We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 6 May 2011

Cựu Nghị Sĩ Lê Châu Lộc nói về bà Ngô Đình Nhu

Như Viễn Đông đã loan tin, bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân đã qua đời tại Roma, thủ đô Ý Đại Lợi, vào lúc 2 giờ sáng Chúa Nhật lễ Phục Sinh 24-4-2011. Cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 xẩy ra lúc bà Nhu đang có mặt tại Hoa Kỳ để “giải độc”, Anh chồng của bà là cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và phu quân của bà là ông cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị phe đảo chánh giết trên đường từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu. Từ đó đến nay bà sống ẩn dật tại Pháp và Ý, qua đời tại một bệnh viện ở thủ đô Ý Đại Lợi. Sau cuộc đảo chánh, nhiều người đã viết sách nói về bà Nhu với nhiều ẩn ý. Để tìm hiểu về bà, ngày 25-4-2011, chúng tôi đã phỏng vấn cụ Cao Xuân Vỹ, nguyên Tổng Trưởng Thanh Niên Đệ Nhất Cộng Hòa và ông Lê Châu Lộc, cựu Tùy Viên của cố Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm và cựu Nghị Sĩ Đệ Nhất Cộng Hòa.


Riêng cuộc phỏng vấn cụ Cao Xuân Vỹ, nội dung những lời cụ nhận xét về bà Ngô Đình Nhu cũng tương tự như cuộc mạn đàm giữa cụ và ông Võ Long Triều (Viễn Đông đã đăng trong số báo hôm qua 26-4-2011). Chỉ có một điều cụ tiết lộ cho chúng tôi là làm cách nào Luật Sư Trương Phú Thứ được gặp bà Ngô Đình Nhu để viết hồi ký. Cụ Cao Xuân Vỹ nói: “Từ hồi đảo chánh tới giờ, bà không tiếp ai cả. Ông Thứ đến tôi mấy lần, năn nỉ tôi giới thiệu cho ông được gặp bà Ngô Đình Nhu, nể tình tôi mới chỉ vẽ cho ông Thứ là hãy lên Đà Lạt, tìm đến căn nhà của bà Nhu đang xây dở dang, chụp tấm ảnh rồi đem qua bên đó, nói là mới ghé thăm căn nhà của bà, có chụp tấm ảnh đem lại biếu bà, vì khi xưa bà Ngô Đình Nhu có mua một căn nhà trả góp tại Đà Lạt, bà cho tu sửa nhưng chưa xong thì xẩy ra đảo chánh, và bà vẫn mong ước làm sao được nhìn thấy căn nhà đó”. Theo cụ Vỹ, ông Trương Phú Thứ đã làm theo lời cụ Vỹ chỉ vẽ, và đã được gặp bà Ngô Đình Nhu, còn việc làm sao ông thực hiện cuốn Hồi Ký cho bà, thì phải hỏi Luật Sư Trương Phú Thứ.Sau đây là nôi dung cuộc phỏng vấn Nghị Sĩ Lê Châu Lộc.
Viễn Đông: Xin chào Nghị Sĩ Lê Châu Lộc. Theo chỗ chúng tôi được biết, ông từng là Tùy Viên cho cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xin ông vui lòng cho độc giả nhật báo Viễn Đông được biết những gì ông biết về bà Ngô Đình Nhu.


Nghị Sĩ Lê Châu Lộc: OK, tôi biết cái gì thì tôi nói nghe, tôi không có phịa ra được, tánh tôi hồi đó tới giờ là như vậy, tôi biết thì tôi nói, không biết thì tôi dựa cột nghe chứ không như mấy tay con nít, hồi đệ nhất cộng hòa mới đi học lớp chót, mà nói chuyện ông Tổng Thống Ngô Đình Diệm cứ như nằm ở dưới giường của ông ấy vậy.Viễn Đông: Từ sau cuộc đảo chánh 1-11-1963 đến nay, đã có lần nào bà Ngô Đình Nhu liên lạc với ông không?
NS. Lê Châu Lộc: Có, nhưng mới gần đây thôi. Tôi xin nói rõ là hồi đó bà đi qua Mỹ để giải độc thì ở nhà xẩy ra cuộc đảo chánh cho nên suốt thời gian đó cho đến mãi mấy tháng trước đây tôi mới được nói chuyện lại với bà, là nhờ một dịp may có người bạn chuyển lời của tôi chào thăm bà, nên sau đó bà gọi và tôi nói chuyện với bà, trước khi bà vào nhà thương mấy tuần nay, chỉ có lần duy nhất này thôi, gần 50 năm tôi mới lại nói chuyện với bà.
Viễn Đông: Trong cuộc nói chuyện này, bà Ngô Đình Nhu có trao đổi với ông vấn đề gì đặc biệt không, thưa ông?
NS. Lê Châu Lộc: Câu đầu tiên bà nói: “Lâu quá tôi mới nhớ lại ‘ông sĩ quan’”, giống như bà thường kêu tôi ở dinh Độc Lập hay Dinh Gia Long vậy thôi, vì tôi là sĩ quan tùy viên của Tổng Thống, nên bà tránh kêu tên tôi mà kêu là ông sĩ quan như người Việt mình vẫn hay kêu như vậy. Sau đó, tôi và bà có nói chuyện về một số tài liệu mà bà nhờ người này, người nọ edit giùm, tôi cũng có phụ trong đó một phần, phần nhỏ thôi, tại vì tôi không có thì giờ. Chỉ hỏi thăm sức khỏe và nói mấy chuyện đó chứ không đề cập chuyện gì đặc biệt, mới mẻ hay giựt gân cả.Viễn Đông: Hình như bà Ngô Đình Nhu có viết hồi ký, Nghị sĩ có biết việc đó không?


NS. Lê Châu Lộc: Thật ra nhiều người đồn đãi lâu rồi, tôi biết ông Trung Tướng Khánh xăm xê viết hồi ký của bà Nhu, nhưng tôi coi ra thì chẳng phải hồi ký gì, nhưng từ đó tới giờ nhiều người lăm le để có cái lợi gì đó mình không biết, nhưng cái này cũng có thể gọi là hồi ký, cũng có thể coi như là những lời ghi lại phần lớn tâm tư của bà khi bà sống cuộc đời cô đơn, góa bụa như vậy, trong đó nó thể hiện cái “tâm đạo” của bà, những lời than thở, cầu nguyện, khóc lóc với Thiên Chúa về những nỗi bất công mà dân Việt Nam mình phải chịu, về những nỗi bất công mà gia đình bên chồng bà phải chịu, rồi bà hết sức cầu xin cho nước Việt Nam mình sớm trở lại thời kỳ thanh bình mà dân tộc Việt Nam mình được người ta kính trọng. Đại loại cái đề tài cầu nguyện của bà nó xoay quanh cái đau khổ của dân tộc Việt Nam, mà bà là cái người gần gũi nhất cho nên gánh chịu những hậu qủa tàn khốc nhất, thành thử đó là cái tôi biết được, còn nói về vấn đề chánh trị, những cái giựt gân, v.v., thì không có. Cũng có thể có một vài ba vấn đề sinh hoạt quốc gia nhưng không có gì đặc biệt cả.
Viễn Đông: Trong tập tạm gọi là hồi ký đó, có chỗ nào bà Ngô Đình Nhu tỏ dấu trách móc, oán hận những người làm hại gia đình bà?
NS. Lê Châu Lộc: Tôi không cảm thấy có sự oán hận như anh dùng chữ đó, chữ buồn phiền, khóc than thì có thể có, đó là cái tâm tư muốn thấy lại một sự thật mà người ta đã chôn vùi hoặc trả lại cho dân tộc Việt Nam mình công lý và hòa bình, mà mình đã đánh mất do một số người ngu dại làm sai, thì cái đó có. Còn bảo rằng cái hận thù thì tôi đọc tôi không thấy bà đề cập đến, mà tôi có cảm giác như đọc một cuốn hồi ký của một nữ tu.
Viễn Đông: Theo như Luật Sư Trương Phú Thứ cho biết, những ngày gần đây ông ấy vẫn thường xuyên liên lạc với bà Ngô Đình Nhu để hoàn thành cuốn Hồi Ký, và sẽ cho ra mắt vào tháng 9 hay tháng 10 này; việc đó như thế nào, thưa ông?
NS. Lê Châu Lộc: Đúng.


Viễn Đông: Như vậy, chính tay bà Ngô Đình Nhu ghi hồi ký hay bà nói để Luật Sư Trương Phú Thứ viết?
NS. Lê Châu Lộc: Đa số do chính tay bà viết, cũng có một phần do ông Thứ thâu lại khi ông trực tiếp thăm viếng bà.
Viễn Đông: Một số sách báo viết rằng, khi làm Dân Biểu, là vợ của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, đôi khi bà có những cử chỉ, hành động có vẻ cao ngạo trong cách cư xử với Tổng Thống hoặc phu quân của bà. Là người Tùy Viên Tổng Thống, thường xuyên có mặt trong Dinh, xin ông cho ý kiến?
NS. Lê Châu Lộc: Những người nói hay viết đó, anh có điều tra không? Anh có hỏi: Ông là ai, bà là ai? Chú là ai, cậu là ai? Mà ở đó vào lúc nào, biết được, thấy được và nghe được vào lúc nào hay không? Chắc là không, phải không? Nếu anh nói được cho tôi người nào đó trực tiếp nghe được và nói thì tôi sẵn lòng tôi nghe, còn người ta viết mà họ không tham khảo, không dẫn chứng được mình là ai, không chứng minh được thì cái tin đó ở đâu thì không có giá trị gì, chúng ta đừng nên để ý tới làm gì.
Về vấn đề cư xử thì ở Dinh Gia Long hay Dinh Độc Lập, gia đình ông bà Cố vấn cũng đôi khi qua lại nhưng không qua lại lu bù, đâu đó có nề nếp hết. Khi mà bà Ngô Đình Nhu muốn tham khảo Tổng Thống thì cũng phải qua sĩ quan tùy viên là chúng tôi, thường bà nói: “Ông sĩ quan, tôi có một vần đề muốn xin trình với Tổng Thống, ông sĩ quan thấy Tổng Thống có rảnh lúc nào?”. Thì tôi coi cái chương trình làm việc của Tổng Thống ngày đó, tôi nói: “Dạ không, bữa nay không có” hay “Bữa nay có lúc mấy giờ…”. Thì bà nói: “Cũng được, thôi thì ông trình với Tổng Thống cho tôi xin gặp Tổng Thống chút được không”? Tôi vào trình, nếu Tổng Thống cho thì tôi mời bà vô còn không thì thôi, vậy đó chứ không có chuyện ra vô lu bù. Tôi xác nhận hoàn toàn không có.


Thứ hai là cái cử chỉ của bà đối với người chồng là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu thế nào tôi không biết, nhưng mà hai vợ chồng ông, tôi không thấy bao giờ lớn tiếng. Cái này có lẽ phải hỏi những anh em cận vệ ở đó, chứ tôi không biết chuyện phòng the của hai ông bà.Thứ ba là đối với Tổng Thống, bà một mực kính trọng, khi Tổng Thống nói không có rảnh thì bà vui vẻ ra về ngay. Có đôi khi Tổng Thống nói với tôi: “Anh bảo bà ấy chờ”, thì bà chờ. Đó là sự thật về cái nề nếp gia giáo trong gia đình họ Ngô. Ngay cả ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu muốn lên trình diện với Tổng Thống không phải cứ tự tiện vô, ông cũng phải qua sĩ quan Tùy Viên là chúng tôi, thường ông hỏi: “Anh Lộc ơi, cụ rảnh không?”. Thì tôi nói, thí dụ cụ rảnh lúc 12 giờ 15, thì ông Cố vấn nói, “Tôi chỉ nói chuyện với cụ khoảng 10, 15 phút thôi”, và tôi vô tôi thưa, thì Tổng Thống nói, ừ mời ông Cố Vấn vào. Và tôi thấy hai ông rất kính trọng nhau, tôi có thể quả quyết với anh về điều này, người nào nói ông Nhu hay bà Nhu lạm quyền muốn leo lên đầu Tổng Thống là không đúng. Chúng ta nên nhớ, thời đó là thời kỳ chúng ta chống cộng mà, chúng đâm bị thóc, thọc bị gạo, cố xuyên tạc, bôi nhọ, nó dùng chiến thuật tuyên truyền để mà khuynh đảo miền Nam.
Bây giờ ở vào thế chống cộng khó khăn mình mới thấy nó dùng truyền thông, nó bỏ 500 triệu đô la để nó thi hành cái đường lối thâm nhập, nó khuynh đảo mình. Hồi trước người ta không biết cho nên cứ nghe rồi đồn ra mà không chịu tìm hiểu sự thật gì hết.
Còn những người Mỹ mà nói ra những điều đó, anh coi kỹ lại đi, những người Mỹ đó có bao giờ vào thăm viếng một gia đình Việt Nam không hay đáp máy bay xuống là đến đường Tự Do, nói chuyện với mấy người đổi tiền, với mấy cô bán bar lấy tin tức về Việt Nam bằng cách đó, thì họ về họ viết trong sách vở, báo chí và ai cũng cứ tin theo đó mà không có biết cái chuyện thật như thế nào.


Nên riêng với anh, tôi xin thưa, cái chuyện liên hệ giữa gia đình ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, kể cả bà Ngô Đình Nhu với Tổng Thống là một cái liên hệ Trên, Dưới rõ rệt.
Viễn Đông: Có một thời gian, ông Trần Văn Chương (thân phụ bà Ngô Đình Nhu) làm Đại Sứ VNCH tại Hoa Kỳ xin từ chức, nghe nói vì lý do chế độ của TT. Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Điều đó như thế nào, thưa ông?
NS. Lê Châu Lộc: Chuyện đàn áp Phật giáo có hay không, anh trả lời tôi nghe! Hồ sơ của Ủy Ban Điều Tra Liên Hiệp Quốc nó còn đó. Chuyện của ông bà Chương, rõ ràng lúc đó là hiểu sai. Từ hiểu lầm hoặc nó bị mờ tối gì đó như thế nào không biết, mà cứ dựa theo tin tức của người Mỹ do những hỏa mù người Mỹ phóng ra, rồi xúm nhau người quốc gia Việt Nam mình cấu xé cho đến độ người Mỹ đem 500.000 quân nhảy vào rồi bỏ chạy có cờ, rồi bỏ mặc mình kéo nhau xuống biển mà chết, có không? Cái chuyện ông bà Trần Văn Chương làm, ngay chính bây giờ những người thân thuộc trong gia đình ông bà cũng rất khổ tâm!
Viễn Đông: Giả sử khi cuộc đảo chánh xẩy ra, bà Ngô Đình Nhu vẫn ở trong nước thì theo nhận xét của ông, tánh mạng của bà Ngô Đình Nhu có an toàn không?
NS. Lê Châu Lộc: Thật sự tôi không biết rõ cái quan điểm của người Mỹ đối với bà Ngô Đình Nhu, nhưng đối với Tổng Thống Diệm và ông Ngô Đình Nhu thì rõ ràng. Trong tài liệu đã giải mật, người Mỹ ra lệnh giết anh em Tổng Thống nhưng không thấy ra lệnh giết bà Ngô Đình Nhu.
Viễn Đông: Một cách tổng quát, xin Nghị Sĩ Lê Châu Lộc cho độc giả báo Viễn Đông biết cảm nghĩ riêng của ông về bà Ngô Đình Nhu.


NS. Lê Châu Lộc: Từ lâu tôi đã nghĩ thế này, chứ không phải sau khi bà Nhu qua đời, tôi cảm thấy buồn phiền và hối hận, vì cái chuyện dân mình đã không khôn ngoan đủ để mà có sự nhận xét về người, về việc, về đường lối, sách lược và ý đồ của cộng sản để rơi vào chính sách hỏa mù mà nguời bị chỉ trích ghê gớm nhất là bà Ngô Đình Nhu, tôi phải nói thật là tội nghiệp hết sức! Tôi không biết bà nhiều. Trong thời gian tôi làm hơn 4 năm có thể nói tôi gặp bả chừng lối năm, bảy lần gì đó, nói chuyện đôi ba lần. Ở trong những buổi tiếp tân, dạ yến, dạ tiệc gì thì bà giữ vai trò Đệ Nhất Phu Nhân thì tôi thấy bà là một người hiểu biết, khôn ngoan lắm mà bà giữ vai trò của bà là vợ hay là em dâu Tổng Thống rất đàng hoàng, bà giữ vai trò đệ nhất phu nhân bên cạnh Tổng Thống Diệm rất là xuất sắc. Bà có kiến thức tây học và đông phương, do đó ông bà đại sứ các nước Nhật Bổn, Ấn Độ, Đại Hàn hay Đài Loan, v.v., ai cũng rất kính nể bà. Đối với những người Tây phương như ông bà đại sứ Pháp, ông bà đại sứ Mỹ, Anh họ cũng quý trọng bà vô cùng, bởi vì bà bặt thiệp, lanh lợi và khôn ngoan, nhất là trong cái áo dài, gọi là áo dài hở cổ Ngô Đình Nhu, thì tôi thấy được một con người đàn bà có tinh thần tự trọng, có sáng kiến y như là người mẹ, người vợ, người chị, người em Việt Nam nào khác vậy, rất là có sự quán xuyến công việc. Bà làm việc đến nơi đến chốn.
Bà thảo ra Luật Gia Gia Đình, tôi cho là một cái luật tiến bộ cho đến giờ này, ngày hôm nay vẫn còn giá trị, chứng tỏ Việt Nam mình đã có quan niệm về phụ nữ đi trước Liên Hiệp Quốc cả 50 năm. Tại sao tôi nói vậy? Bởi vì cái Luật Gia Đình của bà Ngô Đình Nhu mục đích là để bảo vệ cho quyền lợi người phụ nữ Việt Nam, bảo vệ trẻ con Việt Nam và bảo vệ cho gia đình Việt Nam. Ấy thế mà với Mỹ và cộng sản nó thành ra cái luật cấm đàn ông Việt Nam lấy hai vợ. Khổ nỗi, cái sự tuyên truyền của nó khéo léo cho đến độ mà chính người phụ nữ Việt Nam mình cũng chống đối cái luật đó mới chết chứ! Bây giờ dòm lại, thấy cái luật đó thấy tiếc quá! Bây giờ cái trào lưu nhân loại nó tiến bộ, xuyên qua Liên Hiệp Quốc, nó đã thể hiện cái tinh thần phải kính trọng người phụ nữ, phải thương yêu, bảo bọc cho trẻ con, và nhiều quốc gia, thấy hoàn cảnh gia đình nó suy đồi thì đã cố gắng gây dựng lại cái gia đình như là nền tảng của một xã hội lành mạnh.

Vì vậy nhân bà Nhu nằm xuống, tôi nhớ tới một trong nhiều việc bà làm, đó là việc thảo ra Luật Gia Đình, và tôi mong rằng cái dịp này sẽ gây lại sự chú ý của thế hệ phụ nữ Việt Nam ở trong nước cũng như ngoài nước, để nhớ lại cái thân phận của mình, và để nhớ lại rằng đã có một thời kỳ, mình đã có một bộ luật mà hiện tại nó vẫn còn đó, có thể phải tiến hành nữa để làm sao cho người phụ nữ Việt Nam được có chỗ xứng đáng như là Liên Hiệp Quốc đã thể hiện như trào lưu của tư tưởng tiến bộ của nhân loại. Đó là chuyện làm tôi nhớ lại trong vai trò của bà Cố vấn ở trong đó, có những cách cư xử, sự khôn ngoan và trong vai trò Dân Biểu, bà đã làm gì và đã chứng tỏ bà là ai? Xuyên qua những lời mà tôi đọc ở mớ giấy bà viết, phần lớn bằng tiếng Pháp, tôi thấy bà là người có cái “tâm đạo” lớn, hết sức sâu sắc.

Suốt thời gian đó tôi không thấy có sự cay cú mà là sự khóc lóc, cầu nguyện để không phải xin cho mình, bởi vì bà sống cuộc đời như là ẩn tu, có đôi khi một ngày bà chỉ uống nước thôi, cái này ông Thứ ông làm chứng được, bà chỉ cầu nguyện xin làm sao để Ơn Trên thương đến dân Việt Nam, trả lại cho dân Việt Nam cái công lý để nó có thể đi tới hòa bình. Không có công lý cho dân tộc Việt Nam, chúng ta không có hòa bình. Dân tộc Việt Nam bị coi như một công cụ từ đời Tây thuộc rồi Mỹ thuộc, chỉ bắt đầu khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa xây dựng một cái xã hội, trong đó có sự công bằng, nhân vị con người được tôn trọng rõ rệt trong đời sống quốc gia. Người phụ nữ được kính trọng, nên anh thấy một bước rất dài, từ thời Pháp thuộc tới thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa, bao nhiêu người phụ nữ, không riêng gì chỉ làm bác sĩ, giáo sư mà vào quốc hội, làm nghị sĩ, dân biểu, làm những việc lớn trong xã hội. Con đường đó bị đứt đoạn vì cuộc đảo chánh năm 1963, thành ra nhân dịp này tôi nhớ lại vài đặc điểm đó của bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu, nhưng đặc biệt tôi nhấn mạnh đến con người đó, có thể khó hiểu đối với một vài người, nhưng đối với tôi, giọng nói của bà vì có pha lẫn Bắc, Trung, Nam, bà là con của gia đình, người cha là Bắc, mẹ là Trung, sống ở trong Nam, lớn lên ở trong Nam, đi học trường Pháp cho nên ngôn ngữ có thể có những cái bất lợi, người ta nghe nó có hơi trái tai; cách trình bày làm cho người ta có thể nói là mất cảm tình. Hoặc là vì không có đủ thời giờ để giáo dục người phụ nữ Việt Nam, giáo dục người dân Việt Nam về quyền lợi thiết yếu của người phụ nữ và của dân Việt Nam, cho nên người ta hiểu lầm.

Nói một cách chung, những công trình mà TT. Ngô Đình Diệm và Đệ Nhất Cộng Hòa cố gắng thành đạt, dĩ nhiên có sự thiếu sót gây nên sự đổ vỡ. Có dịp nào khác chúng ta sẽ nói nhiều hơn. Hôm nay qua câu hỏi của anh, tôi chỉ đưa ra một vài khía cạnh như vậy.
Viễn Đông: Xin chân thành cám ơn Nghị Sĩ Lê Châu Lộc, hẹn gặp ông vào dịp khác.

NS. Lê Châu Lộc: Thân chào các anh chị em trong tòa soạn và độc giả nhật báo Viễn Đông.

Tin hay không tin Pakistan?

Trước khi rút lui đem theo thi hài ông Osama bin Laden, nhóm biệt kích Hải Quân Mỹ SEAL đã đốt và phá hủy hoàn toàn chiếc trực thăng bị bị hư trong phút đầu cuộc tấn công

Tại sao họ không để chiếc máy bay đó, mai mốt sẽ xin chính phủ Pakistan cho đến sửa chữa, rồi bay về?

Bởi vì người ta không biết chắc số phận chiếc trực thăng đó sẽ ra sao. Chính phủ Pakistan có thể sẽ phản đối Mỹ kịch liệt về vụ xâm nhập lãnh thổ của họ, làm mất mặt cả nhà nước lẫn quân đội. Họ sẽ không cho đem chiếc máy bay đó đi nữa.

Nếu vậy tại sao không để nó cho Pakistan dùng, như hàng ngàn trực thăng khác mà Mỹ đã viện trợ cho quân đội nước này chống khủng bố? Vì người Mỹ không thể tin được chính phủ và quân đội Pakistan sẽ làm gì với những vũ khí và trang bị bí mật trên chiếc máy bay đặc biệt này. Chỉ một lớp kim loại tổng hợp tráng trên máy bay để “tàng hình,” tránh không cho máy radar của Pakistan “nhìn thấy,” cũng phải tốn hàng trăm triệu mỹ kim mới nghiên cứu và tìm ra được. Chưa kể các thiết bị tối tân khác. Người ta không lo Pakistan sẽ dùng các vũ khí mới này chống lại Mỹ. Ðiều đáng lo là sẽ có rất nhiều nước muốn mua các mảnh vụn của chiếc trực thăng này để đem về nghiên cứu lại và bắt chước. Trong số đó có Trung Quốc, một nước đồng minh với Pakistan suốt trong thời Chiến Tranh Lạnh cho đến ngày nay. Không ai quên được vụ tiết lộ năm 2004, cho thấy nhà bác học hàng đầu về bom hạt nhân Abdul Qadeer Khan của Pakistan đã từng đi bán kỹ thuật nguyên tử cho các nước khác, trong đó có Lybia của ông Gadhafi. Tất cả những người như Saddam Hussein (Iraq), Mahmoud Ahmadinejad (Iran), hay Kim Chính Nhật (Kim Jong Il, Bắc Hàn) đều không nguy hiểm cho an ninh nước Mỹ bằng nhà bác học nguyên tử này. Hiện nay ông vẫn sống ung dung ở trong nước.

Năm 1999, một máy bay F-117 của Mỹ bị rớt trong cuộc chiến Kosovo vào ngày 27 tháng 3. Ðó là chiếc “máy bay tàng hình” đầu tiên của Mỹ gặp nạn. Ngay sau đó, các chuyên gia Nga và Trung Quốc, chưa kể các nước khác, đã bay đến Serbia để mua, mỗi nước một ít mảnh. Các chuyên viên Trung Quốc đã đến tận nơi máy bay rớt, đi dạm mua với giá rất cao các mảnh vụn mà các nhà nông trong vùng đó lượm được. Vụ này liên can đến vụ Mỹ “đánh bom lầm” vào tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Beograde vào ngày 7 tháng 5 năm 1999. Năm ngoái, Không Quân Trung Quốc đã biểu diễn máy bay tàng hình của họ cho ông bộ trưởng Quốc phòng Mỹ chứng kiến. Trong 12 năm qua, các kỹ thuật “tàng hình” của không lực Mỹ chắc đã tiến hơn trước rất nhiều. Có gì bảo đảm Pakistan không đem bán các dấu tích kỹ thuật mới trên chiếc trực thăng cho những nước trả giá cao nhất?

Pakistan vẫn là một đồng minh của Mỹ từ khi lập quốc năm 1947. Khi Ấn Ðộ ngả về phía Nga Xô, Mỹ với Pakistan càng thân thiết. Nhờ đứng giữa Mỹ với Trung Quốc cho nên chính phủ Pakistan đã làm môi giới đưa đến cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Nixon và Mao Trạch Ðông vào năm 1972. Nhưng trong việc ngoại giao, mỗi nước vẫn phải lo cho quyền lợi của mình, chứ không ai nhắm mắt chịu làm “đồng chí-anh em” vô điều kiện.

Vì vậy, các lãnh tụ hai nước và những nhà ngoại giao của họ luôn luôn phải đóng trò. Rất thân thiện, rất kính cẩn, nhưng vẫn ngầm đá nhau tận tình. Giám đốc CIA đã nói thẳng rằng họ không hề cho một người nào trong chính phủ Pakistan biết Mỹ đang theo dõi ngôi nhà nghi có bin Laden ở, vì sợ tin tức bị tiết lộ. Nói cách khác: Mỹ không tin Pakistan.

Tất nhiên, chính phủ Pakistan không hề biết trước cuộc đột kích, xuất phát từ Afghanistan. Vụ tấn công này đã được ông Barack Obama báo trước, trong khi đang chuẩn bị tranh cử tổng thống, năm 2007; lúc đó không ai tin chuyện sẽ thành sự thật. Sau khi đem máy bay trực thăng xâm nhập một nước đồng minh mà không báo trước, bắn, giết mấy người rồi đem 2 xác chết đi, tới nay chính phủ Mỹ vẫn chưa chính thức xin lỗi chính quyền Pakistan và dân chúng nước này. Chắc chờ đến một ngày bà Hilarry Clinton đến xứ này sẽ xin tạ lỗi. Ông Obama có thể đã xin lỗi Tổng Thống Asif Ali Zardari trong điện thoại, sau khi quân Mỹ rút đi an toàn, nhưng Pakistan đã mất mặt! Phe đối lập đã lên án chính phủ và hô hào dân biểu tình; nhưng chính phủ Pakistan vẫn phải “ngậm bồ hòn làm ngọt.”

Ngay ngày hôm sau vụ đột kích, Tổng Thống Pakistan Ali Zardari đã viết trên nhật báo Washington Post, tỏ ý hoan hỉ về việc trừ được ông bin Laden, và kể công chính quyền Pakistan đã giúp Mỹ trong việc tìm kiếm thủ lãnh al Qaeda này trong 10 năm qua. Thủ Tướng Yusuf Raza Gilani thì thanh minh rằng họ không biết nơi bin Laden ở cũng bình thường, vì tình báo cả thế giới từ lâu đã không biết! Bộ Ngoại Giao Pakistan chỉ lên tiếng cảnh cáo Mỹ một cách yếu ớt, rằng “lần sau không được làm như thế nữa!” Chắc sẽ không có lần sau, vì chỉ có một người tên là Osama bin Laden! Báo Dawn ở Pakistan đã coi biến cố vừa qua là một điều sỉ nhục, không khác gì vụ chính quyền Pakistan phải thú nhận đã để cho nhà bác học Abdul Qadeer Khan đi rao bán các kỹ thuật nguyên tử!

Chính phủ Mỹ cũng đồng thanh hát cùng một điệu như ông Ali Zardari. Từ ông Giám Ðốc CIA Leon Panetta, đến bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton, và các phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, đều lên tiếng công nhận Pakistan đã giúp đỡ họ trong công việc chống khủng bố và truy tầm, rồi bắt các thủ lãnh hàng thứ nhì của al Qaeda. Pakistan đã giúp CIA bắt được Ramzi bin al-Shibh trong một cao ốc ở Karachi, bắt Abu Zubaydah tại Faisalbad, và Kalid Sheikh Mohammed, người chỉ huy vụ đánh 11 tháng 9; rồi trao cho Mỹ khai thác. Chính một trong các người này, sau khi bị “nhận nước” vẫn từ chối không khai; nhưng sau khi được phỏng vấn bình thường, đã xác nhận danh tính một “người đưa thư” của bin Laden; mà nhờ đó CIA đã theo dõi anh ta, tìm đến nơi nghi rằng bin Laden trú ngụ. Chính quyền Obama công nhận Pakistan đã bắt giúp Mỹ nhiều tay khủng bố hơn tất cả các quốc gia khác.

Vậy Pakistan là bạn hay là thù? Hay chỉ là bạn với Mỹ nếu có lợi, và sẽ bỏ rơi Mỹ nếu bất lợi? Có thể nói, Pakistan đóng cả hai, hoặc ba vai trò đó. Chính quyền Pakistan cần số tiền Mỹ viện trợ mỗi năm. Họ cũng giúp Mỹ chống al-Qaeda, vì chính nhóm này đã tổ chức nhiều vụ ném bom trong nước họ. Nhưng trong chính quyền, nhất là trong quân đội, có nhiều người có cảm tình với tổ chức Taliban ở Afghanistan. Chính tình báo quân đội Pakistan, viết tắt là ISI, đã dựng lên Taliban, nuôi nhóm này để chống quân Nga trong thập niên 1980, với sự hỗ trợ tiền và vũ khí của CIA và quân đội Mỹ. Tuy nhiên, trong năm qua quân đội Pakistan cũng tấn công đánh đuổi một nhóm quân Taliban, họ từ Afghanistan chạy sang trú ẩn vùng thung lũng Swat, sau khi nhóm này đem thi hành các chính sách cực đoan về tôn giáo đối với dân chúng Pakistan ở đó.

Nhóm Taliban còn liên hệ với chính quyền và quân đội Pakistan vì lý do sắc tộc. Taliban thuộc giống dân Pashtun, chiếm đa số ở Afghanistan; nhưng số người thuộc sắc dân Pashtun ở trong nước Pakistan còn đông hơn ở Afghanistan! Chính phủ Pakistan khó thi hành một chính sách “không tình không nghĩa” với những người thuộc giống Pashtun!

Ông Husain Haqqani, đại sứ Pakistan ở Washington đã viết một cuốn sách về hai nền tảng của nước Pakistan từ ngày lập quốc. Một là quốc gia này được thành lập trên căn bản tôn giáo. Chính vì muốn giữ đạo nên những người Hồi Giáo đã tụ tập thành một quốc gia sau khi được Anh quốc trao trả độc lập. Nền tảng thứ hai là quân đội. Vì lúc nào cũng lo đề phòng với Ấn Ðộ, và muốn “giải phóng” miền Kashmir ra khỏi Liên Bang Ấn Ðộ, cho nên trong đời sống chính trị của Pakistan, quân đội và các tướng lãnh đóng một vai trò quan trọng. Mà trong quân đội thì tổ chức tình báo ISI đóng một vai trò then chốt.

Cả hai nền tảng đó khiến cho các chính quyền Pakistan, từ thời quân phiệt đến nay, luôn luôn đi dây. Một mặt họ muốn giúp Mỹ chống khủng bố, mà chính nước họ cũng chịu cùng hoạn nạn. Mặt khác, họ không muốn mất sự ủng hộ của giới lãnh đạo tôn giáo, kể cả những người quá khích, nhất là khi nhiều người trong quân đội có cảm tình với nhóm Taliban. Cuốn sách của Ðại Sứ Husain Haqqani, xuất bản năm 2005 khi ông còn là một người đối lập chống chính phủ của Tướng Musharraf, đã kết luận rằng chỉ khi nào Pakistan thực sự dân chủ hóa thì vấn đề chống khủng bố ở nước này mới giải quyết được.

Vụ hạ sát Osama bin Laden khiến nhiều người Mỹ đặt câu hỏi: Chính phủ Pakistan có chứa chấp Osama bin Laden hay không? Tại sao chính phủ Mỹ đã viện trợ cho Pakistan 2 tỷ đô la một năm để tiễu trừ khủng bố, để truy lùng thủ lãnh nhóm al-Qaeda, mà họ lại phản bội như vậy? Rồi bây giờ tại sao Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ?

Một sự thật không thể chối cãi được là nước Mỹ vẫn cần quân đội Pakistan giúp để tiêu trừ những nhóm khủng bố trong hai nước, Pakistan và Afghanistan. Muốn giảm bớt số tiền viện trợ 2 tỷ Mỹ kim một năm, câu hỏi mà nước Mỹ nên đặt ra là có nên tiếp tục cuộc chiến tranh ở Afghanistan hay không? Có người nói: Quân đội Mỹ và NATO tiến vào nước này để truy bắt bin Laden và tiêu diệt nhóm al-Qaeda. Nay mục tiêu thứ nhất đã đạt được, bin Laden đã chết. Còn mục tiêu thứ hai sẽ là một vấn đề lâu dài, mà chiến tranh không phải là giải pháp duy nhất cũng như không phải là tốt nhất. Nước Mỹ đã chi tiêu 450 tỷ đô la trong 10 năm qua ở Afghanistan. Sẽ tiếp tục tiêu với một tốc độ cao hơn, vì quân số Mỹ ở đó đã tăng, từ trung bình 40,000 người lên thành 80,000, và trong năm 2011 có thể còn tăng thêm nữa.

Nước Mỹ không thể từ bỏ Pakistan nếu còn muốn giúp chính phủ Afghanistan. Cứ để yên, Pakistan sẽ làm ngơ cho quân Taliban tấn công và lật đổ chính quyền của Tổng Thống Karzai, và tái lập một chế độ thần quyền ở xứ này. Có nhà chính trị nào ở Mỹ dám đánh cá rằng dù Afghanistan lọt trở lại dưới một chính quyền Taliban thì phong trào khủng bố của những người Hồi Giáo quá khích cũng không nguy hiểm hơn hay không? Cho tới nay, chưa có ai cả. Cho nên số phận hai nước Mỹ và Pakistan vẫn còn bị ràng buộc không thể bỏ nhau được!


Ngô Nhân Dụng

Mỹ cho điều tra về số nạn nhân sau cuộc biểu tình của người Hmong tại Việt Nam

Thứ sáu 06 Tháng Năm 2011
Mỹ cho điều tra về số nạn nhân sau cuộc biểu tình của người Hmong tại Việt Nam

Phụ nữ Hmong đi chợ Cốc Lý, Sapa (Ảnh: Brian Snelson / en.wikipedia.com)
Phụ nữ Hmong đi chợ Cốc Lý, Sapa (Ảnh: Brian Snelson / en.wikipedia.com)
RFI
Hôm nay, 06/05/2011, theo hãng tin Bloomberg, đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam cho biết sẽ cho điều tra về thông tin chưa được kiểm chứng liên quan đến số nạn nhân thiệt mạng sau cuộc biểu tình của hàng ngàn người Hmong, xẩy ra cách nay vài ngày, tại tỉnh Điện Biên, một khu vực miền núi hẻo lánh, gần biên giới với Lào.
Thông cáo của đại sứ quán Mỹ kêu gọi « các bên liên quan tránh bạo động, giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp tại Việt Nam và các chuẩn mực về nhân quyền được quốc tế thừa nhận ». Đồng thời, đại sứ quán Hoa Kỳ đang cho « điều tra về những thông tin chưa được xác định về số người có thể thiệt mạng » trong cuộc biểu tình này.
AFP ngày hôm qua, dựa trên thông tin của một sĩ quan quân đội Việt Nam xin ẩn danh, cho biết là quân đội đã trấn áp hàng ngàn người Hmong biểu tình đòi mở rộng quyền tự trị và tự do tôn giáo. Trong khi đó, Trung tâm Phân tích Chính sách công, một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, có trụ sở tại Washington, nói rằng có 28 người thiệt mạng và hàng trăm người mất tích.
Đây là cuộc biểu tình thứ ba được biết đến của các sắc tộc thiểu số tại Việt Nam, trong thập niên vừa qua. Trong các năm 2001 và 2004, lực lượng an ninh Việt Nam đàn áp các cuộc biểu tình của người Thượng ở vùng Tây Nguyên phản đối chính quyền bóp nghẹt tự do tôn giáo và chiếm đoạt đất đai của họ. Để tránh bị truy lùng, trấn áp, có ít nhất 1000 người Thượng đã vượt biên, chủ yếu chạy sang Thái Lan lánh nạn.
Chiều tối ngày hôm qua, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga ra thông cáo khẳng định là tại tỉnh Điện Biên, có nhiều người Hmong đã tụ tập sau khi có tin đồn rằng một "sức mạnh siêu nhiên" sẽ đưa họ đến "miền đất hứa", ở đó, họ sẽ được ban sức khỏe, hạnh phúc và giàu sang. Vẫn theo thông cáo này thì lợi dụng tình hình này, một số phần tử xấu đã kích động đám đông đòi thành lập một vương quốc độc lập của người Hmong, làm mất trật tự, an ninh ở địa phương.
Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết thêm là chính quyền đã điều động cán bộ đến « thuyết phục » những người biểu tình không nên tin vào những vào những chuyện thần bí, lừa bịp, đồng thời cảnh báo rằng những lời kêu gọi thành lập một vương quốc độc lập mà một số người đưa ra, là trái với chính sách đoàn kết dân tộc của chính phủ.
Theo Reuters, một số nguồn tin nói rằng cuộc biểu tình của người Hmong bắt đầu từ ngày 30/04, còn giới ngoại giao tại Hà Nội khẳng định có từ 5000 đến 7000 người đã tham gia biểu tình và một trong số những người này đã tự xưng là vua.
Cũng trong ngày hôm nay, Việt Nam từ chối không cho các nhà báo ngoại quốc đến khu vực có cuộc biểu tình của người Hmong. Tại Việt Nam, các phóng viên nước ngoài phải xin phép khi đi tác nghiệp ngoài thủ đô Hà Nội.
Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, được AFP trích dẫn, đã đưa ra một số lý do không thể cho phép các nhà báo nước ngoài đến nơi có vụ biểu tình như thời tiết xấu và đường xá dẫn đến huyện Mường Nhé "rất tồi tệ", chính quyền địa phương đang bận rộn kỷ niệm chiến thắng Điện Biên phủ, ngày 07/05.

HÀ NỘI (TH) - Một số đông đảo dân chúng thuộc sắc tộc thiểu số Hmong ở huyện Mường Nhé, tỉnh Ðiện Biên đã biểu tình và bắt giữ một số cán bộ nhà nước từ mấy ngày qua.
Hình trực thăng bay lên Ðiện Biên do một trang mạng xã hội đăng tải trước khi bị đóng. (Hình: BBC)
Bản tin điện tử của đài BBC và một vài blogs đưa tin như vậy về tình hình ở tỉnh Ðiện Biên, một tỉnh phía Tây Bắc của Việt Nam giáp giới với Lào và Trung Quốc.
Theo một blogger thuật lại thì nhà cầm quyền trung ương ở Hà Nội đã gửi tới tăng cường cho lực lượng quân sự và an ninh địa phương 3 chiếc trực thăng và 200 quân, nhiều phần là Cảnh Sát Cơ Ðộng chống biểu tình, bạo động.
Vụ việc xảy ra ở Mường Nhé trong nhiều ngày nhưng truyền thông trong nước hoàn toàn im lặng. Cho đến sáng Thứ Năm, 5 tháng 5 (giờ Việt Nam), kể cả báo in lẫn báo điện tử tại Việt Nam đều không có tin tức.
Một nhà báo ở Sài Gòn cho báo Người Việt biết, ‘Mấy vụ này không mong gì truyền thông trong nước có thông tin. Báo chí sẽ được lệnh không được dây vào cho đến khi cấp trên cho phép.’
Không có một nguồn tin nào để kiểm chứng tình hình cũng như nguyên nhân dẫn đến biến cố nhưng theo tin đài BBC, số người tham dự vào cuộc biểu tình ở huyện Mường Nhé có thể tới 5,000 người.
BBC đã phỏng vấn ông Giàng A Dình, chủ tịch huyện Mường Nhé và được ông này xác nhận “có ngàn người” và lên án hành động này “chỉ gây ra đổ máu.”
Theo BBC: “Người Hmong cũng bắt giữ một số cán bộ địa phương khi đưa ra yêu sách đòi tự do tín ngưỡng và lập vương quốc riêng.”
Chuyện người Hmong ở Mường Nhé “đòi lập vương quốc tự trị” có đúng vậy không hay chỉ là lời của quan chức địa phương mở đường cho đàn áp thẳng tay?
Nhưng ít nhất, người ta có thể hiểu về một phong trào đòi tự do tín ngưỡng ở các sắc dân thiểu số. Họ xưa nay đã bị dồn nén, đàn áp, cấm đạo mà tin tức chỉ được lộ ra rất rải rác.
Quang cảnh THCS Nà Khoa, xã Nà Khoa, huyện Mường Nhé. (Hình: Ðỗ Việt Khoa)
Từ khẩu lệnh đến văn bản ép buộc người dân theo đạo Công Giáo và Tin Lành phải viết giấy cam kết bỏ đạo, các buổi lễ, sinh hoạt tôn giáo bị cấm cản gồm cả đánh đập, bắt bớ đã được tường thuật tuy không thấy hàng ngày nhưng cũng đủ hé ra cho thấy có đàn áp tôn giáo không ngừng nghỉ tại Việt Nam. Ðặc biệt là các khu vực xa xôi hẻo lánh.
Ngày 14 tháng 6, 2010, báo Công An Nhân Dân, cơ quan tuyên truyền của Bộ Công An có bài viết bôi bác “Người dân huyện Mường Nhé (Ðiện Biên) chờ được lên... trời.”
Bài viết của CAND nói: “Lực lượng công an phát hiện một số người lén lút tụ tập ở các bản giáp biên... Xác minh được biết hầu hết là những đối tượng bất mãn, tiêu cực, thường xuyên vắng nhà không có lý do... Có hiện tượng này là do một số đối tượng tung tin lừa gạt người nhẹ dạ là sắp có người về đón bay lên... giời.”
Bài báo này kêu gọi người dân địa phương “không mắc mưu kẻ xấu.”
Tỉnh Ðiện Biên, theo thống kê dân số có khoảng 491,000 người gồm 21 sắc tộc. Tỉ lệ sắc tộc Thái khoảng 38%, kế đến là người Hmong với 30% và người Kinh chỉ chiếm 20%, sau đó là các sắc dân khác như Tày, Dao, Giáy, Hà Nhì, Lào, Cống, Si La...
Từ Hà Nội tới thành phố Ðiện Biên là 474km nhưng tới huyện Mường Nhé phải khoảng 700km.
Huyện Mường Nhé là một trong những huyện nghèo nhất trong 62 huyện nghèo trên cả nước. Tỉ lệ hộ nghèo đói ở đây chiếm khoảng 66.18%.
Theo ông giáo Ðỗ Việt Khoa viết trên Blog của ông, hồi năm 2007, giáo viên ở Chua Ta huyện Mường Nhé đã lặn lội về Hà Nội tố cáo tham nhũng trong ngành giáo dục ở địa phương. Ông viết rằng: “Tiếc rằng giáo viên đó đã tốn công vô ích bởi cuộc chiến chống tham nhũng ở Chua Ta không bao giờ có kết quả.”
Trời rét, học sinh lớp 1, của một trường tiểu học ở huyện Mường Nhé, đi chân đất và ngồi trong những phòng học tranh tre tuềnh toàng. (Hình: Ðỗ Việt Khoa)
Các năm 2001 đến 2004, hàng chục ngàn các sắc tộc người Thượng biểu tỉnh ở các tỉnh Tây Nguyên đòi tự do tôn giáo và đất canh tác truyền thống đã bị đàn áp đẫm máu. Hàng ngàn người đã trốn vào rừng sâu hoặc chạy sang Cambodia xin tị nạn.
Nay mới chỉ có tin tức sơ khởi về sự chống đối nhà cầm quyền của người Hmong ở huyện Mường Nhé, tỉnh Ðiện Biên.
Thống kê dân số của nhà cầm quyền cho thấy huyện Mường Nhé có khoảng 52,600 người với khoảng 36,800 người thuộc sắc tộc Hmong.



Bài Xem Nhiều