We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 14 May 2011

Phải Lên Tiếng-Cả Nước Đấu Tranh


Sống trong xã hội, thời bình cũng nhu thời chiến, người dân thường phải chọn một thái độ chính trị nào đó. Dù nói là không chọn, thì tất nhiên cũng đã chọn rồi. Đó là chọn thái độ không chọn, thái độ im lặng, ù lỳ bất động. Vấn đề đặt ra là nên chọn thái độ nào cho hợp lý hợp tình trong những hoàn cảnh nghiệt ngã, tiêu biểu như dân Việt trước đại họa ngoại xâm và trước thảm cảnh nội thù đày đọa áp bức?
Nói chung, người dân thường chọn một trong ba thái độ. Ủng hộ tích cực, chống đối quyết liệt, hay im lặng, không ủng hộ cũng không chống đối, cũng không bày tỏ quan điểm.
Thứ nhất là ủng hộ tích cực. Một chế độ được lòng dân, tất nhiên sẽ đón nhận được sư ủng hộ của toàn dân. Chẳng hạn, Nhật Bản là quốc gia thể hiện sự hợp tác giữa người dân với chính quyền trong nỗ lực phát triển đất nước tiêu biểu nhất. Trường hợp Việt Nam, kể từ ngày một nửa nuớc bị nhuộm đỏ trước năm 75, và toàn cõi Việt Nam bị thu tóm vào thế lực đỏ sau 1975, dân Việt đã phải kéo lê cuộc sống trong đói nghèo, tự do bị cướp đoạt, dân chủ bị hạn chế, nhân quyền bị chà đạp, nên chẳng mấy ai chấp nhận và ủng hộ chế độ, Họa chăng, chỉ có một thiểu số lãnh đạo Đảng, có nhiều đăc quyền đặc lợi, một thiểu số “con cháu Bác” được chế độ cưng chiều là còn cố bám vào chế độ, tâng bốc chế độ để duy trì quyền lợi của cá nhân hay phe nhóm. Còn đại đa số dân Việt đã bất bình phẫn nộ, chán ghét và muốn xa lánh chế độ. Năm 1954, trên một triệu người đã bỏ quê hương miền Bắc, chạy trốn cộng sản, di cư vào miền Nam chọn tự do, xây dựng cuộc sống hạnh phúc no ấm và tiến bộ. Năm 1975, một lần nữa, cả triệu dân Việt lại đành gạt lệ bỏ nước ra đi, chạy trốn cộng sản, để lại đàng sau cả quê hương, làng xóm, sự nghiệp và thân quyến, lao vào biển cả tìm cái sống trong muôn ngàn cái chết! Đặc biệt, dân chúng miền Bắc năm 1975 đã hoàn toàn thất vọng, vì đã mỏi cổ chờ đợi miền Nam ra giải phóng miền Bắc, nay phải chấp nhận hoàn cảnh trái ngược, oái oăm, miền Nam tan tác, miền Bắc xác xơ!
Thứ hai là im lặng buông xuôi. Một số người tỏ ra chán nản, không buồn nghĩ tới những bất hạnh chất ngất của dân tộc, nói là muốn quên quá khứ, “xin cho tôi hai chữ bình yên”. Họ giữ thái độ im lặng khó hiểu, có khi còn tỏ ra bực bội khi thấy người khác biểu tỏ lòng nhiệt thành với quê hương, thể hiện quyết tâm tham gia đấu tranh cứu nguy Tổ Quốc! Một số người khác lại chọn thái độ thỏa hiệp với chế độ trong một mức độ nào đó để được yên thân và làm một số công việc. Thật ra, thái độ im lặng hay thoả hiệp, có thể biểu lộ một sự dè dặt khôn ngoan nào đó, theo khuyến cáo của người xưa “tránh voi chẳng xấu mặt nào” như thể cây tre cây trúc, cúi ngọn cho gió lướt đi , rồi qua cơn gió, trở lại ngẩng đầu lên. Nhưng nhiều người lại nhìn thái độ im lặng đó là đồng lõa, nếu không nói là khiếp nhược. Ngày nào, Philatô đã rửa tay, một cử chỉ chứng tỏ mình vô can trong việc giết Chúa Giêsu. Hôm nay, người chọn thái độ im lặng trước bất công và bất nhân, hình như cũng muốn biểu tỏ thái độ an phận, gác kiếm để được yên thân, để chẳng ai dòm ngó..Nhưng phải thẳng thắn mà nói rằng, im lặng, làm ngơ trước bất công, quay mặt đi trước đau khổ ngưòi khác không phải là thái độ đáng tán thưởng. Tiêu biểu như một số mục tử trong hàng ngũ giáo phẩm công giáo trước đây đã bị Đương Kim Giào Hoàng Benedict XVI lên án là “những con chó câm”, không dám cất tiếng sủa chống lại bất nhân, bảo vệ công lý. Thái độ im lặng này của một số trí thức tại Việt Nam, cũng đã bị nhà văn Dương Hương có lần lên án là “mang bệnh liệt kháng” vì không còn khả năng lên tiếng chống lại bất công và bất nhân.
Thế thì chỉ còn thái độ tích cực chống đối là đáng cổ khuyến khích. Nếu hỏi chống đối gì và tại sao phải chống đối, thì xin thưa một cách thẳng thắn là chống đối độc tài toàn trị, chống đối lãnh đạo độc tôn, chống đối đàn áp dân chủ tự do và nhân quyền, nhất là chống đối tập đoàn lãnh đạo tiếp tay bán nước cho ngoại bang. Còn tại sao chống đối thì cũng xin thưa, vì cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn thất bại trong việc mang lại hạnh phúc cho dân tộc, tiếp tục đày đọa dân Việt trong đói nghèo và áp bức. Nhất là cộng sản Việt Nam còn tiếp tay cho ngoại bang xâm chiếm lãnh thổ và lãnh hải, xâm phạm chủ quyền, cuớp đoạt tài nguyên của dân Việt.
Lên tiếng chống lại chế độ độc tài toàn trị thì không thể không nhắc tới Tướng Trần Độ lúc còn sống, và bà Trần Thi Thanh Xuân, đã quyết liệt đòi cộng sản Việt Nam hủy bỏ Điều 4 Hiến Pháp để chấp dứt chủ trương lãnh đạo độc tôn, nguyên nhân đưa tới tinh trạng tham nhũng và trì trệ của đất nước.
Gần đây, các nhà đấu tranh dân chủ trong nuớc, tiêu biểu như Phạm Hồng Sơn, lên tiếng chống độc tài đòi dân chủ, Nguyễn Đan Quế, lên tiềng đòi đa nguyên đa đảng, Lê Thị Công Nhân lên tiếng bênh vực dân oan thấp cổ bé miệng, Nguyễn Khắc Toàn lên tiếng bênh vực người lao động, Linh Mục Nguyễn Văn Lý lên tiếng đòi tự do tôn giáo, đều là những tiếng nói can trường, thức tỉnh lương tâm nhân loại trước những bất hạnh và oan khiên của dân tộc Việt Nam.
Mới đây nhất là tiếng nói của Cù Huy Hà Vũ, mạnh dạn chống lại lãnh đạo cộng sản đem dâng hiến tài nguyên cho ngoại bang, đòi hỏi Hà Nội phải hủy bỏ Điểu 4 Hiến Pháp để mở cửa dân chủ cho sinh hoạt chính trị dân chủ đa nguyên. Bản án 8 năm tủ và 3 năm quản chế dànhh cho một nguời trí thức trẻ, yêu nước thiết tha, hoàn toàn vô tội, quả là một vết nhục đối với nền tư pháp chỉ biết áp dụng luật rừng của cộng sản Việt Nam.
Chuyên chở những tiếng nói khẳng khái đó, xuyên qua bức tường bưng bít và che đậy của cộng sản Việt Nam, Lực Lương Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc đã tận dụng khả năng và phương tiện để thực hiện đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi, nhằm chuyển tiếng nói đấu tranh về quốc nội, trên làn sóng trung bình 1503 kilô chu kỳ. Kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2011, đồng bào quốc nội sẽ được nghe tiếng nói dân chủ trên cùng tần số BBC trước đây, cùng giờ với thời lượng gấp đôi, từ 15 phút mỗi ngày, tăng lên nử giờ mội ngày. Phải nói rẳng, đây là một nỗ lực thật có ý nghĩa, nhưng cũng là một thách đố lớn lao, bởi lẽ các BBC có chính phủ Anh tài trợ, đài Á Châu Tự Do có chính phủ Mỹ tài trợ. Còn đài Đáp Lời Sông Núi hoàn toàn do những người còn tha thiết với tiền đồ Tổ Quốc và hạnh phúc của dân tộc Việt Nam “rút ruột tang bồng” để nuôi dưỡng! Tâm lực, trí lực và tài lực đều tự lực cánh sinh.
Thế đó! Trước tình trạng Tổ Quốc Việt Nam lâm nguy trước đại họa ngoại xâm và chủ trương đày đọa dân tộc của cộng sản Việt Nam là kẻ nội thù, toàn dân Việt phải lên tiếng. Trước đây, còn trong tủ cộng sản, thi sĩ Nguyễn chí Thiện đã kêu gọi lên tiếng: “Phá nát địa cầu vì một lũ gian manh, nên phải viết phải muôn ngàn kẻ viết”. Hôm nay, ban hợp ca Ngàn Khơi, phối hợp với Trung Tâm Asia, đã trình tấu bản nhạc “Phải Lên Tiếng” thật qúa tuyệt vời: “Đừng im tiếng, mà phải lên tiếng, khi quân thù vào cướp quê hương!” Thiết tưởng, lời thơ, tiếng nhạc, và những lời kêu gọi của truyền thông, tiêu biểu như đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi sẽ được mọi người lắng nghe :’ Đáp lời sông núi, anh em ta đáp lời sông núi.”

Ngô Quốc Sĩ

Tại Hà Nội bàn đổi mới chính trị

Một bạn ở Hà Nội cho biết anh cứ tưởng mối lo lớn nhất của nhà nước trong hai ngày qua là vụ cái hầm cầu ở Phi trường Nội Bài. Sau trận mưa hầm cầu bị nứt, nước nhơ bẩn tràn ra, ngập cả sân bay. Nguyên do là vì nước mưa ngập không có lối thoát, chất phế thải từ dưới hầm chui lên, máy bay đang chờ khách phải đóng cửa cho đỡ ngửi mùi xú uế. Nhờ báo chí loan tin vụ này, với tựa đề, “Sân bay quốc tế Nội Bài bục bể phốt” mà dân ta học thêm được một tên gọi cái hầm cầu, tên chữ gọi là cái Bể Phốt. Chữ Phốt có lẽ do chữ Pháp fosse, cái hầm, cái hố, tiếng Tây gọi hầm chứa các chất phế thải là fosse septique, dịch sang tiếng Anh là septic tank. Cái sân bay của thủ đô, giống như cái cổng chính ngôi nhà mở ra thế giới, tại một nước Việt Nam đang tìm đường tiến tới Chủ nghĩa Xã hội, không lẽ lại để nước dơ chảy đem mùi hôi xông lên nồng nặc như vậy! Chắc Bộ Chính trị phải quan tâm đến tai nạn này.

Nhưng người dân đoán lòng Đảng bị sai hoàn toàn. Ngay trong lúc nhà nước chưa xử lý xong vụ nước lụt từ cái hầm, cái “phốt” tại sân bay, thì đảng đã nhanh tay chuyển mục tiêu sang một điểm mới, bắt buộc dân chúng phải quay mắt (hoặc mũi) về hướng khác, vào mục tiêu mới, rồi tha hồ bàn tán với nhau. Đề tài mới đang được dân chú ý là một cuộc “tọa đàm” do tạp chí Cộng sản tổ chức với đề tài lớn vô cùng: Đổi mới chính trị! Cuộc hội thảo ngày Thứ Ba 10 tháng Năm 2011 vừa qua, góp mặt “nhiều nhà khoa học đến từ các viện nghiên cứu chiến lược và học viện lớn!” Có thể coi đây là một cái bể, cái phốt chứa đầy những bộ não siêu việt nhất của đảng và nhà nước, một cái bể tư duy!

Mạng Việt Nam Net thuật lời ông Vũ Văn Phúc, Tổng biên tập tạp chí Cộng sản, nói trong cuộc tọa đàm rằng nếu không đổi mới chính trị cùng với đổi mới kinh tế “đồng bộ, nhịp nhàng, ăn khớp” thì chúng sẽ cản trở lẫn nhau. Nói cách khác, đổi mới kinh tế không đi song song với đổi mới chính trị thì kinh tế sẽ ngừng tiến bộ. Đây là một ý kiến đã được ký giả nêu lên trên tạp chí Thế Kỷ 21 từ 20 năm trước, trong một bài đặt câu hỏi “Đi Một Chân Được Bao Lâu?” Ý chính là: Không đổi mới chính trị thì sẽ tới lúc các tiến bộ kinh tế sẽ ngưng lại, vì các chế độ độc tài chuyên chế không tạo được khung cảnh để sử dụng hết các sức mạnh của kinh tế thị trường. Bây giờ đảng Cộng sản Việt Nam mới cho mở cuộc hội thảo về đổi mới chính trị, nhưng lại chỉ cho các cán bộ nói chuyện với nhau và nghe lẫn nhau, trong một cái bể khép kín mà thôi!


Tại sao họ lại chậm trễ đến 20 năm như vậy? Một vị từng làm lớn trong Viện Báo chí là ông Dương Xuân Ngọc nói rằng ở Việt Nam việc “đổi mới kinh tế được nghiên cứu kỹ” còn “vấn đề về đổi mới chính trị lại chưa được đề cập nhiều, thậm chí đôi khi né tránh.” Đây là một nhận xét được người dân Hà Nội đánh giá là “tuyệt vời”, vì nó chứng tỏ người phát biểu ra câu nói đó không hề biết ở ngoài đường, trong tiệm cà phê dân chúng đang nói những chuyện gì với nhau!


Khi nói “vấn đề về đổi mới chính trị chưa được đề cập nhiều” có nghĩa là ông này không hề biết đến những vụ bắt giam, bỏ tù các nhà trí thức đòi đổi mới chính trị, như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Đài, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Đan Quế, vân vân, cho tới Cù Huy Hà Vũ! Ai đã bịt mắt bịt tai các ông mà quý ông lại nghĩ rằng người Việt Nam không bàn đến đổi mới chính trị? Chỉ những bộ óc tự nhốt trong cái hầm, cái “phốt tư duy” của đảng Cộng sản mới có thể phát ngôn như thế!


Hàng chục năm qua, bao nhiêu người Việt Nam lên tiếng đòi đổi mới chính trị, đòi dân chủ hóa. Gần đây, một thanh niên 21 tuổi là sinh viên Nguyễn Anh Tuấn quê ở Đà Nẵng cũng mạnh dạn thách thức chính quyền bằng cách gửi thư cho Viện Kiểm Sát Tối Cao, xin họ bắt giam và đem anh ra xử, về những “tội” giống hệt Cù Huy Hà Vũ! Anh Nguyễn Anh Tuấn còn trưng trên mạng bức hình chụp anh đang cầm những bài do Cù Huy Hà Vũ viết, những bài được gọi là chứng cớ buộc tội trong vụ xử án cấp tốc tháng trước! Anh Tuấn thách thức rằng nếu trong 20 ngày mà không bắt anh, tức là nhà nước công nhận các tài liệu do Cù Huy Hà Vũ viết ra không “phạm tội,” tức là chính Cù Huy Hà Vũ cũng vô tội!


Một thanh niên 21 tuổi yêu cầu cơ quan công tố cao nhất nước phải trả lời mình theo quy tắc minh bạch, công khai; hành động đó có nghĩa anh đang đòi nhà nước thay đổi từ quan niệm chính trị đến định chế tư pháp. Như vậy thì nói rằng không ai đề cập đến đổi mới chính trị làm sao được? Ngoài đường, trong quán, người ta nói chuyện đổi mới chính trị từ hai, ba chục năm nay, các ông cứ sống trong cái hầm tư duy đóng kín của đảng, không biết gì hết! Đáng lẽ các ông phải mời những người đã thảo luận vấn đề này từ 20 năm qua, như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Thanh Giang, Mai Thái Lĩnh, tới “tọa đàm” với các ông mới phải! Tại sao cứ tự nhốt mình trong cái hầm tư duy kín mít như thế? Người dân chỉ biết là cuộc tọa đàm này gồm toàn các “nhà khoa học” của đảng, họ nói cho nhau nghe trong một cái hầm của đảng, không cho người ngoài được tham dự, cũng không ai được vô dự thính! Cuối cùng chỉ có một bản tin tóm tắt trên mạng lưới của đảng, coi như hé cửa cái hầm cho người ngoài được ngửi một chút cho biết bên trong có những gì!


Nhưng người dân còn thắc mắc thêm, là tại sao bỗng dưng, trời không mưa dầm, nước không ngập lụt, mà Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam lại cho mở hé cái hầm tư duy để cho các “nhà khoa học” của họ lên tiếng nói với nhau và nghe lẫn nhau như vậy? Nhưng nếu ai tinh ý một chút thì thấy ngay đã có một tín hiệu được phát ra, báo trước “vụ mở cửa hầm” bàn về đổi mới chính trị, phát ra từ năm ngoái rồi. Không, không phải một tín hiệu loan ra trước đại hội đảng Cộng sản. Trước, sau đại hội XI, họ vẫn nói đi nói lại là không bàn vụ thay đổi chính trị, cấm ngặt! Cho tới khi đại hội đó bế mạc, đảng ta vẫn cương quyết đi một chân cho tới cùng!


Tín hiệu về đổi mới chính trị được phát ra từ năm ngoái, nhưng phát ra ở bên Tầu! Tháng Tám năm 2010, ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc đi thăm thành phố Thẩm Quyến, đã đề cập tới vấn đề này. Thẩm Quyến là nơi thí nghiệm đầu tiên chương trình cải tổ kinh tế của Cộng sản Trung Hoa. Nhân dịp họ kỷ niệm 30 năm thành lập đặc khu kinh tế Thẩm Quyến, ông Ôn Gia Bảo tới thăm đã báo động rằng việc đổi mới kinh tế mà Thẩm Quyến đi tiên phong, sẽ bị ngưng trệ, nếu Trung Quốc không bước đi thêm cái chân thứ hai, là thay đổi chính trị!


Tháng Ba năm nay, sau khi bế mạc phiên họp của quốc hội ở Bắc Kinh, ông Ôn Gia Bảo nhắc lại một lần nữa. Trong một cuộc họp báo, ông Ôn Gia Bảo còn nói rõ hơn về nhu cầu cải tổ chính trị, gia tăng các quyền tự do cho dân chúng. Ông nói chỉ có thay đổi chính trị mới giải quyết được những nỗi oán than của dân về lạm phát, tham nhũng, môi trường sống bị hủy hoại, và sự chênh lệch về giầu nghèo mỗi ngày một lớn hơn.


Trong một cuộc bút đàm trên mạng, ông Ôn Gia Bảo đã nhấn mạnh tới vấn đề hạn chế quyền lực của nhà nước. Ông nói quyền hành của các quan chức lớn quá, mà không có định chế nào kiểm soát các giới hạn cả; đó là một nguyên nhân gây ra tham nhũng.


Cái gì của Ôn thì trả lại cho Ôn, cho nên trong cuộc tọa đàm ở Hà Nội ông Phó Viện trưởng Viện chiến lược Bùi Tất Thắng đã nhắc lại những ý kiến của ông Ôn Gia Bảo, tức là “nếu không có sự đảm bảo về cải cách thể chế chính trị thì các thành tựu cải cách kinh tế sẽ biến mất.” Ông Ôn Gia Bảo còn nói, “Muốn trừ bỏ cái đất sống của nạn tham nhũng, chúng ta cần thay đổi những định chế và hệ thống chính trị.” Cho nên, các ông khác ở Hà Nội cũng nói giống hệt như vậy, như khi nói cần đổi mới chính trị để “hạn chế được tầm ảnh hưởng của một vài cá nhân đến lợi ích toàn cục” (Dương Xuân Ngọc) hoặc để “khắc phục tình trạng tha hóa, yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có trọng trách cao ở các cấp” (Thiếu tướng Lê Văn Cương).


Tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược và khoa học, Bộ Công An cũng nói giống hệt như ông Ôn Gia Bảo: "Quyền lực không được giám sát là quyền lực sẽ bị tha hóa. Đó là tất yếu và không có ngoại lệ."


Như ta thấy, những lời Ôn gia Bảo nói ở Thẩm Quyến, Bắc Kinh, đã được lập lại ở Hà Nội trong cái “hầm tư duy” do Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cho phép mở ra. Đây là một truyền thống lâu đời của đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1950, Hồ Chí Minh đã theo đường lối đó. Khi Bác Mao hô “chỉnh huấn” thì Hồ cũng hô chỉnh huấn. Khi Mao hô “lao cải” thì Hồ cũng thành lập các trại tù “cải tạo lao động.” Mao đấu tố địa chủ thế nào thì Hồ cũng cải cách ruộng đất như vậy. Khi Mao hô “Bách hoa tề khai, bách gia tranh minh” thì Hồ cũng phát động “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng.” Tóm lại, cho đến nay đảng Cộng sản Việt Nam vẫn trước sau như một tiếp tục sự nghiệp “ăn theo, nói theo” đã được Hồ Chí Minh mở đường từ 60 năm qua! Bác đã nói theo Mao, giờ các cháu cũng biết nói theo Ôn!


Điều đáng chú ý là bữa tháng Ba vừa qua, ông Ôn Gia Bảo đã lập lại các ý kiến về đổi mới chính trị sau khi đã nghe ông Ngô Bang Quốc, chủ tịch quốc hội, nhấn mạnh trong bài diễn văn khai mạc khóa họp, rằng đảng Cộng sản Trung Hoa không chấp nhận cải tổ chính trị! Ông này còn dọa các đại biểu quốc hội rằng nếu thay đổi thì sẽ sinh loạn! Ngô Bang Quốc nói Trung Quốc không thể “sao chép” các thể chế chính trị dân chủ, mà ngược lại, phải “củng cố và nâng cao quyền lãnh đạo của đảng, phải làm cho quyền lãnh đạo này thêm chặt chẽ và hoàn hảo hơn!”


Như vậy thì đảng Cộng sản Trung Quốc theo Ôn Gia Bảo hay theo Ngô Bang Quốc? Có lẽ họ theo cả hai. Nói theo Ôn, làm vẫn theo Ngô! Nên nhớ, Ngô Bang Quốc đứng hàng thứ hai trong Bộ Chính trị, trên Ôn Gia Bảo và chỉ dưới Hồ Cẩm Đào!


Ở Việt Nam, cái hầm tư duy của đảng cũng biết giữ mồm giữ miệng. Khi nói về đổi mới chính trị, ông tướng công an Lê Văn Cương không quên nhấn mạnh rằng “…đổi mới chính trị mạnh mẽ là để góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng!” Đó là tóm tắt mục đích cuộc hội thảo trong hầm này: Đổi mới chính trị làm sao cũng được, miễn là vẫn chỉ có một đảng thống trị!


Cái hầm tư duy được mở hé ra cho dân ngửi chút mùi “đổi mới chính trị.” Nhưng người dân Hà Nội vẫn chỉ ngửi thấy một thứ mùi từ bên trong cái hầm đó, lúc nào cũng vẫn một mùi cũ: Bên Tầu nói sao, bên ta nói vậy! Và mục đích vẫn là: Củng cố đảng!

Ngô Nhân Dụng


Quốc Hội CS Thành Quốc Hại Việt Nam

Ngày 22 tháng Năm tới đây, CS Hà nội sẽ tổ chức bầu cử cái gọi là Quốc Hội của Việt Nam Cộng sản. Người dân Việt trong ngoài nước gọi là quốc hội đảng cử dân bầu. Bà con rất có lý khi nói như vậy. Như Trương tấn Sang muốn được làm Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng muốn được làm Thủ Tướng theo hiến pháp phải là đại biểu nhân dân. Thế mà trong Đại Hội Đảng Đại từ ngày 10 đến 19 tháng Giêng năm 2011, trước ngày bầu cử quốc hội 22-5 - 2011 cả mấy tháng, thì Đảng đã cử hai người này làm hai chức vụ cao cấp của nhà nước rồi. Cái gọi là quốc hội đảng cử dân bầu ấy vì thế là quốc hội của đảng, vì đảng, do đảng, phục vụ cho quyền lợi của Đảng, chớ không phải quyền lợi của nhân dân. Mà Đảng CSVN là đảng độc tài đảng trị toàn diện, thống trị nhân dân. Nên Quốc Hội CS thành quốc hại VN.

Thực vậy, kể từ năm từ 1954, cái gọi là Quốc hội ấy chỉ gồm những nha trảo, nanh vuốt, gia nô của đảng CS. Đảng dàn dựng thành là công cụ hợp thức hoá lịnh của Đảng thanh luật, để mà con mắt thiên hạ hệ thống công quyền của CSVN là tam quyền phân lập, nghi trang chế độ độc tài đảng trị toàn diện của Đảng CSVN.

Đảng CS không tiếc tiền hàng tỷ tỷ của dân, hàng triệu triệu giờ công của dân để lập lờ đánh lận con đen, tô lớp phần dân chủ lên cuộc bầu cử. Như kỳ bầu cử 22 tháng 5 này, họ buộc bằng nhiều cách cử tri cả nước phải đi bầu 500 đại biểu quốc hội khóa 13, hơn 3200 đại biểu cấp tỉnh và thành phố, trên 21 ngàn đại biểu cấp huyện và hơn 280 ngàn đại biểu cấp xã, cho nhiệm kỳ 2011-2016. Mỗi tỉnh sẽ huy động từ bốn ngàn đến năm ngàn nhân viên điều hành công tác bầu cử, tổng kinh phí lên tới 700 tỷ đồng. Chỉ để Đảng Nhà Nước CS có vẽ dân chủ về hình thức hầu Đảng CSVN thực hiện bản chất độc tài đảng trị toàn diện.

Chữ quốc hội và quốc hại chỉ khác nhau có một vần. Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao trên danh nghĩa giấy trắng mực đen của Hiến pháp VNCS. Nó trở thành quốc hại trên thực tế hành động như cơ quan của đảng, vì đảng, do đảng CS Hà nội.

Tiêu biểu như cái gọi là Quốc Hội đã quốc hại khi câm như hến trước việc Thủ Tướng Phạm văn Đồng ký gởi Công hàm bán nước, triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Tổ quốc VN cho TC. Bộ Chánh Trị của Đảng CSVN ký hiệp định biên giới dâng cho TC 1000 km2 đất vùng biên giới năm 1958. Mất Ải Nam Quan vào tay Trung Quốc mà tất cả cán bộ đảng viên câm như hến.Hiệp định lãnh hải CS Hà nội đã dâng cho TC 10.000 km2, phân nửa Vịnh Bắc Việt năm 2000. Còn hiệp Hiệp ước Việt-Trung về Vịnh Bắc bộ và Nghị định thư về hợp tác đánh cá trong Vịnh Bắc Việt - những quyền lợi sanh tử của dất nước ông bà VN để lại, thì cái gọi là Quốc hội thông qua không thảo luận, nhanh như chớp trong phiên họp bế mạc, với số phiếu 424 thuận, 1 chống và 8 không có ý kiến. Và Nghị quyết 23/QH11/2003 về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01-07-1991 thì cái gọi là Quốc Hội thông qua nhanh như cướp vậy. Về vấn đề Trung Cộng khai thác bauxite tàn phá môi sinh, văn hoá đồng bào Thương ở Cao Nguyên và nguy hiểm cho an ninh quốc phòng VN, Đảng Nhà Nước CS triều công cho quan thấy TC, giấu kín như đúc. Đến khi quân dân Tàu đem xe, máy, người, kể cả cái bàn cầu tiêu cũng made in China vào như chỗ không người, người Việt phản ứng mạnh. Các cựu và đương kim tướng lãnh CS Hà nội kiến nghị. Hàng trăm trí thức, văn nghệ sĩ trong ngoài nước kiến nghị gởi Quốc Hội xin đưa vấn ra trước Quốc hội. Thế nhưng trong cuộc họp báo do Văn phòng Quốc hội tổ chức chiều 18-5 giới thiệu về kỳ họp Quốc hội thứ 5 khóa XII, ông Trần Đình Đàn, chủ nhiệm Văn phòng, đã tỉnh bơ như người Hà lội, tuyên bố rằng Quốc hội hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bauxite, lập lại lời của Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, khai thác bauxite là chủ trương lớn của Đảng.

Hành động của cái gọi là quốc hội thành quốc hại đó rất dễ hiểu. Quốc hội CS là đảng cử dân bầu, nếu dân không bầu thì bị vô vàn rắc rối vớùi công an và ủy ban của CS. Đảng đã cơ cấu 95% đại biểu nhân dân phải là người đảng viên. Với đa số tuyệt tuyệt đối đó, đại biểu nhân dân (từ CS chỉ dân biểu) ngoài đảng dù có tài thánh cũng không làm gì được cho dân.

Đại biểu nhân dân ăn cơm Chuá là Đảng CS phải múa tối ngày cho Đảng. Đảng viên CS làm đại biểu nhân dân phải thảo luận biểu quyết theo lịnh đảng vì kỷ luật đảng CS là kỷ luật sắt.

Đại biểu nhân dân không hạn kỳ, không cần thời gian cư trú nơi mình ứng cử, làm đại diện dân mấy pháp nhiệm cũng được nên dễ trở thành quan dân biểu, mất quan điểm quần chúng.

Lại còn kiêm nhiệm chức vụ Nhà Nước nữa. Trong 491 thành viên của Quốc Hội có khoảng 75% kiêm nhiệm chức vụ Nhà Nước. Vừa bận với công tác kiêm nhiệm vừa lo ngại nhiều cái ghế của mình, vừa không thời gian gặp gỡ cử tri, nên chẳng đại biểu nào có thời gian theo dõi, nghiên cứu, trong khi các vấn đề lập pháp kinh tế, chánh trị, tài chánh, văn hoá, xã hội, thường rất phức tạp và nhiêu khê và chuyên môn.

Đảng CS còn một xảo thuật nghị trường nữa. Văn phòng thường trực Quốc Hội toàn những cốt cán của Đảng. Họ không gởi tài liệu trước đủ thời gian để đại biểu nghiên cứu, thảo luận, biểu quyết. Đại biểu thiếu thông tin, nghị luận chính xác về tình hình đất nước vì 700 tờ báo trong nước chỉ cho 1 tổng biên tập là Đảng CS, 16.000 nhà báo chỉ có một ông chủ cũng là Đảng CS.

Nên khi thảo luận hay chất vấn đa số đại biểu nhân dân bị tự tị mặc cảm đối với nhân viên chánh phủ và đảng, nên phần nhiều kính kính, thưa thưa, cám ơn, cám đức, bào chữa cho Đảng, chánh phủ như thần tử đối với long nhan.

Và từ đó quốc hội trở thành quốc hại trong chế độ CSVN, từ khi thành hình cho đến bây giờ. Nó phù họp với cái nhìn của những nhà độc tài toàn trị. Đảng CS dàn dựng nó trở thành công cụ hợp thức hoá, quần chúng hoá ý và lịnh của Đảng, một cánh tay làm lợi cho đảng độc tài, làm hại cho quốc gia dân tộc./.

(Vi Anh)

Hmong

Trong khoảng hai tuần nay, báo chí hải ngoại và thông tin trên các báo màn hình đề cập danh từ Hmong trên trang đầu. Nhật báo Người Việt số mới nhất, Thứ Ba 10 tháng 5, 2011, đăng tin 3 cột ở nửa phần trên của trang nhất: “Vụ Mường Nhé, [Việt Nam] Tăng phái một trung đoàn để đàn áp người Hmong, thêm 14 người thiệt mạng.”

Người phụ nữ ngồi thêu “Pa Ndau” với hoa văn nhiều màu sặc sỡ là một truyền thống di sản và một biểu tượng điển hình của người Hmong ở các nơi. (Hình: Hmong Studies Journal)

Mường Nhé thuộc tỉnh Ðiện Biên hiện nay, xưa chỉ là một quận lỵ của tỉnh Lai Châu, thuộc Tây Bắc Việt Nam, giáp giới Thượng Lào. Năm 1953, chính vì đầu óc lo bảo vệ Thượng Lào mà Tướng Navarre của Pháp và Ðiện Biên Phủ trở thành một bại tướng và một thung lũng lừng danh thế giới. Dân cư ngụ nơi đây đa số là người Hmong, hôm 30 tháng 4 và 1 tháng 5 đã tụ tập tới 8,500 người, bắt giữ các cán-lại tham nhũng địa phương, và biểu tình chống chính quyền trung ương ở Hà Nội, đòi tự do tôn giáo và các quyền căn bản làm người. Cuộc biểu tình bị công an và quân đội nổ súng đàn áp, làm 63 người chết, theo tin của cơ quan CPPA (Center for Public Policy Analysis-Trung tâm Phân tích Chính sách Công) ở Hoa Thịnh Ðốn, mà giám đốc là ông Phillip Smith, nguyên là một thành viên trong Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ. Trung tâm cũng là cố vấn cho Quốc Hội Hoa Kỳ. Theo ông Smith trả lời nữ ký giả Hà Giang, thì trung tâm có đại diện ở Thái Lan, Lào, và ngay tại Ðiện Biên; họ chứng kiến “người Hmong biểu tình ôn hòa nhưng bị đàn áp tàn nhẫn.” Họ bị cán-lại cướp đất đai trồng trọt để làm của riêng, tự tiện phá rừng, chặt cây cối, xây nhà cửa, xây công ty riêng, cấm dân bản địa theo các tín ngưỡng mà họ muốn...

Trong quá khứ, đọc sách báo đây đó, tôi đặc biệt yêu mến dân tộc Lào, tức dân tộc Hmong. Hmong cũng là Miêu, hay Việt Nam gọi là Mèo, nhưng Mèo lại không hoàn toàn là Hmong. Ðó là một dân tộc hiền hòa nhất trong bán đảo Ðông Dương. Sử ký Trung Hoa nói đến họ từ thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch. Có nguồn tài liệu khác, họ có mặt trên trái đất từ 2700 năm trước Tây lịch, dưới quyền lãnh chúa Txiv Yawg. (You Tube). Năm 1980, 1981, đọc tờ The Washington Post thấy một tin nhỏ, về các trận “mưa vàng” do phi cơ cộng sản Hà Nội thả xuống Thượng Lào, tôi đã làm và cho phổ biến một số thơ làm trong khi tâm tưởng tràn lan hình bóng dân tộc ấy, và người miền núi:

Sầm Nứa mưa giăng

Sầm nứa mưa giăng mù bốn núi
Lòng em rộng mát tựa mưa giăng
Vẳng nghe cồng gọi từ niên cổ
Ta chạnh lòng thương nhớ bản Mường.

Bóng Núi

Bóng núi xanh mờ tâm trí tôi
Từ khi mẹ ẵm lúc nằm nôi
Rừng thiêng suối thẳm xây làng bản
Thú dữ đôi khi hiểu tiếng người.

Mường Bản

Ðuổi Mông đánh Hán chống quân Minh
Mường bản gươm dao sáng rực thành
Kéo xuống Phong Châu tìm vợ đẹp
Qua tây lấy ngựa nạt vua Xiêm.

Mưa vàng

Hôm qua nghe núi có mưa vàng
Người núi lìa thây khắp suối xanh
Trong đáy tim ta chừng thấm độc
Cầm thư Hà Nội thấy mùi tanh

(Viên Linh, Thủy Mộ Quan, 1982, tr. 29-30)

Người Hmong

Nếu tìm một hình ảnh điển hình về người phụ nữ Hmong, thì đó là hình ảnh một thiếu nữ có khuôn mặt trắng trẻo, hiền hậu, đang thêu một vuông vải màu. Vải thêu màu sắc rực rỡ, hoa văn phần lớn hình vuông, hình trám, là một di sản truyền thống của người Hmong, tên gọi là “Pa Ndau.” Có ba ca khúc người Hmong dùng đến trong các dịp lễ lạt, có thể gọi là các ca khúc dân gian, tùy theo hoàn cảnh. Trong tang lễ, hay nói về sự sáng tạo vũ trụ, đó là ca khúc “txiv xaiv”; trong đám cưới, đó là ca khúc “zaj tshob”; và những diễn ca “dab neeg” trong đó người ta tìm thấy cột trụ thế giới tinh thần của giống dân hiền hòa. (Kao-Ly Yang, Ph.D. Hmong Studies Journal, no7.) Thế giới cõi âm “hauv av” hay thủy cung bên dưới “txwv” là vương quốc của loài rồng. (Moréchand, Yim Bim).

Ði tìm nguồn gốc dân tộc Hmong cho đến cội nguồn, có giả thuyết họ đến từ Mesopotamia Tây Bá Lợi Á, hay từ Mông Cổ. Người Hmong sống trên những cao nguyên không cao lắm, ngoài Lào, ở Việt Nam họ cư ngụ trong các tỉnh Hà Giang, Lào Kai, Lai Châu, Sơn La, toàn thể dân số trong lãnh thổ Việt Nam khoảng hơn một triệu người, theo Wikipedia là 1,068,189 người, và ở Hoa Kỳ trên 204,000 người, theo Hmong Sudies Journal. Dân tộc Việt Nam từng được một số chuyên gia dân tộc học chia ra làm tám nhóm, theo thứ tự như sau:

1. Việt (gồm người Kinh, Mường, Chức).

2. Tày, Thái (gồm Tày, Nùng, Thái, Bố y, Cao Lan, Sán Chỉ, Lào)

3. Hmong - Dao.

Năm nhóm sau đó là Tạng-Miến, Hán Hoa, Môn-Khơ Me, Mã Lai đa đảo và nhóm hỗn hợp. Như thế nhóm Hmong được xếp hàng thứ ba, theo sách Ðại cương Lịch sử Việt Nam (Trương Hữu Quýnh, nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2000, tr.10). Họ “cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người H'Mông cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (231,464 người, chiếm 31.9% dân số toàn tỉnh và 21.7% tổng số người H'Mông tại Việt Nam), Ðiện Biên (170,648 người, chiếm 34.8% dân số toàn tỉnh và 16% tổng số người H'Mông tại Việt Nam), Sơn La (157,253 người, chiếm 14.6% dân số toàn tỉnh và 14.7% tổng số người H'Mông tại Việt Nam), Lào Cai (146,147 người, chiếm 23.8% dân số toàn tỉnh và 13.7% tổng số người H'Mông tại Việt Nam), Lai Châu (83,324 người), Yên Bái (81,921 người), Cao Bằng (51,373 người), Nghệ An (28,992 người), Ðắk Lắk (22,760 người), Ðắk Nông (21,952 người), Bắc Kạn (17,470 người), Tuyên Quang (16,974 người), Thanh Hóa (14,799 người).” (Theo Wikipedia)

Trong cuốn Dân Nhạc của Dân Tộc Việt Nam, Phạm Duy nhấn mạnh đến trống đồng và khèn của đồng bào Thượng miền Thượng du Bắc Việt. Họ dùng trống và khèn trong “lễ sống” và “lễ chết.” Tiếng trống rừng xanh thôi thúc và tiếng khèn nức nở nơi cung bậc cao, u uất và nghẹn ngào, đang bay lượn trên rừng xanh núi đỏ Ðiện Biên. Dân tộc hiền hòa ấy đang bị giết chết một cách tàn khốc, chỉ vì tranh đấu để đòi lại những gì đã bị tước đoạt, 37 năm sau đất nước độc lập.


VIÊN LINH

Hình và ảnh thời ấu thơ

Người viết thuộc vào thế hệ có tuổi ấu thơ được nuôi nấng ở trong Nam khi hy vọng thanh bình hiền hòa đã chớm nở ở Sài Gòn. Ðấy là tuổi mê Sách Hồng, truyện “Ông Ðồ Bể,” “Cái Ấm Ðất” hay các tác phẩm văn chương của người lớn cho con nít. Trong khi ấy, lũ con trai và em nhỏ trong nhà lại mê tạc hình.

Bây giờ, phải nhắc đến trò tạc hình đó, khi mà lũ con trai và các em nhỏ đã thành ông, thành bà. Thành ông thành bà không bị chức vị xã hội mà là do tuổi tác.

Quỳnh Giao không nhớ rằng cái nghệ thuật ấy xuất hiện thời nào và ở đâu, nhưng không quên được các mảnh bìa mỏng in truyện hình của Tây. Mỗi tờ bìa có vài chục tấm hình, mỗi tấm chỉ nhỏ bằng một cái bao diêm và được cắt thành từng mảnh xếp lại như một cỗ bài.

Kỹ thuật ấn loát thời ấy chưa tinh vi với loại sản phẩm bán cho con nít, nhưng các hình ảnh cũng đủ vẽ ra chân trời mới lạ cho tuổi thơ.

Trẻ em mua về, cắt ra và làm... collection, là các nhà sưu tầm tí hon. Rồi chúng đổi chác với nhau như các cụ già chơi tem. Chúng bày ra trò chơi tạc hình, dùng sự khéo tay để cướp lấy báu vật của bạn. Chúng xếp các tấm hình này thành từng chồng và lấy phiến gạch hay ngói đã mài cho tròn để ném vào chồng ảnh. Ăn thua là đẩy các tấm ảnh đó ra ngoài, và một trận đấu hào hứng đó chỉ bị gián đoạn khi người lớn gọi về. Ðến giờ ăn cơm rồi!

Là chị lớn trong nhà, người viết thường lãnh cái nhiệm vụ cắt đứt cuộc chơi của các em. Nhưng mà cũng nhờ đấy lại liếc xem lũ trẻ chơi cái gì vậy!

Vào thời đó, truyện Zorro chưa thịnh hành và hấp dẫn bằng truyện Tarzan. Hình ảnh cái gã Tarzan da trắng đu dây bay qua đầu những thổ dân Phi Châu được tô màu tím ngắt đã làm lũ trẻ say mê. Chúng chưa phân biệt màu sắc và màu da. Sau này rất lâu rồi thì mình mới lờ mờ hiểu rằng loại truyện hình đó có ẩn chứa nét văn hóa của Âu Châu vào thời thuộc địa, có tiềm tàng tinh thần kỳ thị chủng tộc và màu da!

Sau kỷ nguyên tạc hình của những năm 50-60 là kỷ nguyên của Tintin.

Ðó là chú phóng viên có vẻ rất Tây với con chó Milou tròn vo như một cuộn len biết chạy. Dấu ấn của Tintin là cái bờm tóc, là quần ống túm mà thời đó chưa ai biết là quần chơi golf! Nhớ lại chuyện xưa thì trẻ em ở thành phố không còn chuộng hình ảnh Tarzan nữa mà chuyền tay nhau đọc Tintin.

Ðấy là Lê Phong phóng viên của Thế Lữ, nhưng có màu sắc và tình tiết hiện đại hơn và toàn cầu hơn, vì phóng viên Tintin đi khắp nơi, qua bên Tầu bên Mỹ, vào đến xứ Tây Tạng huyền bí và lên cả cung trăng!

Vào thời ấy, trẻ con gọi tên là “tin tin” mà có khi chẳng biết là phải dùng chữ Tanh Tanh thì mới giống như Tây!

Khôn lớn hơn một chút thì mình mới biết rằng thân sinh ra Tintin không phải là một ông Tây mà là một ông Bỉ. Rằng truyện Tintin cũng rất cổ điển với quan niệm thám tử trừ gian và chính phải thắng tà. Lúc ấy, Kim Dung chưa xuất hiện! Nhưng mãi rồi thì mình cũng thấy ra cái nét kỳ thị ở trong truyện vì đưa ra hình ảnh rất xiêu vẹo méo mó của các dân tộc khác.

Còn quá nhỏ, Quỳnh Giao và các em khi đó vẫn chưa thấy khó chịu về một truyện của Tintin bên Tầu vào trong một hắc điếm có mấy người nằm hút thuốc phiện! Lớn lên rồi mới nghe thấy các chú các bác nói đến chữ “phi yến thu lâm.” Tưởng là một câu thơ chữ Hán, hóa ra là khẩu khí của các ông trong làng bẹp! Ðó là “phiện thú lắm,” nghĩa là ca tụng cái thú hút thuốc phiện. Và “làng bẹp” đó là câu lạc bộ của các ông thích nằm bẹp với khí giới trong tay là cái dọc tẩu.

Từ truyện Tarzan da trắng trấn áp quần hào da màu đến truyện phóng viên Tintin đi khắp bốn phương để tế khổn phò nguy và bài trừ hủ tục của thế giới lạc hậu bên ngoài Âu Châu, tuổi thơ của chúng ta có bị ảnh hưởng mà lại không biết.

Nhưng cũng nhờ truyện Tintin mà có lần Quỳnh Giao viết về danh ca Montserrat Caballé qua hình ảnh của một nhân vật trong truyện Tintin là bà Bá Tước Castafiore thích hát Opéra, một bà mập phì với vóc dáng vĩ đại như Caballé! Bà Castafiore này thì ưa hành hạ lỗ nhĩ của thiên hạ và làm bể kiếng nhà hàng xóm chứ Montserrat Caballé mới là tiếng hát sơn ca dưới dáng đồ sộ không thua kém gì Luciano Pavarotti!

Ngẫm lại thì càng lớn lên và có dịp nhìn lại những ấn tượng đã in sâu vào tuổi ấu thơ của mình thì Quỳnh Giao càng thấy là sự trưởng thành với tuổi tác có xâm hại những mộng mơ thuở nhỏ. Người trưởng thành là không tin vào mộng mơ cổ tích nữa và đấy là một thiệt thòi.

Chỉ riêng có một thành phần đã trưởng thành mà vẫn thích và vẫn biết mơ mộng, đấy là các nghệ sĩ. Lê Thương trong bài “Tuổi Thơ” hay Phạm Duy của “Tuổi Mười Ba” với lời thơ Nguyên Sa là những thí dụ rất đẹp. Một thí dụ khác chính là đại đạo diễn Steven Spielberg của Hoa Kỳ.

Ông là tác giả của những bộ phim làm con trẻ say mê và người lớn hốt bạc. Ông có khả năng trình bày giấc mơ của trẻ thơ với những kỹ thuật tối tân của người lớn và kiếm ra bạc tỷ. Nhờ khả năng ấy, Steven Spielberg đã nhìn lại nhân vật Tintin của chúng ta và còn dựng thành phim.

Cuối năm nay, chúng ta sẽ có cơ hội xem cuốn phim và nhớ lại tuổi thơ của mình khi còn ở nhà. Tarzan thời thuộc địa đã được Steven Spielberg thoát xác thành Indiana Jones, một giáo sư bác học mà cũng là một tay phiêu lưu có hạng. Bây giờ, phóng viên Tintin của nửa thế kỷ trước sẽ đầu thai thế nào trong thế kỷ 21 này, có lẽ ai ai cũng muốn biết.

Quỳnh Giao thì nhớ lại trò chơi tạc hình của trẻ em và không quên được vỉa hè rất đẹp của Sài Gòn năm xưa, khi chưa bị chiến tranh tàn phá. Nếu muốn có lại vài tấm hình ấn loát loang lổ và đã sờn góc vì bị chọi đá thì chắc là hết hy vọng. Còn lại, chỉ là kỷ niệm trong trí nhớ. Nếu mất luôn những kỷ niệm này thì mình đã trưởng thành, nghĩa là hết khả năng mơ mộng và đấy mới là sự mất mát thật!

Tạp ghi Quỳnh Giao

Los Angeles vinh danh Chánh Án Jacqueline Nguyễn


LOS ANGELES - Chánh Án Jacqueline Nguyễn vừa được Thị Trưởng Antonio Villaraigosa và HÐTP Los Angeles vinh danh vào lúc 10 giờ sáng Thứ Sáu, 13 Tháng Năm, trong một buổi lễ tổ chức tại Phòng Thương Mại Los Angeles, nhân dịp Tháng Di Sản Văn Hóa Người Mỹ Gốc Châu Á Thái Bình Dương, Tòa Liên Bang Central District of California, cho biết.

Chánh Án Jacqueline Nguyễn. (Hình: US Court, Central District of California, cung cấp)

Chánh Án Jacqueline Nguyễn được Tổng Thống Barack Obama đề cử vào tòa liên bang hồi Tháng Bảy, 2009. Năm tháng sau, bà được Thượng Viện chuẩn thuận với số phiếu tuyệt đối 97-0, trở thành chánh án gốc Việt đầu tiên trong hệ thống tòa liên bang Hoa Kỳ.

Trước đó, bà là chánh án Tòa Thượng Thẩm California ở Los Angeles County.

Sinh ra tại miền Nam Việt Nam, Chánh Án Jacqueline Nguyễn đến Mỹ năm 1975 sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc. Bà tốt nghiệp cử nhân đại học Occidental College năm 1987, tốt nghiệp luật tại đại học UCLA năm 1991 và hành nghề luật cho tới năm 1995, trước khi trở thành công tố viên tại tòa liên bang Central District of California.

Ngoài Chánh Án Jacqueline Nguyễn, hai người khác cũng được vinh danh kỳ này.

Ðó là bà Aiko Herzig-Yoshinaga, từng sống trong trại giam giữ Manzanar trong Thế Chiến 2 và sau này trở thành một nghiên cứu sinh cho Ủy Ban Tái Ổn Ðịnh Công Dân Bị Giam Giữ (CWRIC) của Quốc Hội Mỹ. Người thứ nhì là cô Tia Carrera, diễn viên, người mẫu và ca sĩ gốc Hawaii. Cô là người từng đoạt giải Grammy.

Thất Sỹ

… Em thấy bọn tham nhũng là bọn tham lam, ăn bẩn – pháp luật phải xử thế nào cho đúng thói tham tục của nó! Chú định xử thế nào?… Cho nó ăn c…! Úi dùi ui! Tội này nặng thì tử hình. Xử theo cách của chú á? Có người muốn đấy!…

*

Làng Đuồi hôm nay có đám giỗ đến là to. Ngay từ hôm kia, rạp đã được dựng lên trên khoảng sân rộng bằng một sân bóng đá – bốn dãy to, rộng, xanh, đỏ. Buổi tối hôm đó, nhạc đã xập xình, người ra vào tấp nập. Ngày hôm qua, dụng cụ nấu nướng, bát chén đã được tập kết đầy đủ. Đám này có lẽ phải đến trăm mâm.

Nguyên là: Anh Dương Tiến (tên khai sinh là Dương Tõ, người làng gọi là cu Tõ) đang công tác ở Hà Nội, hôm nay làm giỗ đầu cho ông thân sinh là Dương Lõ. Anh làm giỗ to để trả nghĩa bà con vì khi ông thân sinh mất, bà con chòm xóm phải lo hậu sự, còn anh đang bận công tác ở nước ngoài, không về kịp.

Anh Dương Tiến là con duy nhất của ông Lõ, ông Lõ là con duy nhất của cụ Mõ – tên thực của cụ là gì, chẳng ai biết, nhưng vì cụ làm mõ nên mọi người cứ gọi là thằng mõ rồi quên luôn tên. Cụ Mõ không có vợ, cụ ôm đâu về một thằng bé đỏ hỏn để nuôi, rồi thăng bé cứ thế lớn, mũi dài lòng thòng, mọi người gọi là cu lõ, rồi cũng thành tên. Ông Lõ cũng có vợ, nhưng bà vợ này chỉ kịp sinh cho ông một đứa con trai rồi bỏ đi luôn khi con còn bé tý. Không nỡ vứt bỏ cái vần của nhà nên ông đặt tên con là Tõ – Dương Tõ.

Cậu Tõ được ông bố cho ăn học đầy đủ, lên đến phổ thông trung học thì đươc gửi lên tỉnh học. Tuy học hành chẳng ra sao nhưng cậu lại được con gái ông cấp tỉnh yêu. Cô con gái vừa gầy vừa đen, có lẽ trên đời chẳng còn ai có thể gầy hơn, đen hơn được nữa. Rồi khi tốt nghiệp PTTH thì cậu được ông bố vợ tương lai gửi cả hai đứa sang học bên Tây. Khi hai vợ chồng cậu ở Tây về thì ông bố vợ đã bố trí đầy đủ cho vợ chồng cậu biệt thự, công việc ngay tại Hà Nội. Như thế cậu đã là người thành đạt.

Thực khách được mời gồm cả từ cấp thôn đến cấp tỉnh, từ trong họ đến ngoài làng. Món ăn được kết hợp trung ương với địa phương tức là món gì ở đây không có thì được chở từ Hà Nội ra. Cứ 4 người được xếp một mâm, điều này ở đây chưa có tiền lệ.

Ta hãy nhập vào một mâm có các ông: Hội, Đồng, Phiếm, Luận – Đây có vẻ như là mâm tinh tuý nhất làng:

- Ông Hội: Người đã từng học đại học ở Liên Xô khoảng năm sáu mấy, chỉ vì sưu tầm nhiều chuyện tiếu lâm tây mà bị tống cổ về nước. Ông ở quê và vớ việc gì làm việc ấy – từ sửa đài, tivi, xe máy đến dạy học.

- Ông Đồng: Bộ đội, đã từng tham gia từ cuối cuộc chiến tranh chống Pháp đến đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ – nghĩa là: Khi chống Pháp ông còn nhỏ làm giao liên ở xã, lúc đủ tuổi đi bộ đội chống Mỹ, ông nhập ngũ và bị thương ngay khi bắt đầu vào chiến trường.

- Ông Phiếm: Có bà vợ giỏi buôn bán từ gánh hàng xén bà đã phát triển thành cửa hàng tạp hoá to nhất đầu chợ.

- Ông Luận: Lão nông tri điền, họ hàng nghiêng cả làng nước nghĩa là họ nhà ông ở xã này đông lắm, nhiều lắm.

Cũng xin giới thiệu: Xã này là xã Mạnh Dương, một xã suýt nữa thì được phong anh hùng. Một phần đất phía đông của xã đã thành sân gôn, một phần đất phía tây của xã sắp thành rì sọt.

Mâm của ông Hội bắt đầu vào cuộc, ông Hội nâng chén:

- Nào, mời các ông, ta cầu cho ông Lõ được yên lành nơi chín suối.

Hết tuần rượu đầu, ông Đồng lên tiếng:

- Bác Hội này, bác từng học ở Liên Xô, hẳn bác biết vì sao CNXH ở bên đấy tự nhiên đổ sập?

Ông Hội thong thả tiếp lời:

- Cái thời của tôi được đi học nước ngoài chủ yếu là theo chủ nghĩa thành phần, cho nên có một số cái đầu đất cũng được đem đi đào tạo, đào tạo xong thì những cái đầu đất trở thành những cái niêu đất đeo bằng về nước. Còn cái nhà mà đổ chẳng qua là do nền móng yếu. Có nhà cách mạng đã nói: Cách mạng như một cơn lũ, nó cuốn phăng tất cả mọi thứ trên đường đi của nó. Có điều trong những cái bị cuốn đi ấy, có cái cần phá, có cái cần giữ. Bây giờ, có lẽ bên ấy họ đang xây lại cái cần giữ. CNXH ra đời khi thế giới đang khủng hoảng các loại chủ nghĩa nên lúc đầu nó có ưu việt. CNXH lại do những người vĩ đại nghĩ ra, nhưng nhân dân không vĩ đại như các vị ấy, họ như cái cây, rễ mọc đến đâu thì cây phát triển đến đấy, có thể cây mới tốt cành xanh lá được.

Ông Luận gàn:

- Thôi, nói chuyện Liên Xô với CNXH xa xôi quá, nó đổ thì đã đổ rồi. Em hỏi các bác chứ cái vụ PMU18, lúc đầu ông Quắc cho bắt ông Tiến, lúc ông Tiến được tha thì ông Quắc lại bị khởi tố, thế thì ai đúng, ai sai?

- Lúc đầu ông Quắc đúng, ông Tiến sai – lúc sau ông Tiến đúng, ông Quắc sai!

- Bác cứ đúng đúng, sai sai lộn tùng bậy cả lên, em chẳng hiểu ra sao cả.

- Thì tôi biết thế, tôi phổ biến thế!

Ông Phiếm góp vào:

- Cái chuyện tham ô, tham nhũng thì ở xã mình có mà đầy. Cái vụ lấy đất làm sân gôn đấy! Người của bên dự án, người được nhận đền bù suốt ngày thậm thụt ở nhà ông chủ tịch xã, ông ấy ăn cả hai mang, ai chả biết – rồi tay công an xã, cứ ở đâu có đánh nhau, trộm cắp là sấn vào như con kền kền ăn xác thối, rồi lại êm xuôi cả, chẳng ai bị xử lý gì!

Ông Hội can:

- Này chú, chống tham nhũng thì chú cứ nói, đừng chỉ đích danh mà công an xã bắt chú ngay đấy!

- Tội gì mà bắt tôi?

- Tội làm lộ bí mật xã gia!

Vẫn hay có ý kiến chẳng giống ai, ông Hội tiếp:

- Theo tôi thì ở ta làm gì có tham nhũng. Đấy, mấy cái vụ báo chí, dư luận làm rùm beng lên, tưởng bắt được con voi, nhưng sau một hồi điều tra thì hoá ra đấy chỉ là con chuột – rõ là dư luận vẽ chuyện!

Ông Luận tiếp:

- Em thấy bọn tham nhũng là bọn tham lam, ăn bẩn – pháp luật phải xử thế nào cho đúng thói tham tục của nó!

Ông Phiếm hỏi:

- Chú định xử thế nào?

- Cho nó ăn c…!

- úi dùi ui! Tội này nặng thì tử hình. Xử theo cách của chú á? Có người muốn đấy!

Chợt tiếng chuông điện thoại trong túi ông Phiếm reo vang, ông vội cầm máy, a lô mãi mà chẳng nghe được gì, bực mình, ông vứt cạch cái điện thoại cạnh mâm. Ông Đồng thấy thế xỏ xiên:

- Vứt mẹ cái điện thoại của chú đi! Cái máy như của chú, ở nước ngoài người ta bán cho chó, xã mình nhập về cả đống, vừa phát vừa cho mai vẫn chưa hết kia kìa.

Ông Phiếm hỏi ông Luận:

- Thằng con trai ông xin vào tổ thầu của xã đã xong chưa?

- Em cũng chưa biết thế nào, nhưng phải vai vế lắm mới được.

- Thì họ nhà ông trong xã, chân nào chả có, lo gì không được. Tôi nói cho ông biết chứ, cái chỗ ấy được lắm đấy, nó bao thầu hết các công trình của xã.

Ông Đồng xen vào:

- Ôi dào! Tổ thầu ấy nó làm đường hỏng đường, xây cầu – cầu sập. Thế mà uy tín của nó ngày càng cao. Vừa rồi, huyện gọi nó lên làm công trình của huyện đấy. Kiểu làm ăn của nó là: “Thằng dưới bóp d.. thằng trên – thằng trên trùm mền cho thằng dưới” cứ thế mà phát triển. Vừa rồi nó còn không thèm nhận công trình đường dây, trạm điện cho xóm dưới nữa cơ.

Ông Hội cũng góp vào:

- Đấy là kiểu làm mình làm mẩy của kẻ quyền thế, dưng mà ngu – để mấy thằng thầu xã bên nó mà nhảy vào thì có mà toi xơi!

Không khí tự nhiên trầm lắng lại. Mấy mâm bên cạnh, bọn thanh niên sau mấy hồi zô-zô đến hụt hơi khản cổ cũng đã im tiếng.

Ông Luận khẽ khọt:

- Em thấy thời nay sao mà lại có người ác quá chó: Mẹ cắt chân tay con, bảo mẫu hành hạ trẻ, con đánh mẹ, con giết bố – khiếp, em nghe mà rợn cả người.

Ông Hội giải thích:

- Đấy là cái sự xuống cấp về đạo đức – nhưng thực ra, cái gì cũng lôi thôi cả – như giáo dục thì cải tiến cái lùi, bác sỹ thì thất đức, giao thông thì hỗn loạn, công trình này nọ xây xong thì hỏng, thì đập phá.

Trầm ngâm một lát rồi ông tiếp:

- Hôm nọ, ra Hà Nội, tôi thấy trụ sở “Tạp chí cộng sản” cũng mở sàn giao dịch chứng khoán. Đây có lẽ là sự liên minh của hai nhà: Chính trị và kinh tế. Thực ra sự liên minh này đã có từ lâu: Như trong nhà có một người làm quan chức thì có các doanh nghiệp người nhà làm sân sau cho các vị ấy. Chắc sự liên minh ấy không phải vì lợi ích của nhân dân. Xét cho cùng thì nhân dân là người khổ nhất – khi đất nước lâm nguy thì đem xương máu ra để bảo vệ, khi đất nước hoà bình thì đem mồ hôi nước mắt ra để xây dựng. Nhưng dưới cái nhìn của kẻ thống trị thì dân chúng chỉ là mọt đám đông ngu dốt. Ngày xưa, người dân làm ra được đặc sản gì trước hết phải dâng vua, rồi vua cho cái gì thì được cái ấy. Ví dụ cái anh trồng xoài dâng vua, rồi được vua ban cho một quả xoài – Thế là gia phả, sử sách truyền lại việc ấy đến mấy đời. Xét cho cùng thì sự thống trị nào cũng đứng trên sự hèn nhát, dốt nát của kẻ khác. Lịch sử công bằng hơn vì đã đặt nhân dân đúng vị trí.

Ông Luận bắt đầu tham gia thời sự:

- Em thấy nông dân mình phải biết ơn ông Kim Ngọc – vì cái sự khoán ruộng của ông ấy nông dân ta mới được mở mày mở mặt.

Ông Hội hưởng ứng:

- Đúng quá, ông ấy là người tìm ra “con đường xưa em đi” và mạnh dạn áp dụng cái cũ.

- Bác nói như phủ nhận công lao của người ta!

- Không, tôi muốn nói cái cơ chế thời ấy, nó bảo thủ đến mức không nhận ra đâu là lợi ích, đúng sai.

Cuộc tranh luận tạm ngưng khi xuất hiện một cậu thanh niên từ mâm bên cạnh sang tự giới thiệu:

- Cháu là anh vợ của chú Tiến nhà này, xin phép được mời các bác một chén!

Mọi người cùng nâng chén, cậu thanh niên tiếp lời:

- Thế hệ của các bác là thế hệ hai lần oanh liệt vì đã đánh thắng hai đế quốc to, cũng là thế hệ đầu tiên của công cuộc xây dựng CNXH. Các bác cũng biết để có được ngày hôm nay, chúng ta đã phải chịu bao gian khổ hy sinh, còn những tiêu cực như các bác nói, chỉ là mặt trái của xã hội, rồi ta sẽ khắc phục được để đưa đất nước tiến lên sánh vai các cường quốc năm châu!

Ông Phiếm đế luôn:

- Mặt trái to hơn mặt phải, có mà sánh bằng mồm!

Ông Hội từ tốn:

- Cảm ơn cậu đã cho chúng tôi một bài học mà chúng tôi đã thuộc lòng từ khi cậu chửa sinh ra.

Cậu thanh niên tiu nghỉu cầm chén về chỗ.

Ông Hội hỏi:

- Cậu này làm gì ấy chỉ?

Có người trả lời:

- Cậu ấy làm ở ban tuyên huấn tỉnh.

- À, ra thế, ở đời có những người cứ nói mà không hiểu mình nói gì, nói với ai – nhưng lại cứ muốn người khác phải nghe, phải tin mình. Nào là ta đã có những thành tựu vĩ đại, tiến bộ vượt bậc, nhưng nhìn ra xung quanh thì ta chẳng bằng ai. Xem như người Nhật ấy, chỉ cần 15 năm ra khỏi cuộc chiến, người ta đã làm ra được những sản phẩm tiên tiến. Còn ta, hơn 30 năm đi tắt đón đầu mà vẫn chẳng làm được cái gì nên hồn. Chẳng lẽ con người Việt Nam thông minh, kiên cường là thế ư? Tôi có thằng cháu học ở Mỹ về, làm ở trung tâm ứng dụng phương pháp khả thi. Khi có đề án đúng chuyên môn của nó thì người ta lại giao cho một ông bằng rởm, tiền cứ lấy, kết quả chẳng ra đâu vào đâu, báo cáo vẫn có. Thằng cháu tôi nó cứ mặc kệ. Tôi bảo nó: “Cháu làm thế là phải, vì xung quanh cháu có nhiều kẻ sâu mọt, mình nói ra điều phải, chắc gì người ta đã nghe mà có khi còn bị hại vì những kẻ sâu mọt thường hay ghen ghét, đố kỵ”.

Ông Đồng tán dương:

- Bác này cả đời bị đuổi khỏi biên chế, mà cũng có vẻ có kinh nghiệm làm việc nhà nước gớm nhỉ.

Ông Luận nhắc ông Phiếm:

- Đằng kia có cái hòm công đức để tu sửa đình làng đấy, giàu có như bác cũng nên đóng góp một ít.

Ông Hội tiếp lời:

- Ừ, bây giờ cứ có chùa chiền, di tích là lại có trùng tu, tôn tạo – chả bù cho thời cải cách – cứ đình chùa, di tích là dang tay đập phá. Nếu hai việc ấy xảy ra trong cùng một thế hệ thì chắc đấy là thế hệ bị thần kinh; nhưng cũng may: việc đập phá là một thế hệ, việc tôn tạo là thế hệ khác cho nên tất cả đều sáng suốt không có ai bị thần kinh cả.

Ông Phiếm khề khà buôn chuyện:

- Cái tay chủ tịch xã này tài không, đức không, được người dân kể xấu như hát hay, lên huyện họp thì ăn nói ngô nghê – thế mà chuyen này vẫn được đề cử, nghe nói là khả năng trúng cử rất cao đấy!

Ông Hội lại tiếp mạch xã luận:

- Thì cơ chế thế, con người thế. Bây giờ một người được kết nạp Đảng, có mấy người khen đấy là người tốt? Một người được đề bạt, có mấy người khen đấy là người giỏi? Dân chúng là người lựa chọn chính xác nhất nhưng quyền của người ta chỉ là hình thức nên người ta mặc kệ. Còn mấy kẻ cơ hội qua được hai cái cửa ấy thì cứ thế mà thăng tiến.

Ông Đồng nhắc nhở:

- Nói như bác thì một con bò đeo hai cái mác ĐH và ĐV nó cũng làm xếp được đấy nhỉ ?

Ông Hội không có thói quen trả lời vặt, vẫn tiếp dòng suy tư của mình:

- Như cái vụ cảnh sát giao thông ăn tiền, dân đã biết từ lâu, đến khi có mấy nhà báo dũng cảm vào cuộc thì mấy vị chức trách mới làm ra vẻ giật mình. Đấy là một quy trình ngược. Nếu như việc này tự trong ngành phát hiện, xử lý thì mới là quy trình thuận, dân người ta mới tin tưởng ở hiệu năng của bộ máy. Mà xem ra quy trình ngược ở ta không phải là ít. Điều này làm cho trong xã hội thiếu sự tin tưởng. Rồi như trong xã mình, dân xóm Đông thì suốt ngày cắm trại ở sân gôn, dân xóm Đoài thì cắm trại ở rì sọt. Thế thì làm gì có sự ổn định? Một xã hội thiếu niềm tin và không ổn định thì có đất cho lưu manh và đĩ điếm liên tục phát triển.

- Bác nói quá, lưu manh đĩ điếm thì chỉ có số lượng nhất định nó mới làm ăn được chứ!

- Tôi nói lưu manh đĩ điếm là sự ô nhiễm tính cách, có kẻ nhiễm thói lưu manh mà không biết mình lưu manh, nhiễm thói đĩ điếm mà không biết mình đĩ điếm, hoặc có biết nhưng lại coi đó là bình thường – đấy là nhân tố làm hỗn loạn xã hội.

Ông Đồng thấy chuyện đã lâu, cỗ đã tàn bèn can:

- Thôi bác, ta dừng câu chuyện ở cái đoạn lưu manh đĩ điếm của bác để cỗ sau ta bàn tiếp.

Nhưng ông Hội chẳng muốn thôi, đột nhiên ông mang vẻ mặt rất nghiêm trang, giọng nói trở nên trịnh trọng như kẻ nhập đồng:

– Thưa các ngài, hôm nay ta họp nội các ở đây để giải quyết những vấn đề rất trọng đại. Một là: bệnh tham nhũng đã ăn vào đến cao hoang, để trừ bệnh này theo tôi ta nên áp dụng binh pháp Tôn tử: lấy ác trừ ác, nghĩa là lấy tham nhũng trừ tham nhũng. Đề nghị các ngài tham gia vào phương án này! Hai là nạn mua quan bán chức đang diễn ra phổ biến, điều này thậm vô lý bởi quan tước là sắc phong của nhà nước mà tiền lại rơi vào túi bọn mua chui bán lủi.Theo tôi, để trừ tệ nạn này ta nên đấu giá tất cả các chức vị, tiền thu vào ngân khố. Ghế nào trống, ta thu 100%. Ghế có người, ta thu 50%, người đang ngồi phải nộp, nếu không nộp ta thu của người mua 100%, trả cho người ấy 50% tiền bán chỗ. Làm như vậy nội các của ta sẽ được tiếng là minh bạch. Ý kiến của các ngài thế nào?

Cả ba ngài thành viên nội các chân đất mắt toét đang ngồi quanh mâm rượu đồng thanh hô:

– Thuận ý!

– Cám ơn các ngài! Mời các ngài giải tán.

Mọi người lục tục ra về, khi qua cổng, ông Phiếm thấy cậu Tõ đứng khoanh tay vẻ kính cẩn, ông rẽ vào khen một câu chiếu lệ:

- Cậu làm như thế này là chí hiếu đấy!

Thất Sỹ (danlambao)

Những Người Lính Năm Xưa

Những Người Lính Năm Xưa

Năm xưa chồng tôi là người lính,
Nơi vùng lửa đạn,
Mồ hôi anh đã đổ,
Từ Hố Bò, Bình Long, Kontum ...
Đến Thừa Thiên, Quảng Trị ...
Rồi một ngày anh gục ngã,
Tại chiến trường Tây Ninh.
Tôi goá phụ xuân xanh,
Con thơ chưa tròn tuổi,
Tiễn đưa anh lần cuối,
Nơi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà.
Bao nhiêu năm trôi qua,
Bây giờ,
Tôi về tìm mộ bia anh giữa chập chùng cỏ dại cây hoang,
Để thắp một nén nhang,
Nhớ người lính của một thời chinh chiến,
Nhớ người chồng của một thuở gối chăn

* * *
Năm xưa chồng tôi là người lính,
Một lần hành quân,
Anh đã bị thương,
Máu anh loang ướt vạt cỏ ven đường,
Ôi vùng đất không tên,
Đã giữ chút máu xương người lính trẻ.
Bao nhiêu năm trôi qua,
Bây giờ,
Anh thương binh tàn tạ,
Sống giữa quê hương đôi khi vẫn thấy mình xa lạ,
Bạn bè anh,

Kẻ mất người còn,
Kẻ vô tình giữa dòng đời bươn chải.

* * *
Năm xưa chồng tôi là người lính,
Nồng nhiệt tuổi đôi mươi,
Ngày đầu tiên ra chiến trường,
Anh mất tích không tìm thấy xác,
Mẹ anh gào khóc,
Tôi ngẩn ngơ như chim nhỏ lạc đàn,
Đã bao nhiêu năm,
Vẫn không có tin anh.
Anh ơi,
Bây giờ quê hương mình đã hết chiến tranh,
Tàn cơn khói lửa.
Anh đã biết chưa ?
Hỡi người tử sĩ không tên, không một nấm mồ.

* * *

Năm xưa chồng tôi là người lính,
Sống sót trở về sau cuộc đao binh,
Sau những tháng năm tù tội,
Bây giờ là một ông HO gìà,
Sống ở Mỹ.
Những tháng năm chinh chiến đã đi qua,
Nhưng vết thương đời còn ở lại,
Trong lòng anh,
Trong lòng những người lính năm xưa.

Nguyễn Thị Thanh Dương

Tên thật Nguyễn Thị Thanh
- Sinh 1951 tại Hà Nội. Năm 1954 theo cha mẹ di cư vào Nam.
- Học tại trường Trung Học Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Hốc Môn

- Qua Mỹ diện HO 1991. Định cư tại Dallas, Texas.

Từ một trẻ mồ côi Việt Nam trở thành Phó Thủ Tướng Đức: Dr. Philipp Rösler

Rostock, ngày 13/5/2011 - Dr. Philipp Rösler là chủ tịch mới của đảng Dân chủ Tự do FDP ở Đức. Các đảng viên tại đại hội đảng được tổ chức tại tỉnh Rostock, vùng Biển Đông đã bỏ phiếu chọn nhà chính trị trẻ gốc Việt Nam, 38 tuổi với 95,1 phần trăm số phiếu. Một thành quả hầu như tuyệt đối cho vị chủ tịch trẻ nhất trong lịch sử đảng FDP. Toàn đại hội gồm 651 đại biểu toàn quốc đã có 619 vị tin tưởng trao lá phiếu cho Dr. Rösler. 22 đại biểu không thuận chọn ông và 10 vị bỏ phiếu trống. Nói chung đây là một kết quả tuyệt vời (Traumergebnis) cho Dr. Philipp Rösler.

Tại đại hội đảng FDP ở tỉnh Rostock các đại biểu tiếp tục bầu ban lãnh đạo đảng vào chức vụ Phó chủ tịch: Bà Birgit Homburger đạt 66,1 % số phiếu, bà Sabine Leutheusser đạt 85,51 % và ông Holger Zastrow đạt 89,35 %.

Với chức vụ chủ tịch đảng FDP và là Liên Minh cầm quyền với đảng CDU/CSU do nữ thủ tướng Dr. Angela Merkel điều hành guồng máy quốc gia, Dr. Philipp Rösler kiêm nhiệm luôn chức vụ Phó Thủ Tướng Đức, một phó thủ tướng trẻ nhất nước Đức và là một người đầu tiên trong lịch sử không phải gốc Đức đảm nhận. Dr. Rösler từ giây phút này trở thành người quan trọng thứ hai trong guồng máy nước Đức.


Hôm qua, 12/5/2011 tổng thống Đức, ông Christian Wulf đã trao bằng bổ nhiệm Dr. Philipp Rösler vào chức vụ bộ trưởng Kinh Tế, đồng thời tổng thống nhận sự từ chức của ông trong chức vụ bộ trưởng Y Tế mà ông đã đảm nhiệm từ tháng 10/2009.


5 tuần lễ vừa qua, khi đảng Dân chủ Tự do FDP chọn Dr. Philipp Rösler ứng cử vào chức vụ chủ tịch đảng và trong thời gian này đảng FDP rơi vào cuộc khủng hoảng nhân sự cho ban chấp hành đảng. Với tính cách nhã nhặn, luôn nở nụ cười trên môi, không độc đoán Dr. Rösler đã trở nên những cuộc đàm tiếu thiếu khả năng và đánh giá thấp về vị chủ tịch tương lai của đảng FDP. Giới báo chí Đức cũng đã có lần gọi ông Rösler là con cọp không có răng hoặc điều hành kém.


Cuối cùng, ngày 10/5/2011 ông Philipp Rösler đã thành công đưa ra ban chấp hành đảng với những khuôn mặt mới tươi trẻ. Hành động quyết định này của ông đã gây ấn tượng trong đảng và trong giới truyền thông, điều này đang được chứng minh trong đại hội đảng tại Rostock và họ tin rằng sẽ tạo nên sự thu hút trở lại các cựu cử tri cho đảng FDP.


Thông Tấn Xã Đức bình luận ngắn gọn với hàng tít lớn: "Nhân vật canh tân nhẹ nhàng Rösler đã cho thấy móng vuốt".


Nhân sự mới của FDP trong nội các Đức gồm tân bộ trưởng Y Tế, ông Daniel Bahr (34 tuổi) thay thế ông Philipp Rösler. Ông Rainer Brüderle (65 tuổi) đang là bộ trưởng Kinh Tế đã từ chức và đồng thời nhận chức vụ Chủ tịch Trưởng Khối FDP tại quốc hội. Ông Philipp Rösler từ chức chức vụ bộ trưởng Y Tế và đảm nhiệm chức bộ trưởng Kinh Tế. Đây là một quá trình đàm phán khó khăn trong nội bộ đảng FDP trong những ngày qua. Trước đây 5 tuần ông Rainer Brüderle đã từng tuyên bố "Ai muốn chức vụ này thì phải bước qua xác của tôi", lời này làm cho nội bộ đảng FDP trở nên rất căng thẳng. Thế mà hôm 10/5 ông Brüderle đã đặt quyền lợi của đảng lên trên vì thực tế ông Bộ trưởng Kinh tế Brüderle không muốn rời nhiệm sở. Nhưng để có một bước tiến tốt đẹp cho vị Tân chủ tịch thì ông Brüderle phải dọn chỗ bởi vì ông Rösler phải được hỗ trợ tối đa cho công việc của vị chủ tịch đảng. "Tôi biết rằng nếu chúng tôi không đến được với nhau, thì không thể thực thi được chính sách tự do dân chủ của đảng FDP". Đây không phải là điều đặt cá nhân lên cao nhưng để thực hiện các đường hướng của đảng và tạo các điều kiện để vị chủ tịch đảng có thể điều khiển bộ cho tốt, ông Brüderle nói vào thêm.

Ông Rainer Brüderle là một bậc thầy về ngôn ngữ chính trị. "Kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch của trưởng khối FDP tại quốc hội thì tôi biết rằng vị chủ tịch đảng là số một. Tôi biết cách ăn mặc trật tự này", ông nói.

Ở Đức ai cũng biết Bộ trưởng bộ Y Tế là một chức vụ rất khó khăn và bị chống đối nhiều nhất, một điển hình chi phí bảo hiểm sức khỏe chỉ cần tăng lên 0,5% là bị chống đối từ mọi tầng lớp xã hội. Người ta ví dụ Bộ trưởng bộ Y Tế lúc nào cũng phải sống trong một hồ đầy cá mập lượn vòng quanh.


Chủ đích của ban lãnh đạo đảng FDP muốn Dr. Philipp Rösler đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Kinh tế với một lý do duy nhất dùng sức mạnh kinh tế Đức làm điểm tựa cho chức vụ chủ tịch đảng FDP và sẽ tránh được nhiều bình luận về cá nhân. Thông thường Bộ Kinh tế Đức lúc nào cũng trình diễn được các con số đẹp trong sự tăng trưởng tốt của Đức vì Đức đang là mốt quốc gia xuất cảng đứng thứ nhì thế giới, ví dụ hàng hóa xuất cảng trong tháng 3 của Đức thặng dư trên 90 tỷ Euro. Vài ngày qua theo sự tiên đoán của nền kinh tế Đức sẽ có lợi nhuận thu thuế từ năm 2011 đến 2014 sẽ tăng lên 135 tỷ Euro. Hãng xe AUDI trong quý 1 đã tăng trưởng và tạo ra 10.000 chỗ làm. Chỉ nhìn vào những con số tốt đẹp đó sẽ tạo ra hình ảnh tốt cho bộ trưởng Kinh Tế cũng như cho Phó thủ tướng – đúng ra cho riêng đảng FDP. Bộ Kinh Tế Đức rất quan trọng với một đội ngũ 1.718 nhân viên hùng hậu phục vụ dưới quyền Dr. Philipp Rösler.


Đại hội đảng FDP 2011 tại Rostock, theo chủ tịch Rösler: Từ bây giờ bắt đầu sự tiến lên trở lại của đảng Dân chủ Tự do FDP và phải lấy lại uy tín cho đảng nơi cử tri.


Thật sự đảng FDP đang gặp khủng hoảng về lòng tin và làm cho cử tri dần dần tránh xa. Năm 2009 họ đã đạt được gần 15% số phiếu kỷ lục trong toàn Liên Bang, thế mà chưa đầy 2 năm sau, hiện tại đảng FDP chỉ còn được ủng hộ trong khoảng 3 đến 5%. Tại Đức các đảng phái có thể bước được vào ngưỡng cửa quốc hội Tiểu Bang hoặc Liên Bang thì họ phải đạt được mức tối thiểu 5% tổng số phiếu của cử tri.

Với tình trạng xuống dốc của đảng FDP thời hiện tại thì đó là một bài tập chính trị đầy khó khăn cho Dr. Philipp Rösler. Có một lần giới truyền thông đả kích các thất bại của ông Rösler về cải tổ nền y tế Đức thì ông đã trả lời với triết lý Á Đông: „Cây tre không dễ dàng bị đổ gẫy trước sóng gió, nó chỉ bị uốn cong mà thôi“.


Dr. Philipp Rösler, độ tuổi 38, đang thuộc về một thế hệ lãnh đạo trẻ tài giỏi của nước Đức, mà lại là một người gốc Việt Nam thì càng làm cho người Đức, người Việt và thế giới kính phục. Nước Đức đang hy vọng vào nhà chính trị gốc Việt này.


Đại hội đảng FDP tại Rostock cho thấy một thế hệ trẻ lãnh đạo: Dr. Philipp Rösler (38 tuổi), Bộ trưởng Y Tế, ông Daniel Bahr (34 tuổi) và ‎Tổng bí thư, ông Christian Lindner (32 tuổi). 3 vị lãnh đạo trẻ FDP này nằm trong độ tuổi con cái của các chính trị gia của đảng CDU/CSU trong Liên Minh cầm quyền của nữ thủ tướng Angela Merkel (57 tuổi), Bộ trưởng Tài Chính, ông Wolfgang Schäubner (68 tuổi), Bộ Trưởng Giáo Dục Đào Tạo, bà Annette Schavan (57 tuổi), Bộ Trưởng giao thông, ông Peter Ramsauer (57 tuổi).


So sánh về tuổi tác như trên cho thấy điều thú vị và sức mạnh trẻ trung của các chính trị gia theo đảng FDP. Họ sẽ có nhiều sức mạnh trong cuộc chạy đua đường dài chính trị tại Đức. Ý tưởng táo bạo của chủ tịch Dr. Philipp Rösler mà chưa có người nào nghĩ tới: đến 45 tuổi là chấm dứt cuộc đời chính trị, đúng thời điểm tháng 2 năm 2018 cho ông. Nếu đúng như thế thì ông Rösler sẽ là vị chủ tịch đảng trẻ nhất giã từ sự nghiệp chính trị tại Đức.


Hà Long

Nhân quyền 2011: Amnesty International tố cáo Việt Nam tiếp tục trấn áp mạnh mẽ giới ly khai

Nhân quyền 2011: Amnesty International tố cáo Việt Nam tiếp tục trấn áp mạnh mẽ giới ly khai

BKL (14/05/2011) – RFI – Trong bản báo cáo thường niên 2011 về tình hình nhân quyền trên thế giới được công bố hôm nay, 13/05/2011, tổ chức Ân Xá Quốc Tế, Amnesty International đã đưa ra những nhận định đáng lo ngại về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam: Các biện pháp hạn chế gắt gao vẫn tiếp tục đè nặng lên quyền tự do ngôn luận, lập hội và hội họp. Một quy định mới về theo dõi Internet được áp dụng. Những người ly khai bất bạo động và các nhà tranh đấu bảo vệ nhân quyền vẫn luôn luôn là đối tượng bị trấn áp mạnh mẽ.

Vẫn theo Amnesty International, các cơ quan công quyền Việt Nam ngày càng thường xuyên tố cáo các nhà ly khai đấu tranh ôn hòa là muốn lật đổ Nhà nước. Các tù nhân lương tâm bị kết án nặng nề sau những phiên xử không công bằng. Các nhà ly khai bị bắt, bị tạm giam trong một thời gian dài hoặc bị quản thúc tại gia. Tín đồ một số giáo phái bị sách nhiễu, ngược đãi. Trong năm qua, có ít nhất 34 trường hợp bị tuyên án tử hình.

Ngoài việc bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, các website và blog bằng tiếng Việt của các nhà ly khai thường xuyên bị tin tặc tấn công.

Tính đến cuối năm 2010, có ít nhất 30 tù nhân lương tâm bị bắt giữ, trong số này có người là thành viên của các tổ chức chính trị bị chính quyền cấm hoạt động, các nhà hoạt động công đoàn độc lập, những người viết blog, doanh nhân, nhà báo, nhà văn.

Từ tháng 10 năm 2009, chính quyền Việt Nam liên tiếp mở các phiên xét xử nhắm vào giới ly khai và 22 người đã bị án tù. Các phiên tòa này không tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về công bằng, đặc biệt là những nguyên tắc cơ bản sơ đẳng của tư pháp, như quyền có luật sư bào chữa, suy đoán vô tội trước khi bị kết án.

Báo cáo của Amnesty International nêu ra tên cụ thể của nhiều trường hợp như các ông Lê Công Định, Lê Thăng Long, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Minh Hoàng, bà Trần Khải Thanh Thủy …

Amnesty International còn nhận định rằng chính quyền Việt Nam có chính sách phân biệt đối xử nhắm vào các cộng đồng tín ngưỡng thiểu số. Trường hợp điển hình là đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất : các tín đồ bị sách nhiễu, hạn chế tự do đi lại, lãnh đạo giáo hội, Hòa thượng Thích Quảng Độ thì bị quản thúc tại gia trên thực tế.

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế còn nêu ra vụ giáo dân Công giáo Cồn Dầu – Đà Nẵng bị cảnh sát vũ trang thẳng tay trấn áp chỉ vì do tranh chấp về đất đai với chính quyền địa phương. Hàng chục người bị thương. Gần sáu chục người bị tạm giam, hai người bị kết án từ 9 đến 12 tháng tù giam, nhiều người khác bị tước quyền công dân. Khoảng bốn chục tín đồ đã phải chạy sang Thái Lan xin tỵ nạn.

Nguồn :RFI

THÔNG TIN VỀ VIỆC CẢI TÁNG HÀI CỐT CỦA 30 ANH HÙNG QLVNCH ĐỀN NỢ NƯỚC TẠI TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN QUANG TRUNG

Kính thưa quý vi hữu, quý độc giả, quý chiến hữu và quý niên trưởng,


Cách đây không lâu chúng tôi đã tiếp tay phổ biến tin, trong khi đào móng để xây trường Đại Học Giao Thông Vận Tải, địa điểm là khu vực vòng đai của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia lớn nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ), công nhân xây cất đã tìm thấy 30 hài cốt của Tử Sĩ QLVNCH.

Nay VAF và Gia Đình Tử Sĩ phối hợp cùng nhân viên nhà thầu xây cất , và nhân viên trường Đại học Giao Thông Vận Tải đã chu toàn việc hỏa táng và nghênh dời tro cốt của các Tử Sĩ vào Chùa Nghệ Sĩ ở Gò Vấp.

Sau 36 năm đền nợ nước một cách âm thầm, cuối cùng các tử sỹ QLVNCH đã có nơi an nghỉ ngàn thu, được khói hương và sớm hôm được nghe lời kinh tiếng kệ, điều này phần nào cũng làm ấm lòng cho những đồng đội còn ở lại.


Xin chân thành cảm ơn VAF và Gia Đình Tử Sỹ, cùng tất cả Quý Vị đã tham dự việc cải táng 30 Tử Sĩ QLVNCH ...


Và một lần nữa qua nghĩa cử đầy ân tình trên, người dân VNCH trực tiếp hay gián tiếp đã thể hiện mối tình Quân, Dân thắm thiết
dành cho Chiến Sĩ QLVNCH, dù đã bao nhiêu năm qua vẫn thắm thiết, đậm đà, thương mến như ngày nào, năm xưa...


Xin chuyển tin cập nhật đến Quý Vị.

VAF và Gia Đình Tử Sỹ chúng tôi đã gửi thông báo đến quý vị về việc tìm thấy 30 hài cốt Tử Sĩ QLVNCH từ 2 ngày trước. Hôm nay chúng tôi gửi thông báo nầy đến quý vị kèm theo hình tro cốt của các vị Tử Sĩ. VAF chúng tôi cùng với nhân viên nhà thầu xây dựng và nhân viên trường Đại Học GTVT đã lo chu toàn việc hỏa táng di cốt của các chiến sỹ trận vong. VAF đã di dời tro cốt tới chùa Nghệ Sĩ ở Gò Vấp, Sài Gòn, Nam Việt Nam.
VAF đã ghi nhận tin từ người Giám Đốc Công Trường cho biết, 30 hài cốt nầy tìm thấy trong phạm vi rất nhỏ khi đào móng xây cột. Chu vi trường rất rộng, chắc chắn sẽ có thêm nhiều hài cốt nữa. Khi nào phát hiện thêm hài cốt Tử sĩ QLVNCH đền nợ nước tại đó, nhà trường sẽ báo cho VAF đến cùng phối họp cãi táng những Tử Sỹ đã vị quốc vong thân. Luật Sư Vỏ của VAF tại Việt Nam đề cử 1 nhân viên của VAF có mặt thường xuyên tại công trường, nhất là khi nhân viên đi rà soát tìm hài cốt. Một điều đáng ca ngợi là khi phát hiện hài cốt, nhân viên công trường đã tắm rửa hài cốt, sắp xếp vào quan quách và lập một bàn thờ tại Công Trường cùng với Quách đựng hài cốt, nhang khói, cúng vái thường xuyên trong thời gian chờ hỏa táng và VAF xúc tiến thủ tục để đón nhận tro cốt của các tử sỹ.
Dưới đây là hình ảnh do VAF chụp lại trong thời gian đưa tro cốt các vị về tới chùa Nghệ Sĩ.



222222.jpg



444444.jpg

Ảnh chụp 5 hũ tro cốt có tên của 5 vị Tử Sĩ, 5 thẻ bài tìm thấy trên hài cốt của các Anh Hùng Tử Sĩ


6666666.jpg



88888888.jpg

VAF chúng tôi đang tiếp tục tìm kiếm thân nhân của các Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân nầy. Chúng tôi tha thiết xin quý vị tiếp tay cùng chúng tôi trong việc tìm kiếm người thân của các vị anh hùng vị quốc vong thân.
Trân trọng kính chúc quý vị cùng gia đình luôn dồi dào sức khoẻ.

Kính thư,
VAF và Gia Đình Tử Sỹ
Ảnh chụp 30 hũ đựng hài cốt của 30 Vị Anh Hùng Vô Danh của QLVNCH đền nợ nước tại vòng đai tử thủ tại trung tâm huấn luyện Quang Trung của QLVNCH: VAF cùng nhân viên trường Đại Học Giao Thông Vận Tải di dời tro cốt của 30 vị đến chùa Nghệ Sĩ, nơi an nghĩ nghìn thu cho các Anh Hùng Vô Danh của QLVNCH. VAF sẽ chăm lo việc thờ phượng các vị tại chùa.
The member The Returning Casualty

Kính xin bà con trong nước, hải ngoại và quý vị trên diễn đàn internet tiếp tay cùng Gia Đình Tử Sĩ VNCH(GDST) chuyễn tin này tới mọi người quen biết để cùng GDTS tìm kiếm người thân của các vị Tử Sĩ này để đón nhận tro cốt của các vị về với gia đình trong hương khói.

Trường ĐH Giao Thông vận Tải cơ sở Q12 số 70 khu phố 3 đường Tô Ký Q12 đang xây dựng trong khuôn viên nhà trường thì phát hiện hài cốt các Tử Sĩ VNCH từ ngày 13/3 Âm lịch nhằm ngày 15/4/2011cho tới nay là được 30 bộ: Hiện nay chỉ có 5 bộ có dính theo thẻ bài, toàn bộ nhà trường đã đem thiêu ở Dĩ An Bình Dương. 5 Bộ hài cốt có kèm theo thẻ bài ngày mai mới đưa về chùa.

GDTS chúng tội ghi lại tên của 7 Tử Sĩ với thẻ bài từ trang web: http://www8.vnmedia.vn/newsdetail.asp?NewsId=221270&CatId=23

Luật sư và nhân viên của VAF và GDTS đã ghi thêm được 5 thẽ bài cùng cùng với 2 thẻ bài đã được báo chí trong nước đưa tin. Chúng tôi đang làm thủ tục để thay mặt thân nhân tiếp nhận 30 bộ hài cốt của các vị. Nếu bà con nhận ra đây là người thân hay bạn bè xin liên lạc với VAF và GDTS qua địa chỉ email như sau:

1. VAF:
2. GDTS: gdts.info@gmail.com

Item No.

Họ Và Tên Tử Sĩ VNCH

Số Quân

Nhóm Máu

Ngày Nhập Ngũ

Quê Quán

1

Cao Văn Tình

59135886

Không đọc được



2

Trần Văn Sang

70126078

A



3

Nguyẽn Văn Quốc





4

Nguyễn Văn Chúc

202048

Không đọc được

14/01/1960


5

Trần Đình Đăng




Bình Định

6

Phạm Văn Thắng

69/123640

Không đọc được



7

Ngô Văn Đức

73/105119

O



8

Lê Thành Công

56/866498

O



9

Đào Xuân Sinh

63-125-670

Không đọc được



10

Nguyễn Tăng Đào

67/812-101

Không đọc được



11

Bùi Văn Quang

64/000-426

Không đọc được



12

Huỳnh Văn Khoẻ

417-416

Không đọc được




Chúng tôi xin đăng ảnh của 7 thẻ bài do VAF và GDTS ghi nhận và chụp ảnh lại trong lần tiếp xúc với chính quyền địa phương để làm thủ tục đón nhận 30 hài cốt của các vị Tử Sĩ VNCH.

Danh sách 44 vị Tử Sĩ ở trại A20 Xuân Phước, Phú Yên

GDTS kính gửi đến quý vị trên các diễn đàn internet, bà con người Việt Nam trong nước và hãi ngoại danh sách 44 vị Tử Sĩ đã qua đời tại trại Xuân Phước A20, tĩnh Phú Yên.

Danh sách nầy được chú Duyên, chú Vũ, chú Minh cùng đồng đội và bạn tù cải tạo của chú Duyên gửi tới GDTS. GDTS tha thiết xin quý vị đọc kỹ danh sách nầy từ ID 81 tới ID 124. May ra quý vị có thễ nhận ra người quen hay biết ai đó là người thân của một trong bốn mươi bốn vị Tữ Sĩ qua đời tại trại tù A20 Xuân Phước, tĩnh Phú Yên. GDTS và VAF sẽ đi tìm mộ phần của 44 vi nầy trong chuyến đi kế tiếp. Nếu quý vị và thân nhân của 1 trong 44 vị Tữ Sĩ nầy xin liên lạc với GDTS và VAF qua email để được giúp đỡ.

Gia Đình Tử Sĩ VNCH (GDTS): gdts_info@...

Vietnamese American Foundation (VAF): vaf200986@...

GDTS và VAF kính gửi thông báo đến các chú, bác cựu tù "Cải Tạo". Nếu các chú các bác nào còn nhớ nơi chôn cất bạn tù và muốn cùng GDTS và VAF đi tìm hài cốt bạn tù đã thác oan tuất hận trong các trại tập trung "Cải Tạo" xin liên lạc với GDTS và VAF. Mọi chi phí từ di chuyễn, ăn uống, khách sạn và kể cã vé phi vô Việt Nam sẽ được đài thọ bởi GDTS và VAF.

ID

Họ Và Tên Tử Sĩ

Cấp Bậc

Trại Cuối Cùng

Chết Tại

81

Bùi Hữu Nghĩa

Thiếu Tá truyền tin

Phú Yên, Xuân Phước, A20

Phú Yên, Xuân Phước, A20

82

Bùi Ngoc Phương

Ứng cử viên Tỗng Thống thời Đệ Nhất I Cộng Hoà

Phú Yên, Xuân Phước, A20

Phú Yên, Xuân Phước, A20

83

Dặng Lý Thông

Trung Úy trường sinh ngữ QĐ

Phú Yên, Xuân Phước, A20

Phú Yên, Xuân Phước, A20

84

Huỳnh Văn Sang

lãnh tụ ngườii chàm hay là Châm

Phú Yên, Xuân Phước, A20

Phú Yên, Xuân Phước, A20

85

Lê Văn Keo


Phú Yên, Xuân Phước, A20

Phú Yên, Xuân Phước, A20

86

Khúc Thừa Văn


Phú Yên, Xuân Phước, A20

Phú Yên, Xuân Phước, A20

87

Lê Danh Chap

Thiếu Tá

Phú Yên, Xuân Phước, A20

Phú Yên, Xuân Phước, A20

88