We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 8 May 2011

Tài Liệu CIA: Thế Lực Chính Trị Của Phật Giáo Ấn Quang (HIGHPOINT)


Sở Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ
Tài Liệu Tình Báo Truyền Tin Bằng Đường Giây Nóng.
Tình trạng số: NLJ92465
Hồ sơ của thư viện MBJ số: 27
Hồ sơ lưu trữ của cơ quan MORI: 13197:13197
Ngày báo cáo: Ngày mồng 4 tháng Năm, 1967
Số truyền tin: 59488
Quốc Gia: Nam Việt Nam, Sài Gòn 4 19292

DOI

Chủ đề: Phẩm định về thế lực chính trị của nhóm Phật Giáo phản loạn trong thời điểm bầu cử hiện thời kéo dài đến hết tháng 9 năm 1967.

ACQ: Sài Gòn, Việt Nam.

Nguồn tài liệu:

1.3(a)(4) Phẩm định lực lượng Phật Giáo Cực Đoan Nổi Loạn và Phật Giáo Ôn Hòa,

ưu điểm và nhược điểm của họ, và kế hoạch cũng như chủ đích trong thời kỳ bầu cử sắp tớị Đây không phải là sự phán quyết chính thức của cơ quan hay phân bô.. Tài liệu tượng trưng cho sự nhận xét của nhân viên Sở Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ căn cứ theo dữ kiện mà họ thu thập được trong thời điểm của bản báo cáo nàỵ

1. Tóm lược:

Hiện tình của Phong Trào Phật Giáo Nổi Loạn chống chính quyền Quốc Gia đang ở vị thế ít đe dọa cho sự ổn định chính trị ở Miền Nam hơn là những thời điểm từ năm 1963 trở về trước. Chính quyền Quốc Gia Việt Nam có một hệ thống tình báo rất hữu hiệu trong các hoạt động của các tổ chức Phật Giáo Nổi Loạn, và sự kiểm soát chừng mực của chính quyền cũng được tính toán cẩn thận để kềm chế tình trạng mà không đi đến sự phản ứng quá đáng, có thể đưa đến hậu qủa là có thể xảy ra tình trạng xáo động nghiêm trọng.

Thích Trí Quang, ở thời điểm này, là lãnh tụ duy nhất của phe Loạn Đảng Phật Giáo Việt Nam và cũng là kẻ duy nhất có đủ cơ động và khả năng để khích động điều hành những cuộc phiến loạn chống Chính Quyền Quốc Giạ Cuọc tranh giành quyền lực cá nhân giữa phe Phật Giáo Nổi Loạn Qúa Khích và phe ôn hoà lãnh đạo bởi Thích Tâm Châu hình như vẫn còn tiếp tục. Theo sự phỏng đoán thì Thích Trí Quang có thể nắm trong tay khoảng 180,000 (một trăm tám mươi ngàn) lá phiếu trong khu vực mà hắn ta có quyền lực mạnh nhất ở Miền Trung và Sài Gòn. Hắn ta có khả năng khích động và xúi giục người khác và đệ tử của hắn hành động theo ý của y thi.. Thế nhưng, đệ tử của hắn nằm trong hệ thống Phật Giáo hình như trung thành và được rèn luyện và quy về một nhóm khoảng chừng 600 sư sãị Thích Tâm Châu được sự ủng hộ của các Phật Tử gốc Miền Bắc di cư, mặc dù đa số sự ủng hộ này có thể là do phản ứng chống lại hành vi thiên Cộng của bọn Phật Giáo Nổi Loạn Thích Trí Quang. Thích Tâm Châu yếu ớt về khả năng tổ chức và không có nhiều cán bô.. Dù cho đa số Phật Tử chống lại chính quyền quân sự hiện thời; thế nhưng có thể là cả Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang đều sẽ không chống lại cuộc bầu cử Tổng Thống và Quốc Hội sắp tới, mà họ sẽ âm thầm ủng hộ cuộc bầu cử và muốn thấy nhiều đệ tử của họ được trúng cử vào Quốc Hội.. Thích Tâm Châu có thể là sẽ ủng hộ Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Thích Trí Quang có thể là sẽ công bố ứng cử viên Trần Văn Hương. Trong khi đó, một điều không thể chối cãi được rằng có Việt Cộng nằm vùng trong hàng ngũ Phật Tử trên phương diện chính trị, thế nhưng chưa có bằng chứng cụ thể là Việt Cộng thống trị Phật Giáo hay là điều khiển Phật Giáo, mặc dù trên thực tế thì Phật Giáo Ấn Quang luôn luôn hoạt động có lợi cho Việt Cô.ng. Chính Quyền Quốc Gia đã tỏ ra nắm được thế chủ động trong tình thế chính trị ở Miền Nam, và Thích Trí Quang thì luôn luôn tiếp tục quấy nhiễu Chính Quyền Quốc Gia bất cứ khi nào hắn ta có cơ hội, và có những dấu hiệu cho thấy rằng các ông sư lãnh tụ Phật Giáo không chấp thuận cho các Phật Tử tiếp tục tranh đấu ngoài vòng Pháp Luật. Vào tháng Chín và tháng Mười, rất có thể là những phe Loạn Đảng Phật Giáo Ấn Quang cực đoan và nhóm ôn hoà sẽ tràn vào các địa điểm bầu cử thay vì các chướng ngại vật.

2. Hiện tình hoạt động của Phong Trào Phật Giáo Nổi Loạn chống chính quyền Quốc Gia đang ở vị thế ít đe dọa cho sự ổn định chính trị ở Miền Nam hơn là những thời điểm từ năm khoảng giữa 1963 trở về trước. Bởi vì sự thất bại về những yếu điểm sách lược quan trọng của pha Phật Tử Nổi Loạn là điểm chính đưa đến sự ổn định chính trị ở Miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, khi thời hạn nhiệm kỳ của chính phủ này từ từ hết hạn và bầu cử tổng thống và quốc hội sắp đến vào mùa thu năm 1967, Phật Giáo Nổi Loạn, bảo đảm là, sẽ quan sát sự kiểm tra phiếu rất tỉ mỷ.

3. Trong những năm qua, sự liên hệ giữa chính quyền Quốc Gia và nhóm Phật Giáo Nổi Loạn đã được mô tả bằng những cường độ thay đổi của áp lực chính trị và bạo động của nhóm loạn đảng Phật Giáo lên Chính Quyền Quốc Gia và sau này Chính Quyền Quốc Gia đã phản công lại với sự tính toán kỹ càng. Sách lược phản công của Chính Quyền Quốc Gia được điều nghiên trên tất cả mọi chiến thuật chống nổi loạn từ toàn lực tấn công bao gồm việc sử dụng quân đội thẳng tay đàn áp những cuộc nổi loạn từ trọng tâm vào mùa xuân 1966, đến hình thức nhân nhượng trong vài trường hợp khi biểu tình được chính quyền cho phép. Những mưu mẹo và thủ đoạn mà Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã dùng để xử sự với vấn đề Phật Giáo nổi loạn có thể mô tả như mực độ nhạy bén về chính trị mà ông đã thu đạt được kể từ khi nắm chính quyền. Chính Quyền Quốc Gia có một hệ thống tình báo làm việc rất hiệu qủa ở bên trong các hoạt động của phe luạn đảng Thích Trí Quang, và biện pháp kềm chế tình hình để không đi đến chỗ qúa đáng để có thể kết tủa thành sự rối loạn nghiêm tro.ng.

4. Sự điều khiển các phong trào Phật Giáo Nổi Loạn như là những áp lực chính trị vẫn còn tiếp tục nằm trong bàn tay của một nhóm rất ít tu sĩ Phật Giáo trong danh sách sau đây:

1) Thích Trí Quang.

2) Thích Huyền Quang.

3) Thích Thiện Hoạ

4) Thích Pháp Trí.

5) Thích Pháp Siêụ

6) Thích Trí Thủ.

7) Thích Thanh Vân.

8) Thích Minh Châụ

9) Thích Hộ Giác.

10) Thích Đôn Hậụ

11) Thích Thiện Minh.

12) Thích Nhất Hạnh.

Ngoại trừ Thích Nhất Hạnh ở ngoại quốc, chúng hội họp và bàn thảo vào tuần lễ đầu tiên của mỗi tháng và mỗi khi có chuyện cần thiết trong nội bô.. Cho đến khi Thích Thiện Minh bị thương bởi một kẻ tấn công vô tung tích vào năm 1966, hắn ta vẫn là kẻ có ảnh hưởng lớn nhất của đám “giặc thầy chùa”, được xếp vào hàng thứ nhì đứng sau Thích Trí Quang. Thích Trí Quang hoạt động trên mặt nổi và khuôn mặt của hắn rất quen thuộc với công chúng, còn Thích Thiện Minh thì hoạt động trong mặt chìm điều khiển tất cả các lực lượng phiến loạn và biểu tình gồm tất cả các hội Thanh Niên Phật Giáo và Gia Đình Phật Tử. Tình trạng sức khoẻ tệ hại của Thích Thiện Minh đã gây trở ngại cho các hoạt động của hắn ta, và đưa đến hậu quả là bị mất quyền thế và ảnh hưởng và để lại Thích Trí Quang phải gánh chịu trách nhiệm lãnh đạo các Phật Tử phiến loạn là một điều không tránh được. Với sự suy tàn của Thích Thiện Minh, không còn ai ngoài Thích Trí Quang có đủ khả năng để khích động và lãnh đạo các hoạt động chống Chính Quyền Quốc Gia hoặc là chỉ huy đám “giặc thầy chùa” một cách hiệu lực.

5) Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) là tổ chức Phật Giáo duy nhất hiện hữu từ ngày thành lập năm 1964 đã bị tổn thất vì sự chia rẽ nội bô.. Sự chia rẽ nội bộ này là hậu qủa của sự xung đột cá nhân mãnh liệt giữa Thích Trí Quang nhà sư người Miền Bắc Di Cư và cũng là Lãnh Tụ Phật Giáo Thích Tâm Châụ Vào cuối tháng Mười năm 1966, sự phân chia đã chính thức triển khai trong GHPGVNTH khi những Phật Tử theo phe ông Thích Trí Quang trong phiên họp “bỏ phiếu kín”của “Hội Đồng Lưỡng Viện lạ thường” của GHPGVNTN đã đề cử ông Thích Thiện Hoa làm Chủ Tịch Viện Phật Học thay thế ông Thích Tâm Châu, cũng kể từ giờ phút đó, Loạn Đảng Phật Giáo Việt Nam đã thiết lập trụ sở chính thức tại chùa Ấn Quang ở Sài Gòn trắng trợn phủ nhận sự thừa kế quyền Chủ Tịch Viện Phật Học của Thích Tâm Châụ Cũng trong thời gian đó, ông Thích Tâm Châu và các Phật Tử theo phe ông cũng phủ nhận tính cách hợp pháp của cuộc “bỏ phiếu kín” của phe ông Thích Trí Quang. Sự tranh giành quyền lực trong tổ chức Phật Giáo này chỉ chủ yếu giữa các Phật Tử trong giáo phái MAHAYANẠ Giáo phái THERAVADA là một giáo phái chiếm một phần ba số Phật Tử Việt Nam thì chỉ đứng bên ngoài quan sát, giáo phái Phật Giáo này bao gồm hàng ngàn các Phật Tử Việt Nam gốc Cam Bốt.

6) Sự khác biệt giữa Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang không thể nào hàn gắn được trong một tương lai ngắn ngủi, thế nhưng điều đó không có liên hệ gì đến việc các Phật Tử tự do hành xử theo Đạo Phật hay chủ nghiã của ho..
Thích Trí Quang tranh đấu cho quyền thế, với mục đích chủ yếu là thao túng quyền lực thế tục và tâm linh của một quốc gia chính trị thần quyền trong tất cả hay là một phần của Việt Nam gọi là “quốc giáo”, điều này đã nẩy sinh ra trong tài liệu ông ta viết đã chỉ ra sự bất khả phân định và quan hệ tự nhiên của khu vực địa lý, những người sống trong vùng và Phật Giáọ

Thích Tâm Châu hình như là quan tâm về uy tín nhiều hơn là quyền thế. Ông phấn đấu cho các hoạt động của Phật Giáo Thống Nhất trong vùng Đông Nam Á, mà ông muốn trở thành nhà lãnh đạo cao tro.ng. Chứng cớ cho thấy hoài bão của Thích Tâm Châu có thể được nhận ra trong các hoạt động cố vấn Tăng Thống của Hội Tăng Gìa Thế Giới, Đại Biểu Tối Cao của Hội Ái Hữu Phật Tử và thông tín viên thường xuyên của Lãnh Tụ Phật Giáo trong nhiều Quốc Gia ở Đông Nam Á.

7. Một ít điều căn bản cần thấu triệt để thẩm định, một cách đúng đắn, mực độ “hậu thuẫn quần chúng ủng hộ” ông Thích Tâm Châu hay Thích Trí Quang.

Quyền lực chính trị của Thích Trí Quang chủ yếu là ở Miền Trung và ở vùng Sài Gòn và có thể phát hiện được qua sự kêu gọi mỵ dân của ông ta, tài năng tổ chức và sự thao túng các thành phần sinh viên Đại Học ở Sài Gòn và những nơi khác. Theo sự phỏng định từ ba nguồn tin thì con số cử tri mà có thể bị ảnh hưởng bởi Thích Trí Quang trong cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới là khoảng chừng 180,000 (một trăm tám mươi ngàn) ngườị Thêm vào đó, con số đáng kể những thành phần Trung Lập và Thân Cộng có thể theo sự lãnh đạo của Thích Trí Quang. Thích Trí Quang đã chứng tỏ là có khả năng khích động và xúi giục những người khác, và những “phật tử” ủng hộ ông ta đã lộ ra thái độ trung thành một cách cuồng tín và hung bạo, và điều này chứng tỏ cần phải có sự trừng phạt tương xứng, theo sự phỏng đoán rằng có khoảng chừng 600 cán bộ trung kiên thuộc loại sư sãi cuồng tín luôn sẵn sang tuân theo mệnh lệnh của hắn ta một cách tuyệt đốị Yếu điểm chính của Thích Trí Quang là thái độ bất hòa hoãn và chủ ý khát vọng quyền lực, ý định của hắn là xóa bỏ các hệ phái Phật Giáo khác, và chống đối sự phát triển của đạo Công Giáọ (Đối với Thích Trí Quang thì Phật Giáo là “tôn giáo gốc” (Quốc Giáo) của người Việt Nam, còn Công Giáo là nhập cảng từ ngoại quốc do Thực Dân mang vàọ) Chủ đích “trung lập” và “chống Mỹ” của Thích Trí Quang cũng đưa đến hậu qủa là số đông các phần tử Quốc Gia Chống Cộng chán ghét và xa lánh.

8. Thích Tâm Châu được ủng hộ bởi thành phần Phật Giáo Di Cư và ông cũng được các phe nhóm Phật Tử khác ủng hộ một cách hiển nhiên, thế nhưng, đa số Phật Tử ủng hộ Thích Tâm Châu rất có thể là do phản ảnh của sự ghê tởm hành vi chính trị cực đoan quá khích trong qúa khứ của bọn phiến loạn Phật Tử hơn là sự thành khẩn và tích cực theo Thích Tâm Châụ Ông Thích Tâm Châu rất yếu kém về khả năng tổ chức và không có cán bộ nòng cốt có khả năng để để tổ chức và khích động quần chúng làm theo ý ông. Nhiều báo cáo chi biết ông Thích Tâm Châu bị mất nhiều phật tử vì họ phản đối việc ông lien kết với Chính Quyền Quốc Giạ Ông Thích Tâm Châu đã củng cố vững mạnh trong ciệc tranh đấu với Thích Trí Quang trong việc nắm quyền điều khiển Việt Nam Quốc Tự bởi tác động của Chính Quyền Quốc Gia đã lựa chọn đường lối rõ ràng là vô hiệu hóa Phong Trào Phật Giáo Nổi Loạn qua sự việc Chính Quyền Quốc Gia đã ủng hộ phe Phật Giáo ôn hoà.

9. Kể từ năm 1963, phe Phật Giáo Nổi Loạn đã kiên định và liên tục quấy nhiễu và đánh phá nền an ninh trật tự của Miền Nam Việt Nam, và hầu như họ không còn biết kính trọng cá nhân nào hay quan tâm đến vận mệnh Quốc Giạ Đa số Phật Tử hình như chống đối lại chính quyền Quân Sự hiện thờị Ngay cả phe Phật Giáo ôn hoà cũng không chấp nhận Chính Quyền Quân Sự mà không cần hạn chế điều kiện nào cả. Sự liên minh giữa Thích Tâm Châu và Chính Quyền Quân Sự chỉ hoàn toàn là do sự thuận lợi mà thôị Dù sao đi nữa, cả hai phe theo Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang đều không chống đối cuộc bầu cử dân sự vào mùa thu nàỵ Sự công khai tẩy chay cuộc bầu cử Hội Đồng Lập Hiến vào tháng 9 năm 1966 vừa qua đã mang đến hậu qủa là họ bị vô cùng mất mặt và không có thế đứng trong Quốc Hội, và lần này họ sẽ cố gắng sửa đổi lầm lẫn đó. Cả hai phe Phật Giáo ôn hòa và Phật Giái nổi loạn đều không công khai chấp nhận hay ủng hộ một ứng cử viên nào trong cuộc bầu cử Tổng Thống sắp tớị Thế nhưng có dấu hiệu cho thấy Thích Tâm Châu sẽ khuyến khích Phật Tử phe ông ta tham dự cuộc bầu sử và, ít ra là ngấm ngầm, ủng hộ Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ nếu ông ra tranh cử. Nhiều tin tình báo mới đây cho biết Thích Trí Quang cũng sẽ ủng hộ cuộc bầu cử toàn quốc. Trong buổi họp với các cố vấn chính trị của Thích Trí Quang ở chùa Ấn Quang vào thượng tuần tháng Tư, Thích Trí Quang đã quyết định công khai ủng hộ ông Trần Văn Hương làm ứng cử viên Tổng Thống, và ủng hộ một số ứng cử viên khác vào Lưỡng Viện Quốc Hội, mặc dù sự ủng hộ các ứng cử viên này không được công bố chính thức. Cũng từ các tin tình báo này cho biết trong buổi họp bí mật giữa ông Trần Văn Hương và người đại diện cho Thích Trí Quang và Thích Trí Quang đã điều đình với ông Trần Văn Hương để gài người của ông ta vào ghế Phó Tổng Thống trong Chính Quyền Quốc Giạ Trong buổi mật đàm này, ông Trần Văn Hương đã nhiều lần tán dương Thích Trí Quang và chỉ trích Thích Tâm Châụ Nhiều tin tình báo từ Miền Trung đã cho biết nhiều ứng cử viên là đệ tử của Thích Trí Quang.

10. Sự việc đáng nghi ngờ rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng như nhiều cơ quan khác ở Miền Nam đã bị Việt Cộng thâm nhập, mặc dùng không có bằng chứng cụ thể nào chứng minh rằng Phật Giáo bị thống trị hay điều khiển bởi Việt Cô.ng. Thế nhưng sự thật là thái độ của GHPGVNTN quấy phá nền an ninh trật tự Miền Nam trong thời chiến, và chứng cớ hiển nhiên là chúng tẩy chay cuộc bầu cử hiếp pháp từ tháng Bẩy cho đến tháng Chín năm 1966, thường là mọi việc đều rặp khuôn theo chính sách của Việt Cô.ng. Sự thật không thể chối cãi được là các phần tử Phật Giáo Nổi Loạn, trong những hành vi chống đối Chính Quyền Quốc Gia, nhiều khi chúng đứng hẳn về phía Cộng Sản càng làm làm gia tăng sự nghi ngờ là GHPGVHTH bị Việt Cộng thâm nhập và do Việt Cộng điều khiển. Những kẻ thường kêu gọi “trung lập và phản chiến” như cố vấn chính trị của Thích Trí Quang là Thích Nhất Hạnh đã cho thêm bằng chứng mạnh mẽ để không thể chối cãi rằng GHPGVNTH được điều khiển bởi Việt Cô.ng. Thêm vào đó nữa là một cố vấn chính trị khác của Thích Trí Quang là Thích Thiện Hoa ở Chùa Trà Vinh, Tỉnh Ninh Bình là vùng Việt Cộng kiểm soát. Mặc dùng sống ở Sài Gòn, nhưng Thích Thiện Hoa đi về Chùa Trà Vinh mỗi tháng, và tin tình báo cho biết Thích Thiện Hoa có người chuyển tin tức và đi đi về về giữa Ninh Bình và Sài Gòn luôn luôn. Thích Thiện Hoa là người mà ai cũng biết tiếng ông ta là bạn than của Nguyễn Hữu Thọ là Chủ Tịch của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài ra còn có nhiều chứng cớ từ lời khai của các cácn binh Việt Cộng bị bắt cho biết rằng GHPGVNTH là cơ sở để thâm nhập cán bộ vào hoạt động ở Miền Nam.

11. Miền Trung Việt Nam, hay nói rõ hơn là Huế, là trung tâm hoạt động chính trị của GHPGVNTH từ sau giữa năm 1963, và ngay cả đế giờ, mực độ và bản chất của của các hoạt động của Phật Giáo trong vùng này là biểu hiệu cho mực độ chống chính quyền Quốc Giạ Tuy rằng thỉnh thoảng ở Huế và những nơi khác vẫn còn những tin tức tình báo cho biết là có những mưu đồ chính trị của Phật Giáo, tình trạng hiện thời cho thấy rằng Chính Quyền Quốc Gia đang nắm giữ được tình thế ở Huế và những nơi khác. Lẽ dĩ nhiên là Thích Trí Quang vẫn luôn luôn là cái gai nhọn chống đối Chính Quyền Quốc Gia, và bất cứ khi nào có cơ hội là hắn sẽ không ngần ngại làm xấu hổ Chính Quyền Quốc Giạ Thế nhưng cũng có những lãnh tụ Phật Giáo khác, dù là đang hoạt động chính trị hiện thời hay trong qúa khứ, đã bày tỏ thái độ là không nên đấu tranh nổi loạn ngoài vòng pháp luật. Ngày bầu cử gần kề, nhưng không có dấu hiệu hòa giải giữa hai phe Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang. Có thể là Chính Quyền Quốc Gia sẽ tiếp tục ổn định được tình thế, và sẽ có nhiều Phật Tử tham dự vào thể chế dân chủ và cũng sẽ có nhiều Phật Tử tham dự vào Quốc Hội để giải quyết vấn đề của ho.. Vào thời gian bầu cử tháng 9 và tháng 10 năm 1967, hy vọng là cả hai phe Phật Giáo sẽ tràn vào phòng phiếu để bầu cử chứ không phải để quấy nhiễu Chính Quyền.

12. Bản báo cáo này gồm tin tức phối hợp với Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn.

13. Tin tình báo State USMACV (Thống Tướng Westmoreland, Chỉ Huy Trưởng, J-2) Cinpac (Đô Đốc Sharp và Polad).

Trần Tú Uyên phiên dịch từ tài liệu của USMACV.

Hiệp thông cầu nguyện cho anh chị em giáo dân Mường Nhé – Điện Biên

LTCG (08.05.2011)

Có thể thấy rằng, những phản kháng ôn hòa vừa qua của cộng đồng H’Mong Mường Nhé là hệ quả tất yếu của một chính sách đàn áp tôn giáo đã trở thành hệ thống của chính quyền cộng sản vốn coi tôn giáo như thù nghịch, đòi hỏi chính quyền phải có một chính sách thông thoáng hơn về tự do tôn giáo đối với anh chị em các sắc tộc.

Những ngày qua, sự kiện đồng bào H’Mong tụ tập ôn hòa tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đang là tâm điểm của công luận.

Truyền thông của Nhà nước Việt Nam cũng đã xác nhận thông tin này. Từ ngày 30/4 đã có khoảng 5000 người H’Mong tụ tập đòi quyền tự do tôn giáo và quyền sống.

Chính quyền Việt Nam đã huy động một lực lượng hùng hậu gồm cả máy bay trực thăng của quân đội tham gia vào việc dẹp biểu tình và hiện nay tình hình đã có phần lắng dịu.

Bản nội quy đặt trên đường vào huyện Mường Nhé

Thông tin mới nhất cho biết đã có 49 người H’Mong chết và rất nhiều người bị bắt và mất tích.

Mường Nhé là một huyện biên giới giáp gianh với Lào và Trung Quốc và là huyện nghèo nhất nước. Từ khoảng 30 năm nay, giống như huyện Mường Lát – một huyện nghèo nhất của tỉnh Thanh Hóa, Mường Nhé đón tiếp một lượng di dân ồ ạt từ một số tỉnh Tây Bắc tới sinh sống mà nguyên nhân là do nghèo đói và nguyên nhân chính yếu là do bị tước đoạt quyền tự do tôn giáo.

Theo thông tin nhận được, trong số những người bị bắt tại Mường Nhé vừa qua, ngoài những anh chị em giáo dân Tin Lành, cũng có một số tín hữu Công giáo đã bị bắt.

Giáo dân Mường Nhé trong một lần duy nhất đón linh mục tới thăm

Hiện nay, tại Mường Nhé, có 4 cộng đoàn tín hữu Công giáo đang âm thầm sinh hoạt tôn giáo, với tổng số hơn 1000 nhân danh. Trong số những người công giáo bị chính quyền bắt giữ có một số anh chị em thừa tác viên phục vụ trong các cộng đoàn.

Tại Việt Nam, địa danh Tây Bắc, mấy năm nay nổi tiếng không phải chỉ vì vẻ đẹp kỳ bí của nó, nhưng còn bởi Tây bắc vốn được mệnh danh là “vùng trắng tôn giáo”. Từ nhiều năm nay, tình trạng vi phạm tự do tôn giáo tại vùng đất này hết sức nghiêm trọng, khiến các cộng đoàn tín hữu, nhất là Tin Lành phải phiêu dạt khắp nơi.

Theo con số thống kê không đầy đủ, tại các tỉnh Tây bắc hiện nay, có hàng trăm ngàn anh chị em tín hữu Tin Lành thuộc các chi phái khác nhau đang sinh hoạt và phải chịu rất nhiều bách hại từ phía nhà cầm quyền. Các bản làng hầu như luôn có sự hiện diện của công an biên phòng, nhằm ngăn chặn sự có mặt của các nhà truyền giáo.

Đối với Giáo hội Công giáo, tình trạng giáo dân bị chính quyền bắt bớ, kìm kẹp, đe dọa vẫn thường xuyên xảy ra. Ngay tại Mường Nhé, các linh mục cũng mới chỉ tới được đôi lần như khách du lịch thăm viếng, động viên cộng đoàn. Nhiều cộng đoàn giáo dân người H’Mong tại các tỉnh như Sơn La, Lai Châu cũng ở vào tình trạng tương tự.

Có thể thấy rằng, những phản kháng ôn hòa vừa qua của cộng đồng H’Mong Mường Nhé là hệ quả tất yếu của một chính sách đàn áp tôn giáo đã trở thành hệ thống của chính quyền cộng sản vốn coi tôn giáo như thù nghịch, đòi hỏi chính quyền phải có một chính sách thông thoáng hơn về tự do tôn giáo đối với anh chị em các sắc tộc.

8/5/2011

Như Ý

Nguồn: Nữ Vương Công Lý

Ba Mươi tháng Tư: Ngày giải phóng miền Bắc



Chính quyền CSVN miền Bắc phải mất đến hơn 20 năm mới nhận thấy « phải đổi mới hay là chết » để trở về con đường tư bản, con đường kinh tế thị trường…”

Cuối tháng Năm 1975, một Trung Úy bộ đội được cấp trên phái đi công tác 15 ngày ở thành phố Hồ Chí Minh. Đây là giấy phép trá hình để anh bộ đội được đi thăm Sài Gòn vì anh Trung Úy bộ đội rất được lòng cấp trên. Đơn vị của anh đồn trú ở Phú Lợi, ngoại ô Bình Dương. Khi bước chân đến thủ đô Sài Gòn, anh choáng váng nhìn cảnh tượng nhộn nhịp nơi thành phố tráng lệ này. Xe ô-tô và xe gắn máy di chuyển tấp nập trên đường phố. Theo lời tuyên truyền của Đảng, bọn CIA đã bố trí những xe cộ này chạy trên đường phố để cho người ta có cảm tưởng Sài Gòn có đời sống sung túc trong khi đó, vẫn theo Đảng, dân Sài Gòn không có cơm để ăn và không có vải để mặc. Mấy cô gái Sài Gòn phải mặc váy ngắn (mini-jupes) vì thiếu vải. Những lời khẳng định lặp đi lặp lại trong nhiều năm của mấy ông ủy viên chính trị đã bị thực tế hàng ngày của dân chúng Sài Gòn phủ nhận một cách phũ phàng.

Anh bước vào tiệm bán xe đạp lớn ở Ngã Bảy để dọ hỏi cách thức mua bán. Người bán hàng vồn vã đón tiếp anh bộ đội. Anh thắc mắc về cụm từ « mua bán tự do » và sau khi nghe giải thích anh cảm thấy bàng hoàng hơn nữa. Ông bán hàng cho biết là ai cũng có thể mua những món hàng bày biện ở đây, chỉ có mỗi điều kiện là phải trả tiền mặt. Đối với anh bộ đội ông có thể bớt giá. Anh được mời ở lại dùng nước trà với ông chủ hàng. Danh giá của bộ đội vào lúc đó lên đến tột đỉnh, những ai có bộ đội ghé nhà là cả một vinh dự. Họ có thể tự hào với Ủy Ban Quân Quản khu vực là họ có một người cháu phục vụ trong Quân Đội Nhân Dân đến thăm.

Anh bộ đội ngày chiến thắng 30/04/1975 Hình: AFP

Anh bộ đội lần đầu tiên trong đời thưởng thức được mùi vị trà sen, một hương vị hiếm hoi ở miền Bắc mà một người công dân trung bình như bố của anh thường mơ ước uống được một ngụm. Được nuôi dưỡng trong sự bưng bít, anh không tin những lời nói vớ vẩn của những cụ già hoài tiếc tư bản chủ nghĩa « đang dãy chết ». Bây giờ sự thật đã được phơi bày trước mắt, anh bộ đội cảm thấy mình và tất cả thanh niên thế hệ của mình đã bị các cấp lãnh đạo đánh lừa. Đánh lừa có chủ đích và có hệ thống.

Tâm trạng của anh giống tâm trạng của một tình nhân bắt được quả tang người yêu mà anh hằng tin tưởng đã đánh lừa anh. Anh lang thang mấy ngày liên trên đường phố Sài Gòn – Chợ Lớn. Anh trở về về đơn vị để lập báo cáo với cấp trên. Ông đại tá chỉ huy yêu cầu anh làm tờ kiểm điểm cho có lệ.

Đến ngày đọc tờ kiểm điểm trước đông đủ cử tọa của tiểu đoàn, anh Trung úy bộ đội đọc những lời giáo huấn của Bác Hồ. Anh nhắc lại nguyên tắc ngăn cấm các đảng viên thụ hưởng những vui thú của cuộc đời trước khi người dân được phục vụ. Anh nói tiếp : « Mặc dù vậy, từ khi giải phóng miền Nam, tất cả những quan lớn của chính phủ sống một cuộc sống không thua kém các quan chức chính quyền cũ Sài Gòn. Trong quân đội, các sĩ quan cao cấp có xe ôtô riêng để chở vợ con đi chơi trên xa lộ Sài Gòn Biên Hòa, trong khi đó những bộ đội nghèo đói và các hạ sĩ quan quèn như chúng tôi chỉ có những chiếc xe đạp cũ kỹ để đi công tác như vào thời kháng chiến ». Ông ủy viên chính trị vội vàng cắt ngang lời của anh sĩ quan bộ đội và nhắc nhở đây là một buổi họp kiểm điểm về sự chậm trễ của anh. Anh bộ đội vẫn ngang nhiên tiếp tục nói: « Thế hệ của chúng tôi đã bị các cấp lãnh đạo Đảng đánh lừa một cách thô bỉ. Một khi bọn tư bản đã bị tiêu diệt, nhân dân chẳng hưởng được gì cả vì cấp lãnh đạo Đảng nhân danh nhân dân đã trở thành một giai cấp quý tộc mới, tóm gọn tất cả của cải và quyền hành vào trong tay mình. Họ trắng trợn bóc lột nhân dân hơn ai hết. Tôi thương tiếc những anh em đồng đồi của tôi và chỉ muốn chia sẻ số phận những anh em đã ngã gục nơi chiến trường để không nhìn thấy sự thật tủi nhục của ngày giải phóng. Ít nhất họ đã ra đi theo bác Hồ với niềm tin sắt son vào lý tưởng cách mạng ».
Ông ủy viên chính trị tức tối hăm doa trừng trị anh vì những lời lẽ phản cách mạng này. Anh bộ đội trả lời: « Tôi ý thức về hành động và lời nói của tôi. Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về những điều này. Tôi xin minh chứng ngay trước mắt quý vị ».

Anh bộ đội rút chốt hai quả lựu đạn M26 và đặt lên ngay trên bàn họp. Phòng họp nổ tung và tất cả mọi người hiện diện đều mất mạng. Vài ngày sau sự cố này, cơ quan hữu trách loan báo một tai nạn nhỏ đã xảy ra ở trại Phú Lợi trong lúc tập dượt. (*)

Hội chứng Athènes

Nước Việt Nam đã sang trang lịch sử vào ngày 30/04/1975. Nước Việt Nam đã được thống nhất, nhưng thống nhất trong đau đớn. Hàng trăm ngàn người bỏ nước ra đi và hàng triệu người phải tiếp tục chịu ách thống trị của đảng CSVN. Đảng CSVN gọi ngày này là ngày giải phóng miền Nam, là ngày chiến thắng, bên thua trận thì gọi là ngày Quốc Hận, coi như miền Nam đã mất. Nhưng đến nay thực tế chứng minh miền Nam đã thắng. Việt Nam Cộng Hòa đã thua trận, nhưng nhờ đó nhân dân toàn thể nước Việt Nam đã nhận chân ra được sự phá sản của chủ nghĩa Mácxít – Lêninnít.

Đế quốc La Mã vào thế kỷ thứ III trước Công Nguyên đã chiếm Hy Lạp và biến Hy lạp thành một tỉnh nhỏ của La Mã. Tuy nhiên sau khi chiếm được Hy Lạp, các vua chúa và giới quý tộc La Mã đã lần hồi bị lây nhiễm văn hóa của Hy Lạp. Từ thơ văn cho đến thể thao, từ các thần cho đến các nhân vật huyền thoại họ đều sao chép y hệt người Hy Lạp. Các học giả gọi sự kiện này là Hội chứng Athènes. Hội chứng này đang xảy ra tại Việt Nam.

Một bằng chứng khác của lịch sử cho thấy việc xâm chiếm và áp đặt quyền lực trên một nước chưa hẳn là một thắng lợi. Theo lịch sử nước Trung Hoa, nhà Hán, nhà Tùy, nhà Đường và Nhà Tống đã thay nhau trị vì Trung Quốc trong nhiều thế kỷ. Cho đến năm 1279, Vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên. Trong một giai đoạn ngắn, vào năm 1368, Chu Nguyên Chương lật đổ nhà Nguyên lập ra nhà Minh. Tới năm 1644, đến lượt người Mãn Châu lật đổ nhà Minh để lập nhà Thanh. Nhưng người Mông Nguyên và người Mãn Châu cuối cùng đã bị văn hóa nhà Hán đồng hóa. Cho đến nay khi nói đến văn hóa Trung Hoa, mọi người chỉ nói đến văn Hóa người Hán mà không đề cập đến văn hóa Mông Nguyên hay nhà Thanh. Xét theo chiều dài lịch sử, người Hán đã thắng nhờ văn hóa vượt trội của họ.

Văn hóa miền Nam với nền tảng tự do dân chủ, tuy là non nớt, đã hơn hẳn miền Bắc. Chính quyền CSVN miền Bắc phải mất đến hơn 20 năm mới nhận thấy « phải đổi mới hay là chết » để trở về con đường tư bản, con đường kinh tế thị trường.

Nhân dân miền Bắc sau ngày 30/4 đã chứng kiến tận mắt sự thật ở miền Nam. Những sự thật đó là gì?

Thứ nhất là miền Bắc sống nghèo khổ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Mặc dù cả hai bên đều giao chiến khốc liệt nhưng nhân dân miền Nam vẫn sống sung túc, không thiếu cơm ăn, không thiếu nhà ở. Chế độ tem phiếu ở miền Bắc đã gây nên những cảnh cười ra nước mắt. Chữ tắt XHCN biến thành cụm từ Xếp Hàng Cả Ngày. Văn hóa « xin – cho » bắt đầu từ đấy. Nhà nước là người ban phát những nhu yếu phẩm thực dùng hàng ngày cho nhân dân. Người đại diện nhà nước cắt xén phần ngon nhất cho gia đình và bạn bè phe cánh của mình. Phần còn lại cho dân thấp cổ bé miệng không có là bao và lúc nào cũng phải tìm cách van xin cầu cạnh để mà sống.

Thứ hai là nhân dân miền Bắc đã thoát ra khỏi vỏ bọc bưng bít lừa dối của tập đoàn lãnh đạo CSVN. Đảng Cộng Sản đã lừa dối nhân dân cả hai miền kêu gọi hy sinh để giải phóng miền Nam bị Mỹ đô hộ. Ngày 30/4 đã đạp đổ bức tường bưng bít này. Hầu hết những bộ đội miền Bắc đều sửng sốt và kinh ngạc trước sự phồn thịnh của miền Nam, đến độ trong những lúc tâm sự thân mật có người đã nói: « Nếu bọn đế quốc Mỹ trở lại, tôi sẽ vứt súng đi và dơ tay đầu hàng ngay ». Cảnh tượng anh Trung Úy bộ đội tự vẫn cho nổ lựu đạn để không muốn nhìn thấy sự thật đã phản ánh tâm trạng vô cùng đau khổ của những chiến sĩ thắng trận.

Thứ ba, nhân dân miền Bắc thấy thế nào là tự do. Sự kềm kẹp của Mỹ Ngụy sung sướng gấp trăn ngàn lần sự ưu ái của chủ nghĩa xã hội miền Bắc.

Thứ tư, nhân dân miền Bắc đã vứt bỏ văn hóa Mác xít. Và ngày nay họ đã cùng với dân miền Nam hùng hồn chứng minh tính chất ưu việt của tự do, dân chủ trong những sinh hoạt hàng ngày trong Tòa Án, trên mạng, trên đài. Những cố gắng bưng bít đã trở thành vô dụng. Những nhà tù đã trở nên những nơi rèn luyện chí khí của những người đấu tranh ôn hòa đòi tự do dân chủ cho dân tộc.

Không có ngày 30/4 có lẽ nhân dân miền Bắc sẽ vẫn phải sống như nhân dân Bắc Triều Tiên ngày nay. Cảnh tượng lạnh lùng của thành phố và thôn quê của Bắc Hàn gây nên sự sót xa của nhân dân Nam Hàn.

Năm 1940, Tướng De Gaulle trong lời kêu gọi nhân dân Pháp nổi dậy đánh đuổi Đức Quốc Xã, giành lại tổ quốc bị chiếm đóng đã để lại cho hậu thế một câu nói vẫn còn sức mạnh cho đến bây giờ: « Nước Pháp đã thua một trận đánh nhưng nước Pháp chưa thua cuộc chiến » (La France a perdu une bataille, mais la France n’a pas perdu la guerre!). Cuộc chiến không súng đạn đòi tự do dân chủ ở nước Việt Nam vẫn đang tiếp diễn. Và chắc chắn dân chủ sẽ thắng vì đó là tiến trình đi lên của nhân loại và tất cả các dân tộc trên thế giới. « Bánh xe của lịch sử » đang tiến trên con đường dân chủ đa nguyên. Làn sóng dân chủ thứ tư đang diễn ra tại các nước Bắc Phi và Trung Đông và sẽ tràn qua các nước châu Á như một cơn sóng Tsunami quét sạch những chế độ độc tài toàn trị.

Nguyễn Gia Thưởng


(*) Trích từ quyển Saigon à l’heure de Hanoï 1975 -1980 của tác giả Minh Tri, nhà xuất bản L’Harmattan, 2000.

© Thông Luận 2011

Lịch sử 80 năm của Đảng CSVN là Lịch sử Nói Dối


Khong ve VN neu con VC
"Con Troi, con Nuoc, con Non,
Viet Cong ma con, thi mat Que Huong".

Lịch sử 80 năm của Đảng CSVN là Lịch sử Nói Dối :

1-Nói dối kháng chiến để đưa cả nước vào tròng CS tệ hại hơn Thực dân Pháp có trình độ văn hoá văn minh nhân bản cao hơn Nga-Tầu.

2- Nói dối chống phong kiến, lật đổ thể chế quân chủ tân tiến đầy thiện tâm đầu tiên của VN do Bảo Đại/Trần Trọng Kim lãnh đạo, để biến cao trào canh tân dân tộc tự phát thành cao trào sắt thép quốc tế do Nga-Hoa chỉ đạo.

3-Nói dối chống Mỹ giải phóng miền Nam để nhuộm đỏ miền Nam trong chính sách bành trướng của CS quốc tế Nga sô Tầu Cộng.

4-Nói dối bình đẳng xã hội mà thật ra là tạo hận thù giai cấp, triệt hạ người hiền lương, tiêu diệt người tử tế để thay bằng bọn ác ôn côn đồ.

5-Nói dối vì hoà bình mà đưa thanh niên vào chiến tranh cách mạng giải phóng làm đổ máu hàng triệu thanh niên cho chủ nghĩa phi nhân bản phản nhân tính từ Nga-Tầu đưa vào VN.

6-Nói dối là xã hội chủ nghĩa mà thật ra là trí trá Trừ tuyệt tài sản quốc dân để Cộng vào túi tham nhũng bất lương thổ phỉ cướp nhà cướp đất của lương dân toàn quốc.

7- Nói dối là Thống nhất Nam Bắc mà thật ra là mưu đồ độc tài nhất thống triệt hạ truyền thống dân chủ tự do, đồng tôn, đồng tiến của dân tộc ở Miền Nam.

8- Nói dối chống nô lệ mà thật ra CSVN bị nô lệ từ đầu đến đuôi, từ tư tưởng ngoại lai Nga Sô Do Thái -Tầu đến vũ khí, đồng phục quân cán, khẩu phần, sách báo, múa hát tuyên truyền. Kế hoạch Stalin, tư tưởng Mao, đã làm cả 100 triệu người chết.

9- Nói dối phát triển kinh tế mà thật ra là thâu tóm tài sản quốc gia vào túi Đảng và tham nhũng, thị trường tự do dành riêng cho băng đảng theo định hướng tham tàn bất nghĩa, buôn lậu, chuyển ngân phi pháp…Hơn 90% dân đen sống trong nghèo đói dưới mức sống trung bình của nhân loại.

10- Nói dối là độc lập mà thật ra dâng đất dâng biển cho Bắc triều, quốc huy bắt chước Tầu, quân phục bắt chước Tầu, cờ đỏ bắt chước Nga sô-Tầu, nặn tượng lãnh tụ, ướp xác, theo Nga-Tầu-Bắc Hàn, ăn nhau phá thai theo Tầu, ngăn chặn văn minh điện tử theo chỉ thị Tầu…

*Tội ác lớn nhất trong lịch sử thế giới : Tội nói dối toàn dân và thế giới

*Tội ác lớn nhất trong Việt sử : lần đầu tiên trong 4000 năm lịch sử, CS gây nồi da xáo thịt, làm người Việt giết người Việt, có quy mô và hệ thống, từ hơn 200,000 người chết thập niên 1950 qua đấu tố và cải cách ruộng đất, tới hơn 5000 người bị chôn sống vào Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, hàng triệu người chết vì cuộc chiến Nam xâm, hàng triệu người di cư từ Bắc vào Nam, từ Nam đi khắp thế giới.

Dối người, dối Trời, dối Thần dối Thánh-CSVN chính là bọn quỷ đầu thai lên cõi người thời mạt pháp để ám hại dân Việt- Chúng cực đại hoá Ác tính và Thú tính, chúng là vong hồn của tàn chủng Hồ tôn (Chiêm Thành), là vong linh của Mông, Minh, Thanh gửi xác ở Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa…

Thời của chúng đã hết, kiếp của chúng đã tận, thế của chúng đã tàn, lũ thổ phỉ quốc tế, máu Nga sô và Hán du mục, đang gần kề Địa ngục với loài Ngạ quỷ súc sinh rồi vậy.

Lý Trần Quân

Giải Thể Đảng Cộng Sản Việt Nam - Tẩy Chay Bầu Cử Quốc Hội Cộng sản Việt Nam Ngày 22/05/2011

Giải Thể Đảng Cộng Sản Việt Nam - Tẩy Chay Bầu Cử Quốc Hội Cộng sản Việt Nam Ngày 22/05/2011

Region: GLOBAL
Target: Communist Government in Vietnam
Petition text:

Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu

Kính gởi quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,

Kính gởi các vị lãnh đạo các hội đoàn, tổ chức chính trị, đoàn thể của người Việt trong và ngoài nước tranh đấu cho tự do dân chủ Việt Nam

Kính gởi quý đồng bào, đồng hương, quý vị thân hào nhân sĩ

Cùng quý anh chị em sinh viên du học sinh

Thưa quý liệt vị,

Chúng tôi, Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu ủng hộ Ngày Hoàng Sa Toàn Cầu 2011 nhằm tôn vinh và tri ân những bậc tiền nhân đã dầy công dựng nước, giữ nước chống lại đoàn quân xâm lược phương Bắc. Đặc biệt hướng lòng tôn vinh và tri ân đến các chiến sĩ Hải quân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu chống lại hải quân Tầu cộng khi họ ngang nhiên xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa trước sự đồng lõa của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Đồng thời chúng tôi cũng hết lòng ủng hộ cuộc biểu tình của các Giảng viên các trường đại học, Học sinh, Sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng tại Huế cùng đông đảo dân chúng địa phương vào sáng sớm ngày chủ nhật 02/01/2011.

- Trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra ngày 19/01/1974 giữa Hải quân tộc Việt và Hải quân tộc Hán dưới quyền tổng chỉ huy của Hải quân Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và trực tiếp thi hành bởi Hải quân Đại tá Hà Văn Ngạc và Hải quân Trung tá Vũ Hữu San là trận hải chiến lớn nhất kể từ sau trận Bạch Đằng xảy ra vào ngày 08/04/1288 dưới sự chỉ huy của hai vị thiên tài quân sự của tộc Việt đó là Hoàng Đế Trần Nhân Tông và Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo. Cả hai trận 1288 và 1974 đều là những trận thủy chiến lẫy lừng của thiên niên kỷ và thế kỷ.

- Từ Nhà Chung Tổng Giáo phận Huế, Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã ra Lời Kêu Gọi tiến hành giải thể đảng Cộng sản Việt Nam để thiết lập chế độ tự do dân chủ. Lời mở đầu của văn bản, Linh Mục Nguyễn Văn Lý nói: " THỜI CƠ ĐÃ CHÍN MUỒI" và lấy ngày 01 tháng 01 năm 2011 là ngày Hòa Bình Việt Nam và Thế Giới.

Cho dù bản thân của Linh mục Nguyễn Văn Lý là một tù nhân lương tâm, nhưng Linh mục cũng không quản ngại điều đó mà phát lời kêu gọi toàn dân Việt Nam hãy từng bước đấu tranh một cách ôn hòa để đòi tự do, dân chủ cho đất nước. Đó là hành động của bậc chân tu bất khuất trước cường quyền bạo lực. Đồng thời Linh mục Nguyễn Văn Lý đã hướng lời kêu gọi này đến bộ đội, công an, cán bộ các cấp kêu gọi họ hãy trở về với hàng ngủ dân tộc cùng nhau chiến đấu chống đế quốc Tầu đỏ xâm lược.

- Cuộc biểu tình bỏ túi, sơ thảo ngày 02/01/2011 ở Huế đã quy tụ khoảng từ 300 đến 350 người (nhưng đã làm công an hoảng hốt, thổi phồng lên có đến hơn 3000 người tham dự) thuộc đủ mọi thành phần. Họ đã gương cao các khẩu hiệu CHỐNG GIẶC TÀU, và ĐÒI GIẢI THỂ Đảng Cộng Sản Việt Nam, THIẾT LẬP CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG. Đoàn người đã kéo nhau đi bộ đến trước Trụ sở UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế bên bờ Nam sông Hương, ngay gần cầu Phú Xuân và trước Kỳ đài Phú Văn Lâu trước Kinh Thành Huế. Đây là điềm lành, một tín hiệu tốt được phát đi vào đầu năm mới cho phong trào dân chủ trong năm 2011.

Để phát huy tinh thần nêu trên, Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu nhận định:

Điều 1: Đảng cộng sản Việt Nam kể từ khi thành lập vào năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Hồ chí minh cho đến ngày hôm nay đã gieo không biết bao nhiêu đau thương chết chóc, tai họa cho tộc Việt. Như bán đứng cụ Phan Bội Châu cho thực dân Pháp; Tiêu diệt các đảng phái quốc gia; Mượn màu áo dân tộc cướp công kháng chiến chống Pháp của dân Việt năm 1945; Ký hòa ước sơ bộ 06/03/1946 để rước thực dân Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam; Cải cách ruộng đất năm 1955-1956; Khởi sự tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Hòa năm 1960; đến Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; Hải chiến Hoàng Sa 1974; Cưỡng chiếm miền Nam ngày 30/04/1975; Tập trung trả thù, cải tạo các thành phần quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa; Hủy diệt văn hóa Việt; Đổi tiền; Cải tạo tư sản; Chiến tranh biên giới Việt Trung 1979; Tấn chiếm nước Cao Miên; Cuộc chiến núi Đất 1985; Hải chiến Trường sa với quân Tầu cộng 1988; Hiến đất, hiến biển, cho Tầu cộng qua các hiệp định biên giới, hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ v.v...bao nhiêu trọng tội đã gây ra đối với tộc Việt, đảng Cộng sản Việt Nam đã không còn tư cách lãnh đạo đất nước, quá khứ cũng như hiện tại và tương lai.

Điều 2: Nguyễn Tấn Dũng với tư cách thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Chí Vịnh đã tạo cơ hội thuận tiện cho đoàn quân xâm lược của đế quốc Tầu đỏ xâm nhập Tây nguyên qua dự án Boxit; cũng như làm ngơ cho các công ty của tàu Đài Loan và Hoa lục thuê mướn rừng đầu nguồn của 10 tỉnh thành Việt Nam. Đây là hình thức đảng cộng sản Việt Nam tiếp tay trực tiếp với đế quốc Tầu đỏ xâm lăng Việt Nam khi thời cơ thuận tiện, mà không phải tốn nhiều công sức, xương máu như quá khứ. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn tuyên bố: "cho Trung quốc khai thác Boxit Tây nguyên là chủ trương lớn của đảng cộng sản Việt Nam".

Điều 3: Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa do đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương và thực hiện, thực ra là sự sao chép từ nền kinh tế của nước Tầu đỏ. Thực chất của nền kinh tế này đã và đang chứng tỏ sự thất bại thảm hại khi họ lấy khu vực quốc doanh làm đầu tàu, cụ thể là vụ khủng hoảng tài chánh của công ty Vinashin có liên hệ trực tiếp đến thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Sự thất bại này, đến từ nguyên nhân tham nhũng, lạm quyền của các nhóm cán bộ cầm đầu. Hậu quả của vụ Vinashin sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam bị trì trệ lâu dài.


Điều 4: Để hợp thức hóa sự thần phục của đảng Cộng sản Việt Nam (viết tắt csvn) đối với đế quốc Tầu đỏ trên mặt văn hóa, lịch sử, đảng csvn đã tổ chức lễ lớn mừng quốc khánh Tầu cộng ngày 1-10/10/2010 dưới tiêu đề "Mừng Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long".

Điều 5: Tổ chức đại hội đảng csvn lần thứ XI là sự hợp thức hóa thuần phục về mặt chính trị đối với đế quốc Tầu đỏ qua việc đưa Nguyễn Phú Trọng một quan sai, thái thú thân Tầu lên nắm trách nhiệm Tổng bí thư đảng. Đây là sự áp đặt một cách trắng trợn của đế quốc Tầu đỏ lên trên tình hình chính trị Việt Nam.

Điều 6: Những điều vừa nêu trên cho thấy, bất cứ người Việt Nam nào, không phân biệt chánh kiến, xuất xứ, tôn giáo đều là nạn nhân của đảng Cộng sản Việt Nam và đế quốc Tầu đỏ.

Điều 7: Đảng cộng sản Việt Nam, thực chất đã hiện nguyên hình là quan thái thú đại diện cho quyền lợi của trung ương Bắc Kinh.

Do đó, chúng tôi kêu gọi mọi tầng lớp người Việt Nam ở trong và ngoài nước hãy tham gia đợt vận động TRƯNG CẦU Ý DÂN nhằm:

- Kêu gọi giải thể và tự giải thể đảng Cộng sản Việt Nam

- Phủ nhận độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam

- Phủ nhận việc hợp thức hóa Bắc thuộc qua đại hội đảng Cộng sản Việt Nam kỳ XI

- Phủ nhận sự áp đặt về chính trị của đế quốc Tầu đỏ qua Nguyễn phú Trọng

- Phủ nhận và tẩy Chay bầu cử quốc hội cộng sản Việt Nam ngày 22/05/2011

- Đòi trả tự do cho tất cả tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm.

- Đòi hỏi một cuộc tuyển cử tự do dưới sự giám sát của quốc tế với sự tham gia của các thành phần dân tộc khác nhau.

Đợt vận động này kéo dài cho đến kỳ bầu cử quốc hội Việt cộng năm 2011 và chia làm 3 cao điểm.

Cao điểm 1, ngày 12/01/2011, ngày họp đại hội đảng Cộng sản Việt Nam kỳ XI

Cao điểm 2, ngày 30/04/2011, ngày cả nước Việt Nam rơi vào vòng Bắc thuộc.

Cao điểm 3, ngày tổ chức bầu cử Quốc hội của quốc hội cộng sản Việt Nam ngày 22/05/2011

Cho dù cuộc TRƯNG CẦU Ý DÂN chỉ có giá trị tinh thần, biểu kiến, nhưng nó sẽ là chất xúc tác tốt cho các lực lượng dân chủ đối lập với đảng Cộng sản Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Hơn nữa kết quả của TRƯNG CẦU Ý DÂN này sẽ có giá trị lịch sử trong lịch sử cuộc chiến đấu của tộc Việt chống lại quân xâm lược Bắc phương trên phương diện truyền thông, mà ngày nay hiện thân là đế quốc Tầu đỏ.


Cuộc vận động được thực hiện nhằm ủng hộ tinh thần cho Ngày Hoàng Sa Toàn Cầu 2011 và Lời kêu gọi tiến hành giải thể đảng Cộng sản Việt Nam để thiết lập chế độ tự do dân chủ của Linh mục Nguyễn Văn Lý.


Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu được thành lập từ tháng 5 năm 2001. Nhóm Nghiên Cứu đã liên tục hoạt động trong sự độc lập với mục đích biên khảo, phổ biến lịch sử Việt Nam trên tinh thần khách quan, trung thực và khoa học. Với cương vị khiêm nhượng, chúng tôi nguyện làm viên gạch lót đường cho tộc Việt tiến lên.


Kính mong quý liệt vị vui lòng tiếp tay phổ biến và ký tên ủng hộ đông đảo văn bản TRƯNG CẦU Ý DÂN, đến tất cả tầng lớp người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Cũng như mong sự góp ý của tất cả quý vị.


Trước thềm năm mới Dương lịch và Tân Mão 2011, chúng tôi kính chúc quý vị và gia đình một năm mới vui vẻ, dồi dào sức khỏe và gặt hái thành công trên mọi lãnh vực.

Trân trọng cám ơn và kính chào chư liệt vị.

Âu Châu ngày 30 tháng 12 năm 2010


Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc, Tổng thư ký Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu.

Complete the fields below and click 'Sign'.

-------

Hãy giải trừ chế độ Việt gian Cộng sản buôn dân bán nước để chấm dứt những cảnh quá sức Nhục Quốc Thể như thế này:


VIDEO (18+ only): NHỮNG HÌNH ẢNH ĐAU LÒNG CỦA 100 CÔ GÁI VIỆT TRẦN TRUỒNG CHO ĐÀN ÔNG HÀN QUỐC TUYỂN VỢ-

Rủi ro chồng chất rủi ro!

Không đâu như ở Việt Nam, cái gì cũng nhiều rủi ro.

Thượng đẳng như kinh doanh chứng khoán (bài học xương máu của tui hihi… cười ra nước mắt), kinh doanh lớn nhỏ thì khỏi phải nói, chứ còn bác nông dân một nắng hai sương, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ấy vậy mà cũng vô cùng rủi ro. Cái điệp khúc đã trở thành chân lý của nhà nông ấy là được mùa mất giá, được giá lại mất mùa.

Mấy năm gần đây, thiên tai xảy ra càng ngày càng dữ dội do nạn phá rừng, nạn ngăn dòng làm thủy điện như trăm hoa đua nở… nên nông dân có khi lại mất trắng vì bão lụt, nếu được nhận cứu trợ, tưởng cầm chắc trăm ngàn đồng, thùng mỳ, chục cân gạo tạm sống qua ngày, ấy thế mà cũng bị “quan nhỏ” ăn chẹn mất một phần. Thức dậy sau một đêm, đất giải tỏa trắng với giá đền bù rẻ mạt. Mất đất, không nghề ngỗng, lại ra đường là chuyện thường ngày ở huyện.

Rủi ro trong kinh doanh, làm ăn, mưu sinh không nói. Đằng này rủi ro như con siêu virus nó đã len lõi trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, nó len lõi tới từng nhà, từng người, từ bé đến lớn, từ kinh tới thượng, người tàn tật, kể cả người đã mồ yên mã đẹp cũng nêm nếp rủi ro bị đào mồ giải tỏa bất cứ lúc nào khi các quan “quy hoạch”.

Rủi ro không phải ở tỷ lệ nhỏ nhé, có khi chắc chắn gần trăm phần trăm. Thì đó, ví như chuyện ăn uống, chuyện an toàn vệ sinh thực phẩm. Ở đâu chả có hóa chất độc hại, từ thành thị cho tới nông thôn, sản phẩm trong nước còn tạm, hàng nhập vô tội vạ từ anh ba tàu mới ghê, nổi tiếng cả thế giới về tạp chất độc hại. Ngộ độc thực phẩm là chuyện hàng ngày ở bệnh viện. Bệnh viện ung bứu thì ngày càng quá tải, ung thư sao giờ nhiều thế? Một thị trấn nhỏ như ở địa phương tôi ở, cứ lâu lâu là người này ung thư phổi, người kia ung thư gan, đầu thôn thổi kèn ma thì không lâu cuối xóm vang trống tiễn, ngoài Bắc thì có cả làng ung thư vì ô nhiễm nước sông do nước thải nhà máy mới thấy ớn lạnh.

Đau ốm bất khả kháng là thế, nhưng vào bệnh viện chữa bệnh cũng không ít rủi ro. Nạn dùng thuốc vô tội vạ, “giết (vi trùng) lầm còn hơn bỏ sót” vì cái bệnh nhìn đâu cũng thấy vi trùng của các bác sỹ mà! Phải thông cảm thôi, vì “các bác” nhà ta thì khác các bác ở Tây, ở Mỹ lắm. Các bác ở Tây nó linh lắm, Tây nó văn minh, mạng sống nó quý lắm, thi đậu vào y khoa thì chắc chắn là người tài rồi, đào tạo lại bài bản chất lượng, đãi ngộ thì khỏi phải chê, nên nó giỏi là thế, cứu người là thế. Còn ta, chính quy đạo tạo 6 năm chưa ra sao, bác sỹ mới ra trường đôi khi chưa biết kê toa thuốc cảm! Còn ôi thôi vô số kể chuyên tu với tại chức theo công thức xã hội chủ nghĩa “cá chép hóa rồng”, có còn hơn không, cứu nhiều người lỡ giết vài người có ma mà biết, chết do bệnh nặng quá thôi. Có vài vụ điểm um xùm cuối cùng cũng hòa cả làng. Chuyên môn là thế, y đức cũng nhiều vấn đề. Thời buổi ” loạn phát ” lương bác sỹ chỉ gấp đôi lương công nhân, công nhân khốn đốn, thầy thuốc làm sao khá hơn, lương tháng cắn ngắn lương tâm cũng là chuyện dễ hiểu. Cho nên hiện tượng dùng thuốc vô tội vạ, vừa độc hại vừa lãng phí, còn gây ra hiện tượng vi trùng đa kháng, đến lượt nó không những gây điên đầu cho thầy thuốc mà còn gây tốn kém cho các nguồn lực xã hội. Ngoài lý do chuyên môn kém cỏi, còn có lý do hoa hồng hoa huệ mà báo chí nhiều lần lên tiếng cũng chỉ vài vụ điểm, một phần rất nhỏ của phần nổi của tảng băng chìm mà thôi. Cũng giống như các ngành khác, vô số bất cập trong quản lý một ngành chuyên môn sâu là ngành y, nó cứ tù mù tú mú thế nào, không ít thầy thuốc cứ tác oai tác quái, bệnh nhân cứ cắn răng mà chịu, có bệnh thì phải chịu tật, chứ biết đâu mà rên rĩ. Trong một thời gian ngắn không thể kể ra hết được. Nhưng tôi phải nhấn mạnh một điều rất nguy hiểm đó là hiện tượng lạm dụng thuốc, nhất là thuốc kháng sinh, nhất là ở trẻ em, không khác nào chúng ta đang đầu độc cả một thế hệ trẻ, là tương lai của đất nước, điều này người trong chuyên môn hẳn mới biết được mà thôi.

Y tế là thế, giáo dục thì sao? Rủi ro không phải là ít. Rủi ro từ lúc bà mẹ mang nặng đẻ đau, đến tuổi chập chững nhà trẻ, mẫu giáo cũng không khỏi lo lắng. Vụ bảo mẫu hành hạ dã man một bé gái ở Bình Dương chắc không phải là trường hợp hiếm thấy. Rồi lên học các cấp phổ thông, bao nhiêu chuyện lôi thôi, đau đớn xảy ra. Phụ huynh nhiều người té ngửa vì những chuyện “quái thai” của con trẻ, chẳng hạn như mốt lột truồng phơi phơn phớt trên mạng của các nam xinh nữ tú, mà theo từ “chuyên khoa” gọi là chat sex. Hoặc tung lên mạng các clip khỏa thân, các clip quay cảnh làm tình, đánh hội đồng bạn bè…được coi là mốt. Nhiều học sinh nói thật coi như là xa xỉ, trốn học, trốn gia đình chơi bời, nhậu nhẹt, nghiện game online, tệ nạn mại dâm, hư hỏng… đang trở thành phổ biến và nguy hiểm. Không biết nhà trường dạy dỗ ra sao, giáo viên làm gương như thế nào? chứ hiện tượng xuống cấp cả về chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp của ngành giáo dục đang được phơi bày, bàn tán xôn xao như chuyện xưa tích cũ, biết rồi khổ lắm nói mãi nhưng mọi chuyện cứ như đi vào ngỏ cụt. Xã hội đổ thừa cho nhà trường, nhà trường đổ thừa cho cơ chế, cho xã hội. Lòng vòng mãi chẳng tìm ra nguyên nhân và lối thoát, điệu này chắc phải hỏi thầy Sầm Đức Xương chắc may ra biết được chút ít!

Còn có cái thứ rủi ro cao cấp nữa chứ, các chuyên gia gọi là rủi ro do cơ chế. Cái thứ rủi ro này là mảnh đất màu mỡ cho những kẻ làm ăn bất chính, mafia hoặc các tham quan vô lại. Cung cách quản lý kém cỏi, không quản nổi thì cấm, nói một đường làm một nẻo, chính sánh thì cứ chồng chéo đá nhau, nhiều chính sách mới ra phải sửa hoặc bị vô hiệu, chết ỉu, đã làm cho bao nhiêu người dân chân chính phải điêu đứng, bao nhiêu nhà đầu tư, doanh nghiệp phải tan gia bại sản. Mọi cái cứ nhảy loạn cả lên, lạm phát cứ leo thang chưa có điểm dừng, đời sống của đa phần người dân bấp bênh từng ngày…

Rủi ro bao trùm là thế, nhưng e rằng tính mạng của công dân xã hội chủ nghĩa cũng gặp rủi ro cao. Ấy thế nên Thủ Tướng chăm lo cho dân mới có chỉ thị toàn dân khi ra đường phải đội mũ bảo hiểm. Nếu như không đội mũ bảo hiểm thì không tai nạn chết thì có khi cũng bị công an đánh gãy cổ đến chết đó thôi. Còn đội mũ thường xuyên thì cũng chẳng chắc ăn tý nào cả, tai nạn chết chóc vẫn xảy ra thường xuyên, còn có xu hướng chết tập thể mới ớn lạnh xương sống như các tai nạn tàu hỏa và xe cộ đâm nhau mấy chục người chết. Đường xá chồng chéo là thế, chật hẹp là thế, đủ mọi loại hố tử thần, đủ mọi loại xe lưu thông hỗn tạp trên cùng một con đường với ý thức giao thông kém cỏi mang tính hệ thống thì không nhiều tai nạn xảy ra mới là chuyện lạ. Cho nên hầu như ai cũng sợ chết khi ra đường, coi như sống nay chết mai.

Nhiều rủi ro bất ngờ, bất khả kháng. Nhưng vô số những rủi ro chính do con người gây nên do sự bất cập, buông lỏng quản lý, băng hoại đạo đức mà thành. Vụ ngôi nhà 6 tầng tự nhiên ngã sập vụn ở Hà Nội, vụ sập mỏ đá Lèn Cờ làm mười tám người chết ở Nghệ An…là những ví dụ nóng hổi.

Cái chết về thể xác rất dễ nhận dạng, cái chết về tình thần ít ai để ý. Đó là sự xuống cấp về đạo đức và lối sống trong nhiều tầng lớp nhân dân, từ phó thường dân đến các lãnh đạo cao cấp. Người ta cứ bon chen mà sống, đạp lên nhau mà sống, cứ như thể năm 2012 là ngày tận thế vậy.
Muốn kể ra cả ngày cũng không hết. Kể tới đây vừa mệt, vừa chán, vừa buồn, không muốn kể nữa.

Ngay cả những anh “nặng lòng” đất nước mà viết lách hớ huênh cũng bị rủi ro… mang số 88.
Ôi thôi rủi ro chồng lên rủi ro, chắc ra đời thằng cu tý rủi ro hehehe, nhưng cú tý hỏi bố: “Mai này con làm quan chắc ít gặp rủi ro?”. Bố bảo: “Chưa chắc đâu kon!, gieo nhân nào thì gặp quả nấy!”.

Nguyễn Gia Minh
(danlambao)

TẠI SAO THỜI NÀO CŨNG CÓ MỘT SỐ NGƯỜI TRÍ THỨC THEO CỘNG SẢN?

Trí thức, hiểu theo nghĩa thông thường của người bình dân, là người học cao, hiểu rộng, biết nhiều. Bởi vậy những người có bằng cấp cao, ít nhất từ bậc Cử Nhân trở lên hoặc các học gỉa, đều được liệt vào thành phần trí thức (1). Vì học cao, nên người trí thức thường được đảm trách những chức vụ thuộc hàng lãnh đạo. Vì thế họ thường mắc bệnh tự cao, tự đại, tự kiêu, tự phụ, coi thường người khác, nhất là những người không có bằng cấp bằng mình. Thực ra con người đáng khinh hay đáng trọng không phải là ở bằng cấp thấp hay cao, mà là ở phẩm cách (dignity) của người ấy thế nào, cao hay thấp, có đáng kính trọng hay không. Không thiếu gì nhưng ông trí thức bằng cấp rất cao, nhưng phẩm cách không có, tính tình hèn nhát, ích kỷ, làm gì cũng chỉ sợ hại đến thân trừ phi có danh, có lợi.



I/ Theo Việt Cộng vì yêu nước .



Vào thập niên 1940, dưới thời Pháp thuộc, chưa có danh từ Việt Cộng mà chỉ có danh từ Việt Minh. Việt Minh hay Mặt Trận Việt Minh là mấy chữ viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội cũng như Việt Nam Quốc Dân Đảng gọi tắt là Việt Quốc, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội gọi tắt và Việt Cách. Mặt trận Việt Minh được Hồ Chí Minh thành lập vào tháng 5/1941 mà thành phần đều là đảng viên đảng Cộng Sản VN sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam chịu áp lực của Cộng Sản Nga phải đổi tên thành Đảng Cộng Sản Đông Dương vào tháng 10/1930. Sau khi Nhật đầu hàng và Việt Minh cướp được chính quyền từ chính phủ quốc gia Trần Trọng Kim vào ngày 19/8/1945, để lấy lòng và cũng để lừa gạt các đảng phái quốc gia, đảng Cộng Sản Đông Dương tức đảng Cộng Sản Việt Nam (2) đổi tên là Đảng Lao Động tức đảng Cộng Sản trá hình vào tháng 11/1945.

Lúc đầu 2 chữ Việt Minh không có nghĩa xấu. Nó chỉ là hai chử viết tắt của bẩy chữ Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, một mặt trận do Cộng Sản Việt Nam dựng lên nhưng nhiều người quốc gia không biết nên đã tham gia. Và một chính phủ liên hiệp đầu tiên đã được thành lập vào ngày 2/3/46 mà ông Hồ Chí Minh là Chủ Tịch và cụ Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) là Phó Chủ Tịch. Chính vì vậy mà khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào ngày 19/12/1946, rất nhiều thành phần trí thức và tiểu tư sản đã đi theo mặt trận này trong đó có Luât Sư Nguyễn Mạnh Tường, Bác Sĩ Đặng Văn Ngữ, Học Giả Đào Duy Anh, Giáo Sư Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Hà v.v…để kháng chiến chống Pháp.

Nhưng dần dần chúng (Việt Minh) tìm cách loại trừ những thành phần quốc gia và để lộ nguyên hình là Cộng Sản nên nhiều người quốc gia đã phải trốn về Hà Nội tạm thời cộng tác với người Pháp để chống lại Việt Minh. Vì thế những người quốc gia này bị mang tiếng xấu là theo Pháp chống lại nhân dân. Thực ra thì bọn chúng còn tệ hơn vì chúng đã theo Nga, theo Tầu để để đưa cả dân tộc vào vòng nô lệ.

Sau hiệp định Geneve 1954 chia cắt đất nước, bắc vĩ tuyến 17 thuộc chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tức Việt Minh, nam vĩ tuyến 17 thuộc chính phủ quốc gia Việt Nam (lúc đó chính phủ quốc gia Việt Nam còn nằm trong khối Liên Hiệp Pháp tức vẫn còn lệ thuộc Pháp). Những người theo Việt Minh tại miền Nam vẫn còn tin tưởng Việt Minh là người yêu nước và vẫn chưa biết rõ Việt Minh là Cộng Sản nên đã theo lời dụ dỗ của Việt Minh tập kết ra Bắc. Còn thành phần cộng sản chính hiệu được Việt Minh (tức Cộng Sản) gài ở lại để bí mật hoạt động phá hoại miền Nam sau này.

Khi chính phủ miền Nam Ngô Đình Diệm truất phế Hoàng Đế Bảo Đại, thành lập nền đệ nhất Công Hoà Việt Nam và thoát ra khỏi vòng lệ thuộc người Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà phát động phong trào tố Cộng, thì hai chữ Việt Minh không còn được dùng nữa mà thay vào đó hai chữ Việt Cộng để chỉ thẳng bọn Cộng Sản Việt Nam đang nằm vùng và hoạt động tại miền Nam cũng như bọn Cộng Sản Hà Nội đang cai trị miền Bắc để chỉ bọn người độc ác, giết hại dân lành, nhất là trong cuộc cải cách ruộng đất xẩy ra vào những năm 1953, 1954, 1955 và 1956 tại miền Bắc, và luôn luôn ăn gian, nói dối?



II/ Theo Việt Cộng vì bất mãn và chưa rõ chế độ Cộng sản thế nào.



Sau năm 1954, có thể nói hầu hết người dân miền Nam đều biết chính phủ miền Bắc theo Cộng Sản. Nhưng vì sự bưng bít của chế độ Cộng Sản miền Bắc nên hầu hết chỉ biết chủ nghĩa Cộng Sản qua sách vở và vẫn nghĩ rằng đó là một chủ nghĩa tốt đẹp. Do đó khi thấy chế độ Cộng Hoà Việt Nam tại miền Nam hạn chế một số quyền tự do để đối phó với sự phá hoại của bọn Việt Cộng nằm vùng thì một số trí thức cho là độc tài, là phản dân chủ. Một số trí thức khác, vì không được ăn trên, ngồi trốc thì bất mãn, chống đối. Lợi dụng tình trạng này, bọn Việt Cộng miền Bắc đã lập ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào năm 1960 để thâu nạp bọn trí thức bất mãn nhưng hám danh, hám lợi này. Trong số bọn trí thức bất mãn nhưng hám danh này chúng ta thấy có Huỳnh Tấn Phát, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Hữu Thọ, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Tôn Thất Dương Kỵ v.v…Còn một số khác thì khôn hơn, tuy thích Việt Cộng, nhưng không dám đi theo. Chúng vẫn ăn cơm quốc gia, nhưng lại chỉ trích chế độ miền Nam. Đó là bọn mang danh thành phần thứ ba như Trần Ngọc Liễng, Lý Qúy Chung, Nguyễn Hữu Chung, Lý Chánh Trung, Dương Văn Ba, Ngô Công Đức v.v… Bọn này cũng hám danh, ngây thơ về chính trị, nhưng lại thích làm chính trị và rất hèn. Sống dưới chế độ có tự do, dân chủ như chế độ Cộng Hoà Việt Nam, thì lợi dụng tự do dân chủ để chống đối. Nhưng khi sống dưới chế độ độc tài Cộng Sản thì im hơi, lặng tiếng, không dám chống đối lấy nửa lời.



III/ Theo Việt Cộng vì hám danh, hám lợi



Sau 30 tháng 4 năm 1975, và nhất là sau khi Nga và các nước Đông Âu theo chế độ Cộng Sản xụp đổ, có thể nói là không còn ai tin tưởng ở chế độ Cộng Sản nữa, kể cả bọn Cộng Sản.

Một người dân Saigon, anh Nguyễn Quốc Chánh đã làm một bài thơ nhan đề “Quê Hương và Chủ Nghĩa” có những câu như sau:



Chủ nghiã dạy em, thù hận hờn căm
Chủ nghiã dạy em, độc ác bất nhân
Chủ nghiã dạy em, lọc lừa xảo trá
Chủ nghiã dạy em, dối gian trăm ngả

Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân
Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm
Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố
Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ

Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang
Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng
Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa
Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa

Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây
Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay
Chủ nghiã cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc
Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc

Chủ nghĩa bịp lừa, bánh vẽ tự do
Chủ nghĩa cá ươn, tư tưởng vong nô
Chủ nghĩa chết đi, Quê Hương vẫn sống


Vâng, Chủ nghĩa chết đi, nhưng Quê Hương vẫn sống. Không những vẫn sống mà còn sẽ sống oai hùng, sống vinh quang chứ không phải sống nhục nhã như bây giờ. Chủ nghĩa nào vậy ? Xin thưa đó là Chủ Nghĩa Cộng Sản.



Chính vì thế mà 4 nước còn lại theo chế độ Cộng Sản là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Hàn và Cu Ba thì hai nước lớn nhất là Trung Hoa và Việt Nam đã phải từ bỏ nền kinh tế chỉ huy (nền tảng của chủ nghĩa Cộng Sản) để chuyển sang nền kinh tế thị trường tức nền kinh tế của tư bản chủ nghĩa để sống còn. Vậy mà vẫn có một số trí thức Việt Nam thích Việt Cộng là tại sao? Xin thưa đó chỉ vì hai chữ LỢI và DANH. Đây là bọn người vô liêm sỉ, không đáng mang danh là trí thức. Chúng là một bọn hèn nhát. Khi thấy khổ và biết không thể làm ăn được gì dưới chế độ Cộng Sản thì co giò chạy trước. Nay thấy bọn Việt Cộng nới lỏng một chút, cho phép làm ăn hoặc bố thí cho một chút danh hão như làm giáo sư đại học không lương, cố vấn không lợi là tâng bốc chúng, hoan hô chúng không biết ngượng miệng. Chính bọn trí thức này làm cho người trí thức bị khinh khi bỉ lây. Chính bọn trí thức này làm cho Mao Trạch Đông coi thường và đánh gía trí thức không bằng cục phân.

Tóm lại, ngày nay, chẳng ai còn coi chủ nghĩa cộng sản là lý tưởng, chế độ cộng sản là tốt đẹp, ngay cả một người bình thường chứ đừng nói là người có học thức cao. Nhưng giới nào cũng vậy, luôn luôn có một số người vì lợi mà quên hết cả nghĩa lễ liêm sỉ. Giới trí thức cũng vậy, cũng có một số người, không những hám lợi mà còn hám cả danh nên cũng quên hết cả nghĩa lễ liêm sỉ để tâng bốc Việt Cộng chứ thực tâm chúng cũng chẳng ưa gì Việt Cộng. Chẳng qua cũng chỉ là lợi dụng nhau mà thôi. Ngày xưa còn có người vì không hiểu chủ nghĩa Cộng Sản, vì lòng yêu nước, dám bỏ cuộc sống sung sướng ở ngoại quốc về nước theo Việt Minh để chiến đấu chống Pháp. Còn ngày nay thử hỏi có ai không hiểu chủ nghĩa Cộng Sản, có ai tin bọn Việt Cộng yêu nước mà bỏ nghề nghiệp tốt đẹp, cuộc sống yên vui ở ngoại quốc để về nước phục vụ cho chúng để mang tiếng là đồng lõa với bọn bán nước, phản bội tổ quốc? Hay vẫn chỉ có bọn trí thức thân Cộng dung cái miệng tung hô để mong kiếm chút cơm thừa, canh cặn, chút danh hão, nhưnh vẫn sinh sống ở ngoại quốc? Bọn Việt Cộng cũng không phải là không biết. Nhưng lợi dụng được chút nào thì chúng vẫn lợi dụng. Kẻ nào ngu dốt muốn đút đầu vào rọ thì ráng mà chịu.



30/4/10





Chú thích:

(1) Thực ra một người được gọi là trí thức không những cần phải có học vấn cao, có phẩm cách nghĩa là phải biết giữ nghĩa lễ liêm sỉ mà còn phải có lý tưởng.

(2) Đảng Cộng Sản VN được Hồ Chi Minh thành lập vào tháng 2/1930.

(3) Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia thì mặt trận Việt Minh được thành lập vào ngày 19/5/41 bởi Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh. Nhưng trên thực tế, người ta chỉ biết tới hai chữ Việt Minh từ sau ngày Nhật đầu hàng tức sau ngày 15/8/1945.
----------
Kính Luật Sư Lê Duy San,

Cám ơn Luật Sư về bài viết rất rõ ràng, chính xác, và đầy tính cách giáo dục.

Tiện đây Huong Saigon xin gởi kèm bài thơ mọn về "Chuyện Trí Thức".

Chúc Luật Sư luôn an khang để tiếp tục tranh đấu cho quê hương dân tộc.

Kính

Huong Saigon

CHUYỆN TRÍ THỨC

CHUYỆN TRÍ THỨC

Muà xuân hoa nở muôn mầu
Còn người trí thức ... đếm đầu ngón tay
(HSG)

0000000000000

Buồn thay quốc phá gia vong
Người quên sĩ diện, kẻ lòng gươm đao!
Chuyện trí thức nghe đau lòng lắm
Người nửa mùa, kẻ chẳng lương tâm
Tham danh, hám lợi lố lăng
Viết lời nghịch nhĩ cầm bằng thất phu!

Có những kẻ đầu ngưu diện mã
Bán lương tâm đổi bả công danh
Quên dân quên nước đã đành
Cúi đầu phù thịnh, lưu manh lọc lưà
Trở về nước dây dưa với cộng
"Xoá hận thù", mong bổng lộc to
Khom lưng, nhắm mắt hát hò:
"Nước nhà đã 'thoáng', tự do, thanh bình!"
Rõ là lũ cầu vinh phản quốc
Bỏ ngoài tai tiếng khóc dân đen
Lầm than đói khổ nghèo hèn
Kêu oan, cầu cứu: bạo quyền đuổi xô !
Có những kẻ bưng bô cộng sản
Quên những ngày tỵ nạn gian truân
Trốn chui trốn nhủi bao lần
Ngày nay ấm cật phản dân hại đời
Chúng "hồ hỡi" học đòi thói cộng
Ném hỏa mù vu khống cộng đồng
Nào là "qúa khích cuồng ngông"
Biểu tình chống lại "văn công" nước nhà !
Có những "cái gọi là trí thức"
Có học hành, nhân đức thì không
Hàm hồ học thói "văn công"
Uốn cong ngòi bút nịnh dòng cộng nô
Chúng trơ trẻn tung hô chúa đảng:
Hồ Chí Minh , tên phản bội dân
Chúng gọi là thánh là thần
Rõ là miệng lưởi lũ đần Việt gian!

Thánh gì bán nước buôn dân ?
Thần gì dạ, dạ, vâng, vâng Nga, Tàu ?
Thánh gì lòng chứa gươm đao
Thần gì tàn sát đồng bào nước ta

Hỡi anh chị, ông bà, cô bác !
Xin đừng quên tội ác giặc hồ
Chớ tin trí thức nặc nô
Miệng lằn lưởi mối, bưng bô kẻ thù !

Hương Sài-Gòn
------------

Trí Thức Ngưu Đầu

Khốn thay cho lũ đại ma đầu
Háo lợi cầu vinh, rõ bọ sâu
Đón gió trở cờ mơ bổng lộc
Nằm vùng phản quốc mộng công hầu
Rợ hồ mấy thuở dung hòa nhỉ
Đảng cộng bao giờ thay đổi đâu ?!
Trí thức tham danh thành tặc tử
Ngưu đầu há dể giấu đầu trâu !

TCY

--
MUỐN BẢO VỆ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM,
TUYỆT ĐỐI KHÔNG DÙNG TỪ NGỮ CỦA CỘNG SẢN

Hương Saigon

Bài Xem Nhiều