông vi phạm luật giao thông, rồi áp giải ông về cơ quan công an xã Hội An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang để thẩm vấn, điều tra và tra tấn nhục hình trước khi chuyển ông Lía về giam giữ ở trại giam thuộc công an tỉnh. Từ đó đến nay gia đình, vợ con thân nhân và đồng đạo không ai được biết tin tức gì về ông Lía. Trong quá trình thẩm vấn tại công an xã Hội An, mặc dù ông bị cao huyết áp nhưng công an đã không cho ông dùng thuốc mang theo và lại tra tấn nhục hình ông Lía. Cũng trong ngày đó, ông Trương Kim Long, một Tín đồ PGHH Truyền thống cũng bị trói tay và bị đánh đập dã man khi ông Long đến thăm ông Lía tại công an xã Hội An.



Là một Tín đồ PGHH Truyền thống, tuổi ngoài thất thập, sức khỏe kém, ông Nguyễn Văn Lía đã không ngừng tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng trong suốt 36 năm qua kể từ khi cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Ông Lía đã từng được Ủy ban Tự do Tôn giáo của Quốc hội Hoa Kỳ mời gặp mặt để trao đổi vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Đối với Đạo PGHH, cộng sản Việt Nam vô thần vô thánh là hậu duệ của loài linh trưởng, luôn tìm cách ngăn chặn sự phát triển của PGHH tại miền Tây Việt Nam. Cộng phỉ Việt nam đã lập ra Giáo hội PGHH quốc doanh để khống chế, đàn áp các Tín đồ không chịu khuất phục trước Ban trị sự PGHH quốc doanh và chính quyền địa phương. Ông Lía đã từng nói với đồng đạo của mình: "Nếu thân này có chết đi vì đạo pháp và sự tồn vong của PGHH thì cũng chẳng xứng đáng với sự dấn thân của Đức Thầy". Ngài Huỳnh Phú Sổ, được Tín đồ xem là vị Phật sống sáng lập ra PGHH vào năm 1939 tại làng Hòa Hảo - An Giang, khi đó Ngài 20 tuổi. Ngài đã có hàng triệu Tín đồ chỉ trong vài năm khai Sáng Đạo. Năm 1947, Đức Thầy đã bị Hồ Dâm Tặc và bè lủ cộng sản Việt Nam ám hại tại Đốc Vàng Hạ - nay thuộc tỉnh Đồng Tháp. Kẻ thủ ác liên quan trực tiếp đến việc ám hại Đức Thầy là tên cộng nô Trần Văn Giàu, chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ của cộng phỉ Việt Nam.

Nhà nước cộng sản Việt Nam thường rêu rao rằng, ở Việt Nam mọi người được quyền tự do tín ngưỡng Tôn giáo, nhưng thứ Tôn giáo được tự do hành đạo là thứ Tôn giáo quốc doanh, trong đó các lãnh đạo tôn giáo là những đảng viên cộng sản đội lốt nhà tu. Trong thời gian qua, Quốc hội Hoa Kỳ đã yêu cầu Chính phủ Hoa Kỳ nên đưa Việt Nam trở vào danh sách các nước cần được quan tâm về tự do Tôn giáo (CPC). Có lẽ Nhà nước cộng phỉ Việt Nam quá ngạo mạn khi tin rằng Hoa Kỳ sẽ không dám đưa Việt Nam vào CPC, nên Nhà nước cộng phỉ Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp các Tín đồ tôn giáo ngày càng dã man, tàn bạo và có hệ thống hơn. Riêng đối với ông Nguyễn Văn Lía là một người sống có đức tin Tôn giáo, cũng như bao nhiêu Tín đồ PGHH khác dù sống bên ngoài hay trong tù ngục tối tăm, tinh thần và tâm hồn ông vẫn ngời sáng, làm ánh đuốc thắp lên niềm tin cho các Tín đồ PGHH Truyền thống khác, tiếp bước con đường mà ông đang đi.

Phóng viên PHONG TRÀO PHỤ NỮ VIỆT NAM HÀNH ĐỘNG CỨU NƯỚC - Mai Hữu – Tại Đồng bằng sông Cửu Long.

5/5/2011

Syria: 600 người chết, 8000 người bị bắt nhưng biểu tình vẫn cứ lan rộng


Người biểu tình xé hình tổng thống Syria Bachar el-Assad (AFP)
Người biểu tình xé hình tổng thống Syria Bachar el-Assad (AFP)
Anh Vũ

Theo AFP, hôm nay, phong trào chống chế độ tại Syria cam kết tiếp tục cuộc «cách mạng » của họ, tổ chức biểu tình khắp nơi trong cả nước. Trong khi đó, theo tổ chức bảo vệ nhân quyền Isan thì từ giữa tháng ba đến nay đã có 8000 người bị bắt hoặc mất tích, và có ít nhất 600 người đã chết trong các vụ trấn áp biểu tình tại Syria.

Một tuần sau khi đưa xe tăng tấn công vào Deraa, trung tâm của phong trào phản kháng chế độ tại miền nam Syria, hôm qua lực lượng an ninh của nước này tiếp tục triển khai tại Banias để giải tán các cuộc biểu tình phản kháng. Nhiều cuộc biểu tình chống chế độ Bachar vẫn tiếp tục nổ ra ở nhiều thành phố, trong đó bao gồm các thành phố như Deraa, trung tâm của phong trào phản kháng và đang bị quân đội bao vây, thành phố Banias ở phía tây bắc, ở miền trung có thành phố công nghiệp Homs. Các cuộc biểu tình sau đó đều bị lực lượng an ninh trấn áp thẳng tay.

Hôm qua, Washington lên án việc sử dụng chiến xa đàn áp phong trào phản kháng chế độ của chế độ Bachar al- Assad tại Deraa tuần qua là hành động "man rợ". Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Mark Toner nhắc lại yêu cầu ông Assad phải chấm dứt mọi hành động bạo lực nhằm vào những người biểu tình.

Về lập trường của Pháp, ngày hôm nay ngoại trưởng Pháp Alain Juppé khẳng định Pháp muốn Liên Hiệp Châu Âu trừng phạt tổng thống Syria Bachar al-Assad nếu chính quyền Syria tiếp tục các cuộc đàn áp người biểu tình.Ông cho biết các nước trong Liên Hiệp Châu Âu đang chuẩn bị các biện pháp trừng phạt nhằm cụ thể vào một số đối tượng trong chính quyền Syria. Ông Alain Juppé cũng nhận định trách nhiệm của tổng thống Assad trong các cuộc đàn áp thô bạo người biểu tình đang diễn ra tại Syria và nếu cứ để tình trạng này kéo dài thì chế độ Damas sẽ phải bị lật đổ.

Đã Sáng Mắt Ra Chưa?


Nhiều người bị mù loà, bị cataract, được chữa lành và đã sáng mắt, ấy thế mà vẫn có người có mắt cũng như không, vẫn u tối như thường.
Mấy ngày hôm nay cả thế giới đang mải chú tâm đến Thế Vận Hội tại Bắc Kinh, thì Nga sô nhân cơ hội đem quân đội, máy bay, xe tăng tầu bò, đánh vào Georgia. Putin là trùm KGB ngày xưa có thừa kinh nghiệm lợi dụng thời cơ để lừa cả thế giới.

Trung Cộng trong ngày mở màn Thế vận Hội (*080808) , cũng đâu kém gì, làm hàng giả bằng cách cho một em bé (Lin Miaoke) nhép miệng hát thay cho em bé gái khác tên là Yang Peiyi kém sắc hát thật phía trong. Khán giả vỗ tay khen tặng rối rít. Rồi một số pháo bông tung lên trời hôm đó cũng dùng ảo ảnh vi tính loá mắt thế giới kiểu David Copperfield nữa đấy.

Ở Việt-Nam và cả ở hải ngoại ngày nay có rất nhiều người bây giờ mới sáng mắt khi được sống chung và làm ăn với bọn Cộng Sản. Họ là ai?
Ở Việt-Nam

1. Họ là những bà mẹ quê chất phác. Trước đây họ nghe lời ngon ngọt của CS, ấp ủ, che đỡ du kích trong nhà họ, những tưởng khi VC chiếm miền Nam thì họ được ưu đãi lắm! Ai ngờ! họ chỉ được mấy cấp giấy ban khen là mẹ chiến sĩ, mẹ liệt sĩ, mấy huy chương bằng đồng để treo trong nhà cho nó oai, chứ đem ra chợ bán không ai mua. Hổm rồi, họ bị xử ức: đất đai của tổ tiên họ bị cán bộ công an lấy đem bán cho ngoại quốc làm sân golf, họ mang cờ đỏ sao vàng , biểu ngữ, huy chương, bằng khen đi biểu tình khiếu kiện. Kết quả? Họ bị hốt và vất lên xe cây như con heo, chung với cờ quạt, huy chương, biểu ngữ. Bây giờ họ đã sáng mắt nhưng đã muộn. Có bà dân oan tức quá còn tụt quần ra trước văn phòng xã ấp cho công an xem nữa.

2. Họ là giới trí thức sống tại miền Nam Việt-Nam. Trước đây họ nghe lời dụ dỗ của bọn CS, họ đọc toàn sách Karl Marx, Engels, Jean Paul Sartre họ mơ tưởng thấy tương lai sán lạn, bầu trời nở hoa, một thế giới đại đồng, không giầu không nghèo, ai cũng như ai, gọi nhau tất cả bằng "đồng chí". Thế là họ xuống đường biểu tình, phá rối trị an của VNCH, làm mồi cho tụi VC xâm nhập thành thị phá hoại. Sau ngày 30-4-75, họ ra ứng cử vào QH bù nhìn. Kết quả rớt đài. Họ thấy tất cả mọi sự đều tệ hại hơn ngày xưa nhiều, họ la ó, phản đối. Kết quả họ bị quản chế, họ bị công an thuê xã hội đen đánh đập, gây ra tai nạn. Thế là họ mở mắt trong nhà thương. Rồi họ sáng mắt không kịp nữa khi đã vào nhà xác.

3. Họ là những đại diện được dân cử miền Nam. Trước đây họ bị dụ khị vơi củ cà rốt đỏ tươi là sẽ ở lại làm việc cho thành phần thứ ba, với hoang tưởng là CS Miền Bắc giải thể VNCH và trao cho nhóm thành phần thứ ba thành lập chính phủ miền Nam, chia ghế chung với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ ra sức sử dụng cái tự do dân chủ miền Nam đánh phá VNCH đủ mọi mặt. Đến khi VNCH bị bạn đồng minh bỏ rơi thì ai ngờ họ bị cho ra rià, chỉ còn ngồi chia với nhau cái "ghế đá công viên".

4. Họ là thành phần du kích miền Nam, tập kết ra Bắc. Họ đã sống dở chết dở trên dẫy Trường Sơn, trên đường mòn HCM. Họ tin là mai này miền Bắc đánh thắng miền Nam thì họ trơ về vinh quang, CS Miền Bắc sẽ để cho họ thống lãnh miền Nam, ít nhất cũng làm quan to. Hỡi ôi! Họ được gì? Tất cả những chức vụ ngon lành đều do cán ngố miến Bắc nắm hết. Họ từ từ bị bỏ rơi, uất ức quá họ xin phục viên. Bây giờ họ chỉ còn biết mở mắt và chửi thề từ sáng đến tối mà thôi.

5. Họ là thành phần giầu sang phú quý miền Nam. Nghe lời hứa ngọt như mía lùi của quen , vào bưng thành lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Họ được rủ sang Paris ngồi vào bàn tròn bàn vuông, dự hội nghị thanh toán miền Nam do Kissinger và Lê Đức Thọ bầy mưu đạo diễn năm 1973. Sau 30-4-75 họ được gì? Ôi chao, Cái MTGPMN sống chưa được bao lâu đã bị CS Miền Bắc bóp cổ chết ngắc ngày 2-7-1976. Bấy giờ họ mới sáng mắt ra thì đã trễ, chỉ còn biết than thân trách phận là mình quá ngu.

Tại Hải Ngoại:

Họ là những Việt Kiều đã liều chết vượt biên. Từ ngày Mỹ nối lại bang giao với Việt-Nam và bỏ cấm vận Việt-Nam, họ đã nghe lời dụ dỗ đường mật của CSVG, về lại Việt-Nam làm ăn:

a. Một ông vua chả giò, đem về hàng triệu đôla đầu tư, rồi bị kết án về tội hối lộ (Khổ quá VK nào muốn làm ăn tại VN cho an toàn mà không phải hối lộ cơ chứ, kể cả người dân trong nước cũng vậy), chỉ vì cán bộ gộc tranh nhau ăn. Kết quả ông vua chả giò bị 11 tháng tù, may mắn quen lớn, quen đến tận ông "Tưởng Thú Khải" nên mới "tái vượt biên bằng đường hàng không" ra khỏi nước. Ông mướn luật sư đoàn ngoại quốc kiện VNCS lấy lại tiền. Ông hú vía và sáng mắt và sẽ chẳng bao giờ về Việt-Nam nữa.

b. Một ông bác sĩ tim, bỏ ra cả bạc triệu mua máy móc rất "hiện đại" về Sàigon mở phòng mạch mổ tim mong làm ăn, nhưng rồi bị VC đội cho cái mũ "gián điệp CIA" không đưa ra toà nhưng chỉ xin ông để lại phòng mạch và tất cả dụng cụ, ra khỏi VN trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Thế là mất cả chì lẫn chài. Về lại Hoa Kỳ ông tức lắm lập đảng chống , ông định làm cả cái kiềng 3 chân mời ông VC ngồi một chân để hoà hợp hòa giải.

c. Một ông giáo sĩ chuyên về truyền thông, đi về VN hơn 10 lần rồi như đi chợ và có cả mấy căn hộ cho thuê. Rồi một ngày đẹp trời xin Visa về VN nữa để thâu tiền, nhưng đến phi trường Tân Sơn Nhất thì hải quan TSN hổng cho ổng vào vì lý do gì đó, đúng ra chỉ vì chúng muốn xiết mấy căn hộ của ông thôi. VK hồi đó chưa được phép mua nhà ở VN, mà tại sao ông lại có mấy căn hộ cho thuê "thế nà nàm sao?", chắc chúng "điều cha" là ông nhờ người khác đứng tên. Ông tẽn tò trở về Mỹ, nuốt hận, nhưng vẫn cái trò nửa nạc nửa mỡ, vẫn nâng đỡ cho đám quốc doanh trong nước, đăng cả bài chống cờ vàng 3 sọc đỏ của HY đỏ Phạm Minh Mẫn mới đây.

d. Một ông chuyên viên thu băng video và CD, DVD lậu , khoái "bác hồ" hết cỡ thợ mộc, nên treo cờ máu và ảnh tên hồ già trong tiệm, bị người Việt hải ngoại giàn chào cả 2 tháng. Ở VN hồi đó ông được CSVG nâng cấp lên thành "anh hùng". Rồi ông tưởng bở bán nhà bán cửa, thu xếp tiền bạc gia đình vợ con về VN làm ăn. Ông bỏ ra mấy chục ngàn đô (gần 1 tỷ bạc hồ) mua ao thả cá, nuôi tôm kiếm sống. Thu hoạch đang ngon lành, ai ngờ ông bà "anh hùng" bị gọi lên làm việc về tội "quên đóng thuế" cho nhà nước. Bà vợ ông ức quá "anh hùng" mà chả được cư xử như anh hùng tí nào cả, lại còn bắt đóng thuế, nên tự tử may mà không chết. Mất cả chì lẫn chài, gia đình lại cuốn gói về lại đế quốc Mỹ chả biết ẩn dật tại Tiểu Bang nào. Bà con ai biết mách giùm nhé.

e. Một ông giáo sư dậy điện toán, mua lại một số máy computer rẻ tiền đem về Sàigòn mở trường. Ông đoán đúng mạch dân VN. Thời kỳ tin học, ai mà chẳng muốn học "vi tính - piu tơ", thế là cơ sở ông phất lên như diều gặp gió. Ông làm thêm chi nhánh ở Cần Thơ, ngon trớn ông tiến nhanh tiến mạnh ra Đà Nẵng. Nhưng ông quên một điều là VN cũng có "rừng nào cọp nấy". Cọp miền Nam khác cọp miền Trung, miền Bắc. Ông quên không xin phép đúng nơi đúng chốn hay vì thủ tục "đầu tiên" của ông hơi yếu cho nên ông cũng bị mời lên Công An làm việc vì có thơ tố cáo ông làm gián điệp cho đảng phái hải ngoại chống phá nhà nước. Họ mời ông và gia đình ra khỏi nước trong vòng 24 tiếng, để lại 2, 3 trường học cho nhà nước quản lý. Ông biết bị ăn cướp nhưng chỉ nhỏ lệ mà ra đi và về hải ngoại ông vẫn im thin thít sợ nói ra bị đồng bào chửi.

f. Chàng là một VK rất bình thường, nhưng có tật hay "nổ" khi về VN. Chàng đã về nước cả chục lần đâu có làm sao, về lại Hoa Kỳ lần nào cũng khen lấy khen để là "Sàigòn bây giờ đổi mới lắm, làng nướng, quán ăn, bia ôm, càfê cũng ôm luôn, hớt tóc muốn ôm cũng được" . Vì vậy người Việt hải ngại đặt tên mới cho hòn ngọc viễn đông ngày trước, bây giờ là "thành phố ôm".
Chàng chỉ là một chuyên viên làm Nail, mùa đông ế khách nên về VN du hí. Nhưng VK về nước mà lại khoe là làm nail thì hơi bị quê, nên bèn nổ lớn và tự giới thiệu là kỹ sư "hoá học". Nói cho đúng thì ngày ngày chàng đụng tới hóa chất (acetone .v.v) hơi nhiều, phải đeo khẩu trang như các nhà bác học trong phòng thí nghiệm thật. Lần này về VN thì sáng ngày hôm sau, có một Công an đến vấn an và gãi đầu gãi tai xin ông Kỹ sư giúp đỡ chút xíu vì nhà đang gặp khó khăn. Chàng kỹ sư mở bóp lấy ra tờ 20 đôla trao cho viên công an. Viên công an tỏ ý hơi thất vọng rồi ra về.
Sau chuyến đi chơi Đalạt 3 ngày về thì chàng kỹ sư nhận được một công văn của Công An số 4 Phan đăng Lưu yêu cầu lên làm việc để làm sáng tỏ một vài vấn đề. Ông "kỹ sư" hoang mang nhưng cũng đến trình diện. Viên Đại Uý Công An mời ngồi và nói là ông ta mới nhận được một lá thư từ trong phương xóm nơi chàng tạm cư ngụ, tố cáo ông VK là một nhân viên của một đảng phản động tại hải ngoại lần này có nhiệm vụ về điều nghiên để phá hoại. Anh kỹ sư VK tái mét mặt, hết hồn bèn khai thật là ở bên Mỹ chỉ làm nail bên Mỹ thôi chứ đâu có phải kỹ sư gì đâu, về nước để du lịch chứ không có tham gia một đảng phái chính trị nào cả.
Viên Đại Uý cười khẩy và nói là ty công an thành phố phải điều tra ra sự thật vì vậy theo luật thì phải giữ anh kỹ sư ở lại bóp vài ba ngày để tiến hành cuộc thẩm vấn. Sau cùng ông Đại úy nhắc khéo là đã liên lạc với hải quan TSN rồi và được biết là anh kỹ sư có khai đem về 5 ngàn đôla kỳ này. Chàng "kỹ sư" được dẫn vào nhà giam ngủ 1 đêm.
Sáng hôm sau tại địa chỉ mà chàng tạm trú, một người ăn mặc complet bảnh bao, tay sách cạc táp đen, đến gõ cửa và tự nhận là luật sư. Ông luật sư vào đề ngay là ông ta "nghe nói" có một VK bị bắt vào ty Công An PĐL. Nếu muốn nhờ ông ta biện hộ hay giải quyết thì đây là giá cả:

- (1) Muốn khỏi phải ra toà và được thả ngay thì giá là 3 ngàn đôla, vì ông ta phải chi tiền chạy chọt.

- (2) Còn muốn ra toà thì ông ta nhận biện hộ với giá $1,500 USD, nhưng ông luật sư thòng một câu là không biết ngày nào ra toà, có thể từ 3, 4 tháng đến 1 năm tuỳ theo. Bị cáo không được rời khỏi VN. Ông ta nói xong để lại danh thiếp với số điện thoại.

Ngày hôm sau ông bạn chạy đến ty CA thành phố xin thăm gặp ông "kỹ sư" nạn nhân, và trình bầy 2 giải pháp của ông Luật sư. Anh "kỹ sư" hốt hoảng nói anh bạn gọi điện thoại và điều đình với ông luật sư chấp thuận giải pháp 1 là trả 3 ngàn đô "cúng cô hồn" để được trả tự do ngay, chứ theo giải pháp thứ 2 rẻ hơn nhưng làm sao mà ở VN lâu như vậy được, còn phải về Mỹ dũa móng chứ .

Chiều hôm sau, chàng "kỹ sư" được trả về nhà, túi bị nhẹ đi mất 24 triệu bạc hồ, một số tiền khá lớn. Hai ngày sau chàng "kỹ sư", ra hãng máy bay xin đổi vé về lại Mỹ càng sớm càng tốt và hứa là sẽ không bao giờ về thăm chùm khế ngọt nữa.

Thanh Vân

36 Năm lưu vong. 36 Bài thơ lưu niệm


36 Năm lưu vong. 36 Bài thơ lưu niệm

Lịch-sử cận kim: chín Quái Thai

Việt-Minh, Chủ-Nghĩa, Chệt thừa sai (1,2)

Hai lần Quốc-Hận, dân ta-thán (3,4)

Nhị Ước Hải Liền, máu rỉ dai (5,6)

Thỏa-Hiệp Tái Bang, Ngư-Phủ ký (7,8)

Hợp-Đồng Thuê Đất, quặng than khai (9)

Trời ơi! Chín Quái, tan-hoang Việt

Công-nghiệp tiền nhân: kẻ đoái-hoài??

Phạm-Quang-Minh

Chú-thích:

Chín Quái Thai của lịch-sử cận-đại Việt-Nam:

(1) Việt-Minh nay là Đảng Cộng-Sản Việt-Nam

(2) Chủ-Nghĩa là Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

(3,4) Quốc-Hận: 20-07-1954 và 30-04-1975.

(5,6) Hải Liền: hiệp-ước biên-giới đất liền ký 12-1999 và hiệp-ước lãnh-hải ký 12-2000 dâng đất cho Tàu.

(7) Thỏa-Hiệp Tái Bang-Giao ký năm 1991

(9) Hợp-Đồng Thuê Đất , cho Tàu khai-khẩn các vùng đất thuộc nội địa Việt-Nam, ký lai-rai.

30 tháng Tư

1975

Hổn-loạn! Tan-hoang! Cuộc thế cùng!

Bàng-hoàng! Tuyệt-vọng! Số phần chung!

Cớ sao ngạ quỷ cơ hoành lộng?

Có phải thiên thần lỡ độ dung?

Nô-thuộc độc-tài, dân mạt kiếp

Khảo-tra áp-chế, sống điên khùng

Tàu Nga Vô-Sản phường xâm-lược

Phản quốc Hồ ơi: tội bất dung

1976

Gia-đình sinh-kế tiến-hành xong

Thư-thả yên-tâm, đặng ước-mong

Quốc-Hận biểu-tình Vong-Quốc hận

Ăn-Mừng đánh phá Việt-Kiều đong

Mạo danh cải-tạo, tù thân liệt

Dựa đám tàu tham, kiếp cổ còng

Dân hận khốn-cùng: Kinh-Tế Mới

Ngục tù vĩ-đại: Việt-Nam vong!

1977

Việc làm tạm ổn, thế gia thông

Đầy-Tháng trai đầu, chúa thưởng công

Nhớ nước, thân-bằng, dân thống-khổ

Giận thù, xâm-lược, kiếp lông-bông

Lệnh Tàu: chinh-chiến tràn Thiên-Đế

Vô-Sản: máu xương khổ Lạc-Hồng

Dịch chủ tái nô, Hồ Duẩn Giáp

Rước thù diệt chủng, vạn đời tru

1978

Ba năm thế-giới động lòng thương

Cứu vớt thuyền nhân khắp đại dương

Nhân-loại bó tay phường vô đạo

Loài người khuất-phục lũ vô thường

Quyền-uy danh-vọng mờ nhân mục

Đạo-lý công-tâm hãn hạ trường

Hồng-Lạc khí thiêng gầy nghiệp cả

Rạng nòi nở mặt Việt muôn phương

1979

Cựu-Kim Quốc-Hận: rợp cờ vàng

Oán-thán người người: diệt Vẹm lang

Rước Chệt dày mồ, dân khánh-tận

Bợ Tàu dâng đất, nước tan-hoang

Vùng lên tận diệt loài Tàu phỉ

Quật dậy phá cùm nước Việt an

Dứt điểm, khử Tàu, tìm mạch sống

Thể Rồng phách Lạc khí hiên-ngang

1980

Dân tình thống-khổ khóc kêu van

Đói rách tang-thương khắp phố làng

Khoai sắn cỏng cơm dằn bụng đói

Vụ mùa thâu lúa cống tàu bang

Năm năm thống-nhất ngàn đời hận

Một chót lỡ-lầm vạn kiếp mang

Đảng hởi! Hồ ơi! Sao tán-tận! T

hương dân! Vì nước! Bớt tham-tàn

1981

Đảng đã ra tay loại khử Tàu

Người người hớn-hở thở cái phau

Tàu xưa đô-hộ Ông ta-thán!

Chệt mới tham-tàn Cháu khổ-đau!

Diệt chủng âm mưu: ngăn chận trước

Đất màu tham chiếm: phỏng tay mau

Đảng đần sách-lược “răng môi hở”

Nay hiểu, ra tay loại khử Tàu

1982

Toàn dân trông ngóng Đảng xoay chiều

Bế-tắc cùng đường dốc hết chiêu

Từng bữa bo bo khoai trộn sắn

Từng ngày muối hột nước hòa tiêu

Dân tình đói khổ đường lê-lết

Chủ-nghĩa khăng khăng Đảng phớt lì

Địa-ngục trần-gian thời-đại mới

Cắn răng chịu-đựng? Dám ai liều?

1983

Nhờ Sô phụ lực đẩy Tàu xâm

Mượn thế dương oai: kế cũng thâm

Thống-nhất càng lâu càng mất đất

Độc-tài mỗi lúc mỗi vô tâm

Toàn dân vô-sản, bo thay lúa

Cả nước tang-thương, lệ nhỏ thầm

Độc-lập tự-do hạnh-phúc với

Sức cùng lực tận vẫn xa tầm

1984

Khố ôm áo rách, nước điêu-linh

Thống-khổ toàn dân, xã thị kinh

Khí-thế tinh-thần, Đảng dập hố

Niềm-tin hy-vọng, Bác chôn sình

Vâng lời Đảng huấn: tiêu cơ-nghiệp

Tuân lệnh Bác ban: diệt chủng mình

Linh quyết bảo-toàn thành-tích Đảng

Phò Sô cởi mở chính cùng kinh.

1985

Mười năm quằn-quại ách Tàu Sô

Dân Việt triền-miên thảm nạn vồ

Huynh-Đệ Tương-Tàn, đời tang-tóc

Đàn Anh Vĩ-Đại, kiếp tôi nô

Ka-Bê khét tiếng phường tàn-ác

Bác-Đảng rập khuôn loại tể-đồ

Ngoi-ngóp dân cùng đe búa kẹp

Khẩn Trời thương độ Việt đơn cô.

1986

Toàn nước dân vui chút tự-do

Kinh-doanh cởi-mở đỡ âu-lo

Hai mươi năm Bắc dân cùng khổ

Mười một năm Nam dạ thóp-tho

Chủ-nghĩa tiến lên dân đói mẹp

Thương-trường tự quản gạo thay bo

Phò Sô lúa thóc thôi dâng Chệt

Lam-lũ cho mình bụng được no.

1987

Bao vùng đất qúy ở ven biên

Gồm cả Nam-Quang Chệt chiếm nghiền

Mao dụ: hướng nam, sinh mạch phú

Hồ rằng: dâng đất, phận tôi hiền

Chiến-Tranh Giải-Phóng, viện cầu giúp

Bá-Chủ Phương-Nam, kế tựu liền

Huynh đệ răng môi giờ rạn-nứt

Xem lưng vạch áo, cớ chi phiền

1988

Lai rai đây đó Việt hồi hương

Thăm lại quê xưa dạ vấn-vương

Chính-thể đang cần thâu ngoại-tệ

Dân lành thầm ước gặp người thương

Quê nhà đói khổ nghèo xơ-xác

Đất khách văn-minh sướng đủ đường

Thượng-Đế chí công xin rủ lượng

Hải-hà cứu độ Việt quê thương.

1989

Phò Sô kể cũng tạm yên thân

Chệt đỡ ho-he xía đủ phần

Lúa gạo tóm thâu phường cướp cạn

Hoa màu gom sạch lũ vô nhân

Liên-Sô sắp-xếp xoay đường hướng

Tàu-Cộng mưu-đồ lật cán cân

Cơ-hội ngàn vàng dành độc-lập

Đảng khôn? Vì nước? Phát tiên nhân.

1990

Biết trước Liên-Sô sẽ chuyển mình

Giã-từ Xã-Hội qúa điêu-linh

Dân-tình ngoi-ngóp áo cơm thiếu

Chính-thể điên-đầu tội ác kinh

Sản-xuất lâm-nguy: vô động lực

Quân-trường lụn-bại: thiếu tinh binh

Việt-Nam chuẩn-bị tiên thủ-lợi

Triệt-để, liền khi thế chuyển mình.

1991

Tuyệt-vọng! Căm-hờn! Đảng ngốc thay!

Ngàn năm một thuở vụt xa bay!

Liên-Sô bỗng chốc tan thành khói

Tàu-Cộng bất thần khó trở tay

Phút chốc tự-do độc-lập đến

Tức thì tự-chủ tự quyền ngay

Việt-Nam: áp-lực Tàu Nga biến

Sao Đảng rước Tàu lại xéo day!!

1992

Giết dân hại nước đã vô tiền

Cướp của dân lành cũng ngang-nhiên

Khuyến-khích ăn chơi, phù trụy-lạc

Kiếm tiền lao động gạt thanh-niên

Nhân-quyền Đảng sợ, triệt-tiêu dứt

Tôn-giáo Đảng lo, kiểm-chế liền

Sắt-máu thẳng tay tiên chế-ngư

Bảo-toàn uy thể Đảng: ưu-tiên

1993

Chiến-tranh phi-lý thảm bi ai

Hậu chiến điêu-linh thống-khổ hoài

Cứu cánh biện-minh phương tiện: trật

Lý-do tự thủy bản căn: sai

Cơ-đồ không vượng mà suy-thoái

Hành-động chẳng lành lại ác tai

Mười tám năm rồi lao-động tốt

Đói nghèo nô-lệ chẳng tương-lai.

1994

Sao kêu Việt-Cộng là “Việt gian”?

Chữ đúng hay sai một tất gan

Xã-hội bình thường: nô-lệ đói

Nhu-cầu giải-phóng: phúc giàu sang

Rước Tàu diệt chủng là thương nước

Đuổi Ngụy cầu tài ấy thượng can

Dân-Chủ Cộng-Hòa độc Đảng trị

Buôn dân bán nước ấy là ngoan

1995

Hai mươi năm sống kiếp tha phương

Vẫn chút gì vương phải vấn-vương

Mong có ngày về thăm chốn cũ

Nguyện chờ dịp đến giúp quê hương

Ước chi Hồ Cộng còn nhân tính

Được thế Việt mình đỡ giáo thương

Dịch chủ tái nô là đại họa

Ai ngờ danh lợi lấn cử cương.

1996

Hỏa-xa mạng lưới kết-giao tình

Thông suốt Thăng-Long tới Bắc-Kinh

Dự-án Trạch-Dân mong xúc-tiến

Mưu-cầu Việt-Chệt đạt song kinh

Trai Tàu gái Việt giao-du tiện

Gái Chệt trai Nam kết bạn tình

Làng sóng di dân vô giới tuyến

Thâm mưu đồng-hóa nghĩ mà kinh.

1997

Từ độ quê yêu đỏ nhuộm toàn

Cơ-đồ sản-nghiệp bổng tan-hoang

Ngàn ngàn thân liệt vùng kinh tế

Triệu triệu mạng liều chốn bể hoang

Học-tập thâm mưu cải-tạo gạc

Lao tù man-rợ khảo-tra oan

Trần-gian địa-ngục búa liềm đỏ

Độc-lập no cơm Đảng bịp toàn.

1998

Vô thần vô sản chất vô ân

Cộng-Sản muôn đời bản bất nhân

Độc-lập: điều điều tuân vấn lệnh

Chủ-quyền: nhất nhất phận vong thân

Ngập đầu chiến phí Tàu đòi ép C

úi mặt sơn hà Đảng hiến dâng

Chống-đối thẳng tay, nhân đức tận

Quyền-uy danh vọng, Đảng vinh thân

1999

Giang-sơn càng nghĩ lệ ngân sa

Đổi Mới huênh-hoang thế tụt đà

Tham-nhũng hoành-hành dân oán ức

Đầu-tư giảm sút ngoại lo xa

Nông gia xơ-xác mùa thu thất

Kỹ-nghệ nghèo-nàn phẩm sút sa

Quần-chúng mất tin đường-lối Đảng

Mật đồng dâng đất tiếng đồn xa.

2000

Theo đòi Xã-Hội đại đa niên

Khố rách áo ôm váng chiếu niền

Lê-Mác Đảng-Tôn gây thảm nạn

Sửa-Sai Đổi Mới đạt ưu-tiên

Thị-trường chứng-khoáng, đầu-tư mở

Hiệp-ước mậu thương xúc-tiến liền

Cẩn-mật, triệt tiêu phường chống-đối

Rộn-ràng đón tiếp ngụy Tông-Tông.

2001

Bán đất buôn dân tội bất dung

Muôn đời ngàn quốc luật ghi chung

Đảng Kỳ Chín luận ba đề án:

Diệt Thượng, Cắm Ranh, Dứt Nợ Khùng

Tụt hậu, thua người: Khải nhận-định

Trật đường, lệch đạo: Mạnh phê chung

Quốc doanh lùi bước tư doanh tiến ï

Đất Biển bùi-ngùi, mối hận chung.

2002

Nói láo sở trường chú Vẹm ta

Ký dâng nhượng hết kẻo Tàu la

Đất Liền, Lãnh-Hải cùng Ngư-Phủ

Chín-Chín Không-Không với Lẻ-Hai

Phản quốc ký dâng, người ít biết

Tôi đồ kín mật, dễ thông qua

Năm nay Đảng quyết trường mặt nạ

Nội địa ra gì, Hải-ngoại pha.

2003

Tệ-đoan tham-nhũng thất nhân tâm

Uất-ức toàn dân ứa lệ thầm

Triết quyết ra tay trừ thảm họa

Đảng lo bức mạch động rừng thâm

Năm-Cam một mối đưa đầu chịu

Sắc-chức trăm tên án-lệ cầm

Quần-chúng đa-nghi tham-nhũng thiệt?

Thanh-trừng quyền-lực chuyện hà rằm?

2004

Lân-bang thất trận cuộc tan-hoang

Hai chục năm sau tế-thế bang

Chiến thắng huênh-hoang cao trí-tuệ

Ngạo đời vênh-váo đỉnh trần-gian

Tham-tàn bất chính cương trung đoản

Nô-lệ giáo-điều thiển cận đoan

Ba chục năm rồi so để tủi

Bao giờ dân nước chút hào-quang?

2005

Ba mươi năm đủ Cộng gian lường

Kiệu võng rước Tàu tôn đế vương

Rướm máu sơn-hà da xương rát

Thâm mưu diệt-chủng giống nòi thương

Lòng tham vô đáy loài Thanh Tống

Mưu-chước khó lường loại Hán Thương

Vơ-vét tài-nguyên đào bới nát

Rút bòn Việt tộc xác da xương.

***

Rút bòn Việt tộc xác da xương

Cướp đất phì-nhiêu mạng Bắc phương

Tây ngạn mõ đào rừng đốn chiếm

Đông sường cá đoạt đảo tranh lường

Toàn dân uất-hận vùng lên chống

Bác Đảng tham-tàn giết chẳng nương

Hải-ngoại tiếp tay vì đại nghĩa

Cờ Vàng vĩnh-viễn rạng quê-hương

2006

Đổi mới mươi năm chẳng thấy gì

Kỳ Mười Đại-Hội duyệt tra ghi

Triết lên chủ-tịch tham ô bớt

Dũng nắm thủ đầu tổng kiểm chi

Tư-tưởng còn vương điều giáo luật

Hành phương khó đạt quốc tân huy

Bước đi chập-chửng đa phương khốn

Xót nước thương dân khổ họa di.

2007

Lịch-sử cận kim: chín Quái Thai

Việt-Minh, Chủ-Nghĩa, Chệt thừa sai (1,2)

Hai lần Quốc-Hận, dân ta-thán (3,4)

Nhị Ước Hải Liền, máu rỉ dai (5,6)

Thỏa-Hiệp Tái Bang, Ngư-Phủ ký (7,8)

Hợp-Đồng Thuê Đất, quặng than khai (9)

Trời ơi! Chín Quái, tan-hoang Việt

Công-nghiệp tiền nhân: kẻ đoái-hoài??

Chú-thích cho bài 30-04-2007:

Chín Quái Thai của lịch-sử cận-đại Việt-Nam:

(1) Việt-Minh nay là Đảng Cộng-Sản Việt-Nam

(2) Chủ-Nghĩa là Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

(3,4) Quốc-Hận: 20-07-1954 và 30-04-1975.

(5,6) Hải Liền: hiệp-ước biên-giới đất liền 12-1999 và hiệp-ước lãnh-hải 12-2000 dâng đất cho Tàu.

(7) Thỏa-Hiệp Tái Bang-Giao ký năm 1991

(8) Thỏa-Hiệp Ngư-Phủ đánh cá ký 02-2002.

(9) Hợp-Đồng Thuê Đất , cho Tàu khai-khẩn các vùng đất thuộc nội địa Việt-Nam, ký lai-rai.

2008

Bắc-Kinh Thế-Vận tỏ oai hùng

Rước đuốc Trường-Sa lãnh địa trung

Nam Việt ho-hoe giả chống-chế

Trường-Sa ký nhượng tự hành cung

Múa Cầu trước báo: hoàn-cầu chiếm

Lồng Sắt tiên loan: phận số chung

Trung-Quốc tham-lam nhân-mãn sự

Lưới Trời lồng-lộng bất thân dung

2009

Đảng đã làm chi nước Việt mình?

Diễn tình xã-hội thấy mà kinh!

Đảng sai, phê-phán là lao-lý

Đảng khiến, làm ngơ ấy khổ-hình

Trụy-lạc ăn chơi, Đảng khuyến-khích

Chính-tình việc nước, Đảng chuyên-chinh

Cứ như con vật ăn và sống

Sai ác hèn gian, cấm bực mình!.

***

Bán nước buôn dân cũng lặng thinh!

Giáo điều Nô-lệ mới quan-vinh!

Không tình không nước không nhân tính

Chỉ ác chỉ gian chỉ vị mình

Con cái Đảng xem hậu của dục

Con người Đảng giáo bất thiêng linh

Sẳn-sàng cho Quốc-Tế Vô-Sản

Ấy đó là chi nước Việt mình!

2010

Tàu Cộng từ nay tọa thị bành

Đông-Dương trọn hưởng dám ai tranh

Việt-Nam chiến-lược đông nam tiếp

Nam-Việt tài-nguyên giải đất lành

Châu Á thần tiên, lộc bất tận

Trung-Hoa nhân-mãn, kế tung hoành

Mỹ ngu trốn chạy, giờ quay lại

Lượm của thừa rơi, kẻ khất hành.

2011

Ba sáu năm trường vọng cố hương

Vững tin Cộng-Đỏ sắp cùng đường

Hoa lài nở rộ cửu hoàn xướng

Chim trắng tung trời tứ hải dương

Ngô-Bảo thần-đồng con Lạc-Việt

Cù-Huy khí-phách cháu Thiên-Vương

Nhân tài lưu-lạc năm châu đủ

Thiên khải: Tiên-Rồng mạng Đế Vương.


Phạm-Quang-Minh

Quán Chiều

Truyện 30 tháng Tư


Cuộc chiến đấu nầy vẫn chưa phân thắng phụ

Ta vẫn còn đây và sắt thép còn kia

Chết chóc thầm âm, cốt nhục chia lìa
Ta vẫn sống và không hề lẩn lú
Ta muốn nói với loài dã thú
Khúc khải hoàn ta sẽ hát thiên thu!
(Thơ Vô Đề)



Tùng thuộc một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đóng ở miền

Trung. Đầu năm 1975, Tùng bị thương, được nghỉ “29 ngày tái khám”. Vết thương nặng, xương tay bị mẻ, Tùng có thể “giải ngũ theo đơn xin.”

Tùng chưa tính tới việc xin giải ngũ. Anh về nhà mẹ nghỉ, chờ tái khám, rồi tính sau.

Nhà Tùng nghèo, chỉ có hai mẹ con. Từ lâu, khi Tùng còn đi học, mẹ Tùng mở một cái quán bán tạp hóa nhỏ, phía ngoài phi trường Trà Nóc, trên con “đường quốc lộ” Cần Thơ đi Châu Đốc.

Chiều chiều, ngồi buồn, Tùng thường uống càphê trước mái hiên quán của mẹ, bâng quơ nhìn người đi đường qua lại, giết thì giờ.

Thế rồi tin thất trận dồn dập đưa về, hết mất Ban Mê Thuột, tới Cao Nguyên, Trị Thiên... làm cho Tùng lo lắng, băn khoan. Không hiểu đơn vị của Tùng, các bạn của Tùng bây giờ như thế nào. Đơn vị đang đóng ngoài Trung, phía ngoài làng Gia Đẳng, bây giờ rút về đâu, có an toàn không, ai còn ai mất?

Nhà Tùng không có ra-dzô, không có TiVi, Tùng phải mua báo để theo dõi tin tức vậy. Việc đọc báo giải trí, Tùng chỉ mới làm quen từ khi đi lính. Đời lính nhiều khi buồn, nhớ nhà, để giải khuây, người ta đọc báo. Một tờ báo có người mua về, cả bọn chia nhau đọc, lâu ngày cũng thành thói quen.

Bây giờ thì Tùng đọc báo, theo dõi tin tức chiến sự, coi thử “quân mình” rút chạy ra sao, tới đâu rồi, hơn là đọc tin “Xe cán chó, chó cán xe” như ngày trước.

Khi có tin Dziệt Cộng áp sát Saigon, không còn báo cho Tùng đọc nữa. Quốc lộ 4 bị cắt, báo Saigon không về Cần Thơ được. Tùng hỏi thăm tin tức ở mấy người hàng xóm, có nhiều gia đình là sĩ quan, công chức. Họ theo dõi tin tức qua đài phát thanh hay TiVi, Tùng hỏi lại. Tin tổng thống từ chức, tin hôm qua ông đại tướng đầu hàng làm cho Tùng tức tối, khó chịu. Thua sao? Thua được sao? Sao mà kỳ dzậy? Chưa đánh nhau mà? Chưa đánh sao đã thua? Bao nhiêu câu hỏi đầy ắp trong trí Tùng. Trời! đi lính đã 5 năm, đánh nhau với Dziệt Cộng biết bao nhiêu trận. “Đuổi tụi nó chạy có cờ”. Tùng nghĩ! Đâu có thể thua dễ dàng như dzậy được. Tùng hắc mắc, khẳng định. Sáng hôm nay, có tin buồn! Hai ông tướng ở Cần Thơ tự tử tối qua! Thiệt không? Tùng không tin! Tùng không tin!

Lính bỏ đơn vị ra về, kéo nhau đi hàng dài ngoài đường. Sớm hơn thường lệ, Tùng cầm ly càphê đá, ra ngồi trước hiên quán của mẹ, nhìn ra đường.

Thua thật rồi. Tùng cảm nhận một cách rõ ràng như vậy. Không còn nghi ngờ gì nữa. Chuyện thua trận, đọc trong báo, nghe nói lại, là việc xảy ra ở đâu đâu, còn mơ hồ, còn nghi ngờ. Hôm nay thì rõ ràng, việc thua trận rõ ràng diễn ra trước mắt Tùng.

Lính đi hàng loạt bên đường. Họ cởi áo, chỉ còn mặc cái quần trận, không mang giày “xô”, không mang giày vải. Họ đi chân đất, mang dép Nhựt, đầu cúi xuống, đi lầm lủi, không ai nói với ai một lời. Người đi trước lầm lủi đi trước, người đi sau lầm lủi đi sau, thành hàng dài, không nhanh, không chậm, cứ im lặng như thế mà ra về.

Từ hướng phi trường Trà Nóc, từ hướng Cần Thơ, họ cứ hướng về phía Tây, phía Long Xuyên mà đi. Họ đi đâu? Họ về nhà, bỏ đơn vị về nhà, bỏ đời lính, bỏ đơn vị, bỏ súng đạn, bỏ quần áo, lặng lẽ mà về.

Thế là hết! Hết thật. Tùng thấy mình cũng hết như họ. Có nghĩa là Tùng không còn “29 ngày tái khám” để trở về đơn vị, về với “ông Thầy”, với cấp chỉ huy, với đồng ngũ, bạn bè... Không còn gì nữa để Tùng trở về. Vậy là không còn chinh chiến, không còn lội rừng lội suối, không còn cơm sấy, cá hộp, không còn lo lắng, hồi hộp chờ đợi trong những đêm phục kích, chờ “mấy thằng cùi” (1), chờ tiếng mìn claymore, chờ lựu đạn cài nổ, chờ tiếng súng lệnh...

Và thế là hết. “Ông Thầy” cũng hết. Bạn bè cũng hết. Không mong gặp lại họ trong đời. Kẻ ở Nam về Nam. Kẻ ở Trung về Trung, kẻ về thanh phố, kẻ về miền quê. Ai cầm búa, cầm kềm sẽ lại cầm búa, cầm kềm. Ai cầm cày cầm cuốc, sẽ cầm cày cầm cuốc. Vậy là thua. Thua thật rồi. Thua một cách dễ dàng, thua dễ vậy sao? Tùng không tin, Tùng còn thắc mắc, băn khoăn.

Đoàn lính thua trận bỏ đơn vị ra về vẫn còn lặng lẽ đi qua đường. Tùng cố tìm thử có ai quen. Thế nào cũng phải có người quen chứ! Và bỗng thấy một người. Tùng hướng về phía một người đi xa xa, phía bên kia đường, gọi:

- “Ê! Tư Ếch. Mày về đó sao?”

Người lính dừng lại, ngó về hướng Tùng, người gọi tên. Anh ta vừa chạy về phía Tùng, vừa la to:

- “Tùng lì. Mày về hồi nào?”

Hai người là bạn học cũ!

Tư Ếch có hai con mắt hơi lồi, mắt ếch, nên được bạn học tặng cho cái danh hiệu Tư Ếch. Còn Tùng, đánh lộn rất lì đòn, nên cũng được một danh hiệu chứng tỏ cái tính lì của anh ta.

Tùng đứng dậy, đón bạn học cũ, kiếm một cái ghế cho bạn ngồi, và làm cho bạn một ly càphê đá như Tùng.

Tùng hỏi:

- “Hình như mầy ở phi trường Trà Nóc?”

- “Tao ở trong đơn vị an ninh phi trường.” Tư Ếch trả lời. Rồi anh ta nói thêm:

- “Tức thiệt mầy ơi! Mới hai bữa trước, tao chỉ huy tiểu đội phục kích phía ngoài phi trường. Tình hình nầy thế nào tụi nó cũng tới quấy rối. Bị tao dần cho một trận, bỏ lại hai mạng. Mấy “thằng cùi” (1) còn lại chạy trối chết mới toàn thây. Vậy mà bữa nay mình đầu hàng. Kỳ cục quá!”

- “Tao cũng không ngờ được. Bữa tao bị thương cũng là bữa tao dần cho tụi nó một trận. Vậy mà bây giờ...” Tùng bỏ lững câu nói.

- “Như thường lệ, chiều hôm qua, nghe tin ông đại tướng đầu hàng, tao vẫn dẫn tiểu đội đi phục kích. Ông Tướng Vùng biểu mình còn đủ sức chơi, lấy sông Bến Lức làm ranh mà giữ Vùng Bốn. Ai cũng hoan hô tinh thần của ông, cũng sẵn sàng. Vậy mà sáng nay, khi tao dẫn lính về, cả doanh trại xôn xao. Hai ông tướng cùng tự tử. Tức không! Vậy rồi, như rắn mất đầu, mạnh ai nấy đi, về hết, lần lượt về hết.”

- “Nhiều người về sớm lắm, sao giờ nầy mầy mới về?”

- “Bữa kia tụi nó pháo kích, chết một binh nhì, đem qua quân y viện. Tao chờ gia đình cho biết nhận quan tài về chôn rồi, tao mới về, bỏ về sớm không được!”

Hai người đang ngồi nói chuyện thì bỗng có một thanh niên đạp xe đạp vào quán. Anh ta dựng xe cạnh gốc cây. Tùng và Tư Ếch nhận ra đó là Nghi, bạn học cũ. Tùng hỏi:

- “Người ta về hết rồi, mầy đi đâu đây?

Nghi không nói gì, ngồi xuống cái ghế đòn dài, bên cạnh hai người, hỏi:

- “Ông Tướng Vùng chết rồi phải không?”

- “Tao cũng nghe nói!”

- “Tao không tin!” Nghi nói. “Mấy ông ngụy trang, đánh lạc hướng tụi nó đó. Sáng nay, mấy ông ở xã tao bàn tán việc nầy dữ lắm. Có người còn dẫn chuyện ông Hít-Le. Khi phe Đồng Minh vô tới Bá-Linh, thấy những 7 ông Hít-Le. Cuối cùng, ông Hít-Le thật không tìm thấy đâu cả. Ông ta phải sống để chờ ngày phục thù chớ! Vậy nên mấy ông ở xã tao không tin ông Tướng Vùng tự tử. Mấy ổng yêu cầu tao đạp xe lên Cần Thơ tìm hiểu cho rõ, coi thử có phải ông Tướng Vùng tự tử thật không?”

- “Để làm chi?” Tư Ếch hỏi.

- “Để làm chi? Sấm của Đức Thầy nói không có chuyện đó. Hễ coi ông Tướng Vùng “khởi nghĩa” ở đâu thì người ta theo dzô.”

- “Mày làm chi ở xã?” Tùng hỏi.

- “Tao làm xã đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn An Thạnh Trung, Chợ Mới. Dân xứ tao không chịu thua đâu! Họ đang chờ coi quân mình rút đi đâu?” Nghi nói.

Nghi cũng là bạn học với Tùng và Tư Ếch. Anh ta vô ngành Bình Định Nông Thôn sau khi thôi học như Tùng vậy.

Tư Ếch nói:

- “Tao cũng nghe nói chớ không thấy tận mắt. Sáng nay, người ta cũng nói ông trung úy Thuận đem mấy chục lính vô bưng, không chịu đầu hàng.”

- “Trung úy Thuận nào?” Tùng hỏi.

- “Ông làm sĩ quan an ninh phi trường, nổi tiếng chì.”

Tư Ếch nói:

- “Thấy người ta về, tao về theo nhưng trong lòng còn ấm ức lắm. Tụi bây nên nhớ tối hôm qua tao còn đi phục kích tụi nó. Tức ơi là tức! Làm sao bây giờ?”

- “Để coi!” Tùng nói. Xong, anh ta quay sang hỏi Nghi:

- “Ở xã mầy người ta chộn rộn lắm à?”

- “Chộn rộn gì đâu! Dân chúng người ta tức. Dzậy mà thua! Người ta không chịu thua, còn tin vào quân đội mình, còn tin Đức Thầy, còn tin Sấm giảng. Không thua đâu! Đồng bào xã tao chưa chịu thua đâu!”

- “Tao biết mà! Dân Long Xuyên, dân của Đức Thầy, của ông Năm, ông Ba (2), không chịu buông súng dễ dàng.” Tùng nói.

- “Biết làm gì bây giờ?” Tư Ếch than.

- “Đừng than! Đơn vị tao đánh nhau với tụi nó nhiều trận, cũng “tơi bời” lắm, nhứt là hồi đánh vô “cổ thành” (3). Tao nhớ hồi đó, ông Thầy tao đang làm trung đội trưởng, mỗi lần “hao” (4) là ông ta khuyến khích lính. Ổng hay đọc bài “Hồ Trường” cho cả bọn nghe, để lên tinh thần.

- “Tao nhớ bài nầy. Năm đệ tứ ông thầy dạy Việt văn có dạy mà. Bài thơ hay mà tao không thuộc được.” Tư Ếch nói.

- “Dzậy mầy mới thi hỏng. Tao cũng hỏng, nhưng tao nhớ hôm ông dạy bài thơ ấy. Đứng trên bục, ông hoa tay phía bên nầy, hoa tay phía bên kia mà đọc thơ, nghe vừa hay vừa thích mà vừa buồn cười.” Tùng nói.

Nghi hỏi:

- “Sao buồn cười mầy?”

- “Tại vì ông thì nhỏ con, ốm nhom, ông làm điệu bộ, mà bài thơ thì hào hùng quá! trông ông như “gan cóc tía”, nên thấy buồn cười.” Tùng giải thích. “Ông Thầy” tao thì hào hùng hơn, khi đọc, ông cũng đứng thẳng dậy làm điệu bộ, nhưng ông lớn con, mặc đồ trận, trông không “sầu thảm” như ông thầy dạy Việt Văn. Ổng ngon lắm, ông học trường Chiến tranh Chính Trị ở Đà Lạt ra, nhưng khi về đơn vị, ông xin đi tác chiến, không chịu ngồi ở trung đoàn.”

- “Tao cũng thích bài thơ đó. Bọn mình chẳng đứa nào nhớ, uổng thiệt!” Nghi nói.

- “Để tao tìm lại coi.”

Nói xong, Tùng đi vào nhà trong.

Một lúc, Tùng bước ra, tay cầm gói giấy buộc giây bốn phía. Từng vừa mở giây, vừa nói:

- “Bà già tao kỹ lắm. Tao đi lính rồi, sách vở cũ tao học, bà gom lại, buộc giây đem cất. Quần áo cũng vậy, xếp cất, chờ khi tao về phép, có mặc.”

Tìm lần hồi một lúc, Tùng nói:

- “Đây rồi, cuốn tập nầy Việt Văn lớp Đệ Tứ, có bài “Hồ Trường” trong nầy.”

Tìm được bài thơ, Tùng, một tay cầm cuốn tập để đọc vì Tùng không thuộc, một tay làm điệu bộ giống như ông thầy dạy Việt Văn hồi ấy, đọc to cho cả bọn nghe:

“Đại trượng phu không hay xẻ gan bẻ cật phù cương

thường

Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương
Trời Nam nghìn dặm thẳm
Non nước một màu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường!
Ta biết rót về đâu?

Tùng ngưng đọc thơ ở đó, hỏi bạn, mặt còn đỏ bừng, hai

mắt sáng lên vì đọc thơ:

- “Phù cương thường là cái gì tụi bây?”

Nghi nói:

- “Cương thường chắc là “tam cương ngũ thường?”

Tư Ếch hỏi:

- “Tam cương là “Quân Sư Phụ” có phải không? Còn ngũ

thường là...”

Nghi cướp lời:

- “Là nhân nghĩa lễ trí tín đó mầy!”

Tư Ếch nói:

- “Quân sư phụ là xưa rồi mầy, còn phong kiến.”

Nghi nói:

- “Mầy nghe mấy thằng Dziệt Cộng tuyên truyền bậy bạ.

Quân là vua. Bây giờ ai còn tin vua? “Bác” Hồ còn không tin được, nói chi vua. Người ta hiểu Quân là Tổ Quốc, Dân Tộc, Đất nước. Ngày xưa vua là tượng trưng cho Đất nước, nên trung với vua là trung với Đất nước. Bây giờ thì “trung với đảng”, đảng là đảng cướp nên trung với ăn cướp. Mầy muốn trung cứ trung, ai cấm.”

Tư Ếch chưởi thề:

- “Đ. mẹ. Nói móc họng không? Sao mầy không nói móc họng “hiếu với dân” thì khỏi hiếu với cha mẹ...”

Tùng nói:

- “Ngũ thường là cái gì? Tao thấy cứ như lời Đức Thầy dạy “tu hiền” là gồm đủ. Cứ “tu hiền” như dân Nam Bộ của Đức Thầy là “tam cương, ngũ thường” đều có cả.”

Nói xong, Tùng đọc tiếp:

Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng

loạn.

Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá

giương

Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng....

Tùng lại ngưng, nói:

- “Đúng là như điên, như cuồng... Đầu hàng, đầu hàng là

như điên, như cuồng...”

Nghi nói:

- “Không đầu hàng được đâu mày. Thế nào cũng không đầu

hàng...”

- “Bọn mình tính sao bây giờ?” Tùng hỏi.

- “Tính sao đâu!” Nghi nói. “Đã đọc “Hồ Trường” mà còn chưa hiểu. Dân chúng không chịu dầu hàng, mình đầu hàng sao được. Để tao lên Cần Thơ xem sao! Vũ khí thì không thiếu đâu! Lính bỏ đồn mà về, bọn “cùi” tụi nó chưa dám tới, mình cứ vô đó mà lượm súng. Kiếm thêm một ít lựu đạn càng tốt. Cần là dân chúng ủng hộ mình.”

Tư Ếch nói:

- “Khi tao về, tụi nó cũng chưa dám vô phi trường. Hễ tụi nó có vô thì cũng lo kiểm soát mấy chiếc máy bay với kho bom. Tao biết trong đó có một hầm vũ khí dành riêng cho lực lượng an ninh phi trường. Tụi nó không biết đâu! Tao vô đó kiếm ít lựu đạn.”

- “Làm sao mầy ra cổng?” Tùng hỏi.

- “Mầy làm như tao không phải là thổ công trong đó. Tao đi đường tắt mà ra, khó gì!” Tư Ếch nói.

Tùng nói:

- “Đã chia công việc như vậy thì tao ở đây làm trạm liên lạc. Thằng Tư kiếm được cái gì, đem về đây, tao cất dấu. Thằng Nghi thì đi Cần Thơ, xong về xã, coi tình hình dân chúng như thế nào. Nếu thuận tiện, cần vô trỏng theo mấy ông Thầy thì bọn mình vô. Liên lạc với nhau ở đây, nhớ nghen.”

Nói xong, Tùng lấy chai rượu đế trên cửa hàng của mẹ, chia nhau uống mỗi đứa một ly mà giữ hẹn. Xong, bọn chúng chia tay.

&

Khoảng mười ngày sau, Nghi đạp xe đến đón Tùng đi!

Tùng nói với mẹ:

- “Má à! Con không ở nhà được đâu! Con phải đi với anh em. Má đừng trông. Lâu lâu con nhắn tin về cho má yên tâm. Cũng có ngày mình giành lại được đất nước thôi. Má nghe!”

Bà mẹ không nói một lời. Bà ngồi dưới mái hiên quán, ngó theo hướng con đi. Thở dài.

Bà góa chồng khi còn trẻ, khi đứa con độc nhứt của bà chưa được một tuổi. Bà ở vậy, chờ chồng. Bà biết quá rõ đứa con trai của bà giống tính cha. Bà đã không cản được chồng nên bà cũng không cản con.

Chồng bà đi lính “Ông Năm”. Năm “Ông Năm” về hợp tác với “ông cụ Ngô”, chồng bà không chịu. Họ phản ứng lại, nhưng không làm gì “Ông Năm” cả. Chồng bà bảo “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”. Vậy rồi gần hai trăm người bỏ không theo “Ông Năm” nữa. Họ ôm súng về Long Xuyên với “Ông Ba”. Vậy là chồng bà đi mất. “Ông Ba” bị bắt, bị chém ở Cần Thơ. Người ta khóc. Bà cũng khóc, vừa khóc cho “Ông Ba” vừa khóc vì chồng đi không về. Vậy rồi không bao giờ ông về. Bà nghĩ “có lẽ ông bỏ xác đâu đó rồi, trong bưng, biết đâu mà tìm!”

Bây giờ thì đứa con trai của bà lại theo gương cha: “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”. Bà nghĩ đất đai xứ nầy là của người ở đây. Ai tới mà giành được?

Mỗi chiều, bà bắt ghế ngồi trước hiên quán mà chờ tin con.

Chẳng có tin tức gì cả.

Người ta đồn ở miệt Trà Tiên có lực lượng chống đối của ông Ba Hà, của ông trung tá Thảo, có đánh nhau mấy trận, bất phân thắng bại. Rồi mấy ông rút vô bưng. Sau tháng Tư, trong bưng thì rút ra ngoài. Ngoài thì rút vô trong bưng. Hai bên đổi chỗ cho nhau.

Sau khi đánh qua Cam-bốt, người ta không còn nghe tin tức gì về lực lượng Ba Hà hay trung tá Thảo nữa, nhưng bà mẹ vẫn ngồi chờ tin con.

Mỗi chiều, khi mặt trời nghiêng xuống phía bên kia sông Hậu, mây giăng một mầu xám, như báo hiệu những cơn mưa sắp tới, hay khi mặt trời đỏ gay, xuống tới ngọn cây mà trời còn nóng gắt, bà vẫn ngồi dưới quán chiều chờ tin con.

Quán thì mỗi ngày mỗi xiêu vẹo. Tóc bà bạc dần, lưng bà còng xuống, mắt bà kèm nhèm vì những đêm âm thầm nhớ con mà khóc, chân bà hơi yếu mỗi khi đi lại, nhưng bà vẫn ngồi đó, dưới mái quán chiều mà chờ tin đứa con yêu./

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

-----------

(1) “Cùi” ngụy danh truyền tin trong quân đội VNCH, thường dùng để chỉ Dziệt Cộng.

(2) “Ông Năm, Ông Ba”: Tướng Năm Lửa và Ba Cụt, quân đội Hòa Hảo.

(3) “Cổ thành” Quảng Trị

(4) Hao: hao hụt, quân số hao hụt vì thương vong
.

Bài Xem Nhiều